1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu phạm trù dạng theo ngữ pháp tạo sinh

16 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 542,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giọng nói rất phổ biến trong tiếng Anh. Chuyển đổi câu chủ động luôn xuất hiện trong các kỳ thi, đặc biệt là các kỳ thi về năng lực tiếng Anh theo Khung chung châu Âu để tham khảo. Các sinh viên tiếp tục học giọng nói, khó khăn hơn họ tìm thấy nó.

Trang 1

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 1 (26) - Tháng 1/2015

TÌM HIỂU PHẠM TRÙ DẠNG THEO NG PHÁP TẠO SINH

TRƯƠNG VĂN ÁNH (*) HỨA BÍCH THỦY (**)

T M TẮT

P ạ ù dạ ấ ổ b o A S ả b âu ủ ộ -b ộ uơ

uấ o k ấ k A eo K u u

âu Âu C sâu o ạ ù dạ ặ ều k ĩ k Để ú ả quy ì ạ y ú ơ sưu ầ ẫu âu ủ ộ -b ộ ý ả ú theo ơ ì ủ No C o sky ( ạo s ý uy ý uy dờ quy

ắ u ạ ý uy ắ k ý uy buộ bộ)

ĩa: ạo s ý uy ý uy dờ quy ắ u ạ ý uy

ắ k ý uy buộ bộ

ABSTRACT

The voice is very popular in English Transformation of active-passive sentences always appears in the exams, espcially the exams on English competence under the Common European Framework for Reference The further students learn the voice, the more difficult they find it To help address this situation, we have collected sample active-passive sentences and explain them in the works of Noam Chomsky (generative grammar, trace theory, move theory, projection rules, government and binding theory, bound theory)

Keywords: generative grammar, trace theory, move theory, projection rule,

government and binding theory, bound theory

1 MỞ ĐẦU(*)(**)

Dạng (залог - voice) là một phạm trù

ngữ pháp bao gồm hai ý nghĩa ngữ pháp bộ

phận đối lập nhau: chủ động

(действительный - active) và bị động

(страдательный- passive) Cải biến câu bị

động hay phạm trù dạng cĩ từ lâu đời khi

các điểm ngữ pháp của các ngơn ngữ được

xây dựng cĩ hệ thống Cĩ thể nĩi những cấu

trúc cải biến câu cơ bản và cĩ từ lâu nhất là

hình thức chuyển đổi dạng câu: chủ động và

bị động Năm 1 7, học giả người Mỹ,

Noam Chomsky, chính thức đưa ra lý thuyết

cải biến tạo sinh (generative transformation)

là cơ sở ban đầu cho ngữ pháp tạo sinh

(generative grammar) Kể từ đĩ thuật ngữ cấu trúc chìm (deep structure) là hữu hạn cĩ thể tạo ra rất nhiều những cấu trúc nổi (surface structure) là vơ hạn xuất hiện và dẫn đến sự ra đời của một loại hình bài tập mới trong các kỳ thi: Cải biến câu, đặc biệt

là cải biến câu ở phạm trù dạng

Kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính, chúng tơi sưu tập ngữ liệu từ nhiều nguồn (gồm sách và đề thi trong và ngồi nước), khảo sát việc học tập của sinh viên, biên soạn những cấu trúc bằng các cơng thức cơ đọng, dễ hiểu về cải biến câu thuộc phạm trù dạng Dựa trên lý thuyết cải biến tạo sinh, lý thuyết vết, lý thuyết dời, quy tắc gắn kết và chi phối,… của Noam Chomsky chúng tơi cố gắng

Trang 2

minh họa việc cải biến các mẫu câu thuộc

phạm trù dạng Khoảng 40 mẫu câu được

sắp xếp theo cấp độ khó tăng dần để phục

vụ cho việc phân tích và nghiên cứu sự cải

biến

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 K i niệm mô ìn ngôn ngữ

Theo Nguyễn Đức Dân, xuất phát từ

một số hữu hạn các quan sát, thí nghiệm,

người ta xây dựng thành những lý thuyết

khái quát – những mô hình – nhằm giải

thích các sự kiện đã biết và dự đoán được

những sự kiện trong tương lai Để nghiên

cứu một đối tượng, người ta thường xây

dựng những mô hình của nó – xây dựng

những cái đẳng cấu với nó theo những

phương diện mà ta quan tâm Lý thuyết T

(theory) được xây dựng trên các mô hình

M (model) dựa trên các mối quan hệ R

(relation) Những mô hình này có các thuộc

tính chung là:

A1 – mọi đối tượng x đều có quan

hệ với chính nó

Ta viết: (˅x) (x R x)

A2 – Với mọi đối tượng x và y, nếu

x có quan hệ với y thì y cũng có quan hệ

với x

Ta viết: (˅x) (˅y) (xRy yRx)

A3 – Với mọi đối tượng x, y và z,

nếu x có quan hệ với y và y có quan hệ với

z thì x cũng có quan hệ với z

Ta viết: (˅x) (˅y) (˅z) (xRy & yRz 

xRz)

Đây là những mẫu câu có mối quan hệ

đồng nghĩa (M4 – các từ ngữ; R4 – đồng

nghĩa), quan hệ cùng phạm trù cú pháp (M5

– các từ; R5 – cùng phạm trù cú pháp), và

quan hệ cùng kiểu câu (M6 – các câu; R6 –

cùng kiểu câu) (Nguyễn Đức Dân, 2012)

Khi nghiên cứu về thụ đắc câu bị động, chúng tôi đã nghiên cứu xây dựng những mẫu câu chủ động – bị động tiêu biểu Các mẫu câu này là những cặp phạm trù dạng

có mối quan hệ tương đương

2.2 C c lý t uyết liên quan đến cải

biến câu bị động

Cải biến câu (sentence transformation)

để tạo ra các cấu trúc câu mới có nghĩa tương đồng với các cấu trúc sâu/chìm (deep structure) Câu được cải biến hay các cấu trúc câu mới được xem là cấu trúc nổi/bề mặt (surface structure)

Ban đầu Noam Chomsky cấu trúc câu trong các ngôn ngữ được cải biến tập trung

ở phạm trù dạng: chủ động và bị động Theo ông, câu bị động trong ngữ pháp cải biến – tạo sinh gắn với phép cải biến động

từ là một phổ niệm hình thức của các ngôn ngữ Mặc dù cả cấu trúc chủ động và cấu trúc bị động ở đây đều là cấu trúc nổi, nhưng trong quan niệm của hầu hết các nhà ngữ pháp cải biến-tạo sinh thì cấu trúc chủ động được coi là gần gũi với sự biểu hiện của cấu trúc sâu, còn cấu trúc bị động được phái sinh từ cấu trúc chủ động nhờ “phép cải biến bị động” (passive transformation) Chomsky đã lý giải về điều này như sau:

“Nếu ngữ pháp chứa trong cơ sở của nó cả câu chủ động và bị động thì sẽ trở nên phức tạp hơn nhiều so với khi câu bị động được đưa ra khỏi bộ phận cơ sở và được miêu tả bằng cải biến” (Chomsky 1 2: 488)

Theo lý thuyết vết (Trace Theory) được phát triển bởi Fiengo (1974;1977) và Chomsky (1975;1976), nhiều ngôn ngữ trình bày sự phi đối xứng trái - phải nằm

Trang 3

trong việc xử lý cú pháp Vì vậy, thí dụ

như, hầu hết thuyết dời chỗ trong tiếng

Anh đều dời chỗ các yếu tố sang trái; các

thí dụ tương tự là việc đặt câu hỏi, sự đưa

lên trước, thao tác chủ đề hóa và sự cải

biến thành tiểu cú liên quan GS Nguyễn

Đức Dân (2012) cho rằng sự dời chỗ thể

hiện quan hệ của những thành tố giữa hai

cấp độ, trong đó một yếu tố được dời từ

một vị trí này sang vị trí khác để hình

thành cấu trúc mới Theo đó, nguyên lý

“Move-α” nghĩa là dời một phạm trù α nào

đó tới một chỗ nào đó (Chomsky, 1 2,

Some Concepts and Consequences of the

Theory Binding: The Pisa Lectures

Mouton de Gruyter P 15) Chúng ta có thể

nêu một số kiểu dời chỗ như dời –NP: Dời

chỗ một NP từ vị trí A tới một vị trí A

không được đánh dấu θ (non – θ – marked)

thì NP sẽ để lại một vết t ở vị trí A, gọi là

vết – danh ngữ (NP-trace) hoặc dời – Wh:

Sự dời chỗ của “cú đoạn-Wh” từ vị trí A

tới vị trí – không A của một đặc thù C sẽ

để lại một vết-wh (wh-trace) ở vị trí A

hoặc dời chỗ-V: Dời chỗ một V tới INFL

(inflection) và một VI tới trung tâm của

một cú đoạn C Phép dời được thực hiện

theo các ngữ cảnh khác nhau, nhưng điều căn bản là ý nghĩa gốc không thay đổi Trong câu bị động, các yếu tố được phân

bố theo ngữ cảnh nhất định Chủ ngữ của câu bị động sẽ đưa lên đầu câu, động từ TO

BE sẽ xuất hiện trước ngoại động từ chính

ở dạng quá khứ phân từ Các trạng từ, nếu

có sẽ được phân bố trong ngữ cảnh mới: trạng từ nơi chốn/phương hướng ở trước tân ngữ bị động (có BY ở trước) và trạng

từ thời gian sẽ xuất hiện ở cuối câu Chủ ngữ trong câu chủ động sẽ có ngữ cảnh mới: theo sau BY và đưa về phía sau câu Cải biến câu cũng được Chomsky giải thích dựa trên lý thuyết chi phối và gắn kết (Government and Binding Theory (GB),

1 0) GB miêu tả sự hiểu biết về ngôn ngữ như là một tập hợp những lý thuyết bộ phận gắn kết với nhau, bao gồm những nguyên lý phổ quát và tham biến vận dụng cho từng ngôn ngữ cụ thể Trong tiếng Anh

lý thuyết GB được thể hiện qua sự chi phối của các quy tắc cú pháp trong việc kết hợp câu Các cấu trúc chìm, trên thực tế, được vận dụng linh hoạt để tạo ra các cấu trúc nổi theo lý thuyết này

Mô hình lý thuyết GB của Chomsky được thể hiện như sau:

Cấu trúc chìm

Sự dời chỗ Cấu trúc nổi thành phần PF thành phần LF

Lưu ý: PF: dạng thức ngữ âm; LF: dạng thức logic

Trang 4

Chuyển đổi ý từ cấu trúc này sang cấu

trúc khác sử dụng khung tham chiếu thích

hợp (Tertium Comparationis - TC) Các cấu

trúc câu phải dựa trên sự tương đương để cải

biến Các tác giả L Spalatin (1 ), T

Krzeszowski, A Mettinger (1990) và Bùi

Mạnh Hùng (Ngôn ngữ học đối chiếu, nxb

Giáo dục, 200 ) đã đề ra các khung tương

đương để làm nền tảng cho sự cải biến từ

câu này sang câu khác Theo Bùi Mạnh

Hùng, những cuộc tranh luận về các kiểu TC

thường xoay quanh các kiểu tương đương

Cho đến nay, các kiểu tương đương theo xác

định của T Krzeszowski (1 0) có vẻ đa

dạng hơn cả Ông dùng khái niệm “2-text”,

được xác định là bất kì hai văn bản nào, dưới

dạng viết hoặc nói, để diễn đạt cùng một ý,

dù có các cấu trúc khác nhau, đều được gọi

là tương đương

Với năng lực ngôn ngữ, người ta có thể

thể hiện các ý tưởng, tình cảm, thái độ của

mình ở nhiều cấu trúc khác nhau trong một

ngôn ngữ nhất định Đó là năng lực thực hiện

ngôn ngữ ở các cấu trúc khác nhau (ví dụ như

cải biến câu bị động) để diễn đạt các ý nghĩa

tương đương theo các sắc thái phù hợp

Trong câu, vị trí các yếu tố không phân

bố một cách võ đoán, chúng có quan hệ với

nhau về mặt phân bố, nghĩa là các yếu tố có

những vị trí nhất định để đóng các vai trò

khác nhau nhưng bổ sung cho nhau Sự phân

bố này là các ngữ cảnh của các yếu tố trong

ngôn ngữ Nếu một câu có chứa A và có

dạng “B A C”, nếu bỏ A thì còn lại chuỗi “B

– C” Chuỗi này gọi là ngữ cảnh của A Tìm

được các chuỗi có chứa A sẽ tìm được sự

phân bố của A

Trong câu bị động tiếng Anh, chủ ngữ

luôn ở vị trí trước và bổ ngữ bị động theo sau BY được đặt xuống cuối Theo ngữ cảnh gồm các yếu tố A, B và C nêu trên, B ở vị trí của chủ ngữ bị động, C ở vị trí bổ ngữ bị động, A ở vị trí động từ (Hình thức BE + V)

Do đó hình thức BE + V có chuỗi ngữ cảnh

“B – C” Nếu câu bị động có đầy đủ các trạng từ, và ta xem BY + bổ ngữ bị động là yếu tố A, thì chuỗi ngữ cảnh “B – C” sẽ có B

là trạng ngữ nơi chốn/phương hướng và C là trạng ngữ chỉ thời gian

Ví dụ: Daisy took some flowers into the living-room yesterday

Some flowers were taken into the living-room by Daisy yesterday

Trong chuỗi ngữ cảnh của các yếu tố A,

B và C, thì A là “by Daisy”, B là “into the living-room” và C là “yesterday”

Theo Chomsky và những học giả cùng trường phái, ngữ pháp của một ngôn ngữ phải có khả năng tạo sinh một cách tường minh tất cả những câu có tính ngữ pháp trong ngôn ngữ ấy và chỉ những câu đó mà thôi Về hình thức, ngữ pháp là một cơ chế hữu hạn để tạo ra một tập hợp vô hạn các câu của ngôn ngữ, và tạo ra một cách tường minh Để đảm bảo tạo sinh được vô hạn các câu thì các quy tắc phải có tính đệ quy (recursive) Đó là những quy tắc cho phép tái tạo lại những yếu tố dùng để tạo sinh Câu bị động tránh nhiều lần tự chêm bởi rất khó hiểu, thậm chí có thể bị xem là sai ngữ pháp, thay vào đó người ta chuyển nó thành hai câu hoặc thành một câu chủ động

có tính đệ quy phải

Ví dụ: Quyển sách mà tôi mua cho Lan

mà bạn giới thiệu với Điệp đã bị rách

Câu hơi khó hiểu và luộm thuộm

Trang 5

Họ làm rách quyển sách mà tôi mua

cho Lan mà bạn giới thiệu với Điệp

Câu chủ động trong trường hợp này

hợp lý hơn

Lý thuyết vết của Chomsky là một lý

thuyết quan trọng trong việc giải thích các

hiện tượng cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ âm

Lý thuyết vết đề cập tới vai trò chủ đề Vết

được xem là một yếu tố ngữ âm zéro Vị trí

của nó là một yếu tố ban đầu trong cấu trúc

chìm Yếu tố này được chuyển sang vị trí

khác trong sự chuyển đổi câu hay đã bỏ đi

khi không cần thiết vì lý do nào đó (như sự

lược bỏ đi) Do đó, vết trừu tượng này coi

như bắt buộc Qua khái niệm vết này ta nhận

ra quan hệ chủ đề Từ câu khẳng định “Tom

gives Mary a book” (Tom cho Mary một

quyển sách) ta có thể đặt câu hỏi như sau:

Who does Tom give a book? (Tom cho ai

quyển sách?) Trong câu hỏi này còn lại vết

của câu khẳng định:

Who does Tom give t a book?

Nghĩa là Who nhận cái quan hệ chủ đề

thông qua vết Như vậy vết là vị trí mà ta

nhớ lại một yếu tố nào đó của cấu trúc chìm

trong cấu trúc nổi Theo Nguyễn Đức Dân,

chính nhờ lý thuyết vết mà ta có thể kết luận

xa hơn nữa: toàn bộ ngữ nghĩa, kể cả quan

hệ chủ đề, được gắn với cấu trúc nổi Điều

rõ ràng là mối quan hệ trong cấu trúc nổi, do

lưu lại vết, được mở rộng thêm

Theo Lý thuyết chi phối và gắn kết của

Chomsky, một ngữ pháp phổ quát (Universal

grammar) bao gồm nhiều hệ thống con các

nguyên lý (principles) có quan hệ tương tác

nhau Khi vận dụng vào từng ngôn ngữ cụ

thể, ta có các tham biến của ngôn ngữ đó

Hệ thống quy tắc ngữ pháp có nhiều tiểu

bộ phận:

(i) Từ vựng (ii) Cú pháp

Bộ phận phạm trù

Bộ phận biến đổi (iii) Bộ phận biểu hiện dạng thức ngữ

âm (PF) (iv) Bộ phận biểu hiện dạng thức logic Các bộ phận này tương tác với nhau Từ vựng là tiểu bộ phận và bộ phận phạm trù tạo thành cơ sở ngữ pháp, nó sinh ra cấu trúc chìm Chúng chiếu xạ tới S bằng quy tắc dời chỗ - α (Move – α) và để lại các vết Bộ phận biến đổi được tạo thành từ quy tắc này Quy tắc này có cả trong bộ phận PF và LF

3 PHÂN TÍCH CÂU CHỦ ĐỘNG -

BỊ ĐỘNG THEO CÁC LÝ THUYẾT CỦA NOAM CHOMSKY:

3.1 Mô hình hóa các câu chủ động - bị động tiêu bi u

Chúng tôi lấy mẫu câu chủ động-bị động trước hết từ sách của các tác giả Việt Nam, bởi lẽ các mẫu câu này đơn giản, dễ hiểu và đồng thời định hướng cho chúng tôi sưu tầm các mẫu khác từ các sách nước ngoài Kế đó chúng tôi thu thập các mẫu cải biến câu chủ động-bị động (khoảng 40 mẫu) từ các kỳ thi trong nước và nước ngoài Các mẫu câu này

đa dạng hơn và khó hơn so với các mẫu câu trong các sách Việt Nam Tuy nhiên, khối ngữ liệu nhiều nhất mà chúng tôi có được trích ra từ các sách nước ngoài như TOEIC, TOEFL, IELTS và đặc biệt là sách dùng cho Khung tham chiếu châu Âu Chính các sách theo Khung tham chiếu châu Âu đã gợi cho chúng tôi phương thức sắp xếp các mẫu câu

từ dễ đến khó theo cấp độ tăng dần: A1- Movers, A2 – KET, B1 – PET, B2 – FCE,

Trang 6

C1 – CAE và C2 – CPE Các mẫu câu này

đã qua giảng dạy thực tiễn và áp dụng rộng

rãi trên toàn thế giới

Trong các khoa học nhân văn, nhiệm vụ

của khoa học là phân loại, nghĩa là nhà khoa

học phải thực hiện hai công việc chính:

- Quan sát các hiện tượng, đối tượng

khảo cứu trong phạm vi nghiên cứu

- Tập hợp, sắp xếp các đối tượng đã

quan sát để rút ra kết luận về cơ cấu, tổ chức

của chúng

Xuất phát từ một số hữu hạn các quan

sát, thí nghiệm, người ta xây dựng thành

những lý thuyết khái quát – những mô hình,

nhằm giải thích các sự kiện đã biết và dự

đoán được những sự kiện trong tương lai

Để nghiên cứu một đối tượng, người ta

thường xây dựng những mô hình của nó –

xây dựng những cái đẳng cấu với nó theo

những phương diện mà ta quan tâm

Hình thức hóa câu chủ động-bị động tức

là xây dựng các mô hình sao cho giữa các

mô hình và các câu chủ động-bị động có mối

quan hệ đẳng cấu Đây là các mô hình được

mã hóa từ các câu chủ động-bị động điển

hình trong tiếng Anh Các mô hình này sẽ

giúp các sinh viên dễ tiếp thu được câu chủ

động-bị động và có thể thực hiện ngôn ngữ

một cách thành thạo

Sự chuyển đổi giữa cấu trúc chủ động-bị

động là sự chuyển đổi các cấu trúc khác

nhau nhưng có ý nghĩa tương đồng Trong

sự chuyển đổi này ta thấy cả hai sự dời trái

và phải trong cấu trúc câu

Sự cải biến câu chủ động-bị động thể

hiện sự biến đổi giữa các mô hình có mối

quan hệ tương đương về ý nghĩa như có các

sắc thái khác nhau để được sử dụng chính

xác trong các trường hợp khác nhau một cách thích hợp

Theo tác giả Nguyễn Đức Dân các mô hình đều phải có sức giải thích và thuyết phục, nghĩa là mô hình phải có hiệu lực:

- Giải thích hợp lý các sự kiện

mà trước đó không có mô hình bằng cách xây dựng được các mô hình minh họa sự cải biến câu chủ động-bị động

Các mô hình tiêu biểu về phạm trù dạng trong tiếng Anh được sắp xếp theo các mẫu câu (xem phụ lục 3 mẫu câu chủ động-bị động) Có thể nói đây là các mô hình chìm hữu hạn để tạo ra vô số các câu chủ động-bị động trong thực tiễn của tiếng Anh Trong các mẫu câu này, chúng tôi chỉ sử dụng các yếu tố/thành phần câu chính và các tham biến của chúng mà không đưa vào các thành phần phụ của câu như định ngữ và trạng ngữ

Ví dụ, mẫu câu tiêu biểu nhất trong tiếng Anh thể hiện phạm trù dạng là:

Active: S + V + O

Passive: S + Be PP + by O

Có những mẫu với mệnh đề chêm phức tạp hơn:

Active: S + V + O + Whom/Which

(object) + S + V

Passive: S + Who/Which (subject)

+ Be PP + By O + Be PP + By O

Trong câu bị động trên phần chêm (Who/Which (subject) Be PP + By O) được đặt ngay sau chủ ngữ mới theo đúng điều kiện không vượt cấp hay còn gọi là điều kiện liền kề dưới (condition of subjacency) Nếu phần chêm đặt xa chủ ngữ mới, câu sẽ trở nên lủng củng hoặc sai ngữ pháp

Hình thức hóa/mẫu câu trên xuất phát từ thành phần dạng thức logic (The Logical

Trang 7

Form (LF) component) Câu được trình bày

về căn bản ra nghĩa cú pháp, một phương

diện của biểu hiện ngữ nghĩa Chomsky cho

rằng dạng thức lôgích là sự biểu hiện bộ

phận của nghĩa được xác định qua cấu trúc

cú pháp Biểu hiện ngữ nghĩa không đầy đủ,

nhưng những phương diện của nghĩa được

xác định một cách cấu trúc làm đầu vào cho

biểu hiện ngữ nghĩa

Ví dụ: (1) Please keep silent in the exam

room

(2) Candidates are requested to keep

silent in the exam room

Câu (1) mang nghĩa trực tiếp trong phòng thi Câu (2) được lặp lại gián tiếp với

cú pháp có nghĩa căn bản giống như câu chủ động, nhưng ở dạng bị động

3.2 Giải t c sự cải biến c c câu c ủ động-bị động tiêu bi u bằng c c lý t uyết của N am C ms y

Dựa trên các lý thuyết của Chomsky, đặc biệt là lý thuyết vết, chúng tôi giải thích khái niệm vết qua ví dụ về vết trong câu bị động

+ Mẫu câu bị động tổng quát:

Hãy xem câu chủ động (1) và câu bị động (2) sau đây:

(1) Thomas writes a letter

(2) A letter is written by Thomas

Câu chủ động (1) cải biến thành câu bị động (2) theo quy tắc biến đổi của ngữ pháp Tác nhân, tức chủ ngữ trong câu chủ động dời về phía sau hay đặt xuống cuối (Agent post – posing) Khi dời tác nhân xuống cuối câu, nó để lại một vết t ở vị trí ban đầu (4):

(3) Thomas PRESENT BE write a letter by

(4) t PRESENT BE write a letter by Thomas

The o quy tắc chuyển cụm danh từ (NP) lên trước (NP pre-posing), câu (4) được cải biến thành câu ( ) Khi dời lên trước a letter đã để lại một vết t

(5) A letter PRESENT BE write t by Thomas

Áp dụng quy tắc chuyển đổi bắt buộc [PRESENT BE write  is written] mà ( ) biến thành (2)

+ Mẫu câu bị động có hai bổ ngữ:

Trong câu bị động có hai bổ ngữ thì sẽ có hai vết t

(1) Jack gave Kate a book

(2) Kate was given a book by Jack

(3) A book was given to Kate by Jack

Câu chủ động (1) có thể cải biến theo hai cách như câu (2) và (3) Theo quy tắc tác nhân/chủ ngữ dời xuống cuối, Jack sẽ dời về cuối câu và để lại vết t ở đầu câu ( )

(4) Jack PAST BE give Kate a book by

(5) t PAST BE give Kate a book by Jack

Trang 8

Câu chủ động (1) có hai cách cải biến ( ) và (7) Trong câu ( ), theo luật “chuyển NP lên trước”, Kate sẽ để lại một vết t

(6) Kate PAST BE give t a book by Jack

Trong câu (7) a book cũng để lại một vết t

(7) A book PAST BE give t to Kate by Jack

Đặc biệt trong trường hợp (7), một vết t để lại trước bổ ngữ gián tiếp Kate và có xuất hiện giới từ “to” trong trường hợp này Câu chủ động thực sự của (7) không phải là (1) mà là (1a)

(1a) Jack gave a book to Kate

+ Mẫu câu bị động cầu khiến với vị từ MAKE:

(1) He will make his son learn computer science

(2) His son will be made to learn computer science

Giải thích sự cải biến theo minh họa của lý thuyết vết và lý thuyết chi phối và gắn kết: (3) He FUTURE BE make his son learn computer by

(4) t FUTURE BE make his son learn computer by him

(5) His son FUTURE BE make t to learn computer by him

Đặc biệt trong trường hợp này ngoài việc chuyển NP lên trước để lại vết t ( ) và đặt NP xuống cuối để lại vết t (4), ta thấy xuất hiện tiểu từ TO trước động từ Người ta nói động từ nguyên mẫu không TO biến thành động từ nguyên mẫu có TO theo sự chi phối của ngữ pháp

+ Câu bị động với vị từ chỉ sự cảm nhận của các giác quan

(1) She hears him sing in the room

(2) He is heard to sing in the room

Giải thích sự cải biến theo minh họa của lý thuyết vết:

(3) She PRESENT BE hear him sing in the room by

(4) t PRESENT BE hear him sing in the room by her

(5) He PRESENT BE hear t to sing in the room by her

Giống mẫu câu bị động ngay bên trên, ngoài việc chuyển NP lên trước để lại vết t ( ) và đặt NP xuống cuối để lại vết t (4), ta thấy xuất hiện tiểu từ TO trước động từ Người ta nói động từ nguyên mẫu không TO biến thành động từ nguyên mẫu có TO sau các vị từ chỉ sự cảm nhận của các giác quan

+ Câu bị động vô nhân xưng 1

(1) People say that he will move to London

(2) It is said that he will move to London

Giải thích sự cải biến theo minh họa của lý thuyết vết và lý thuyết chi phối và gắn kết: (3) People PRESENT BE say that he will move to London by

(4) t PRESENT BE say that he will move to London (by people)

(5) It PRESENT BE say t (that he will move to London)

Trang 9

Trong mô hình bị động này mệnh đề danh từ là bổ ngữ Ta không dùng mệnh đề này làm chủ ngữ trong câu bị động, thay vào đó là đại từ vô nhân xưng “it” Khi chuyển câu này sang dạng tương đương trong tiếng Việt, ta dùng đoạn “người ta” Khi đặt xuống cuối “by people” thường được bỏ đi Ta không chuyển cả mệnh đề danh từ lên trước, thay vì vậy ta dùng đại từ vô nhân xưng “it” thay thế Do đó mệnh đề danh từ vẫn ở nguyên vị trí Chúng

ta lưu ý rằng động từ ở mệnh đề chính ở hiện tại đơn (xảy ra trước) và động từ ở mệnh đề danh từ ở tương lai đơn (xảy ra sau)

+ Câu bị động vô nhân xưng 2

(1) They rumoured that he lived with a young girl

(2) He was rumoured to live with a young girl

Giải thích sự cải biến theo minh họa của lý thuyết vết và lý thuyết chi phối và gắn kết: (3) They PAST BE rumour that he lived with a young girl by

(4) t PAST BE rumour that he lived with a young girl (by them)

(5) He PAST BE rumour t to live with a young girl (by them)

Giống như câu bị động vô nhân xưng 1, câu bị động vô nhân xưng 2 có bổ ngữ là mệnh đề danh từ Tuy nhiên, thì động từ ở hai mệnh đề chính và phụ giống nhau, đều ở quá khứ đơn Do sự khác biệt này chi phối chủ ngữ ở mệnh đề danh từ được chuyển lên trước Vị từ trong mệnh đề danh từ đổi thành động từ nguyên mẫu có TO theo sự chi phối của ngữ pháp

+ Câu bị động vô nhân xưng 3

(1) They think that she sold her own car

(2) She is thought to have sold her own car

Giải thích sự cải biến theo minh họa của lý thuyết vết và lý thuyết chi phối và gắn kết: (3) They PRESENT BE think that she sold her own car by

(4) t PRESENT BE think that she sold her own car (by them)

(5) She PRESENT BE think t to have sold her own car (by them)

Giống như mẫu câu bị động vô nhân xưng 1 và 2, câu bị động vô nhân xưng 3 có bổ ngữ là mệnh đề danh từ Tuy nhiên, thì động từ ở hai mệnh đề chính và phụ khác nhau: mệnh đề chính có động từ ở hiện tại đơn và mệnh đề danh từ có động từ ở quá khứ đơn Do sự khác biệt này chi phối chủ ngữ ở mệnh đề danh từ được chuyển lên trước Vị từ trong mệnh đề danh từ đổi thành động từ nguyên mẫu hoàn thành có TO (TO HAVE PAST PARTICIPLE) theo sự chi phối của ngữ pháp

+ Câu bị động có mệnh đề danh từ làm chủ ngữ

(1) People say that money is the root of all evil

(2) That money is the root of all evil is said

Giải thích sự cải biến theo minh họa của lý thuyết vết và lý thuyết chi phối và gắn kết: (3) People say that money is the root of all evil by

(4) t say that money is the root of all evil (by people)

Trang 10

(5) That money is the root of all evil is said t (by people)

Theo quy tắc ngữ pháp, chủ ngữ của câu chủ động sẽ chuyển về sau và có giới từ BY đi trước, bổ ngữ của câu chủ động sẽ đưa lên trước thành chủ ngữ của câu bị động Theo sự chi phối của quy tắc này cả mệnh đề danh từ “That money is the root of all evil” làm bổ ngữ được đưa lên trước

+ Câu bị động phản thân

(1) He has let people cheat him

(2) He has let himself be cheated

Giải thích sự cải biến theo minh họa của lý thuyết vết và lý thuyết ràng buộc cục bộ:

(3) He has let people INFINITIVE BE cheat him by

(4) He has let t INFINITIVE BE cheat him (by people)

(5) He has let himself INFINITIVE BE cheat t (by people)

Trong mẫu câu bị động này bổ ngữ “people” đồng thời là chủ ngữ về mặt nghĩa của bổ ngữ

“him” “him” là hồi chỉ của “He”, tức là cả hai từ chỉ một đối tượng Theo quy tắc ngữ pháp chi phối, “him” không được đi cùng với “He” trong cùng một nút (node), do vậy ta đổi “him” thành “himself” Theo sơ đồ trên, “people” chuyển về sau để lại vết t và “him” đặt lên trước để lại vết t

+ Câu bị động mệnh lệnh

(1) Do this homework now

(2) Let this homework be done now

Giải thích sự cải biến theo minh họa của lý thuyết vết và lý thuyết chi phối và gắn kết: (3) e let this homework INF BE do (by ) now

(4) t let this homework INF BE do (by you ) now

(5) Let this homework INF BE do t (by ) now

Trong câu mệnh lệnh chủ ngữ ẩn là YOU hay ngầm hiểu là rỗng e Trong câu bị động (4) vết t được để lại trước LET và YOU được chuyển về sau tạo ra BY YOU ngầm hiểu Trong ( ) “this homework” được đưa ra trước để lại vết t Theo quy tắc ngữ pháp, LET được thêm vào ở đầu câu và BE ở dạng nguyên mẫu không TO

+ Câu bị động cầu khuyến

(1) They will have someone cut the tree down

(2) They will have the tree cut down

Giải thích sự cải biến theo minh họa của lý thuyết vết và lý thuyết chi phối và gắn kết: (3) They will have someone e BE cut the tree down by

(4) They will have t e BE cut the tree down (by someone)

(5) They will have the tree e BE cut t down (by someone)

Trong câu (4) “someone” được đưa ra sau và để lại vết t Trong câu ( ) “the tree” đưa lên trước và để lại vết t “Someone” ngầm hiểu có thể bỏ đi Đặc biệt trong mẫu câu bị động này, BE được xem là yếu tố rỗng

Ngày đăng: 12/03/2020, 20:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w