1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác quản lý, bảo tồn và phát triển di tích lịch sử văn hoá chùa Cổ Am, xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

63 171 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghệ An là một tỉnh lớn nằm ở phía Bắc miền Trung với cảnh quan thiên nhiên đẹp như tranh vẽ. Nghệ An còn là mảnh đất đã sản sinh nhiều danh nhân lịch sử, nhà khoa bảng, nhà khoa học, nhà văn hóa nổi tiếng như Mai Hắc Đế, thi sĩ Hồ Xuân Hương… Đặc biệt Nghệ An là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, một nhà yêu nước lớn, một danh nhân văn hóa thế giới và anh hùng giải phóng dân tộc.Trong những năm qua, nhất là từ khi Luật di sản văn hóa được ban hành , công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Nghệ An có nhiều chuyển biến tích cực. Các di tích trọng điểm của tỉnh đã được quản lý, đầu tư trùng tu, tôn tạo, phát huy tác dụng đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn hóa của cộng đồng trong và ngoài tỉnh. Tuy nhiên, công tác quản lý di tích vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế như việc chống xuống cấp, xử lý lấn chiếm đất đai, khoanh vùng bảo vệ di tích, nhiều di tích còn bị mất cắp cổ vật, di vật; việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về di tích đến cộng đồng còn chưa thực hiện đầy đủ, có kế hoạch…Cũng như các tỉnh khác của Việt Nam, truyền thống văn hóa của Nghệ An rất phong phú. Là một tỉnh có nhiều dân tộc cùng sinh sống, mỗi dân tộc đều mang một bản sắc văn hóa, ngôn ngữ riêng giàu truyền thống. Nghệ An là xứ sở của nền văn hóa dân gian đặc sắc với những điệu hò, hát phường vải, hát đò đưa… Du khách đến với bất kỳ lễ hội hay di tích lịch sử nào của tỉnh Nghệ An đều có thể thưởng thức loại hình sinh hoạt văn hóa đặc sắc này.Chùa Cổ Am là ngôi chùa cổ đi cùng với lịch sử dân tộc Lèn Hố Lĩnh, thuộc xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, nằm trong quần thể di tích lịch sử văn hóa Lèn Hai Vai. Hiện nay, Nghệ An là địa phương có tốc độ phát triển kinh tế xã hội nhanh, quá trình CNH, ĐTH diễn ra mạnh mẽ. Điều này có những tác động tích cực đến bảo tồn, phát huy giá trị di tích như tăng nguồn ngân sách để trùng tu, tôn tạo cho các di tích lịch sử tại đây cũng như di tích chùa Cổ Am, xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Do đó vấn đề đặt ra là cần có những biện pháp quản lý cũng như giữ gìn được những giá trị vốn có của di tích là điều vô cùng quan trọng. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này em xin chọn đề tài : Công tác quản lý, bảo tồn và phát triển di tích lịch sử văn hoá chùa Cổ Am, xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Trang 1

KHOA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI : Công tác quản lý, bảo tồn và phát triển di tích lịch sử văn hoá chùa Cổ Am, xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

HỌ TÊN SINH VIÊN :

Trang 2

LỜI CÁM ƠN

Với những kiến thức tích lũy được trong suốt thời gian học tập, nghiêncứu tại trường tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của BanGiám Hiệu nhà trường, Quý Thầy/Cô, cùng với sự nhiệt tình giúp đỡ của giảng viên khoa

Đến nay, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình, với sự trân

trọng tôi xin chân thành cảm ơn đến: , người đã trực tiếp hướng dẫntôi trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chânthành đến Quý Thầy/Cô trong Khoa .đã tận tình cung cấp tài liệu cầnthiết và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành khóa luận này

Kính chúc Quý nhà trường đạt được nhiều thành công trong công tác giáodục

Sinh viên

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan : Khoá luận tốt nghiệp với đề tài : Công tác quản lý, bảo tồn và phát triển di tích lịch sử văn hoá chùa Cổ Am, xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, không sao chép

của bất cứ ai

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của riêng mình !

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Sinh viên

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG BÀI

Trang 5

LỜI CÁM ƠN 2

LỜI CAM ĐOAN 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Cấu trúc của đề tài 3

CHƯƠNG 1 4

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ, BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA 4

1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

1.1.1 Khái niệm di tích 4

1.1.2 Khái niệm di tích lịch sử văn hóa 5

1.1.3 Khái niệm bảo tồn 6

1.1.4 Khái niệm quản lý di tích lịch sử văn hóa 7

1.2 Vai trò của di tích lịch sử 8

1.3 Nội dung quản lý di tích lịch sử văn hóa 10

1.4 Quan điểm của Đảng và nhà nước về quản lý di tích lịch sử văn hóa 11

1.5 Ý nghĩa quản lý di tích lịch sử văn hóa 15

1.5.1 Quản lý di tích lịch sử văn hóa gắn kết cộng đồng dân tộc trong một quốc gia Việt Nam thống nhất, đa dạng văn hóa 15

1.5.2 Quản lý di tích lịch sử văn hóa là giữ gìn những chuẩn mực cốt lõi phản ánh đậm nét bản sắc dân tộc 16

Trang 6

1.5.3 Quản lý di tích lịch sử văn hóa là nguồn vốn vô giá sáng tạo những giá

trị mới trong xã hội đương đại 17

CHƯƠNG 2 20

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ BẢO TỒN DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HOÁ CHÙA CỔ AM, XÃ DIỄN MINH, HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN 20 2.1 Giới thiệu chung về di tích lịch sử văn hoá chùa Cổ Am, xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 20

2.1.1 Giới thiệu xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 20

2.1.2 Tổng quan về di tích lịch sử văn hoá chùa Cổ Am, xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 22

2.1.2.1 Vị trí địa lý 22

2.1.2.2 Lịch sử hình thành 22

2.1.2.3 Kiến trúc 24

2.1.2.4 Giá trị lịch sử của di tích 25

2.2 Thực trạng quản lý , bảo tồn và phát triển di tích lịch sử văn hoá chùa Cổ Am, xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 26

2.2.1 Bộ máy quản lý di tích 26

2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ bộ máy quản lý di tích 27

2.2.4 Công tác quản lý hoạt động văn hóa tại chùa Cổ Am, xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 29

2.2.4.1 Quản lí nguồn lực tài chính 29

2.2.4.2 Quản lý an ninh trật tự 30

2.2.4.3 Quản lý hoạt động dịch vụ tại di tích 31

2.3 Đánh giá chung 32

CHƯƠNG 3 34

Trang 7

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀ BẢO TỒN DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HOÁ CHÙA CỔ AM, XÃ DIỄN MINH, HUYỆN DIỄN

CHÂU, TỈNH NGHỆ AN 34

3.1 Định hướng bảo tồn và phát triển di tích trong thời gian tới 34

3.2 Nhận xét 35

3.2.1 Những kết quả đạt được 35

3.2.2 Hạn chế 36

3.2.3 Nguyên nhân của hạn chế 38

3.3 Một số giải pháp 39

3.3.1 Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực 39

3.3.2 Giải pháp về tuyền truyền, giáo dục 40

3.3.3 Giải pháp tăng cường công tác quản lý di tích 41

3.3.4 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, khen thưởng và xử lý vi phạm trong hoạt động của di tích 43

3.4 Một số kiến nghị 44

3.4.1 Đối với nhà nước 44

3.4.2 Đối với địa phương 44

KẾT LUẬN 47

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghệ An là một tỉnh lớn nằm ở phía Bắc miền Trung với cảnh quan thiênnhiên đẹp như tranh vẽ Nghệ An còn là mảnh đất đã sản sinh nhiều danh nhânlịch sử, nhà khoa bảng, nhà khoa học, nhà văn hóa nổi tiếng như Mai Hắc Đế,thi sĩ Hồ Xuân Hương… Đặc biệt Nghệ An là quê hương của Chủ tịch Hồ ChíMinh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, một nhà yêu nước lớn, một danhnhân văn hóa thế giới và anh hùng giải phóng dân tộc

Trong những năm qua, nhất là từ khi Luật di sản văn hóa được ban hành ,công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Nghệ An có nhiềuchuyển biến tích cực Các di tích trọng điểm của tỉnh đã được quản lý, đầu tưtrùng tu, tôn tạo, phát huy tác dụng đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn hóacủa cộng đồng trong và ngoài tỉnh Tuy nhiên, công tác quản lý di tích vẫn cònbộc lộ nhiều hạn chế như việc chống xuống cấp, xử lý lấn chiếm đất đai, khoanhvùng bảo vệ di tích, nhiều di tích còn bị mất cắp cổ vật, di vật; việc tuyêntruyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhànước về di tích đến cộng đồng còn chưa thực hiện đầy đủ, có kế hoạch…

Cũng như các tỉnh khác của Việt Nam, truyền thống văn hóa của Nghệ An rấtphong phú Là một tỉnh có nhiều dân tộc cùng sinh sống, mỗi dân tộc đều mangmột bản sắc văn hóa, ngôn ngữ riêng giàu truyền thống Nghệ An là xứ sở củanền văn hóa dân gian đặc sắc với những điệu hò, hát phường vải, hát đò đưa…

Du khách đến với bất kỳ lễ hội hay di tích lịch sử nào của tỉnh Nghệ An đều cóthể thưởng thức loại hình sinh hoạt văn hóa đặc sắc này

Chùa Cổ Am là ngôi chùa cổ đi cùng với lịch sử dân tộc Lèn Hố Lĩnh, thuộc

xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, nằm trong quần thể di tích lịch

sử văn hóa Lèn Hai Vai Hiện nay, Nghệ An là địa phương có tốc độ phát triểnkinh tế - xã hội nhanh, quá trình CNH, ĐTH diễn ra mạnh mẽ Điều này cónhững tác động tích cực đến bảo tồn, phát huy giá trị di tích như tăng nguồn

Trang 9

ngân sách để trùng tu, tôn tạo cho các di tích lịch sử tại đây cũng như di tíchchùa Cổ Am, xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Do đó vấn đề đặt

ra là cần có những biện pháp quản lý cũng như giữ gìn được những giá trị vốn

có của di tích là điều vô cùng quan trọng Để hiểu rõ hơn về vấn đề này em xin

chọn đề tài : Công tác quản lý, bảo tồn và phát triển di tích lịch sử văn hoá chùa Cổ Am, xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là toàn bộ các vấn đề liên quan đếnquản lý di tích lịch sử văn hoá chùa Cổ Am, xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu,tỉnh Nghệ An trong những năm qua, trong đó tập trung vào nghiên cứu cácchính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương về bảo tồn di tích và chính sáchđối với cộng đồng tham gia bảo tồn di tích, cơ cấu tổ chức bộ máy và các hoạtđộng trong lĩnh vực quản lý di tích lịch sử văn hóa, vai trò của cộng đồng trongquản lý; những tác động quá trình CNH, ĐTH đến quản lý di tích lịch sử vănhóa

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Văn hóa học, Quản lý văn hóa, Sửhọc, Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa

- Phương pháp khảo sát, điền dã thực địa:

- Áp dụng phương pháp nghiên cứu của xã hội học văn hóa: phương phápnghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

- Phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, phân loại và so sánh

5 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dungcủa khóa luận được kết cấu làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về quản lý , bảo tồn và phát triển di tíchlịch sử văn hóa

Chương 2: Thực trạng quản lý và bảo tồn di tích lịch sử văn hoá chùa Cổ

Am, xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo tồn di tíchlịch sử văn hoá chùa Cổ Am, xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

Trang 11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ, BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN

DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm di tích

Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có

ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử Ở Việt Nam, 1 di tích khi đủ các điều kiện sẽđược công nhận theo thứ tự: di tích cấp tỉnh, di tích cấp quốc gia và di tích quốcgia đặc biệt Tính đến năm 2014, Việt Nam có hơn 40.000 di tích, thắng cảnhtrong đó có hơn 3.000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và hơn 7.000 ditích được xếp hạng cấp tỉnh Mật độ và số lượng di tích nhiều nhất ở 11 tỉnhvùng đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ chiếm khoảng 70% di tích của Việt Nam.Trong số di tích quốc gia có 62 di tích quốc gia đặc biệt và trong số đó có 8 disản thế giới

Di tích là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng vềlịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Di tích giúp cho con ngườibiết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưngvăn hoá của đất nước và do đó có tác động ngược trở lại tới việc hình thànhnhân cách con người Việt Nam hiện đại

Di tích chứa đựng giá trị kinh tế to lớn (trị giá nhiều ngàn tỷ đồng) nếu bị mất

đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất, mà là mất đi giá trị tinh thần lớn laokhông gì bù đắp nổi Đồng thời, di tích còn mang ý nghĩa là nguồn lực cho pháttriển kinh tế, một nguồn lực rất lớn, sẵn có nếu được khai thác, sử dụng tốt sẽgóp phần không nhỏ cho việc phát triển kinh tế đất nước và nó càng có ý nghĩa

to lớn khi đất nước đang rất cần phát huy tối đa nguồn nội lực để phát triển Mỗi quốc gia đều có những quan điểm về di tích lịch sử văn hoá Để cáckhái niệm này được thống nhất với nhau thì cần có những quy định chung:

Trang 12

- Di tích lịch sử văn hoá là nơi ẩn dấu của một bộ phận văn hoá khảo cổ vềdân tộc

- Những nơi diến ra sự kiện chính trị quan trọng có ý nghĩa thúc đẩy lịch sửđất nước lịch sử địa phương phát triển

- Những điểm ghi dấu chiến công chống xâm lược áp bức

- Những nơi ghi dấu giá trị lưu niệm về các nhân vật lịch sử, anh hùng dântộc, danh nhân văn hoá khoa học

- Những công trình kiến trúc có giá trị toàn quốc hoặc khu vực

- Những danh lam thắnh cảnh do thiên nhiên bài trí sẵn hoặc do bàn tay conngười tạo dựng lên , được xếp là một loạt các di tích lịch sử văn hoá

1.1.2 Khái niệm di tích lịch sử văn hóa

Di tích lịch sử là nơi ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, tiểu biểu có ý

nghĩa quyết định chiều hướng phát triển của đất nước của địa phương Đây lànơi ghi dấu những kỉ niệm , ghi dấu chiến công chống xâm lược , ghi dấu tội áccủa phong kiến và đế quốc

Di tích văn hoá là những địa điểm ẩn dấu một bộ phận giá trị văn hoátrong lịch sử, là những di tích gắn với các công trình kiến trúc có giá trị Những

di tích này không chỉ chứa đựng giá trị kiến trúc mà chứa đựng cả những giá trịvăn hoá xã hội văn hoá tinh thần

Như vậy di tích lịch sử - văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các

di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử,văn hoá, khoa học Di tích lịch sử - văn hoá phải có một trong các tiêu chí sauđây:

Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trìnhdựng nước và giữ nước Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như đền Hùng, CổLoa, cố đô Hoa Lư, chùa Thiên Mụ, Cột cờ

Trang 13

Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anhhùng dân tộc, danh nhân của đất nước Các di tích tiêu biểu thuộc loại này nhưkhu di tích lịch sử Kim Liên, đền Kiếp Bạc, Đền Mẫu Đợi , Lam Kinh, đền

Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳcách mạng, kháng chiến Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như khu di tíchchiến thắng Điện Biên Phủ, Địa đạo Củ Chi, khu di tích lịch sử cách mạng PắcBó

1.1.3 Khái niệm bảo tồn

Theo từ điển tiếng Việt: “bảo tồn” là “giữ lại không để cho mất đi” Bảo

tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn cócủa nó, bảo tồn là không để mai một không để thay đổi, biến hóa hay biến thái.Theo quan niệm của GS.TS Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở văn hóa ViệtNam trang 91 thì: Bảo tồn chính là hoạt động giữ gìn một cách an toàn khỏi sựtổn hại, sự xuống cấp hoặc phá hoại, hay nói cách khác bảo tồn có nghĩa là bảoquản kết cấu một địa điểm ở hiện trạng và hãm xuống cấp của kết cấu đó

Đề cập đến vấn đề này, GS.TS Ngô Đức Thịnh quan niệm bảo tồn lànhững nổ lực nhằm gìn giữ các giá trị, bản sắc văn hóa tốt đẹp vốn có (truyềnthống) của mỗi dân tộc, quốc gia

Khi con người hiểu được những tác động trong cuộc sống sẽ làm ảnhhưởng đến quá trình tồn tại của các giá trị văn hóa thì họ đã nghĩ đến việc bảotồn Do đó, trong tiến trình lịch sử, hoạt động bảo tồn di sản văn hóa xuất hiệnngay từ khi con người ý thức được giá trị của di sản văn hóa trong đời sống,đồng thời hiểu được mối nguy hại do tác động của thiên nhiên và chính conngười gây ra, họ đã không ngừng tìm kiếm các biện pháp bảo tồn Công tác bảotồn di sản văn hóa có nhiều cấp độ khác nhau, bao gồm các hoạt động như: bảotồn nguyên trạng, trùng tu, gia cố, tái định vị, phục hồi, quy hoạch bảo tồn

Trang 14

Tuy nhiên, cần phải hiểu bảo tồn di sản văn hóa là việc bảo vệ, giữ gìnnhững giá trị liên quan từ quá khứ đến hiện tại làm cho di sản văn hóa giàu cóhơn và tất yếu, cái được bảo tồn phải phù hợp với thời đại để nó có thể tiếp tụcsong hành cùng xu hướng đi lên của cuộc sống Bảo tồn chính là những nổ lựcnhằm đảm bảo sự an toàn, phát triển qua việc giới thiệu, trưng bày, khôi phục,tôn tạo, quảng bá và phát triển nhằm phục vụ các hoạt động tiến bộ của conngười trong xã hội.

1.1.4 Khái niệm quản lý di tích lịch sử văn hóa Quản lý (thuật ngữ tiếng Anh là Management [ˈmænɪdʒmənt],

tiếng lat manum agere - điều khiển bằng tay) đặc trưng cho quá trình điều khiển

và dẫn hướng tất cả các bộ phận của một tổ chức, thường là tổ chức kinh tế,thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài nguyên (nhân lực, tàichính, vật tư, trí thực và giá trị vô hình)

Đầu thế kỷ 20 nhà văn quản lý Mary Parker Follett định nghĩa quản lý là

"nghệ thuật khiến công việc được làm bởi người khác"

Các nguồn lực thực hiện dự án đều có giới hạn và các tiến trình phải thỏamãn tất cả các điều kiện ràng buộc, nên các tiến trình cần được hoạch định cẩnthận để không dư thừa, điều khiển để thực hiện đúng, giám sát để phát hiện bấtthường, đo lường để biết mức độ hoàn thành được gọi chung là quản lý

Quản lý, theo nghĩa chung nhất, là sự tác động của chủ thể quản lý lên đốitượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra Quản lý là một hoạt động có tínhchất phố biến, mọi nơi, mọi lúc, trong mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và liên quan đếnmọi người Đó là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựatrên sự phân công và hợp tác làm một công việc để đạt được mục tiêu chung

Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người Ọuản

lý là hoạt động do một hay nhiều người điều phối hành động của những ngườikhác nhằm đat được một mục tiêu nào đó một cách có hiệu quả

Trang 15

Như vậy, khái niệm quản lý có thể được hiểu: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt dược mục tiêu chung Bản chất của quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động xã hội ngày càng phát triển, các loại hình lao động phong phú, phức tạp thì hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng”.

Quản lý di tích lịch sử văn hóa là việc đưa ra và thực hiện các giải phápđược đặt ra như rà soát, điều chỉnh giảm tần suất, thời gian tổ chức, nhất lànhững di tích có quy mô lớn, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở từng địaphương, hạn chế sử dụng ngân sách nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa các nguồnlực trong việc tổ chức lễ hội; đồng thời, quản lý chặt chẽ các loại hình dịch vụ,

xử lý nghiêm hành vi lưu hành những ấn phẩm văn hóa trái phép, tuyên truyền

mê tín, dị đoan và tổ chức các hoạt động trái pháp luật trong di tích lịch sử vănhóa; khắc phục tình trạng phô trương hình thức, lãng phí, tốn kém và thươngmại hóa

Di tích sinh ra từ chính cuộc sống lao động, sản xuất, sinh hoạt của conngười Quản lý di tích mà vẫn tạo sự hấp dẫn, vẫn giữ được các nguyên tắc thẩm

mỹ phù hợp với cộng đồng là tất yếu nhưng mặt khác, những di tích lịch sử vănhóa hoặc yếu tố lễ hội không còn phù hợp với đời sống và các giá trị đời sốnghiện đại thì phải loại bỏ cũng là tất yếu Những quy định của Trung ương, thànhphố vừa là gợi mở, định hướng vừa là yêu cầu phù hợp đối với công tác quản lý

và tổ chức lễ hội hiện nay Mùa lễ hội đang đến gần, việc cần làm của mỗi cấp

ủy, chính quyền, tổ chức là thực hiện thật tốt công tác quản lý di tích lịch sử vănhóa, để mỗi người dân được thưởng thức một mùa lễ hội vui tươi, lành mạnh, antoàn Đó cũng chính là cách để gìn giữ mãi mãi nét đẹp văn hóa truyền thốngcho mai sau

1.2 Vai trò của di tích lịch sử

Di tích lịch sử văn hoá là một sản phẩm có giá trị gồm các đình chùa đền

miếu là những di sản văn hoá vật thể, chứa tiềm ẩm trong đó là các hình thức

Trang 16

sinh hoạt văn hoá mang bản sắc tôn giáo, tín ngưỡng riêng của từng vùng, từngmiền.

Các di tích lịch sử văn hoá đều mang trong mình thông điệp của quákhứ Nơi đây trở thành không gian văn hoá cho nhân dân trong những dịp sinhhoạt lễ hội truyền thống, lễ hội tôn giáo nơi họ được quyền thể hiện các nghithức, lễ thức bày tỏ tâm linh, tâm nguyện của mình Khách đến với các di tíchlịch sử văn hoá không đơn thuần là chỉ để tham quan, thể hiện tâm linh mà còn

là để tìm hiểu, nghiên cứu khoa học Vì vậy các di tích lịch sử văn hoá có vai tròquan trọng trong hoạt động du lịch , là điều kiện giúp cho du lịch đất nước ngàymột phát triển

Việt Nam là một quốc gia thống nhất có 54 dân tộc Mỗi dân tộc đều cókho tàng di sản văn hóa phong phú, đa dạng, đặc sắc của dân tộc mình Hệ thốnggiá trị của di sản văn hóa mỗi dân tộc cũng chính là tài sản vô giá để các dân tộctrong nước giao lưu hiểu biết lẫn nhau qua đó hiểu biết sâu sắc hơn giá trị vănhóa của nhau, càng tôn trọng nhau, cùng vun đắp tình đoàn kết, hữu nghị, hòabình và phát triển, chung xây tổ quốc Việt Nam phát triển bền vững, sánh vaivới các nước trong khu vực và thế giới

Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, trước sự phát triển như vũ bão củakhoa học, công nghệ, các dân tộc tất yếu phải tham gia vào quá trình toàn cầuhóa Tham gia vào toàn cầu hóa, các dân tộc có cơ hội giới thiệu cái hay, cái tốt,cái đẹp của văn hóa dân tộc mình, từ đó làm giàu có kho tàng văn hóa nhân loại,đồng thời các dân tộc có cơ hội tiếp thu tinh hoa văn hóa của các dân tộc trên thếgiới tự làm giàu có tài sản văn hóa của dân tộc mình Chúng ta hội nhập quốc tế,tham gia toàn cầu hóa bằng nguồn vốn văn hóa của dân tộc do cha ông để lại vànhững gì hiện có hôm nay

Trống đồng Ngọc Lũ (thời văn hóa Đông Sơn), chiếc áo dài Việt Nam…

có giá trị biểu trưng cho văn hóa dân tộc Vịnh Hạ Long, khu di tích tháp Chăm

Mỹ Sơn, phố cổ Hội An, cố đô Huế, Hoàng thành Thăng Long… được

Trang 17

UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới Nhã nhạc cung đình Huế, khônggian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, quan họ Bắc Ninh, Hội Gióng… đượcghi vào danh sách di sản phi vật thể đại diện của nhân loại Những giá trị củacác di sản văn hóa trên giúp chúng ta tự hào về văn hóa dân tộc, chủ động và tựtin trong giao lưu văn hóa, hội nhập quốc tế.

Do vậy, các giá trị của di tích lịch sử văn hoá chính là tài sản vô giá, niềm

tự hào dân tộc, để giao lưu, hợp tác văn hóa với các nước, để khẳng định nhữngđặc trưng văn hóa của dân tộc trong bối cảnh đa dạng hóa các nền văn hóa Giao lưu văn hóa giữa các dân tộc không chỉ là động lực tinh thần mà cònđem lại nhiều lợi ích thiết thực cho phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia.Rất nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở nước ta có giá trị đại diện nhânloại và các giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học khác đã trở thành tụ điểm du lịchhấp dẫn, điểm đến của du khách nhiều nước trên thế giới, đem lại nguồn lợiđáng kể cho dân chúng nơi có di sản văn hóa và đóng góp ngân sách quốc gia,phát triển ngành nghề và dịch vụ phục vụ du lịch

1.3 Nội dung quản lý di tích lịch sử văn hóa

Quản lý di tích lịch sử văn hóa là sự định hướng, tạo điều kiện của tổchức điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các DTLS - VH, làm cho giá trị của di tíchphát huy theo chiều hướng tích cực Nội dung Quản lý nhà nước về di sản được

đề cập trong Luật DSVH do Quốc hội nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam banhành năm 2001, sửa đổi, bổ sung một số điều 2009

Nội dung của Quản lý nhà nước về di sản văn hóa bao gồm;

1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược quy hoạch, chính sách cho sựnghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

2 Ban hành và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản vănhóa;

Trang 18

3 Tổ chức chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DTLS - VHtuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa;

4 Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡngđội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa

5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị

di sản văn hóa;

6 Tổ chức chỉ đạo, khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị

7 Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sảnvăn hóa;

8 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khâu khiếu nại

tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa

1.4 Quan điểm của Đảng và nhà nước về quản lý di tích lịch sử văn

hóa

Di tích lịch sử văn hóa là tài sản vô cùng quý báu mà cha ông ta đã để lại

cho hậu thế Vì vậy gìn giữ DTLS - VH chính là tiếp tục kế thừa những truyềnthống tốt đẹp của cha ông đó là việc rất cần thiết Đảng và nhà nước đã ban hành

và hoàn thiện các văn bản qui phạm pháp luật

Cách mạng tháng 8/11945 giành được độc lập, ngày 23/11/1945 Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã ký xác lệnh số 65-SL về quản lý di sản văn hóa Sắc lệnh gồm 6điều, ấn định nhiệm vụ cho Đông phương Bác cổ học viện có nhiệm vụ bảo tồntất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam, và nghiêm cấm việc phá hủy đền, chùa,đình, miếu, điện, thành quách , lăng mộ

Ngày 28/6/1956, Trung ương Đảng ra thông tư số 38/TT- TW về việc bảo

vệ di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Trong đó đề cập đến việc nâng cao ýthức trách nhiệm bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh trong các cấp, cácngành, các tổ chức xã hội và toàn dân; đình chỉ ngay các hoạt động kinh tế đangphương hại trực tiếp đến các di tích; tiến hành phân loại và xây dụng kế hoạch tu

Trang 19

bổ các di tích Ngày 3/7/1957, Thủ tướng Chính phủ ra thông tư số 954/TTg vềviệc bảo vệ di tích và danh lam thắng cảnh

Ngày 29/10/1957, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ký nghị định số 519/TTg

về việc bảo vệ sử dụng DTLS-VH và danh lam thắng cảnh Đây là văn bản pháp

lý cập nhật đầy đủ đến việc quản lý nhà nước đối vơi DTLS - VH trong suốt haithập kỷ chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta

Nghị định gồm 7 mục với 32 điều trong đó đề cập tới công tác quản lýDTLS-VH ở các góc độ như liệt hạng di sản văn hóa, quy định những tiêu chuẩncủa các công trình được hạng là DTLS-VH; việc trùng tu tôn tạo di tích; chế độkhen thưởng và kỷ luật đối với tổ chức cá nhân có thành tích trong việc bảo vệ

Quy định chế độ bảo vệ và sử dụng DTLS - VH và các danh lam thắngcảnh, tổ chức thực hiện các chế độ đó Thanh tra việc thi hành những quy địnhcủa pháp luật về bảo vệ, sử dụng DTLS-VH và các danh lam thắng cảnh Pháplệnh số 14-LTC/HĐNN ra đời đã tập trung thống nhất quản lý, sử dụng DTLS-

VH và danh lam thắng cảnh trên phạm vi cả nước, đưa công tác kiểm kê, lập hồ

sơ xếp hạng vào nề nếp Quy định về cổ vật, việc tu bổ, tôn tạo và hoạt động bảo

vệ di tích cũng đã rõ ràng và chặt chẽ Pháp lệnh ra đời có ý nghĩa to lớn, làbước tiến về mặt pháp lý với mục đích làm cho công tác quản lý di sản văn hóacủa dân tộc hoàn thiện hơn Trong quá trình phát triển của đất nước, nhất là thời

Trang 20

kỳ đổi mới, hội nhập, giao lưu rộng rãi với các nước trên thế giới Để bảo vệ disản văn hóa được toàn diện, đầy đủ, phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng yêucầu của thời kỳ mới Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII về việc “Xây dụngnền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”

Ngày 22/7/2001, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam đã ký lệnh số09/LCTL công bố Luật Di sản văn hóa được kỳ họp quốc hội thữ IX thông quangày 29/6/2001, Luật có hiệu lực từ ngày 1/1/2002 Với việc ra đời luật Di sảnvăn hóa đã tạo hành lang pháp lý cho công tác quản lý DTLS - VH trong cảnước Luật Di sản văn hóa gồm 7 chương 74 điều, trong đó quy định rõ nội dungquản lý nhà nước về DSVH, phân định trách nhiệm của các cấp đối với việcquản lý DSVH gồm: “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa;

Bộ văn hóa Thông tin chịu trách nhiệm trước chính phủ thực hiện quản lý nhànước về di sản văn hóa; các Bộ; cơ quan ngang Bộ; cơ quan trực thuộc Chínhphủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về DSVH theo phân công của Chính phủ;UBND các cấp 19 trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiệnviệc quản lý DSVH ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ”

Sau một thời gian áp dụng, Luật Di sản văn hóa 2001 không phù hợp vớithực tiễn đời sống kinh tế xã hội của đất nước Vì vậy Luật Di sản văn hóa 2001được sửa đổi bổ sung một số điều luật năm 2009 là văn bản hợp nhất giữa luật

Di sản văn hóa năm 2001 và sửa đổi bổ sung một số điều Luật Di sản văn hóanăm 2009 Luật điều chỉnh những vấn đề hoàn toàn mới, hoàn thiện nâng caonhững vấn đề đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật trước đâyphù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế Những văn bản pháp luật về bảo vệ vàphát huy giá trị Di sản văn hóa qua từng thời kỳ lịch sử, cái sau có giá trị caohơn cái trước, cho thấy tính nhất quán tạo động lực giúp cho sự nghiệp bảo vệ

và phát huy giá trị di sản văn hóa, tôn vinh những di sản văn hóa tiêu biểu nhất,tạo điều kiện thuận lợi để thu hút nguồn lực của nhiều thành phần kinh tế phục

vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm thực hiện mục tiêu dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh

Trang 21

Luật Di sản văn hóa để thực thi Chính phủ, Bộ VH-TT&DL ban hành một

số văn bản hướng dẫn thi hành: Ngày 11/11/2002, Chính phủ nước cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Nghị định số 92/2002/NĐ-CP quy định chitiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa Ngày 24/7/2001, Bộ trưởng

Bộ VH-TT&DL ra quyết định số 1709/ QĐ- BVHTT phê duyệt quy hoạch tổngthể bảo tồn và phát huy giá trị DTLSVH và danh lam thắng cảnh đến năm 2010

Ngày 6/2/2003, Bộ trưởng Bộ VH-TT&DL ban hành quy chế bảo quản, tu

bổ và phục hồi DTLS-VH và danh lam thắng cảnh Nhà nước ban hành các vănbản pháp lý trong lĩnh vực quản lý di sản văn hóa là cơ sở để các địa phươngtrong đó có Ban quản lý di tích phường 20 Phương Liên, quận Đống Đa thựchiện công tác quản lý DTLS-VH góp phần gìn giữ những giá trị truyền thôngvăn hóa tốt đẹp mà ông cha ta để lại

Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam, khoá X kỳ họp thứ 9 thông qua đã khẳng định “Di sản văn hoá Việt Nam

là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của Disản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nướccủa nhân dân ta” Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ươngĐảng khóa VIII đã xác định 10 nhiệm vụ về xây dựng và phát triển nền văn hóaViệt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong đó nhiệm vụ thứ tư là bảo tồn

và phát huy các di sản văn hóa Nghị quyết đã chỉ rõ nội dung của nhiệm vụ nàynhư sau: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõicủa bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa.Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống(bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phivật thể

Nhận thức của toàn xã hội về vai trò, ý nghĩa, giá trị của di sản văn hóanói chung, di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh nói riêng ngày càngđược nâng cao Bảo vệ di tích, phát huy giá trị của di tích phục vụ sự nghiệp

Trang 22

nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân Hàng ngàn di tích được xếp hạng

và tu bổ trong mấy chục năm qua đã thể hiện những nỗ lực to lớn của toàn xãhội chăm lo và bảo vệ di tích Về cơ bản hệ thống di tích của đất nước đã đượcbảo vệ, chăm sóc và tu bổ bảo đảm khả năng tồn tại lâu dài Tuy nhiên, do trảiqua hàng chục năm chiến tranh, chúng ta chưa có nhiều điều kiện chăm lo, bảo

vệ di tích nên đến nay, mặc dù đã rất cố gắng nhưng vẫn còn nhiều di tích bị vịphạm chưa được giải tỏa Phần lớn các vi phạm này đã diễn ra từ nhiều chụcnăm nay nên việc giải quyết cần có quyết tâm và sự phối hợp của nhiều ngành,nhiều cấp

1.5 Ý nghĩa quản lý di tích lịch sử văn hóa

1.5.1 Quản lý di tích lịch sử văn hóa gắn kết cộng đồng dân tộc

trong một quốc gia Việt Nam thống nhất, đa dạng văn hóa

Trước hết phải khẳng định rằng, di tích lịch sử văn hóa là một bộ phận

quan trọng nhất, chứa đựng những yếu tố cốt lõi của văn hóa dân tộc Bản thâncác di sản văn hóa do cha ông ta sáng tạo ra, truyền lại cho thế hệ hôm nay tạo

ra một hệ thống các giá trị có vai trò to lớn trong quá trình dựng nước và giữnước của dân tộc Hệ thống giá trị đó chẳng những là tài sản vô giá mà còn lànhững thông điệp có ý nghĩa của cha ông ta đúc kết ở mỗi thời điểm lịch sử, rút

ra những bài học lịch sử, thể hiện nghệ thuật ứng xử của cha ông ta trong cải tạo

tự nhiên, đấu tranh xã hội, chống giặc ngoại xâm, mở rộng quan hệ, hợp tác vớicác nước để xây dựng một quốc gia Việt Nam thống nhất trong đa dạng văn hóa

Một trong những giá trị tiêu biểu nhất của di tích lịch sử văn hóa là đề cao

tinh thần yêu nước, đoàn kết mọi người dân, mọi dân tộc, tạo ra sức mạnh tinhthần vượt mọi khó khăn, gian khổ, hiểm nguy bảo vệ cho được độc lập dân tộc,thống nhất tổ quốc Di sản văn hóa tạo ra những biểu tượng văn hóa gắn kết cáccộng đồng dân tộc trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước Mỗingười Việt Nam ai cũng tự hào mình là con cháu cha rồng (Lạc Long Quân), mẹtiên (Âu Cơ), tự hào về các dân tộc trong nước đều là anh em, từ một bọc sinh ra

Trang 23

(đồng bào) Mỗi người Việt Nam tự hào về vua Hùng, người đứng đầu nhà nướcVăn Lang đầu tiên của dân tộc, khẳng định vua Hùng là quốc tổ, có ngày giỗ tổ(mùng mười tháng ba), có hệ thống đền miếu tôn thờ, được tổ chức lễ hội tưngbừng hàng năm.

Một đặc điểm dễ nhận ra là hệ thống các di tích lịch sử văn hóa ở nước ta,

từ Bắc đến Nam, phần lớn thờ phụng những người có công chống giặc ngoạixâm, dẹp loạn cát cứ, xây dựng tinh thần đoàn kết, hòa hiếu giữa các dân tộc.Nhân dân không chấp nhận tôn vinh những người đi ngược lại quyền lợi của cácdân tộc, của quốc gia, phá vỡ tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc Rất nhiều disản văn hóa vật thể và phi vật thể ở các dân tộc anh em trên đất nước ta đã thểhiện rõ nét tinh thần hòa hiếu giữa các dân tộc Các yếu tố di sản văn hóa củacác dân tộc trong quá trình giao lưu được các dân tộc học hỏi, tiếp thu cái hay,cái tốt, làm giàu có vốn văn hóa của dân tộc mình Như vậy, giá trị của các disản văn hóa dân tộc vừa là tài sản, vừa là tiềm lực tạo ra sức mạnh tinh thần gắnkết cộng đồng các dân tộc Việt Nam Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh sứcmạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong chống giặc ngoại xâm chính là từ sứcmạnh của văn hóa, trong đó có vai trò của những giá trị di sản văn hóa vun đắpqua bao thế kỷ

Lịch sử cũng đã chứng minh, sự gắn kết cộng đồng của các dân tộc ViệtNam là cơ sở xây dựng môi trường hòa bình, ổn định để quốc gia phát triển vàmỗi dân tộc có điều kiện tốt nhất để phát triển dân tộc mình

1.5.2 Quản lý di tích lịch sử văn hóa là giữ gìn những chuẩn

mực cốt lõi phản ánh đậm nét bản sắc dân tộc

Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về văn hóa đưa ra khái niệm: “Bảnsắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng cácdân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước vàgiữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoànkết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc; lòng nhân

Trang 24

ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong laođộng; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống… Bản sắc văn hóa dântộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo”.

Các sản phẩm vật chất, tinh thần của di tích lịch sử văn hoá hàm chứa giátrị lịch sử, văn hóa, khoa học được bảo tồn dưới dạng nguyên gốc, nguyên trạng,kết tinh tài năng, trí tuệ, tính tư tưởng, thẩm mỹ của thời điểm lịch sử sáng tạo racác sản phẩm đó, đồng thời các sản phẩm đó được lưu truyền qua các thế hệđược cộng đồng các dân tộc sàng lọc, vun đắp, giữ gìn những giá trị có tính tiêubiểu, chứa đựng những tinh hoa văn hóa của các dân tộc, vì thế nó là những giátrị bền vững, lâu dài, hình thành truyền thống và những tính cách, nét riêng biệtcủa các nhóm người, các dân tộc Những giá trị ấy được xác định là nhữngchuẩn mực cốt lõi phản ánh đậm nét bản sắc dân tộc được cộng đồng các dân tộcthừa nhận, bảo lưu và truyền lại cho các thế hệ sau, coi như là một mã di truyền

Ví dụ, qua các di sản văn hóa của nền văn hóa Đông Sơn, nhất là các bộsưu tập trống đồng và các tục hèm, tín ngưỡng, lễ hội dân gian, chúng ta phântích, đánh giá các giá trị của di sản để hiểu biết đầy đủ hơn bản sắc dân tộc Việt

Trang 25

ở thời đại vua Hùng và qua đó đối sánh với những hiện hữu di sản trong nền vănhóa đương đại, tìm ra các yếu tố gốc, sự biến đổi văn hóa qua các thời kỳ lịch sử

để nhìn nhận đánh giá bản sắc dân tộc Việt hôm nay

Như vậy, hệ thống các giá trị của di sản văn hóa có vai trò tạo nền tảnghình thành bản sắc dân tộc qua các thời kỳ lịch sử phát triển của dân tộc

1.5.3 Quản lý di tích lịch sử văn hóa là nguồn vốn vô giá sáng

tạo những giá trị mới trong xã hội đương đại

Để phục vụ cho yêu cầu tăng tốc phát triển đất nước trong thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, dân tộc ta cần phải phát huy tối đacác nguồn lực xã hội, trong đó có nguồn vốn văn hóa của cha ông Bất cứ mộtgiá trị nào của di sản văn hóa dân tộc trước hết phải thực hiện nhiệm vụ lịch sử ởthời điểm nó ra đời để đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, của xã hội Các giá trịcủa di sản văn hóa dân tộc tất yếu được kế thừa, phát huy trong xã hội đương đạiđáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới do lịch sử đặt ra Có điều, mỗi giai đoạn lịch sửđặt ra yêu cầu mới, chứa đựng những giá trị mới về nội dung tư tưởng và hìnhthức nghệ thuật biểu hiện, phù hợp với lý tưởng, thị hiếu thẩm mỹ của thời đại

Do đó, huy động tối đa nguồn vốn giá trị của di sản văn hóa dân tộc không chỉ

để phát huy mà còn để sáng tạo nên những giá trị mới đáp ứng các yêu cầu,nhiệm vụ phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đàbản sắc dân tộc Những giá trị mới ấy nhằm mục tiêu xây dựng con người ViệtNam phát triển toàn diện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về văn hóa xácđịnh nhiệm vụ cụ thể: “Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cáchmạng với những đức tính sau:

Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc vàchủ nghĩa xã hội

Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung

Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo,

Trang 26

Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độthẩm mỹ và thể lực”.

Những đức tính trên thực chất đã kế thừa những giá trị truyền thống củadân tộc hình thành qua hàng ngàn năm lịch sử và được nâng lên trong giai đoạncách mạng hiện nay, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ,công bằng, văn minh

Nhìn vào một di tích người ta có thể nhận ra trình độ phát triển trong quákhứ của một dân tộc, cộng đồng dân cư, tìm thấy những giá trị lịch sử, văn hóatinh thần trăm năm, ngàn năm chưa phai nhạt Nhận thức rõ giá trị cốt lõi của ditích, từ lâu, Đảng, Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách, đầu tư nguồnlực để bảo tồn di tích trên khắp đất nước

Một số lễ hội tại các di tích tổ chức với quy mô ngày càng lớn, hình thức

tổ chức với nhiều nội dung, nhiều hoạt động, các địa phương đã dựa vào nội lực

là chính, nhiều lễ hội đã chinh phục được du khách, tôn vinh di sản, nâng cao uytín của thương hiệu du lịch hấp dẫn của địa phương

Kinh nghiệm tổ chức một số Lễ hội Văn hóa, thể thao, du lịch đã dần dầnmang tính chuyên nghiệp hóa góp phần tạo ra doanh thu và hiệu quả đầu tư, gópphần đẩy mạnh và nâng cao đời sống văn hóa cho nhân dân ở các địa phương.Đặc biệt loại hình lễ hội văn hóa, thể thao, du lịch đã tạo ra sự đột phá tuyêntruyền quảng bá những tiềm năng thế mạnh, thành tựu kinh tế xã hội của địaphương, góp phần quảng bá hình ảnh và đất nước con người Việt Nam, tôn vinhcác giá trị văn hóa, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế trong văn hóa du lịch, tạo dấu ấn với du khách trong nước và quốc tế (FestivalHuế, Lễ hội bắn pháo hoa Đà Nẵng, Festival trái cây Nam Bộ )

Thông qua hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa đã huy động được

nguồn lực lớn từ nhân dân, phần lớn kinh phí tổ chức lễ hội (đặc biệt là lễ hộidân gian) đều do nhân dân và du khách thập phương tự nguyện đóng góp Trongnhiều lễ hội tại di tích lịch sử, nhân dân đã đóng góp nguồn kinh phí lớn có thể

Trang 27

tính được bằng tiền tỷ để trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, bảo tồn cácphong tục, tập quán truyền thống.

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ BẢO TỒN DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HOÁ CHÙA CỔ AM, XÃ DIỄN MINH, HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN 2.1 Giới thiệu chung về di tích lịch sử văn hoá chùa Cổ Am, xã Diễn

Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

2.1.1 Giới thiệu xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Diễn Minh là một xã thuộc huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, Việt Nam.

Xã có diện tích 4,4 km², dân số năm 1999 là 2.749 người, mật độ dân số đạt

625 người/km²

Phía nam giáp huyện Nghi Lộc, phía bắc giáp huyện Quỳnh Lưu, phía tâygiáp huyện Yên Thành (tỉnh Nghệ An), phía đông giáp biển Đông Huyện DiễnChâu nằm cách thủ đô Hà Nội 270 km, cách thành phố Vinh 40 km Huyện DiễnChâu có đường quốc lộ 1A, sông Bùng và Đường sắt Bắc Nam đi qua

Đây cũng là địa phương có dự án Đường cao tốc Thanh Hóa – Hà Tĩnh điqua đang được xây dựng

Thời Hùng Vương, Diễn Châu nằm trong Bộ Hoài Hoan Sau đó, thuộc quậnCửu Chân rồi quận Cửu Đức, quận Nhật Nam;

- Thời nhà Đường:

Trang 28

Niên hiệu Vũ Đức chia quận Nhật Nam đặt làm Nam Đức châu, Lạo châu,Minh Châu và Hoan Châu,

Năm Trinh Quán nguyên niên đổi Đức Châu lại làm Hoan Châu, còn HoanChâu cũ thì đổi làm Diễn Châu;

Năm thứ 16 bỏ Diễn Châu hợp vào Châu Hoan

Nhà Lý: Bính Tí, năm thứ 3(1036) (Tống, Cảnh Hựu năm thứ 3) Mùa hạ,tháng 4, Đặt hình dinh ở Châu Hoan, đổi tên châu ấy thành Nghệ An Diễn Châutách khỏi Nghệ An thì đứng riêng làm châu; Nghệ An lúc đó là vùng đất còn lại

và tỉnh Hà Tĩnh ngày nay

- Nhà Trần:

Năm Long Khánh thứ 3 đổi Diễn Châu làm Diễn Châu lộ, chia Hoan Châulàm 4 lộ: Nhật Nam và Nghệ An nam, Nghệ An bắc, Nghệ An trung, cũng gọi làNghệ An phủ;

Năm Quang Thái thứ 10 đổi Nghệ An làm Lâm An trấn, Diễn Châu làmVọng An trấn;

Nhà Hồ: đổi Diễn Châu làm Linh Nguyên phủ, cùng với Thanh Hóa, CửuChân, Ái Châu gọi là tứ phụ;

Thời thuộc nhà Minh: Diễn Châu và Nghệ An là 2 phủ riêng biệt;

- Nhà Hậu Lê:

Phủ Diễn Châu thuộc Nghệ An thừa tuyên

Năm Hồng Đức thứ 21 đổi thừa tuyên Nghệ An thành xứ Nghệ

Phủ Diễn Châu là một trong 8 phủ của Xứ Nghệ, quản lĩnh 2 huyện: ĐôngThành (Yên Thành và Diễn Châu) và Quỳnh Lưu;

- Thời nhà Nguyễn:

Trang 29

Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), trấn Nghệ An chia tách thành 2 tỉnh: tỉnh HàTĩnh và tỉnh Nghệ An.

Phủ Diễn Châu là một trong 4 phủ của tỉnh Nghệ An, gồm: Đông Thành, YênThành, Nghi Lộc và Quỳnh Lưu

Năm 1919, chính quyền thực dân phong kiến bỏ cấp phủ: Huyện ĐôngThành đổi thành phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

Sau năm 1945, phủ Diễn Châu được gọi là huyện Diễn Châu, bao gồm 41 xã:Diễn An, Diễn Bích, Diễn Bình, Diễn Cát, Diễn Đoài, Diễn Đồng, Diễn Hải,Diễn Hạnh, Diễn Hoa, Diễn Hoàng, Diễn Hồng, Diễn Hùng, Diễn Kim, Diễn

Kỷ, Diễn Lâm, Diễn Liên, Diễn Lộc, Diễn Lợi, Diễn Minh, Diễn Mỹ, DiễnNgọc, Diễn Nguyên, Diễn Phong, Diễn Phú, Diễn Phúc, Diễn Quảng, Diễn Tân,Diễn Thái, Diễn Thắng, Diễn Thành, Diễn Tháp, Diễn Thịnh, Diễn Thọ, DiễnThủy, Diễn Tiến, Diễn Trung, Diễn Trường, Diễn Vạn, Diễn viên, Diễn Xuân,Diễn Yên

Ngày 22-5-1969: giải thể xã Diễn viên, địa bàn nhập vào các xã Diễn Hoa vàDiễn Hạnh; sáp nhập xã Diễn Thủy vào xã Diễn Ngọc; sáp nhập xã Diễn Tiếnvào xã Diễn Thành

Ngày 23-2-1977, thành lập thị trấn Diễn Châu - thị trấn huyện lị huyện DiễnChâu - trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và dân số của các xãDiễn Phúc và Diễn Thành

Từ đó đến nay, huyện Diễn Châu có 1 thị trấn và 38 xã

2.1.2 Tổng quan về di tích lịch sử văn hoá chùa Cổ Am, xã Diễn Minh,

huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

2.1.2.1 Vị trí địa lý

Chùa Cổ Am là ngôi chùa cổ đi cùng với lịch sử dân tộc Lèn Hố Lĩnh,thuộc xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, nằm trong quần thể ditích lịch sử văn hóa Lèn Hai Vai

Trang 30

Chùa Cổ Am thuộc xã Diễn Minh - huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An, đượcxây dựng vào thời hậu Lê (giữa thế kỷ XV) Ban đầu, chỉ có một am nhỏ đểnhân dân đến lễ bái nên được gọi là Sơn Am Tự Vào cuối thời Hậu Lê, Chùađược nhân dân chuyển xuống chân lèn và đổi tên là Hương Phúc Tự Tuy nhiên,trong thời gian ấy, làng Diễn Minh gặp nhiều rủi ro về mặt tâm linh không thể lýgiải, nên vào đời vua Minh Mạng thứ 11, Chùa được chuyển về vị trí cũ với têngọi Cổ Am Tự như ngày nay

2.1.2.2 Lịch sử hình thành

Chùa Cổ Am còn gọi là Lưỡng Kiên Sơn, vì đứng xa xa trông giống nhưmột chàng dũng sĩ hiên ngang Chúa Trịnh Tĩnh Vương gọi núi này là Di LặcSơn Trong lèn có nhiều hang động như: Hang Thần Đồng, hang cố Nguyên,hang Dơi, hang Khòm, hang Chuồn Chuồn, hang Cá Chép… Ngày nay, lèn HaiVai vẫn còn giữ được nét cổ kính và gắn với nhiều sự tích

Chùa Cổ Am được xây dựng vào thời hậu Lê (giữa thế kỷ XV) Ban đầu,chỉ có một am nhỏ để nhân dân đến lễ bái nên được gọi là Sơn Am Tự Vào cuốithời Hậu Lê, Chùa được nhân dân chuyển xuống chân lèn và đổi tên là HươngPhúc Tự Tuy nhiên, trong thời gian ấy, làng Diễn Minh gặp nhiều rủi ro về mặttâm linh không thể lý giải, nên vào đời vua Minh Mạng thứ 11, Chùa đượcchuyển về vị trí cũ với tên gọi Cổ Am Tự như ngày nay

Từ lúc hình thành đến nay , lần phục dựng quy mô nhất là vào tháng 12/2013

và hoàn thành giai đoạn 1 vào tháng 06/2017 với các công trình được quy hoạchthành một quần thể khép kín: men theo cổng Chánh điện ở dưới chân lèn, chúng

ta có thể lên thượng điện ở tọa lạc ở lưng chừng núi, rồi sang động Như Ý, lênđỉnh núi ngoạn cảnh, từ đó ven theo sườn núi đến tượng Quan Âm 3 mặt và trở

về hạ điện ở bên cạnh lèn

Chùa Cổ Am xen giữa muôn hình của những phiến đá lô nhô xô chồng chéolên nhau, một cảnh đẹp đẽ như có bàn tay ai sắp đặt là những sắc, hương củamuôn loài thảo mộc và những hang động với những hình thù kì dị Lèn có rừng

Trang 31

cây rậm rạp với nhiều loài chim, thú sinh sống Núi đá, rừng cây, mái chùa, hangđộng tạo thành một quần thể thiên nhiên đẹp đẽ.

Ở giữa lưng chừng núi, nép mình dưới những rặng cây là một ngôi chùa

cổ kính gọi là Cổ Am Theo những hàng chữ nho khắc trên cột đá trước chínhđiện thì chùa Cổ Am được xây dựng từ đời vua Minh Mạng thứ 11 Theo trí nhớcủa các cụ già: Chùa Cổ Am trước đây có bậc lên xuống bằng đá chẻ (ngày nayvẫn còn sót lại 1 số viên), thượng điện và bái đường tọa lạc ở lưng chừng núi,xung quanh có núi và cây bao bọc tạo thành thế “tả thanh long, hữu bạch hổ,tiền chu tước, hậu huyền vũ” là vị trí lý tưởng của phong thủy Chùa Cổ Am làmbằng gỗ, mái lợp ngói vảy, trong chùa trước đây có rất nhiều tượng Phật bằng gỗrất đẹp và một số sắc phong

Như vậy, từ rất lâu người dân Diễn Châu đã nhận thức sâu sắc về đạoPhật “Một tôn giáo cao đẹp nhất toàn cầu” Cho nên, người xưa xây chùa Cổ

Am là để truyền bá nền văn hóa tâm linh của đạo Phật đến với cộng đồng dân

cư, giáo dục con người hoàn thiện cả về chân, thiện, mỹ

2.1.2.3 Kiến trúc

Chùa được quy hoạch xây dựng trên diện tích 14 ha, việc xây dựng đượcphân kỳ như gia cố thượng điện, nhà tăng, nhà bái đường, tượng Phật dưới chânnúi, đường lên núi bằng đá, giai đoạn 2 xây dựng Tam bảo, nhà giảng đường,sân lễ hội, tháp chuông, tôn tạo các hang động thành điểm thờ phụng và chiêmbái

Đại hùng bảo điện chùa Cổ Am nằm ở vị trí trung tâm của khuôn viên chùavới chi phí xây dựng gần 23 tỷ, thiết kế quy mô theo chùa Việt truyền thống,chia làm 2 tầng với tổng diện tích 2.600m2, chiều dài 50m, chiều rộng 25m vàchiều cao 30m Tầng trên là chính điện phục vụ cho nghi lễ hàng ngày và nhucầu tín ngưỡng tâm linh của cư dân huyện nhà Ngay giữa trung tâm chính điện

là tôn tượng Thích Ca Mâu Ni cao hơn 5m làm bằng gỗ mít dát vàng

Ngày đăng: 11/03/2020, 10:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh(1993), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Văn hóa thông tin, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1993
2. Minh Anh – Hải Yến – Mai Ký. 25 lễ hội đặc sắc ở Việt Nam, Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: 25 lễ hội đặc sắc ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb HồngĐức
3. Vũ Thế Bình (chủ biên). Non nước Việt Nam, Tổng cục du lịch Việt Nam - Trung tâm công nghệ thông tin du lịch, Hà Nội 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Non nước Việt Nam
4. Phạm Trọng Điền (Phiên Dịch). Đại Nam nhất thống chí, Nxb Khoa Học Xã Hội, 1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam nhất thống chí
Nhà XB: Nxb Khoa HọcXã Hội
5. Hoàng Quốc Hải (2000), Văn hóa phong tục. Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa phong tục
Tác giả: Hoàng Quốc Hải
Nhà XB: Nxb Văn Hóa Thông Tin
Năm: 2000
6. Đỗ Huy (1996), Văn Hóa Mới Việt Nam sự thống nhất và đa dạng. Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Hóa Mới Việt Nam sự thống nhất và đa dạng
Tác giả: Đỗ Huy
Nhà XB: NxbKhoa Học Xã Hội
Năm: 1996
7. Nguyễn Duy Hinh (1996), Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam, Nxb Khoa học – xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: Nxb Khoahọc – xã hội
Năm: 1996
8. Nguyễn Thừa Hỷ (2010), Văn hóa Việt Nam truyền thống – một góc nhìn, Nxb Thông tin và truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam truyền thống
Tác giả: Nguyễn Thừa Hỷ
Nhà XB: Nxb Thông tin và truyền thông
Năm: 2010
9. Lê Văn Kỳ, Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về các anh hùng, NXB Khoa học xã hội 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về cácanh hùng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội 1997
10.Vũ Tự Lập, Địa lý tự nhiên Việt Nam, Nxb Đại học Sư Phạm Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý tự nhiên Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm Hà Nội
11.Phạm Trung Lương (chủ biên). Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam, Nxb Giáo Dục, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên và môi trường du lịch ViệtNam
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
12.Vũ Tự Lập, Địa lý tự nhiên Việt Nam, Nxb Đại học Sư Phạm Hà Nội, 1995.13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý tự nhiên Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm Hà Nội
14.Dương Văn Sáu. Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch, Nxb Đại học Văn Hóa Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch
Nhà XB: Nxb Đại họcVăn Hóa Hà Nội
15.Nguyễn Đức Siêu - Nguyễn Vĩnh Phúc - Phan Khanh - Phạm Mai Hùng.Việt Nam di tích và thắng cảnh, Nxb Đà Nẵng, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam di tích và thắng cảnh
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
16.Nguyễn Hữu Thức, Về phân loai Lễ hội hiện nay, Tạp chí Văn hóa, nghệ thuật số 304 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phân loai Lễ hội hiện nay
17.Khuyết danh (1960), Việt sử lược, Nxb Thuận Hóa – Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt sử lược
Tác giả: Khuyết danh
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa – Huế
Năm: 1960
18.Nhiều tác giả (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w