Mục tiêu nghiên cứu Xác lập được cơ sở khoa học phân vùng phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát dựa trên các yếu tố: điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường, tai b
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Cù Thị Trâm
CƠ SỞ KHOA HỌC PHÂN VÙNG PHỤC VỤ QUẢN LÝ TỔNG HỢP ĐỚI BỜ KHU VỰC PHÙ MỸ - PHÙ CÁT, BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Cù Thị Trâm
CƠ SỞ KHOA HỌC PHÂN VÙNG PHỤC VỤ QUẢN LÝ TỔNG HỢP ĐỚI BỜ KHU VỰC PHÙ MỸ - PHÙ CÁT, BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Mã số: 8850101.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Phạm Văn Thanh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Phạm Văn Thanh - người hướng dẫn khoa học đã luôn tận tình chỉ dạy, hướng dẫn, động viên và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các anh, chị đồng nghiệp ở Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển bền vững đã nhiệt tình giúp đỡ, đóng góp ý kiến
và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô khoa Địa lý đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và truyền đạt kiến thức quý báu trong suốt thời gian tôi học tập và rèn luyện tại trường
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn TS Đào Mạnh Tiến – chủ nhiệm đề tài
và các đồng nghiệp thực hiện đề tài độc lập công nghệ cấp nhà nước (ĐTĐLCN.31/16) “Nghiên cứu, đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường, suy thoái hệ sinh thái, xung đột môi trường, xã hội do hoạt động khai thác sa khoáng, cát, sỏi vùng ven biển và biển ven bờ miền Trung Việt Nam (từ Thanh Hóa đến Bình Thuận) và đề xuất giải pháp khai thác bền vững” đã hỗ trợ và cho phép tôi sử dụng các thông tin, dữ liệu để hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè đã luôn động viên
và khuyến khích tôi trong quá trình học tập để đạt được kết quả như ngày hôm nay
Mặc dù đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu, và bản thân tôi cũng rất cố gắng thực hiện tuy nhiên vẫn không tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn, đóng góp từ các thầy cô để có thể hoàn thiện luận văn tốt hơn
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2019
Học viên
Cù Thị Trâm
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU………1
1 Tính cấp thiết 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Cấu trúc luận văn 3
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN, QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 11
1.1.3 Tình hình nghiên cứu tại khu vực Phù Mỹ - Phù Cát 16
1.1.4 Đánh giá mức độ thành công và hạn chế của các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 17
1.1.4.1 Trên thế giới 17
1.1.4.2 Việt Nam 18
1.2 Cơ sở lý luận của luận văn 19
1.2.1 Một số quan điểm 20
1.2.2 Mục tiêu của phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ 21
1.2.3 Lý luận phân vùng quản lý dựa trên cơ sở khoa học tự nhiên 22
1.3 Quan điểm tiếp cận 24
1.3.1 Quan điểm hệ thống 24
1.3.2 Quan điểm quản lý tổng hợp 25
1.3.3 Quan điểm lịch sử 25
Trang 51.3.4 Quan điểm sinh thái học 26
1.3.5 Quan điểm tiếp cận liên ngành và đa ngành 26
1.3.6 Quan điểm phát triển bền vững 27
1.4 Phương pháp nghiên cứu 27
1.4.1 Phương pháp tổng hợp, kế thừa tài liệu 27
1.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 28
1.4.3 Phương pháp thành lập bản đồ 28
1.4.4 Phương pháp tham vấn chuyên gia 29
Chương 2: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI PHỤC VỤ QUẢN LÝ TỔNG HỢP ĐỚI BỜ KHU VỰC PHÙ MỸ - PHÙ CÁT, BÌNH ĐỊNH 30
2.1 Nhân tố điều kiện tự nhiên 30
2.1.1 Vị trí địa lý 30
2.1.2 Địa chất, địa tầng 31
2.1.3 Địa hình, địa mạo 33
2.1.4 Khí hậu, thủy văn, hải văn 33
2.1.4.1 Khí hậu 33
2.1.4.2 Thủy văn 34
2.1.4.3 Hải văn 34
2.2 Nhân tố tài nguyên thiên nhiên 35
2.2.1 Tài nguyên đất 35
2.2.2 Tài nguyên nước 35
2.2.3 Tài nguyên sinh vật 36
2.2.3.1 Độ che phủ 36
2.2.3.2 Các loài đặc hữu, quý hiếm, ngoại lai 37
2.2.3.3 Tài nguyên thủy hải sản 38
2.2.4 Tài nguyên khoáng sản 40
2.2.4.1 Khoáng sản trên đất liền 40
2.2.4.2 Khoáng sản đáy biển 40
Trang 62.2.5 Hệ sinh thái 41
2.2.5.1 Hệ sinh thái rừng ngập mặn 41
2.2.5.2 Hệ sinh thái cỏ biển 43
2.2.5.3 Hệ sinh thái cồn cát 43
2.3 Nhân tố môi trường và tai biến thiên nhiên 43
2.3.1 Môi trường không khí 43
2.3.2 Môi trường đất/trầm tích 46
2.3.2.1 Hiện trạng và dự báo ô nhiễm môi trường đất 46
2.3.2.2 Môi trường trầm tích 49
2.3.3 Môi trường nước 50
2.3.3.1 Môi trường nước trên đất liền 50
2.3.3.2 Môi trường nước biển 51
2.3.4 Tai biến thiên nhiên 55
2.4 Nhân tố kinh tế - xã hội 59
2.4.1 Dân cư 59
2.4.2 Cơ sở hạ tầng 60
2.4.3 Phát triển các ngành kinh tế 60
2.4.3.1 Nông nghiệp 60
2.4.3.2 Công nghiệp 62
2.4.4 Phát triển đô thị 66
2.4.5 Xung đột lợi ích trong sử dụng tài nguyên đới bờ 66
2.4.5.1 Xung đột giữa khai thác khoáng sản với nhóm khác 67
2.4.5.2 Xung đột giữa nuôi trồng thủy, sản với nhóm khác 69
2.4.5.3 Xung đột giữa khai thác thủy, hải sản với nhóm khác 71
Chương 3: PHÂN VÙNG QUẢN LÝ TỔNG HỢP ĐỚI BỜ KHU VỰC PHÙ MỸ - PHÙ CÁT, BÌNH ĐỊNH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TỔNG HỢP 72
3.1 Nguyên tắc phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát 72
Trang 73.2 Phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát, Bình
Định 74
3.3 Đề xuất giải pháp quản lý tổng hợp đới bờ 94
3.3.1 Giải pháp chính sách và pháp luật 94
3.3.2 Giải pháp khoa học, kỹ thuật và công nghệ 96
3.3.3 Giải pháp tổ chức thực hiện 100
3.3.4 Giải pháp tuyên truyền, giáo dục 101
3.3.5 Giải pháp giải quyết các xung đột trong quản lý tổng hợp đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát 103
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Danh sách các loài đặc hữu, quý, hiếm 37 Bảng 2.2 Nồng độ các bụi và khí tại một số điểm quan trắc ở đới bờ khu vựcPhù Mỹ - Phù Cát, Bình Định 44 Bảng 2.3 Kết quả phân tích đất đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát 46 Bảng 2.4 Kết quả phân tích trầm tích đáy đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát 49 Bảng 2.5 Nồng độ các kim loại nặng trong môi trường nước ven biển khu vực Đề Gi 51 Bảng 2.6 Hàm lượng các nguyên tố và aninon trong nước biển 54 Bảng 3.1 Sự phân dị các yếu tố về điều kiện tự nhiên, môi trường, tai biến thiên nhiên và kinh tế - xã hội các vùng trong đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát 79 Bảng 3.2 Cơ chế vận hành (ma trận tương thích) các hoạt động phát triển trong vùng nghiên cứu 92
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu 3 Hình 1.1 Sơ đồ phân vùng và quy hoạch không gian Công viên biển quốc tế Dải san hô lớn 5 Hình 1.2 Sơ đồ quy hoạch không gian biển của Mỹ 6 Hình 1.3 Sơ đồ phân vùng chức năng và quản lý đới bờ Hạ Môn - Trung Quốc 9 Hình 1.4 Sơ đồ phân vùng quản lý tổng hợp ven biển vịnh Hạ Long, Quảng Ninh12 Hình 1.5 Sơ đồ phân vùng quản lý tổng hợp thành phố Phan Thiết 14 Hình 1.6 Sơ đồ phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ khu vực biển vịnh Côn Sơn 15 Hình 2.1 Vị trí địa lý và phạm vi không gian nghiên cứu 30 Hình 2.2 Bản đồ nền địa chất, trầm tích đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát, Bình Định 32 Hình 2.3 Bản đồ phân bố các hệ sinh thái tự nhiên điển hình đới bờ khu vực Phù
Mỹ - Phù Cát, Bình Định ……… 42 Hình 2.4 Bản đồ ô nhiễm và nguy cơ ô nhiễm không khí đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát, Bình Định 45 Hình 2.5 Bản đồ ô nhiễm và nguy cơ ô nhiễm môi trường đất và trầm tích đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát 48 Hình 2.6 Bản đồ hiện trạng và dự báo ô nhiễm môi trường nước đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát 53 Hình 2.7 Nguy cơ ngập úng với mực nước biển dâng 80cm tỉnh Bình Định 59 Hình 2.8 Bản đồ hiện trạng và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát, Bình Định 65 Hình 3.1 Bản đồ phân vùng phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát, Bình Định 90
Trang 10DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CBHD Cán bộ hướng dẫn
FAO Food and Agriculture Organization
of the United Nations
Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc
GBRMP The Great Barrier Reef Marine Park Công viên biển dải san hô lớn GEF Global Environment Facility Quỹ môi trường toàn cầu
IMOLA Integrated Management of Lagoon
Activities
Dự án Quản lý tổng hợp các hoạt động đầm phá
IUCN International Union for Conservatio
VNICZM Vietnam-Netherlands Integrated
Coastal Zone Management
Dự án Việt Nam - Hà Lan về quản lý tổng hợp đới bờ
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Đới bờ bao gồm vùng đất liền ven biển và vùng biển ven bờ, là vùng có chế
độ động lực biến động mạnh, môi trường liên thông, có các hệ sinh thái đặc thù, rất nhạy cảm với thiên tai, biến đổi khí hậu và nước biển dâng Đây cũng là khu vực có hoạt động phát triển kinh tế - xã hội sôi động, yêu cầu khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đới bờ ngày càng được đặt ra cấp bách
Đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát thuộc một phần huyện Phù Mỹ và huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định Nằm ở khu vực ven biển với đường bờ biển dài và sở hữu đầm Đề Gi (Vịnh Nước Ngọt), khu vực đới bờ Phù Mỹ - Phù Cát có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Định Trong những thập niên gần đây, hoạt động nuôi trồng, khai thác, đánh bắt quá mức thủy hải sản vùng ven bờ và khai thác khoáng sản một cách ồ ạt phá vỡ quy hoạch, gây ô nhiễm môi trường làm thay đổi hệ tự nhiên và ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư khu vực đới bờ Đặc biệt, tại đầm Đề Gi, nhiều hoạt động khai thác sử dụng tài nguyên đang diễn ra xung quanh và trên mặt nước của đầm, cộng đồng dân cư xung quanh sống phụ thuộc nhiều vào tài nguyên tại chỗ và một số xung đột lợi ích đã diễn ra
Theo Ban chỉ huy phòng chống lụt bão huyện Phù Cát, ven biển thường bị đe dọa bởi triều cường, ngập lụt và sạt lở đất, không đảm bảo an toàn mỗi khi xảy ra mưa lũ lớn Tại khu vực cửa Đề Gi, lụt, bão, sóng biển làm sạt lở bờ biển, biến dạng các cồn cát, đất cát di chuyển vào vùng trong thu hẹp đất canh tác, lấn dần vào khu dân cư dẫn đến địa hình và độ phì nhiêu của đất bị biến đổi ngày càng xấu; luồng tàu qua cửa biển quan trọng bị bồi lấp nặng và biến đổi thường xuyên gây nhiều bất lợi cho hoạt động giao thông vận tải biển cũng như khả năng thoát lũ qua cửa Đề Gi
Kết quả của nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã chứng minh rằng mực nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan là một trong số những nguyên nhân cơ bản gây ra các tác động tàn phá đối với việc phát triển cơ sở hạ tầng ở vùng ven biển Một giải pháp tích cực để giảm nhẹ những tác động này là thiết lập hành
Trang 12lang bảo vệ bờ biển và thực hiện việc quản lý các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên trong phạm vi hành lang Do đó, việc nghiên cứu tìm ra giải pháp đảm bảo
sự phát triển bền vững và hài hòa lợi ích là vô cùng cần thiết Vì vậy, học viên đã
lựa chọn vấn đề “Cơ sở khoa học phân vùng phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ khu
vực Phù Mỹ - Phù Cát, Bình Định” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác lập được cơ sở khoa học phân vùng phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát dựa trên các yếu tố: điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường, tai biến tự nhiên,kinh tế xã hội và đề xuất được các giải pháp quản lý tổng hợp
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác lập cơ sở khoa học phục vụ phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát;
- Phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát;
- Xây dựng các giải pháp quản lý tổng hợp đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: cơ sở khoa học về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường, tai biến thiên nhiên và kinh tế xã hội phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát, trọng điểm là vùng đầm Đề Gi
- Phạm vi không gian: Theo quyết định số 2295/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 17 tháng 12 năm 2014 về phê duyệt chiến lược quản lý tổng hợp đới
bờ Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 nên học viên xác địnhđới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát bao gồm ranh giới trên đất liền là ranh giới hành chính của các xã Mỹ Thành, Mỹ Chánh, Mỹ Cát thuộc huyện Phù Mỹ và xã Cát Minh, Cát Khánh thuộc huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định; ranh giới về phía biển đến 6 hải lý tính từ đường bờ (Hình 1)
Trang 13Hình 1 Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu (thu nhỏ từ tỷ lệ 1:25.000)
(Người thành lập: Cù Thị Trâm; CBHD: TS Phạm Văn Thanh)
- Phạm vi nghiên cứu khoa học: các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, tài nguyên môi trường, tai biến tự nhiên, đặc biệt là biến đổi khí hậu và các vấn đề về phát triển kinh tế - xã hội tại đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận, quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Phân tích các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ khu vực Phù Cát – Phù Mỹ, Bình Định
Chương 3: Phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát, Bình Định và đề xuất giải pháp quản lý tổng hợp
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN, QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Một số các nước ở Bắc Mỹ và Châu Âu đã đi đầu thế giới trong việc thực hiện phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ bằng các chính sách và sáng kiến riêng của mỗi nước Những năm sau đó, các quốc gia khác cũng bắt đầu áp dụng phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ và quy hoạch không gian biển (đại dương) nhằm giảm thiểu các xung đột và sử dụng tài nguyên vùng ven biển và vùng biển bền vững hơn Một trong những quốc gia thành công nhất là Australia với hệ thống phân vùng quản lý Công viên biển Dải san hô lớn Sau đó, một số các nước khác như Hoa Kỳ, Thụy Điển, Canada, Philipines, Trung Quốc,… cũng lần lượt có các kế hoạch tiếp cận phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ trong các kế hoạch phát triển Đến đầu thế kỷ XXI, trên thế giới có khoảng hơn 380 vùng, lãnh thổ thực hiện quản lý vùng bờ biển và sau gần bốn thập kỷ thực hành, quản lý tổng hợp vùng bờ biển đã thu được những thành tựu nhất định, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững vùng bờ biển [33]
Australia
Một trong những trường hợp nổi bật nhất ở Australia về phân vùng quản lý tổng hợp là Công viên biển quốc tế Dải san hô lớn (The Great Barrier Reef Marine Park) Đây được coi là một trong những hệ sinh thái đa dạng và phức tạp nhất thế giới, là cấu trúc sống lớn nhất trên hành tinh với hàng ngàn loài khác nhau Năm 1981, kế hoạch phân vùng và quy hoạch không gian trong GBRMP lần đầu tiên được triển khai, được coi là nền tảng cho công tác quản lý vùng bờ biển Phân vùng đảm bảo cho việc bảo tồn toàn bộ khu vực, giảm thiểu các tác động và xung đột, đồng thời bảo vệ các khu vực mang tính đại diện, trong khi vẫn cho phép các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên được phép tiếp tục hoạt động tại các vùng khác nhau
Thông qua đó, dải san hô lớn được phân chia thành 7 vùng chức năng khác nhau để quản lý, sử dụng hiệu quả và thích ứng với bản chất tự nhiên của từng vùng:
Trang 15phân khu sử dụng chung, phân khu bảo tồn nơi cư trú, phân khu bảo tồn cửa sông, phân khu công viên bảo tồn, phân khu đệm, phân khu vườn quốc gia và phân khu bảo vệ
nghiêm ngặt (Hình 1.1) Khoảng 4,5 % diện tích của GBRMP được chỉ định là vùng
“không tác động” Tuy nhiên, kết quả quan trắc những năm 1990 cho thấy, mục tiêu
bảo vệ hệ sinh thái đã không đạt được và phải thực hiện tái quy hoạch và tăng diện tích
các vùng “không tác động” lên khoảng 1/3 tổng diện tích của GBRMP
Hình 1.1 Sơ đồ phân vùng và quy hoạch không gian Công viên biển quốc tế
Dải san hô lớn [41]
Với gần 40 năm kinh nghiệm áp dụng quy hoạch không gian biển, GBRMP được xem như là một mô hình mẫu về áp dụng các giải pháp phân vùng
Trang 16 Hoa Kỳ
Là quốc gia đi đầu trong chiến lược quản lý và phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ, Hoa Kỳ đã ban hành Đạo luật Quản lý tổng hợp đới bờ số 6217 năm 1972 Đạo luật này ra đời nhằm tăng cường sự tham gia và phối hợp của các bên liên quan trong việc đưa ra các chương trình liên quan đến vùng ven biển và giải quyết mâu thuẫn giữa các nhóm lợi ích vùng ven biển Bên cạnh Đạo luật quản lý tổng hợp đới
bờ, Hoa Kỳ cũng ban hành thêm nhiều đạo luật chuyên ngành có liên quan để hỗ trợ thực thi, tạo thành một cơ chế quản lý tổng hợp tương đối hiệu quả đối với vùng
biển và ven biển [39]
Hoa Kỳ được chia thành 9 vùng quy hoạch Mỗi vùng sẽ có một cơ quan quy hoạch tương ứng gồm các đại diện của liên bang, bang và các bên liên quan để cùng xác định các mục tiêu, mục đích và cuối cùng là bản quy hoạch biển và ven biển của vùng (Hình 1.2)
Hình 1.2 Sơ đồ quy hoạch không gian biển của Mỹ [40]
Mặc dù ra đời sớm nhưng Luật Quản lý tổng hợp đới bờ của Hoa Kỳ đã thể hiện ưu điểm vượt trội so với luật của các quốc gia khác Đạo luật này có đề cập đến
Trang 17các vấn đề phân vùng phục vụ quản lý Trong đó, ngoài việc quản lý về mặt hành chính và chuyên môn theo các cơ quan trung ương, các cơ quan quản lý ngành thì hoạt động quản lý vùng biển của Hoa Kỳ còn được phân theo từng bang, từng địa phương Đồng thời giữa các phương thức quản lý này có sự kết hợp chặt chẽ và được hỗ trợ bởi các cơ chế trung gian có thẩm quyền nhà nước Đây được coi là một
mô hình quản lý tổng hợp tương đối chặt chẽ và hiệu quả
Như vậy, tuy mô hình quản lý tổng hợp đới bờ ở Thụy Điển tiếp cận theo hướng đa ngành nhưng không dàn trải mà ưu tiên một số các khía cạnh chủ đạo
Singapore
Vùng bờ biển Singapore được quản lý theo phương thức tổng hợp và liên ngành trên nền tảng bền vững mà sự thành công là nhờ sự hỗ trợ mạnh mẽ và sự cam kết của cộng đồng và chính quyền [31] Vì vậy, quản lý tổng hợp bờ biển đã giải quyết được những nhiệm vụ cơ bản của quốc gia, phát huy cao độ giá trị của nguồn tài nguyên khan hiếm, dài hạn vì lợi ích của cả đất nước Những vấn đề sử dụng tài nguyên ở đây thường liên quan đến quy hoạch sử dụng đất, khai hoang ven
Trang 18bờ biển, định cư, giao thông và truyền thông, công nghiệp, thương mại, du lịch và nghỉ dưỡng, an ninh quốc phòng, nông nghiệp, khoa học biển và giáo dục
Cũng như Thụy Điển, Singapore đặt vấn đề quy hoạch lên hàng đầu, còn tài nguyên được sử dụng thông minh trên cơ sở tổng hợp và bền vững Những vấn đề quản lý mà Singapore đã xem xét và xác định quan trọng nhất là:
(i) Xung đột nhóm lợi ích trong việc sử dụng tài nguyên, trong đó ô nhiễm biển và suy thoái môi trường ven bờ là hai vấn đề trọng tâm của sự xung đột lợi ích
ra đời trên cơ sở Dự án trình diễn Hạ Môn GEF/UNDP/IMO đến nay đã trải qua 3 chu trình thực hiện theo mô hình PEMSEA theo 6 bước (chuẩn bị; khởi động; xây dựng; thông qua; thực hiện và sàng lọc, củng cố)
Năm 1997, chính quyền thành phố đã ban hành quy định hành chính, thông qua Kế hoạch giảm xung đột sử dụng tài nguyên biển, tối đa hóa các lợi ích kinh tế -
xã hội từ việc sử dụng tài nguyên biển và ven bờ biển, bảo vệ môi trường biển, bảo tồn đa dạng sinh học và đảm bảo phát triển bền vững các vùng biển của Hạ Môn Vùng nước ven bờ Hạ Môn được chia thành các vùng quản lý cho phép các hoạt động phát triển (Hình 1.3) [37] Các ưu tiên triển khai phân vùng được sắp xếp trên
Trang 19cơ sở ước tính về lợi ích kinh tế - xã hội và tác động môi trường do việc sử dụng gây ra và tránh xung đột tạo ra một xã hội phát triển hài hòa
Hình 1.3 Sơ đồ phân vùng chức năng và quản lý đới bờ Hạ Môn - Trung Quốc [37]
Bài học thành công của mô hình quản lý tổng hợp đới bờ ở Hạ Môn trước hết
là thắng lợi của ý chí chính trị thông qua sự hỗ trợ về luật pháp, chính sách và tài chính, với sự ủng hộ của các cấp chính quyền nhằm tạo một hình mẫu tốt cho Trung Quốc và thế giới Việc thực thi chính sách và luật pháp nghiêm minh đã tạo nên sự nhất quán và động lực thúc đẩy thực thi chương trình quản lý tổng hợp đới bờ Sự đồng thuận của các tổ chức tham gia và của các bên có lợi ích cũng là nhân tố quan trọng đảm bảo cho sự thành công này Sự đồng thuận không chỉ là tự nguyện, mà còn là chế tài trong khuôn khổ của luật định Vấn đề thuế và phí môi trường được thực hiện nghiêm chỉnh, tạo nên nguồn tài chính bền vững cho quản lý tổng hợp đới
bờ, đảm bảo cho quá trình này phát triển theo hướng “tự lực - tự chủ” [35], [36]
Đông Nam Á
Các nước Đông Nam Á triển khai thực hiện quản lý tổng hợp đới bờ khá muộn so với các nước Bắc Mỹ và Châu Âu, phổ biến nhất trong thời kỳ nhận được
Trang 20sự tài trợ cho các dự án thí điểm từ các nước phát triển và các tổ chức trên thế giới Trong đó, quy mô lớn nhất là các dự án điểm quản lý tổng hợp đới bờ theo hệ thống của Chương trình phối hợp quản lý môi trường các vùng biển Đông Á (PEMSEA) với sự hỗ trợ của Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF), Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) và Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) thực hiện trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI Những dự án điểm này được triển khai ở Shianoukville (Campuchia), Bali (Indonesia), Klang (Malaysia), Batangas (Philippine), Chonburi (Thái Lan) và Đà Nẵng (Việt Nam) [35]
Luật 22/1999 thể hiện rõ ý chí chính trị của chính phủ Indonesia là phi tập trung quản lý đới bờ và tăng cường vai trò cộng đồng trong quản lý tài nguyên Indonesia cho rằng quản lý hành chính tập trung sẽ tạo ra chính sách môi trường áp dụng đồng nhất tại tất cả các vùng của đất nước, thiếu xem xét những vấn đề địa phương và sự đa dạng, phức tạp về kinh tế, văn hóa, xã hội và sẽ tạo ra khuôn phép nặng nề làm hạn chế khả năng suy nghĩ và sáng tạo của chính quyền và cộng đồng địa phương [34] Đến năm 2010, Indonesia thông qua Luật quản lý vùng bờ và các đảo nhỏ Ở Đông Nam Á, Philippines là nước đã thực hiện nhiều nhất các dự án Quản lý tổng hợp vùng bờ Các dự án nhận được sự hỗ trợ nhiều nhất là của chương trình khu vực GEF/UNDP/IMO/PEMSEA đã được triển khai tại Batangas, Bataan, Cavitae, vịnh Manila và Puerto Galera Trong đó, dự án quản lý tổng hợp vùng bờ biển thực hiện trên cơ sở tự chủ - tự quản được coi là thành công hơn cả tại Batangas [32], [35] Ngoài Indonesia thì Thái Lan cũng là nước theo hướng quản lý phi tập trung với phương thức đồng quản lý hoặc quản lý dựa vào cộng đồng Tuy nhiên, Malaysia lại tiếp cận quản lý đới bờ bằng thể thức tập trung hóa theo định hướng tổng hợp đã thu được nhiều kết quả tốt và cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường [34]
Như vậy, quản lý tổng hợp đới bờ là hình thức quản lý mang tính chất liên ngành, đa mục tiêu, đa lợi ích và là chìa khóa vàng cho phát triển bền vững Ở mỗi quốc gia, quan điểm và chính sách về quản lý tổng hợp đới bờ có những nét riêng, chưa hẳn là cách quản lý tốt nhất và chủ đạo Ở một số quốc gia, vai trò quản lý đới
Trang 21bờ phi tập trung và phát triển các mô hình chủ đạo kiểu “quản lý theo ngành”,
“đồng quản lý” hay “quản lý dựa vào cộng đồng” vẫn rất được coi trọng Ở một vài quốc gia khác, lại đi theo con đường quản lý tập trung dựa trên những kinh nghiệm vốn có về cách thức quản lý trong phát triển nền kinh tế tập trung trước kia Do đó,
ở mỗi quốc gia, trong mỗi hoàn cảnh, quản lý tổng hợp đới bờ cũng không nên tuyệt đối hóa mà cần có sự phối hợp giữa các hình thức quản lý ở quy mô phù hợp nhất
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Tiếp cận quản lý tổng hợp đới bờ và phân vùng quản lý tổng hợp ở Việt Nam
đã trải qua hơn 10 năm kể từ đề tài cấp nhà nước KHCN.06.07 “Nghiên cứu và xây
dựng phương án quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam nhằm đảm bảo an toàn sinh thái
và phát triển bền vững”, do Viện Tài nguyên và Môi trường biển chủ trì thực hiện
trong thời gian 1996 - 1999 với 2 trọng điểm nghiên cứu là khu vực Đồ Sơn - Cát
Bà - Hạ Long và Đà Nẵng Kết quả của đề tài là đã xây dựng được hệ phương pháp luận quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam; xây dựng khuôn khổ hành động quản lý đới
bờ Việt Nam và một bộ Atlat về đới bờ Việt Nam trong đó có các vùng thuộc đới
bờ châu thổ sông Cửu Long [7]
Trong thời gian 2000 - 2002, Viện Hải dương học Nha Trang đã tiến hành nhiệm vụ nghiên cứu nhằm xây dựng phương án quản lý tổng hợp đới bờ Nam Trung Bộ với trọng điểm Bình Định theo Nghị định thư hợp tác Việt Nam - Ấn Độ [1] Tiếp theo, một số dự án triển khai đã được tiến hành với sự hỗ trợ về chuyên gia, tài chính của một số nước và tổ chức quốc tế
Thành công nhất về mặt lý luận và thực tiễn có lẽ là dự án quản lý tổng hợp đới bờ tại Đà Nẵng, nằm trong khuôn khổ chương trình hợp tác về quản lý môi trường và các biển Đông Á (IMO/GEF/PEMSEA) giai đoạn một vào năm 2000 -
2006 và giai đoạn hai được tiếp tục từ năm 2009 Kế hoạch này hỗ trợ kế hoạch phát triển thành phố thông minh, xanh, sạch của thành phố Đà Nẵng Dự án được thực hiện dựa trên 15 nguyên tắc phân vùng chức năng vùng bờ và theo các bước quy định trong hướng dẫn PEMSEA [19] Trong giai đoạn 2000 - 2006, dự án Việt
Trang 22Nam - Hà Lan về quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam (VNICZM) được thực hiện ở 3 vùng trọng điểm là Nam Định, Thừa Thiên Huế và Bà Rịa - Vũng Tàu
Dự án hợp tác về quản lý tổng hợp đới bờ Hạ Long do IUCN Việt Nam, Bộ Thủy sản và Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh thực hiện trong khuôn khổ hợp tác với Hoa Kỳ (NOAA) trong giai đoạn 1: 2003 - 2004 và giai đoạn 2: 2006 - 2008 Nguyễn Chu Hồi và các tác giả của dự án này đã phân đới bờ vịnh Hạ Long ra các vùng nhỏ được phép hoặc không được phép hoạt động phát triển kinh tế - xã hội hoặc bảo tồn (Hình 1.4) [8]
Hình 1.4 Sơ đồ phân vùng quản lý tổng hợp ven biển vịnh Hạ Long, Quảng Ninh [8]
Gần đây nhất là Dự án quản lý tổng hợp các hoạt động trên đầm phá (IMOLA) ở Tam Giang - Cầu Hai do FAO tài trợ với sự hỗ trợ của các chuyên gia Italia thực hiện từ năm 2005 và đã tiếp tục ở pha hai Chỉ riêng dự án quản lý tổng hợp đới bờ Quảng Nam (2005 - 2007) là mô hình quản lý tổng hợp đới bờ cấp tỉnh
Trang 23lần đầu tiên do các nhà khoa học và quản lý Việt Nam xây dựng và thực hiện theo kinh nghiệm của Đà Nẵng [19]
Đề tài 17/2004/HĐ-ĐTNĐT hợp tác Việt Nam - Hoa Kỳ theo Nghị định thư
“Quy hoạch và lập kế hoạch quản lý tổng hợp đới bờ vịnh Hạ Long, Quảng Ninh”
do Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản (Bộ thủy sản) chủ trì, PGS.TS Nguyễn Chu Hồilàm chủ nhiệm đã đưa ra được sơ đồ phân vùng chức năng đới bờ vịnh Hạ Long
và xây dựng được chiến lược quản lý tổng hợp đới bờ vịnh Hạ Long [8]
Đề tài KC.09.27/06-10 “Cơ sở khoa học và pháp lý phân vùng quản lý tổng
hợp đới bờ Việt Nam” tỷ lệ 1:500.000 do Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển
bền vững chủ trì, TS Nguyễn Thế Tưởng làm chủ nhiệm đã xây dựng được các cơ
sở khoa học và pháp lý phục vụ phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển và phân chia vùng ven biển Việt Nam ra các vùng, tiểu vùng khác nhau trên cơ sở quản
lý tổng hợp về điều kiện tự nhiên, tài nguyên môi trường và đặc trưng kinh tế - xã hội [26]
Cuốn sách chuyên khảo do TS Đào Mạnh Tiến chủ biên “Quản lý tổng hợp
và phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam” năm 2011 đã trình bày nội dung
và kết quả trong công tác quản lý tổng hợp và phân vùng sử dụng, quản lý tổng hợp trên thế giới và ở Việt Nam [21] Hơn thế, các tác giả đã đề xuất các phương án quản lý liên ngành, liên đối tượng, liên khu vực với phương thức quản lý hành chính từ trên xuống và quản lý có sự tham gia của cộng động từ dưới lên
Đề tài KC.09.13/06-10 “Lập luận chứng khoa học kỹ thuật về mô hình quản
lý tổng hợp và phát triển bền vững dải ven bờ Tây Vịnh Bắc Bộ”, do Trần Đức
Thạnh chủ biên đã đề xuất được các tiêu chí, phương pháp phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ Tây vịnh Bắc Bộ và xây dựng được Bản đồ phân vùng quản lý tổng hợp theo các cấp độ liên vùng, liên tỉnh, … [18]
Đề tài “Luận chứng khoa học kỹ thuật phục vụ cho quản lý tổng hợp và phát
triển bền vững dải ven bờ Nam Trung Bộ đáp ứng mục tiêu chiến lược kinh tế biển”
do Bùi Hồng Long chủ nhiệm, đã đưa ra được sơ đồ phân vùng chức năng và quản
Trang 24lý tổng hợp vùng ven biển Nam Trung Bộ, thí điểm là vùng ven biển Thành phố Phan Thiết (Hình 1.5) [11]
Hình 1.5 Sơ đồ phân vùng quản lý tổng hợp thành phố Phan Thiết [11] Chương trình Nghiên cứu khoa học và Công nghệ biển phục vụ quản lý biển, hải đảo và an ninh quốc phòng giai đoạn 2011 - 2015 đã được phê duyệt và triển
khai Đề tài KC.09.10/11-15 “Cơ sở khoa học và pháp lý phân vùng quản lý tổng
hợp đới bờ châu thổ Sông Cửu Long phục vụ cho phát triển bền vững biển, đảo và đảm bảo an ninh quốc phòng” được phê duyệt vào năm 2012 do TS Nguyễn Thế
Tưởng làm chủ nhiệm và Viện Tài nguyên Môi trường và Phát triển bền vững chủ trì [27] Đề tài đã xác định được cơ sở khoa học và pháp lý với độ tin cậy cao phục
vụ cho quản lý tổng hợp và phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ châu thổ sông Cửu Long và 5 vùng trọng điểm là cửa Cung Hầu - Cổ Chiên, cửa Trần Đề - Mỹ Thạnh, cửa sông Ông Đốc, vịnh Côn Sơn, vịnh Cây Dương
Đề tài KC.09.12/11-15 “Luận cứ khoa học cho hoạch định không gian phát
triển kinh tế, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đới bờ biển Đà Nẵng
- Khánh Hòa” năm 2010, do Đại học khoa học tự nhiên thực hiện, GS.TS Nguyễn
Trang 25Cao Huần chủ trì đã xây dựng được luận cứ khoa học cho hoạch định không gian phát triển kinh tế với sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh quốc phòng trong mối liên kết biển, ven bờ và đảo của đới bờ biển Đà Nẵng - Khánh Hòa [9]
Hình 1.6 Sơ đồ phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ khu vực biển vịnh Côn Sơn (thu
nhỏ từ tỷ lệ 1:25.000) [27]
Đề tài BĐKH-23 “Nghiên cứu đánh giá tác động biến đổi khí hậu đến quy
hoạch sử dụng không gian của một số đầm phá ven biển miền Trung Việt Nam và đề xuất giải pháp ứng phó; thí điểm cho khu kinh tế mở Nhơn Hội, Bình Định” năm
2015 do TS Phạm Văn Thanh làm chủ nhiệm đã xây dựngcác bản đồ phân vùng quy hoạch theo từng loại tài nguyên, chức năng môi trường, tai biến thiên nhiên, mức độ dễ bị tổn thương của các ngành kinh tế và bản đồ phân vùng và định hướng quy hoạch tổng hợp không gian biển đầm phá ven biển từ Thừa Thiên Huế đến Bình Thuận tỷ lệ 1:100.000 và quy hoạch khu kinh tế mở Nhơn Hội tỷ lệ 1:25.000 theo kịch bản biến đổi khí hậu nước biển dâng B2 cho các năm 2030, 2050 và 2100 [16]
Các công trình nêu trên có đóng góp rất to lớn trên phương diện phương pháp luận về kết quả phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven biển Việt Nam cũng như một số kinh nghiệm thực tiễn để áp dụng các kế hoạch phân vùng phục vụ quản
Vùng I: Vùng bảo tồn đảo và biển ven đảo Vùng II: Vùng đệm Vùng III: Vùng phát triển
Trang 26lý tổng hợp đới bờ ở một số khu vực và toàn đới bờ Việt Nam Các hoạt động nói trên đã có những đóng góp quan trọng về phổ biến kiến thức, nâng cao nhận thức và tích lũy kinh nghiệm quản lý tổng hợp đới bờ ở Việt Nam Các dự án đã ưu tiên triển khai một số hoạt động hỗ trợ quản lý cụ thể: Dự án IMO/GEF/PEMSEA ở Đà Nẵng nhấn mạnh đến ngăn ngừa ô nhiễm; các dự án VNICZM hợp tác với Hà Lan
đã ưu tiên quản lý thiên tai (xói lở, dâng cao mực nước biển,…) có liên quan đến biến đổi khí hậu và bảo vệ đất ngập nước; Dự án IUCN/NOAA ở Quảng Ninh chú ý đến các khu bảo tồn biển với sự tham gia của cộng đồng; Dự án IMOLA/FAO đặc biệt đến quản lý các hoạt động thủy sản trên đầm phá Thừa Thiên Huế,… Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả khởi đầu đáng ghi nhận, phân vùng tổng hợp và quản lý tổng hợp đới bờ ở Việt Nam cũng bộc lộ nhiều tồn tại, khó khăn và thách thức to lớn Các tài liệu được thành lập ở các giai đoạn khác nhau nên cũng sẽ thiếu phần đồng nhất Vì vậy, để có thể sử dụng bộ tài liệu một cách hoàn chỉnh, hiệu quả nhất, cần thiết phải hệ thống hóa lại, phối kết hợp cùng công tác khảo sát, điều tra
bổ sung về đặc điểm đới bờ vùng nghiên cứu để phục vụ cho công tác đánh giá, dự báo biến động tài nguyên, môi trường, làm cơ sở khoa học cho phân vùng phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát
1.1.3 Tình hình nghiên cứu tại khu vực Phù Mỹ - Phù Cát
Đới bờ Phù Mỹ - Phù Cát, tỉnh Bình Định nằm trong tổng thể vùng đới bờ Nam Trung Bộ Cho tới nay, mới chỉ có các công trình nghiên cứu về địa chất thủy văn, địa chất môi trường, tai biến địa chất trong các chương trình nghiên cứu của một số tác giả Nguyễn Tiến Dư (2008) [4], Phạm Văn Thanh và nnk (2010) [15], Nguyễn Thế Tưởng (2010) [26], Đào Mạnh Tiến (2015) [22],… Nổi bật nhất trong nghiên cứu về đới bờ ở Phù Cát và Phù Mỹ, Bình Định là các công trình nghiên cứu
của nhóm tác giả Võ Thanh Tịnh và nnk năm 2014 với đề tài “Đánh giá tính bền
vững đới bờ - thí điểm tại huyện Phù Cát, Bình Định” [24] và “ Đánh giá tính bền vững đới bờ huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định trong điều kiện biến đổi khí hậu” [25]
Nhóm tác giả đã xây dựng bộ tiêu chí với 6 nhóm chủ đề, 38 chỉ thị ở Phù Cát, 5
Trang 27nhóm chủ đề, 38 tiêu chí ở Phù Mỹ phục vụ công tác đánh giá tính bền vững vùng đới bờ và thu được kết quả mức độ bền vững ở mức trung bình
Vấn đề xác lập cơ sở khoa học cho phân vùng phục vụ quản lý tổng hợp ở khu vực này thì chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến
1.1.4 Đánh giá mức độ thành công và hạn chế của các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam
1.1.4.1 Trên thế giới
a Thành tựu đạt được
Dựa trên kết quả phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài cho thấy đã có những kết quả nhất định trong việc thực hiện một số bước liên quan đến vấn đề này
- Trên thế giới, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực tiễn trong quản lý tổng hợp đới bờ đã thu được các kết quả đáng kể, giúp cho Việt Nam bước đầu áp dụng và thu được các kết quả nhất định
- Với những nghiên cứu của mình, các tổ chức, các Quốc gia trên Thế giới
đã góp phần xác định được các phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ
- Đặc biệt, đã có một số mô hình phân vùng quản lý tổng hợp và quy hoạch không gian biển đã được thực hiện thành công tại một số quốc gia trên thế giới như Trung Quốc, Mỹ, Autralia, Đông Nam Á Từ kinh nghiệm thực tế và từ các thực hành tốt ở các quốc gia này, vấn đề phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ đã phát triển nhanh chóng Thế giới đã chứng kiến “sự bùng nổ” của các mối quan tâm đến quản lý tổng hợp đới bờ như là một phương thức khả thi để quản lý biển theo không gian, để giải quyết các mâu thuẫn và tăng tính tương thích trong khai thác,
sử dụng tài nguyên và môi trường biển trong bối cảnh sức ép đến vùng bờ và biển ngày càng gia tăng
Trang 28- Do việc phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ phụ thuộc nhiều vào điều kiện
cụ thể (kinh tế, xã hội, cơ chế chính sách, văn hóa, …) của vùng bờ quản lý nên vấn đề vận dụng cơ sở lý luận, thực tiễn và chính sách trên thế giới vào Việt Nam, đặc biệt là vùng nghiên cứu còn nhiều bất cập, cần nghiên cứu chuyên sâu hơn
1.1.4.2 Việt Nam
a Thành tựu đạt được
Dựa trên kết quả phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài cho thấy tuy chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát, Bình Định nhưng
đã có những kết quả nhất định trong việc thực hiện một số bước liên quan đến vấn
đề này Cụ thể:
- Cơ sở khoa học quy hoạch không gian vùng nghiên cứu về đặc điểm tự nhiên, tài nguyên, môi trường, tai biến thiên nhiên, kinh tế xã hội và pháp lý khá đa dạng Các nghiên cứu được thực hiện ở nhiều cấp độ từ các đề tài khoa học công nghệ cấp nhà nước, các đề tài cấp bộ/ngành đến các đề án/dự án hợp tác quốc tế Việc thu thập, tổng hợp đầy đủ các tài liệu đó là cơ sở khoa học có giá trị sử dụng cao, phục vụ cho nội dung nghiên cứu và thực hiện các nhiệm vụ của đề tài
- Tại Việt Nam, xét trên toàn diện, các nghiên cứu này đã phần nào đưa ra được cách nhìn tổng thể trong việc xây dựng tiêu chí phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ ở một số khu vực
b Hạn chế
- Cơ sở khoa học quy hoạch không gian vùng nghiên cứu về đặc điểm tự nhiên, tài nguyên, môi trường, tai biến thiên nhiên, kinh tế xã hội và pháp lý khá đa
Trang 29dạng Tuy nhiên, các tài liệu được thành lập ở các giai đoạn khác nhau nên cũng sẽ thiếu phần đồng nhất Vì vậy, để có thể sử dụng bộ tài liệu một cách hoàn chỉnh, hiệu quả nhất, cần thiết phải hệ thống hóa lại, phối kết hợp cùng công tác khảo sát điều tra bổ sung về đặc điểm vùng bờ vùng nghiên cứu để phục vụ cho công tác đánh giá, dự báo biến động tài nguyên, môi trường, làm cơ sở khoa học cho phân vùng phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát, Bình Định
- Mặc dù các nghiên cứu về mẫu thuẫn lợi ích và xung đột môi trường cũng
đã phần nào xác định được mâu thuẫn lợi ích giữa các đối tác khai thác và sử dụng vùng bờ, xung đột không gian giữa các ngành và các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ nhưng chưa thật sự đầy đủ và thống nhất, đặc biệt thiếu vắng các giải pháp giải quyết các mâu thuẫn và xung đột
- Các nghiên cứu về phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ đã có những kết quả khá tốt, song khuyết thiếu hẳn nghiên cứu tổng hợp các điểu kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường, tai biến thiên nhiên, kinh tế xã hội và sự phân dị/phân hóa chúng cho định hướng không gian khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên và bảo
vệ môi trường Mặc dù các nghiên cứu có chú ý tới biển, song vấn đề định hướng phát triển kinh tế theo các không gian trên biển thường chưa được chú ý đúng mức,
có lẽ do nguồn tài liệu thực sự chưa đầy đủ
- Một số lĩnh vực kinh tế vùng bờ có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhưng chưa được quan tâm đúng mức như đặc khu kinh tế dưới sự phụ trợ của hệ thống cảng biển nước sâu kéo dài, vấn đề bảo vệ môi trường đới bờ
- Các hệ thống văn bản pháp lý về phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ ở Việt Nam còn ít và chưa đầy đủ
Từ các cơ sở nêu trên có thể thấy, đề tài “Cơ sở khoa học phân vùng phục vụ
quản lý tổng hợp đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát, Bình Định” không bị trùng lặp
với bất kỳ đề tài nào và việc nghiên cứu thực sự cấp thiết đối với lĩnh vực liên quan
1.2 Cơ sở lý luận của luận văn
Qua việc nghiên cứu và đánh giá các công trình đã được nghiên cứu trên Thế
Trang 30giới và Việt Nam có liên quan, tác giả đã đưa ra được một số các nhận định làm cơ
sở cho việc xác định cơ sở lý luận của luận văn như sau:
1.2.1 Một số quan điểm
Đới bờ và phạm vi nghiên cứu của đới bờ
Ở mỗi quốc gia, mỗi khu vực và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu, đới bờ và phạm vi ranh giới của đới bờ có nhiều quan điểm khác nhau phụ thuộc vào quan niệm và mục đích của các hoạt động quản lý
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, học viên quan niệm đới bờ Phù Mỹ - Phù Cát là khu vực chuyển tiếp giữa lục địa và biển, được đặc trưng bởi các quá trình tương tác trực tiếp và mạnh mẽ giữa phần lục địa và biển, giữa nước ngọt và nước mặn và có sự tương tác chặt chẽ giữa các hệ sinh thái khác nhau trong dải và
có quan hệ nhân quả giữa hoạt động nhân sinh và môi trường tự nhiên [27] Về phạm vi ranh giới của đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát bao gồm trên đất liền là ranh giới hành chính của các xã Mỹ Thành, Mỹ Chánh, Mỹ Cát thuộc huyện Phù
Mỹ và xã Cát Minh, Cát Khánh thuộc huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định; ranh giới về phía biển đến 6 hải lý tính từ đường bờ
Quản lý tổng hợp đới bờ
Quản lý tổng hợp (Integrated Management) đã và đang áp dụng ngày càng rộng rãi trên thế giới trong quản lý đại dương và vùng ven bờ Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về quản lý tổng hợp đới bờ Tiếp cận trên nhiều khía cạnh, quản lý tổng hợp được biết đến như là quản lý tổng hợp bờ biển (ICM - Integrated Coastal Management), quản lý tổng hợp đới bờ (ICZM - Integrated Coastal Zone Management); quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển (ICAM - Integrated Coastal Area Management), quản lý tổng hợp tài nguyên ven bờ (ICRM - Integrated Coastal Resource Management), quản lý tổng hợp vùng ven bờ và đại dương (ICOM - Integrated Coastal and Ocean Management), quản lý tổng hợp lưu vực (Integrated Watershed Management)
Mặc dù có rất nhiều định nghĩa về quản lý tổng hợp đới bờ nhưng về bản chất các định nghĩa đều có sự tương đồng nhau Hầu hết các định nghĩa đều cho
Trang 31rằng quản lý tổng hợp đới bờ là một quá trình liên tục, tiên phong trong thực hiện và
có khả năng thích nghi cao nhằm quản lý nguồn tài nguyên cho sự phát triển bền vững vùng đới bờ Vì vậy, ta có thể hiểu quản lý tổng hợp đới bờ là việc đánh giá toàn diện, đặt ra các mục tiêu, quy hoạch và quản lý các hệ thống tài nguyên ven biển, có xét đến các yếu tố lịch sử văn hóa và truyền thống, và các lợi ích trong mâu thuẫn sử dụng; là quá trình liên tục tiến triển nhằm đạt được sự phát triển bền vững
Phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ
Phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ là việc phân định không gian vùng đới
bờ theo những tiêu chí nhất định để sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên tại đó, giải quyết các mâu thuẫn sử dụng đa mục tiêu Một trong những tiêu chí quan trọng được sử dụng như là căn cứ chung trong phân vùng là các đặc điểm tự nhiên hay chức năng tự nhiên và các chức năng sử dụng của các hệ sinh thái và các nguồn tài nguyên trong vùng Kết quả phân vùng phải gồm hệ thống phân loại không gian vùng ven bờ biển theo chức năng sinh thái, mục tiêu phát triển và tính tương thích của các loại hình sử dụng, hệ thống quy định về sử dụng vùng ven bờ biển và kế hoạch phân vùng sử dụng vùng ven bờ biển, kèm theo khung thể chế để thực thi kế hoạch Trong nghiên cứu của mình, học viên sử dụng quan niệm về phân vùng quản
lý tổng hợp đới bờ như trên và tiếp cận theo hướng phân vùng chức năng
1.2.2 Mục tiêu của phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ
Mục tiêu chung của quản lý tổng hợp đới bờ là:
(1) Sử dụng hợp lý nguồn lợi theo hướng phát triển bền vững vùng ven bờ biển trên cơ sở phát triển đa ngành
(2) Bảo vệ các hệ sinh thái điển hình và trọng yếu trong đới bờ, các nơi sinh
cư, sinh sản của các loài đặc trưng
(3) Giảm thiểu nguy cơ đe dọa đến đới bờ do các tai biến thiên nhiên và nhân tai ở hiện tại và tương lai
(4) Bảo toàn chức năng của các hệ thống tự nhiên, các quá trình sinh thái và các hệ thống hỗ trợ đời sống các loài (gồm cả con người) và đa dạng sinh học ở đới bờ
Trang 32(5) Giảm thiểu mâu thuẫn, xung đột lợi ích của các bên liên quan nhằm phân phối lợi ích một cách công bằng cho các bên sử dụng tài nguyên, phát triển kinh tế vùng ven bờ biển
(6) Tối ưu hoá việc sử dụng đa mục tiêu
Các mục tiêu cụ thể bao gồm:
(1) Bảo vệ, bảo tồn và khôi phục các hệ sinh thái đới bờ
(2) Bảo tồn các khu sử dụng đặc biệt và giảm thiểu các tác động tiêu cực có thể nảy sinh trong quá trình khai thác, sử dụng đới bờ
(3) Nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi cá nhân của cộng đồng ven bờ biển
và trên đảo trong quản lý tổng hợp tài nguyên sinh vật, phi sinh vật và môi trường bờ
(4) Thúc đẩy sinh kế bền vững và tăng cường các hệ thống công nghệ sạch hơn trong các hoạt động phát triển liên quan tới vùng ven bờ biển quản lý
(5) Tăng cường các giải pháp quản lý liên ngành nhằm duy trì và cải tạo chất lượng môi trường và tài nguyên đới bờ
(6) Thực hiện khuôn khổ quản lý tổng hợp ở các khu vực nghiên cứu trọng điểm, rút ra các bài học để áp dụng ở những khu vực khác
(7) Tiến hành phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ và tổ chức lại không gian vùng ven bờ biển theo hướng phát triển bền vững; phân phối nguồn tài nguyên đới
bờ một cách công bằng, hợp lý; đề xuất các giải pháp giảm thiểu mâu thuẫn, xung đột lợi ích trong việc sử dụng đa ngành tài nguyên vùng ven bờ biển
1.2.3 Lý luận phân vùng quản lý dựa trên cơ sở khoa học tự nhiên
Một số quốc gia trên thế giới tiến hành phân vùng dựa trên cơ sở khoa học tự nhiên phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ Trong công tác quy hoạch, phân vùng sử dụng đất trở thành bước đệm quan trọng Nếu phân vùng quy hoạch hợp lý thì hoàn toàn tránh được thảm họa Tuy nhiên có nhiều vấn đề bất đồng nảy sinh trong công tác quy hoạch đất đai, các ngành đánh giá đất đai theo những cách nhìn nhận khác nhau làm cho giá trị của nó mâu thuẫn nhau Bên cạnh đó, quy hoạch sử dụng đất thường ưu tiên các lợi ích trước mắt hơn là phân phối lợi ích lâu dài Đối với phân vùng sử dụng biển, hoặc phân vùng chức năng, phân chia diện tích sử dụng theo các
Trang 33tiêu chí cụ thể, thường ưu tiên phân chia theo các chức năng sinh thái, các hoạt động truyền thống và sự phát triển tương lai
Phân vùng sử dụng đới bờ được thiết kế để điều chỉnh các hoạt động kinh tế tại các khu vực ở đới bờ và bảo vệ môi trường sống nhằm thúc đẩy sử dụng tài nguyên một cách hợp lý và bền vững Nhờ đó kinh tế phát triển vững chắc và xã hội công bằng hơn Khi một quá trình được hậu thuẫn bởi các đầu vào là khoa học thực tiễn, nó có thể đẩy nhanh các quá trình quản lý tổng hợp đới bờ khác như các kế hoạch phát triển đới bờ và giải quyết xung đột Trong khi việc phân vùng chức năng
có thể giải quyết các vấn đề phát triển, hiệu quả của nó như một công cụ quản lý chủ yếu phụ thuộc vào luật pháp và các quy định hiện hành, cũng như ý chí chính trị
để thực thi
Trong “Dự án nghiên cứu thiết kế và phân vùng các khu vực bảo vệ biển thuộc Tây Ấn Độ Dương” cơ sở khoa học được dùng để xác định vị trí của đường ranh giới, kích thước của các vùng bảo vệ Vị trí đường ranh giới của các đường bảo
vệ biển được dựa trên các nhân tố sinh thái như sự sinh sản, sự thu nhận các yếu tố ngoại lai và bãi ươm giống, hệ sinh thái dễ phục hồi, sự ổn định về quần thể các loài
và quần xã quan trọng Trong trường hợp, các ranh giới này ban đầu dựa trên các nhân tố kinh tế - xã hội để xác định phạm vi thì các vùng sinh thái quan trọng có thể nằm ngoài ranh giới được bảo vệ Tuy nhiên, nếu dựa trên hai cơ sở khác nhau để xác định ranh giới sẽ tạo ra mâu thuẫn trong mục đích sử dụng đới bờ Nếu phân vùng nhằm mục đích bảo tồn sinh thái thì kích thước của vùng bảo vệ càng lớn càng tốt do bản chất mở của các hệ sinh thái biển, tuy nhiên nếu hướng đến mục tiêu kinh
tế - xã hội thì diện tích của vùng bảo vệ càng nhỏ càng tốt Vì vậy cần có các cơ sở khoa học để xác định mức kích thước tối thiểu để xác định vùng bảo vệ
Các dự án trong khuôn khổ Tổ chức đối tác quản lý môi trường biển Đông Á (PEMSEA) đã khẳng định mối liên hệ giữa các vùng bảo vệ biển và các vùng quan trọng về mặt sinh thái khác cần phải quan tâm đến sự di chuyển của các loài sinh vật, sự phát tán của ấu trùng và trao đổi dinh dưỡng và các vật chất khác giữa các hệ sinh thái Những yếu tố đó là cơ sở khoa học để phân vùng bảo vệ biển PEMSEA
Trang 34đã xúc tiến việc áp dụng phân vùng sử dụng biển và kết hợp với quy hoạch sử dụng đất, điển hình ở Hạ Môn - Trung Quốc, Vịnh Batangas - Philipines
Ở Trung Quốc, chức năng sinh thái là một cơ sở khoa học quan trọng trong phân vùng quản lý đới bờ Dựa vào chức năng sinh thái, kinh tế và hoạt động truyền thống Hạ Môn được phân thành các vùng cụ thể với các chức năng khác nhau như hàng hải, cảng biển, du lịch, đánh bắt hải sản, nuôi truồng thủy, hải sản và vùng bảo tồn
Công viên biển quốc tế Dải san hô lớn Great Barrier Reef (GBRMP), Australia cũng ứng dụng nghiên cứu trên để phân thành các vùng sử dụng, vùng bảo
vệ hệ sinh thái, vùng công viên bảo tồn, vùng đệm, công viên quốc gia, vùng nghiên cứu khoa học, vùng bảo tồn
1.3 Quan điểm tiếp cận
1.3.1 Quan điểm hệ thống
Quan điểm hệ thống là xem xét đới bờ Phù Mỹ - Phù Cát như một hệ thống lớn, hệ thống bậc cao được cấu thành bởi các hệ thống bậc thấp Đới bờ Phù Mỹ - Phù Cát là một hệ thống mở của tự nhiên - xã hội (hệ thống tài nguyên - môi trường
- sinh thái - xã hội) trong đó mọi thành phần của hệ thống này có quan hệ chặt chẽ với nhau, mọi biến động của từng thành phần trong hệ thống đều có tác động đến các thành phần khác Đới bờ này cũng là hệ thống phức tạp, nhạy cảm với các tác động tự nhiên và nhân sinh, biến động nhanh theo cả không gian và thời gian Do
đó, trên quan điểm hệ thống các vấn đề đới bờ trong tổng thể thống nhất sẽ được nhìn nhận và đánh giá trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, từ hệ thống cấp cao đến
hệ thống thành phần các cấp thấp hơn Sự tương tác giữa các hệ thống cấp thấp, sẽ quyết định tính bền vững của hệ thống cấp cao bao hàm chúng
Theo cách tiếp cận này, việc nghiên cứu phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ Phù Mỹ - Phù Cát phải được tiến hành đồng bộ, hệ thống, toàn diện Không chỉ dựa trên các hệ sinh thái, các điều kiện tự nhiên hay điều kiện kinh tế - xã hội mà phải
có sự liên kết chặt chẽ giữa chúng trong công tác phân vùng quản lý tổng hợp Khi
đó, công tác quản lý đới bờ sẽ trở nên hệ thống và ít khó khăn hơn
Trang 351.3.2 Quan điểm quản lý tổng hợp
Quan điểm quản lý tổng hợp trong việc tiếp cận đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát là xem xét một cách toàn diện, nhiều mặt, nhiều mối quan hệ liên hệ trong trạng thái vận động và phát triển của đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát với các khu vực xung quanh và trong tổng thể đới bờ Việt Nam Đó là sự thống nhất về mặt không gian địa lý, về khoảng thời gian, chiến lược phát triển, thống nhất về thể chế chính sách, chiến lược và quy hoạch phát triển cũng như thống nhất về quản lý sử dụng và khai thác tài nguyên đới bờ Đồng thời, đó cũng là sự thống nhất về cơ chế tài chính bền vững cho hành động quản lý vùng lãnh thổ trên mọi phương diện khai thác, sử dụng, bảo vệ và phát triển tài nguyên và môi trường Ngoài ra, quan điểm tiếp cận quản lý hệ thống còn dựa trên các phương thức quản lý dựa vào cộng đồng (quan điểm cộng đồng) và quản lý trên cơ sở các hệ sinh thái (quan điểm sinh thái nhân văn)
Nghiên cứu phân vùng quản lý đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát trên quan điểm quản lý tổng hợp cho phép nhìn nhận bao quát và toàn diện đới bờ trong một tổng thể lớn hơn, từ đó xác định được các phương án tổng hợp và tối ưu để tiến tới phát triển bền vững đới bờ Nhờ đó, quản lý đới bờ sẽ đảm bảo cho việc khai thác, sử dụng và phát triển toàn diện, bền vững tài nguyên (thiên nhiên và nhân văn) cũng như bảo vệ môi trường Tiếp cận quản lý tổng hợp có cơ sở căn bản là tiếp cận hệ thống
Trang 361.3.4 Quan điểm sinh thái học
Hệ sinh thái là một đơn vị tự nhiên gồm các quần xã sinh vật và các yếu tố
vô sinh của môi trường tại một khu vực nhất định, mà ở đó luôn luôn có tác động qua lại và trao đổi vật chất, năng lượng trong hệ và các hệ khác Tiếp cận phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ trên quan điểm sinh thái học nhằm tìm kiếm một sự cân bằng thích hợp giữa việc bảo vệ và sử dụng sự đa dạng sinh học, đặc biệt ở những đới bờ có nhiều người sử dụng tài nguyên và các giá trị quan trọng của thiên nhiên
Hệ sinh thái ở khu vực này thường đa dạng, nhạy cảm, dễ bị tổn thương, phụ thuộc nhiều vào các quá trình tự nhiên và đặc biệt nhạy cảm với các hoạt động nhân sinh như các hệ sinh thái vũng, vịnh, hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh thái đầm phá Để duy trì các chức năng và bảo vệ được tài nguyên, môi trường của đới bờ, mọi hoạt động khai thác, sử dụng hệ sinh thái phải được tiến hành trong khả năng chịu đựng và phục hồi của chúng Vì vậy phải tiến hành nghiên cứu, đánh giá mức độ tổn thương, khả năng chịu đựng của các hệ sinh thái đới bờ Do đó, để đạt được sự hài hòa giữa lợi ích thu được từ tài nguyên của hệ sinh thái với việc duy trì khả năng của hệ sinh thái tiếp tục cung cấp được những lợi ích đó ở mức độ bền vững lâu dài, quản lý tổng hợp đới bờ bền vững cần thiết phải dựa vào tiếp cận sinh thái học
1.3.5 Quan điểm tiếp cận liên ngành và đa ngành
Trên lãnh thổđới bờ diễn ra vô số các hoạt động kinh tế - xã hội thuộc nhiều lĩnh vực phát triển khác nhau Việc đánh giá giá trị tài nguyên cần phải xem xét dưới nhiều góc độ, theo tiềm năng sử dụng của nhiều ngành kinh tế ở những mức độ
và loại hình sử dụng (trực tiếp, gián tiếp, bảo tồn) khác nhau trong từng giai đoạn cụ thể Đó là các góc độ về tự nhiên (sinh học, sinh thái, địa lý, hải văn, thủy văn, địa chất), góc độ về xã hội (lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán, xung đột môi trường), góc độ về kinh tế, góc độ về an ninh quốc phòng,… Vì vậy, phân vùng đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát cần phải có sự phối hợp liên ngành trong công tác nghiên cứu, đánh giá và ra quyết định quản lý
Trang 371.3.6 Quan điểm phát triển bền vững
Đới bờ là nơi tập trung nhiều loại tài nguyên (tài nguyên sinh vật và tài nguyên phi sinh vật) có các giá trị và thực hiện nhiều chức năng khác nhau Bởi vậy, đới bờ luôn được coi là khu vực quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, đối với tài môi trường cũng là nơi xảy ra các mâu thuẫn nhóm lợi ích phức tạp Phát triển bền vững ở đới bờ là sự phát triển kinh tế, xã hội trên cở sở sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và điều kiện môi trường trong giới hạn cho phép mà vẫn đảm bảo được những điều kiện tài nguyên, môi trường cần thiết cho các thế hệ
phục vụ phát triển kinh tế - xã hội phải gắn liền với quản lý tổng hợp đới bờ, phải tính đến và giải quyết mọi xung đột giữa các ngành kinh tế, an ninh quốc phòng, đảm bảo phát triển bền vững
Tuy nhiên, trên thực tế, phát triển bền vững không dễ dàng đạt được vì yếu
tố phát triển luôn thay đổi, thậm chí thay đổi rất nhanh so với khả năng điều chỉnh
Vì vậy, phát triển bền vững chính là mục tiêu theo đuổi, nhưng lại là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, của các ngành kinh tế và các vùng lãnh thổ
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp tổng hợp, kế thừa tài liệu
Học viên đã tiến hành thu thập, tổng hợp, kế thừa và chọn lọc các tài liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên môi trường, kinh tế xã hội liên quan đến khu vực Phù
Mỹ - Phù Cát, tỉnh Bình Định Kế thừa những cơ sở lý luận khoa học, các quan điểm tiếp cận và kinh nghiệm từ các công trình khoa học, đề tài nghiên cứu trong và ngoài nước Từ đó, phân tích và đánh giá nhằm bổ sung các thông tin còn thiếu, lập
kế hoạch điều tra, khảo sát thực địa để có nhiều thông tin phục vụ xây dựng đề tài
Từ đó, phân tích và đánh giá nhằm bổ sung các thông tin còn thiếu, lập kế hoạch điều tra, khảo sát để có nhiều thông tin phục vụ xây dựng đề tài Các tài liệu này được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau: đề tài khoa học, đề án, dự án, báo cáo, số liệu thống kê, bản đồ,…
Trang 381.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Nhằm thu thập nguồn dữ liệu đầu vào cho đề tài luận văn khoa học, học viên
đã thực hiện khảo sát thực địa vùng nghiên cứu trong thời gian 10 ngày, từ ngày 27/6/2018 đến ngày 06/7/2018 Đợt khảo sát thực địa được thực hiện trong khuôn
khổ đề tài độc lập công nghệ cấp nhà nước ĐTĐLCN.31/16 “Nghiên cứu, đánh giá
mức độ ô nhiễm môi trường, suy thoái hệ sinh thái, xung đột môi trường, xã hội do hoạt động khai thác sa khoáng, cát, sỏi vùng ven biển và biển ven bờ miền Trung Việt Nam (từ Thanh Hóa đến Bình Thuận) và đề xuất giải pháp khai thác bền vững”
do TS Đào Mạnh Tiến chủ nhiệm, Viện Tài nguyên Môi trường và Phát triển bền vững chủ trì thực hiện
Điều tra khảo sát thực địa và phỏng vấn người dân, cán bộ quản lý ở địa phương nhằm thu thập và bổ sung, cập nhật các số liệu về điều kiện tự nhiên (đặc điểm địa hình, địa mạo,…), điều kiện kinh tế (nông nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, tốc độ phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế,…), điều kiện xã hội (dân cư, giáo dục, văn hóa, cơ sở hạ tầng,…), tài nguyên (vị trí, diện phân bố, mức
độ suy thoái,…), môi trường, tai biến thiên nhiên,… phục vụ cho các mục tiêu và nội dung nghiên cứu
đó, cùng với việc tham khảo, phân tích kinh nghiệm thiết kế các sơ đồ phân vùng của các nước trên thế giới và ở Việt Nam, bản đồ phân vùng quản lý tổng hợp đới
bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát, Bình Định tỷ lệ 1:25.000 được thành lập dựa trên các tiêu chí về sự phân dị điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường và tai biến thiên nhiên, kinh tế xã hội và cơ sở pháp lý, đặc biệt là ranh giới hành chính, để phân ra các đơn vị phân vùng Hệ thống chú giải của bản đồ phân vùng quản lý tổng
Trang 39hợp theo công nghệ của phân vùng quản lý tổng hợp vịnh Hạ Long của Nguyễn Chu Hồi, Đào Mạnh Tiến, phân vùng quản lý tổng hợp ở vùng Hạ Môn của Trung Quốc, công viên biển quốc tế Dải San Hô lớn Đông Bắc Australia
Quy trình tiến hành sử dụng phần mềm Mapinfo 11.0 để thành lập bản đồ phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát:
- Nhập dữ liệu: bên cạnh các bản đồ được sử dụng làm tư liệu đầu vào ở dạng số, những nguồn bản đồ dạng giấy đều được số hóa
- Chồng ghép bản đồ: các lớp bản đồ thành phần được chồng lớp và trọng số, cùng một tỷ lệ xác định (tỷ lệ 1:25.000) để thể hiện các nội dung lên bản đồ tổng hợp
- Xử lý và chiết xuất kết quả là bản đồ phân vùng phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ khu vực Phù Mỹ - Phù Cát
1.4.4 Phương pháp tham vấn chuyên gia
Thông qua các buổi hội thảo có liên quan đến đề tài nghiên cứu, học viên được tham gia học hỏi các kinh nghiệm từ các nhà khoa học, tham khảo ý kiến và tư vấn từ các chuyên gia để góp phần đưa ra các giải pháp tối ưu về mặt khoa học và thực tiễn trong kết quả nghiên cứu luận văn của học viên
Trang 40Chương 2 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI PHỤC VỤ QUẢN LÝ TỔNG HỢP ĐỚI BỜ KHU VỰC PHÙ MỸ - PHÙ CÁT, BÌNH ĐỊNH 2.1 Nhân tố điều kiện tự nhiên
- Ranh giới trên đất liền: là ranh giới hành chính của các xã Mỹ Thành, Mỹ Chánh, Mỹ Cát thuộc huyện Phù Mỹ và xã Cát Minh, Cát Khánh thuộc huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định;
- Ranh giới về phía biển: đến 6 hải lý tính từ đường bờ, bao gồm hòn Con Trâu nằm về phía Đông Nam xã Mỹ Thành (Hình 2.1)