1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tình trạng dinh dưỡng trước mổ và biến chứng nhiễm trùng sau phẫu thuật gan mật tụy tại bệnh viện chợ rẫy

10 150 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 501,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm Văn Năn có đến 55,7% bệnh nhân phẫu thuật ngọai tổng quát có tình trạng suy dinh dưỡng trước mổ và tỉ lệ xảy ra biến chứng nhiễm trùng sau phẫu thuật bụng ở nhóm bệnh nhân suy dinh

Trang 1

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG TRƯỚC MỔ VÀ BIẾN CHỨNG

NHIỄM TRÙNG SAU PHẪU THUẬT GAN MẬT TỤY

TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

Lưu Ngân Tâm*, Nguyễn Thùy An**

TÓM TẮT

Suy dinh dưỡng trước phẫu thuật là một yếu tố tiên lượng sau mổ Theo Ts Phạm Văn Năn có đến 55,7% bệnh nhân phẫu thuật ngọai tổng quát có tình trạng suy dinh dưỡng trước mổ và tỉ lệ xảy ra biến chứng nhiễm trùng sau phẫu thuật bụng ở nhóm bệnh nhân suy dinh dưỡng cao hơn nhóm bệnh nhân không có suy dinh dưỡng Song vấn đề này cho đến nay vẫn chưa được quan tâm đầy đủ

Mục tiêu nghiên cứu: khảo sát tình trạng dinh dưỡng trước mổ ở bệnh nhân có bệnh lý gan mật tụy theo

BMI, SGA, albumin và prealbumin/ máu và tính tương quan giữa tình trạng dinh dưỡng trước mổ với biến chứng nhiễm trùng sau mổ Phương pháp: mô tả cắt ngang phân tích

Kết quả: Tỉ lệ suy dinh dưỡng của bệnh nhân trước phẫu thuật lần lượt là 25,8% theo BMI; 56,7%

SGA-B, SGA-C; 18,3% với albumin/ huyết thanh ≤ 3,5 g/dl; 55,8% với prealbumin/ huyết thanh ≤ 20 mg/dl Suy dinh dưỡng (SGA-B, SGA-C) trước mổ gặp ở tất cả bệnh nhân có biến chứng nhiễm trùng vết mổ (8/104 bệnh nhân) và 76,5% (13/17) bệnh nhân có biến chứng xì dò sau phẫu thuật (p=0,039) Tỉ lệ bệnh nhân có biến chứng xì dò sau mổ gia tăng ở nhóm bệnh nhân có tình trạng suy dinh dưỡng nặng (p=0,006) Đồng thời 29,1% (7/17); 75% (18/24) bệnh nhân có biến chứng nhiễm trùng sau phẫu thuật (bao gồm nhiễm trùng vết

mổ và xì dò) có albumin/ huyết thanh < 3,5g/dL; prealbumin/ huyết thanh ≤ 20 mg/dl Điều thú vị là prealbumin/ huyết thanh ≤ 20 mg/dl có liên quan đến biến chứng NTSM (p=0,048), dù albumin/ huyết thanh không tìm thấy sự tương quan này

Kết luận: Suy dinh dưỡng theo SGA trước phẫu thuật gan mật tụy tại bệnh viện Chợ rẫy chiếm trên 50%

số bệnh nhân tại khoa và có mối tương quan với biến chứng nhiễm trùng sau mổ và thời gian nằm viện Do đó với những ưu điểm là dễ thực hiện, có giá trị cao trong lâm sàng thì việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng bệnh nhân trước phẫu thuật gan mật tụy theo SGA nên được thực hiện, để từ đó người bệnh có thể nhận được những biện pháp điều trị thích hợp và hiệu quả hơn

Từ khóa: suy dinh dưỡng, SGA, prealbumin/ máu, nhiễm trùng sau mổ

ABSTRACT

PREOPERATIVE MALNUTRITION AND ITS CORRELATION WITH POSTOPERATIVE INFECTION COMPLICATIONS IN PATIENS UNDERGOING PANCREATIC BILIARY HEPATOOPERATION

IN CHO RAY HOSPITAL

Luu Ngan Tam, Nguyen Thuy An

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 4 - 2011: 387 - 396

Preoperative malnutrition is a postoperative prognostic predictor According to Dr Pham Van Nan, preoperative malnutrition occured 55.7% of abdominal surgery patients and the rate of postoperative infection complications were higher in malnourished patients than well nourished patients Unfortunately, this problem has been underestimated

* Khoa Dinh dưỡng Bệnh Viện Chợ rẫy

Trang 2

Objective: Access preoperative nutritional status by Subjective Global Assessment (SGA), Body Mass

Index (BMI), serum albumin and serum prealbumin and its correlation with postoperative infection complications in patients undergoing pancreatic biliary hepatooperation

Method: A cross – sectional descriptive

Results: The prevalences of preoperative malnutrition were 25.8 % by BMI; 56,7% by SGA-B & C; 18.3%

with serum albumin ≤ 3.5 g/dl and was 55.8% with serum prealbumin <20 mg/dl (normal range: 20- 40mg/dL) Preoperative malnutrition (SGA-B, SGA-C) occurred in all of patients with incisional infection (8/104 patients) and 76.5% (13/17) patients with leakage complications (p=0.039) The ratio of patients with leakage complication was higher in severe malnutrition patients than others (p=0.006) Furthermore, postoperative infection complications happened 29.1% (7/17); 75% (18/24) in patients serum serum albumin < 3.5g/dL; prealbumin <20

m g/dl respectively It was exciting that prealbumin <20 mg/dl correlated with postoperative infection complications (p=0.048) although no relationship with serum albumin

Discussion & Conclusion: Although serum albumin was not related to infection complications that was

distinguished from the other reports, serum prealbumin did associated with the complications Malnutrition by SGA was seen over 50% of patients undergoing pancreatic biliary hepatooperation in Cho ray hospital and correlated with postoperative infection complications and the lengh of hospital stay Therefore, SGA, a simple and valuable tool for screening nutritional status should be applied in clinical practice, thereby the patients could achieve the optimal treatments

Key words: malnutrition, SGA, serum prealbumin, infection complications

ĐẶT VẤN ĐỀ

Suy dinh dưỡng là một trong những vấn đề

quan trọng đối với bệnh nhân ngoại khoa Suy

dinh dưỡng làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn,

chậm lành vết thương, làm tăng biến chứng đặc

biệt biến chứng sau phẫu thuật, kéo dài thời

gian nằm viện, tăng chi phí điều trị, tăng tỉ lệ tử

vong(1,5,7,9,13,17,18,27,29,30)

Tại Việt Nam cho đến nay chỉ có một nghiên

cứu của TS Phạm Văn Năn tại khoa Y trường

đại học Y Dược Cần Thơ cho thấy 77,7% bệnh

nhân phẫu thuật ngọai tổng quát có tình trạng

suy dinh dưỡng trước mổ và tỉ lệ xảy ra biến

chứng nhiễm trùng sau phẫu thuật bụng ở

nhóm bệnh nhân suy dinh dưỡng cao hơn nhóm

bệnh nhân không có suy dinh dưỡng(24)

Có nhiều phương pháp đánh giá tình trạng

dinh dưỡng, nhưng không có phương pháp nào

là hoàn hảo vì tình trạng dinh dưỡng tự bản

thân nó biểu hiện ở nhiều mức độ và ảnh hưởng

nhiều chức năng của cơ thể Do vậy mà mỗi

phương pháp có tiêu chuẩn riêng, ưu khuyết

điểm riêng(2,8,11,15,19,31,34,37,36,38)

Trong nghiên cứu này chúng tôi chọn phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng tổng thể theo chủ quan-SGA (Subjective Global Assessment) Đây là phương pháp có độ nhạy,

độ đặc hiệu cao, không xâm lấn, chi phí thấp và

dễ thực hiện(8,9,11,16,22,24,26,32) Nhằm hạn chế sai lầm trong đánh giá chủ quan, chúng tôi kết hợp phương pháp SGA và chỉ số BMI, nồng độ albumin, prealbumin huyết thanh(2,4,3,10,12,38)

Mục tiêu

Khảo sát tình trạng dinh dưỡng trước mổ ở bệnh nhân có bệnh lý gan mật tụy bằng BMI, SGA, albumin và prealbumin/ máu

Khảo sát tính tương quan giữa tình trạng dinh dưỡng trước mổ với biến chứng nhiễm trùng sau mổ

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Dân số nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tiền cứu tại khoa ngoại Gan Mật Tụy bệnh viện Chợ Rẫy Từ 19/01/2010 đến 29/05/2010 bệnh nhân được phẫu thuật theo chương trình về các bệnh lý gan, mật, tụy được đưa vào lô nghiên cứu Những bệnh

Trang 3

nhân phẫu thuật cấp cứu hay có các bệnh lý

mãn tính kèm theo như đái tháo đường, bệnh

phổi tắc nghẽn mãn tính, suy tim, suy thận mạn

được loại khỏi nghiên cứu

Cỡ mẫu

104 bệnh nhân

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang phân tích

Phương pháp nghiên cứu

Một ngày trước khi phẫu thuật theo

chương trình bệnh nhân được đánh giá về tình

trạng dinh dưỡng theo tổng thể chủ quan bởi

người nghiên cứu

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bao gồm:

Đo cân nặng và chiều cao, khai thác bệnh sử: tỉ

lệ phần trăm sụt cân trong 6 tháng gần đây, triệu

chứng đường tiêu hóa, những thay đổi thói

quen ăn uống, sinh hoạt, vận động Ngoài ra,

bệnh nhân được thăm khám để đánh giá mức

độ teo cơ, mất lớp mỡ dưới da, tình trạng phù

chân, báng bụng (nếu có) Sau đó, bệnh nhân

được lấy máu để xét nghiệm albumin/ huyết

thanh, prealbumin/ huyết thanh

Sau phẫu thuật, bệnh nhân được thay băng

và theo dõi dấu hiệu sinh tồn để đánh giá tình

trạng nhiễm trùng vết mổ Người nghiên cứu

phối hợp với phẫu thuật viên và bác sĩ điều trị

theo dõi tình trạng bụng sau phẫu thuật để đánh

giá biến chứng xì, dò Quá trình theo dõi được

thực hiện từ ngày hậu phẫu thứ nhất đến ngày

bệnh nhân xuất viện

Phương pháp thống kê

- Biến số độc lập: tuổi, BMI, A,

SGA-B, SGA-C, albumin huyết thanh, prealbumin

huyết thanh

- Biến số phụ thuộc: nhiễm trùng vết mổ, xì

rò sau mổ, số ngày nằm viện

Phép kiểm chi bình phương được sử dụng

để phân tích liên quan giữa tình trạng dinh

dưỡng với biến chứng sau mổ theo phương

pháp SGA, albumin, prealbumin huyết thanh

Phép kiểm Anova được sử dụng để so sánh giá

trị trung bình của các biến liên tục, albumin huyết thanh, prealbumin huyết thanh, thời gian nằm viện ở các nhóm tình trạng dinh dưỡng theo SGA (SGA-A, SGA-B, SGA-C), nhóm có biến chứng và không biến chứng sau mổ Độ tin cậy là 95% được sử dụng trong khi phân tích và giá trị p < 0,05 được xem như có ý nghĩa thống

kê Tất cả các phương pháp phân tích số liệu dựa vào phần mềm SPSS verson 13.0 (Statistical Program for Social Science)

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 1 Đặc điểm chung

Giá trị

nhất

Cao nhất

Trung bình±độ lệch chuẩn

Tuổi 15 94 53,70 ± 18,06 Chiều cao (m) 1,39 1,7 1,56 ± 0,07 Cân nặng (kg) 32 78 49,50 ± 8,87 BMI (kg/m2) 13,91 32,45 20,32 ± 3,16 Sụt cân (kg/6tháng) 0 13 2,95 ± 3,11 Albumin/huyết thanh (g/dl) 2,6 12 4,61 ± 3,64 Prealbumin/huyết thanh

(mg/dl) 2,4 72 22,41 ± 12,82 Thời gian nằm viện (ngày) 3 52 16,37±9,20 Albumin/ huyết thanh ≤ 3,5g/dL chiếm 18,3% Prealbumin/huyết thanh, mặc dù giá trị trung bình ở mức bình thường 22,41 ± 12,82 Tỉ lệ bệnh nhân suy dinh dưỡng mức độ vừa theo Prealbumin/huyết thanh (10 – 20 mg/dl) khá cao 41,3%, tỉ lệ bệnh nhân suy dinh dưỡng nặng (Prealbumin/huyết thanh < 10mg/dl) là 14,5%

Bảng 2 Tình trạng dinh dưỡng theo SGA

SGA Tần suất Tỷ lệ %

Tổng 104 100 Trong 104 bệnh nhân được đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo tổng thể chủ quan, 45 (43,3%) bệnh nhân được phân loại SGA-A, 26 (25%) bệnh nhân được phân loại SGA-B, 33 (31,7%) bệnh nhân được phân loại SGA-C Tỉ

lệ bệnh nhân có tình trạng dinh dưỡng mức độ SGA-B, SGA-C trong nghiên cứu này là 56,7%

thấp hơn so với nghiên cứu của tiến sĩ Phạm

Trang 4

Văn Năn tại bệnh viện đa khoa trung ương

Cần Thơ 77,7%(24)

Bảng 3 Biến chứng nhiễm trùng sau mổ

Nhiễm trùng vết mổ

Trong 104 bệnh nhân, 79 (75,9%) bệnh nhân

không có biến chứng, 8 (7,7%) bệnh nhân nhiễm

trùng vết mổ, 17 bệnh nhân (16,4%) có biến

chứng rò mật, rò tụy sau mổ

Bảng 4 Liên quan giữa phân loại SGA với phân loại

bệnh

Phân loại bệnh Tình trạng

SGA-A 9 (81,8) 30 (44,1) 6 (24) 45

SGA-B 1 (9,1) 17 (25) 8 (32) 26

SGA-C 1 (9,1) 21 (30,9) 11 (44) 33

Ở nhóm bệnh lý gan, tỉ lệ bệnh nhân có tình

trạng dinh dưỡng tốt (SGA-A) chiếm đa số với

81,8% cao hơn so với 2 nhóm bệnh nhân có suy

dinh dưỡng (SGA-B, SGA-C) Ngược lại, đối với

nhóm bệnh nhân có bệnh lý tụy, đa số bệnh

nhân có tình trạng suy dinh dưỡng (SGA-B,

SGA-C) 76% cao hơn so với nhóm có tình trạng

dinh dưỡng tốt (p = 0,033) Đối với bệnh lý túi

mật và đường mật, sự khác biệt về tình trạng

dinh dưỡng theo SGA không lớn, tuy nhiên tỉ lệ

bệnh nhân suy dinh dưỡng vẫn cao hơn 55,9%

(SGA-B, SGA-C) so với 44,1% (SGA-A)

Bảng 5 Liên quan giữa phân loại SGA với xét

nghiệm cận lâm sàng

Tình trạng dinh dưỡng Xét nghiệm

4,72 ± 1,22 5,43 ±

7,07 3,80 ±

0,61 4,61 ± 3,64

Albumin /huyết

thanh

p = 0,222 27,39 ±

13,74 21,89 ±

12,82 16,03 ±

8,00 22,41 ±

12,82

Prealbumin

/huyết thanh

p < 0,001

Sự khác biệt về nồng độ albumin/ huyết

thanh giữa 3 nhóm bệnh nhân có tình trạng dinh

dưỡng SGA-A, SGA-B, SGA-C là không có ý

nghĩa thống kê (p = 0,222) Đối với prealbumin/ huyết thanh, trong nhóm bệnh nhân có tình trạng suy dinh dưỡng nặng (SGA-C), giá trị trung bình của prealbumin/ huyết thanh thấp hơn so với 2 nhóm bệnh nhân có tình trạng dinh dưỡng tốt, suy dinh dưỡng nhẹ hay nghi ngờ suy dinh dưỡng (SGA-A, SGA-B) (p < 0,001)

Bảng 6 Liên quan giữa phân loại SGA với

Albumin /huyết thanh p < 0,001

Tình trạng dinh dưỡng Albumin

< 3 g/dl 0 0 4 (12,1) 4 (3,8)

3 – 3,5 g/dl 2 (4,4) 4 (15,4) 9 (27,3) 15 (14,4)

> 3,5 g/dl 43 (95,6) 22 (84,6) 20 (60,6) 85 (81,7)

Bảng 7 Liên quan giữa phân loại SGA với

Prealbumin /huyết thanh p < 0,009

Tình trạng dinh dưỡng Prealbumin

< 10 mg/dl 5 (11,1) 3 (11,5) 7 (21,2) 15 (14,4)

10 – 20 mg/dl 12 (26,7) 12 (46,2) 19 (57,6) 43 (41,3)

> 20 mg/dl 28 (62,2) 11 (42,3) 7 (21,2) 46 (44,2)

78,8% bệnh nhân ở nhóm có tình trạng suy dinh dưỡng nặng (SGA-C) có chỉ số Prealbumin/huyết thanh ≤ 20mg/dl so với 37,8%

ở nhóm bệnh nhân có tình trạng dinh dưỡng tốt (SGA-A) và 57,7% ở nhóm bệnh nhân suy dinh dưỡng nhẹ hay nghi ngờ suy dinh dưỡng (SGA-B) Tỉ lệ prealbumin/huyết thanh ≤ 20mg/dl càng cao ở nhóm bệnh nhân có tình trạng suy dinh dưỡng càng nặng (p < 0,009) Kết quả này cho thấy prealbumin/huyết thanh cũng ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân

Bảng 8 Liên quan giữa phân loại SGA với tình

trạng vết mổ p = 0,039

Tình trạng dinh dưỡng Vết mổ

Khô 45 (100) 23 (88,5) 28 (84,8) 96 (92,3) Dịch vết mổ 0 2 (7,7) 5 (15,2) 7 (6,7)

VM hở da 0 1 (3,8) 0 1 (1,0)

Tất cả bệnh nhân có nhiễm trùng vết mổ (8/104) có suy dinh dưỡng trước phẫu thuật Tỉ

lệ xảy ra biến chứng nhiễm trùng vết mổ ở nhóm bệnh nhân có tình trạng suy dinh dưỡng

Trang 5

nặng (SGA-C) 15,2% cao hơn so với nhóm bệnh

nhân có tình trạng suy dinh dưỡng nhẹ (SGA-B)

11,5% Biến chứng nhiễm trùng vết mổ chỉ xảy

ra ở nhóm bệnh nhân có tình trạng suy dinh

dưỡng mức độ nhẹ đến nặng hay nghi ngờ suy

dinh dưỡng (SGA-B, SGA-C) (p = 0,039)

Bảng 9 Liên quan giữa phân loại SGA với rò sau mổ

Tình trạng dinh dưỡng

Rò sau mổ

Không 41 (91,1) 24 (92,3) 22 (66,7) 87 (83,7)

Có 4 (8,9) 2 (7,7) 11 (33,3) 17 (16,3)

p = 0,006

16,4% (17/104) bệnh nhân có biến chứng xì

dò sau phẫu thuật trong đó chủ yếu là dò mật

và dò tụy 76,5% (13/17) bệnh nhân có biến

chứng xì dò sau phẫu thuật có tình trạng suy

dinh dưỡng trước phẫu thuật (SGA-B, SGA-C)

Trong 33 bệnh nhân có tình trạng suy dinh

dưỡng nặng có 11 (33.3%) bệnh nhân có biến

chứng rò sau mổ Tỉ lệ bệnh nhân có biến

chứng rò sau mổ gia tăng ở nhóm bệnh nhân

có tình trạng suy dinh dưỡng nặng (p = 0,006)

Bảng 10 Liên quan giữa phân loại SGA với thời

gian nằm viện

Tình trạng dinh dưỡng Thời gian

10,76 ±

4,96 17,85 ±

6,88 22,82 ±

10,61 16,36 ± 9,20

Thời gian nằm

viện (ngày)

p < 0,001 Thời gian nằm viện trung bình của bệnh

nhân ở nhóm suy dinh dưỡng nặng (SGA-C) dài

hơn so với 2 nhóm bệnh nhân khác (p < 0,001)

Thời gian nằm viện trung bình của bệnh nhân ở

nhóm SGA-C là 23 ngày dài gấp 2 lần so với

nhóm SGA-A là 11 ngày Kết quả này phù hợp

với nhiều nghiên cứu trước

Bảng 11 Liên quan giữa biến chứng NTSM với

Prealbumin /huyết thanh

Biến chứng NTSM Prealbumin

< 10 12 (15,0) 3 (12,5) 15 (14,4)

10 – 20 28 (35,0) 15 (62,5) 43 (41,3)

> 20 40 (50,0) 6 (25,0) 46 (44,2)

p = 0,048

75% bệnh nhân ở nhóm có biến chứng NTSM có giá trị Prealbumin /huyết thanh ≤ 20 mg/dl Ở nhóm bệnh nhân không có biến chứng NTSM, 50% bệnh nhân có giá trị Prealbumin /huyết thanh ≤ 20 mg/dl, và 50% bệnh nhân có giá trị Prealbumin /huyết thanh >20 mg/dl

BÀN LUẬN Tình trạng dinh dưỡng theo BMI

66,7% bệnh nhân trong nghiên cứu có chỉ số BMI trong giới hạn bình thường (BMI từ 18,5 đến dưới 25), 25,8% bệnh nhân suy dinh dưỡng (BMI dưới 18,5) Đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo chỉ số BMI là phương pháp rất đơn giản, dễ thực hiện BMI dưới 16 được xem là suy dinh dưỡng nặng, có nguy cơ tử vong cao Tuy nhiên, đối với bệnh nhân nằm viện đặc biệt bệnh nhân

có bệnh lý gan mật tụy chỉ số này không còn chính xác trong những trường hợp mất nước, phù, báng bụng, hoặc khi bệnh nhân có tình trạng sụt cân không chủ ý trên 10% trong lượng

cơ thể trong một thời gian nhất định nhưng chỉ

số BMI vẫn trong giới hạn bình thường(2) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi gần như tương đương với nghiên cứu của Lưu Ngân Tâm và cộng sự cũng được thực hiện tại bệnh viện Chợ Rẫy(20) với 24,5% trong tổng số 710 bệnh nhân suy dinh dưỡng (BMI dưới 18,5) và 75,5% bệnh nhân có chỉ số BMI trong giới hạn bình thường ( BMI từ 18,5 đến dưới 25)

Tình trạng dinh dưỡng theo SGA

SGA là phương pháp đánh giá nhanh tình trạng dinh dưỡng Đây là phương pháp có độ nhạy, độ đặc hiệu cao trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân ngoại khoa(16,26,31,33) Đặc biệt, phương pháp SGA cũng là phương pháp có giá trị trong tiên lượng biến chứng nhiễm trùng sau mổ(9,24,33) Phương pháp SGA tập trung vào tình trạng sụt cân nhanh của người bệnh, tình trạng mất lớp mỡ dưới da, mức độ teo cơ cùng với những triệu chứng đường tiêu hóa(8)

Kết quả cho thấy 43% bệnh nhân có tình trạng dinh dưỡng tốt (mức độ A theo phân loại SGA), 25% bệnh nhân có tình trạng suy

Trang 6

dinh dưỡng mức độ vừa (SGA-B), 31,7% bệnh

nhân suy dinh dưỡng nặng (SGA-C) Như vậy,

56,7% bệnh nhân với bệnh lý ngoại khoa gan

mật tụy có tình trạng suy dinh dưỡng mức độ

vừa và nặng Như vậy, so sánh với tỉ lệ suy

dinh dưỡng theo chỉ số BMI, tỉ lệ suy dinh

dưỡng đánh giá bằng SGA cao hơn 2 lần Điều

này cho thấy giới hạn của chỉ số BMI trong

đánh giá tình trạng dinh dưỡng

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so

với 43% trên tổng số 710 bệnh nhân (bao gồm cả

ngoại khoa lẫn nội khoa) có tình trạng suy dinh

dưỡng vừa và nặng lúc nhập viện tại bệnh viện

Chợ Rẫy (theo phương pháp SGA)(20) So sánh

với kết quả 55,7% bệnh nhân phẫu thuật bụng

có tình trạng suy dinh dưỡng từ vừa đến nặng

trong nghiên cứu của tiến sĩ Phạm Văn Năn tại

bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ (trong

nhóm 274 bệnh nhân phẫu thuật bụng có 35,4%

bệnh nhân có tình trạng suy dinh dưỡng mức độ

B, 42.3% mức độ C) thì kết quả nghiên cứu của

chúng tôi cũng tương đương(24)

Suy dinh dưỡng và biến chứng NTSM

Suy dinh dưỡng làm suy giảm chức năng

của hầu hết các cơ quan trong cơ thể Suy dinh

dưỡng ảnh hưởng đến chức năng tâm thần,

chức năng cơ, làm suy giảm chức năng của thận,

tim mạch, tiêu hóa, hô hấp, đặc biệt suy dinh

dưỡng làm suy giảm khả năng miễn dịch của cơ

thể, làm chậm lành vết thương(2) Bệnh nhân suy

dinh dưỡng mức độ vừa và nặng (B,

SGA-C) có nguy cơ biến chứng sau phẫu thuật cao

gấp 3 đến 4 lần, so với những bệnh nhân có tình

trạng dinh dưỡng tốt(13) Trong nghiên cứu này,

chúng tôi ghi nhận không có biến chứng nhiễm

trùng vết mổ ở nhóm bệnh nhân có tình trạng

dinh dưỡng tốt (SGA-A), 8 (7,7%) trường hợp có

biến chứng nhiễm trùng vết mổ đều ở nhóm

bệnh nhân có tình trạng suy dinh dưỡng vừa

đến nặng (SGA-B, SGA-C) (p = 0,039) 17/104

(16,3%) bệnh nhân có biến chứng xì rò sau mổ

trong đó tỉ lệ xảy ra biến chứng này tăng cao

(gấp 3,5 lần) ở nhóm có tình trạng suy dinh

dưỡng nặng (SGA-C) so với nhóm bệnh nhân có

tình trạng dinh dưỡng tốt (SGA-A) (p=0,006) Trong số bệnh nhân có biến chứng sau mổ, 1 trường hợp bệnh nhân vừa có nhiễm trùng vết

mổ, vừa có rò mật sau mổ ( bệnh nhân này có tình trạng suy dinh dưỡng nặng, SGA-C) Như vậy, tỉ lệ bệnh nhân có biến chứng nhiễm trùng sau mổ (bao gồm nhiễm trùng vết mổ và xì rò sau mổ) trong nghiên cứu này là 23% Tỉ lệ này gần như tương đương với nghiên cứu của tiến sĩ Phạm Văn Năn 24,4%(24) Tuy nhiên nếu so sánh với một số nghiên cứu khác trên thế giới thì kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn

Theo Putwatana P và cộng sự, trong nghiên cứu trên 430 bệnh nhân phẫu thuật bụng, tỉ lệ biến chứng nhiễm trùng sau mổ là 17,2% (74 bệnh nhân) bao gồm biến chứng nhiễm trùng vết mổ, xì rò, áp xe tồn lưu sau

mổ, viêm phổi, nhiễm trùng tiểu, nhiễm trùng liên quan đến ống dẫn lưu (26) Trong nghiên cứu ảnh hưởng của tình trạng dinh dưỡng và biến chứng sau phẫu thuật bụng, Sungurtekin

H và cộng sự báo cáo 44% bệnh nhân suy dinh dưỡng lúc nhập viện (đánh giá bằng phương pháp SGA), tỉ lệ tử vong cao hơn cũng như nguy cơ biến chứng sau phẫu thuật tăng được tìm thấy ở nhóm bệnh nhân suy dinh dưỡng(32)

Như vậy, mặc dù cỡ mẫu trong nghiên cứu của chúng tôi không đủ để kết luận mối tương quan giữa tình trạng suy dinh dưỡng trước phẫu thuật và biến chứng nhiễm trùng sau phẫu thuật trong bệnh lý gan mật tụy, tuy nhiên với kết quả như trên cùng với nhiều nghiên cứu khác trong và ngoài nước chúng tôi cho rằng cần có sự quan tâm đúng mức và

có kế hoạch hỗ trợ dinh dưỡng cho bệnh nhân suy dinh dưỡng đặc biệt là những bệnh nhân

có tình trạng suy dinh dưỡng nặng (SGA-C) trước phẫu thuật (Theo khuyến nghị ESPEN guideline 2006 in Enteral nutrition in surgery)(21,33)

Suy dinh dưỡng và thời gian nằm viện

Trong nghiên cứu này, chúng tôi còn ghi nhận bệnh nhân có tình trạng suy dinh dưỡng

Trang 7

mức độ vừa và nặng (SGA-B, SGA-C) thì thời

gian nằm viện dài hơn so với bệnh nhân có tình

trạng dinh dưỡng tốt ( A) lần lượt là

SGA-C 23 ngày, SGA-B 18 ngày, SGA-A 11 ngày

(p<0,001) Rõ ràng, thời gian nằm viện của bệnh

nhân có tình trạng suy dinh dưỡng năng dài hơn

gấp 2 lần so với bệnh nhân có tình trạng dinh

dưỡng bình thường điều này một lần nữa

khẳng định rằng tình trạng suy dinh dưỡng

trước phẫu thuật của bệnh nhân ảnh hưởng đến

thời gian nằm viện, tăng chi phí chăm sóc và

điều trị(6,7,14,15,19,23,25,28,35,39)

Năm 1995, Cederholm và cộng sự báo cáo

thời gian nằm viện của bệnh nhân suy dinh

dưỡng dài hơn 2,5 lần so với nhóm bệnh nhân

có tình trạng dinh dưỡng tốt (trung bình 43

ngày đối với bệnh nhân suy dinh dưỡng và 18

ngày đối với bệnh nhân không suy dinh

dưỡng) (p< 0,01)(5)

Theo Correira và Campos trong một nghiên

cứu gần đây tại châu Mỹ Latin với 9348 bệnh

nhân, thời gian nằm viện trung bình 16,7 ngày ở

bệnh nhân suy dinh dưỡng so với 10,1 ngày ở

bệnh nhân không suy dinh dưỡng (p<0,01)(6)

Qua nhiều nghiên cứu cho thấy suy dinh

dưỡng làm kéo dài tiến trình điều trị và thời

gian nằm viện(25,35) Theo Norman K và cộng sự,

tình trạng suy dinh dưỡng ảnh hưởng đến tiến

trình bệnh tật bởi suy dinh dưỡng làm giảm sự

lành vết thương, suy giảm chức năng của hệ

thống miễn dịch từ đó làm gia tăng tỉ lệ biến

chứng nhiễm trùng và không nhiễm trùng, đồng

thời suy dinh dưỡng cũng làm giảm khả năng

hồi phục của bệnh nhân(23) Hậu quả của tiến

trình này là sự gia tăng tỉ lệ tử vong, ảnh hưởng

đến hiệu quả điều trị, kéo dài thời gian nằm

viện, làm tăng chi phí điều trị

Như vậy, vì những ảnh hưởng nặng nề của

tình trạng suy dinh dưỡng đối với bệnh nhân

ngoại khoa, đặc biệt là trong phẫu thuật bụng,

việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng trước phẫu

thuật là rất quan trọng và cần thiết Tuy nhiên,

chọn lựa phương pháp đánh giá tình trạng dinh

dưỡng phù hợp, ít tốn kém, hạn chế xâm lấn, có

thể được thực hiện bởi bác sĩ lẫn điều dưỡng cũng không kém phần quan trọng Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo SGA gần như đáp ứng được những yêu cầu trên

Tình trạng dinh dưỡng theo albumin/ huyết thanh

Nồng độ albumin/ huyết thanh trước mổ không chỉ dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng, độ nặng của bệnh mà còn là một yếu tố

có ý nghĩa trong tiên lượng biến chứng, và tử vong sau phẫu thuật(2,3,5,12) Nếu nồng độ albumin/ huyết thanh càng giảm thì nguy cơ biến chứng nguy cơ tử vong càng tăng sau phẫu thuật(12)

Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 81,7% bệnh nhân có albumin/ huyết thanh>3,5g/dl, 18,3% bệnh nhân có albumin/huyết thanh ≤ 3,5 g/dl (trung bình 4,61

± 3,64) Theo Putwatana và cộng sự, 80 trong tổng số 430 bệnh nhân (18.9%) có giá trị albumin/ huyết thanh< 3,5g/dl (kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đương)(26) Mặc dù giá trị albumin/ huyết thanh trung bình nằm trong giới hạn bình thường, nhưng chúng tôi ghi nhận albumin/huyết thanh giảm ở nhóm bệnh nhân có tình trạng suy dinh dưỡng nặng (SGA-C) (p<0,001) Giá trị trung bình albumin/ huyết thanh ở 3 nhóm bệnh nhân tương ứng theo phân loại SGA A, B, C là 4,72, 5,43, 3,8 g/dl Kết quả này tương đối phù hợp với nghiên cứu của tiến sĩ Lưu Ngân Tâm tại bệnh viện Chợ Rẫy, albumin huyết thanh trung bình ở 3 nhóm

SGA-A, SGA-B, SGA-C lần lượt là 4,2; 3,6; 3,8 g/dl (20) Theo Sungurtekin và cộng sự, giá trị albumin trung bình ở nhóm SGA-C là 3,1±0.6 thấp hơn so với nhóm SGA-A 3,8±0,6 (p<0,01)(32) Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 29,1% bệnh nhân trong nhóm có biến chứng NTSM

có giá trị albumin/ huyết thanh < 3,5g/dl cao hơn so với 15% trong nhóm bệnh nhân không

có biến chứng, tuy nhiên sự khác biệt ở 2 nhóm không có ý nghĩa thống kê (p=0,226) Theo Putwatana và cộng sự, 38,9% bệnh nhân

có biến chứng NTSM có giá trị albumin/ huyết

Trang 8

thanh <3,5 g/dl cao hơn so với 14,8% ở nhóm

bệnh nhân không có biến chứng (p<0,001)(32)

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có thể do cỡ

mẫu trong nghiên cứu nhỏ (n=104)

Trong khi đó, theo khuyến nghị của Hội

dinh dưỡng lâm sàng Châu Âu (ESPEN 2006),

đối với bệnh nhân có tình trạng dinh dưỡng

SGA-C nên được hỗ trợ dinh dưỡng ít nhất

10-14 ngày trước phẫu thuật Vì vậy, trong vài năm

trở lại đây, tại khoa ngoại Gan Mật Tụy bệnh

viện Chợ Rẫy, chỉ số albumin/ huyết thanh trước

mổ là một xét nghiệm thường quy, hầu hết

những bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật đều

được thực hiện xét nghiệm này Vì vậy, bệnh

nhân có thể được hỗ trợ dinh dưỡng trước phẫu

thuật nếu albumin/huyết thanh dưới 3,0 g/dl

Tình trạng dinh dưỡng theo prealbumin/

huyết thanh

Ngoài albumin, nghiên cứu của chúng tôi

còn ghi nhận chỉ số prealbumin/ huyết thanh

Prealbumin/ huyết thanh là protein có thời gian

bán hủy ngắn (48 giờ), có giá trị trong sự thay

đổi của tình trạng dinh dưỡng Prealbumin/

huyết thanh có khả năng đánh giá tình trạng suy

dinh dưỡng và là thông số thay đổi sớm nhất

trong việc theo dõi hỗ trợ dinh dưỡng cho bệnh

nhân(2,4,3,10) Tuy nhiên, hiện nay không phải

phòng xét nghiệm nào cũng thực hiện được xét

nghiệm này, vì vậy prealbumin/ huyết thanh

vẫn chưa được xem như một xét nghiệm thường

quy trước phẫu thuật Trong 2 năm trở lại đây,

bệnh viện Chợ Rẫy có thể thực hiện xét nghiệm

này, tuy nhiên giá thành vẫn còn khá đắt so với

xét nghiệm albumin/huyết thanh

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy

prealbumin/ huyết thanh trung bình 22,41 (chỉ

số bình thường 20 – 40 mg/dl), trong đó 14,5%

bệnh nhân có tình trạng suy dinh dưỡng nặng

(prealbumin < 10 mg/dl), 41,3% suy dinh

dưỡng mức độ vừa (prealbumin từ 10 mg/dl

đến 20 mg/dl), tỉ lệ bệnh nhân có tình trạng

dinh dưỡng tốt (prealbumin > 20) là 44,2%

Chúng tôi thấy rằng có sự phù hợp giữa việc

đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo phương

pháp SGA và prealbumin/ huyết thanh, bệnh nhân có tình trạng suy dinh dưỡng càng nặng, prealbumin/ huyết thanh càng giảm (p<0,001, bảng 12), đồng thời tỉ lệ bệnh nhân có prealbumin < 20 ở nhóm bệnh nhân có tình trạng dinh dưỡng SGA-B, SGA-C cao hơn so với nhóm bệnh nhân SGA-A (p<0,009, biểu đồ 8) Theo nghiên cứu của Devoto G và cộng sự cũng cho thấy có sự phù hợp giữa phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo SGA và prealbumin/ huyết thanh Với 108 bệnh nhân có 44% bệnh nhân suy dinh dưỡng mức độ vừa, 17% bệnh nhân suy dinh dưỡng mức độ nặng (đánh giá theo phương pháp SGA), 44% bệnh nhân suy dinh dưỡng mức độ vừa, 16% bệnh nhân suy dinh dưỡng mức độ nặng (đánh giá theo prealbumin/ huyết thanh)(12) Prealbumin/ huyết thanh giảm chỉ sau 3 ngày nếu cung cấp dinh dưỡng không

đủ nhu cầu và prealbumin/ huyết thanh tăng 1mg/ngày khi chất dinh dưỡng được cung cấp

đủ theo nhu cầu Tuy nhiên, prealbumin/huyết thanh cũng có thể bị ảnh hưởng bởi bệnh lý suy thận cấp hay mãn tính(2)

Khi vẫn chưa có phương pháp hoàn hảo để đánh giá tình trạng dinh dưỡng, chúng tôi nghĩ rằng phối hợp nhiều phương pháp nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân và đề

ra kế hoạch hỗ trợ dinh dưỡng kịp thời là cần thiết Xét nghiệm Prealbumin/ huyết thanh là công cụ đáng tin cậy trong việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân trong thời gian nằm viện cũng như đánh giá hiệu quả các biện pháp hỗ trợ dinh dưỡng(2)

Một kết quả khá thú vị mà chúng tôi ghi nhận trong nghiên cứu này, tỉ lệ bệnh nhân có giá trị prealbumin ≤ 20 mg/dl ở nhóm bệnh nhân

có biến chứng NTSM cao hơn so với bệnh nhân nhóm không có biến chứng (p=0,048) Mặc dù cỡ mẫu trong nghiên cứu của chúng tôi chưa đủ để khẳng định mối tương quan giữa prealbumin/huyết thanh và biến chứng NTSM trong bệnh lý gan mật tụy, tuy nhiên 75% bệnh nhân có biến chứng NTSM có giá trị

Trang 9

prealbumin/huyết thanh ≤ 20 mg/dl là một con

số đáng lưu ý

KẾT LUẬN

Tỉ lệ suy dinh dưỡng của bệnh nhân trước

phẫu thuật lần lượt là 25,8% theo BMI; 56,7%

SGA-B, SGA-C; 18,3% với albumin/ huyết thanh

≤ 3,5 g/dl; 55,8% với prealbumin/ huyết thanh ≤

20 mg/dl Kết quả nghiên cứu của chúng tôi

tương đối phù hợp với các nghiên cứu khác tại

Việt Nam cho thấy phương pháp SGA có độ

nhạy, độ đặc hiệu cao

Suy dinh dưỡng (SGA-B, SGA-C) trước mổ

gặp ở tất cả bệnh nhân có biến chứng nhiễm

trùng vết mổ (8/104 bệnh nhân) (p=0,039) và

76,5% (13/17) bệnh nhân có biến chứng xì dò sau

phẫu thuật Tỉ lệ bệnh nhân có biến chứng xì dò

sau mổ gia tăng ở nhóm bệnh nhân có tình trạng

suy dinh dưỡng nặng (p=0,006) Bên cạnh đó

chúng tôi còn ghi nhận bệnh nhân bị suy dinh

dưỡng mức độ vừa và nặng có số ngày nằm

viện nhiều hơn so với bệnh nhân có tình trạng

dinh dưỡng tốt (p<0,001) Nồng độ prealbumin/

huyết thanh ≤ 20 mg/dl gặp ở 75% bệnh nhân có

biến chứng nhiễm trùng sau phẫu thuật (bao

gồm nhiễm trùng vết mổ và xì dò) có và có mối

liên quan với biến chứng NTSM (p=0,048) Vì

vậy nghiên cứu của chúng tôi một lần nữa

khẳng định tầm quan trọng của đánh giá tình

trạng dinh dưỡng trước phẫu thuật cũng như

những ảnh hưởng của suy dinh dưỡng với kết

quả điều trị

Vì những ảnh hưởng nặng nề của tình trạng

suy dinh dưỡng đối với bệnh nhân ngoại khoa,

đặc biệt là trong phẫu thuật gan mật tụy, việc

đánh giá tình trạng dinh dưỡng trước phẫu

thuật là rất quan trọng và cần thiết Qua nghiên

cứu này chúng tôi nhận thấy đánh giá tình trạng

dinh dưỡng trước phẫu thuật theo SGA là phù

hợp, ít tốn kém, không xâm hại, bác sĩ và điều

dưỡng đều có thể thực hiện được Tình trạng

suy dinh dưỡng trước phẫu thuật kéo dài thời

gian nằm viện, làm tăng chi phí điều trị và chăm

sóc, làm giảm chất lượng sống của bệnh nhân

Vì vậy, đánh giá tình trạng dinh dưỡng trước

phẫu thuật nhằm đề ra kế hoạch hỗ trợ dinh dưỡng kịp thời nhằm giảm tỉ lệ biến biến chứng sau phẫu thuật, giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân

Mặc dù nghiên cứu của chúng tôi không chứng minh được mối tương quan giữa albumin/ huyết thanh và biến chứng nhiễm trùng sau phẫu thuật, tuy nhiên với nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như theo khuyến nghị của ESPEN guideline 2006, cần hỗ trợ dinh dưỡng trong vòng 10 – 14 ngày trước phẫu thuật đối với bệnh nhân có albumin/ huyết thanh dưới 3,0 g/dl hay tình trạng suy dinh dưỡng nặng (SGA-C)

Nghiên cứu này còn cho thấy prealbumin/ huyết thanh là một chỉ số có giá trị trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân (kết hợp với phương pháp SGA) đồng thời đây cũng

là một chỉ số có khả năng tiên lượng biến chứng nhiễm trùng sau phẫu thuật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1976) Malnutrition in cardiac surgical patients Results of a prospective, randomized evaluation of early postoperative

parenteral nutrition Arch Surg, 111, pp 45-50

Diagnosis of malnutrition- Screening and Assement Basic in

clinical nutrition ESPEN, pp 11-17

(1989) Use fulness of data on albumin and prealbumin concentrations in determining effectiveness of nutrition

support Clinical chemistry, 35, pp 271-274

evaluation Nutrition, 12, pp 255-259

protein-energy malnutrition in elderly medical patients

American Journal Medicine, 98, pp 67-74

malnutrition in Latin America: the multicenter ELAN study

Nutrition, 19, pp 823-825

on morbidity, mortality, length of hospital stay, and costs

evaluated through a multivariate model analysis Clinical

Nutrition, 22, pp 2–5

S, Mendelson RA and Jeejeebhoy KN (1987) “What is

subjective global assessment of nutritional status?” Journal of

Parenteral and enteral nutrition, 11, (1), pp.8-13

nutrition-associated complications for patients undergoing gastrointestinal surgery JPEN, 11, pp 440–446

Trang 10

10 Devoto G, Gallo F, Marchello C, Racchi O, et al (2006)

Prealbumin serum concentrations as a useful tool in the

assessment of malnutrition in hospitalized patients Clinical

chemistry, 52, (12), pp 2281-2285

of a valid and reliable malnutrition screening tool or adult

acute hospital patients Nutrition, 15, pp 458-464

(1999) Preoperative serum albumin level as a preditor of

operative mortality and morbidity Arch Surg, 134, pp

136-142

surgical patients with varying degrees of malnutrition Journal

of Parenteral and Enteral Nutrition, 10, pp 550-554

Warren JV, Schorah CJ, Morgan DB (1997) Malnutrition in

surgical patients An unrecognised problem Lancet, 26,

1(8013), pp 689–692

multicentrestudy to implement nutritional risk screening and

evaluate clinical outcome Clinical nutrition

Educational and Clinical Practice Committee, European

Society of Parenteral and Enteral Nutrition (ESPEN) ESPEN

Guidelines for nutrition screening 2002 Clinical nutrition, 22,

415-421

Martinsen A, et al (2002) Incidence of nutritional risk and

causes of inadequate nutritional care in hospitals Clinical

nutrition, 21, 461-468

screening (NRS 2002): a new method based on an analysis of

controlled clinical trials Clinical nutrition, 22, 321-336

nutritional depletion by Nutritional Risk Index associated

woth increased length of hospital stay? A population-based

study J Parenteral Enteral Nutrition, 28, pp 99-104

nhân lúc nhập viện tại bệnh viện Chợ Rẫy Tạp chí Y học, Đại

học Y Dược TP.HCM, tập 13, tr 305-312

suport In: John L Rombeau, Rolando H Rolandelli, eds

(2001) Clinical nutrition: parenteral nutrition Philadelphia:

W.B.Sauders, pp.172-176

recognition of malnutrition in hospital Br Med J, 308, p 945

impact of disease-related malnutrition Clinical nutrition, 27,

pp 5-15

Application of subjective global assessment as a screening

tool for malnutrition in surgical patients in Vietnam Clinical

Nutrition, 25, pp.102-108

et al (2006) The German hospital malnutrition study Clinical

nutrition, 25, pp 563-572

Sumboonnanonda K (2005) Nutrition screening tools and the prediction of postoperative infectious and wound complications: comparison of methods in presence of risk

adjustment Nutrition, 21, pp 691-697

nutritional status in wound healing after replacement

arthroplasty Orthopedics, 25, pp 417-421

(1988) Economic impact of malnutrition: a model system for

hospitalized patients JPEN, 12(4), pp 371–376

Filippi J, et al (2004) Malnutrition is an independent factor

associated with nosocomial infections Br J Nutr, 92, pp

105-111

malnutrition: An evidence based approach to treatmen Oxford: CABI publishing

indicator of surgical risk in patients with chronic peptic ulcer

JAMA, 106, pp 458-460

(2004) The Influence of Nutritional Status on Complications

after Major Intraabdominal Surgery Journal of the American

College of Nutrition, 23, (3), pp 227–232

study group (1991) Preoperative total parental nutrition in

surgical patients N Engl J Med, 325, pp 525-532

Lauque S, et al (1999) The Mini Nutritional Assessment (MNA) and its use in grading the nutritional state of elderly

patients Nutrition, 15, 116-122

malnutrition: the Brazilian National Survey (IBRANUTRI): A

study of 4,000 patients Nutrition, 17, pp 573–580

proportion of protein loss in surgical patients Br J Surg, 75,

pp 880-882

impairment A basic indicator of surgical risk Ann Surg, 207,

pp 290-296

and interpretation of anthropometry Geneva: WHO

hospital malnutrition in Argentina: preliminary results of a

population-based study Nutrition, 19, pp 115-119

Ngày đăng: 12/03/2020, 13:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w