Di tích lịch sử văn hóa có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc. Là tài sản vô cùng quý giá, là bọ phận hợp thành nên nền văn hóa Việt Nam được lưu giữ trường tồn từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ở đó thể hiện được bản sắc văn hóa dân tộc, các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng diễn ra tại di tích có tác dụng giáo dục lòng tự hào dân tộc, lòng yêu quê hương đất nước. Những di tích mà ông cha ta để lại vô cùng phong phú với hàn ngàn Đình, Đền, Miếu mạo, Lăng tẩm…. giá trị của các di tích lịch sử văn hóa dã thấm sâu vào tâm hồn, máu thịt của bao thế hệ người Việt Nam. Nhận thức của toàn xã hội về vai trò, ý nghĩa, giá trị của di tích văn hóa nói chung, di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh nói riêng ngày càng được nâng cao. Bảo vệ di tích, phát huy giá trị của di tích phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đấu tranh chống vi phạm đã trở thành nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân. Hàng ngàn di tích được xếp hạng và tu bổ trong mấy chục năm qua đã thể hiện những nỗ lực to lớn của toàn xã hội chăm lo và bảo vệ di tích. Về cơ bản hệ thống di tích của đất nước đã được bảo vệ, chăm sóc và tu bổ bảo đảm khả năng tồn tại lâu dài. Tuy nhiên, do trải qua hàng chục năm chiến tranh, chúng ta chưa có nhiều điều kiện chăm lo, bảo vệ di tích nên đến nay, mặc dù đã rất cố gắng nhưng vẫn còn nhiều di tích bị vị phạm chưa được giải tỏa. Phần lớn các vi phạm này đã diễn ra từ nhiều chục năm nay nên việc giải quyết cần có quyết tâm và sự phối hợp của nhiều ngành, nhiều cấp.Một trong số những di tích nổi tiếng ở Hà Nội phải kể đến đó tích lịch sử văn hóa Thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội. Thành gắn liền với những truyền thuyết kỳ thú của dân tộc Việt, về việc Vua An Dương Vương định đô xây thành, về việc chiếc nỏ thần Kim Quy bắn một phát hạ hàng trăm tên giặc, về mối tình bi thương và cảm động của Mỵ Châu Trọng Thuỷ... Từ bao đời nay, dấu vết của ngôi thành cổ này cùng với những nhân vật được huyền thoại hoá đã đi vào tiềm thức của người dân Việt Nam. Thành Cổ Loa là toà thành cổ nhất, quy mô và có cấu trúc lớn nhất trong số thành cổ ở nước ta. Theo dân gian truyền lại, Cổ Loa có 9 vòng thành xoáy trôn ốc, nhưng do chiến tranh và sự phá huỷ của thời gian, Cổ Loa hiện tại chỉ còn 3 vòng thành. Cổ Loa là một khu du lịch nổi tiếng với những công trình độc đáo như giếng Ngọc, đình Cổ Loa, đền thờ An Dương Vương, am Mị Châu…Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa hiện nay Thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội có nguy cơ đứng trước quá trình đô thị hóa luôn có những nguy cơ bị hủy hoại do sự tác động của thời gian, thiên tai và những hoạt động thiếu ý thức của con người… làm hao mòn, thất thoát tài sản văn hóa dân tộc. Chính vì thế, những vấn đề bảo vệ di tích nói chung và quản lý di tích lịch sử văn hóa Thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội đang là việc làm rất cần thiết.Chính vì vậy để hiểu rõ hơn về vấn đề này em xin chọn đề tài : Bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa Thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội để làm khoá luận tốt nghiệp của mình.
Trang 1KHOA
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
Đề tài : Bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa Thành Cổ Loa,
Đông Anh, Hà Nội.
Họ tên sinh viên :
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan : Khoá luận tốt nghiệp với đề tài “ Bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa Thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội ” là công
trình nghiên cứu của cá nhân tôi, không sao chép của bất cứ ai
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của riêng mình !
Hà Nội, ngày …………
Người cam đoan
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Đối tượng phạm vi nghiên cứu 7
3 Mục tiêu nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Bố cục của khóa luận 8
NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1 10
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH LỊCH SỬ 10
1.1 Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử 10
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 10
1.1.1.1 Khái niệm di tích 10
1.1.1.2 Khái niệm di tích lịch sử văn hóa 11
1.1.1.3 Khái niệm bảo tồn giá trị di tích lịch sử 12
1.1.1.4 Khái niệm phát huy giá trị di tích lịch sử 13
1.1.2 Nội dung của bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử 14
1.1.3 Phân loại di tích 15
1.1.4 Đặc điểm của di tích lịch sử 18
1.1.5 Vai trò của bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử 19
Trang 41.2 Giới thiệu chung về Hà Nội và di tích lịch sử văn hóa Thành Cổ Loa, Đông
Anh, Hà Nội 20
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 20
1.2.2 Vị trí địa lý 21
1.2.3 Tài nguyên thiên nhiên 22
1.2.4 Kinh tế – xã hội 25
1.3 Di tích lịch sử văn hóa Thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội 26
1.3.1 Nguồn gốc hình thành 26
1.3.2 Vị trí địa lý 29
1.3.3 Giá trị của di tích lịch sử văn hóa Thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội 30
CHƯƠNG 2 32
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA THÀNH CỔ LOA, ĐÔNG ANH, HÀ NỘI 32
2.1 Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa Thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội 32
2.1.1 Công tác bảo tồn và quản lý giá trị di tích 32
2.1.1.1 Bộ máy bảo tồn, quản lý di tích 32
2.1.1.2 Các hoạt động bảo tồn 36
2.1.2 Công tác phát huy giá trị của di tích 40
2.1.2.1 Tuyên truyền, quảng bá di tích 40
2.1.2.2 Nguồn nhân lực phát huy các giá trị của di tích 41
2.1.2.3 Kiểm tra, đánh giá và phát huy giá trị của di tích 42
Trang 52.2.1 Những kế quả đạt được 44
2.2.2 Hạn chế 45
2.2.3 Nguyên nhân của hạn chế 47
CHƯƠNG 3 50
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA THÀNH CỔ LOA, ĐÔNG ANH, HÀ NỘI 50
3.1 Định hướng bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa Thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội trong thời gian tới 50
3.2 Một số giải pháp 51
3.2.1 Nâng cao vai trò lãnh đạo của nhà nước đối với việc bảo tồn, phát huy các giá trị của di tích 51
3.2.2 Nâng cao nhận thức, đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền về giá trị của di tích 53
3.2.3 Xây dựng chương trình tổng thể bảo tồn, khai thác và phát huy các giá trị của di tích 55
3.2.4 Xây dựng kế hoạch huy động các nguồn lực tham gia 57
3.2.5 Gắn kết chặt chẽ giữa bảo tồn, phát huy giá trị giá trị của di tích với phát triển kinh tế du lịch 59
3.2.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, khen thưởng và xử lý vi phạm trong hoạt động tại di tích 60
3.3 Một số kiến nghị 61
3.3.1 Đối với nhà nước 61
3.3.1 Đối với địa phương 62
Trang 6KẾT LUẬN 64
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về đờisống vật chất và tinh thần của con người ngày càng trở nên phong phú và đa dạng.Đứng trước cuộc sống hiện đại thì nhu cầu trở về cội nguồn tìm hiểu lích sử dân tộcngày càng trở nên bức thiết
Di tích lịch sử văn hóa có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hộicủa mỗi quốc gia, dân tộc Là tài sản vô cùng quý giá, là bọ phận hợp thành nênnền văn hóa Việt Nam được lưu giữ trường tồn từ thế hệ này sang thế hệ khác Ở
đó thể hiện được bản sắc văn hóa dân tộc, các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng diễn ratại di tích có tác dụng giáo dục lòng tự hào dân tộc, lòng yêu quê hương đất nước.Những di tích mà ông cha ta để lại vô cùng phong phú với hàn ngàn Đình, Đền,Miếu mạo, Lăng tẩm… giá trị của các di tích lịch sử văn hóa dã thấm sâu vào tâmhồn, máu thịt của bao thế hệ người Việt Nam
Nhận thức của toàn xã hội về vai trò, ý nghĩa, giá trị của di tích văn hóa nóichung, di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh nói riêng ngày càng đượcnâng cao Bảo vệ di tích, phát huy giá trị của di tích phục vụ sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước, đấu tranh chống vi phạm đã trở thành nhiệm vụ quantrọng của toàn Đảng, toàn dân Hàng ngàn di tích được xếp hạng và tu bổ trongmấy chục năm qua đã thể hiện những nỗ lực to lớn của toàn xã hội chăm lo và bảo
vệ di tích Về cơ bản hệ thống di tích của đất nước đã được bảo vệ, chăm sóc và tu
bổ bảo đảm khả năng tồn tại lâu dài Tuy nhiên, do trải qua hàng chục năm chiếntranh, chúng ta chưa có nhiều điều kiện chăm lo, bảo vệ di tích nên đến nay, mặc
dù đã rất cố gắng nhưng vẫn còn nhiều di tích bị vị phạm chưa được giải tỏa Phầnlớn các vi phạm này đã diễn ra từ nhiều chục năm nay nên việc giải quyết cần cóquyết tâm và sự phối hợp của nhiều ngành, nhiều cấp
Trang 8Một trong số những di tích nổi tiếng ở Hà Nội phải kể đến đó tích lịch sử văn
hóa Thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội Thành gắn liền với những truyền thuyết kỳthú của dân tộc Việt, về việc Vua An Dương Vương định đô xây thành, về việcchiếc nỏ thần Kim Quy bắn một phát hạ hàng trăm tên giặc, về mối tình bi thương
và cảm động của Mỵ Châu - Trọng Thuỷ Từ bao đời nay, dấu vết của ngôi thành
cổ này cùng với những nhân vật được huyền thoại hoá đã đi vào tiềm thức củangười dân Việt Nam Thành Cổ Loa là toà thành cổ nhất, quy mô và có cấu trúclớn nhất trong số thành cổ ở nước ta Theo dân gian truyền lại, Cổ Loa có 9 vòngthành xoáy trôn ốc, nhưng do chiến tranh và sự phá huỷ của thời gian, Cổ Loa hiệntại chỉ còn 3 vòng thành Cổ Loa là một khu du lịch nổi tiếng với những công trìnhđộc đáo như giếng Ngọc, đình Cổ Loa, đền thờ An Dương Vương, am Mị Châu…
Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa hiện nay Thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội
có nguy cơ đứng trước quá trình đô thị hóa luôn có những nguy cơ bị hủy hoại do
sự tác động của thời gian, thiên tai và những hoạt động thiếu ý thức của conngười… làm hao mòn, thất thoát tài sản văn hóa dân tộc Chính vì thế, những vấn
đề bảo vệ di tích nói chung và quản lý di tích lịch sử văn hóa Thành Cổ Loa, ĐôngAnh, Hà Nội đang là việc làm rất cần thiết
Chính vì vậy để hiểu rõ hơn về vấn đề này em xin chọn đề tài : Bảo tồn và
phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa Thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội để
làm khoá luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Tìm về bảo tồn, lưu giữ và phát huy các giá trị di tích lịch sử văn hóa là một đềtài không bao giờ cũ đối với bất cứ ai là con người Việt Nam Bởi đó là một phẩmchất của người Việt như một biểu hiện của lòng yêu cội nguồn văn hóa dân tộc.Trong đó, giá trị di tích lịch sử văn hóa là hiện thân rõ nét nhất Thật vậy, khi tìmhiểu về giá trị di tích lịch sử văn hóa ta sẽ nhận được những điều quý giá từ nó Đó
Trang 9không chỉ là vốn kiến thức về tập tục đó mà nó còn hình thành cho ta những phẩmchất đạo đức đầy ý nghĩa.
Hoạt động bảo tồn, lưu giữ và phát huy các giá trị di tích lịch sử văn hóa củaViệt Nam trong thời gian qua đã có những bước tiến bộ rất đáng phấn khởi, nhànước ta đã quan tâm đầu tư nhiều hơn trong công tác nhiên cứu, trưng bày và quảng
bá giá trị văn hóa cổ vật ở trong nước và quốc tế, nhiều cuộc hội thảo, triển lãm,trưng bày, hội chợ, festival …vv đã được tổ chức và bước đầu thu hút được sựquan tâm của đông đảo nhân dân
Có thể nói, đó là những quan điểm chỉ đạo có ý nghĩa định hướng khôngnhững cho công tác nghiên cứu trên lĩnh vực này, mà còn là cơ sở cho các hoạt độngvăn hóa nói chung và quản lý thị trường hàng hóa văn hóa nói riêng
Ở nước ta hiện nay, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về phong tục ma tang củacác dân tộc ở việt nam Sau đây chúng tôi xin trình bày một số tác phẩm nổi bậcliên quan đến đề tài mà tác giả nghiên cứu:
Thứ nhất : Cuốn sách”Cơ Sở Văn Hoá “ của GS TSKH Trần Ngọc Thêm,
1997 Sách đã phân tích và tổng hợp được hệ thống cơ sở văn hoá Việt Nam và đưa
ra được cái nhìn tổng quan về nền văn hoá dân tộc, cũng như về di tích lịch sử vănhóa Đó là nền văn hoá đi từ lý thuyết: văn hoá học, văn hoá việt nam cho đến thựctiễn là văn hoá nhận thức Từ đó đưa ra cái nhìn mới về văn hoá tổ chức tập thể vàvai trò của văn hoá , di tích lịch sử văn hóa đời sống cá nhân Trong tác phẩm có đềcập đến các di tích lịch sử văn hóa Tuy nhiên, sách chưa nghiên cứu chuyên sâu vềvấn đề này Nhìn chung, sách Cơ sở văn hoá của người việt chính là sự quy tụ củahệt thống văn hoá cơ bản cần thiết nhất cho chúng ta
Thứ hai : Cuốn Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam của tác giả Hà Văn Tấn,
Nxb khoa học xã hội, Hà Nội,1994 Cuốn sách viết vềnền văn hóa cổ từng tồn tại ởmột số tỉnh miền bắc Việt Nam và bắc trung bộ Việt Nam (Phú Thọ, Yên Bái, Hòa
Trang 10Bình, Hà Nội,Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh mà trung tâm là khuvực Đền Hùng), và ba con sông lớn và chính của đồng bằng Bắc Bộ (sôngHồng, sông Mã vàsông Lam) vào thời kỳ đồ đồng và thời kỳ đồ sắt sớm Nền vănhóa này được đặt tên theo địa phương nơi các dấu tích đầu tiên của nó được pháthiện, gầnsông Mã, Thanh Hóa Nhiều dấu tích đặc trưng cho văn hóa Đông Sơncũng được tìm thấy ở một số vùng lân cận Việt Nam như ở Vân Nam, QuảngTây,Hải Nam của Trung Quốc, ở Lào hay ở Thái Lan Tác phẩm có nói đến các ditích lịch sử văn hóa của dân tộc trên các khía cạnh phân tích và bình luận, nhưngchưa có nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử văn hóa.
Ngoài ra còn có các tác phẩm viết về hoạt động quản lý văn hóa, di tích lịch
sử văn hóa như : Quản lý hoạt động văn hóa (của tác giả Nguyễn Văn Hy, Phan
Văn Tú, Hoàng Sơn Cường, Lê Thị Hiền, Trần Thị Diên, Nxb Văn hóa Thông tin,
Hà Nội, 1998) ; Thể chế xã hội trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ ở nước ta (Đề tài
cấp bộ, Học viện CTQG HCM- do GS, TS Hoàng Vinh chủ nhiệm, nghiệm thu
năm 2000) ; Xây dựng thể chế quản lý kinh doanh văn hóa phẩm hiện thời ở nước
ta (Đề tài cấp bộ Học viện CTQG.HCM- Do GS,TS Hoàng Vinh chủ nhiệm,
nghiệm thu năm 2005)
Tất cả những tài liệu trên đây đều xoay quanh về di tích lịch sử văn hóa củaViệt Nam trong tất cả các giai đoạn Tuy nhiên, chưa có một đề tài nào đi sâunghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa thành Cổ Loa,Đông Anh, Hà Nội trong giai đoạn hiện nay Do đó tác giả chọn vấn đề này làm đềtài nghiên cứu của mình nhằm nâng cao tính tích cực trong việc về bảo tồn và pháthuy giá trị di tích lịch sử văn hóa thành Cổ Loa trong thời gian tới
3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa Thành Cổ
Trang 113.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội
- Thời gian: Trong vòng 4 năm, từ 2015- 2018
4 Mục tiêu nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu và giải quyết các vấn đề sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị của di tíchlịch sử
- Tìm hiểu giá trị của di tích lịch sử văn hóa Thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động bảo tồn và phát huy giátrị của di tích lịch sử văn hóa Thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy giá trị của di tíchlịch sử văn hóa Thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng các phương pháp sau :
- Nghiên cứu tài liệu: : internet, các website
- Phân tích tổng hợp
- Sử dụng các phương pháp thu thập thông tin khác
- Phương pháp khảo sát thực tế: quan sát
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính củakhóa luận được trình bày qua 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử
Trang 12Chương 2: Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sửvăn hóa Thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bảo tồn và phát huy giá trịcủa di tích lịch sử văn hóa Thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH
LỊCH SỬ 1.1 Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm di tích
Trước khi tìm hiểu khái niệm di tích, phải hiểu về di sản văn hóa Theo quyđịnh của Luật di sản văn hóa được Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩaViệt Nam, khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2001, Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009 thì di sản văn hóa bao gồm di sảnvăn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giátrị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trong khái niệm này, thì di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể
và di sản văn hóa vật thể Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộngđồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử, vănhóa, khoa học; thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và đượclưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trìnhdiễn và các hình thức khác Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trịlịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh,
di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Như vậy, di tích lịch sử - văn hóa (gọi chung là di tích) là một bộ phận của disản văn hóa vật thể Từ những khái niệm trên, ta có khái niệm di tích là “công trình
Trang 14xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địađiểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”
Trong đó, di vật được hiểu là “hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử,văn hóa, khoa học”; cổ vật được hiểu là “hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêubiểu về lịch sử, văn hóa, khoa học và có từ 100 năm tuổi trở nên”; bảo vật quốc giađược hiểu là “hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm về các mặtlịch sử, văn hóa, khoa học” Theo quan niệm truyền thống, di tích lịch sử - văn hóagồm các bộ phận cấu thành sau đây:
Một là, các công trình kiến trúc, địa điểm có liên quan tới các sự kiện lịch sửhoặc nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa
Hai là, những đồ vật trong nội thất các công trình kiến trúc (vật dụng cánhân, đồ tế tự trong các thiết chế văn hóa, tín ngưỡng )
Ba là, môi trường cảnh quan thiên nhiên xem kẽ hoặc bao quanh di tích Bốn là, những giá trị di sản văn hóa phi vật thể gắn với các công trình địađiểm đó
1.1.1.2 Khái niệm di tích lịch sử văn hóa
Pháp lệnh di tích lịch sư năm 1984 lần đầu tiên đã đưa ra khai niệm ve di
tích lích sư, văn hóa và danh lam thắng canh Theo đo, di tích hch sử, văn hóa vàdanh lam thắng cảnh được hiểu như sau:
- Di tích lịch sử, văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tàiliệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học nghệ thuật, giá trị văn hóa hoặc có liênquan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội;
- Danh lam thắng cảnh là những khu vực thiên nhiên có cảnh đẹp hoặc cócông trình xây dựng cổ đẹp nổi tiếng
Trang 15Như vậy, pháp luật quan niệm di tích lịch sử là những di tích có giá trị vềmặt lịch sử, văn hoá, khoa học, nghệ thuật và liên quan đến quá trình phát triển vănhoá, xã hội của đất nước Còn danh lam thắng cảnh là những khu vực có cảnh đẹpđược mọi người biết đến và được thừa nhận rộng rãi.
Di tích lịch sử văn hóa là tài sản văn hóa quý giá của mỗi địa phương, mỗidân tộc, mỗi đất nước và của cả nhân loại Nó là bằng chứng trung thành, xác thực,
cụ thể nhất về đặc điểm văn hóa của mỗi nước Ở đó chứa đựng tất cả những gìthuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, trí tuệ, tài năng con người, góp phầnvào việc phát triển trí tuệ, tài năng con người, góp phần vào việc phát triển khoahọc nhân văn, khoa học lịch sử Đó chính là bộ mặt quá khứ của mỗi dân tộc, mỗiđất nước
Di tích lịch sử văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quantrong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử, do tập thể, cá nhân con người hoạtđộng sáng tạo ra trong lịch sử để lại
1.1.1.3 Khái niệm bảo tồn giá trị di tích lịch sử
Quan điểm bảo tồn giá trị di tích lịch sử không phải không có cơ sở khoahọc của nó Những người theo quan điểm này cho rằng, những sản phẩm của quákhứ nên được bảo tồn nguyên vẹn như nó vốn có để tránh tình trạng thế hệ hiện tạilàm méo mó, biến dạng di sản Mỗi di sản chứa đựng những giá trị văn hoá - xã hộinhất định mà không phải lúc nào thế hệ hiện tại cũng có thể hiểu biết một cách cụthể để có thể phát huy những giá trị ấy một cách thích hợp Không những thế,những tác động của ngày hôm nay sẽ tạo nên những lớp văn hoá khác không trùngnghĩa với lớp văn hoá mà thế hệ trước chuyển giao cho thế hệ sau, vì thế, có thểlàm cho các thế hệ sau nữa không thể truy nguyên được những giá trị của di sảnđang tồn tại
Trang 16Như vậy, những người theo quan điểm này cho rằng, do chúng ta chưa có đủthông tin, trình độ hiểu biết để có thể lý giải giá trị của các di sản văn hoá, chúng tanên giữ nguyên trạng những di sản này để khi có điều kiện, các thế hệ tiếp nối cóthể xử lý, giải thích và tìm cách kế thừa, phát huy di sản một cách tốt hơn.
"Bảo tồn giá trị di tích lịch sử” là giữ lại, không để bị mất đi, không để bịthay đổi, biến hoá hay biến thái… Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này,không có khái niệm “cải biến”, “nâng cao” hoặc phát triển” Hơn nữa, khi nói đốitượng bảo tồn “phải được nhìn là tinh hoa”, chúng ta đã khẳng định giá trị đíchthực và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhaucủa đối tượng được bảo tồn
1.1.1.4 Khái niệm phát huy giá trị di tích lịch sử
Xung quanh hoạt động phát huy giá trị di tích lịch sử cũng đặt ra nhiều vấn
đề Song điều quan trọng hơn cả đối với việc phát huy những giá trị di tích lịch sửnói chung và di tích nói riêng là làm sao khơi dậy ý thức của cộng đồng, niềm tựhào của cộng đồng về di sản văn hoá phi vật thể, để di sản ấy sống trong cộng đồngnhư bản chất của nó
Trong công tác phát huy, vấn đề đặt ra là tuyên truyền, giáo dục trong cộngđồng, nhất là thế hệ trẻ những hiểu biết về giá trị di tích lịch sử với những giá trịvăn hoá của nó Chính đây là cây cầu để chúng ta đưa giá trị di tích lịch sử về vớicộng đồng Cộng đồng chính là môi trường không chỉ sản sinh ra giá trị di tích lịch
sử, mà còn là nơi tốt nhất bảo tồn, làm giàu thêm, phát huy nó trong đời sống xãhội
Xét về bản chất, mỗi di tích hay mọi sinh hoạt nghệ thuật, lễ hội, tínngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, lối sống nếp sống, hoặc các tri thức dân gian
về ngành nghề thủ công, y học, ẩm thực, tất cả đều là những giá trị tồn tại dướinhững dạng cái vật chất cụ thể ẩn chứa phía sau những hoạt động hoặc kết quả của
Trang 17các hoạt động tinh thần của con người trong mọi mối quan hệ với tự nhiên, với xãhội và với chính bản thân mình Những giá trị ấy chính là cái “hồn”, một nơi thểhiện rõ nhất những thành tựu, trình độ và bản sắc văn hóa của một cộng đồng tạimột không gian và ở một thời gian nhất định Tích lũy trong quá khứ, qua trường
kỳ lịch sử các giá trị đó có thể trở thành một bộ phận quan trọng hợp thành vốn disản văn hóa quý báu của dân tộc và có thể cũng là của cả nhân loại Vì vậy, pháthuy các giá trị di sản văn hóa phải biết kế thừa có chọn lọc phần “hồn” ấy, sáng tạothêm, làm cho nó đó thấm sâu, lan tỏa vào đời sống cộng đồng để cộng đồng nhậndiện được giá trị, biết trân trọng những giá trị ấy và tránh có cái nhìn phiến diện
Từ đó mà khơi lòng tự hào để chung tay vào bảo tồn di sản văn hóa của địaphương, của dân tộc và của cả nhân loại Phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa là để phát triển kinh tế, nhưng pháthuy là phải biết kế thừa những tinh hoa của đời trước để lại Những giá trị đó chính
là sự đúc kết kinh nghiệm từ thực tiễn, nếu chúng phù hợp với thời đại mới thì cầnđược phát huy, đồng thời phải biết sáng tạo thêm những cái mới trên nền tảngnhững cái truyền thống để vừa làm giàu thêm bản sắc văn hóa, góp phần đáp ứngnhu cầu hưởng thụ văn hóa của cư dân đương đại đồng thời cũng là cơ hội để tạo rathêm nhiều sản phẩm du lịch đặc trưng giúp phát triển kinh tế bền vững cho địaphương
1.1.2 Nội dung của bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử
Mỗi di tích lại có những giá trị lịch sử, văn hóa khác nhau chứa đựng trongmình những giá trị truyền thống của dân tộc Nhiều năm qua, cùng với sự phát triểnkinh tế của đất nước, công tác quản lý, bảo tồn, phát huy các di tích lịch sử văn hóacủa địa phương cũng đã đạt được kết quả tốt Việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giátrị lịch sử - văn hóa tuy được sự quan tâm của các cấp, các ngành, tổ chức quốc tếnhưng vẫn gặp nhiều khó khăn bất cập: nguồn kinh phí đầu tư tu bổ chủ yếu do các
cá nhân và tổ chức xã hội đóng góp mang tính chất tự phát nên khó quản lý; tình
Trang 18trạng xuống cấp của một số di tích, việc lấy cắp cổ vật, tình trạng mất an ninh, trật
tự trong các dịp tế lễ; chưa có đội ngũ làm công tác hướng dẫn tại các điểm di tích
Nguyên nhân của những thực trạng trên một phần do công tác quản lý ở một
số khu di tích và địa phương còn lỏng lẻo, thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chứcnăng Chính vì thế, vấn đề đặt ra ở đây là làm sao có được định hướng đúng đắncho công tác quản lý, vận dụng sáng tạo các quy định của nhà nước và pháp luật vềquản lý di tích lịch sử văn hóa, phối hợp giữa các ngành các cấp để có thể cụ thểhóa chính sách quản lý của nhà nước về việc bảo tồn và quản lý các di tích lịch sửvăn hóa của địa phương
Nội dung công tác quản lý , bảo tồnvà phát huy gí trị của di tích lịch sử văn
hóa là quá trình quản lý bộ phận lớn kho tàng di sản văn hóa của dân tộc Việc quản
lý di tích lịch sử văn hóa không chỉ đơn thuần là quản lý những giá trị văn hóa vậtthể mà điều quan trọng hơn là làm cho những giá trị văn hóa phi vật thể gắn với ditích luôn sống động, song hành trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, làm cho các thế
hệ sau nhận thức được tầm quan trọng của các di tích lịch sử văn hóa, biết bảo tồn
và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp mà các thế hệ trước đã lưu truyền lại
1.1.3 Phân loại di tích
- Di tích lịch sử - văn hóa
Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật,bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trìnhdựng nước và giữ nước Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như đền Hùng, CổLoa, Cố đô Hoa Lư, Bãi cọc Bạch Đằng, Cột cờ
Trang 19Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dântộc, danh nhân của đất nước Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu di tíchlịch sử Kim Liên, Đền Kiếp Bạc, Quần thể di tích danh thắng Yên Tử, LamKinh, đền Đồng Nhân
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời
kỳ cách mạng, kháng chiến Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu di tíchchiến thắng Điện Biên Phủ, Địa đạo Củ Chi, Khu di tích lịch sử cách mạng Pắc
Bó, Phòng tuyến Tam Điệp, Hành cung Vũ Lâm, Khu rừng Trần Hưng Đạo
Năm 2010, di tích lịch sử chiếm 51.2% số di tích được xếp hạng Các di tích nàykhông những có giá trị lịch sử và văn hóa mà còn mang lại những giá trị lớn trênphương diện kinh tế, nhất là kinh tế du lịch
- Di tích kiến trúc nghệ thuật
Di tích kiến trúc nghệ thuật là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến trúc
đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiếntrúc của dân tộc Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ
có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử.Các di tích tiêu biểu loại này như Chùa Bút Tháp, phố cổ Hội An, nhà thờ PhátDiệm, chùa Keo, đình Tây Đằng,Chùa Phật Tích
Năm 2010, di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm 44.2% tổng số di tích được xếphạng
- Di tích khảo cổ
Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giaiđoạn phát triển của các văn hoá khảo cổ Các di tích tiêu biểu thuộc loại nàynhưHoàng thành Thăng Long, hang Con Moong, di chỉ Đông Sơn, động NgườiXưa, thánh địa Mỹ Sơn
Trang 20Năm 2010, di tích khảo cổ chiếm 1.3% các di tích được xếp hạng.
- Di tích thắng cảnh
Di tích thắng cảnh (danh lam thắng cảnh) là cảnh quan thiên nhiên hoặc địađiểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giátrị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chísau đây:
Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiênvới công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu Các di tích quốc gia đặcbiệt tiêu biểu thuộc loại này như 4 danh lam thắng cảnh khu danh thắng TâyThiên, Tràng An - Tam Cốc - Bích Động, vịnh Hạ Long, động Phong Nha
Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạngsinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấutích vật chất về các giai đoạn phát triển của Trái Đất Các di tích tiêu biểu thuộcloại này như vịnh Hạ Long, Cao nguyên Đồng Văn, các vườn quốc gia và khu dựtrữ sinh quyển thế giới ở Việt Nam
Danh lam thắng cảnh chiếm khoảng 3.3% số di tích được xếp hạng
- Di tích lịch sử cách mạng
Di tích cách mạng - kháng chiến là một bộ phận cấu thành hệ thống các di tíchlịch sử - văn hoá, tuy nhiên, nó có những điểm khác với các di tích tôn giáo tínngưỡng như đình, đền, chùa, miếu… ở chỗ: đó là những địa điểm cụ thể, công trìnhkiến trúc có sẵn (nhà ở, đường phố…), là những công trình được con người tạo nênphù hợp với mục đích sử dụng (địa đạo, hầm bí mật…) gắn liền với những sự kiện
cụ thể, nhân vật lịch sử cụ thể mà trở thành di tích Loại hình di tích này rất đadạng, phong phú, có mặt ở khắp mọi nơi, khó nhận biết, đồng thời cũng rất dễ bịlãng quên, dễ biến dạng theo mục đích sử dụng, theo thời tiết và theo thời gian Bởi
Trang 21vậy các di tích này vừa khó bảo tồn vừa khó phát huy tác dụng nếu không đượcquan tâm đặc biệt.
Một số di tích lịch sử cách mạng như: Chiến khu Tân Trào, Chiến khu QuỳnhLưu, Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ,
1.1.4 Đặc điểm của di tích lịch sử
Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh có giá trị to lớn và
là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá của đất nước
Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc ViệtNam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sựnghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta (Luật di sản văn hóa)
Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng là nguồn tài nguyên du lịch
vô cùng quan trọng, sự độc đáo, phong phú, đa dạng của hệ thống này tạo nên sứchấp dẫn kỳ lạ đối với du khách Giá trị của hệ thống di tích lịch sử - văn hóa vàdanh lam thắng cảnh mang lại cho du khách những hiểu biết về lịch sử dân tộc, lịch
sử địa phương, những tri thức về đặc điểm tự nhiên, những giá trị thẩm mỹ, nhữngkhoảnh khắc thư giãn, nghỉ ngơi
Di tích là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng vềlịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Di tích giúp cho con ngườibiết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưng vănhóa của đất nước và do đó có tác động ngược trở lại tới việc hình thành nhân cáchcon người Việt Nam hiện đại
Di tích chứa đựng những giá trị kinh tế to lớn (trị giá nhiều ngàn tỷ đồng)nếu bị mất đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất, mà là mất đi những giá trịtinh thần lớn lao không gì bù đắp nổi Đồng thời, di tích còn mang ý nghĩa là nguồnlực cho phát triển kinh tế, một nguồn lực rất lớn, sẵn có nếu được khai thác, sử
Trang 22dụng tốt sẽ góp phần không nhỏ cho việc phát triển kinh tế đất nước và nó càng có
ý nghĩa to lớn khi đất nước đang rất cần phát huy tối đa nguồn nội lực để phát triển
Di tích lịch sử liên quan tới sự kiện hoặc nhân vật lịch sử có những đónggóp, ảnh hưởng tới sự tiến bộ của lịch sử dân tộc Đến với di tích lịch sử, kháchtham quan như được đọc cuốn sử ghi chép về những con người, những sự kiện tiêubiểu, được cảm nhận một cách chân thực về lịch sử, những cảm nhận không dễ cóđược khi chỉ đọc những tư liệu ghi chép của đời sau
Giá trị của di tích kiến trúc nghệ thuật thể hiện ở quy hoạch tổng thể và bốcục kiến trúc, ở sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc với cảnh quan, ở những bức chạmkhắc trên kết cấu gỗ, ở vẻ đẹp thánh thiện của những pho tượng cổ, ở nét chạm tinhxảo của những đồ thờ tự
Các di tích, di vật khảo cổ học là nguồn sử liệu quan trọng giúp việc biênsoạn lịch sử trái đất và lịch sử dân tộc từ thời tiền-sơ sử tới các thời kỳ lịch sử saunày
1.1.5 Vai trò của bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử
Bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa là bảo tồn và giữ gìnnhững bằng chứng xác thực trung thành, cụ thể nhất về đặc điểm văn hóa của mỗiđất nước, nó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinhhoa trí tuệ, tài năng, giá trị văn hóa nghệ thuật của mỗi cuốc gia
Với tính độc đáo, truyền thống cũng như tính địa phương của nó, các di tíchlịch sử văn hóa có sức hút lớn đối với những du khách - là tài nguyên quan trọng đểphát triển du lịch, góp phần phát triển kinh tế ở địa phương nơi có di tích
Trong hoạt động du lịch văn hóa lịch sử, các sản phẩm văn hóa như tranh vẽ,sản phẩm điêu khắc, sản vật đặc trưng của địa phương, từng vùng khác nhau…được bán trực tiếp cho khách du lịch đã thực sự mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp
Trang 23phần tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, thay đổi cơ cấu sảnxuất thúc đẩy phát triển nền kinh tế quốc gia dựa trên cơ sở tài nguyên và nội lựccủa mình Bên cạnh đó những giá trị của di tích còn góp phần nâng cao dân trí,nâng cao sự trân trọng đối với văn hóa dân tộc, lòng yêu nước, yêu con người, tìnhhữu nghị giữa các dân tộc.
1.2 Giới thiệu chung về Hà Nội và di tích lịch sử văn hóa Thành Cổ Loa,
Đông Anh, Hà Nội
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và cũng
là kinh đô của hầu hết các vương triều phong kiến Việt trước đây Do đó, lịch sử
Hà Nội gắn liền với sự thăng trầm của lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ
Hà Nội là thành phố trực thuộc trung ương có diện tích lớn nhất cả nước từkhi tỉnh Hà Tây sáp nhập vào, đồng thời cũng là địa phương đứng thứ nhì về dân
số với gần 8 triệu người (năm 2018), sau Thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, nếutính những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của thành phố này năm
2017 là hơn 9 triệu người Hiện nay, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai đôthị loại đặc biệt của Việt Nam
Hà Nội nằm giữa đồng bằng sông Hồng trù phú, nơi đây đã sớm trở thànhmột trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa ngay từ những buổi đầu củalịch sử ViệtNam Năm 1010, vua Lý Thái Tổ, vị hoàng đế đầu tiên của nhà Lý, quyết định xâydựng kinh đô mới ở vùng đất này với cái tên Thăng Long Trong suốt thời kỳ củacác triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, kinh thành Thăng Long là trung tâm văn hóa, giáodục và buôn bán của cả nước Khi Tây Sơn rồi nhà Nguyễn lên nắm quyền trị vì,kinh đô được chuyển về Huế và Thăng Long bắt đầu mang tên Hà Nội từnăm 1831, dưới thời vua Minh Mạng
Trang 24Năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của Liên bang Đông Dương và đượcngười Pháp xây dựng, quy hoạch lại, được mệnh danh là Tiểu Paris PhươngĐông thời bấy giờ Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, Hà Nội là thủ đô của ViệtNam Dân chủ Cộng hòa và sau khi thống nhất tiếp tục là thủ đô của nước Cộng hòa
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay Đó là thủ đô của Đông Dương thuộc Pháp1887-1946 và của miền Bắc Việt Nam trước khi thống nhất miền Bắc và miền NamViệt Nam
Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội hiện naygồm 12 quận, 1 thị xã và 17 huyện ngoại thành Hiện nay, Hà Nội vàThành phố HồChí Minh là hai trung tâm kinh tế – xã hội đặc biệt quan trọng của Việt Nam
1.2.2 Vị trí địa lý
Nằm chếch về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sôngHồng, Hà Nội có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' độkinh Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, HàNam, Hòa Bình phía Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên phía Đông, HòaBình cùng Phú Thọ phía Tây Hà Nội cách thành phố cảng Hải Phòng 120 km, cáchthành phố Nam Định 87 km tạo thành 3 cực chính của Đồng bằng sông Hồng Sauđợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố có diện tích3.324,92 km², nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng, nhưng tập trung chủ yếu bên hữungạn
Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sangĐông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển Đồi núi tậptrung ở phía bắc và phía tây thành phố Nhờ phù sa bồi đắp, ba phần tư diện tích tựnhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng vàchi lưu các con sông khác Phần diện tích đồi núi phần lớn thuộc các huyện SócSơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức, với các đỉnh núi cao như Ba Vì (1.281 m), Gia Dê
Trang 25(707 m), Chân Chim (462 m), Thanh Lanh (427 m), Thiên Trù (378 m) Khu vựcnội thành có một số gò đồi thấp, như gò Đống Đa, núi Nùng
Thủ đô Hà Nội có bốn điểm cực là:
Cực Bắc là xã Bắc Sơn, huyện Sóc Sơn
Cực Tây là xã Thuần Mỹ, huyện Ba Vì
Cực Nam là xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức
Cực Đông là xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm
1.2.3 Tài nguyên thiên nhiên
- Thủy văn :
Sông Hồng là con sông chính của thành phố, bắt đầu chảy vào Hà Nội ởhuyện Ba Vì và ra khỏi thành phố ở khu vực huyện Phú Xuyên tiếp giáp HưngYên rồi xuôi về Nam Định, thành phố có nhiều gắn kết với Thăng Long từ thời nhàTrần Sông Hồng chảy qua Hà Nội dài 163 km, chiếm khoảng một phần ba chiềudài của con sông này trên đất Việt Nam Hà Nội còn có sông Đà là ranh giới giữa
Hà Nội với Phú Thọ, hợp lưu với dòng sông Hồng ở phía Bắc thành phố tạihuyện Ba Vì Ngoài ra, trên địa phận Hà Nội còn nhiều sông khác như sôngĐáy, sông Đuống, sông Cầu, sông Cà Lồ, Các sông nhỏ chảy trong khu vực nộithành như sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, là những đường tiêu thoát nước thảicủa Hà Nội
Hà Nội cũng là một thành phố đặc biệt nhiều đầm hồ, dấu vết còn lại của cácdòng sông cổ Trong khu vực nội thành, hồ Tây có diện tích lớn nhất, khoảng
500 ha, đóng vai trò quan trọng trong khung cảnh đô thị, ngày nay được bao quanhbởi nhiều khách sạn, biệt thự Hồ Gươm nằm ở trung tâm lịch sử của thành phố,khu vực sầm uất nhất, luôn giữ một vị trí đặc biệt đối với Hà Nội Trong khu vựcnội ô có thể kể tới những hồ khác như Trúc Bạch, Thiền Quang, Thủ Lệ Ngoài ra,
Trang 26còn nhiều đầm hồ lớn nằm trên địa phận Hà Nội như Kim Liên, Liên Đàm, NgảiSơn - Đồng Mô, Suối Hai, Mèo Gù, Xuân Khanh, Tuy Lai, Quan Sơn
Do quá trình đô thị hóa mạnh mẽ từ năm 1990 đến nay, phần lớn các sông hồ
Hà Nội đều rơi vào tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng Theo PGS-TS Trần Đức Hạ –Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Cấp thoát nước và Môi trường thuộc Hội Cấpthoát nước Việt Nam, lượng nước thải chưa qua xử lý xả thẳng ra môi trường quálớn Chỉ tính riêng trong khu vực nội đô, mỗi ngày lượng nước thải xả thẳng ra hệthống sông hồ vào khoảng 650.000 m3/ngày (2015) Sông Tô Lịch, trục tiêu thoátnước thải chính của thành phố, hàng ngày phải tiếp nhận khoảng 250.000 m³ nướcthải xả thẳng xuống dòng sông mà không hề qua xử lý Nó bị ô nhiễm nặng nề:nước sông càng lúc càng cạn, màu nước càng ngày càng đen và bốc mùi hôi thốinặng Với chiều dài gần 20 km chảy qua địa bàn thủ đô, nhiều khúc của sôngNhuệ nước đen kịt, đặc quánh, mùi hôi thối bốc lên nồng nặc và gần như không cònxuất hiện sự sống dưới lòng sông
Tương tự, sông Kim Ngưu nhận khoảng 125.000 m³ nước thải sinh hoạt mỗingày Sông Lừ và sông Sét trung bình mỗi ngày cũng đổ vào sông Kim Ngưukhoảng 110.000 m³ Lượng nước thải sinh hoạt và công nghiệp này đều có hàmlượng hóa chất độc hại cao Các sông mương nội và ngoại thành, ngoài vai trò tiêuthoát nước còn phải nhận thêm một phần rác thải của người dân và chất thải côngnghiệp Những làng nghề thủ công cũng góp phần vào gây nên tình trạng ô nhiễmnày
- Khí hậu
Khí hậu Hà Nội mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, được nêu trêntrang web chính thức của Hà Nội Tuy nhiên, dựa theo Phân loại khí hậu Köppen,trang web ClimaTemps.com lại xếp Hà Nội mang khí hậu cận nhiệt đới ẩm (HumidSubtropical) với mã Cwa
Trang 27Thời tiết có sự khác biệt rõ ràng giữa mùa nóng và mùa lạnh Mặc dù thờitiết được chia làm hai mùa chính: mùa mưa (từ tháng 4 tới tháng 10) và mùa đông(từ tháng 11 tới tháng 3), Hà Nội vẫn được tận hưởng thời tiết bốn mùa nhờ cáctháng giao mùa Mùa nóng bắt đầu từ giữa tháng 4 đến giữa tháng 9, khí hậu nóng
ẩm vào đầu mùa và cuối mùa mưa nhiều rồi mát mẻ, khô ráo vào tháng 10 Mùalạnh bắt đầu từ giữa đầu tháng 11 đến hết tháng 3 năm sau Từ cuối tháng 11đến tháng 1 rét và hanh khô, từ tháng 2 đến hết tháng 3 lạnh và mưa phùn kéo dàitừng đợt Trong khoảng cuối tháng 9 đến tháng 11, Hà Nội có những ngày thu vớitiết trời mát mẻ (rõ rệt hơn Hải Phòng, Nam Định và nhiều tỉnh phía Bắc khác) dođón vài đợt không khí lạnh yếu tràn về Tuy nhiên, do chịu sự tác động mạnh mẽcủa gió mùa nên thời gian bắt đầu và kết thúc của mỗi mùa thường không đồng đềunhau giữa các năm, nên sự phân chia các tháng chỉ mang tính tương đối
Nhiệt độ trung bình mùa đông: 16,5 °C (lúc thấp xuống tới 2,7 °C) Trungbình mùa hạ: 29,5 °C (lúc cao nhất lên tới 43,7 °C) Nhiệt độ trung bình cả năm là
23 °C, lượng mưa trung bình hàng năm vào mức 1.800mm đến 2.000mm.Vào tháng 5 năm 1926, nhiệt độ tại thành phố được ghi lại ở mức kỷ lục42,8 °C Tháng 1 năm 1955, nhiệt độ xuống mức thấp nhất, 2,7 °C do chịu ảnhhưởng của La Nina Vào đầu tháng 6 năm 2017 với việc bị ảnh hưởng bởi ElNiño trên toàn thế giới, Hà Nội phải hứng chịu đợt nóng dữ dội trong 1 tuần (từ 2-6đến 6-6) với nhiệt độ lên tới 42.5 °C, là nhiệt độ kỷ lục ghi nhận trong lịch sử
Hơn nữa, do chịu ảnh hưởng của hiệu ứng đô thị và là vùng khí hậu có độ ẩmcao nên những đợt nắng nóng, nhiệt độ cảm nhận thực tế luôn cao hơn mức đo đạc,
có thể lên tới 50 °C Và trong đợt nắng nóng này có hai người bị chết do nắngnóng, trong tương lai mọi chuyện còn khủng khiếp hơn Thậm chí các chuyên giakhí tượng của Mĩ còn đưa ra “Sự dịch chuyển các thành phố” trong đó có dự báocho Thủ đô Hà Nội vào năm 2100 Có hai kịch bản được đặt ra, nếu giảm khí thải ởmức trung bình thì mùa hè của Hà Nội sẽ gay gắt như New Delhi (Ấn Độ), nếu
Trang 28không giảm thì sẽ như chảo lửa Faisalabad (Pakistan), tại hai thành phố này nhiệt
độ đều trên 48 độ C Tại Hà Nội năm 2100, mùa hè sẽ kéo dài hơn và sẽ xuất hiệnmức nhiệt 48 độ C, nhiệt độ cảm nhận được từ 55–58 độ C Nơi có tuyết vào mùađông ở Hà Nội là Ba Vì khoảng 6h sáng 24/1 với mức nhiệt khoảng 0 độ C
1.2.4 Kinh tế – xã hội
Trong 10 năm 2008 - 2018, kinh tế Hà Nội tăng trưởng bình quân7,41%/năm, gấp gần 1,3 lần mức tăng bình quân chung cả nước là 6%; Quy môGRDP năm 2017 đạt 519.568 tỷ đồng, gấp 1,9 lần so với năm 2008; GRDP bìnhquân đầu người theo đó tăng lên, năm 2017 đạt 86 triệu đồng (khoảng 3.910USD/người), gấp 2,3 lần so với 1.697 USD/người vào năm 2008 Đặc biệt, thunhập của người nông dân đã tăng từ 13 triệu lên 38 triệu đồng/người/năm (khoảng2,92 lần)
Tổng mức bán lẻ tăng từ 132.837 tỷ lên 288.955 tỷ đồng (2,18 lần); Kimngạch xuất khẩu tăng từ 6,9 tỷ USD lên 11,78 tỷ USD (1,7 lần) Cơ cấu kinh tếchuyển dịch theo hướng tích cực: tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp - xâydựng tăng, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm Các ngành dịch vụ có giá trị gia tănglớn, dịch vụ trình độ cao, chất lượng cao tiếp tục được phát triển
Khách quốc tế từ 1,3 triệu lượt năm 2008 tăng lên 4,95 triệu lượt năm 2017(tăng xấp xỉ 4 lần) Thị phần khách quốc tế tăng lên chiếm xấp xỉ 40% lượng khách
cả nước Hà Nội tiếp tục khẳng định là trung tâm du lịch, là nguồn phân phối dukhách lớn của khu vực phía Bắc, cầu nối đưa khách du lịch trong ASEAN và cácnước trong khu vực
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) khả quan, đặc biệt nhờ cải thiệnmạnh mẽ môi trường kinh doanh, 7 tháng đầu năm 2018, Hà Nội vươn lên dẫn đầu
cả nước về FDI Số DN trên địa bàn không ngừng tăng lên Tín dụng tăng trưởngtốt, bình quân hàng năm đạt khoảng 21,7% Thu ngân sách giai đoạn 2008 - 2017
Trang 29liên tục đạt và vượt dự toán, bình quân hàng năm tăng 12,69%/năm Năm 2017, thungân sách ước thực hiện 212.276 tỷ đồng, gấp 2,93 lần năm 2008 Cân đối ngânsách luôn đảm bảo theo dự toán T.Ư và HĐND TP giao, góp phần quan trọng trong
sự phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô
Các chính sách, an sinh xã hội được đảm bảo Tỷ lệ hộ nghèo của Hà Nội đãgiảm từ 8,43% đầu năm 2009 xuống còn 1,69% cuối năm 2017; hiện nay trên địabàn không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn GD&ĐT được chú trọng đầu tư, chấtlượng được giữ vững
10 năm qua hạ tầng kỹ thuật của TP được đầu tư rất mạnh, bộ mặt đô thị,nông thôn đã có nhiều thay đổi, tạo diện mạo mới cho Thủ đô Nhiều dự án khu đôthị mới văn minh, hiện đại đã và đang hình thành: Văn Quán, Mỹ Đình, Mỗ Lao,
An Khánh về phía Tây; Việt Hưng, Vinhomes Riverside về phía Đông; Linh Đàm,Garmuda về phía Nam; Ciputra ở phía Bắc;… cùng với các khu đô thị mới trongvành đai 3 như Royal City, Times City, Trung hòa Nhân Chính… Các công trìnhgiao thông, dự án trọng điểm được đẩy nhanh Bên cạnh đó, hạ tầng nông thônđược chú trọng đầu tư, tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới đến nay đạt 76,17% - dẫnđầu cả nước, đời sống người dân được nâng lên rõ rệt
1.3 Di tích lịch sử văn hóa Thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội
1.3.1 Nguồn gốc hình thành
Trong mấy chục năm qua, các kết quả khai quật khảo cổ học đã khẳng định
Cổ Loa là một trong những điểm sinh tụ đầu tiên của người Việt Cổ Hình thức cưtrú lúc đó là Chạ (Chạ Chủ), giống như Làng Về sau, cách gọi Chạ Chủ đã đượcViệt hoá thành Khả Lũ hay Loa Thành
Cổ Loa là vùng có bề dày lịch sử và truyền thống văn hoá Nơi đây từngđược chọn làm đất dựng đô Vào thế kỷ thứ III - Trước Công nguyên, lần đầu CổLoa là Kinh đô của nước Âu Lạc dưới thời Thục Phán An Dương Vương, với Loa
Trang 30thành kiêng cố và chiếc nỏ thần hữu hiệu, uy linh, thời kỳ này đã thúc đẩy nền vănhóa Đông Sơn và nền văn minh lúa nước phát triển đến đỉnh cao Cổ Loa còn đượcbiết đến nhiều hơn với những phát hiện khảo cổ suốt mấy chục năm qua như khomũi tên đồng, trống đồng, lưỡi cày đồng, chứng minh làng được hình thành từ thờicác Vua Hùng dựng nước Hiện nay, rất khó để xác định được nguồn gốc xuất xứcủa làng Cổ Loa, không rõ từ sau khi dân Chạ Chủ gốc phải rời đi để xây Loa thành
và sau thất bại của Vua An Dương Vương trước âm mưu thâm hiểm của Triệu Đàcho đến đầu thế kỷ XV, các lớp dân cư chuyển đến sinh sống tại Cổ Loa ra sao
Cũng có rất nhiều nguồn khác nhau tìm hiểu về sự hình thành làng Cổ Loa,
có thể nhận thấy được một đặc điểm chung giữa các tư liệu là đều dựa chủ yếu vàoviệc vua An Dương Vương lập ra nhà nước Âu Lạc, sau đó dời đô từ Bạch Hạc(Việt Trì, Phú Thọ) xuống Cổ Loa, rồi vua cho xây dựng thành Cổ Loa kiêng cố,vững chắc
Theo các bậc cao niên trong làng, trước khi vua An Dương Vương chọn CổLoa làm kinh đô, vùng đất Cổ Loa đã có người dân sinh sống Để lấy đất xây thànhLoa thành, An Dương Vương và triều đình đã buộc người dân sinh sống tại đây didời xuống vùng đất trũng ở cuối sông Hoàng Giang, nay là các thôn Đại Vĩ, GiaoTác và Châu Phong, thuộc xã Liên Hà, huyện Đông Anh Làng Cổ Loa là trung tâmcủa thành và làng có lập chợ Sa, khu vực chợ Sa là nơi đón thủy quân lên thành,trước kia có nhiều di tích liên quan đến điểm quan trọng này trong thành: hai CầuDấu tục truyền là nơi đóng dấu quân lính ra vào, một cầu cung (Đông cung) là nơitập hợp quan từ hào lên Cổ Loa khi đó, là thị thành đầu tiên của dân tộc Việt, làtrung tâm trao đổi kinh tế, văn hóa, trung tâm hội tụ văn minh, một đô thị nôngnghiệp, luyện kim và giao dịch Như thế, có thể thấy được thế mạnh cũng như tầmquan trọng của làng Cổ Loa trong thời kỳ xưa Xoay quanh tên làng Cổ Loa cónhiều sách giải thích khác nhau Trong cuốn “Đất nước Việt Nam qua các đời”, khitrình bày về nước Âu Lạc và vấn đề Loa Thành, Giáo sư Đào Duy Anh viết như
Trang 31sau: “Thành An Dương Vương là ở làng Cổ Loa, huyện Đông Anh thuộc Hà Nộingày nay, thành ấy xây hình trôn ốc cho nên được gọi là Loa Thành Thuỷ kinh chúthì nói rằng trong huyện Bình Đạo có dấu cũ cung thành của An Dương Vương…
Sự hình thành và phát triển của Cổ Loa còn được thấy rõ qua dấu vết khảo cổhọc Các kết quả khai quật khảo cổ học mấy chục năm qua đã khẳng định: Cổ Loa
là một trong những điểm sinh tụ đầu tiên của người Việt cổ Vào năm 1971- 1972,dân làng Cổ Loa đã phát hiện được một số viên đá cuội có dấu vết bàn tay ghè đẽo,gia công ở rìa cạnh, trên hai mặt của hòn đá cuội thường giữ lại vẻ rất tự nhiên,phần lớn các hòn đá cuội này có chức năng của công cụ chặt, nạo, hay cắt, nhìnchung còn khá thô sơ Việc phát hiện công cụ cuội có gia công trên đây là cứ liệuquan trọng để khẳng định, các đây từ một vạn đến hai vạn năm tại các triền gò, đồicủa làng Cổ Loa đã có con người sinh sống
Nửa sau thế kỷ XV sau cuộc chiến tranh xâm lược của giặc Minh, cư dân đãtập trung tụ cư đông đúc về làng Cổ Loa Đến đầu thế kỷ XVI, làng Cổ Loa cùngcác làng xã khác trong huyện Đông Ngàn trở thành bãi chiến trường giữa sự tranhchấp của hai bên quân đội nhà Lê và quân nhà Mạc Một lần nữa dân cư lại phảiphiêu tán đi nơi khác, cho đến đầu thế kỷ XVII, dân làng mới lần lượt hồi cư, đồngthời tiếp nhận dân cư từ các nơi khác đến sinh cơ lập nghiệp Từ đó, làng xóm ở CổLoa mới lại đông đúc với trên 30 dòng họ, trên cơ sở “ chín người, mười làng”.Dòng họ tiêu biểu của làng Cổ Loa như : Họ Đào (xóm Chợ) từ Thanh Hóa chuyển
ra, họ Trương (ở xóm Hương) từ Hải Dương chuyển lên, họ Nguyễn (xóm Gà) từThường Tín, xứ Sơn Nam (thuộc tỉnh Hà Tây cũ, nay thuộc Hà Nội)…với nhữngbiến động theo thời gian như trên, rất khó có thể có những nghiên cứu chính xácnguồn gốc hình thành về làng Cổ Loa, chủ yếu dựa theo các sự kiện lịch sử
Thành Cổ Loa thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội, là kinh đô củanhà nước Âu Lạc (tên nước Việt Nam thời đó), dưới thời An Dương Vương vào
Trang 32khoảng thế kỷ thứ III trước Công nguyên và của nhà nước Vạn Xuân (tên nướcViệt Nam thời đó) dưới thời Ngô Quyền thế kỷ X sau Công nguyên.
Năm 1962, thành Cổ Loa được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóacấp quốc gia
Trong cuốn: “Đông Anh với nghìn năm Thăng Long- Hà Nội”, các tác giả đãchỉ rõ Làng Cổ Loa gồm 12 xóm cũ, bây giờ là các thôn và cùng kết hợp với cácxóm, làng khác để thành các thôn mới Như vậy, hiện nay Cổ Loa gồm 15 đơn vịquản lý hành chính thôn làng
Theo sách “Tên làng xã và các tỉnh địa dư Bắc Kỳ” của tác giả Ngô Vi Liễn
có viết vào năm 1926, làng Cổ Loa có 2.698 nhân khẩu, sinh sống tại 12 xóm trong
ba vòng thành cổ, trên một địa dư rất rộng Dân đinh trong làng xưa được chia làm
24 giáp
Đến năm 2010, Cổ Loa có diện tích tự nhiên là: 802,38 ha, có 4.448 hộ,16.514 nhân khẩu ( trong đó: nam: 8.083 người, nữ: 8.431 người)
1.3.2 Vị trí địa lý
Cổ Loa là di tích lịch sử tại vùng đất xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.
Cổ Loa là kinh đô của nhà nước Âu Lạc dưới thời An Dương Vương vàokhoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên và của nhà nước phong kiến dưới thời NgôQuyền thế kỷ 10 sau Công nguyên
Vào thời Âu Lạc, Cổ Loa nằm vào vị trí đỉnh của tam giác châu thổ sôngHồng và là nơi giao lưu quan trọng của đường thủy và đường bộ Từ đây có thểkiểm soát được cả vùng đồng bằng lẫn vùng sơn địa Cổ Loa là một khu đất đồi caoráo nằm ở tả ngạn sông Hoàng Con sông này qua nhiều thế kỷ bị phù sa bồi đắp vànay đã trở thành một con lạch nhỏ, nhưng xưa kia sông Hoàng là một con sôngnhánh lớn quan trọng của sông Hồng, nối liền sông Hồng với sông Cầu, con sông
Trang 33lớn nhất trong hệ thống sông Thái Bình Như vậy, về phương diện giao thôngđường thủy, Cổ Loa có một vị trí vô cùng thuận lợi hơn bất kỳ ở đâu tại đồng bằngBắc Bộ vào thời ấy Đó là vị trí nối liền mạng lưới đường thủy của sông Hồng cùngvới mạng lưới đường thủy của sông Thái Bình Hai mạng lưới đường thủy này chiphối toàn bộ hệ thống đường thủy tại Bắc bộ Việt Nam Qua con sông Hoàng,thuyền bè có thể tỏa đi khắp nơi, nếu ngược lên sông Hồng là có thể thâm nhập vàovùng Bắc hay Tây Bắc của Bắc Bộ, nếu xuôi sông Hồng, thuyền có thể ra đến biển
cả, còn nếu muốn đến vùng phía Đông Bắc bộ thì dùng sông Cầu để thâm nhập vào
hệ thống sông Thái Bình đến tận sông Thương và sông Lục Nam
Địa điểm Cổ Loa chính là Phong Khê, lúc đó là một vùng đồng bằng trù phú
có xóm làng, dân chúng đông đúc, sống bằng nghề làm ruộng, đánh cá và thủ côngnghiệp Việc dời đô từ Phong Châu về đây, đánh dấu một giai đoạn phát triển củadân cư Việt cổ, giai đoạn người Việt chuyển trung tâm quyền lực từ vùng Trung
du bán sơn địa về định cư tại vùng đồng bằng Việc định cư tại đồng bằng chứng tỏmột bước tiến lớn trong các lãnh vực xã hội, kinh tế trong giao tiếp, trao đổi conngười dễ dàng đi lại bằng đường bộ hay bằng đường thủy; trong nông nghiệp cóbước tiến đáng kể về kỹ thuật trồng lúa nước, mức độ dân cư cũng đông đúc hơn
Trung tâm quyền lực của các cư dân Việt ở đồng bằng sông Hồng cũng thểhiện sự phát triển về chiều rộng của Văn hóa Đông Sơn
1.3.3 Giá trị của di tích lịch sử văn hóa Thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội.
Về mặt quân sự, thành Cổ Loa thể hiện sự sáng tạo độc đáo của người Việt
cổ trong công cuộc giữ nước và chống ngoại xâm Với các bức thành kiên
cố, các hào sâu rộng cùng các ụ, lũy, Cổ Loa là một căn cứ phòng thủ vững chắc đểbảo vệ nhà vua, triều đình và kinh đô Đồng thời là một căn cứ kết hợp hài hòa thủybinh cùng bộ binh Nhờ ba vòng hào thông nhau dễ dàng, thủy binh có thể phối hợpcùng bộ binh để vận động trên bộ cũng như trên nước khi tác chiến
Trang 34Về mặt xã hội, với sự phân bố từng khu cư trú cho vua, quan, binh lính,thành Cổ Loa là một chứng cứ về sự phân hóa của xã hội thời ấy Thời kỳ này, vuaquan không những đã tách khỏi dân chúng mà còn phải được bảo vệ chặt chẽ, sốnggần như cô lập hẳn với cuộc sống bình thường Xã hội đã có giai cấp rõ ràng và xahội có sự phân hóa giàu nghèo rõ ràng.
Về mặt văn hóa, là một tòa thành cổ nhất còn để lại dấu tích, Cổ Loa trởthành một di sản văn hóa, một bằng chứng về sự sáng tạo, về trình độ kỹ thuật cũngnhư văn hóa của người Việt Cổ Năm 2013 thành Cổ Loa được công nhận là Di tíchlịch sử cấp Quốc gia đặc biệt Hàng năm, vào ngày 6 tháng Giêng Âm lịch, cư dân
Cổ Loa tổ chức một lễ trang trọng để tưởng nhớ đến những người xưa đã có côngxây thành, và nhất là để ghi ơn An Dương Vương Và trong lễ hội này còn diễn ranhiều trò chơi dân gian như chọi gà, đánh đu, thi vật, cờ người… thu hút đông đảonhân dân trong vùng tham gia
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA THÀNH CỔ LOA, ĐÔNG ANH,
HÀ NỘI.
2.1 Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa Thành
Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội
2.1.1 Công tác bảo tồn và quản lý giá trị di tích
2.1.1.1 Bộ máy bảo tồn, quản lý di tích
- Phòng Văn hóa – Thông tin
Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ trưởng Bộ Nội vụ)
Phòng Văn hoá và Thông tin có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản;chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấungạch công chức và công tác của Ủy ban nhân dân cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉđạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Sở Văn hoá, Thể thao và
Du lịch, Sở Thông tin và Truyền thông
+ Nhiệm vụ và quyền hạn