1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

CÁC bài PHÂN TÍCH HOÀN CHỈNH NGỮ văn 9 ôn THI cấp III CHỈ VIỆC học

54 77 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 296 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người con gái Nam Xương Vũ Thị Thiết là nhân vật chính xuyên suốt hai phần của tác phẩm. Nguyễn Dữ không chú trọng việc miêu tả hình thức, chúng ta chỉ biết Vũ nương là người “có tư dung tốt đẹp”. Tính cách nhân vật được thể hiện qua hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ với chồng và mẹ chồng. Mối quan hệ đó diễn ra ở những thời điểm khác nhau. Ở tùng thời điểm ấy, nhân vật bộc lộ cá tính của mình. Mối quan hệ với Trương Sinh diễn ra trên bốn thời điểm: khi chồng ở nhà, khi chia tay, khi xa chồng và khi chồng trở về. Khi chung sống với nhau, biết Trương Sinh là người có tính đa nghi, hay ghen nên “nàng giữ gìn khuôn phép” cho gia đình hoà thuận. Khi tiễn chồng đi tòng quân, tính cách của Vũ nương được thể hiện ở lời đưa tiễn. Nàng nói với chồng: “Lang quân đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn hầu trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên”. Nàng nghĩ đến những khó nhọc, gian nguy của người chồng trước rồi mới nhận ra sự lẻ loi của mình. Tù cách nói đến nội dung của những câu nói hiện lên một Vũ Nương dịu dàng, thiết tha với hạnh phúc, không hư danh, thương chồng và giàu lòng vị tha, một tâm hồn có văn hoá. Trong những ngày xa chồng, nàng nuôi con thơ, chăm sóc mẹ chồng như mẹ đẻ của mình. Ngòi bút Nguyễn Dữ tỏ ra già dặn, nhà văn đã để cho chính người mẹ chồng ấy nhận xét về tấm lòng hiếu thảo của nàng trước khi bà cụ qua đời: “Sau này trời giúp người lành ban cho phúc trạch, giống giòng tươi tốt… xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng nỡ phụ mẹ”. Trong con mắt của người mẹ chồng ấy, nàng là “người lành”. Ðến khi người chồng đi chinh chiến trở về nghi oan cho nàng, Vũ nương tỏ bày không được thì tự vẫn, chứ không sống “chịu tiếng nhuốc nhơ”. Khi thì cách xủ thế, khi thông qua lời nói, khi hành động, khi thái độ hình ảnh Vũ nương hiện lên là một người trong trắng thuỷ chung, giàu lòng vị tha, hiếu thảo nhưng cũng là một người phụ nữ khí khái, tự trọng. Ðó là một tâm hồn đẹp, đẹp một cách có văn hoá. Dường như Nguyễn Dữ đã tập trung những nét đẹp điển hình của người phụ nữ Việt Nam vào hình tượng Vũ nương. Con người đẹp, thiết tha với hạnh phúc này phải chết Ðó chính là bi kịch về số phận con người. Vấn đề này biết bao nhà văn xưa nay tùng trăn trở.

Trang 1

II Tim hiểu văn bản:

1/

Về tính chất tự truyện của tác phẩm :

Đọc tiểu sử tác giả Nguyễn đình Chiểu và Truyện Lục Vân Tiên ta thấy có những yếu

tố giống và khác nhau giữa cuộc đời tác giả và nhân vật Lục Vân Tiên

Trước hết là những chi tiết trùng hợp:

-NĐC cũng chẳng khác chi LVT lúc vào đời thật hăm hở và đầy khát vọng, cũng đều lênkinh ứng thí

“Chí lăm bắn nhạn ven mây,

Danh tôi đặng rạng, tiếng thầy bay xa”

“Làm trai trong cõi người ta,

Trước lo báo bổ sau là hiển vang”

Nhưng cả hai đếu bất hạnh đến khắc nghiệt : Mẹ mất phải bỏ thi về chịu tang,

bị đau mắt và sau đó bị mù Vì thế đã bị bội hôn Nhưng sau đó, họ đều được một cuộc hôn nhân tốt đẹp Nếu Lục Vân Tiên cưới được Kiều Nguyệt Nga thì Nguyễn Đình Chiểu cũng cưới được cô Năm Điền Chính vì thế mà nhiều ý kiến cho rằng LVT là một

tự truyện

Tuy nhiên cuộc đời của tác giả và nhân vật cũng có những điểm khác nhau Đó là

Vân Tiên được tiên ông cứu cho sáng mắt để sau đó lại tiếp tục đi thi đỗ Trạng nguyện,được vua cử đi dẹp giặc Ô Qua thắng lợi Còn cụ Đồ Chiểu thì không như thế Với cụvĩnh viễn là bóng tối Sự khác biệt đó thể hiện ước mơ và khát vọng của tác giả

Trang 2

2/Về nhân vật Lục Vân Tiên :

Đây là nhân vật lý tưởng của tác phẩm được khắc họa qua một kiểu thức khuônmẫu thường gặp trong truyện Nôm truyền thống Hình ảnh này cũng giống như hình ảnhThạch Sanh đánh đại bàng cứu công chúa trong truyện cổ Hành động đánh giặc cướpcứu người của Lục Vân Tiên cho ta thấy tính cách của chàng Một chàng trai anh hùng,tài năng và giàu nghĩa khí Chỉ một mình, lại không có vũ khí chàng đã dám bẻ gậy xôngvào bọn cướp đông người giáo gươm đầy đủ

Hình ảnh Lục Vân Tiên xông xáo tung hoành được nhả thơ miêu tả thật đẹp sánhngang với hình ảnh Triệu TửLong,một dũng tướng thời Tam Quốc

“Vân Tiên tả đột hữu xung, Khác nào Triệu Tử giữa vòng Đương Dang”

Với võ nghệ cao cường, LVT đã đánh tan bọn cướp và diệt tên đầu đảng Phong Lai

Hành động của chàng còn tỏ rõ đức độ của người nghĩa hiệp : “Giữa đường thấy sự bất bình chẳng tha” Không sợ nguy hiểm Vân Tiên sẵn sàng vì nghĩa trừ hại cho dân

Đánh xong bọn cướp thấy hai cô gái còn chưa hết hãi hùng Vân Tiên đã ân cần hỏihan, an ủi họ Hành động của chàng thật đàng hoàng, chững chạc Tuy có phần câu nệnhưng vẫn là phong độ giữ lễ của một con người có văn hoá trong khi ứng xử với hai

người con gái : “ Khoan khoan ngồi đó chớ ra Nàng là phận gái ta là phận trai” Vân

Tiên đã từ chối cái lạy trả ơn, từ chối lời mời đền đáp, không nhận trâm vàng trao tặng

mà chỉ nhận lời cùng Nguyệt Nga làm thơ xướng hoạ Câu trả lời “Làm ơn há dễ trông

người trả ơn” và đặc biệt là câu nói của Vân Tiên “Nhớ câu kiến ngãi bất vi Làm người thế ấy cũng phi anh hùng” cho thấy chàng là một người trọng nghĩa khinh tài đáng quý

3 /Nhân vật Nguyệt Nga :

Đoạn truyện ngoài việc giới thiệu Lục Vân Tiên còn cho ta biết về Kiều Nguyệt Ngabiểu hiện qua những lời giải bày của nàng với ân nhân Đó là lời lẽ của một cô gái cógiáo dục, có học thức Cách nói năng của nàng dịu dàng, mực thước và chân thành:

“Trước xe quân tử tạm ngồi, Xin cho tiện thiếp lậy rồi sẽ thưa

Trang 3

Chút tôi liễu yếu đào thơ, Giữa đường gặp phải bụi dơ đã phần

Hà Khê qua đó cũng gần, Xin theo cùng thiếp đền ân cho chàng

Là một cô gái rất mực đằm thắm ân tình, Nguyệt Nga nhớ ơn và mong muốn đền

ơn người đã cứu giúp mình giữ được tiết hạnh: “Lâm nguy chẳng kịp giải nguy Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi” Nhất là cuối cùng, nàng đã tự nguyện gắn bó cuộc đời

mình với cuộc đời chàng trai nghĩa khí ấy và sẵn sàng liều chết để giữ trọn ân tình chungthủy với người yêu

Suy cho cùng nhân vật Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga chính là hai mặt củamột cách sống Một là làm ơn không cần người khác đền ơn Hai là chịu ơn thì phải nhớ

ơn Đó cũng là tính cách sống có tính truyền thồng tốt đẹp của người Việt Nam chúng ta.Một cách sống cần được giữ gìn và phát huy

4 / Phương thức miêu tả nhân vật trong đoạn truyện :

Trong đoạn truyện này nhân vật được miêu tả chủ yếu qua hành động, cử chỉ, lờinói Do bị mù nên Truyện LVT sáng tác là để đọc truyền miệng Dù các học trò và mọingười có ghi chép lại nhưng nói chung đã lưu truyến trong nhân gian chủ yếu qua cáchình thức nói thơ, kể thơ Cũng vì thế nên khi mô tả nhân vật tác giả ít chú ý khắc hoạngoại hình, cũng ít đi sâu phân tích nội tâm nhân vật Nhân vật trong LVT thường đặttrong những mối quan hệ xã hội, những xung đột của đời sống rồi bằng hành động, cửchỉ, lời nói của mình mà tự bộc lộ tính cách ra Ngoài ra tác giả cũng tỏ thái độ của mìnhtrong việc ca ngợi hay phê phán nhân vật đó

5 / Ngôn ngữ của tác phẩm qua đoạn trích :

Lời thơ mộc mạc giản dị gần gũi với lời ăn tiếng nói thường ngày và mang đậmsắc thái địa phương Nam bộ Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ kể chuyện tự nhiên ít trau chuốtuyển chuyển nhưng lại dễ đi sâu vào tâm hồn quần chúng nhân dân

Trong đoạn trích này, sắc thái ngôn ngữ đa dạng Lời thơ bình dị chất pghác nhất

là trong đoạn đầu, đoạn kế tiếp lời Vân Tiên bất bình, phẩn nộ cùng với lời tên cướp tự

Trang 4

phụ hống hách và đoạn đối thoại giữa Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga thì lời thơ mềm mỏng, xúc động chân thành

LVT là một trong những truyện xuất sắc nhất của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, được lưu truyền trong dân gian Đoạn thơ trích thể hiện khát vọng hành động hành đạo giúp đời của tác giả và khắc hoạ những phẩm chất tốt đẹp của hai nhân vật chính : Lục Vân Tiên tài ba, dũng cảm, trong nghĩa khinh tài; Kiều Nguyệt Nga hiền hậu, nết na, ân tình chung thủy.

6

Cảm nghĩ về nhân vật Lục Vân Tiên :

a Hình ảnh Lục Vân Tiên được khắc hoạ qua mô típ ở truyện Nôm truyền thống :một chàng trai tài giỏi, cứu một cô gái thoát khỏi hiểm nghèo, từ ân nghĩa đến tình yêu như Thạch Sanh đánh đại bàng, cứu công chúa Quỳnh Nga Mô típ kết cấu đó thườngbiểu hiện niềm mong ước của tác giả và cũng là của nhân dân Trong thời buổi nhiễunhương hỗn loạn này, người ta trông mong ở những người tài đức, dám ra tay cứu nạngiúp đời

b Lục Vân Tiên là nhân vật lí tưởng Một chàng trai vừa rời trường học bước vàođời lòng đầy hăm hở, muốn lập công danh, cũng mong thi thố tài năng cứu người, giúpđời Gặp tình huống bất bằng này là một thử thách đầu tiên, cũng là một cơ hội hànhđộng cho chàng

c Hành động đánh cướp trước hết bộc lộ tính cách anh hùng, tài năng và tấm lòng

vị nghĩa của Vân Tiên Chàng chỉ có một mình, hai tay không, trong khi bọn cướp đông

người, gươm giáo đầy đủ, thanh thế lẫy lừng : "người đều sợ nó có tài khôn đương" Vậy

mà Vân Tiên vẫn bẻ cây làm gậy xông vào đánh cướp Hình ảnh Vân Tiên trong trậnđánh được miêu tả thật đẹp - vẻ đẹp của người dũng tướng theo phong cách văn chươngthời xưa, nghĩa là so sánh với những mẫu hình lí tưởng như dũng tướng Triệu Tử Long

mà người Việt Nam, đặc biệt là người Nam Bộ vốn mê truyện Tam quốc không mấy ai

Trang 5

không thán phục Hành động của Vân Tiên chứng tỏ cái đức của con người vị nghĩavong thân, cái tài của bậc anh hùng và sức mạnh bênh vực kẻ yếu, chiến thắng những thếlực tàn bạo.

d Thái độ cư xử với Kiều Nguyệt Nga sau khi đánh cướp bộc lộ tư cách conngười chính trực, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài đồng thời cũng rất từ tâm, nhân hậu

Thấy hai cô con gái còn chưa hết hãi hùng, Vân Tiên động lòng tìm cách an ủi họ : "ta

đã trừ dòng lâu la" và ân cần hỏi han Khi nghe họ nói muốn được lạy tạ ơn, Vân Tiên vội gạt đi ngay : "Khoan khoan ngồi đó chớ ra" Ở đây có phần câu nệ của lễ giáo phong kiến nhưng chủ yếu là do đức tính khiêm nhường của Vân Tiên : "Làm ơn há dễ trông người trả ơn" Chàng không muốn nhận cái lạy tạ ơn của hai cô gái, từ chối lời mời về

thăm nhà của Nguyệt Nga để cha nàng đền đáp và ở đoạn sau từ chối nhận chiếc trâmvàng của nàng, chỉ cùng nhau xướng hoạ một bài thơ rồi thanh thản ra đi, không hềvương vấn Dường như đối với Vân Tiên, làm việc nghĩa là một bổn phận, một lẽ tựnhiên, con người trọng nghĩa khinh tài ấy không coi đó là công trạng Đó là cách cư xửmang tinh thần nghĩa hiệp của các bậc anh hùng hảo hán

Bai 2: Luc van tien gap nan ( nguyen dinh chieu )

II/ĐỌC VÀ HIỂU VĂN BẢN

1/Ý chính của đoạn thơ này là sự đối nghịch giữa cái thiện và cái ác Tám câu đầu là

hành động tội ác tàn bạo thể hiện tâm địa độc ác của Trịnh Hâm đối với bạn mình là LụcVân Tiên Đoạn sau miêu tả việc làm nhân đức của Ngư ông cùng gia đình đã vớt Lục

Trang 6

Vân Tiên và chạy chữa cho chàng đồng thời miêu tả cuộc sống lao động trong sạch vànhân cách cao cả đáng kính của ông Ngư

2/

Hành động tội ác của Trịnh Hâm:

Chỉ trong tám câu thơ tác giả đã nêu ra tâm địa độc ác của Trịnh Hâm Trước cảnh

mù loà của Lục Vân Tiên, hắn đã không hề có một chút thương cảm Từng là bạn bè vớinhau khi cùng đến trướng thi Giờ gặp lại bạn trong lúc khó khăn, bệnh hoạn lại hết lòng

tin cậy : “Tình trước ngãi sau Có thương xin khá giúp nhau phen này” và chính miệng hắn cũng đã khăng khăng : “ Đương cơn hoạn nạn gặp nhau Người lành nỡ bỏ người đau sao đành” Vậy nhưng hắn lại làm ngược lại Một kẻ bất nhân bất nghĩa Hắn đã lừa

tiểu đồng vào rừng sâu và trói vào gốc cây bỏ cho thú dữ ăn thịt Hơn thế nữa,, TrịnhHâm là một kẻ xảo trá Hành động tội ác của hắn không phải là vô tình mà là một âmmưu khá tinh vi đã được hắn hoạch định trước: Đưa Vân Tiên xuống thuyền với lời hứa

sẽ đưa về tận nhà, đợi khi tối trời đẩy Vân Tiên xuống sông cho nước cuốn trôi rồi lại giảtiếng kêu trời nhắm lừa mọi người hòng che giấu tội ác của mình Trịnh Hâm là mẫungười tiêu biểu cho cái xấu, cái ác của xã hội lúc đó

Động cơ thủ ác của hắn là gì ? Chẳng quen biết, thù hằn gì, chỉ gắp nhau trênđường đi thi, trong lần uống rượu làm thơ trong quán nhưng chỉ vì thấy Vân tiên đức caotài giỏi đã sinh lòng đố kỵ, ganh ghét :

“Kiệm, Hâm là đứa so đo, Thấy Tiên dường ấy âu lo trong lòng

Khoa này Tiên ắt đấu công, Hâm dầu có đậu cũng không xong rồi”

Chỉ vì dục vọng thấp hèn mà hắn trở nên tàn bạo như thế Nhưng cái ác hiện hình đókhông hề làm mất lòng tin nơi con người của nhà thơ Bằng chứng là phần chủ yếu củađoạn trích tác giả đã miêu tả và ca ngợi tấm lòng nhân hậu và cao thượng đầy chân tìnhcủa ông Ngư khi cứu vớt và tận tình chăm sóc Vân Tiên

3/Hình ảnh ông Ngư :

Trang 7

việc làm nhân đức Thấy người bị nạn ông đã lập tức cứu giúp và cả nhà ông cùng tậntình cứu sống người bị nạn dù không hề biết họ là ai

“Ông chài …… mụ hơ mặt mày”

Các câu thơ bình dị, tự nhiên trên không những đã kể lại một hành động nhânnghĩa mà còn gợi tả hết mối chân tình của cả gia đình ông Ngư đối với người bị nạn Cứu sống Vân Tiên, ông còn lưu giữ chàng ở lại gia đình mình Dù gia cảnh ôngrất nghèo nhưng ông sẵn lòng đùm bọc kẻ tật nguyền không chốn dựa nương Ông Ngư

đã không hề tính toán đến cái ơn cứu mạng mà Vân Tiên không lấy gì báo đáp:

“Ngư rằng :…há chờ trả ơn”

Lời nói ý nghĩa này của ông làm ta nhớ lại lời của Vân Tiên khi cứu Nguyệt Nga

“làm ơn há dễ trông người trả ơn” Không chỉ việc làm, quan niệm sống và cả phong

cách sống của ông Ngư cũng rất đẹp : Nghèo mà trong sạch, không màng danh lợi Ông

sống ung dung tự do tự tại, kiếm sống bằng chính sức lao động của mình : “Khoẻ quơ chài kéo, mệt quăng câu dầm” Quả là một cuộc sống rất mực thanh cao, vui cùng bầu trời, vui cùng gió trăng sông nước: “ Một bầu trời đất vui thầm ai hay”, “Ngày kia hứng gió, đêm này chơi trăng”.

Rất đẹp cả từ hành động đến quan niệm sống Ông Ngư là hình ảnh tiêu biểu củangười dân lao động, cho đạo đức cao đẹp và trong sáng của nhân dân

Tóm lại, qua trích đoạn này, ta thấy rõ sự đối lập giữa thiện và ác Thái độ tác giả

ở đây cũng rất rõ ràng: Ông hết lòng thương yêu những con người có nhân cách caothượng như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Ông Ngư … và ông cũng ghét cay ghétđắng những kẻ xấu, kẻ ác như bọn cướp, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm… Nhà thơ đã hết lòngtin tưởng nơi nhân dân lao động, những người tuy nghèo khổ nhưng đầy lòng nhân hậu,

vị tha, trọng nghĩa khinh tài

§oạn thơ trích nêu lên sự đối lập giữa thiện và ác; giữa nhân cách cao cả và những toan tính thấp hèn, đồng thời thể hiện lòng tin của tác giả đối với người dân lao động Một đoạn thơ giàu cảm xúc, khoáng đạt, ngôn ngữ bình dị, dân giả.

III Ph©n tÝch nh©n vËt Ng «ng

Trang 8

A.Đoạn trích LVT gặp nạn một lần nữa cho thấy t tởng nhân nghĩa toả sáng

trong truyện LVT và thể hiện niềm tin của nhà thơ mù đất Đồng Nai vào đạo đứcnhân dân giữa thời loạn lạc

Nhân vật Ng Ông đợc nói tới trong đoạn trích thật đẹp, tiêu biểu cho đạo lý

Thơng ngời nh thể thơng thân của dân tộc ta.

B 1.Sống trong xã hội nhan nhản kẻ lừa thầy phản bạn, Trịnh Hâm cũng là một

kẻ độc ác thâm hiểm, đố kị tài năng Hắn đã lừa VT lên thuyền, khi chàng đã bị mù,rồi đẩy xuống sông cho chết Giết ngời đã là độc ác, giết ngời bạn cũ đang tàn tật ,không có khả năng làm hại ai chỉ vì ghen ghét thì càng độc ác xấu xa! Trịnh Hâm

đã rất chuyên nghiệp khi chờ cho đêm khuya lặng lẽ nh tờ mới ra tay hành động Xảo quyệt đạo đức giả hơn khi hắn cất tiếng kêu trời để đánh lạc hớng mọi ngời Chuyến

đò nên nghĩa, những ngời đi cùng thuyền lại khác Trịnh Hâm, họ đau đớn kêu thơng:

“Trong thuyền tấm lòng”.

Thái độ, tình cảm ấy biểu thị tình thhơng ngời của nhân dân ta nh ca dao đãtruyền lại”Thấy ngời hoạn nạn thì thơng”

2 Song trời đất cũng không thể phụ một con ngời tốt đẹp nh Vân Tiên Giao

long là thuỷ quái nhng đã đến cứu ngời bị nạn” Vân Tiên bãi này” Hình ảnh đó cho

thấy màu sắc huyền thoại của truyện thơ, nhng cũng làm nổi bật sự thật cay đắng ở

đời: Có lúc con ngời còn độc ác hơn cầm thú

Cũng trong tình huống ấy, ông Ng đã xuất hiện, ngời bị nạn đã gặp đợc ngời

nhân đức:“Vừa may lên bờ”

Bốn chữ vớt ngay lên bờ thể hiện một tinh thần hối hả, khẩn trơng kịp thời cứu

ngời chết đuối Cả một gia đình xúm vào cứu chữa, săn sóc ngời bị nạn Con thì vầy

lả sởi ấm, hai vợ chồng ngời hơ bụng dạ, kẻ hơ mặt mầy cho VT: “ Hối con mặt mày” Hối nghĩa là hối hả, giục giã, cách nói biểu cảm dân giã của ngời dân Nam Bộ.

Trong văn cảnh, nó thể hiện sự lo lắng cho tính mạng ngời bị nạn, tình thơng ngời

Trang 9

bao la của gia đình ông Ng Ông đã nhiệt tình cứu ngời bị nạn, vợt lên cả quan niệm

cổ hủ về nghề nghiệp, đặt tính mạng con ngời lên trên hết

Vân Tiên hồi tỉnh, Ng ông ân cần hỏi han, hết lời an ủi chia xẻ nỗi đau buồn

đối với ngời gặp nạn Mặc dù nhà nghèo nhng Ng ông vẫn chân tình mời VT, một

ng-ời tàn phế, khổ đau ở lại để đợc chăm sóc nuôi nấng : “ Ng rằng cho vui” Câu nói

ấy của ông quả thật là một tấm lòng vàng chan chứa tinh thần nhân đạo

3 Qua trò chuyện, ta biết cuộc đời ông Ng là một ngời lánh đục tìm trong, xalánh con đờng danh lợi, coi trọng tình ngời, phấn đấu cho lý tởng nhân nghĩa cao cả:

“Ng rằng lòng đây”

VT đã từng đánh cớp cứu nhân dân với ý thức “Làm ơn trả ơn” Ng ông cũng vậy, “Dốc lòng trả ơn” Những tấm lòng cao cả ấy đã gặp nhau, họ đã nêu cao tình nhân ái Và đó cũng là cái lẽ ở đời ở hiền thì lại gặp hiền.

Ngoài ra, Ng ông còn là ngời có tâm hồn thanh cao Ông sống chan hoà, gắn bóvới thiên nhiên Sông dài, biển rộng, trời cao là môi trờng thảnh thơi vui thú của ông.Suốt đêm ngầy, năm tháng, ông lấy doi, vịnh, đầm, chích, bầu trời, Hàn Giang làmnơi vẫy vùng, tìm nguồn vui sống Ông đã lấy gió trăng và con thuyền, dòng sông làmbạn Ông lấy công việc chài lới để sống cuộc đời thanh bạch Ông quả là con ngời tự do,thoát vòng danh lợi, thích nhàn Câu thơ vang lên nh một tuyên ngôn đẹp về lẽ sống

của một nhà Nho, kẻ sĩ chân chính giữa thời loạn lạc “ Rày roi Hàn Giang”.

Có thể nói đây là những câu thơ hay nhất, đậm đà nhất trong truyện LVT.Giọng thơ nhẹ nhàng êm ái Cảm hứng thiên nhiên, trữ tình dào dạt tạo nên sắc điệuthẩm mĩ sáng giá, biểu hiện một cách tuyệt đẹp tâm hồn trong sáng, thanh cao,phong thái ung dung của Ng ông

C Cũng nh nhiều nhân vật khác trong tác phẩm, Ng ông vừa là ngời lao động

chất phác đôn hậu vừa là hình ảnh Nho sĩ bình dân coi thờng danh lợi, giàu lòngnhân nghĩa, yêu tự do và thanh cao Sống giữa thời loạn lạc, nhân vật này cũng là ngời

Trang 10

phát ngôn lẽ sống và t tởng nhân nghĩa của NĐC Cách sống của các nhân vật tiến bộnói chung và của Ng Ông nói riêng đáng để mọi ngời suy ngẫm.

- Chồng đi xa, thương con nàng chỉ cỏi búng trờn tường bảo cha Trương Sinh vềnghi ngờ vợ Khụng phõn giải được, nàng nhảy xuống sụng tự vẫn Cảm động vỡ tấmlũng của nàng, Linh Phi (vợ vua Biển) cứu vớt và cho nàng ở lại Thủy cung

- Mói về sau chàng Trương mới biết sự thật, bốn lập đàn giải oan cho nàng Mặc

dự vậy nàng chẳng bao giờ cú thể trở về trần gian để cú thể sống hạnh phỳc bờn chồngcon được nữa

B Phan tich:

1 Phan tich 1:

A Truyện “NCGNX” rút trong tác phẩm “Truyền kỳ mạn lục”, áng văn xuôi

viết bằng chữ Hán của Nguyễn Dữ trong thế kỉ 16, một kiệt tác văn chơng cổ đợc ca

ngợi là “thiên cổ kì bút”.

Trang 11

Đó là một câu chuyện truyền kì có nhiều yếu tố hoang đờng trong dân gian

về bi kịch gia đình ở Nam Xơng, nơi có dòng sông Hoàng Giang vào cuối thế kỉ 14,

đầu thế kỉ 15, một thời loạn lạc đầy biến động

B Nhân vật Vũ Nơng là ngời con gái bạc mệnh đáng thơng, có bao phẩm chất

tốt đẹp tiêu biểu cho đức hạnh của phụ nữ trong xã hội phong kiến ngày xa Tên củanàng là Vũ Thị Thiết, quê ở Nam Xơng, thuộc Lý Nhân, tỉnh Hà Nam ngày nay

Xuất thân trong một gia đình “kẻ khó”, nhng Vũ Nơng vừa có nhan sắc vừa có đức hạnh: “tính đã thuỳ mị, nết na lại thêm có t dung tốt đẹp” Nàng là một cô gái danh giá nên Trơng Sinh, con nhà hào phú “mến vì dung hạnh” đã xin với mẹ đem trăm lạng

vàng cới về Trong đạo vợ chồng, VN là một ngời phụ nữ thông minh, đôn hậu, biết

chồng có tính “đa nghi”, nàng đã “giữ gìn khuôn phép” không để xảy ra cảnh vợ chồng phải “thất hòa”.

Sống giữa thời loạn lạc, Trơng Sinh phải tòng quân đi chinh chiến ở biên ải xa

xôi Buổi tiễn chồng ra trận, Vũ Nơng đã rót chén rợu đầy chúc chồng “đợc hai chữ bình yên”; nàng chẳng mong đợc đeo ấn phong hầu mặc áo gấm trở về quê cũ Ước

mong của nàng thật bình dị, vì nàng đã coi trọng hạnh phúc gia đình hơn mọi côngdanh phù phiếm ở đời Những năm tháng xa cách, VN thơng nhớ chồng khôn xiết kể; “

… mỗi khi thấy bớm lợn đầy vờn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn đợc”.

Tâm trạng nhớ thơng đau buồn ấy của VN cũng là tâm trạng chung của nhữngngời chinh phụ trong mọi thời loạn lạc xa nay:

“…Nhớ chàng đằng đẵng……… đau đáu nào xong…”.

Thể hiện tâm trạng âý Nguyễn Dữ vừa cảm thông với nỗi đau khổ của VN,vừa ca ngợi tấm lòng thuỷ chung thơng nhớ đợi chờ chồng của nàng

VN còn là một phụ nữ đảm đang, giàu tình yêu thơng Chồng ra trận mới đợc 1tuần thì nàng sinh ra một đứa con trai đặt tên là Đản Mẹ chồng già yếu, ốm đau,

nàng “hết sức thuốc thang”, ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn” Vừa phụng dỡng mẹ

Trang 12

già, vừa chăm sóc nuôi dạy con thơ Lúc mẹ chồng qua đời, nàng đã “hết lời thơng xót”, việc ma chay tế lễ đợc lo liệu, tổ chức rất chu đáo “nh đối với cha mẹ đẻ mình” Qua đó, ta thấy trong Vũ Nơng cùng xuất hiện 3 con ngời tốt đẹp: nàng dâu

hiếu thảo, ngời vợ đảm đang thuỷ chung, ngời mẹ hiền đôn hậu Đó là hình ảnh ngờiphụ nữ lí tởng trong xã hội phong kiến ngày xa

Qua năm sau, “việc quân kết thúc”, Trơng Sinh từ miền xa chinh chiến trở về.

Thế nhng, VN không đợc hởng hạnh phúc trong cảnh vợ chồng sum họp Chỉ vì

chuyện chiếc bóng qua miệng đứa con thơ mới tập nói, mà Trơng Sinh “đinh ninh là

vợ h” đã “mắng nhiếc” và “đánh đuổi đi”.Vốn là kẻ vô học lại hồ đồ vũ phu, Trơng Sinh đã bỏ ngoài tai mọi lời “bày tỏ” của vợ, mọi sự “biện bạch” của họ hàng làng xóm.

Vũ nơng đã bị chồng đẩy vào bi kịch, bị vu oan là ngời vợ “mất nết h thân” Vũ

n-ơng phải nhảy xuống sông Hoàng Giang tự tử để tỏ rõ là ngời phụ nữ “đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng”, mãi mãi soi tỏ với đời “vào nớc xin làm ngọc Mị Nơng, suống đất xin làm cỏ Ngu Mĩ” Bi kịch của VN là bi kịch gia đình từ chuyện chồng

con, nhng nguyên nhân sâu xa là do chiến tranh loạn lạc đã gây lên

Chỉ một thời gian ngắn sau khi VN tự tử, một đêm khuya dới ngọn đèn, chợt đứa

con nói rằng: “Cha Đản lại đến kia kìa!” Lúc bấy giờ, TS mới tỉnh ngộ thấu nỗi oan

của vợ, nhng việc trót đã qua rồi! Ngời đọc xa nay cũng chỉ biết thở dài, cùng NguyễnDữ xót thơng cho ngời con gái Nam Xơng và bao phụ nữ bạc mệnh khác trong cõi đời

VN tự tử nàg cũng chẳng cần chồng “rẩy xin chén nớc cho ngời thác oan”.

Phần cuối chuyện mang đậm tính hoang đờng kỳ ảo: Phan Lang cứu một conRùa mai xanh, PL bị chết đuối đợc thần tiên cứu sống, PL gặp VN ở thuỷ cung VNkhóc khi nghe PL kể chuyện trần gian nhắc lại nhà cửa, phần mộ tổ tiên…VN gửi PLchiếc hoa tai vàng và dặn chồng lập đàn tràng ở bến Hoàng Giang

Ngày VN ngồi kiệu hoa phía sau có 50 chiếc xe cờ tán võng lọng, rực rỡ đầysông lúc ẩn lúc hiện… là những tình tiết hoang đờng nhng đã tô đậm nỗi đau củangời phụ nữ bạc mệnh, có giá trị tố cáo lễ giáo phong kiến vô nhân đạo Câu nói của

Trang 13

VN giữa dòng sông vọng vào ( ….) đã làm cho giá trị nhân đạo của chuyện thêmphần thống thiết Nỗi oan của VN đã đợc giải, nhng sự thật vẫn là sự thật VN chẳngthể trở về nhân gian đợc nữa, bé Đản mãi mãi là đứa trẻ mồ côi.

Viết nh thế, Nguyễn Dữ vừa đảm bảo đợc sự thật, vừa làm rõ đợc tính

“truyền kỳ” của truyện Đó cũng là một cách để trừng phạt TS.

VN là một ngời con gái dung hạnh mà bạc mệnh, ND đã kể lại cuộc đời củanàng với bao tình thơng sâu sắc Tuy mang yếu tố hoang đờng kỳ ảo, áng vănCNCGNX giàu giá trị nhân đạo Nhân vật VN là điển hình cho ngời phụ nữ trong

xã hội cũ: Đẹp ngời, đẹp nết nhng gặp nhiều bất hạnh trong cuộc đời.

2 Phan tich 2: Chuyen nguoi con gai Nam Xuong

Chuyện đời vẫn có chỗ ộo le phức tạp trong đời sống tõm hồn con người Chỗ kỡ bỳt của Nguyễn Dữ là đó bắt nắm được một tỡnh huống ộo le như vậy Trong văn chương

nước ta cũng như thế giới khụng hiếm những cõu chuyện xen những yếu tố truyền kỡ

Nột riờng của Chuyện người con gỏi Nam Xương là hai yếu tố thực và truyền kỡ khụng đan xen vào nhau mà kết cấu thành hai phần Phần truyền kỡ vựa làm cho cõu chuyện thờm lung linh hư ảo, vựa gúp phần làm rừ những yếu tố ở phần thực Phần thực là cơ sở

để xõy dựng phần truyền kỡ (phần thực của văn học) Bằng mối liờn hệ giữa hai phần,nhà văn làm nổi bật tớnh cỏch nhõn vật và thể hiện chủ đề của tỏc phẩm

Người con gỏi Nam Xương Vũ Thị Thiết là nhõn vật chớnh xuyờn suốt hai phầncủa tỏc phẩm Nguyễn Dữ khụng chỳ trọng việc miờu tả hỡnh thức, chỳng ta chỉ biết Vũ

nương là người “cú tư dung tốt đẹp” Tớnh cỏch nhõn vật được thể hiện qua hai mối

quan hệ cơ bản là quan hệ với chồng và mẹ chồng Mối quan hệ đú diễn ra ở những thờiđiểm khỏc nhau Ở tựng thời điểm ấy, nhõn vật bộc lộ cỏ tớnh của mỡnh Mối quan hệ với

Trương Sinh diễn ra trờn bốn thời điểm: khi chồng ở nhà, khi chia tay, khi xa chồng và khi chồng trở về.

Trang 14

Khi chung sống với nhau, biết Trương Sinh là người có tính đa nghi, hay ghen nên “nàng giữ gìn khuôn phép” cho gia đình hoà thuận Khi tiễn chồng đi tòng quân, tính cách của Vũ nương được thể hiện ở lời đưa tiễn Nàng nói với chồng: “Lang quân

đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn hầu trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên” Nàng nghĩ đến những khó nhọc, gian nguy của

người chồng trước rồi mới nhận ra sự lẻ loi của mình Tù cách nói đến nội dung củanhững câu nói hiện lên một Vũ Nương dịu dàng, thiết tha với hạnh phúc, không hư danh,thương chồng và giàu lòng vị tha, một tâm hồn có văn hoá Trong những ngày xa chồng,nàng nuôi con thơ, chăm sóc mẹ chồng như mẹ đẻ của mình Ngòi bút Nguyễn Dữ tỏ ragià dặn, nhà văn đã để cho chính người mẹ chồng ấy nhận xét về tấm lòng hiếu thảo của

nàng trước khi bà cụ qua đời: “Sau này trời giúp người lành ban cho phúc trạch, giống giòng tươi tốt… xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng nỡ phụ mẹ” Trong con mắt của người mẹ chồng ấy, nàng là “người lành” Ðến khi người chồng đi

chinh chiến trở về nghi oan cho nàng, Vũ nương tỏ bày không được thì tự vẫn, chứ

không sống “chịu tiếng nhuốc nhơ”.

Khi thì cách xủ thế, khi thông qua lời nói, khi hành động, khi thái độ hình ảnh Vũnương hiện lên là một người trong trắng thuỷ chung, giàu lòng vị tha, hiếu thảo nhưngcũng là một người phụ nữ khí khái, tự trọng Ðó là một tâm hồn đẹp, đẹp một cách cóvăn hoá Dường như Nguyễn Dữ đã tập trung những nét đẹp điển hình của người phụ nữViệt Nam vào hình tượng Vũ nương Con người đẹp, thiết tha với hạnh phúc này phảichết - Ðó chính là bi kịch về số phận con người Vấn đề này biết bao nhà văn xưa nay

tùng trăn trở Có lẽ đó cũng là bi kịch của muôn đời Bởi vậy, vấn đề mà Chuyện người con gái Nam Xương đặt ra là vấn đề có tính khái, quát giàu ý nghĩa nhân văn Phía sau

tấn bi kịch của Vũ nương có một cuộc sống chinh chiến, loạn li, gây cách biệt, nhưngcăn bản là người chồng mù quáng đa nghi, thiếu sáng suốt Những kẻ như thế xưa naytùng gây ra bao nỗi oan trái, đổ vỡ trong đời Ðó cũng là một thứ sản phẩm hằng cótrong xã hội con người Cho nên vấn đề tưởng chùng rất riêng ấy lại là vấn đề điển hình

Trang 15

của cuộc sống Tất nhiên trong tấn bi kịch này có phần của Vũ nương Nàng vùa là nạnnhân nhưng cũng là tác nhân Bởi chính nàng đã lấy cái bóng làm cái hình, lấy cái hưlàm cái thật Âu đó cũng là một bài học sâu sắc của muôn đời vậy.

Phần truyền kì trong câu chuyện là chuyện Vũ nương không chết, trở về sống

trong Quy động của Nam Hải Long Vương… đó là cuộc sống đời đời Nhà văn đã tạo ramột cuộc gặp gỡ kì thú giữa Phan Lang - một người dương thế - với Vũ Nương nơi độngtiên Cuộc gặp gỡ ấy đã làm sáng tỏ thêm những phẩm chất của Vũ nương Khi Phan

Lang nhắc đến chuyện nhà của tổ tiên thì Vũ nương “ứa nước mắt khóc” Nàng quả thật

là một con người thiện căn, thiết tha gắn bó với quê hương đời sống mà không đượcsống Tính cách của nàng và bi kịch như được tô đậm khơi sâu một lần nữa Nhưng dụng

ý của nhà văn đưa phần truyền kì vào câu chuyện không chỉ có thế Nguyễn Dữ muốn

khẳng định một chân lí nghệ thuật: cái Ðẹp là bất tủ Vũ nương không sống được ở cõi

đời thì sẽ sống vĩnh hằng ở cõi tiên, vì nàng là cái Ðẹp

Nói cho cùng, hiện thực của câu chuyện là hiện thực về tấm lòng của nhà văntrước những vấn đề của cuộc sống Nhà văn đã đi sâu khai thác những vẻ đẹp và nỗi đaukhổ xót xa phức tạp của tâm hồn con người, nhất là người phụ nữ trong xã hội đươngthời như Vũ nương Cũng qua đó, nhà văn khẳng định một chân lí nghệ thuật phảng phấtnhư trong các truyện cổ dân gian… Thánh Gióng về trời, An Dương Vương xuốngbiển… kì lạ mà cũng rất thực

III Các chi tiết hư cấu ở phần cuối

Các chi tiết hư cấu ở phần cuối truyện : cảnh Vũ Nương gặp Phan Lang dưới thuỷ cung,

cảnh sống dưới Thuỷ cung và những cảnh Vũ Nương hiện về trên bến sông cùng những lời nói của nàng khi kết thúc câu chuyện Các chi tiết đó có tác dụng làm tăng yếu tố li kì và làm hoàn chỉnh nét đẹp của nhân vật Vũ Nương, dù đã chết nhưng nàng vẫn muốn rửa oan, bảo toàn danh dự, nhân phẩm cho mình.

- Câu nói cuối cùng của nàng : “Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian

được nữa” là lời nói có ý nghĩa tố cáo sâu sắc, hiện thực xã hội đó không có chỗ cho nàng dung

Trang 16

thân và làm cho câu chuyện tăng tính hiện thực ngay trong yếu tố kì ảo : người chết không thể sống lại được.

IV Suy nghĩ về số phận của người phụ nữ qua 2 tác phẩm

1 Nêu khái quát nhận xét về đề tài người phụ nữ trong văn học, số phận cuộc đời của họ

được phản ánh trong các tác phẩm văn học trung đại ; những bất hạnh oan khuất được bày tỏ, tiếng nói cảm thông bênh vực thể hiện tấm lòng nhân đạo của các tác giả, tiêu biểu thể hiện qua

: Bánh trôi nước và Chuyện người con gái Nam Xương.

2 Cảm nhận về người phụ nữ qua 2 tác phẩm :

* Họ là những người phụ nữ đẹp có phẩm chất trong sáng, giàu đức hạnh :

- Cô gái trong Bánh trôi nước : được miêu tả với những nét đẹp hình hài thật chân thực,

trong sáng : “Thân em vừa trắng lại vừa tròn” Miêu tả bánh trôi nước nhưng lại dùng từ thân

em - cách nói tâm sự của người phụ nữ quen thuộc kiểu ca dao : thân em như tấm lụa đào khiến người ta liên tưởng đến hình ảnh nước da trắng và tấm thân tròn đầy đặn, khoẻ mạnh của người thiếu nữ đang tuổi dậy thì mơn mởn sức sống Cô gái ấy dù trải qua bao thăng trầm bảy nổi ba chìm vẫn giữ tấm lòng son Sự son sắt hay tấm lòng trong sáng không bị vẩn đục cuộc đời đã khiến cô gái không chỉ đẹp vẻ bên ngoài mà còn quyến rũ hơn nhờ phẩm chất của tấm lòng son luôn toả rạng.

- Nhân vật Vũ Nương trong Chuyện ngươì con gái nam Xương : mang những nét đẹp

truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.

+ Trong cuộc sống vợ chồng nàng luôn “giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc

nào vợ chồng phải đến thất hoà" Nàng luôn là người vợ thuỷ chung yêu chồng tha

thiết, những ngày xa chồng nỗi nhớ cứ dài theo năm tháng : "mỗi khi thấy bướm lượn

đầy vườn, mây che kín núi" nàng lại âm thầm nhớ chồng.

+ Lòng hiếu thảo của Vũ Nương khiến mẹ chồng cảm động, những ngày bà ốm đau, nàng hết lòng thuốc thang chăm sóc nên khi trăng trối mẹ chồng nàng đã nói :

Trang 17

"Sau này, trời xét lòng lành, […], xanh kia quyết chẳng phụ con" Khi mẹ chồng khuất

núi, nàng lo ma chay chu tất, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ của mình.

+ Nàng là người trọng danh dự, nhân phẩm : khi bị chồng vu oan, nàng một mực tìm lời lẽ phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình Khi không làm dịu được lòng ghen tuông mù quáng của chồng, nàng chỉ còn biết thất vọng đau đớn, đành tìm đến cái chết với lời nguyền thể hiện sự thuỷ chung trong trắng Đến khi sống dưới thuỷ cung nàng vẫn luôn nhớ về chồng con, muốn được rửa mối oan nhục của mình.

* Họ là những người chịu nhiều oan khuất và bất hạnh, không được xã hội coi trọng :

- Người phụ nữ trong bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương đã bị xã hội

xô đẩy, sống cuộc sống không được tôn trọng và bản thân mình không được tự quyết

định hạnh phúc : "Bảy nổi ba chìm với nước non,

bùng ngọn lửa ghen tuông trong con người vốn đa nghi đó, chàng "đinh ninh là vợ

hư" Cách xử sự hồ đồ độc đoán của Trương Sinh đã dẫn đến cái chết thảm khốc của

Vũ Nương, một sự bức tử mà kẻ bức tử lại hoàn toàn vô can.

Bi kịch của Vũ Nương là một lời tố cáo xã hội phong kiến chỉ xem trọng quyền

uy của kẻ giàu và của người đàn ông trong gia đình, đồng thời bày tỏ niềm cảm thương của tác giả đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ Người phụ nữ đức hạnh ở đây không được bênh vực, che chở mà lại còn bị đối xử một cách bất công, vô

Trang 18

lí ; chỉ vì lời nói ngây thơ của đứa trẻ miệng còn hơi sữa và vì sự hồ đồ vũ phu của anh chồng ghen tuông mà đến nỗi phải kết liễu cuộc đời mình.

3 Đánh giá chung : Số phận người phụ nữ trong xã hội xưa bị khinh rẻ và

không được quyền định đoạt hạnh phúc của mình, các tác giả lên tiếng phản đối, tố cáo xã hội nhằm bênh vực cho người phụ nữ Đó là một chủ đề manh tính nhân văn cao cả của văn học đương thời

V

Truyền kỳ mạn lục: ghi chép tản mạn những điều kỳ lạ vẫn được lưu truyền.

VI.C hi tiết Vũ Nương chỉ cái bóng của mình

- Vũ Nương là một người mẹ rất thương con, không muốn cho con thiếu thốn tình cảm của cha.

- Vũ Nương là một người vợ thủy chung với chồng, lúc nào cũng nghĩ đến chồng.

- Vũ Nương rất cô đơn chỉ biết chỉ biết truyện trò cùng bóng

Việc đưa vào những yếu tố kì ảo, để Vũ Nương hiện hồn về trong chốc lát có làm dịu đi chút ít tính bi kịch của tác phẩm vì như thế là Vũ Nương không chết, với chồng nàng đã được minh oan Nhưng chi tiết này……

Bai 4: Truyện Kiều - Nguyễn Du

I>Tácgiả

1- Thân thế : Nguyễn Du (1765-1820) tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiện,quê ở Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Ông xuất thân trong một giađình đại quý tộc thời Lê, có truyền thống văn học Cha là Nguyễn Nghiễm, đỗtiến sĩ làm tể tướng Anh là Nguyễn Khản, đỗ tiến sĩ, làm đại quan trong phủchúa

2- Thời đại : lịch sử đầy biến động của gia đình và xã hội…Triều Lê - Trịnhsụp đổ, Nguyễn Du trôi giạt về quê vợ ở Thái Bình suốt "mười năm gió bụi" rồi

về sống ở Hà Tĩnh quê nhà, sống ẩn dật, tự xưng là "Nam Hải điếu đổ", "Hồng

Trang 19

Sơn liệp hộ"

Tây Sơn đổ, Gia Long thiết lập triều đại mới Năm 1802, Gia Long triệu ông

ra làm quan cho nhà Nguyễn Năm 1813, Nguyễn Du được cử làm Chánh sứsang Trung Quốc, có lúc giữ chức Tham tri bộ Lễ, Cần chánh điện đại họcsĩ

3- Con người : có năng khiếu văn học bẩm sinh, bản thân mồ côi sớm, có

những năm tháng gian truân trôi dạt Như vậy, năng khiếu văn học bẩm sinh, vốn sống phong phú kết hợp trong trái tim yêu thương vĩ đại đã tạo nên thiên tài Nguyễn Du.

- Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du với những sáng tạo lớn, có giá trị cả về chữ Hán và chữ Nôm.

- Thanh Hiên thi tập.- Nam trung tạp ngâm.- Bắc hành tạp lục

III> Truyện Kiều

1 Nguyễn Du dựa vào cốt truyện "Kim Vân Kiều truyện" của Thanh Tâm Tài

Nhân, đời Thanh Trung Quốc để sáng tạo ra truyện Kiều, dài 3254 câu thơ lục

bát "Truyện Kiều" được xem là kiệt tác số một, "tập đại thành" của nền thơ ca

cổ điển Việt Nam

2 Cốt truyện

Về đời Minh, có gia đình Vương Viên ngoại ở Bắc Kinh sinh thành được bangười con: Thuý Kiều, Thuý Vân, Vương Quan Hai chị em Kiều nhan sắc tuyệttrần, riêng Kiều còn có tài thi hoạ, ca, ngâm Nhân ngày hội đạp thanh ba chị

em Kiều đi chơi xuân, gặp một văn nhân tên là Kim Trọng "tình trong như đãmặt ngoài còn e" Kim Trọng tìm cách gặp gỡ Kiều, nhờ cành kim thoa mà haingười ước hẹn, thề nguyền dưới trăng "trăm năm tạc một chữ đồng đến

Trang 20

xương" Kim Trọng phải về Liêu Dương hộ táng chú Gia đình Kiều gặp tai biến,Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh để lấy tiền chuộc cha Nàng trao duyêncho Thuý Vân rồi theo họ Mã về Lâm Truy Kiều mắc lừa Sở Khanh, bị Tú Bàlàm nhục Kiều vào lầu xanh lần thứ nhất Kiều được Thúc Sinh chuộc ra lấylàm vợ lẽ Hoạn Thư đánh ghen Kiều bỏ trốn khỏi nhà Hoạn Thư, lại rơi vào tayBạc Bà, Bạc Hạnh Kiều vào lầu xanh lần thứ hai tại Châu Thai Kiều được TừHải chuộc, lấy từ Hải trở thành mệnh phụ phu nhân Kiều báo ân báo oán Kiều

và Từ Hải mắc lừa Hồ Tôn Hiến Từ Hải bị giết chết, Kiều bị ép lấy viên thổquan, nàng nhảy xuống sông Tiền Đường tự tử nhưng được cứu thoat rồi đi tu.Kim Trọng trở lại vườn Thuý, kết duyên với Thuý Vân Kim Trọng và VươngQuan thi đỗ được bổ đi làm quan Cả gia đình qua sông Tiền Đường may mắngặp vãi Giác Duyên, tìm đến ngôi chùa Kiều đi tu Kiều gặp lại cha mẹ, hai em

và chàng Kim sau 15 năm trời lưu biệt

3 Giá trị nội dung

a Giá trị tố cáo hiện thức: lên án xã hội phong kiến thối nát, những thế lực

hắc ám tàn bạo, dã man đã chà đạp lên quyền sống và hạnh phúc con ngườinhư bọn quan lại tham ô thối nát, bọn buôn thịt bán người, bọn ma cô lưu manhtàn ác; lên án mặt trái của đồng tiền hôi tanh

b Giá trị nhân đạo: xót thương cho nỗi đau khổ của con người, tài sắc bịdập vùi, nói lên ước mơ về hạnh phúc, tự do và công bằng, đề cao quyền sốngcủa con người, v.v

4 Giá trị nghệ thuật

a Nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc, tạo ra những mẫu người với

những tính cách tiêu biểu cho cái đẹp, cái xấu, cái thiện, cái ác trong xã hộiphong kiến suy tàn, thối nát

b Nghệ thuật tự sự, hấp dẫn, cảm động, tạo ra những tình huống, những

bi kịch Lúc miêu tả, lúc tả cảnh ngụ tình, lúc đối thoại, câu chuyện về nàng Kiềudiễn biến qua trên ba nghìn câu thơ liền mạch

Trang 21

c Ngôn ngữ thi ca: Nguyễn Du đã kết hợp tài tình giữa ngôn ngữ bác học,

sử dụng điển tích, thi liệu văn học cổ Trung Hoa với ca dao, tục ngữ, thànhngữ nâng lên thành một ngôn ngữ văn chương trong sáng, trau chuốt, mượt

mà, mẫu mực Cho đến nay chưa có nhà thơ Việt Nam nào viết thơ lục bát trên

ba nghìn câu hay bằng Nguyễn Du "Truyện Kiều" xứng đáng là "tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày" (Tố Hữu).

và hai cô con gái là Thúy Kiều và Thúy Vân Đoạn trích gồm 24 câu ( từ câu

15 đến câu 38 ) nói về Chị em Thúy Kiều

II/ BỐ CỤC:

a/4 câu đầu : Khái quát về ngoại hình và cốt cách hai chị em Kiều

b/4 câu tiếp : Vẻ đẹp của Thúy Vân

c/16 câu còn lại : Vẻ đẹp của Thúy Kiều

III/ Đọc và hiểu văn bản

1/Đoạn trích kết cấu chặt chẽ thể hiện rõ trình tự miêu tả nhân vật tài tình của Nguyễn Du :

-Giới thiệu khái quát

-Tả Thúy Vân để làm nền tả Thúy Kiều

-Tả tài sắc vẹn toàn, hiếm có của Thúy Kiều

2/Vẻ đẹp của Thúy Vân :

Ta thấy gì qua việc tác giả chọn trình tự “tả Vân trước rồi mới tả Kiều" ? Trước tiên tác giả chỉ nói khái quát Chỉ với “ Mai cốt cách, tuyết tinh thần” ông

đã khái quát được vẻ đẹp chung ai cũng hoàn thiện, toàn mỹ (mười phân vẹn

Trang 22

mười) tuy là “mỗi người một vẻ” với những tính cách rất riêng Để làm việc này,

tác giả đã dùng bút pháp ước lệ, tuợng trưng, lấy vẻ đẹp thiên nhiên để làm

chuẩn mực so sánh gián tiếp với vẻ đẹp của Vân,Kiều (mai, mây, tuyết…)

Chỉ với 4 câu miêu tả ngắn gọn, ngòi bút thơ của Nguyễn Du làm hiển thịmột Thúy Vân từ khuôn mặt, nét mày, màu da, mái tóc đến nụ cười của một côgái xinh đẹp, thùy mỵ, nết na, dịu dàng, đoan trang, phúc hậu và khiêmnhường Biện pháp tu từ ẩn dụ ước lệ, đặc biệt là các từ “trang trọng, đầy đặn,đoan trang, thua, nhường” đã phác hoạ ra một Thúy Vân phúc hậu, đẹp ngườiđẹp nết và nhất là đã ngầm dự báo một tương lai sáng sủa của nàng

3/Vẻ đẹp Thuý Kiều :

Sau khi đã “chiêm ngưỡng” Thuý Vân, ta càng ngưỡng mộ hơn “tài sắc Thuý Kiều” khi đọc đến “Kiều càng sắc sảo mặn mà So bề tài sắc lại là phần hơn” Thậm chí nếu tác giả không nói thêm một lời nào nữa thì qua Thúy Vân tuyệt sắc kia ta cũng có thể hình dung ra một Thuý Kiều “tài sắc tuyệt vời” như

thế nào Cái dụng ý của Nguyễn Du là ở chỗ này

Vẻ đẹp của Thuý Kiều ẩn chứa trong đôi mắt : “Làn thu thủy, nét xuân sơn” Ánh mắt trong xanh như làn nước mùa thu Lông mày xinh tươi như vẻ

núi mùa xuân Nhan sắc đó đã làm cho hoa, liễu vô tri kia cũng muốn ganh tị,

hờn ghen: “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” Nhan sắc ấy đã làm cho

tạo hoá phải ghét lây, các vẻ đẹp khác phải đố kỵ phải chăng để ngầm dự báocho một tương lai u ám, đầy éo le đau khổ của Kiều ?

Không chỉ có thừa “chỉ số” về nhan sắc, Kiều còn là một cô gái thông minh

và tài hoa rất mực: “Thông minh vốn sẵn tính trời.

Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm”

Đủ tài “cầm kỳ thi họa” Kiều lại còn là một hảo cầm thủ mà tuyệt xảo là khúc “ Bạc mệnh" mà nàng tự sáng tác ra:

“Cung … càng não nhân”

Bằng lối tu từ ẩn dụ, ước lệ, thậm xưng, Nguyễn Du đã dựng nên một bức

Trang 23

tranh tuyệt tác về nhan sắc “nghiêng nước, nghiêng thành” của Kiều

Qua đoạn trích này, Nguyễn Du đã hết sức trân trọng đề cao vẻ đẹp

một con người, một vẻ đẹp hoàn thiện , hoàm mỹ Đây chính là một trongnhững biểu hiện của cảm hứng nhân đạo, nhân văn trong Truyện Kiều vậy

Đây là đoạn tiếp liền theo đoạn tả vẻ đẹp hai chị em Kiều.Đoạn này tảcảnh chị em Kiều du xuân trong tiết Thanh minh Cũng là một lễ hội ngày xuântheo phong tục Trung Quốc

IV Dan y:

Nguyễn Du sử dụng bút pháp ước lệ tượng trưng, lấy vẻ đẹp của thiên nhiên để

so sánh với vẻ đẹp của con người :

+ Thuý Vân : Đoan trang, phúc hậu, quý phái : hoa cười ngọc thốt, mây thua

nước tóc, tuyết nhường màu da

+ Thuý Kiều : Sắc sảo mặn mà, làn thu thuỷ, nét xuân xanh, hoa ghen, liễu hờn.

- Dùng lối ẩn dụ để ví von so sánh nhằm làm bật lên vẻ đẹp đài các của hai cô gái mà qua đó, nhà thơ muốn đề cao vẻ đẹp của con người.

- Thủ pháp đòn bẩy, tả Vân trước, Kiều sau cũng là một bút pháp tài hoa của Nguyễn Du để nhấn vào nhân vật trung tâm : Thuý Kiều, qua đó làm nổi bật vẻ đẹp của nàng Kiều cùng những dự báo về nỗi truân chuyên của cuộc đời nàng sau này.

phát hiện đầy trân trọng: lấy mai và tuyết làm chuẩn mực cái đẹp Nguyễn Du miêu tảtâm hồn trong sáng, trinh trắng làm rõ cái thần bức chân dung thiếu nữ

Trang 24

1 Bốn câu tiếp theo tả nhan sắc Thuý Vân

- Với cách sử dụn NT ươc lệ tượng trưng nhân hóa, ẩn dụ, và phép lieetk kê, thúyvân hiện ra với vẻ đẹp toàn diện từ khuôn mặt, nét ngài đến làn da, mái tóc, nụcười Gương mặt tròn đầy rạng rỡ như trăng rằm Nụ cười tươi thắm như hoa

Tiếng nói trong nhu ngọc Tóc mềm, bóng mượt đến nỗi “mây thua” Da trắng mịn làm cho tuyết nhường->

- Các từ ngữ: “trang trọng”, “đoan trang” là 2 nét vẽ tinh tế, gợi tả cái thần của bức chân dung ả tố nga: vẻ đẹp quý phái, phú c hậu Đoạn thơ cho thấy một cái

nhìn nhân văn đầy quý mến và trân trọng của nhà thơ khi miêu tả Thuý Vân

vẻ đẹp của Tv sánh ngang với các hình ảnh đẹp đẽ, mĩ lệ nhất trong thiên nhiên

Vẻ đẹp của tuyệt sắc giai nhân khiến cho thiên nhiên tạo hóa phải thua, nhường

2 Mười hai câu tiếp theo tả sắc, tài Thuý Kiều Nguyễn Du tả Thuý Vân trước, tả ThuýKiều sau, chỉ dùng 4 câu tả Thuý Vân, dùng đến 12 câu tả Thuý Kiều, đó là một dụng ý

nghệ thuật của nhà thơ

* nhan sắc: Vẻ dẹp của Kiều là “sắc sảo, mặn mà”, đẹp “nghiêng nước nghiêng thành”.

Kiều là tuyệt thế giai nhân “sắc đành đòi một” Tài năng thì may ra còn có người thứ hai

nào đó bằng Kiều: “tài đành họa hai” Nguyễn Du dùng biện pháp tu từ ẩn dụ so sánhkết hợp với nhân hóa thậm xưng để ca ngợi và miêu tả nhan sắc Thuý Kiều: “Làn thu thuỷ, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”.

Mắt đẹp xanh trong nước hồ thu, lông mày thanh tú như dáng vẻ, nét núi mùa

xuân Mỗi hồng má thắm làm cho “hoa ghen”: nước da trắng xinh làm cho liễu phải

“hờn” Vẫn là vẻ đẹp thiên nhiên (thu thuỷ, xuân sơn, hoa, liễu) làm chuẩn mực cho cái

đẹp nhân gian, đó là bút pháp ước lệ trong thơ cổ Tuy nhiên, nét vẽ của Nguyễn Du tàihoa quá, nét vẽ nào cũng có thần rất đẹp, vẻ đẹp nhân văn

Kiểu “thông minh vốn sẵn tính trời”, nghĩa là thông minh bẩm sinh, cho nên các

môn nghệ thuật như thi, họa, ca ngâm, chỉ là các thú tao nhã nhưng nàng rất sành điệu,

điêu luyện: “lầu bậc”, “ăn đứt” hơn hẳn thiên hạ:“Thông minh vốn sẵn tính trời,Pha nghề thi hoạ, đủ mùi ca ngâm Cung thương lầu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương”.

Kiểu giỏi về âm luật, giỏi đến mức “lầu bậc” Cây đàn mà nàng chơi là cây Hồ cầm; tiếng đàn của nàng thật hay “ăn đứt” bất cứ nghệ sĩ nào Kiều còn biết sáng tác âm

nhạc, tên khúc đàn của nàng sáng tác ra là một “thiên bạc mệnh” nghe buồn thê thiết

“não nhân”, làm cho lòng người sầu não, đau khổ Các từ ngữ: sắc sảo, mặn mà, phần

hơn, ghen, hờn, nghiêng nước nghiêng thành, đòi một, hoạ hai, vốn sẵn, pha nghề, đủ

Trang 25

mựi, lầu bậc, ăn đứt, bạc mệnh, nóo nhõn - tạo nờn một hệ thống ngụn ngữ cực tả tài sắc

và hộ lộ, dự bỏo số phận bạc mệnh của Kiều, như ca dao lưu truyền: “Một vừa hai phải

ai ơi! Tài tỡnh chi lắm cho trời đất ghen”.

Bốn cõu cuối đoạn núi về đức hạnh của 2 ả tố nga: Tuy là khỏch “hồng quần”, đẹp thế, tài thế, lại “phong lưu rất mực”, đó tới tuần “cập kờ” nhưng sống một cuộc đời nền nếp, gia giỏo: “ấm đềm trướng rủ màn che, Tường đụng ong bướm đi về mặc ai”.

Cõu thơ “Xuõn xanh xấp xỉ tới tuần cập kờ” độc đỏo về thanh điệu, về sử dụng phụ

õm x” (xuõn xanh xấp xỉ), phụ õm “i” (tới tuần), phụ õm “c-k” (cập kờ) tạo nờn õm điệunhẹ nhàng, ờm đềm của cuộc sống yờn vui ờm ấm của thiếu nữ phũng khuờ

Đoạn thơ núi về “Chị em Thuý Kiều” là một trong những đoạn thơ hay nhất, đẹpnhất trong “Truyện Kiều” được nhiều người yờu thớch và thuộc Ngụn ngữ thơ tinhluyện, giàu cảm xỳc Nột vẽ hàm sỳc, gợi cảm, nột vẽ nào cũng cú thần Cỏc biện phỏp

tu từ ẩn dụ, so sỏnh, nhõn húa được thi hào vận dụng thần tỡnh tạo nờn những vần thơước lệ mà trữ tỡnh, đầy chất thơ Hàm ẩn sau bức chõn dung mĩ nhõn là cả một tấm lũngquý mến trõn trọng Đú là nghệ thuật tả người điờu luyện của thi hào Nguyễn Du mà tacảm nhận được

Bai viet 2:

A Chị em Thuý Kiều là một trong những đoạn thơ hay nhất

trong Truyện Kiều.Nó tiêu biểu cho bút pháp Nghệ thuật tả ngời rấttài hoa và cảm hứng nhân văn của thi hào Nguyễn Du.Tài sắc củaThú Vân, Thuý Kiều nh đợc truyền thần qua ngòi bút của nhà nghệ

sĩ thiên tài

B Hai chị em Thuý Kiều có cốt cách thanh tú nh cây hoa mai,

tinh thần trong trắng nh tuyết, mỗi ngời có một vẻ đẹp riêng mời phân vẹn mời

1.Thuý Vân , ngời em gái là một giai nhân có phong cách trang

trọng quý phái Gơng mặt nàng rtơi xing rạng rỡ nh khuôn trăng đầy

đặn Đôi mày ngài nở nang xinh xăn nh nét ngài của con bớm tằm.

Trang 26

Mắt phợng mày ngài là nét đẹp cua mỹ nhân xa nay Thuý Vân có khuôn trăng, nét ngài tuyệt đẹp:

Vân xem nở nang

Mỗi vần thơ của Nguyễn Du làm hiện dần lên một nét đẹp của

T.V Câu thơ t3 gồm 2 ẩn dụ: hoa cời ngọc thôt đoan trang đã mở

ra một thế giới tâm hồn của ngời đẹp Miệng nàng cời tơi nh hoa,giọng nói hay, quý, trong nh tiếng ngọc Phải có tâm hồn trong sáng,mới có nụ cời xinh tơi, giọng nói trong và hay, quý nh thế Đúng nhdân gian có câu:

Co n chim tốt mã hót hay, Ngời trong giọng nói quyến say bạn tình.

Phong cách của T.V vừa trang trọng vừa đoan trang.Đoan trangchỉ cách đi đứng, cách ứng xử đúng mực, trang nghiêm, duyêndáng Con gái có dung hạnh, có nết đẹp mới có phong cách đoan

trang Dân gian có câu: Cái răng cái tóc là góc con ngời, Mặt hoa da phấn Mia tóc nàng Vân xanh, mợt mà đến nỗi mây phải thua Nớc

da của nàng trắng, mát mịn màng, đầy sức sống đến nỗi tuyết phảinhờng Nguyễn Du đã sử dụng phép so sánh, thậm xng để miêu tả vẻ

đẹp mái tóc, nớc da của giai nhân :

Mây thua nớc tóc tuyết nhờng màu da.

Nguyễn Du đã sử dụng 4 câu thơ với 6 hình ảnh ẩn dụ , 2 nét

chấm phá trang trọng, đoan trang để làm nổi bật nhan sắc khác vời của T.V.Nghệ thuật miêu tả ngời của Nguyễn Du là bút pháp ớc lệ

tợng trng, lấy những nét đẹp chuẩn mực của tự nhiên để so sánh.miêu tả, liên tởng cho con ngời Đó là bút pháp ớc lệ tợng trng quenthuộc của văn học Trung đại Có điều Nguyễn Du đã rất sáng tạo, tài

Trang 27

hoa, khi viết nên những câu thơ về giai nhân có đờng nét thanh tú,gam màu tơi sáng, truyền cảm, hài hoà.

2 Miêu tả T.V trớc, Thuý Kiều sau là một dụng ý nghệ thuật của

Nguyễn Du Tác giả muốn ca ngợi cái sắc sảo mặn mà, cái phần hơn

của cô chị trớc cô em

Kiều hơn

Nếu Vân là một giai nhân thì Kiều sẽ là một giai nhân tuyệtthế Tác giả chỉ sử dụng 14 chữ với 4 nét vẽ để đặc tả nhan sắccủa Thuý Kiều:

Làn xanh

ánh mắt của Thuý Kiều trong sáng nh nớc mùa thu gợn sóng, lôngmày thanh tú, tơi đẹp, đầy sức sống nh vẻ núi mùa xuân Câu thơ

Làn sơn gồm 2 hình ảnh ẩn dụ, gợi tả vẻ đẹp yêu kiều, sắc sảo,

thông minh, tâm hồn trong sáng của Thuý Kiều

Má Kiều hồng, môi thắm làm cho hoa phải ghen vì thua thắm.Nớc da nàng trắng trong, mịn màng, mái tóc mợt mà đầy sứcsống khiến liễu phải hờn vì kém xanh

Trớc vẻ đẹp của Vân, thiên nhiên mới chỉ thua, phải nhờng Vẻ

đẹp của Vân đợc tạo hoá chấp nhận, sẵn sàng nhờng bớc cho nàng

đi trong đờng đời Cuộc đời Vân sẽ hoàn toàn phẳng lặng, bìnhyên

Đến Thuý Kiều thì thiên nhiên đã phải ghen, hờn bởi lẽ Kiều là một cành thiên hơng giữa cõi trần Qua đó, ta thấy nghệ thuật sử

dụng ngôn từ cảu Nguyễn Du rất tinh luyện, chọn lọc Cách nhìn,

cách tả của tác giả đã dự báo, dự cảm một tơng lai 3 chìm 7 nổi của

Thuý Kiều

Ngày đăng: 12/03/2020, 20:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w