1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới lý thuyết nghiên cứu, phê bình văn học qua kỷ yếu di sản văn chương đại thi hào nguyễn du 250 năm nhìn lại

107 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu dịp kỷ niệm năm 1965, phê bình xã hội học đang giữ địa vị thống trị chi phối toàn bộ việc nghiên cứu phê bình Truyện Kiều như đấu tranh giai cấp, chống phong kiến… thì dịp kỷ niệm l

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN QUỲNH ANH

ĐỔI MỚI LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH VĂN HỌC

QUA KỶ YẾU “DI SẢN VĂN CHƯƠNG ĐẠI THI HÀO

NGUYỄN DU- 250 NĂM NHÌN LẠI”( 2015)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Thái Nguyên- 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN QUỲNH ANH

ĐỔI MỚI LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH VĂN HỌC

QUA KỶ YẾU “DI SẢN VĂN CHƯƠNG ĐẠI THI HÀO

NGUYỄN DU- 250 NĂM NHÌN LẠI”( 2015)

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Trần Nho Thìn

Thái Nguyên- 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan những luận điểm được trình bày trong Luận văn này

là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu của tôi Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước những luận điểm khoa học mà tôi nêu ra trong Luận văn này

Trang 4

Người thực hiện

Nguyễn Quỳnh Anh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của luận văn 6

7 Cấu trúc luận văn 7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIEN CỨU 8

1.1 Nhìn lại phương pháp nghiên cứu phê bình Truyện Kiều dịp kỷ niệm

200 năm năm sinh Nguyễn Du(1965) 8

1.1.1 Bối cảnh chính trị - xã hội – văn hóa 8

1.1.2 Nhìn lại phương pháp nghiên cứu phê bình Truyện Kiều dịp kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du(1965) 9

1.2 Bối cảnh đổi mới lý luận phê bình văn học trong dịp kỷ niệm 250 năm năm sinh Nguyễn Du (2015) 17

1.2.1 Bối cảnh xã hội- văn hóa 17

1.2.2 Vài nét về cuốn sách “Di sản văn chương Đại thi hào Nguyễn Du- 250 năm nhìn lại” 18

1.2.3 Đổi mới lý luận phê bình Truyện Kiều dịp kỷ niệm 250 năm năm sinh Nguyễn Du (2015) 20

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 22

CHƯƠNG 2 23

Trang 6

VẬN DỤNG LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN TRONG NGHIÊN CỨU, PHÊ

BÌNH TRUYỆN KIỀU 23

2.1 Khái quát về lý thuyết tiếp nhận 23

2.1.1 Vài nét về sự ra đời của lý thuyết tiếp nhận 23

2.1.2 Lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam 25

2.2 Các công trình vận dụng lý thuyết tiếp nhận 27

2.2.1 Người đọc- với việc tiếp nhận Truyện Kiều trong các giai đoạn

khác nhau 27

2.2.2 Truyện Kiều - với những diễn biến của tiếp nhận văn học 34

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 44

CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG PHÂN TÂM HỌC TRONG NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH TRUYỆN KIỀU 47

3.1 Khái quát về phân tâm học 47

3.2 Các công trình vận dụng lý thuyết phân tâm học 53

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 66

CHƯƠNG 4: VẬN DỤNG TỰ SỰ HỌC TRONG NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH TRUYỆN KIỀU 68

4.1 Khái quát về tự sự học 68

4.2 Các công trình vận dụng tự sự học trong nghiên cứu Truyện Kiều 72

TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 90

KẾT LUẬN 92

THƯ MỤC THAM KHẢO 96

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Cơ sở khoa học

Năm 2015, nhân dịp kỷ niệm 250 năm năm sinh đại thi hào Nguyễn

Du, Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam và Ủy ban nhân dân tỉnh Hà

Tĩnh phối hợp tổ chức, Hội thảo quốc tế: “Đại thi hào Nguyễn Du, Danh nhân văn hóa Nguyễn Du: Di sản và các giá trị xuyên thời đại” Kết quả của hội thảo được tập hợp lại trong cuốn sách “Di sản văn chương Đại thi hào Nguyễn Du- 250 năm nhìn lại” So với lần kỷ niệm 200 năm năm sinh

Nguyễn Du (năm 1965) cách đây nửa thế kỷ, diện mạo văn học nói chung và nghiên cứu lý luận phê bình nói riêng đã có những chuyển biến rất căn bản Đặc biệt sau gần 30 năm đổi mới hội nhập, lý luận phê bình và phương pháp nghiên cứu văn học đã tiếp nhận nhiều lý thuyết phê bình văn học từ phương Tây theo xu thế tất yếu khách quan của thời kỳ hội nhập với tính khoa học, hiện đại, nhân văn Nếu dịp kỷ niệm năm 1965, phê bình xã hội học đang giữ

địa vị thống trị chi phối toàn bộ việc nghiên cứu phê bình Truyện Kiều như

đấu tranh giai cấp, chống phong kiến… thì dịp kỷ niệm lần này những lý thuyết mới như mỹ học tiếp nhận, thi pháp học, phân tâm học, tự sự học, văn hóa học… được các nhà nghiên cứu vận dụng trong nghiên cứu phê bình

Truyện Kiều đem đến những mã nghĩa mới, những cách nhìn nhận mới mẻ

Đây là những vấn đề mà sau bốn năm cuốn kỷ yếu được xuất bản nhưng vẫn chưa được giới nghiên cứu quan tâm, đó là lí do chính mà chúng tôi quyết

định chọn đề tài: Đổi mới lý thuyết nghiên cứu, phê bình văn học qua kỷ yếu “Di sản văn chương đại thi hào Nguyễn Du - 250 năm nhìn lại”( 2015)

Khi nghiên cứu, lí giải bình luận về một tác phẩm văn học thì lý thuyết văn học có ý nghĩa quan trọng, một lý thuyết, một phương pháp sẽ cung cấp

Trang 8

một góc nhìn về tác phẩm Đối với Truyện Kiều, một kiệt tác của nền văn học

dân tộc, chúng ta đã chứng kiến lịch sử nghiên cứu lâu dài hàng trăm năm, các nhà nghiên cứu phê bình ở những giai đoạn khác nhau đã vận dụng lý thuyết, phương pháp phê bình khác nhau và đem lại kết quả nghiên cứu

Truyện Kiều thật đa dạng, phong phú, càng ngày càng phát hiện thêm những

vấn đề mới mẻ, lí thú, Truyện Kiều trở thành một tác phẩm “nói mãi không cùng” Luận văn này của chúng tôi chọn giới thiệu cuốn “Di sản văn chương

Đại thi hào Nguyễn Du- 250 năm nhìn lại”, với mục đích bổ sung và làm

sáng tỏ một mắt xích quan trọng trong cả quá trình lịch sử nghiên cứu lâu dài, đặc biệt quan tâm tới những vấn đề mới mẻ trong lí luận và thực tiễn, nhằm

mở ra những cách tiếp cận mới trong giảng dạy, học tập, nghiên cứu phê bình

và hi vọng với luận văn này dần dần chúng ta sẽ có một bức tranh hoàn thiện

về lịch sử nghiên cứu, phê bình Truyện Kiều

1.2 Cơ sở thực tiễn

Lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều hai thế kỷ đã ghi nhận nhiều lý thuyết

văn học khác nhau, tuy nhiên từ sau Cách mạng tháng Tám, trong một thời gian dài sự chi phối của dòng lý luận phê bình văn học chịu ảnh hưởng của lý luận Macxit đã trở thành xu hướng chi phối mạnh mẽ hoạt động phê bình văn học ở miền Bắc Phương pháp phê bình này đề cao mối quan hệ giữa văn học

và đời sống, coi tác phẩm văn học không phải là một chỉnh thể riêng biệt mà chịu sự chi phối, tác động của thời đại mà nhà văn đang sống Các nhà nghiên cứu đi theo xu hướng này quan tâm nhiều đến các yếu tố ngoài văn bản như tiểu sử nhà văn, điều kiện kinh tế, hoàn cảnh chính trị xã hội, đấu tranh giai cấp để phân tích, bình giá tác phẩm do đó không tránh khỏi tình trạng áp đặt, lấy xưa nói nay, hiện đại hóa tác phẩm, cố gắn tác phẩm với những gì đang diễn ra trong đời sống xã hội, quy tác phẩm về chức năng phản ánh hiện thực khách quan nhất là đối với các tác phẩm trung đại Có thể coi dòng lí luận

Trang 9

luận này ảnh hưởng, chi phối trong nhiều bài viết, công trình của Hải Triều, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Trần Đức Thảo, cùng những nhà phê bình thế hệ sau này như Lê Đình Kỵ, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Phong Lê… Những điều nói trên đã được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đề cập đến nhân dịp kỷ niệm Nguyễn Du năm 1965, trong đó không thể không nhắc đến cuốn kỷ yếu

Kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du (1965), cuốn kỷ yếu đó được coi

như một chứng tích tiêu biểu một thời thống trị của hệ hình xã hội học tư tưởng Trong khoảng 50 năm sau đó, nhất là từ năm 1986 trở lại đây sự vận động của lý thuyết văn học đã diễn ra vô cùng phong phú, sôi nổi và đạt được

những thành tựu đáng kể Thực hiện đề tài Đổi mới lý thuyết nghiên cứu, phê bình văn học qua kỷ yếu “Di sản văn chương đại thi hào Nguyễn Du -

250 năm nhìn lại”(2015), chúng tôi mong muốn giúp người đọc nhận thấy

những thành tựu của nghiên cứu phê bình Nguyễn Du và Truyện Kiều trong

những năm gần đây đặc biệt nhận thấy sự vận dụng các lý thuyết mới được du nhập từ phương Tây vào Việt Nam Các nhà phê bình đã nhận thấy hướng tiếp cận ngoại văn bản mặc dù có những thành tựu nhất định nhưng cũng bộc

lộ nhiều hạn chế, điều đó cần được bổ sung bằng một hướng tiếp cận khác, coi văn bản như sản phẩm của tư duy nghệ thuật, hoàn toàn độc lập với thế giới mà nó phản ánh đó là cách tiếp cận nội văn bản, tức là những yếu tố của thế giới nghệ thuật như nó tồn tại độc lập với hiện thực khách quan Sau xu hướng phê bình nội văn bản, phê bình văn học còn được bổ sung nhiều cách tiếp cận khác như lý thuyết liên văn bản, phê bình cổ mẫu, lý thuyết tiếp nhận… trên thực tế chứng minh không một lý thuyết riêng rẽ nào có thể đọc hết nghĩa của tác phẩm do đó việc vận dụng các lý thuyết để bổ sung cho nhau là cần thiết Việc vận dụng các lý thuyết mới trong những năm gần đây thể hiện sự nỗ lực của các nhà khoa học trong việc đánh giá những giá trị

thiên tài của Nguyễn Du, sự phong phú của kiệt tác Truyện Kiều nhằm khắc

phục những hạn chế của khuynh hướng phê bình xã hội học từng chi phối khá

Trang 10

sâu sắc trong giai đoạn 1945-1985 nhất là trong dịp kỉ niệm Nguyễn Du năm

1965, cách đây 50 năm Đề tài này như là một thử nghiệm của chúng tôi trong quá trình học tập của mình đồng thời cũng để làm dày thêm vốn kiến thức phục vụ cho hoạt động giảng dạy trong nhà trường phổ thông

2 Lịch sử vấn đề

Có thể nói trong khoảng hai thế kỷ nghiên cứu Nguyễn Du và Truyện

Kiều chúng ta đã có hàng trăm công trình với hàng ngàn bài viết của các nhà

nghiên cứu trong và ngoài nước, song dường như vẫn chưa đủ với một tác phẩm “nói mãi không cùng” Người đọc và các nhà nghiên cứu đến sau dường như vẫn tìm thấy cho mình ít nhiều điều mới mẻ khi tiếp cận kiệt tác này

Lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều từ sau 1986 đánh dấu những bước chuyển mới

mẻ nhằm lấp đầy những khoảng trống trước đây, việc tiếp nhận các phương pháp đọc được mở rộng hơn bao giờ hết, do đó chúng ta đạt nhiều thành tựu

mới mẻ trong tiếp nhận Truyên Kiều như hướng đi của các nhà nghiên cứu

Phan Ngọc, Trần Đình Sử, Trần Nho Thìn, Lê Nguyên Cẩn…

Năm 2015, chúng ta kỉ niệm 250 năm năm sinh Nguyễn Du, việc

nghiên cứu Nguyễn Du và Truyện Kiều lại trở nên sôi nổi hơn bao giờ, rất

nhiều hội thảo đã được tổ chức tại các trường đại học, viện nghiên cứu nhằm

đánh giá những giá trị thiên tài của Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều Dịp

này các nhà nghiên cứu cũng công bố những kết quả mới của mình trong việc

nghiên cứu Nguyễn Du và tiếp nhận Truyện Kiều Trong đó phải kể đến hội

thảo quốc tế do Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam và Ủy ban nhân dân

tỉnh Hà Tĩnh phối hợp tổ chức: “Đại thi hào Nguyễn Du, Danh nhân văn hóa Nguyễn Du: Di sản và các giá trị xuyên thời đại” Kết quả của hội thảo được tập hợp lại trong cuốn sách “Di sản văn chương Đại thi hào Nguyễn Du- 250 năm nhìn lại”

Trang 11

Từ khi xuất bản cuốn sách đến nay ngoài Lời đầu sách mang tính giới

thiệu tổng quát về cuốn sách và điểm tên trong bài nghiên cứu của Bùi Việt Thắng, hiện chưa có bài viết hay công trình đánh giá về cuốn sách, luận văn này nhằm đánh giá những nét mới trong nghiên cứu, phê bình về Nguyễn Du

và Truyện Kiều, đặc biệt là những cách vận dụng những lý thuyết mới trong

nghiên cứu phê bình

3 Mục đích nghiên cứu

Luận văn này nhằm tập trung vào những điểm mới về nghiên cứu, phê

bình trong cuốn sách “Di sản văn chương Đại thi hào Nguyễn Du- 250 năm nhìn lại”, so với một số bài viết về Truyện Kiều trên tạp san Văn Sử Địa, Đại

học sư phạm (Hà Nội, hồi những năm 1950), đặc biệt là cuốn kỷ yếu Kỷ niệm

200 năm năm sinh Nguyễn Du (Hà Nội, 1965) Chúng tôi không có tham

vọng đi vào tất cả những vấn đề mà cuốn sách đặt ra mà chỉ khảo sát, đánh giá những nét mới về lý thuyết nghiên cứu, phê bình Nguyễn Du, đặc biệt với

Truyện Kiều với những cách diễn dịch khác nhau, các cách vận dụng lý

thuyết mới như tiếp nhận văn học, phân tâm học, tự sự học…

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Như tên đề tài đã xác định, chúng tôi tập trung vào những điểm mới

trong nghiên cứu Nguyễn Du và Truyện Kiều, lấy công trình “Di sản văn

chương Đại thi hào Nguyễn Du- 250 năm nhìn lại” làm đối chứng và có so

sánh với tạp san Văn sử địa, Đại học sư phạm và kỷ yếu Kỷ niệm 200 năm

năm sinh Nguyễn Du

4.2 Phạm vi nghiên cứu

4.2.1 Phạm vi tư liệu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn Đổi mới lý thuyết nghiên cứu, phê bình văn học qua kỷ yếu “Di sản văn chương đại thi hào Nguyễn Du-250

Trang 12

năm nhìn lại”( 2015), chúng tôi tiến hành nghiên cứu bằng khả năng hiểu

biết của mình đồng thời có sử dụng các bài báo, tạp chí, giáo trình, chuyên luận của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu

4.2.2 Phạm vi nội dung

Thực hiện đề tài này chúng tôi không có tham vọng đi vào tất cả mọi vấn đề mà cuốn sách đặt ra, chúng tôi chỉ tập trung cơ bản vào những bài

nghiên cứu về Truyện Kiều để thấy những khía cạnh mới mẻ liên quan đến đề

tài của mình như vận dụng lý thuyết tiếp nhận, phân tâm học, tự sự học đồng thời một số chỗ có so sánh với hướng tiếp cận thi pháp học, văn hóa học, liên văn bản…

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp so sánh

Luận văn vận dụng phương pháp so sánh để thấy được những chuyển

biến mới trong lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều

5.2 Phương pháp tiếp cận văn hóa

Chú ý đến hoàn cảnh lich sử gắn với các kiểu người đọc khác nhau, sự chi phối của hệ tư tưởng, trường văn hóa, quan hệ giao lưu văn hóa quốc tế

trong tiếp nhận Truyện Kiều

5.2 Phương pháp liên ngành

Để bổ sung, làm rõ những vấn đề trong tranh luận về Truyện Kiều

Ngoài ra luận văn còn vận dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu

khác như thống kê, phân loại, phân tích, tổng hợp

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn này nhằm đánh giá những nét mới về lý thuyết nghiên cứu

phê bình về Nguyễn Du và Truyện Kiều, đồng thời thấy sự vận dụng các lý

Trang 13

thuyết mới như tự sự học, phân tâm học, lý thuyết tiếp nhận và người đọc trong cuốn kỷ yếu lần này Qua đó luận văn chỉ ra sự chuyển biến, thay đổi trong lý luận nghiên cứu phê bình văn học sau 50 năm đối với việc nghiên

cứu, phê bình Truyện Kiều(1965-2015) Nói cách khác luận văn vừa đề cập

đến đổi mới lý luận phê bình văn học trong 50 năm nói chung vừa nhấn mạnh

những thành tựu mới trong nghiên cứu Truyện Kiều nói riêng.Những vấn đề

mới mẻ trong lí luận và thực tiễn giúp mở ra những cách tiếp cận mới trong

giảng dạy, học tập và nghiên cứu phê bình về Nguyễn Du và Truyện Kiều

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết thúc, Luận văn gồm 4 chương :

Chương 1 Tổng quan nghiên cứu, trong chương này chúng tôi làm rõ

bối cảnh xuất hiện của cuốn sách trong đời sống nghiên cứu phê bình Nguyễn

Du và Truyện Kiều trong những năm gần đây

Chương 2 Vận dụng lý thuyết tiếp nhận trong nghiên cứu, phê bình Truyện Kiều, trong chương này chúng tôi làm sáng tỏ lý thuyết tiếp nhận

Truyện Kiều trong những giai đoạn khác nhau gắn với các kiểu người đọc

khác nhau, đồng thời thấy được sự sáng tạo, tiếp nhận của Nguyễn Du trong việc vay mượn cốt truyện nước ngoài

Chương 3 Vận dụng phân tâm học trong nghiên cứu, phê bình Truyện Kiều, trong chương này chúng tôi làm rõ hơn sự thay đổi từ phân tâm

học tiểu sử sang phân tâm học cấu trúc, làm sáng tỏ thêm những ứng dụng

phân tâm học trong nghiên cứu Truyện Kiều gần đây

Chương 4 Vận dụng tự sự học trong nghiên cứu, phê bình Truyện Kiều,

trong chương này chúng tôi cố gắng làm sáng tỏ thêm việc thay đổi mô hình

tự sự của tác phẩm, khẳng định những sáng tạo của Nguyễn Du trong thể loại

truyện thơ Nôm đặc trưng của dân tộc

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIEN CỨU

1.1 Nhìn lại phương pháp nghiên cứu phê bình Truyện Kiều dịp kỷ niệm

200 năm năm sinh Nguyễn Du(1965)

1.1.1 Bối cảnh chính trị - xã hội – văn hóa

Sau khi hiệp định Giơnevơ được kí kết(1954), đất nước tạm chia cắt

thành hai miền, miền Bắc đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiếp

tục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Ở miền Bắc, sau khi khôi phục kinh tế,

thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất kinh tế xã hội bước đầu đã đạt những

thành tựu nhất định, trở thành hậu phương lớn chi phối cho chiến trường miền

Nam Tuy nhiên từ cuối năm 1964, Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, cả hai

miền tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước do đó điều kiện kinh tế

gặp vô vàn khó khăn Bên cạnh đó do vận hành cơ chế tập trung quan liêu bao

cấp nên sản xuất trì trệ, chủ yếu trông chờ sự viện trợ, ủng hộ của các nước

phe xã hội chủ nghĩa, quan hệ giao lưu quốc tế hạn hẹp

Về văn hóa xã hội, do hệ thống tư tưởng macxit chi phối mọi hoạt động

văn hóa xã hội nên nhìn chung đề cao tính cộng đồng, tính nhân dân, tính giai

cấp trong mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa Việc tiếp cận với những tư

tưởng phương Tây ở miền Bắc hầu như không có, quan điểm macxit, phê bình

xã hội học giữ địa vị thống trị trong văn học nghệ thuật, các hệ tư tưởng khác

bị bài xích thậm chí bị coi là phản động Các lý thuyết văn học giai đoạn này

chủ yếu được tiếp nhận từ Liên Xô, hầu như không có điều kiện giao lưu văn

hóa quốc tế

Năm 1965, Đảng và nhà nước tổ chức kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn

Du, đây là dịp tôn vinh lớn lao Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều tuy nhiên

đó cũng là dịp cổ vũ tinh thần dân tộc, tinh thần chiến đấu ở cả hai miền Sự

Trang 15

kiện này thu hút được nhiều nhà nghiên cứu phê bình Truyện Kiều trong đó có nhiều bài với mục đích lấy xưa nói nay, lấy Truyện Kiều để phục vụ cuộc

kháng chiến chống Mỹ

1.1.2 Nhìn lại phương pháp nghiên cứu phê bình Truyện Kiều dịp kỷ

niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du(1965)

Giai đoạn 1945-1975, do những khó khăn về chính trị, xã hội, đất nước trải qua hai cuộc chiến tranh ác liệt, quan hệ quốc tế chưa có điều kiện mở rộng nên chủ yếu nghiên cứu phê bình theo quan điểm Macxit quan tâm đến các vấn đề xã hội, đấu tranh giai cấp, chống phong kiến, khuynh hướng phê bình xã hội học, phê bình hệ tư tưởng chi phối mạnh mẽ và chủ yếu tập trung

vào giá trị phục vụ tư tưởng của Truyện Kiều ( tiêu biểu như các bài phê bình

Truyện Kiều của Hoài Thanh, Minh Tranh, Trần Đức Thảo, Hoàng Xuân

Nhị) Trong giai đoạn này, nhất là sau năm 1954, việc nghiên cứu Truyện

Kiều gắn với hiện thực đời sống theo quan điểm macxit đã chi phối mạnh mẽ

các nhà nghiên cứu phê bình do đó không tránh khỏi khuynh hướng xã hội

học dung tục Năm 1955, tạp san Đại học Sư phạm đã dành riêng các số 3,4

để kỷ niệm Nguyễn Du, trong đó tập hợp khá nhiều bài phê bình tiêu biểu

như : Lịch sử vấn đề Truyện Kiều, Tính chất và mức độ chống phong kiến của

Truyện Kiều của Trương Tửu, Đặc sắc văn học cổ điển Việt Nam qua nội dung Truyện Kiều của Đặng Thai Mai, Căn bản của chủ nghĩa nhân đạo chống phong kiến trong Truyện Kiều của Hoàng Xuân Nhị…Bên cạnh đó,

Minh Tranh trên tạp san Văn Sử Địa cũng có bài Tìm hiểu Truyện Kiều và

Nguyễn Du, trong đó tác giả quy các nhân vật vào các tầng lớp cụ thể trong xã

hội, lí giải các xung đột truyện trên tinh thần mâu thuẫn, xung đột giai cấp, ông xếp Kiều vào tầng lớp phong kiến thất thế, Mã Giám Sinh, Tú Bà, Thúc Sinh là tầng lớp con buôn, Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến là đại phong kiến, Từ Hải

là nông dân nổi dậy… Tác giả cho rằng việc Thúy Kiều phải bán mình rồi rơi

Trang 16

vào tay Mã Giám Sinh, Tú Bà và cho đó là : “thật đúng là sự khuất phục đến sát đất của một giai cấp thất thế, suy tàn"[23, 52], dưới cái nhìn của Minh Tranh mọi xung đột trong tác phẩm đều trở thành xung đột giữa tầng lớp nhà buôn với tầng lớp phong kiến, giữ kinh tế thị dân với kinh tế phong kiến, giữa đạo đức thị dân với đạo đức phong kiến [52] Ông tiếp tục lí giải việc Kiều gặp Từ Hải và cho đó là “sự đồng tình giữa tầng lớp thuần phong kiến đang thất thế với phong trào nông dân thiếu cảnh giác” [24, 52] Tuy nhiên đó chính là dịp tốt để tầng lớp thuần phong kiến lợi dụng và phục vụ cho lợi ích của bản thân họ như việc dây cát nhờ bóng cây, Kiều còn lợi dụng để báo thù cho giai cấp của mình (báo ân, báo oán), sau đó Kiều khuyên Từ Hải ra hàng với những luận điệu che giấu tính chất của một giai cấp từ lâu đã thống trị nhân dân ta, giai cấp ấy đã trà trộn vào hàng ngũ Từ Hải để làm nội ứng cho

Hồ Tôn Hiến (đại phong kiến), lung lạc Từ Hải để củng cố lại địa vị của mình, chế độ phong kiến được lập lại, lợi dụng nông dân để nhảy lên thống trị, giai cấp thuần phong kiến trở lại cuộc đời :

- Nghìn năm dằng dặc quan giai lần lần

- Phong lưu phú quý ai bì Vườn xuân một cửa đề bia muôn đời

Theo quan điểm Minh Tranh, Kiều và Từ Hải là hai con người từ hai giai cấp đối lập nhau nên không thể cùng chung ý nghĩ được, tâm lý Kiều là

tâm lý chung của giai cấp địa chủ nước ta Như vậy xã hội Truyện Kiều chính

là xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX với những nét hiện thực đương thời đó là mâu thuẫn quyết liệt giữa nông dân với phong kiến, giữa phong kiến thuần túy với phong kiến kinh doanh, bản chất phong kiến xảo quyệt mưu mô, nông dân sơ hở, thiếu cảnh giác nên thất bại

Tiếp tục lối phê bình đó, năm 1956 trên tạp san Đại học sư phạm, Trần

Trang 17

Đức Thảo cho công bố bài Nội dung xã hội của Truyện Kiều, trong đó Trần

Đức Thảo tìm hiểu kĩ hơn về thành phần giai cấp của các nhân vật như gia đình Kiều thuộc tầng lớp trung gian trong xã hội phong kiến (tiểu phong kiến)

vì có khung cửi, gói may, đi bộ chứ không đi ngựa như bọn nhà giàu, Kim Trọng thuộc thành phần phong kiến thống trị vì có ngựa câu dòn, có kẻ hầu, quần áo sang trọng, có nhiều ruộng đất… Quá trình gia đình Kiều bị vu oan, Kiều phải bán mình nơi lầu xanh đánh dấu sự tan rã xã hội phong kiến, quá trình phân hóa giai cấp phong kiến Lí giải mâu thuẫn Tài- Mệnh trong truyện, Trần Đức Thảo cho xuất phát từ kinh nghiệm thực tế xã hội, họ có tài nhưng không được sử dụng và còn bị bọn quý tộc, quan liêu đàn áp có khi tài thành tai vạ là vậy [15, 41] Việc Kiều đến với Thúc Sinh được Trần Đức Thảo cho

đó là Kiều tìm lối thoát trong thành phần phú thương, tuy nhiên trong liên minh phú thương với đại phong kiến (Hoạn Thư), phú thương vẫn chịu lép vế nên Thúc Sinh không thể che chở cho Kiều, bởi Hoạn Thư luôn giữ thể diện

và lập lại trật tự phong kiến, ép Kiều thành con ở chứ không hẳn là ghen tuông kiểu đàn bà, trên thực tế Hoạn Thư coi thường, khinh bỉ Thúc Sinh :

- Ví bằng thú thật cùng ta

Cũng dong kẻ dưới mới là lượng trên

- Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi

- Hoa nô truyền dạy đổi tên Buồng the dậy ép vào phiên thị tỳ

Cũng theo cách phê bình xã hội học, Trần Đức Thảo cho rằng Kiều đến với Từ Hải có động cơ chính trị rất rõ rệt đó là việc Kiều tìm đường giải phóng trong phong trào nông dân, lợi dụng nông dân để củng cố địa vị của mình Tuy nhiên trên thực tế Từ Hải chưa thể đấu tranh vì nhân dân với nghĩa phục vụ nhân dân mà chỉ là kiểu anh hùng cá nhân, lãng mạn [35, 41]

Trang 18

- Giang hồ quen thói vẫy vùng

Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo

- Triều đình riêng một góc trời

- Nghênh ngang một cõi biên thùy

Trước âm mưu của Hồ Tôn Hiến, Kiều khuyên Từ Hải ra hàng đó là sự trở lại tham vọng của bọn tiểu phong kiến, nhằm củng cố lại địa vị của mình Nếu trước Cách mạng, Trương Tửu vận dụng phân tâm học vào phê bình

Truyện Kiều với rất nhiều nhận xét, đánh giá gây dư luận trái chiều đương

thời thì sau Cách mạng quan điểm macxit lại chi phối mạnh mẽ trong phê

bình Truyện Kiều của ông nhất là vấn đề chống phong kiến diễn ra sôi nổi giữa thập niên 50 Trên tạp san Đại học Sư phạm năm 1955, Trương Tửu công bố bài Tính chất và mức độ chống phong kiến của Truyện Kiều, trong đó

Trương Tửu có những trao đổi lại với Hoàng Xuân Nhị, Trần Đức Thảo về những khía cạnh chưa đồng tình, những nhận xét chưa bao quát đồng thời

nhấn mạnh tính chất chống phong kiến của Truyện Kiều chính là đề cao ý chí

đấu tranh mạnh bạo của con người, đó chính là sự tán thành của Nguyễn Du với tư tưởng chống lại lễ giáo, luân lí, pháp luật phong kiến như tự do yêu đương luyến ái, treo ấn từ quan vì tình và ông cũng cho rằng chỉ khi nào con người chống lại những yếu tố phong kiến thì mới có hạnh phúc Trương Tửu chỉ ra nhiều lần chiến thắng của những người chống phong kiến nhưng cũng chỉ ra nguyên nhân thất bại trong cuộc chiến này là do con người còn vướng vào ý thức hệ phong kiến, rõ nhất là sự thất bại của Từ Hải Vấn đề chống phong kiến trở thành vấn đề trung tâm được rất nhiều nhà phê bình quan tâm trong giai đoạn này Có thể nói các nhà phê bình Trương Tửu, Trần Đức

Thảo, Minh Tranh đã xem Truyện Kiều như cuốn sử về xã hội Việt Nam trong

một giai đoạn, các nhân vật được gắn với những giai cấp, tầng lớp nhất định

và gắn vào cuộc đấu tranh giai cấp, gắn tác phẩm quá khứ với những vấn đề

Trang 19

thực dụng của hiện tại, điều đó vô hình đã làm giảm giá trị phê bình Truyện

Kiều, cũng như giá trị tác phẩm Việc cố gắng đem “ánh sáng chủ nghĩa Mác

-Lênin” soi rọi Truyện Kiều trong thời gian này cho thấy vấn đề Truyện Kiều

không chỉ bàn ở phạm vi nghệ thuật mà trở thành phong trào thảo luận chính trị sôi nổi, rộng rãi gắn với đấu tranh chống phong kiến, giải phóng giai cấp Đến dịp kỷ niệm Nguyễn Du năm 1965, những vấn đề trên vẫn tiếp tục được nghiên cứu rộng rãi hơn với những bài phê bình của Hoàng Minh Giám, Nguyễn Đình Thi, Hà Huy Giáp, Xuân Diệu, Hoài Thanh, Trần Văn Giàu, Lưu Trọng Lư, Đặng Thanh Lê, Nguyễn Lộc Quan điểm macxit, phê bình

xã hội học lúc này giữ địa vị thống trị, những vấn đề về giai cấp, chống phong kiến, lập trường tư tưởng Nguyễn Du tiếp tục được đề cập hầu hết trong các bài phê bình và tập trung vào một số vấn đề sau :

1) Về tư tưởng Nguyễn Du, các nhà nghiên cứu cho rằng Nguyễn Du bị hạn chế trong ý thức giai cấp và thời đại nên không tìm được hướng giải quyết mâu thuẫn giai cấp nên đi tìm giải pháp trong triết học duy tâm thần bí như đề cập mệnh trời, tu tâm, coi đó là “thái độ tiêu cực thỏa hiệp trước trật tự phong kiến” [59, 21] Hoàng Minh Giám cũng chỉ ra điểm hạn chế trong tư tưởng Nguyễn Du là định mệnh, tài- mệnh ghét nhau, mặc dù có cảm tình với nông dân nhưng chưa tin nông dân, nhìn chung “Nguyễn Du lúng túng trong vòng vây ý thức hệ phong kiến, không tìm được hướng đi của đời mình và vì vậy đã rơi vào tư tưởng bi quan, tiêu cực”[59, 25] Hà Huy Giáp cũng cho rằng mặc dầu Nguyễn Du ca ngợi Từ Hải nhưng ông không tin ở khả năng và lực lượng nông dân, ông cũng nhấn mạnh cần biến ước mơ của Nguyễn Du thành hiện thực đó là giải phóng nhân dân khỏi áp bức Trần Văn Giàu thừa nhận sự gần gũi với tầng lớp dưới, sự quan tâm đến người phụ nữ, tố cáo một

số người của tầng lớp phong kiến nhưng “còn trật tự phong kiến, nguyên lý

xã hội phong kiến thì Nguyễn Du không hề đặt thành vấn đề ”[59, 271] Đồng

Trang 20

thời Trần Văn Giàu cũng chỉ ra Nguyễn Du chưa có kết luận nào cho cảnh đau lòng, nếu có thì mơ hồ, chưa tìm ra vấn đề cơ bản của thời đại và càng không phát hiện được cách giải quyết vấn đề cơ bản đó [59, 277], bên cạnh đó tác giả cũng khẳng định tư tưởng định mệnh cũng là nhược điểm cơ bản trong thế giới quan của Nguyễn Du, đó cũng là hạn chế chung của thời đại, điều đó làm nhụt tinh thần đấu tranh của con người để giải phóng mình, hơn nữa tư tưởng định mệnh còn bị bọn thống trị, bọn bồi bút lợi dụng nhằm đánh lạc hướng tinh thần đấu tranh của nhân dân[59] Tóm lại về mặt tư tưởng Nguyễn

Du “vừa có yếu tố phản phong vừa có yếu tố phong kiến” (Đặng Thanh Lê) hoặc là dừng lại nửa chừng trên đường phản phong [59]

2) Đề cao giá trị nhân đạo của Truyện Kiều, các nhà nghiên cứu phê

bình Hoài Thanh, Xuân Diệu, Cao Huy Đỉnh… đều nhấn mạnh giá trị nhân đạo là một thành tựu lớn của tác phẩm Đó là sự cảm thương của Nguyễn Du với con người nói chung, đặc biệt ông quan tâm đến người tầng lớp dưới, người phụ nữ, Trần Văn Giàu cho rằng Nguyễn Du rất gần gũi với nhân dân lao động và ông đã “nói chuyện thẳng với quả tim của con người” [59, 269]

Trong bài Nguyễn Du – một trái tim lớn, một nghệ sĩ lớn, Hoài Thanh nhấn mạnh Truyện Kiều chính là lời phát biểu của Nguyễn Du trước vấn đề của

thời đại, đó chính là một tiếng kêu thương não nùng, đau đớn luôn văng vẳng bên tai[59, 149] Hoài Thanh cũng cho rằng Nguyễn Du kịch liệt phê phán sức mạnh tác oai, tác quái của đồng tiền với một thái độ hằn học, khinh bỉ

trước cả một xã hội chạy theo tiền Xuân Diệu cho rằng cách kết thúc Truyện

Kiều với màn tái hợp Kim – Kiều là bản cáo trạng cuối cùng của tác phẩm,

bởi tái hợp nhưng không có quan hệ vợ chồng, sau bao ê chề nhục nhã Kiều

thấy mình không còn xứng đáng với chàng Kim nên Yêu nhau thì lại bằng

mười phụ nhau Cao Huy Đỉnh đi từ những triết lý Phật giáo trong Truyện Kiều như mệnh, nghiệp để chỉ ra tiếng nói bi quan, yếm thế của Nguyễn Du,

Trang 21

mặc dù vậy Cao Huy Đỉnh vẫn thừa nhận : “ông viết Truyện Kiều theo tiếng

gọi của tình cảm, theo luân lí của hiện thực trước khi theo giáo lí nhà Phật”[59, 289], đồng thời Nguyễn Du “cũng tự phủ nhận những quan điểm tôn giáo của chính mình và khẳng định một cách chân thành chủ nghĩa nhân đạo tích cực của nhân dân”[59, 295] Nhìn chung các tham luận khi đề cập giá

trị nhân đạo của Truyện Kiều đều nhấn mạnh lòng căm ghét của Nguyễn Du

đối với xã hội phong kiến và nhấn mạnh sự cần thiết phải học tập lòng căm ghét đó trong cuộc đấu tranh giải phóng ở miền Nam để chống lại bọn Mỹ Ngụy, để giương cao hơn nữa ngọn cờ đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân kiểu mới từ đó thêm yêu quý gắn bó với chế độ tốt đẹp của ta (ở miền Bắc) và

Truyện Kiều [59]

3) Đánh giá về nghệ thuật Truyện Kiều, nhìn chung trong kỷ yếu kỷ

niệm Nguyễn Du dịp 1965 cũng đã có nhiều bài đề cập đến đặc sắc về nghệ

thuật của Truyện Kiều, Nguyễn Đình Thi khẳng định thành công trong sử

dụng ngôn ngữ tiếng Việt, sức sáng tạo mạnh mẽ của tác giả như miêu tả nhân vật, vận mệnh con người trong khung cảnh xã hội, thời đại và cho rằng : “Có

thể nói trong Truyện Kiều đã có đủ những nhân tố, những phương pháp của

tiểu thuyết hiện đại” [59, 65] Hoài Thanh đặc biệt nhấn mạnh thành công trong sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du đó là thứ ngôn ngữ chính xác, tinh

vi, trong trẻo truyền đúng được cái thần của sự việc đồng thời ông cũng thừa nhận “Nguyễn Du đã tái tạo lại cuộc sống đương thời và sáng tạo ra một thế giới có thật”[59, 157] Tuy nhiên cả Hoài Thanh và Nguyễn Đình Thi mới chỉ nêu vấn đề mang tính khái quát, gợi mở chứ chưa thực sự đi sâu phân tích làm sáng tỏ Dưới góc nhìn của nhà ngôn ngữ học, Đào Thản đã dành cả bài viết

của mình để nói đến những đặc điểm của ngôn ngữ Truyện Kiều như vốn từ

phong phú, đa dạng, sử dụng nhiều kiểu câu phức hợp của ngôn ngữ hiện đại

và sự thể hiện tính nhân dân trong ngôn ngữ của Nguyễn Du khi vận dụng tài tình thành ngữ, tục ngữ, ca dao Nguyễn Lộc quan tâm đến ngôn ngữ nhân vật

Trang 22

trong Truyện Kiều như ngôn ngữ còn mang tính ước lệ qua việc sử dụng

nhiều điển cố, ẩn dụ, hoán dụ của nhân vật chính diện và ngôn ngữ có tính chất hiện thực chủ nghĩa trong ngôn ngữ nhân vật phản diện từ đó Nguyễn Lộc đi đến mối quan hệ của ngôn ngữ nhân vật trong việc thể hiện tính cách nhân vật Bên cạnh đó nhiều tác giả khẳng định thành công miêu tả tâm lí

nhân vật, thể thơ lục bát nhuần nhuyễn của Truyện Kiều như một biểu hiện rõ

nhất của tính dân tộc Nhìn chung những đánh giá về nghệ thuật trong các bài nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở thể thơ, ngôn ngữ mà chưa đi vào thế giới nghệ thuật của văn bản như tự sự học, thi pháp học, chưa có phân tích tâm lý theo phân tâm học, lại càng chưa thể có phê bình văn hóa học vì lập trường đấu tranh giai cấp, đấu tranh tư tưởng còn chi phối mạnh mẽ

Nói chung đây là giai đoạn nghiên cứu lấy văn học phục vụ chính trị,

lấy xưa phục vụ nay, lấy bình luận Truyện Kiều để lên án chế độ Mĩ- Ngụy,

chế độ phong kiến, các nhà thơ Chế Lan Viên, Tố Hữuđã gắn Truyện Kiều với cuộc đấu tranh chống chế độ Mĩ - Ngụy lúc bấy giờ :

Câu thơ Nguyễn cũng góp phần đánh Mỹ Gửi Kiều cho em năm đánh Mỹ- Chế Lan Viên

Ngẫm xem qua kiếp phong trần Đời vui nay đã nửa phần vui đây Song còn bao nỗi chua cay Gớm quân Ưng Khuyển, ghê bầy Sở Khanh Cũng loài hổ báo ruồi xanh

Cũng phường gian ác hôi tanh hại người

Kính gửi cụ Nguyễn Du- Tố Hữu

Năm 1970, Lê Đình Kỵ cho ra mắt cuốn Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện

thực của Nguyễn Du, tác giả đưa ra những tìm tòi, phát hiện mới mẻ về nhân

Trang 23

vật trên cơ sở thi pháp của chủ nghĩa hiện thực, về lý tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Du, tuy nhiên việc gắn Nguyễn Du với phương pháp sáng tác chủ nghĩa hiện thực dường như còn khiên cưỡng mặc dù vậy công trình cũng đánh

dấu một bước tiến quan trọng trên hành trình nghiên cứu, phê bình Truyện

Kiều Cuối những năm 70 quan điểm xã hội học trong nghiên cứu, phê bình Truyện Kiều đã phần nào được khắc phục với những công trình nghiên cứu Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm của Đặng Thanh Lê, các chương viết về Truyện Kiều Nguyễn Lộc trong giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam cuối thế

kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX, những vấn đề về nội dung tác phẩm với hiện thực

xã hội, những cách hiểu máy móc đã phần nào được khắc phục, các nhà phê

bình đã quan tâm nhiều hơn đến tư tưởng nghệ thuật, triết lí xã hội của Truyện

Kiều, tuy nhiên họ vẫn bị chi phối nhiều bởi những phương pháp phê bình

macxit, phê bình xã hội học đang chi phối mạnh mẽ ở miền Bắc thời bấy giờ

Ỏ miền Nam, giai đoạn này các lý thuyết phê bình văn học phương Tây được phổ biến rộng rãi hơn và đã có sự ảnh hưởng trong nghiên cứu phê bình

Truyện Kiều như khuynh hướng phê bình hiện sinh, khuynh hướng phê bình

cấu trúc luận, khuynh hướng phân tâm học trong các bài viết của Nguyễn Văn Trung, Trần Bích Lan, Vũ Hạnh… Tuy nhiên các tìm tòi còn lẻ tẻ, chưa thành một hệ thống và kết quả mới ở mức độ nhất định

1.2 Bối cảnh đổi mới lý luận phê bình văn học trong dịp kỷ niệm 250

năm năm sinh Nguyễn Du (2015)

1.2.1 Bối cảnh xã hội- văn hóa

Sau gần 30 năm đổi mới, đất nước đã từng bước vượt qua những khó khăn để phát triển và đạt được những thành tựu nhất định về kịnh tế, xã hội, văn hóa Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được khẳng định, phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế được tiếp tục đẩy mạnh

Trang 24

Việc hội nhập quốc tế diễn ra ngày một sâu rộng trên mọi lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hóa… nhờ đó chúng ta từng bước thoát khỏi tình trạng trì trệ, lạc hậu Đặc biệt trong khoảng hai mươi năm trở lại đây, việc dịch thuật lý luận phương Tây ở Việt Nam được đẩy mạnh điều đó làm tăng cường việc vận dụng lý luận vào nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam Việc

nghiên cứu, phê bình Nguyễn Du và Truyện Kiều cũng không nằm ngoài xu

thế đó Nhờ có hội nhập nên việc tiếp nhận lý luận văn học và phương pháp nghiên cứu phê bình của phương Tây trở nên thuận lợi hơn, các lý thuyết mới được phổ biến và ứng dụng rộng rãi khiến không khí nghiên cứu phê bình phong phú, sôi động, điều này do nhiều nguyên nhân mà trước năm 1986 ở miền Bắc chưa thể có được

Văn hóa, khoa học giáo dục được quan tâm đầu tư, hệ thống các trường đại học, các viện nghiên cứu ngày một ổn định và phát triển Các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng phong phú, đa dạng, sự phổ biến của mạng Intenet tạo nhiều điều kiện thuận lợi trong học tập và nghiên cứu khoa học Việc in ấn, báo chí, xuất bản phát triển cũng tạo điều kiện thuận lợi trong học tập, nghiên cứu, giúp mọi người tiếp thu các tiến bộ khoa học, các thành tựu văn hóa, văn học lớn trên thế giới cũng như trong nước

Năm 2015, Đảng và nhà nước tổ chức kỷ niệm 250 năm năm sinh Nguyễn Du, đây là dịp để tôn vinh thiên tài Nguyễn Du cũng như những giá

trị phong phú nhiều mặt của Truyện Kiều – tập đại thành của văn học dân tộc

Sự kiện đó không chỉ thể hiện niềm tự hào dân tộc mà còn thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các học giả trong nước và quốc tế

1.2.2 Vài nét về cuốn sách “Di sản văn chương Đại thi hào Nguyễn Du-

250 năm nhìn lại”

Năm 2015 nhân kỷ niệm 250 năm năm sinh đại thi hào dân tộc Nguyễn

Du, Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam và Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh

Trang 25

phối hợp tổ chức Hội thảo quốc tế: “Đại thi hào Nguyễn Du, Danh nhân văn hóa Nguyễn Du: Di sản và các giá trị xuyên thời đại” Hội thảo đã thu hút

được sự quan tâm của nhiều học giả, các nhà văn hóa, nhà nghiên cứu uy tín trong và ngoài nước với 127 tham luận về cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Du

và Truyện Kiều, với những cách tiếp cận mới mẻ của nghiên cứu văn bản học

hiện đại, tiếp cận chuyên ngành, liên ngành (văn hóa học, liên văn bản, tiếp nhận và diễn giải văn bản) Cuốn sách này chính là kết quả của hội thảo đó, tuy nhiên do khuôn khổ cuốn sách nên ngoài những bài phát biểu của các nhà lãnh đạo các cơ quan hữu quan, cuốn sách chỉ tập hợp được 53 bài viết của 55 tác giả trong và ngoài nước, cuốn sách được chia thành hai phần:

Phần I: Cuộc đời, di sản của Nguyễn Du nhìn từ trong và ngoài quốc

gia (với 17 bài viết của 17 tác giả) Trong phần này các học giả làm sáng tỏ

nhiều nét về cuộc đời, sự nghiệp, giá trị thơ ca chữ Hán, những yếu tố chi phối cuộc đời và sáng tác cũng như khẳng định vị trí của Nguyễn Du trong đời sống văn học dân tộc Các nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, Trần Ngọc Vương, Đỗ Lai Thúy… còn gợi mở nhiều vấn đề để giới nghiên cứu tiếp tục thảo luận cũng như những hệ vấn đề cần điều chỉnh thêm cho phù hợp với yêu cầu nghiên cứu phê bình

Phần II: Truyện Kiều: Những phương thức diễn dịch, chuyển hóa (với

36 bài viết của 38 tác giả) Trong phần này các nhà nghiên cứu tập trung vào

những giá trị nhiều mặt của Truyện Kiều khi được soi rọi dưới hệ thống lý

luận văn học phương Tây với nhiều cách diễn dịch, chuyển hóa khác nhau Các nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Nam, Vũ Thanh… đã đúc kết nhiều vấn đề mang tính lý luận trong lịch sử tiếp nhận

Truyện Kiều đồng thời cũng gợi mở nhiều vấn đề cần quan tâm trong phê

bình Truyện Kiều thời gian tới để phù hợp với bối cảnh văn hóa, văn học

phương Đông, cần hiểu thực tế đời sống văn học này trước khi áp dụng những

Trang 26

lý thuyết văn học từ phương Tây Sách gồm 816 trang do Viện văn học - Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam biên soạn, Nhà xuất bản Khoa học

xã hội xuất bản năm 2015

Có thể nói cuốn sách là một bước tổng hợp thành tựu vận dụng lý

thuyết văn học phương Tây vào nghiên cứu phê bình Nguyễn Du và Truyện

Kiều Mặc dù chưa phải là bước nhảy vọt nào hết nhưng cuốn sách đã phản

ánh, tổng hợp định hướng lý thuyết nghiên cứu mới, đánh dấu mốc quan trọng

trong lịch sử nghiên cứu Truyện Kiều, điều đó cũng chứng tỏ những thành tựu trong nghiên cứu phê bình văn học sau gần 30 năm đổi mới Nếu so với một

số bài viết trên tạp san Văn sử địa, Đại học sư phạm và kỷ yếu Kỷ niệm 200

năm năm sinh Nguyễn Du những năm 50, 60 của thế kỷ XX như Căn bản của chủ nghĩa nhân đạo chống phong kiến trong Truyện Kiều của Hoàng Xuân

Nhị, Nội dung xã hội của Truyện Kiều của Trần Đức Thảo, Bản cáo trạng

cuối cùng trong Truyện Kiều của Xuân Diệu, chỉ cần nhìn vào tên bài viết

chúng ta đã thấy khuynh hướng phê bình xã hội học chi phối mạnh mẽ tới

việc nghiên cứu Nguyễn Du và Truyện Kiều thời bấy giờ Do phạm vi nghiên

cứu và khả năng của bản thân, chúng tôi tập trung nhiều hơn vào Phần II của

cuốn sách: Truyện Kiều: Những phương thức diễn dịch, chuyển hóa để thấy

được những lý thuyết mới tiếp nhận từ phương Tây như tiếp nhận văn học, phân tâm học, tự sự học, thi pháp học, văn hóa học được vận dụng trong

nghiên cứu phê bình Truyện Kiều dịp này

1.2.3 Đổi mới lý luận phê bình Truyện Kiều dịp kỷ niệm 250 năm năm

sinh Nguyễn Du (2015)

Sau 1975 đặc biệt từ năm 1986 trở lại đây chúng ta đã có một đội ngũ đông đảo các nhà nghiên cứu phê bình chuyên nghiệp với những cách tiếp cận ngày một khoa học mới mẻ Các lý thuyết nghiên cứu tiếp nhận phê bình văn

học phương Tây được giới thiệu rộng rãi ở Việt Nam như Những vấn đề về thi

Trang 27

pháp tiểu thuyết Đôtxtôiepxki do Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch, Dẫn luận Thi pháp học của Trần Đình Sử, Tác phẩm văn học như một quá trình

của Trương Đăng Dung, những dịch thuật và nghiên cứu về Kí hiệu học của

La Khắc Hòa… Nhiều nhà nghiên cứu phê bình đã vận dụng những lý thuyết

mới của nước ngoài vào nghiên cứu phê bình văn học, đặc biệt là Truyện Kiều tiêu biểu như: Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều của Phan Ngọc, Thi pháp truyện Kiều của Trần Đình Sử, Văn học trung đại Việt Nam

dưới góc nhìn văn hóa của Trần Nho Thìn, Tiếp nhận truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa của Lê Nguyên Cẩn… Bên cạnh đó còn nhiều bài nghiên cứu trên

các sách báo tạp chí các công trình khoa học khác

Từ năm 1986 trở lại đây chúng ta tiến hành quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên mọi lĩnh vực trong đó có văn học, các lý thuyết lí luận, nghiên cứu phê bình văn học như cấu trúc học, thi pháp học, văn hóa học, tiếp nhận văn học, tự sự học, kí hiệu học…ngày một phổ biến ở nước ta

để lấp đầy khoảng trống trước năm 1975 Nghiên cứu, phê bình văn học có nhiều khởi sắc, các nhà nghiên cứu quan tâm rất nhiều đến những lý thuyết hiện đại mới mẻ: cấu trúc học, thi pháp học, tự sự học, văn hóa học, tiếp nhận văn học Những vấn đề đấu tranh giải phóng giai cấp, chống phong kiến của

Truyện Kiều tự nhiên cũng lùi vào quá khứ hoặc được nhắc lại trên tinh thần

trao đổi khoa học như Trần Nho Thìn đề cập: “Nguyễn Du cũng có quan niệm

về xã hội Nhưng cách phân tích xã hội của ông chưa thể coi là phân tích giai cấp Theo quan điểm truyền thống, Nguyễn Du vẫn nhìn xã hội thành hai loại người là người tốt, người xấu”[46, 46]

Trang 28

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Có thể nói so với công trình kỷ yếu Kỷ niệm 200 năm năm sinh

Nguyễn Du nhân kỷ niệm Đại thi hào Nguyễn Du (năm 1965), công trình

nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều 50 năm sau đã đạt những thành tựu

to lớn nhờ vận dụng những lý thuyết lí luận, nghiên cứu phê bình văn học mới, khắc phục những hạn chế của phê bình xã hội học trước đây Sự xuất

hiện các công trình nghiên cứu Truyện Kiều của Phan Ngọc, Trần Đình Sử,

Trần Nho Thìn…báo hiệu những đổi mới cơ bản về lí luận và phương pháp

nói chung, Truyện Kiều nói riêng Những thành tựu về nghiên cứu Nguyễn Du

và Truyện Kiều trong dịp kỉ niệm 250 năm năm sinh Nguyễn Du chính là

thành tựu của ba mươi năm đổi mới trong lí luận và nghiên cứu phê bình văn

học Từ đây chúng ta thấy Truyện Kiều - Tập đại thành của văn học dân tộc,

với giá trị nhiều mặt, dường như mỗi người đọc, mỗi phương pháp đọc lại cho những kết quả khác nhau (mã nghĩa khác nhau), điều đó chứng tỏ sự phong

phú của Truyện Kiều và tài năng nghệ thuật Nguyễn Du Nói chung có nhiều

lý thuyết mới được vận dụng nhưng trong khuôn khổ luận văn của mình chúng tôi mới chỉ tập trung vào một số vấn đề cơ bản như lý thuyết tiếp nhận, phân tâm học, tự sự học Dưới đây chúng tôi sẽ tiếp tục tìm hiểu những đổi

mới trong nghiên cứu nội dung và nghệ thuật Truyện Kiều

Trang 29

CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN TRONG NGHIÊN CỨU, PHÊ

Phan Khôi và những cuộc tranh luận về Truyện Kiều những năm

1920-1930 - Lại Nguyên Ân

Giải mã cách đọc Kiều của Tản Đà (Qua văn Hoa tiên và văn Kiều) -

Lê Thị Thanh Tâm, Nguyễn Đức Mậu

Những thẩm định mới về Kim Vân Kiều truyện- Nguyễn Nam

2.1 Khái quát về lý thuyết tiếp nhận

2.1.1 Vài nét về sự ra đời của lý thuyết tiếp nhận

Trong các vấn đề về lí luận văn học có lẽ tiếp nhận văn học là một vấn

đề mới được đặt ra một cách hệ thống ở nửa sau thế kỉ XX với đóng góp của hai nhà nghiên cứu người Đức Wolfgang Iser và Hans Robert Jauss Tiếp tục hướng nghiên cứu của hai ông, các nhà lí luận sau đó đã có những phát triển

và hoàn thiện về lí thuyết để hình thành nên trường phái Konstanz (Đức) có ảnh hưởng rộng rãi trên toàn thế giới Sự hình thành và phát triển của lý

thuyết tiếp nhận nhằm khẳng định hoạt động văn học với các khâu Nhà văn-

Trang 30

Tác phẩm- Bạn đọc ngày càng được chú ý đúng mức Lí luận văn học trước

đó thường chú ý tới quá trình sáng tạo của nhà văn, Phê bình mới, chủ nghĩa cấu trúc và chủ nghĩa hình thức Nga coi “tác phẩm là một hệ thống khép kín”, chỉ quan tâm những mối quan hệ bên trong tác phẩm “Độc tôn văn bản tác phẩm, Phê bình mới còn phủ nhận luôn sự tiếp nhận của người đọc, cho đó đều là những cảm thụ ngộ nhận”[29, 327]

Lí luận tiếp nhận không chỉ chú ý đến yếu tố chủ quan, cá nhân của nhà nghiên cứu phê bình mà còn quan tâm các nhân tố thời đại với các điều kiện chính trị, tư tưởng cụ thể Sự ra đời của lý thuyết tiếp nhận cho thấy sự dịch chuyển vị trí trung tâm từ tác phẩm sang người đọc, từ đó có thể nhận thấy lịch sử văn học không chỉ đơn thuần là các tác giả, tác phẩm mà cả lịch sử tiếp nhận của người đọc cũng phải được quan tâm đúng mức, nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn cho rằng: “Nói đến việc tạo nghĩa một tác phẩm văn học, nếu chỉ nói đến tư tưởng, ý đồ sáng tạo, chủ đích của tác giả vẫn chưa đủ Nếu không có người đọc với toàn bộ kiến thức, sự lịch lãm, với quan điểm đạo đức, thẩm mỹ riêng tiếp nhận văn bản tác phẩm thì văn bản đó vẫn không có hiệu lực của văn bản nghệ thuật: lý thuyết tiếp nhận xuất hiện Với lý thuyết tiếp nhận, người đọc được đặt đúng địa vị của mình; hành động đọc là hành động tạo nghĩa cho văn bản”[62, 12] Nhà văn sáng tạo ra tác phẩm mới chỉ là

hệ thống kí hiệu trên giấy chỉ khi nào có sự tiếp nhận tác phẩm mới có đời sống thực sự của nó, Giôn Điuây phân biệt sản phẩm nghệ thuật và tác phẩm nghệ thuật, tương ứng với sáng tác của nhà văn và tiếp nhận của người đọc,

“chỉ khi nào được công chúng thưởng thức, tiếp nhận thì mới trở thành tác phẩm nghệ thuật”[29, 327] Bên cạnh đó nhiều nhà lí luận rất đề cao vai trò của bạn đọc, họ coi đó là quá trình đồng sáng tạo, một số nhà văn còn để ngỏ kết thúc của tác phẩm hoặc đưa ra các phương án kết thúc để người đọc lựa chọn, Rooman Igacđên cho rằng “tác phẩm văn học vốn hàm chứa điểm chưa

Trang 31

xác định, chờ đợi người đọc đến bổ sung theo ý của mình”[29, 327] Từ những tiền đề trên, lý thuyết tiếp nhận ra đời nhằm khẳng định vai trò quan trọng của người đọc trong cả quá trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn tuy nhiên lý thuyết tiếp nhận cũng lưu ý không cường điệu hóa “vai trò người đọc lên địa vị trung tâm của hoạt động văn học, bởi vì một lẽ đơn giản nếu chưa có sáng tác thì dứt khoát không thể có tiếp nhận, còn nếu không hoặc chưa có tiếp nhận vẫn có thể có sáng tác cho dù chưa phát huy được tác dụng”[29, 328]

2.1.2 Lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam

Từ thời trung đại Văn học Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của những lý luận cổ đại Trung Quốc như cách đọc “tri âm” và “kí thác”, chẳng hạn trong

cuốn Văn tâm điêu long Lưu Hiệp cho rằng: “Tri âm khó vậy thay Cái âm

thực khó biết, người biết thực khó gặp Gặp được người tri âm nghìn năm mới

có một lần” Đại thi hào Nguyễn Du cũng từng băn khoăn, thắc thỏm về những người đọc trong mai hậu với câu thơ đầy ưu tư: “”,

“Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”

Ở Việt Nam các khái niệm về lý thuyết tiếp nhận, tiếp nhận văn học,

mỹ học tiếp nhận có nội hàm gần giống nhau, bản thân khái niệm tiếp nhận văn học cũng ngày càng được mở rộng biên độ và được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Từ năm 1978, Huỳnh Vân dịch và đăng trên tạp chí văn học bài

Song đề của “Mỹ học tiếp nhận” của Man-phơ ret Nao-man, nhà xuất bản

Tác phẩm mới dịch và xuất bản cuốn Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát

triển của Văn học của M.B Khrachenco, trong đó có những phần bàn đến tiếp

nhận văn học (chương 5 : Thời gian và cuộc sống của tác phẩm văn học)

Năm 1980, Hoàng Trinh có bài viết Văn học so sánh và vấn đề tiếp nhận văn

học, trên cơ sở văn học so sánh để nhìn tiếp nhận văn học, sau đó vấn đề tiếp

Trang 32

nhận như mỹ học tiếp nhận của trường phái Konstanz tiếp tục được Nguyễn

Văn Dân giới thiệu trên các tạp chí và công trình nghiên cứu của mình (Văn

học nghệ thuật và sự tiếp nhận, Nghiên cứu văn học lý luận và ứng dụng, phương pháp luận nghiên cứu văn học…) Đặc biệt trong bộ sách giáo trình

Lý luận văn học của nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội các nhà nghiên

cứu Phương Lựu, Trần Đình Sử, Phan Huy Dũng… đã có nhiều đóng góp trong giới thiệu, phổ biến lý thuyết tiếp nhận văn học Các nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương, Trương Đăng Dung cũng dành rất nhiều tâm huyết của

mình cho tiếp nhận văn học (Lý luận văn học nhập môn, Từ văn bản đến tác

phẩm văn học, Tác phẩm văn học như là quá trình…) trong đó Trương Đăng

Dung tập trung quan tâm những vấn đề còn để ngỏ như văn bản văn học, quá trình cắt nghĩa văn bản, ngôn ngữ và sự bất ổn của nghĩa … tác giả đã có đóng góp rất lớn trong việc hoàn thiện hệ thống lý luận tiếp nhận văn học ở nước ta

Tiếp nhận văn học đã được đưa vào giảng dạy ở bậc Đại học và phổ thông, vấn đề tiếp nhận văn học được ngày càng được quan tâm cho thấy quá trình văn học (nhà văn – tác phẩm – người đọc) được chú ý, vấn đề người đọc được nhìn nhận đúng mức hơn, nhiều tác phẩm văn học được lan tỏa rộng đến phạm vi thưởng thức Vận dụng lý thuyết tiếp nhận văn học trong nghiên cứu

và giảng dạy không chỉ khẳng định vị trí của tiếp nhận văn học mà còn thu được nhiều kết quả to lớn trong nghiên cứu phê bình văn học với các tác giả,

tác phẩm, trào lưu như Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương, phong trào thơ

Mới… điều đó cũng khẳng định một phương diện mới được bổ sung vào lịch

sử văn học Việt Nam chính là lịch sử tiếp nhận, lịch sử của người đọc Vận

dụng lý thuyết tiếp nhận văn học trong nghiên cứu, phê bình Truyện Kiều, các

nhà nghiên cứu ngày càng làm sáng tỏ những vấn đề còn để ngỏ hoặc nhìn nhận chủ quan, phiến diện trước đây

Trang 33

2.2 Các công trình vận dụng lý thuyết tiếp nhận

Trong lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều qua hai thế kỉ với các kiểu người

đọc khác nhau, dường như mỗi cách đọc lại đem lại một mã nghĩa, với những quan điểm khác nhau dẫn tới đánh giá khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau, nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn cho rằng “cần đúc kết những bài học hữu ích cho Kiều học từ lịch sử tiếp nhận phong phú, đa dạng đó”[72] Nếu so với

giai đoạn 1945-1975, nghiên cứu, phê bình Truyện Kiều ảnh hưởng rất lớn

của phê bình xã hội học với những vấn đề về đấu tranh giai cấp, chống phong kiến thì trong đợt kỷ niệm Nguyễn Du lần này lý thuyết tiếp nhận được vận dụng qua nhiều bài viết, trong đó chúng tôi tập trung khảo sát qua các bài viết của Trần Nho Thìn, Lại Nguyên Ân, Phùng Ngọc Kiên, Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Nam, Lê Thị Thanh Tâm và Nguyễn Đức Mậu qua một số phương diện sau

2.2.1 Người đọc- với việc tiếp nhận Truyện Kiều trong các giai đoạn

Trang 34

Trong công trình Những vấn đề của Truyện Kiều qua lịch sử tiếp nhận

hai thế kỉ, nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn chia lịch sử tiếp nhận qua 4 giai

4) giai đoạn đọc Truyện Kiều từ sau 1975

Mỗi kiểu người đọc trong từng giai đoạn đều có sự chi phối riêng của thể chế chính trị, đặc điểm lịch sử, văn hóa xã hội khác nhau, điều đó đem lại

những cách đọc khác nhau về Truyện Kiều Trong suốt thể kỉ XIX và sang

đầu thế kỉ XX, kiểu độc giả nhà Nho chính là lớp người đọc sớm nhất, việc đọc một tác phẩm văn học với họ cũng là dịp sáng tác theo phương pháp “xúc

cảnh sinh tình”, họ coi Truyện Kiều, các nhân vật chính là cảnh và “đều có thể

gợi cảm hứng cho nhà nho- người đọc suy tư về con người, về xã hội, về nhân tình thế thái” hoặc “nếu không gài được một ý tứ, một tình ý vào một hành động, một sự kiện của nhân vật và tác phẩm thì việc đọc sẽ nhàm chán, vô nghĩa” [72, 296] Minh Mạng ca ngợi Kiều đủ trung trinh hiếu nghĩa, như một tấm gương đạo đức phong kiến cần phổ biến để thiên hạ soi vào Ngược lại,

Nguyễn Khuyến trong bài vịnh Kiều bán mình ngoài việc hàm ý phê phán

động cơ của Lê Hoan trong cuộc thi vịnh Kiều còn bày tỏ thái độ với xã hội đương thời khi đồng tiền “cơ hồ trở thành thế lực vạn năng”, từ chuyện văn sang chuyện đời:

“Có tiền việc ấy mà xong nhỉ,

Đời trước làm quan cũng thế a?”

Trang 35

Nguyễn Công Trứ từ lập trường Nho giáo kịch liệt lên án, phê phán Kiều, coi những đau khổ của Kiều rất xứng đáng với thói tà dâm, mặc dù Nguyễn Công Trứ có hàng chục thê thiếp:

“Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa,

Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm” (Vịnh Thúy Kiều)

từ đó nhà thơ cũng bày tỏ hàm ý nào đó qua câu kết: “Nghĩ đời mà ngán cho

đời” Nhìn chung các nhà Nho tìm đến Truyện Kiều để bình luận chính trị,

đạo đức, thể hiện con người chính trị đạo đức của mình, họ không quan tâm nhiều đến thành công nghệ thuật, sức hấp dẫn của tác phẩm, cách thức tổ chức, xây dựng nhân vật… Điều này cũng được thể hiện rất rõ qua cách đọc Kiều của Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, họ lên án gay gắt Kiều là dâm, đĩ,

“cái giống độc con đĩ Kiều”, dưới con mắt của họ Truyện Kiều chỉ là cuốn

“dâm thư” làm băng hoại các giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục, việc làm của hai nhà nho chí sĩ trên được ví như công cuộc “vệ đạo” của Hàn Dũ đời

Đường Trong những tranh luận về Truyện Kiều, Ngô Đức Kế có hẳn một bài

Luận về chính học cùng tà thuyết, mặc dù có công nhận đó là áng văn chương

quốc âm “hay thật” nhưng không quên nhắc nhở đó là văn chương ngâm vịnh, mua vui chứ không phải văn chương chính học để dạy đời, đó là truyện phong tình không tránh khỏi “ cái vẻ ai, dâm, sầu, oán, đạo, dục, tăng, bi” Theo nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, phương pháp luận của Ngô Đức Kế là “đem nhuộm màu chính/ tà cho hoạt động học thuật”, việc làm ấy xuất phát từ quan niệm nhà Nho, đề cao văn chương đạo lí, hạ thấp văn chương chơi bời, bên

cạnh đó mấu chốt của vấn đề chính là nhằm vào phong trào sùng bái Truyện

Kiều, của nhóm hợp tác với thực dân Pháp (do Phạm Quỳnh chủ trương), tức

là công kích tất cả những ai hợp tác với thực dân Pháp cũng như những hoạt động văn hóa mà thực dân Pháp bảo trợ Việc làm của Ngô Đức Kế tiếp tục được Huỳnh Thúc Kháng dùng quan niệm đạo đức Nho giáo công kích

Trang 36

Truyện Kiều, “Truyện Kiều chẳng qua là lối văn chương mua vui mà thôi, chớ

không phải thứ sách học; mà nói cho đúng Truyện Kiều là một thứ dâm thư,

rõ không có ích mà có hại” [72, 359] Theo Phạm Quỳnh các nhà nho trên đã không đứng về phương diện văn chương để xét mà lại đứng về phương diện đạo đức, mà lại là “đạo đức hẹp hòi” thì “không còn là vấn đề văn chương học thuật nữa” [72]

Tuy nhiên, còn một bộ phận nhà Nho tìm thấy ở thân phận Kiều những nét tương đồng thân phận của những người nghệ sĩ, họ coi đó làngười “cùng hội cùng thuyền” tiêu biểu là Mộng Liên Đường chủ nhân với “hai chữ tài tình thật là một cái thông lụy của bọn tài tử khắp trong gầm trời va suốt cả xưa nay vậy”, Chu Mạnh Trinh “Ta cũng nòi tình/ thương người đồng điệu”

Các nhà nho này thấy cảm hứng của Nguyễn Du trong Truyện Kiều cũng như

nhiều bài thơ chữ Hán khác đó là cảm hứng về khách hồng nhan, người tài tử, thân phận những văn nghệ sĩ có số phận bất hạnh Theo nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn: “họ đã giúp chúng ta giải đáp được những ý tứ ẩn kín bên dưới những ngôn từ như tài mệnh ghét nhau, bỉ sắc tư phong, trời đánh ghen khách

má hồng, những ngôn từ mà nếu chỉ nhìn từ góc độ người hiện đại, dễ có cảm giác là duy tâm, siêu hình, thần bí” [72, 297] Từ kiểu người đọc nhà nho, nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn cũng đề nghị “những nhà phê bình hiện đại cần xem lại cách nghĩ của mình khi áp đặt nhận định về thứ văn chương bình điểm cho nhiều áng văn bình Kiều, vịnh Kiều” và lưu ý “hãy chú ý đã tồn tại

cách đọc Truyện Kiều của những thi nhân, với họ, đọc Kiều cũng là sáng tác,

là thể hiện con người bản thân” [72, 297]

Cũng tiếp nhận Truyện Kiều nhưng với Tản Đà, Phan Khôi đã có thái

độ và quan niệm học thuật vượt hơn rất nhiều so với các nhà Nho cùng thời

tiến gần tới phê bình hiện đại Trong bài viết Phan Khôi và những cuộc tranh

luận về Truyện Kiều những năm 1920-1930 , nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân

Trang 37

đã đánh giá xác đáng vai trò của Phan Khôi trong các cuộc tranh luận ấy, mặc

dù Phan Khôi thừa nhận ý kiến của Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng coi vấn đề “chính học - tà thuyết” là vấn đề lớn của đời sống song ông không

đồng tình với việc hai nhà nho nói trên mạt sát Truyện Kiều, cũng như những

ai tán dương kiệt tác này, Phan Khôi đã nêu một vấn đề lí luận có tính chất mới mẻ của thế giới để nhìn nhận, đánh giá về một tác phẩm văn học “trước hết phải hiểu trong cõi văn học thế giới ngày nay có hai khuynh hướng trái nhau mà cũng có thế lực ngang nhau Ấy là một phái chuyên trọng về nhân sanh; một phái chuyên trọng về nghệ thuật ”[72, 360] Phan Khôi chỉ ra tôn chỉ của nhóm nghệ thuật vì nhân sinh là có lợi ích với đạo đức, xã hội nên tác phẩm nào trái với mục đích ấy đều không có giá trị, như vậy cũng có nghĩa là

cách phê bình Truyện Kiều của Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng theo

quan điểm của phái thứ nhất Còn phái nghệ thuật vì nghệ thuật chỉ quan tâm thuần túy đến cái đẹp, mỗi phái đều có lý thuyết riêng của mình, và nếu nhận

Truyện Kiều là đẹp, là hay thì việc kỉ niệm Nguyễn Du hay tôn vinh Truyện Kiều đều là việc ý nghĩa, bởi họ theo tôn chỉ sùng bái cái đẹp “mà tự họ lại

nghĩ rằng cái đẹp ấy chẳng có thể nào gây ra ảnh hưởng xấu cho xã hội”, việc làm ấy cũng chẳng có gì đáng công kích Phan Khôi cũng nhìn nhận việc Ngô

Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng lo sợ sự phổ biến của Truyện Kiều có thể ảnh

hưởng tới phong hóa và “thế đạo nhân tâm”, đó cũng là mối lo của Nho gia thời xưa, họ tìm cách “vệ đạo”, tuy nhiên theo Phan Khôi thì phải tìm cách để

duy trì phong hóa chứ không thể quy vào việc phổ biến Truyện Kiều mà cho

nó có hại được, bởi đó là mỹ văn học thì nó có đời sống riêng, nó phải được tự

do phát triển Đồng thời với việc nêu ý kiến phản bác lại nhóm nhà Nho bảo thủ, Phan Khôi cũng quan tâm, tán thành những nhận định mới mẻ của Lưu

Trọng Lư trong Mấy lời chiêu tuyết cho Vương Thúy Kiều , ông đồng tình với

những ý kiến: “Nói tóm lại, muốn xét thân thế Kiều, chớ đứng hẳn trong lễ giáo nghiêm ngặt chật hẹp của Nho giáo”[72] Như vậy trước sau Phan Khôi

Trang 38

đã nhận ra lập trường Nho giáo đã trở thành thâm căn cố đế của lớp nhà Nho

bảo thủ, họ lên án, công kích Truyện Kiều từ quan điểm đạo đức chật hẹp,

cũng như tâm lý chung của nhà Nho là muốn duy trì sự độc tôn Nho giáo:

“Không dung nạp kẻ khác với mình” Những lập luận của Phan Khôi sắc sảo,

có sức thuyết phục bởi ông đã dựa trên cơ sở tư tưởng hiện đại khi tiếp nhận kiệt tác của Nguyễn Du, tranh luận của Phan Khôi có chừng mực, có tính đối thoại vừa có sự cảm thông với các nhà Nho bảo thủ bởi nền học vấn cũ chi phối mạnh, nền học vấn mới còn yếu nhưng họ vẫn cố duy trì tình trạng độc tôn của Nho giáo, họ không chấp nhận người nào đi ngược lại tôn chỉ của Nho giáo, ngay cả khi nó trở nên lỗi thời Tình trạng cố chấp, quay lưng lại với thực tế, với những điều mới mẻ của cuộc sống trong tâm lý nhà Nho đem lại

cách tiếp nhận Truyện Kiều trong một thời gian dài với sự lệch lạc, ấu trĩ,

phiến diện bởi sự ảnh hưởng không nhỏ của Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng trong đời sống xã hội lúc bấy giờ Cũng từ cuộc tranh luận ấy chúng ta lại

thấy được sự mới mẻ của Phan Khôi, ông tiếp nhận Truyện Kiều với tư cách

một tác phẩm văn học, với tư tưởng mới mẻ thời đại Ông luôn nhận ra những

giá trị sâu sắc của kiệt tác này, coi Truyện Kiều là tập đại thành của văn hóa

và ngôn ngữ Việt Phan Khôi có vai trò quan trọng trong cuộc tranh luận

Truyện Kiều những năm 30 bởi điều quan trọng là ông có những yếu tố của

nhà phê bình văn học hiện đại

Các nhà nghiên cứu Lê Thị Thanh Tâm và Nguyễn Đức Mậu qua bài

viết Giải mã cách đọc Kiều của Tản Đà, từ cách tiếp nhận Truyện Kiều của

Nho tài tử, nhà thơ lớn đầu thế kỉ, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra cách đặt vấn

đề mới mẻ, vừa mang tính đối thoại của Tản Đà Trong những vấn đề bề bộn

của cuộc tranh luận Truyện Kiều, Tản Đà qua bài viết Văn Hoa tiên và văn

Kiều lại chỉ bám vào một nhận định của Cao Bá Quát: “Khiến cho Truyện Kiều đờ mắt trông theo” Tản Đà có dụng ý riêng của mình khi cố tình dịch

Trang 39

sai nhận định của thi sĩ Cao Chu Thần để làm nảy sinh những ý tứ tranh luận mới mẻ của mình với cụm từ “đờ măt trông theo” Từ đó Tản Đà đưa ra

những lập luận sắc bén của mình để làm nổi bật giá trị Truyện Kiều, ông bày

ra “trận địa chữ nghĩa” để thể hiện cách thưởng thức kiệt tác văn chương của đại thi hào Cách làm của Tản Đà về cơ bản cũng đứng về phương diện văn chương mà xét theo ý Phạm Quỳnh hay nghệ thuật vì nghệ thuật như ý Phan Khôi Tản Đà đứng ở cương vị người sáng tác bình luận về sáng tác và cho rằng nhiều người do chỉ lấy ở “tính chất của truyện” chứ không phải của

“chuyên luận văn chương” mà xét nên không thấy được cái hay của Truyện

Kiều, nhiều ý kiến cho rằng Hoa tiên hay hơn, hoặc Truyện Kiều thụ động

sinh ra sau Hoa tiên nhưng không chỉ được cụ thể hay như thế nào Có thể nói

từ cách đặt vấn đề, cách phê bình của Tản Đà “tạo ra một phong cách đọc,

một cách thương lượng, điều trần rất mực tinh tế, chất chứa cảm thông nhưng cũng không thiếu sòng phẳng, lý tính”[72, 397] Từ cách đọc Kiều của Tản

Đà trong so sánh với Hoa tiên, chúng ta dễ dàng nhận ra Tản Đà không quan tâm đến bản Hoa tiên nào mà chỉ nhằm mục đích “khẳng định giá trị vô tiền khoáng hậu và phi thường của Truyện Kiều” tuy nhiên cũng theo kiểu “Nói

láo mà chơi, nghe láo chơi” Với cách đọc đó các nhà nghiên cứu đã chỉ ra sự mới mẻ của Tản Đà từ cách tạo vấn đề để tự sự, đối thoại, tranh biện mà then chốt là cố tình dịch sai nhận định của Cao Bá Quát, cách dựng chuyện tài tình

ấy thể hiện ở lối tranh luận, phê bình dưới hình thức một câu chuyện, một tiểu phẩm Tản Đà cũng chuyên theo văn chương để xét hai tác phẩm đó, đây là một vấn đề lý luận văn học khá mới mẻ ở đầu thế kỷ XX, khác với cách làm của các nhà Nho bảo thủ khi đứng ở khía cạnh đạo đức để lên án, mạt sát

Truyện Kiều Cách làm của Tản Đà có so sánh, cân nhắc kĩ lưỡng theo

phương diện văn chương gần với cách phê bình hiện đại Nền tảng so sánh hai tác phẩm là chủ đề và phong cách, theo ông mỗi tác phẩm chứa đựng cái hay

riêng của mình, nếu Hoa tiên “hay một cách bằng phẳng” thì Truyện Kiều hay

Trang 40

một cách “xôi xốc mà lịch lõi”, qua cách so sánh đó Tản Đà đã ngầm đánh giá

phong cách độc đáo của Truyện Kiều, hay đó là giá trị phân định mỗi tác

phẩm Với cách lí giải, lập luận riêng của mình, Tản Đà đã “minh chứng phong cách văn chương là mấu chốt cho giá trị cuối cùng của tác phẩm”, bên

cạnh việc ca ngợi Hoa tiên hay “một cách bằng phẳng”, trang nhã, vừa phải,

hài hòa đồng thời Tản Đà cũng ca ngợi thứ văn “xôi xốc mà lịch lõi”, “bạo lời”, “bạo đặt”, điều đó đồng nghĩa với việc ca ngợi giá trị hơn hẳn của

Truyện Kiều, cách làm đó là một minh chứng phân biệt sự phẩm bình luân lý

và phẩm bình văn chương, thể hiện sự khác biệt về tâm lý tiếp nhận cũng như khuynh hướng thực chứng trong phê bình, cơ bản khác với các nhà Nho cuối thế kỉ XIX với cảm hứng “tri âm, tri kỉ”, hay “độc quyền cảm xúc” trong tiếp nhận văn học Là một người ở buổi giao thời Tản Đà không tránh khỏi những yếu tố cũ trong cách tiếp nhận văn học nhưng bên cạnh đó ông có dấu hiệu mới mẻ của sự chuyển đổi hệ hình văn học, với những phương diện tiêu biểu như: phong cách tranh biện; cách đặt vấn đề; lối tư duy đối thoại; tranh luận dựa vào một chứng cứ mang tính tự sự Các nhà nghiên cứu Lê Thị Thanh

Tâm và Nguyễn Đức Mậu đã chỉ ra: “Qua Văn Hoa tiên và văn Kiều , sự xê

dịch hệ hình tư duy từ lối văn chương khoa cử, điểm bình, phán xét …sang lối văn giàu tính đối thoại, phân tích, so sánh, ví von bằng trường từ vựng hiện

đại đã làm nổi rõ tính chất giao thời ở một trí thức lớn ”[72, 406] Như vâỵ có

thể khẳng định Tản Đà, Phan Khôi thuộc thế hệ người đọc bước đầu chịu ảnh hưởng lý thuyết phương Tây

2.2.2 Truyện Kiều - với những diễn biến của tiếp nhận văn học

Lý thuyết tiếp nhận từng chỉ ra trong quá trình đọc mỗi người đọc đã tự chuyển hóa văn bản thứ nhất của nhà văn thành văn bản thứ hai của chính mình và giữa hai văn bản có thể có sự thống nhất nhưng không thể đồng nhất Trong quá trình đọc đó người đọc luôn đồng thời diễn ra các quá trình

Ngày đăng: 12/03/2020, 15:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w