1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hành vi phòng ngừa đuối nước ở người chăm sóc trẻ dưới 11 tuổi tại huyện An Phú tỉnh An Giang năm 2011

75 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 653 KB
File đính kèm DE TAI HOAN CHINH_CHONG.rar (100 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu cho thấy hành vi làm rào chắn của người chăm sóc rất thấp (27%) và chỉ có mối liên quan đến kiến thức về đậy nắp chắc chắn các dụng cụ chứa nước. Điều này gợi ý cần tiến hành một nghiên cứu sâu về các yếu tố liên quan đến hành vi làm rào chắn của người chăm sóc trẻ. Một khi đã biết được các yếu tố nào liên quan đến hành vi này chẳng hạn kinh tế gia đình, phong tục tập quán v.v các cơ quan chức năng có thể áp dụng các biện pháp can thiệp phù hợp và hiệu quả nhằm làm tăng tỷ lệ này. Để nâng cao các hành vi phòng ngừa khi người chăm sóc đi vắng, bận việc và hành vi giám sát trẻ khi chơi gần bờ sôngaokênhrạch và dụng cụ chứa nước, chúng tôi đề xuất một biện pháp can thiệp hữu hiệu là sử dụng cộng tác viên thực hiện các buổi vãng gia tư vấn cho các hộ gia đình có trẻ nhỏ dưới 11 tuổi. Vì nghiên cứu cho thấy trẻ càng lớn tuổi thì người chăm sóc càng ít thực hiện hành vi phòng ngừa khi đi ra khỏi nhà, vì vậy cần tư vấn cho người chăm sóc hiểu là trẻ em ở mọi lứa tuổi dưới 11 đều có thể dễ bị đuối nước vì vậy khi đi ra khỏi nhà cần nhờ người thân trông hộ hoặc gửi nhà trẻ. Ngoài ra cần tư vấn cho người chăm sóc biết cho dù trẻ biết bơi hay không thì cũng cần phải có người chăm trẻ khi bản thân mình đi vắng khỏi nhà. Về hành vi phòng ngừa khi người chăm sóc bận việc, kết quả nghiên cứu cho thấy người chăm sóc càng lớn tuổi càng ít thực hiện hành vi này. Do đó, cộng tác viên cần khuyến khích các hộ gia đình nên có người chăm sóc trẻ càng trẻ tuổi càng tốt vì như vậy có thể giảm thiểu nguy cơ đuối nước ở trẻ. Về hành vi mặc áo phao cho trẻ, nghiên cứu cho thấy tỷ lệ này rất thấp. Bên cạnh đó hành vi này chỉ có mối liên quan đến trình độ học vấn và tuổi trẻ. Đây là hai yếu tố rất khó có thể tác động nhằm nâng cao tỷ lệ thực hiện hành vi này. Tương tự như hành vi làm rào chắn, cần có một nghiên cứu khác sâu hơn nhằm tìm hiểu các yếu tố liên quan đến hành vi này. Nghiên cứu còn cho thấy tỷ lệ tham gia các lớp tập huấn về sơ cấp cứu còn rất thấp và có liên quan đến giới tính và trình độ học vấn. Từ kết quả này, chúng tôi đề xuất các cơ quan chứa năng như trạm y tế xã, trung tâm y tế huyện An Phú nên tăng cường mở các lớp tập huấn dành cho người chăm sóc trẻ dưới 11 tuổi. Các lớp tập huấn này nên tạo điều kiện thuận lợi để cả những người đàn ông và phụ nữ đều có thể tham gia. Ngoài ra các lớp tập huấn này nên thiết kế chương trình sao cho phù hợp nhằm khuyến khích sự tham gia của những người có trình độ học vấn thấp. Có như vậy tỷ lệ tham gia của người chăm sóc có thể tăng lên và qua đó tăng kiến thức về sơ cấp cứu trong cộng đồng dân cư tại huyện An Phú. Việc củng cố, nâng cao kiến thức liên quan đến phòng ngừa đuối nước trẻ em của người chăm sóc trẻ cũng là một trong những đề xuất mà chúng tôi đưa ra trong đề tài này. Việc truyền tải kiến thức nên được thực hiện qua ba hình thức: qua tivi, qua loa, đài tại địa phương, và qua các buổi họp tại tổ, ấp. Về nội dung truyền thông, bên cạnh các thông tin cần thiết, nên đề cập thêm về độ tuổi dễ đuối nước nhất ở trẻ và cách thức sơ cấp cứu trẻ khi bị đuối nước. Mặc dù không phải là mục tiêu chính của đề tài này, nhưng kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trẻ biết bơi khá thấp. Đây là một điều đáng quan ngại vì không biết bơi có thể được xem như là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến đuối nước ở trẻ em. Do đó, chúng tôi đề xuất các cơ quan chức năng nên tổ chức các lớp tập bơi cho trẻ hằng năm, đặc biệt là tại các địa điểm có nhiều khu vực chứa nước và trong mùa mưa, lũ.

Trang 1

Phụ lục 1: Bảng câu hỏi 6

ĐẶT VẤN ĐỀ 7

Mục tiêu nghiên cứu 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 10

1.1 Một số khái niệm 10

Là người chịu trách nhiệm chính trong việc giám sát các hoạt động thường ngày của trẻ bao gồm ăn uống, ngủ nghỉ, vui chơi và học hành Người chăm sóc trẻ có thể là cha mẹ, ông bà, và các người thân khác của trẻ 10

1.2 Các nghiên cứu liên quan đến hành vi phòng ngừa của người chăm sóc trẻ 10

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 23

3.1 Đặc tính của người chăm sóc 23

Tuổi 23

Giới tính 23

3.2 Đặc tính của trẻ 24

Giới tính 25

Biết bơi lội 25

3.3 Yếu tố môi trường ảnh hưởng hành vi phòng ngừa đuối nước của người chăm sóc 25

3.4 Kiến thức phòng ngừa đuối nước của người chăm sóc 26

3.5 Hành vi phòng ngừa đuối nước trẻ em của người chăm sóc 28

3.6 Mối liên quan giữa hành vi và các yếu tố khảo sát 30

Làm rào chắn 30

(KTC 95%) 30

Có 30

Tuổi 31

Giới tính 31

Trang 2

Làm rào chắn 31

(KTC 95%) 32

Có 32

Giới tính 32

Biết bơi lội hay không? 32

Làm rào chắn 32

(KTC 95%) 32

Có 32

Đậy nắp dụng cụ chứa nước 33

(KTC 95%) 33

Có 33

Tuổi 33

Giới tính 33

Đậy nắp dụng cụ chứa nước 33

(KTC 95%) 34

Có 34

Giới tính 34

Biết bơi lội 34

Đậy nắp dụng cụ chứa nước 34

(KTC 95%) 34

Có 34

Tuổi 35

Giới tính 35

Giới tính trẻ 35

Trẻ biết bơi lội 35

Hành vi phòng ngừa khi đi ra khỏi nhà 36

(KTC 95%) 36

Có 36

Tuổi 36

Trang 3

Giới tính 36

Hành vi phòng ngừa khi đi ra khỏi nhà 37

(KTC 95%) 37

Có 37

Hành vi phòng ngừa khi đi ra khỏi nhà 37

(KTC 95%) 37

Có 37

Giới tính 37

Biết bơi lội 37

Hành vi phòng ngừa khi đi ra khỏi nhà 38

(KTC 95%) 38

Có 38

Tuổi 38

Giới tính 38

Giới tính trẻ 39

Trẻ biết bơi lội 39

Hành vi phòng ngừa 40

khi bận việc 40

(KTC 95%) 40

Có 40

Tuổi 40

Giới tính 40

Hành vi phòng ngừa khi bận việc 41

(KTC 95%) 41

Có 41

Giới tính 41

Biết bơi lội hay không? 41

Hành vi phòng ngừa khi bận việc 41

(KTC 95%) 41

Trang 4

Có 41

Mặc áo phao cho trẻ khi đi thuyền 42

(KTC 95%) 42

Có 42

Tuổi 42

Giới tính 42

Mặc áo phao cho trẻ khi đi thuyền 43

(KTC 95%) 43

Có 43

Giới tính 43

Biết bơi lội 43

Mặc áo phao cho 43

trẻ khi đi thuyền 43

(KTC 95%) 43

Có 43

Đi theo và quan sát trẻ chơi gần sông/ao/kênh/rạch 44

(KTC 95%) 44

Có 44

Tuổi 44

Giới tính 44

(KTC 95%) 45

Có 45

Giới tính 45

Biết bơi lội 45

(KTC 95%) 45

Có 45

(KTC 95%) 46

Có 46

Tuổi 46

Trang 5

Giới tính 46

(KTC 95%) 47

Có 47

(KTC 95%) 47

Có 47

(KTC 95%) 48

Có 48

Giới tính 48

Biết bơi lội hay không? 48

Đi theo và quan sát trẻ chơi gần dụng cụ chứa nước 48

(KTC 95%) 48

Có 48

(KTC 95%) 49

Có 49

Tuổi 49

Giới tính 49

(KTC 95%) 50

Có 50

Giới tính 50

Biết bơi lội 50

(KTC 95%) 50

Có 50

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 51

4.1 Đặc tính của người chăm sóc (Bảng 3.1) 51

4.2 Đặc tính của trẻ (Bảng 3.2) 53

4.3 Yếu tố môi trường ảnh hưởng hành vi phòng ngừa đuối nước của người chăm sóc (Bảng 3.3) 53

4.4 Kiến thức phòng ngừa đuối nước của người chăm sóc (Bảng 3.4 đến 3.8) 54

4.5 Hành vi phòng ngừa đuối nước trẻ em của người chăm sóc (Bảng 3.9 đến 3.13) 56

Trang 6

4.6 Mối liên quan giữa hành vi và các yếu tố khảo sát 60

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Bảng câu hỏi

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trên thế giới đuối nước là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ởtrẻ em Theo báo cáo về phòng ngừa tai nạn thương tích ở trẻ em của Tổ chức Y tế Thếgiới (WHO) thì năm 2004 có 175.000 trường hợp tử vong do đuối nước ở trẻ em từ 0-19tuổi và 98,1% các trường hợp này xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và vừa.[13] Riêngtại Việt Nam tỷ lệ chết đuối trẻ em cũng rất cao Kết quả một cuộc khảo sát của trườngĐại Học Y Tế Công Cộng Hà Nội được tiến hành trên toàn quốc vào năm 2001 cho thấy

tỷ lệ chết đuối ở trẻ em là 39,2/100.000 tương đương 12.500 ca chết đuối Tỷ lệ này caogấp 10 lần so với các nước phát triển.[3] Còn theo Tổ chức liên minh vì An Toàn Trẻ

Em, thì hằng năm có 11.700 trẻ đuối nước tại Việt Nam.[11] Mặc dù trong thời gian gầnđây tỷ lệ đuối nước trẻ em tại Việt Nam có giảm nhưng đuối nước trẻ em vẫn là mộttrong những vấn đề cần phải quan tâm trong công tác phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ

em trên cả nước nói chung và tại một số tỉnh thành nói riêng, đặc biệt là các tỉnh thuộckhu vực sông nước hằng năm phải đối mặt với lũ, lụt

Trong các yếu tố nguy cơ liên quan đến đuối nước trẻ em thì hành vi phòng ngừađuối nước của ba mẹ hoặc những người thân trong gia đình trẻ đóng vai trò hết sức quantrọng Các hành vi phòng ngừa này bao gồm mặc áo phao cho trẻ khi tiếp xúc với khuvực chứa nước, giám sát trẻ chơi đùa tại các khu vực chứa nước, làm rào chắn các khuvực chứa nước v.v Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng chết đuối trẻ em đaphần là do cha mẹ hoặc người thân không thực hiện các hành vi phòng ngừa này Nghiêncứu bệnh chứng của Li Yang và cộng sự về đuối nước trẻ em ở vùng nông thôn TrungQuốc cho thấy tỷ lệ người chăm sóc giám sát trẻ chơi gần ao, hồ của nhóm chết đuốithấp hơn so với nhóm chứng (57,9% so với 78%).[8] Nghiên cứu của Linda và cộng sựtại Úc hồi cứu 68 ca chết đuối trẻ em nhận thấy có đến 34% các ca chết đuối xảy ra khitrẻ chơi một mình hoặc tắm rửa tại các khu vực chứa nước (bồn tắm, sông, kênh) khikhông có cha mẹ giám sát.[9] Như vậy có thể thấy việc tìm hiểu các hành vi phòng ngừa

Trang 8

của người chăm sóc trẻ trong một dân số nhất định sẽ góp phần giải thích nguyên nhâncủa các ca chết đuối trong dân số đó đồng thời giúp các nhà quản lý y tế có thể đưa racác chương trình can thiệp phù hợp tác động lên hành vi phòng ngừa nhằm làm giảm số

ca đuối nước tại địa phương quản lý

Tuy nhiên tại Việt Nam, việc nghiên cứu về hành vi phòng ngừa ở người chămsóc trẻ vẫn chưa được quan tâm đúng mức Các nghiên cứu về đuối nước thường tậptrung vào các yếu tố dịch tễ học đuối nước trẻ em hơn là các hành vi phòng ngừa củangười chăm sóc Các hành vi phòng ngừa được nghiên cứu, nếu có, cũng không đầy đủ

và đôi khi phục vụ cho một mục đích nhất định nào đó (báo cáo chương trình, dự án; cácbản tin về các trường hợp chết đuối liên quan đến hành vi bất cẩn của cha mẹ v.v) Điềunày cho thấy cần phải có một nghiên cứu mô tả chi tiết, đầy đủ hơn về các hành viphòng ngừa đuối nước ở người chăm sóc trẻ và đó cũng là mục đích chính của nghiêncứu này

Nghiên cứu này sẽ được triển khai tại huyện An Phú tỉnh An Giang Huyện AnPhú là một huyện nằm ở đỉnh tây bắc của An Giang, do đó là nơi đầu tiên sông Hậu từCampuchia chảy sang Việt Nam Với đặc điểm địa lý trên, An Phú thường ngập nặngvào mùa lũ và số ca chết đuối cũng khá cao so với các huyện khác của tỉnh Như vậy,việc khảo sát các thông tin liên quan đến hành vi phòng ngừa của người chăm sóc trẻ tại

An Phú sẽ có khả năng cho kết quả chính xác và có ý nghĩa hơn

Qua đề tài này, tác giả cố gắng mô tả một cách đầy đủ các hành vi phòng ngừacủa người chăm sóc trẻ tại huyện An Phú, từ đó làm cơ sở để có thể thực hiện các đề tàivới quy mô rộng hơn Ngoài ra kết quả của nghiên cứu còn có thể được sử dụng nhưthông tin nền giúp các cơ sở y tế dự phòng tại địa phương thực hiện các chương trìnhphòng chống đuối nước trẻ em một cách phù hợp và hiệu quả hơn

Câu hỏi nghiên cứu

Trang 9

Tỷ lệ người chăm sóc trẻ dưới 11 tuổi có các hành vi phòng ngừa đuối nước làbao nhiêu, và chúng có mối liên hệ như thế nào đối với các yếu tố như tuổi, giới, nghềnghiệp, kiến thức về phòng ngừa đuối nước trẻ em v.v.?

Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định tỷ lệ người chăm sóc trẻ dưới 11 tuổi có kiến thức phòng ngừa đuối nước vàmối liên quan giữa các kiến thức này với các hành vi quan tâm

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Định nghĩa đuối nước

Đuối nước dùng để chỉ một sự kiện mà trong đó khí quản của trẻ bị ngâm trongmột môi trường chất lỏng, dẫn tới khó thở Kết quả có thể là tử vong hoặc không tửvong Với một số vụ không tử vong có thể dẫn đến sự tổn thương hệ thần kinh một cách

đáng kể.[12]

1.1.2 Người chăm sóc trẻ

Là người chịu trách nhiệm chính trong việc giám sát các hoạt động thường ngàycủa trẻ bao gồm ăn uống, ngủ nghỉ, vui chơi và học hành Người chăm sóc trẻ có thể làcha mẹ, ông bà, và các người thân khác của trẻ

1.2 Các nghiên cứu liên quan đến hành vi phòng ngừa của người chăm sóc trẻ

Một nghiên cứu bệnh chứng của Li Yang, Quan-Quin Nong, Chun-ling Li vàcộng sự được tiến hành vào năm 2007 nhằm tìm hiểu các yếu tố nguy cơ của ngườichăm sóc trẻ liên quan đến chết đuối trẻ em tại khu vực nông thôn Trung Quốc Đây làmột nghiên cứu bệnh chứng bao gồm 133 ca chết đuối và 266 ca chứng cùng tuổi Kếtquả cho thấy người chăm sóc trẻ là ông bà chiếm tỷ lệ khá cao ở cả hai nhóm bệnh vàchứng (55,6% và 44,4%) Sức khỏe của người chăm sóc trẻ cũng được khảo sát trong đótrên 90% người chăm sóc có sức khỏe tốt Người chăm sóc cũng được hỏi là có biết bơihay không, và kết quả cho thấy 72,2% không biết bơi Về kiến thức hô hấp nhân tạo,không có người chăm sóc trẻ nào ở cả hai nhóm biết cách hô hấp nhân tạo khi ngạtnước Về giám sát trẻ khi trẻ chơi gần nước hoặc bơi trong ao hồ thì có đến 78% ngườichăm sóc ở nhóm chứng và chỉ có 57,9% người chăm sóc ở nhóm bệnh là có giám sáttrẻ.[8]

Trang 11

Còn trong nghiên cứu của Ahmed và cộng sự được tiến hành vào năm 1999 nhằmkhảo sát các yếu tố dịch tễ liên quan đến đuối nước trên 661 ca chết đuối trẻ em 1-4 tuổi

từ năm 1983-1995 tại Matlab, Bangladesh thì kết quả cho thấy 61% ca chết đuối thườngxảy ra trước buổi trưa khi mẹ trẻ đang bận công việc nhà (nấu ăn, giặt đồ, công việckhác) và không trông chừng để trẻ đi chơi gần sông, 12% ca chết đuối xảy ra khi mẹđang nói chuyện hoặc đang ngủ và 13% ca chết đuối do mẹ đang thực hiện các côngviệc khác.[5]

Trong báo cáo điều tra dân số tại Bangladesh, một trong những nguyên nhânchính dẫn đến chết đuối ở trẻ em là do thiếu sự quan tâm của ba mẹ Hai phần ba cáctrường hợp chết đuối khi trẻ chơi một mình không có người lớn đi kèm hay đi cùng vớitrẻ khác không có khả năng cứu chúng Vào thời điểm trẻ bị té xuống nước, hầu hết các

bà mẹ hay người trông trẻ đang làm việc gia đình hay đi ra ngoài làm việc.[7]

Một nghiên cứu cắt ngang được tiến hành vào năm 1998 tại Miền Tây nước Úcvới đối tượng là các ca chết đuối từ năm 1987-1996 Nghiên cứu khảo sát cắt ngang cácyếu tố liên quan đến chết đuối trẻ em như giới tính, tuổi, chủng tộc v.v trong đó có sựgiám sát của người chăm sóc trẻ Khi khảo sát yếu tố này kết quả cho thấy có 4 trườnghợp chết trong bồn tắm khi trẻ được để trong bồn không có người coi sóc trong khoảngthời gian từ 2-5 phút Ba trẻ chết trong bồn trong khi ba mẹ bận rộn ở phòng khác Mộttrẻ bị chết khi ba mẹ đang ngủ Trong 16 ca được khai báo chết tại các khu vực ao, hồ,đầm thì có 2 trẻ chết khi đi quanh nhà khi ba mẹ đang ngủ, 05 trẻ chết khi đang chơi vớitrẻ khác mà không có sự giám sát của ba mẹ.[9]

Nghiên cứu của Petrass L.A và cộng sự được tiến hành năm 2011 hồi cứu các cachết đuối không chủ định từ năm 2000 đến năm 2009 Tổng cộng có tất cả 339 trườnghợp chết đuối được khảo sát và tác giả phát hiện 71,7% các trường hợp chết đuối đều dothiếu sự giám sát của người chăm sóc Nghiên cứu cũng rút ra kết luận thiếu giám sátcủa cha mẹ có mối liên quan chặt chẽ đến đuối nước ở trẻ em.[10]

Trang 12

Như vậy, các nghiên cứu tại nhiều nước trên thế giới cho thấy việc thiếu quantâm, thiếu sự giám sát của người chăm sóc có mối liên quan chặt chẽ đến đuối nước ở trẻ

em Nguyên nhân của việc thiếu giám sát có thể là do người chăm sóc bận công việc nhà(nấu ăn, giặt giũ, lau nhà v.v) hoặc ngủ, nói chuyện hoặc làm các hoạt động khác Tuynhiên, các hành vi phòng ngừa của người chăm sóc trẻ như mặc áo phao cho trẻ khi đighe/thuyền/phà, làm rào chắn các khu vực chứa nước xung quanh nhà, dạy bơi cho trẻ,tham gia các lớp học về sơ cấp cứu vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ Cáchành vi này chỉ được đề cập trong nhiều nghiên cứu dưới dạng các đề xuất kiến nghị saukhi đã tìm ra nguyên nhân của các ca chết đuối trẻ em là do sự bất cẩn của cha mẹ hoặcngười thân

Tại Việt Nam việc nguyên cứu về đuối nước trẻ em thường chỉ tập trung vàonguyên nhân đuối nước, các tổn thương về thể chất sau khi trẻ bị đuối nước, các yếu tốdịch tễ học liên quan đến ca đuối nước Ví dụ, nghiên cứu của Đào Lan Hương, HoàngVăn Minh và Peter Pyass tiến hành tại quận Ba Vì năm 1999 chỉ tập trung phân tích cácnguyên nhân dẫn đến chết đuối ở trẻ em thông qua giải phẩu tử thi.[6] Nghiên cứu củaHuỳnh Thiện Sĩ và Nguyễn Đỗ Nguyên tiến hành trên 272 trường hợp chết đuối tạiĐồng Tháp từ năm 2003 đến năm 2006 khảo sát các đặc điểm dịch tễ học của các cachết đuối như tuổi của trẻ, thời điểm chết đuối, địa điểm chết đuối v.v.[2] Riêng nghiêncứu của Đặng Văn Chính và cộng sự về kiến thức, thái độ, thực hành của người dân vềchết đuối trẻ em ở An Giang và Đồng Tháp năm 2003 có đề cập đến hành vi làm ràochắn nhà cửa Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhà có trẻ dưới 5 tuổi có hàng rào chắn

là 23,8% Ngoài ra nghiên cứu này còn chỉ ra rằng có đến 75,5% đối tượng được phỏngvấn là người lớn trong gia đình biết được nguyên nhân dẫn đến chết đuối là do bất cẩn

Tỷ lệ đối tượng phỏng vấn không biết kiến thức về sơ cấp cứu khá cao lên đến 67,5%.Nghiên cứu cũng khảo sát các ca chết đuối trẻ em cho thấy có đến 80,8% các trường hợp

là do bất cẩn, 82% các ca chết đuối có tuổi từ 0-4 và 65,4% là nam.[1]

Trang 13

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thiết kế nghiên cứu

Đây là một nghiên cứu cắt ngang mô tả được tiến hành tại huyện An Phú tỉnh An Giang

số ca chết đuối nhiều nhất rơi vào nhóm tuổi dưới 11 tuổi Cụ thể trong nghiên cứu củaĐặng Văn Chính tiến hành khảo sát 52 trường hợp tử vong do đuối nước tại An Giang

và Đồng Tháp cho thấy 100% các ca có độ tuổi từ 1-10 tuổi.[1] Còn trong nghiên cứucủa Huỳnh Thiện Sĩ và Nguyễn Đỗ Nguyên khảo sát 272 ca chết đuối tại Đồng Tháp từnăm 2003 đến năm 2006 thì có đến 95,2% số ca dưới 11 tuổi.[2] (2) Tại Việt Nam lứatuổi dưới 11 tuổi (dưới cấp I) vẫn là lứa tuổi chịu sự giám sát của gia đình nhiều nhấtchẳng hạn trẻ đi học vẫn được cha mẹ đưa đón, trẻ đi chơi vẫn phải xin phép cha mẹ v.v.Như vậy việc khảo sát những người chăm sóc trẻ trong nhóm tuổi này là điều cần thiết

vì có thể phản ánh chính xác các hành vi quan tâm trong nghiên cứu này

2

)1( −

Lấy p= 0,5, với độ tin cậy là 95% ( Z1-α/2 = 1,96)

Trang 14

Độ chính xác (sai số cho phép) d= 0,05

 Cỡ mẫu tính được theo công thức là: n = 384

Tăng 20% cỡ mẫu trù liệu cho những số liệu bị sai sót, những trường hợp từ chối trảlời hoặc vắng mặt Như vậy tổng số mẫu cần thu thập là

n = 384 x 120% = 461 người

2.4 Phương pháp chọn mẫu

Sử dụng phương pháp lấy mẫu cụm trong đó cụm được định nghĩa ở đâychính là ấp Từ danh sách hộ gia đình có con dưới 11 tuổi của từng ấp trên toànhuyện dùng phương pháp PPS chọn được 30 ấp Kết quả chọn được như sau: AnHưng (2 lần), An Thịnh (2 lần), An Thạnh (2 lần), Vĩnh Phú (1 lần), Vĩnh Hội (1 lần),Vĩnh Hòa (2 lần), Vĩnh An (1 lần), Phước Hòa (2 lần), Phước Khánh (2 lần), PhướcThạnh (2 lần), Phước Mỹ (2 lần), Quốc Phú (1 lần), Đồng Ky (2 lần), Quốc Khánh (2lần), Quốc Hưng (1 lần), Búng Bình Thiên (1 lần), Vĩnh Bình (1 lần), Vĩnh Nghĩa (1lần), Vĩnh Thành (1 lần), Lama (1 lần)

Với cỡ mẫu là 461, chia đều cho 30 ấp được chọn Như vậy, mỗi ấp đượcchọn sẽ điều tra 15 hoặc 16 hộ gia đình có con dưới 11 tuổi Tuy nhiên với kết quảchọn PPS nêu trên, số lượng hộ gia đình điều tra của mỗi ấp như sau: An Hưng (31hộ), An Thịnh (31 hộ), An Thạnh (31 hộ), Vĩnh Phú (16 hộ), Vĩnh Hội (16 hộ), VĩnhHòa (31 hộ), Vĩnh An (16 hộ), Phước Hòa (31 hộ), Phước Khánh (31 hộ), PhướcThạnh (31 hộ), Phước Mỹ (31 hộ), Quốc Phú (15 hộ), Đồng Ky (30 hộ), Quốc Khánh(30 hộ), Quốc Hưng (15 hộ), Búng Bình Thiên (15 hộ), Vĩnh Bình (15 hộ), VĩnhNghĩa (15 hộ), Vĩnh Thành (15 hộ), Lama (15 hộ) Dựa trên danh sách hộ gia đình cócon dưới 11 tuổi tại mỗi ấp được chọn, bốc thăm ngẫu nhiên số hộ tương ứng vớitừng ấp

2.5 Tiêu chí chọn mẫu

2.5.1 Tiêu chí đưa vào

Nghiên cứu này chỉ khảo sát những hộ gia đình có trẻ < 11 tuổi

Trang 15

Người được phỏng vấn phải là người chăm sóc trẻ có độ tuổi từ 18 -70 tuổi.Chúng tôi không khảo sát những người chăm sóc dưới 18 tuổi vì lý do những đối tượngnày thường là anh chị em của trẻ được cha mẹ nhờ chăm sóc vì vậy không phù hợp vớiđịnh nghĩa về người chăm sóc trẻ trong nghiên cứu này Còn trong trường hợp ngườichăm sóc trẻ dưới 18 tuổi là cha mẹ của trẻ, chúng tôi vẫn không chọn để khảo sát vì ở

độ tuổi này cha mẹ thường vẫn nhờ ông bà hoặc những người thân khác chăm sóc hộ vìbản thân họ không đủ khả năng thực hiện các hành vi chăm sóc trẻ một cách đầy đủ Vềngưỡng trên của độ tuổi người chăm sóc, chúng tôi chọn 70 tuổi vì tại nhiều vùng nôngthôn Việt Nam ở độ tuổi này người dân vẫn còn khả năng làm việc và khả năng tư duy

để có thể tham gia vào cuộc khảo sát

Tiêu chí đưa vào cuối cùng là người chăm sóc chỉ chăm sóc một trẻ duy nhất Vớimục đích mô tả là chính nên trong nghiên cứu này chúng tôi loại bỏ những trường hợpđối tượng phải chăm sóc nhiều trẻ cùng một lúc

2.5.2 Tiêu chí loại ra

Người được phỏng vấn từ chối trả lời tất cả các câu hỏi đưa ra

Người được phỏng vấn không có khả năng trả lời câu hỏi do các khuyết tật về thểchất (câm, điếc, mù) hoặc tinh thần (mắc các bệnh về tâm thần, mất trí nhớ)

Người được phỏng vấn đi vắng không thể phỏng vấn sau hai lần đến nhà

2.5.3 Kiểm soát sai lệch chọn mẫu

Trong trường hợp người được phỏng vấn vắng mặt và số người bị loại ra nhiềuhơn 10% tổng số đối tượng đã dự trù thì có thể bổ sung bằng cách chọn thêm đối tượngsống cùng ấp Nếu < 10% thì bỏ qua, không cần phải bổ sung thêm

2.6 Kỹ thuật thu thập số liệu

a/ Kỹ thật thu thập: phỏng vấn trực tiếp mặt đối mặt với đối tượng điều tra

b/ Công cụ thu thập số liệu: sử dụng bộ câu hỏi đóng Bộ câu hỏi gồm tổng cộng 31 câu,được chia thành ba phần: thông tin chung, kiến thức phòng ngừa đuối nước trẻ em, vàhành vi phòng ngừa đuối nước

Trang 16

c/ Người thu thập: được tập huấn kỹ cách phỏng vấn trước khi tham gia điều tra

d/ Phương pháp kiểm soát sai lệch thông tin:

Tổ chức điều tra thử trên 30 hộ gia đình tại huyện An Phú để làm sáng tỏ bộ câuhỏi và phát hiện những vấn đề cần sữa chữa Kết quả cho thấy một số từ ngữ trong bộcâu hỏi như bơi, chum, vại có thể làm đối tượng không hiểu câu hỏi và một số câu hỏichưa mang tính logic Sau khi điều tra thử, bộ câu hỏi đã được chỉnh sửa, sử dụng cácthuật ngữ được sử dụng phổ biến tại địa phương như bơi được chuyển đổi thành lội.Ngoài ra bộ câu hỏi đã được sắp xếp lại theo thứ tự logic giúp đối tượng có thể trả lờimột cách dễ dàng

Trong quá trình thu thập số liệu, các điều tra viên được chia thành nhiều nhóm, vàmỗi nhóm này đều có một giám sát viên đi kèm Sau khi kết thúc một ngày điều tra, mộtcuộc họp được tổ chức với sự tham gia của các nhóm điều tra nhằm rút kinh nghiệmtrong cách thức điều tra đồng thời giải quyết các khó khăn gặp phải từ phía đối tượng

Ngoài ra, các đối tượng nghiên cứu tại từng hộ đều được phỏng vấn riêng đểtránh nhiễu thông tin

Sau khi thu thập số liệu, mỗi bản ghi đều được mã hóa để tiện cho việc quản lý vàtrích lục lại nếu có sai sót Trong quá trình nhập liệu, sử dụng phương pháp kiểm trachéo để kiểm tra mức độ chính xác của các bản nhập

Để mô tả mối quan hệ giữa hai biến, sử dụng bảng 2 x 2 để trình bày phân bố tỷ

lệ đồng thời sử dụng phép kiểm chi bình phương để kiểm định mối liên quan và tính PR(KTC 95%) để đo lường mức độ quan hệ giữa hai biến

Trang 17

2.8 Liệt kê các biến khảo sát

2.8.1 Đặc tính của người chăm sóc

Tuổi người chăm sóc: Được tính bằng cách lấy ngày tháng năm khảo sát trừ đi ngày

tháng năm sinh Độ tuổi đối tượng nghiên cứu là từ 18 đến 70 tuổi và được chia thành 5nhóm bao gồm:

Dân tộc: An Giang là tỉnh có 5,17% dân số là người Khmer, Chăm và Hoa Tuy nhiên

tại huyện An Phú đa số là người Kinh, người Chăm và người Hoa còn người Khmer thìhầu như không có.[14] Đây là biến danh định, bao gồm 3 giá trị:

• Kinh

• Hoa

• Chăm

Trình độ học vấn: trình độ học vấn cũng là một trong những yếu tố có khả năng tác

động đến hành vi của người chăm sóc trẻ trong gia đình Đây là biến thứ tự gồm các giátrị:

• Không biết đọc, biết viết

Trang 18

• Đại học/cao đẳng/trung cấp

Nghề nghiệp: đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định hành vi phòng ngừa đuối

nước trẻ em Đây là biến danh định gồm các giá trị

làm thuê, làm mướn, gia công tại nhà, bốc vác v.v

Mối quan hệ với trẻ: là biến danh định gồm các giá trị:

• Khác

Người chăm sóc biết bơi lội: đây là biến định tính gồm hai giá trị:

• Biết bơi lội

Trang 19

• Nữ

Trẻ biết bơi lội: Đây là biến định tính gồm hai giá trị:

• Biết bơi lội

Yếu tố môi trường ảnh hưởng hành vi phòng ngừa của người chăm sóc: Các khu

vực chứa nước xung quanh nhà chẳng hạn như sông, suối, ao, hồ đều có thể là nơi xảy rađuối nước ở trẻ em và cũng có ảnh hưởng đến hành vi phòng ngừa của người chăm sóc.Ngoài ra các dụng cụ chứa nước không nắp đậy cũng là nơi dễ xảy ra đuối nước Nhưvậy để khảo sát các yếu tố môi trường nói trên, nghiên cứu này sử dụng hai câu hỏi:

“nhà anh/chị có gần sông/ao/hồ/kênh/rạch hay không?” và “ nhà anh/chị có sử dụngdụng cụ chứa nước hay không?” Các câu hỏi này sẽ tương ứng với hai biến nhị giá sau:Nhà gần sông/ao/kênh/rạch: gồm hai giá trị:

2.8.3 Kiến thức về phòng ngừa đuối nước trẻ em

Kiến thức về các tình huống nguy cơ dẫn đến đuối nước: trẻ em thường có nguy cơ

chết đuối khi:

Đối với mỗi tình huống nguy cơ các đối tượng sẽ được hỏi bằng câu hỏi có,không Nếu đối tượng trả lời có, đồng nghĩa với việc đối tượng biết về tình huống đó

Trang 20

Kiến thức về độ tuổi dễ bị đuối nước nhất: theo báo cáo tai nạn thương tích của WHO

năm 2004 thì tỷ lệ tử vong do đuối nước ở trẻ em có độ tuổi từ 0 - 4 là cao nhất so vớicác nhóm tuổi khác.[12] Còn trong nghiên cứu của Đặng Văn Chính và cộng sự khảo sát

52 ca chết đuối thì độ tuổi chiếm tỷ lệ nhiều nhất là < 3 tuổi.[1] Do đó, trong nghiên cứunày chúng tôi chọn nhóm trẻ 0-5 tuổi vì đây là độ tuổi cần sự chăm sóc nhiều nhất củangười chăm sóc đồng thời cũng là độ tuổi có khả năng bị đuối nước cao nhất Đây làbiến nhị giá gồm giá trị:

• Biết: khi trả lời đúng nhóm tuổi trẻ nêu trên

• Không biết: khi trả lời không biết hoặc chọn nhóm trẻ có độ tuổi khác

Kiến thức về các biện pháp phòng ngừa đuối nước trẻ em: để phòng ngừa đuối nước

có các biện pháp sau đây:

• Đi theo và quan sát trẻ chơi gần sông/ao/kênh/rạch

• Cần dắt trẻ đi học trong mùa mưa, lũ

• Mặc áo phao cho trẻ khi đi ghe/thuyền/phà

• Nên tập bơi cho trẻ

Đối với mỗi biện pháp các đối tượng sẽ được hỏi bằng câu hỏi có, không Nếu đốitượng trả lời có, đồng nghĩa với việc đối tượng có kiến thức về biện pháp đó

Kiến thức về cách thức thực hiện sơ cấp cứu đuối nước: sơ cấp cứu đuối nước bao

gồm các bước sau:

dùng gạc hay khăn vải móc đờm dãi, dị vật khỏi đường thở và miệng nạn nhân;

• Thổi ngạt cho trẻ khi trẻ không thở được bằng cách dùng hai ngón tay bịt mũi trẻ

và thổi hơi trực tiếp vào miệng trẻ; và

• Ép tim ngoài lồng ngực nếu mạch của trẻ không nảy

Trang 21

Đối với kiến thức này, đối tượng sẽ được hỏi từng bước trong quy trình sơ cấpcứu sơ cấp cứu đuối nước Nếu đối tượng trả lời đúng thứ tự các bước nêu trên đồngnghĩa với việc đối tượng có kiến thức về cách thức thực hiện sơ cấp cứu đuối nước.

2.8.4 Hành vi phòng ngừa đuối nước trẻ em

Hành vi ngăn ngừa trẻ tiếp xúc với yếu tố môi trường tăng nguy cơ đuối nước: bao gồm hành vi làm rào chắn sông/ao/kênh/rạch cẩn thận và đậy nắp các dụng cụ chứa

nước trong nhà Mỗi hành vi sẽ được hỏi bằng câu hỏi có không Nếu đối tượng trả lời

có thì đối tượng có hành vi phòng ngừa đối với yếu tố đó

Hành vi phòng ngừa đuối nước khi người chăm sóc ra khỏi nhà: Người chăm sóc trẻ

khi đi vắng thường có một số hành vi bất cẩn chẳng hạn như để trẻ ở nhà một mình, chotrẻ đi chơi với bạn v.v Trong trường hợp này có hành vi phòng ngừa là khi người chămsóc nhờ người thân trông hộ hoặc gửi nhà trẻ/điểm giữ trẻ khi đi ra khỏi nhà Đây là biếnđịnh tính gồm hai giá trị:

trông hộ

hoặc chơi với trẻ khác trong xóm hoặc các hành vi khác

Hành vi phòng ngừa đuối nước khi người chăm sóc bận việc nhà: nhiều nghiên cứu

trên thế giới cho thấy các trường hợp đuối nước thường xảy ra khi cha mẹ bận làm cáccông việc nhà như giặt đồ, rửa chén, lau nhà v.v để trẻ tự chơi một mình dẫn đến ngãxuống sông, ao hồ Trong trường hợp này có hành vi phòng ngừa là khi người chăm sócnhờ người thân trông hộ Đây là biến định tính gồm hai giá trị:

hoặc chơi với trẻ khác hoặc vừa làm vừa quan sát, theo dõi trẻ

Đeo phao cho trẻ khi đi trên ghe/thuyền/phà: Đây là biến nhị giá gồm hai giá trị:

Trang 22

• Có hành vi phòng ngừa: khi chọn câu trả lời là có

Đi theo và quan sát trẻ chơi gần sông/ao/kênh/rạch: Đây là biến nhị giá gồm hai giá

trị:

• Có hành vi phòng ngừa: khi chọn câu trả lời là có

Đi theo trẻ và quan sát trẻ chơi gần dụng cụ chứa nước: Đây là biến nhị giá gồm hai

giá trị:

• Có hành vi phòng ngừa: khi chọn câu trả lời là có

Tham gia lớp tập huấn về sơ cấp cứu đuối nước: Đây là biến định tính gồm hai giá

trị:

• Có hành vi phòng ngừa: khi chọn câu trả lời là có

2.9 Vấn đề y đức: Nghiên cứu này không vi phạm đạo đức vì:

- Không vi phạm thuần phong mỹ tục

- Không tiết lộ bí mật của người được điều tra

- Không làm tổn hại tinh thần, thể chất của đối tượng tham gia nghiên cứu

Trang 23

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ

3.1 Đặc tính của người chăm sóc

Cỡ mẫu nghiên cứu được ước lượng là 461 mẫu do đó tổng cộng có 461 đốitượng được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi Tổng số bộ câu hỏi thu lại được là 461 bộ, tuynhiên sau khi tiến hành kiểm tra toàn bộ các phiếu theo các tiêu chí đưa vào và loại ra thìchỉ có 453 phiếu hợp lệ Như vậy tỷ lệ mất mẫu trong nghiên cứu này là 1,7%, tuy nhiên

tỷ lệ mất mẫu này là không lớn

Bảng 3.1 Các đặc tính của người chăm sóc (n = 453)

Tuổi

18-2728-3738-4748-5758-70

123159794943

27,235,117,410,89,5Giới tính

Nam

10,689,4Dân tộc

KinhHoaChăm

438213

96,70,42,9Trình độ học vấn

Không biết đọc,biết viếtCấp I

Cấp IICấp IIIĐại học/cao đẳng/trung cấpSau đại học

842021203962

18,544,626,58,61,30,4

Trang 24

Đặc tính Tần số Tỷ lệ (%)Nghề nghiệp

Nông dânBuôn bánCông nhânCán bộ, viên chứcNội trợ

Lao động phổ thông

10179410116143

22,317,40,92,225,631,6Mối quan hệ với trẻ

Cha/mẹÔng/bàKhác

3568710

78,619,22,2

Qua khảo sát trên 453 đối tượng thì nhóm tuổi chiếm tỷ lệ nhiều nhất là 28-37tuổi (35,1%), nhóm tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất là 58-70 tuổi (9,5%) Tuổi trung vị của cácđối tượng là 33 tuổi Về giới tính thì có 405 phụ nữ được phỏng vấn chiếm tỷ lệ 89,4%trong khi tỷ lệ nam là 10,6% Đa số đối tượng là dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ 96,7%

Về trình độ học vấn, 18,6% đối tượng không biết đọc, biết viết, 44,6% đã từnghọc cấp I, chiếm tỷ lệ cao nhất, còn lại 36,9% số đối tượng có trình độ học vấn từ cấp IItrở lên Về nghề nghiệp, đối tượng là lao động phổ thông (làm thuê, thợ may, đi ở mướnv.v) chiếm tỷ lệ cao nhất là 31,6%, tiếp theo là nội trợ và nông dân (lần lượt chiếm tỷ lệ

là 25,6% và 22,3%)

Trong số đối tượng được khảo sát, có đến 78,6% đối tượng là cha mẹ của trẻ, cònlại 21,4% là ông bà hoặc người thân khác của trẻ Khi được hỏi có biết bơi lội haykhông, có đến 88,5% đối tượng trả lời là có và 11,5% cho biết không biết bơi

3.2 Đặc tính của trẻ

Các đối tượng cũng được hỏi một số thông tin liên quan đến trẻ mà đối tượngđang trực tiếp chăm sóc Các thông tin này bao gồm: tuổi, giới và trẻ biết bơi lội haykhông

Trang 25

Bảng 3.2 Đặc tính của trẻ (n = 453)

Tuổi

< 5 tuổi5-<9 tuổi9-11 tuổi

19218477

42,440,617,0Giới tính

Nam

Về độ tuổi của trẻ mà đối tượng trực tiếp chăm sóc thì 83% trẻ < 9 tuổi, trong đó42,4% trẻ < 5 tuổi Về giới tính, 53,2% trẻ là nam và có đến 82,8% trẻ không biết bơi

3.3 Yếu tố môi trường ảnh hưởng hành vi phòng ngừa đuối nước của người chăm sóc

Các đối tượng được hỏi nhà có gần sông/ao/kênh/rạch hay không và trong nhà có

sử dụng các dụng cụ chứa nước hay không?

Bảng 3.3 Yếu tố môi trường ảnh hưởng hành vi phòng ngừa đuối nước của người chăm

*: Tổng số mẫu là 410 do chỉ có 410 đối tượng sử dụng dụng cụ chứa nước trong nhà

Có đến 62,9% số đối tượng được phỏng vấn cho biết nhà gần sông/ao/kênh /rạch

và 90,5% số đối tượng có sử dụng dụng cụ chứa nước trong nhà Trong các dụng cụchứa nước được sử dụng, lu là dụng cụ được sử dụng nhiều nhất chiếm 74,4%

Trang 26

3.4 Kiến thức phòng ngừa đuối nước của người chăm sóc

Các đối tượng sẽ được hỏi các câu hỏi liên quan đến kiến thức bao gồm: kiếnthức về các tình huống nguy cơ dẫn đến đuối nước, kiến thức về độ tuổi dễ bị đuối nướcnhất, kiến thức về các biện pháp phòng ngừa đuối nước và kiến thức về cách thức sơ cấpcứu đuối nước

Bảng 3.4 Kiến thức về các tình huống nguy cơ dẫn đến đuối nước (n = 453)

Biết trẻ chơi đùa gần sông/ao/kênh/rạch dễ bị

Biết trẻ chơi đùa gần các dụng cụ chứa nước

Biết trẻ không mặc áo phao khi đi

Khi được hỏi về các tình huống nguy cơ dẫn đến đuối nước trẻ em, số đối tượngtrả lời biết về các tình huống này rất cao, cụ thể tỷ lệ biết trẻ không biết bơi có thể bịđuối nước là 94%, biết trẻ chơi gần sông/ao/kênh/rạch có thể bị đuối nước là 90,5%, biếttrẻ chơi đùa gần dụng cụ chứa nước không đậy nắp có thể bị đuối nước là 86,7%, biết trẻkhông mặc áo phao đi ghe phà dễ bị đuối nước là 89,6%

Bảng 3.5 Kiến thức về độ tuổi dễ bị đuối nước nhất (n= 453)

Độ tuổi trẻ dễ bị đuối nước nhất

Biết độ tuổi từ 0-5 tuổiCác nhóm tuổi khácKhông biết

19423623

42,852,15,1

Tỷ lệ đối tượng trả lời đúng về độ tuổi dễ bị đuối nước nhất (0-5 tuổi) là 42,8%trong khi tỷ lệ trả lời các độ tuổi khác (> 5 tuổi, 6-12 tuổi, 5-10 tuổi v.v) là 52,1% Như

Trang 27

vậy tỷ lệ đối tượng có kiến thức về độ tuổi dễ bị đuối nước nhất là 42,8% trong khikhông có kiến thức là 57,2%.

Bảng 3.6 Kiến thức về các biện pháp phòng ngừa đuối nước (n = 453)

Biết là cần mặc áo phao/vật nổi cho trẻ

Tỷ lệ đối tượng cho rằng cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa đuối nước là rấtcao trong đó tỷ lệ biết cần đi theo và quan sát trẻ chơi gần sông/ao/kênh/rạch là 92,1%,biết cần đậy nắp chắc chắn dụng cụ chứa nước là 96,9%, biết cần đi với trẻ đến trườngtrong mùa mưa, lũ là 93,2%, biết cần mặc áo phao cho trẻ khi đi ghe thuyền là 90,5%,biết cần tập bơi cho trẻ là 95,6%

Bảng 3.7 Kiến thức về cách thức sơ cấp cứu đuối nước (n= 453)

Có kiến thức về cách thức thực hiện sơ

cấp cứu đuối nước

Về cách thức thực hiện sơ cấp cứu đuối nước, các đối tượng được hỏi về thứ tựthực hiện các bước sơ cấp cứu bao gồm: móc dị vật đờm dãi ra khỏi miệng trẻ, thổi hơitrực tiếp vào miệng trẻ và ép tim ngoài lồng ngực trẻ nếu thấy tim không đập Kết quảcuối cùng cho thấy tỷ lệ đối tượng có kiến thức về cách thức sơ cấp cứu đuối nước chỉchiếm 29,14%

Bảng 3.8 Nguồn thông tin về sơ cấp cứu đuối nước (n=132)*

Trang 28

Nguồn thông tin Tần số Tỷ lệ(%)

* : n=132 là số người trả lời biết cách thức sơ cấp cứu đuối nước

Đối với các đối tượng biết cách thực hiện sơ cấp cứu đuối nước, họ sẽ được hỏitiếp là kiến thức có được là từ nguồn thông tin nào Kết quả cho thấy có 42,4% đốitượng cho biết kiến thức có được là từ coi ti vi, còn từ loa đài là 19,7% và sách báo chỉchiếm 9,1% Các nguồn thông tin khác như hàng xóm nói, kinh nghiệm bản thân v.v.chiếm 27,3%

3.5 Hành vi phòng ngừa đuối nước trẻ em của người chăm sóc

Các đối tượng được phỏng vấn về các hành vi phòng ngừa đuối nước trẻ em baogồm: hành vi ngăn ngừa trẻ tiếp xúc với yếu tố môi trường làm tăng nguy cơ đuối nướccủa trẻ (nhà gần sông/ao/kênh/rạch; các dụng cụ chứa nước không đậy nắp), hành viphòng ngừa đuối nước cho trẻ khi đối tượng đi ra khỏi nhà và không thể trông coi trẻ,hành vi phòng ngừa đuối nước cho trẻ khi đối tượng bận làm các công việc nhà, hành vi

đi theo và quan sát trẻ chơi gần bờ sông/ao/kênh/rạch hay dụng cụ chứa nước, hành vitham gia lớp tập huấn về sơ cấp cứu

Bảng 3.9 Hành vi ngăn ngừa trẻ tiếp xúc với yếu tố môi trường tăng nguy cơ đuối nước

Trong 285 đối tượng có nhà gần sông/ao/kênh/rạch thì tỷ lệ làm rào chắn các khuvực này chỉ chiếm 27% Trong 410 đối tượng có sử dụng dụng cụ chứa nước trong nhàthì 87,1% đối tượng có đậy nắp dụng cụ chứa nước trong nhà

Bảng 3.10 Hành vi phòng ngừa đuối nước khi người chăm sóc ra khỏi nhà (n = 453)

Trang 29

Hành vi phòng ngừa Tần số Tỷ lệ (%)Khi có việc ra khỏi nhà, không thể chăm trẻ

Nhờ người thân trông giúp

818,44,63,52,4

Khi được hỏi anh/chị xử trí như thế nào khi có việc ra khỏi nhà và không thểchăm trẻ thì có đến 81% đối tượng trả lời là gửi trẻ cho người thân chăm sóc Tỷ lệ chotrẻ chơi một mình và chơi trong xóm đều thấp (4,6% và 2,4%) và tỷ lệ gửi nhà trẻ cũngrất thấp (3,5%) Như vậy tỷ lệ đối tượng có hành vi phòng ngừa khi đi vắng và khôngthể chăm sóc trẻ là 84,5%

Bảng 3.11 Hành vi phòng ngừa đuối nước cho trẻ khi đối tượng bận việc nhà (n = 453)

Khi bận làm công việc nhà không thể chăm trẻ

Vừa làm vừa quan sát trẻ

Gửi người thân/hàng xóm trông giùm

Cho trẻ chơi một mình

Cho trẻ chơi trong xóm

Khác

25212841257

55,628,395,51,6

Kết quả khảo sát cho thấy 55,6% đối tượng vừa làm công việc nhà vừa quan sáttrẻ, 28,3% đối tượng gửi người thân trông hộ, còn các hành vi khác chiếm tỷ lệ 16,1%.Như vậy, tỷ lệ đối tượng có hành vi phòng ngừa khi bận công việc nhà là 28,3%

Bảng 3.12 Các hành vi phòng ngừa khác (n = 453)

Hành vi phòng ngừa

Trang 30

Đi theo và quan sát trẻ chơi gần dụng cụ chứa nước 453 92

Trong số 453 đối tượng được phỏng vấn thì chỉ có 167 đối tượng trả lời là đã từngcho trẻ đi ghe/thuyền/phà Trong số này chỉ có 39% là cho trẻ mặc áo phao Khi trẻ có ýđịnh chơi gần bờ sông/ao/kênh/rạch thì có đến 94% các đối tượng đi theo và quan sát trẻchơi, hoặc đi theo kêu trẻ về nhà hoặc không cho trẻ chơi ngay lúc đó Tương tự, khi trẻ

có ý định chơi gần dụng cụ chứa nước thì 92% đối tượng quan sát trẻ chơi hoặc đi theo

và ngăn không cho trẻ tiếp xúc với dụng cụ chứa nước, hoặc la rầy không cho trẻ chơigần khu vực đó Về hành vi tham gia lớp tập huấn/lớp học về sơ cấp cứu thì chỉ có 9,3%đối tượng có thực hiện hành vi này

Bảng 3.13 Nơi tổ chức các lớp tập huấn/lớp học về sơ cấp cứu đuối nước (n = 42)

Trong số 42 đối tượng có tham gia các lớp tập huấn về sơ cấp cứu đuối nước thì

tỷ lệ đối tượng được trạm y tế xã tập huấn là nhiều nhất chiếm tỷ lệ là 38,1% Ngoài racác đối tượng còn được tập huấn bởi nhiều nơi khác nhau như trong trường học phổthông, trong trường đại học (chiếm tỷ lệ 33,3%)

3.6 Mối liên quan giữa hành vi và các yếu tố khảo sát

3.6.1 Mối liên quan giữa làm rào chắn khu vực sông/ao/kênh/rạch và các yếu

Trang 31

60 (84,5)

66 (68,8)

1

1 (0,5-2,1)1,5 (KXĐ)1,7 (0,5-5,6)0,5 (0,2-1,1)

Trang 32

PR(KTC 95%)

Giữa hành vi làm hàng rào chắn sông/ao/kênh/rạch và các đặc tính của trẻ không

có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Bảng 3.16 Mối liên quan giữa làm rào chắn và các kiến thức

Kiến thức

Làm rào chắn

PR(KTC 95%)

pCó

n (%)

Không

n (%)Kiến thức về các biện pháp phòng ngừa

đuối nước

Có kiến thức

0,2

Kiến thức về tình huống trẻ chơi gần bờ

sông/ao/kênh/rạch có thể bị đuối nước

3.6.2 Mối liên quan giữa đậy nắp các dụng cụ chứa nước và các yếu tố khảo sát

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa đậy nắp các dụng cụ chứa nước và các đặc tính người chăm sóc

Trang 33

Đặc tính

Đậy nắp dụng cụ chứa nước

PR(KTC 95%)

pCó

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa đậy nắp dụng cụ chứa nước và các đặc tính của trẻ

Trang 34

PR(KTC 95%)

Giữa hành vi đậy nắp dụng cụ chứa nước và các đặc tính của trẻ không có mối

liên hệ có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Bảng 3.19 Mối liên quan giữa đậy nắp dụng cụ chứa nước và các kiến thức

Kiến thức

Đậy nắp dụng cụ chứa nước

PR(KTC 95%)

pCó

n (%)

Không

n (%)

Kiến thức về trẻ chơi đùa gần

các dụng cụ chứa nước không

có nắp đậy dễ bị đuối nước

< 0,05

Bảng 3.20 Mối liên quan giữa đậy nắp dụng cụ chứa nước và kiến thức về việc đậy nắp chắc chắn các dụng

cụ chứa nước điều chỉnh theo các biến số kiểm soát với PR thô là 2,3

Trang 35

Giới tính

Nam

Nữ

2,3 KXĐ

* Dân tộc

Mối quan hệ với trẻ

Cha/mẹ

Khác

1,8 KXĐ

* Biết bơi lội

Biết

Không biết

1,8 2,4

Giới tính trẻ

Nam

Nữ

2,2 2,4

Trẻ biết bơi lội

Biết

Không biết

2,1 KXĐ

*

*: Không thực hiện được

Giữa đậy nắp dụng cụ chứa nước và kiến thức về việc đậy nắp chắc chắn cácdụng cụ chứa nước có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với PR ( KTC 95%) là 2,3 (1,2

- 4,6)

Trang 36

3.6.3 Mối liên quan giữa hành vi phòng ngừa đuối nước cho trẻ khi người chăm sóc đi ra khỏi nhà và các yếu tố khảo sát

Bảng 3.21 Mối liên quan giữa hành vi phòng ngừa đuối nước cho trẻ khi người chăm

sóc đi ra khỏi nhà và các đặc tính của người chăm sóc

1 (0,7-1,4)0,9 (0,6-1,3)

0,1

Trang 37

Đặc tính người chăm sóc

Hành vi phòng ngừa khi đi ra khỏi

nhà

PR(KTC 95%)

pCó

0,2

Giữa hành vi phòng ngừa đuối nước cho trẻ khi người chăm sóc ra khỏi nhà và các đặc tính của người chăm sóc không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).Bảng 3.22 Mối liên quan giữa hành vi phòng ngừa đuối nước cho trẻ khi người chăm

sóc trẻ đi ra khỏi nhà và các đặc tính của trẻ

Đặc tính của trẻ

Hành vi phòng ngừa khi đi ra khỏi nhà

PR(KTC 95%)

pCó

0,02

Giữa hành vi phòng ngừa đuối nước cho trẻ khi đối tượng đi ra khỏi nhà và nhómtuổi trẻ cũng như khả năng bơi lội của trẻ có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,05

và p = 0,02)

Ngày đăng: 11/03/2020, 11:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w