ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---TẠ THỊ NGỌC BÍCH VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ HÒA NHẬP CHO TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TẠI TR
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-TẠ THỊ NGỌC BÍCH
VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ HÒA NHẬP CHO TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TẠI TRƯỜNG MẦM NON
(Ứng dụng phương pháp Công tác xã hội với cá nhân nghiên cứu trên hai trường hợp trẻ chậm phát triển ngôn ngữ Nguyễn M và
Lưu T.Đ)
Remove it Now
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-TẠ THỊ NGỌC BÍCH
VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ HÒA NHẬP CHO TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TẠI TRƯỜNG MẦM NON
(Ứng dụng phương pháp Công tác xã hội với cá nhân nghiên cứu trên hai trường hợp trẻ chậm phát triển ngôn ngữ Nguyễn M và
Lưu T.Đ)
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Thu Hương
Hà Nội - 2015
Trang 3MỤC LỤC
ngôn ngữ trên thế giới
2.2 Tổng quan lịch sử nghiên cứu, can thiệp về trẻ chậm phát triển 14
ngôn ngữ tại Việt Nam
trợ hòa nhập cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ
nghề trong hoạt động can thiệp cho trẻ chậm phát triển ngôn
ngữ
phát triển ngôn ngữ
Trang 41.2.1 Lý thuyết nhận thức – hành vi 32
̀̀ ̀́
̀̀ ̀́
2.4.3.1 Nhân viên Công tác xã hội can thiệp với vai trò là giáo viên 65
2.4.3.2 Nhân viên Công tác xã hội với vai trò là người kết nối nguồn lực 77
nhân để can thiệp cho thân chủ
và kiến thức thực tế trong quá trình can thiệp.
Trang 5- ABA (Applied Behevior Analysis): Ứng dụng phân tích hành vi
- CARS (Childhood Autism Rating Scale): Bảng đánh giá mức độ tự kỷ ở trẻ em
- DSM (Diagnostic and Statical Manual of Mental Disorders): Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần
- DENVER (Denver Developmental Screening Test): Trắc nghiệm Đánh giá sựphát triển tâm lý - vận động cho trẻ nhỏ
- ICD (Internetional Classification of Diseases): Bảng phân loại bệnh quốc tế
- TTK: Trẻ tự kỷ
- TTNM: Trung Tâm Nắng Mai
- GD & ĐT: Giáo Dục và Đào Tạo
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Các giai đoạn phát triển ngôn ngữ của trẻ (từ 0 – 6 tuổi)
Bảng 1.2: Sư ̣phát triển vềhinh̀ thức ngôn ngữcủa trẻtừ 8 tháng tuổi – 9 tuổi
Bảng 1.3: Sư ̣phát triển vềsử dung ̣ ngôn ngữcủa trẻtừ 8 tháng tuổi – 9 tuổi
Bảng 1.4: Sư ̣phát triển về nội dung ngôn ngữ của trẻ từ 8 tháng tuổi – 9 tuổiBảng 2.1: Bảng đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo (3– 4 tuổi) Bé Nguyễn MBảng 2.2: Bảng đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo (3 – 4 tuổi) Bé Lưu T.Đ
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài: “Vai trò của nhân viên Công tác xã hộitrong hỗ trợ hoà nhập cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ tại trường mầm non (Ứngdụng phương pháp Công tác xã hội với cá nhân nghiên cứu trên hai trường hợp trẻchậm phát triển ngôn ngữ Nguyễn M và Lưu T.Đ)” là công trình nghiên cứu của cánhân tôi Những kết quả nghiên cứu là hoàn toàn trung thực, phù hợp với đề tàinghiên cứu của tôi
Tác giả luận văn
Tạ Thị Ngọc Bích
Trang 8Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô trong khoa Xã hộihọc, đặc biệt là các thầy cô bộ môn Công tác xã hội, trường Đại học Khoa học xãhội và Nhân Văn đã đào tạo, cung cấp những kiến thức, phương pháp, kỹ năng đểtôi có thể hoàn thành nghiên cứu của mình một cách thuận lợi nhất.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban quản lý Trung tâm Nắng Mai và ban giámhiệu trường Mầm non Kid’s Color cùng toàn thể các cô giáo đã tạo điều kiện cho tôiđược tham gia trực tiếp vào các hoạt động học tập cùng thân chủ của mình để thựchiện quá trình can thiệp trong thời gian 1 năm học
Do kiến thức và kỹ năng còn hạn chế nên luận văn sẽ còn những thiếu sót Rấtkính mong các thầy cô, các bạn độc giả đóng góp ý kiến để luận văn của tôi hoànchỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn vấn đề can thiệp
Nhắc đến nhóm trẻ chậm phát triển ngôn ngữ (CPTNN) hầu hết các bậc phụhuynh cũng như đa số mọi người đều có những hiểu lầm rằng những đứa trẻ này bịbệnh tự kỷ Bởi lẽ những trẻ CPTNN cũng có nhiều điểm tương đồng với trẻ tự kỷ.Hay nói một cách khác, việc CPTNN ở trẻ có thể chỉ là một biểu hiện nhỏ trong tậphợp các dấu hiệu của hội chứng tự kỷ
Hiện nay số lượng trẻ CPTNN ngày một tăng nhanh (trong đó có cả nhóm trẻCPTNN tự kỷ và một tỷ lệ rất nhỏ trẻ CPTNN thông thường), đặc biệt là ở cácthành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh… Tại các Trung tâm, các trường chuyênbiệt dạy trẻ tự kỷ (TTK) có một số lượng không ít những trẻ CPTNN đang được trịliệu ngôn ngữ với chương trình can thiệp chuyên biệt
Theo thống kê của Vụ giáo dục Mầm non – Bộ Giáo Dục & Đào Tạo (GD &ĐT) cho thấy tỷ lệ trẻ khuyết tật tham gia giáo dục hòa nhập chỉ chiếm một tỷ lệnhỏ so với tổng số trẻ cùng lứa tuổi Thực tế cho thấy rằng trẻ CPTNN khi đượcnhận vào môi trường học hòa nhập còn gặp nhiều khó khăn trong việc giao tiếp,nhận thức hay các kỹ năng xã hội khác… Bên cạnh những khó khăn mang tính chủquan là xuất phát từ chính bản thân trẻ có rất nhiều những nguyên nhân khách quankhác từ môi trường giáo dục hòa nhập Việc thiếu giáo viên chuyên môn hỗ trợ chotrẻ CPTNN hòa nhập tại các trường mầm non (MN) là một trong những nguyênnhân khách quan đó
Tại một số cơ sở giáo dục chuyên biệt đã cung cấp thêm mảng dịch vụ giáoviên (GV) hỗ trợ trẻ CPTNN tại các trường MN nhưng con số này còn khá eo hẹp
Và hầu như GV hỗ trợ đều gặp cản trở từ môi trường làm việc không chuyên biệtnày Những GV làm công việc hỗ trợ trẻ CPTNN học hoà nhập không chỉ cần kiếnthức chuyên môn mà còn cần có những kỹ năng mềm khác để vừa hỗ trợ trẻ học tậpvừa không làm ảnh hưởng tới công việc của các GV trong trường hòa nhập
Ở nước ta, việc chẩn đoán là do bác sĩ chuyên khoa về tâm thần hoặc tâm lýtrẻ em, ngoài ra, không có sự phối hợp theo dõi của những nhân viên công tác xa ̃ hôị(NV CTXH) hay GV chuyên biệt Việc trị liệu cho trẻ CPTNN có thể có sự góp mặt của bác sĩ tâm lý, bác sĩ tâm thần, GV chuyên biệt Tuy nhiên sự phối hợp giống như môṭ ê kíp trị liệu của những thành viên này hầu như chưa có hoặc không khăng khít, đặc biệt là hầu như không có những NV CTXH đóng vai trò là người quản lý ca, người kết nối các mối quan hệ trong nhóm trị liệu Mặc dù hiện nay vai
Trang 10trò của các nhân viên công tác xã hội (NV CTXH) đã có mặt hầu hết trong các lĩnhvực xã hội Tuy nhiên, tại các trung tâm chuyên biệt hay các trường khuyết tật vị trí,vai trò của những NV CTXH chưa thực sự được chú ý và phát huy hết hiệu quả.
“Thực ra, đây là một vị trí góp phần quan trọng vào việc gắn kết các mối quan hệcủa các thành viên trong gia đình trẻ với nhau, và trẻ với cơ sở trị liệu Nói một cáchkhác, người nhân viên xã hội chính là người liên kết và thống nhất các quan điểm ,tạo nên sự thông hiểu lẫn nhau” [2, tr.105] Ngoài ra, ở mỗi một vị trí khác nhau thì
NV CTXH sẽ đóng những vai trò khác nhau và giúp đem lại lợi ích cao nhất chothân chủ của mình
Trong điều kiện thực tế ở nước ta việc trị liệu, hỗ trợ TTK nói chung và trẻCPTNN hòa nhập nói riêng, NV CTXH thường giữ vai trò vừa là một GV chuyênbiệt vừa là người hỗ trợ trẻ và gia đình trẻ
Xuất phát từ thực tế trên, tác giả xin chọn đề tài nghiên cứu “ Vai trò của
nhân viên Công tác xã hội trong hỗ trợ hòa nhập cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ tại trường mầm non” để thấy được vai trò của NV CTXH khi làm việc với trẻ
CPTNN tại trường mầm non
2 Tổng quan về những nghiên cứu, can thiệp liên quan đến đề tài
2.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu, can thiệp về trẻ chậm phát triển ngôn ngữ trên thế giới
Theo Saussure, hoạt động lời nói của cá nhân bao gồm năng lực ngôn ngữ vàngôn ngữ như hệ thống Cả hai yếu tố này đều được hiện thực hóa trong lời nói Nói
cách khác, lời nói là “hành vi hiện thực hóa năng lực của cá nhân nhờ các điều kiện
xã hội, tức nhờ ngôn ngữ và ngôn ngữ trong nghĩa rộng của từ này (tức là hoạt động lời nói) nếu tách riêng ra là không thể hiểu được, bởi vì nó có tính không đồng nhất” [11, tr.12 – 13].
Khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ khiến con người khác các loài động vậtkhác Ngôn ngữ nói giúp con người truyền đạt thông tin, biểu đạt cảm xúc và biểuthị các mối quan hệ xã hội; đồng thời, nó cung cấp cho con người phương tiện tổchức tư duy, trí nhớ, cho phép hình thành nên những ranh giới phức tạp của lí trí vàgiúp con người suy ngẫm về những sự kiện diễn ra trong quá khứ, tương lai vàmang tính giả thuyết, hơn là giữ chúng trong hiện tại
Humboldt nói tới hoạt động lời nói và ngôn ngữ của con người như sự kếtnối giữa con người và xã hội Steintal G cho rằng hoạt động lời nói cá nhân có bayếu tố căn bản: cơ cấu cơ học của cơ thể, cơ cấu tâm lý và nội dung khái niệm haythế giới quan được biểu hiện Lời nói có mục đích là biểu đạt và phản ánh nội dung
Trang 11dựa trên cơ cấu tâm lý và cơ thể [11]
Sự CPTNN trong 3 năm đầu đời có thể dẫn đến những khó khăn trong giaotiếp và xã hội hóa các hình tượng quan trọng của trẻ ở thời thơ ấu Việc CPTNN lànguyên nhân chung khiến các bậc cha mẹ đi tìm lời khuyên từ các bác sĩ của giađình hoặc từ các bác sĩ nhi khoa Do sự giao tiếp ở con người là phức tạp, nên việcđánh giá và chẩn đoán những khó khăn của trẻ về ngôn ngữ và lời nói thường là vấnđề có nhiều thách thức, đòi hỏi ý kiến của chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khácnhau như: ngôn ngữ học, thính học, phát triển trẻ em, tâm lý học thần kinh, thầnkinh học nhi và tâm thần học
Ở những trẻ bình thường, khả năng nắm vững ngôn ngữ diễn ra theo 3 giai đoạn căn bản sau [22, tr.138]:
- Giai đoạn tiền ngôn ngữ (từ 0 cho đến 12, 13 tháng, đôi khi là 18 tháng):
bắt đầu từ những tiếng kêu không có ý nghĩa nào khác ngoài biểu đạt sự khó chịu về mặt sinh lý, dần dần những tiền đề của giao tiếp giữa trẻ và môi trường xung quanh được hình thành Trên thực tế, những tiếng kêu này biểu đạt một sắc thái cảm giác của trẻ đòi mẹ phải đáp ứng (giận dữ, đau đớn, bứt rứt, thỏa mãn, khoái cảm)
- Giai đoạn ngôn ngữ của trẻ bé (từ 10 tháng đến 2 tuổi rưỡi – 3 tuổi): những
từ đầu tiên thường xuất hiện trong tình huống “lắp lời nói”, nghèo nàn về
ý, nghĩa nhưng dễ phát âm Vào khoảng 12 tháng tuổi, một đứa trẻ có thể học được 5 đến 10 từ; đến 2 tuổi, vốn từ vựng của trẻ có thể đạt đến 200
từ Số lượng từ được tích lũy gia tăng theo độ tuổi Việc hiểu bị động luônxảy ra trước sự biểu đạt chủ động; có nghĩa là, trẻ có thể hiểu được một
số lượng từ lớn hơn rất nhiều so với việc trẻ nói các từ
Ở giai đoạn “từ-câu”, trẻ dùng một từ mà ý nghĩa của nó phụ thuộc vàođiệu bộ, cử chỉ hay hoàn cảnh cụ thể Ngôn ngữ luôn đi kèm với hànhđộng, củng cố hành động, nhưng vẫn chưa thay thế được hành động.Khoảng 18 tháng tuổi, các câu đầu tiên xuất hiện; trẻ bắt đầu học nói phủ định
Ở giai đoạn này, vai trò của gia đình là rất quan trọng bởi nó là nơi trẻđược tắm mình trong “biển ngôn ngữ” và học nói ngôn ngữ Nếu thiếuvắng sự tác động ngôn ngữ, vốn từ của trẻ trở nên nghèo nàn hoặc trẻ trởnên chậm trễ trong việc học nói
- Giai đoạn ngôn ngữ (bắt đầu từ 3 tuổi): là giai đoạn dài nhất và phức tạp
Trang 12nhất trong việc nắm vững ngôn ngữ, được đánh dấu bởi sự phong phú cảvề chất lượng và số lượng (khoảng từ 3 tuổi rưỡi đến 5 tuổi, trẻ có thể sởhữu 1.500 từ mà không phải lúc nào cũng biết chính xác ý nghĩa của từ).Đồng thời, ngôn ngữ dần trở thành phương tiện để hiểu biết, một sự thaythế kinh nghiệm trực tiếp Sự rườm rà cùng với hành động và/hoặc cử chỉ,điệu bộ dần dần biến mất.
Nói cách khác, các rối loạn ngôn ngữ ở trẻ em thường đóng vai trò quantrọng cả về ý nghĩa lẫn lý do đến thăm khám của gia đình, đặc biệt là những giađình có trẻ từ 4 đến 8 tuổi Đây là giai đoạn trẻ học ngôn ngữ nói và chuẩn bị choviệc học đọc và học viết Sự ảnh hưởng tới những tương tác giữa trẻ và môi trường(gia đình, trường học, bạn bè) bỗng nhiên có thể xảy đến nếu các rối loạn trở nênnghiêm trọng và dẫn tới các khó khăn tâm lý khác nhau Do đó rất khó kể đến cácrối loạn phản ứng thứ phát và những khó khăn ban đầu
Nghiên cứu về CPTNN ở trẻ em đòi hỏi phải có một nền tảng kiến thức về sựphát triển ngôn ngữ bình thường, ở cả khía cạnh sinh lý thần kinh (cơ quan cấu âm,cấu trúc não, cơ quan thính giác bình thường) và khía cạnh tâm lý Trong CPTNN,một mặt, các lỗi gặp phải là không cố định; mặt khác, mỗi âm vị có thể được phát
âm chính xác nếu đứng một mình Khi đối diện với những rối loạn về biểu đạt này,
sự phản ứng của gia đình là rất quan trọng, hoặc yêu cầu trẻ nhắc lại một cách kiêntrì, ngăn cản lời nói tự phát của trẻ, hoặc ngược lại không biết đến rối loạn này và đểcho trẻ tiếp tục chậm phát triển ngôn ngữ
Trong các trường hợp trẻ CPTNN, người ta tìm thấy một sự kém tích hợp các
âm vị khác nhau cấu thành nên một từ: số lượng, thuộc tính và sự nối tiếp của chúng
có thể bị thay đổi Không có ý nghĩa cho tới tận 5 tuổi, sự dai dẳng của việc kémtích hợp khi trẻ trên 5 tuổi báo hiệu một rối loạn về tích hợp và học lời nói, và cầnthiết phải có một tiếp xúc trị liệu đối với trẻ Về mặt lý thuyết, CPTNN không đikèm những bất thường về cú pháp, mà thực tế, nó thường kết hợp với sự chậm ngônngữ
Chậm ngôn ngữ đơn thuần được đặc trưng bởi sự tồn tại những rối loạn ngôn ngữ ởmột đứa trẻ không có dấu hiệu chậm phát triển trí tuệ, cũng không có tật điếc nặng hoặc bịloạn thần Cấu trúc câu, tổ chức cú pháp thường bị nhiễu loạn Về mặt lâm sàng, yếu tố cănbản chính là việc chậm xuất hiện câu nói đầu tiên ở khoảng sau 3 tuổi, tiếp theo một giaiđoạn “nói theo kiểu trẻ sơ sinh” kéo dài Những bất thường được tìm thấy thường đa dạng:rối loạn trong trật tự các từ của một câu, các lỗi cấu trúc ngữ pháp, động từ dùng ở nguyên
Trang 13thể, khó khăn trong dùng đại từ nhân xưng Người ta cũng tìm thấy sự bỏ sót từ, các lỗi liênkết, các từ ngữ phản quy tắc, Về mặt nguyên tắc, việc hiểu điều trẻ muốn diễn đạt khôngkhó, nhưng việc đánh giá mức độ phát triển ngôn ngữ ở trẻ bé đôi khi khó khăn.
Phần lớn các thuật ngữ được dùng để mô tả những trẻ có rối loạn lời nói là:loạn khớp nối chức năng và loạn phát triển âm vị, rối loạn đa âm vị, CPTNN Theomột số tác giả, có hai dạng căn bản trong rối loạn lời nói ở trẻ mà cho đến giờ vẫnchưa tìm được nguyên nhân: đó là CPTNN và những lỗi dôi dư không chắc chắn,trong đó CPTNN có tính di truyền, còn lỗi dôi dư không chắc chắn gia tăng do tácđộng của các biến môi trường, [21] Trên thực tế, đã có nhiều tác giả nghiên cứu vềCPTNN ở trẻ trên khắp thế giới như Beitchman, Nair, Clegg, Patel (1986); St.Louis, Ruscello và Lundeen (1992); Silva, Justin, McGee và Williams (1984),[17;26;24]… Những phê phán về phương pháp luận bao gồm các vấn đề liên quantới mẫu khách thể nghiên cứu, phương pháp đánh giá hoạt động lời nói, cũng như hệthống và các tiêu chí phân loại trẻ có rối loạn lời nói có ý nghĩa về mặt lâm sàng
Theo Beitchman và cs (1986), “sự thiếu một hệ thống phân loại phổ quát về các rối
loạn lời nối và ngôn ngữ là một rào cản lớn đối với việc phát triển các đánh giá thường gặp hữu ích và chính xác” [17, tr.98] Các nghiên cứu ở Mỹ, Canada, New
Zealand và Anh được thực hiện trên trẻ từ 5 đến 8 tuổi Kết quả của các nghiên cứunày cho thấy rằng CPTNN thường đi kèm với các thiếu hụt đặc hiệu về ngôn ngữ
Tỷ lệ trẻ CPTNN giảm dần theo độ tuổi: 11% ở trẻ 5 tuổi, 9,7% ở trẻ 6 tuổi, 6,5% ởtrẻ 7 tuổi và chỉ còn 2-3% ở trẻ 8 tuổi, trong đó, tỷ lệ những trẻ sống ở thành thị bịCPTNN cao hơn những trẻ sống ở nông thôn [17], [19], [24], [21, tr.1461-1481]
Một nghiên cứu của Ishikawa, Kajii, Sakuma & Saitoh (1982) trên 155 trẻCPTNN ở Nhật cho thấy, về mặt bản chất, việc đánh giá tổng thể hiện tượngCPTNN ở trẻ liên quan đến các vấn đề về thần kinh, thính giác, xúc cảm và xã hội.Các trẻ này đều ở độ tuổi từ 3 đến 8 tuổi, tuy nhiên, phần lớn các trẻ khi được bố mẹđưa đến thăm khám tại bệnh viện do nhiều nguyên nhân khác nhau thường là dưới 3tuổi Nguyên nhân chính khiến bố mẹ đưa con đến khám thường là chậm phát triểntâm thần hoặc không rõ bệnh căn, còn lại là các nguyên nhân khác như tự kỷ, nghekém, hội chứng giảm chức năng não, ), trong số này có những trẻ phát triển bìnhthường Đối với những trẻ phát triển bình thường, khi xem xét tiểu sử sinh, các tácgiả này phát hiện có 33% trường hợp CPTNN cho thấy những rắc rối ở thời kỳ thứhai của thai kỳ (bị ngạt, hút chân không, cân nhẹ, ).[20, tr 57- 61]
Theo bảng phân loại bệnh DSM – IV của Hội tâm thần học Hoa Kỳ, một
Trang 14tương phản rõ ràng được rút ra giữa các rối loạn phát triển đặc hiệu và các rối loạnphát triển lan tỏa khi nói tới sự CPTNN và lời nói Có hai đặc trưng quan trọng dẫnđến sự phân biệt này Đặc trưng thứ nhất chính là đặc trưng về sự suy yếu: trong cácrối loạn phát triển đặc hiệu, người ta tìm thấy sự suy yếu của một lĩnh vực cụ thể,trong khi các rối loạn phát triển lan tỏa cho thấy sự suy yếu ở nhiều vùng chứcnăng Đặc trưng thứ hai đó là bản chất của sự suy yếu: rối loạn phát triển đặc hiệu
có nguyên nhân từ sự chậm phát triển chứ không phải từ sự bất thường, trong khicác rối loạn phát triển lan tỏa xuất phát từ những lệch chuẩn hành vi vốn không bìnhthường ở bất kỳ giai đoạn phát triển nào
Theo cách phân biệt này, sự chẩn đoán về rối loạn phát triển ngôn ngữ đặchiệu là thích hợp khi ngôn ngữ của trẻ chậm hơn so với độ tuổi, sự phát triển của trẻvẫn diễn ra bình thường ở những lĩnh vực khác và không có yếu tố được quan sátthấy cho sự chậm ngôn ngữ (chẳng hạn môi trường gia đình hoàn toàn bất thường,chậm phát triển nói chung, mất thính giác hoặc tổn thương thần kinh)
Các yếu tố nguy cơ gây ra CPTNN ở trẻ được một số tác giả liệt kê như sau:
- CPTNN thường xuất hiện ở trẻ trai nhiều hơn ở trẻ gái: cứ 3, 4 trẻ trai CPTNN thì có một trẻ gái CPTNN
- Tiểu sử gia đình của những trẻ CPTNN: 30% trẻ CPTNN có bố/mẹCPTNN Có khoảng 3% đến 10% trẻ CPTNN trong tổng dân số nóichung.[27, tr.297 – 324]
- Trẻ CPTNN thường là những trẻ được sinh ra muộn hơn trong một gia đình lớn
- Một số tác động về yếu tố y học cũng có thể ảnh hưởng đến sự CPTNNnhư bệnh viêm tai giữa, cân nặng tăng chậm, nhưng vẫn không có đủbằng chứng chứng minh chúng là những yếu tố chính gây ra rối loạn pháttriển ngôn ngữ đặc hiệu Ngoài ra, cũng có những yếu tố liên quan đếngen di truyền trong gia đình Bên cạnh đó là cả yếu tố môi trường cũng cótác động tới việc CPTNN ở trẻ
- Những khó khăn về lời nói thường tương đối dễ nhận biết, nhưng lại đòi hỏi phải có các chuyên gia đánh giá
- Ở trẻ trước tuổi đến trường, các bệnh lý về ngôn ngữ nói tạo nên mộtnhóm tương đối lớn trong số các rối loạn phát triển nhận thức; nó chiếm
tỷ lệ từ 2% đến 12% Ở đây cần phân biệt nhóm rối loạn này với các rối
loạn phát triển phân ly (hoặc rối loạn đặc hiệu, hoặc chứng khó đọc, viết)
Trang 15và các rối loạn thứ phát (như trong một hoàn cảnh nhất định, đó là rốiloạn cảm xúc thần kinh có nguồn gốc trước, trong và sau sinh, hoặc từcác dạng châm phát triển hoặc thiếu hụt cảm giác).
Ở những trẻ bé, sự chẩn đoán sai biệt này có thể khó hình thành Trên thực
tế, đối với phần lớn trẻ, và theo một cách hoàn toàn bình thường, việc nắm vữngngôn ngữ không phải là một quá trình phát triển liên tục; nó bao gồm những bướctiến triển, bước thụt lùi, những giai đoạn tăng trưởng lúc nhanh, lúc chậm và thườngbao gồm cả những thoái lui, là kết quả của “việc làm ổn định có lựa chọn các khớpnối” [19, tr 268 – 293]
Theo một nghiên cứu mới đây về trẻ CPTNN, cha mẹ cần chú ý rằng trẻkhông theo kịp bạn bè cùng tuổi là do bởi hiện tượng thiểu năng ngôn ngữ kéo dàiliên quan tới các vấn đề sức khỏe tâm thần Andrew Whitehouse và đồng nghiệp tạiĐại học Tây Úc (2011) đã theo dõi những trẻ CPTNN cho đến tuổi thiếu niên vànhận thấy rằng những đứa trẻ này không còn cảm thấy e thẹn, trầm cảm hay hunghăng so với bạn bè cùng trang lứa khi chúng lớn lên Theo nhóm nghiên cứu này,
“Hiện tượng chậm diễn đạt bằng từ vựng khi trẻ lên hai tuổi không phải là một yếu
tố nguy cơ gây ra những vấn đề rắc rối về hành vi và cảm xúc sau này” Điều này
đồng nghĩa với phương pháp tiếp cận “chờ xem” có thể mang lại những kết quả tốtđẹp với những bé CPTNN nếu chúng phát triển bình thường trong các lĩnh vựckhác Trong một số kiểu tự kỷ, các rối loạn hành vi như rối loạn ngôn ngữ có thểxuất hiện muộn chỉ vào khoảng 2 đến 3 tuổi, dưới dạng một thoái lui những thành
tích đạt được Một yếu tố sai biệt quan trọng nằm trong khái niệm khoảng trống;
cho phép tách biệt một mặt là những trẻ mà ngôn ngữ và thậm chí là cả tiền ngônngữ đã sai lệch ngay từ đầu, [21]; mặt khác là những trẻ mà ngôn ngữ cho thấy tìnhtrạng hư hại, thậm chí là đứt gãy quá trình nắm vững ngôn ngữ, diễn ra đột ngột vàthường có nguồn gốc thương tổn Phần lớn các rối loạn ngôn ngữ xuất hiện saukhoảng trống được hình thành bởi một nhóm các chứng mất ngôn ngữ ở trẻ
Khoảng 7 – 18% trẻ em bị CPTNN lúc hai tuổi, mặc dù đến tuổi bắt đầu đihọc, hầu hết trẻ trong diện này sẽ theo kịp bạn bè Một số nghiên cứu cho rằngnhững bé CPTNN có thể gặp các vấn đề tâm lý Tuy nhiên, việc các vấn đề này cóảnh hưởng tới tương lai trẻ hay không vẫn còn chưa được xác định rõ Nhóm nghiêncứu của Whitehouse đã tiến hành theo dõi hơn 1400 trẻ hai tuổi Bố mẹ chúng đãđiền một phiếu khảo sát về những từ ngữ trẻ tự nói ra Theo Whitehouse và cộng sự,những dấu hiệu cho thấy nguyên nhân những trẻ CPTNN hơn có các vấn đề về hành
Trang 16vi ở giai đoạn đầu đời có lẽ là do chúng cảm thấy thất vọng vì không thể giao tiếp hiệu quả, chứ không phải do chúng có vấn đề về sức khỏe.
Trong mọi trường hợp, giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi đánh dấu nguy cơ cắm chốtcác rối loạn ngôn ngữ Để đánh giá và can thiệp trị liệu các trường hợp CPTNN ởtrẻ, phần lớn các tác giả đều đề cập đến các thang đo, trắc nghiệm đánh giá mức độphát triển ngôn ngữ ở trẻ như: thang phát triển ngôn ngữ Bristol, trắc nghiệmVineland, bảng tổng kê sự phát triển giao tiếp của McArthur…
2.2 Tổng quan lịch sử nghiên cứu, can thiệp về trẻ chậm phát triển ngôn ngữ tại Việt Nam
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, theo các thống kê chưa đầy đủ, xuhướng trẻ CPTNN có chiều hướng gia tăng mạnh, đặc biệt ở các thành phố lớn Tạicác bệnh viện Nhi, số trẻ CPTNN, mắc bệnh tự kỷ hoặc tăng động giảm chú ý phảiđiều trị bán trú thường xuyên rơi vào tình trạng quá tải, cao gấp đôi so với quy định
Ở các bệnh viện tai mũi họng, lượng bệnh nhi CPTNN cũng khá cao, khoảng 100trẻ/tháng, trong đó, 30% trường hợp bị CPTNN do yếu tố tâm lý
Khi trẻ CPTNN, các bậc cha mẹ thường chủ quan, không đưa con đến các cơ
sở y học - tâm lý để thăm khám và điều trị, mà tự ứng phó bằng những phương thức
cá nhân Các phương thức ứng phó tâm lý được các bậc cha mẹ sử dụng nhiều nhấtkhi con CPTNN là:
- Cho rằng trước sau con cũng sẽ nói được nên để con tự phát triển
- Mời chuyên gia về dạy nói cho con và trông cậy toàn bộ vào các chuyên gia - Khi con bị CPTNN, nhiều bố mẹ thường tin vào những ý nghĩ nguyệnước Cầu nguyện hoặc tín ngưỡng cũng được xem như những chiến lượcứng phó Niềm tin tôn giáo cũng có liên quan rõ rệt đến việc sử dụngphương thức ứng phó tích cực
- Tăng cường nhận thức, tìm kiếm thông tin: phương thức này làm tăng thêmthông tin, giúp bố mẹ nâng cao kiến thức về y học, thường rất hiển nhiên tập trung xoay quanh chẩn đoán về bệnh của đứa trẻ
- Dự đoán và quy gán bệnh cho con: như con bị tự kỷ, tăng động, Đây là phương thức mà các bố mẹ thường làm
Một đứa trẻ CPTNN có thể phải đấu tranh để nói ra nhu cầu của mình vàmong muốn được biết đến thông qua điệu bộ, cử chỉ, hành vi hoặc khóc CPTNNkhiến bố mẹ chịu đựng sự ngăn cách của đứa trẻ và cảm thấy bất lực khi cố gắngxác định những mong muốn của trẻ
Trang 17CPTNN ở trẻ em được chia thành hai loại, CPTNN đơn thuần và CPTNN tự
kỷ Hiện tượng CPTNN đơn thuần là do bị rối loạn trong phát triển ngôn ngữ Còntrẻ tự kỷ thường bị CPTNN, không hiểu ngôn ngữ, sống với một thế giới riêng, táchbiệt với thế giới xung quanh
Đối với các nhà chuyên môn Việt Nam, CPTNN đơn thuần là chứng suy giảm ngônngữ và khả năng phát triển ngôn ngữ khá phổ biến ở trẻ em Đây là một trạng thái rối nhiễutâm lý thường để lại nhiều hậu quả; đồng thời, ở một góc độ nào đó, chứng CPTNN ở trẻgửi tới người lớn một thông điệp ngầm ẩn về những khó chịu, về sự đau khổ tâm trí mà trẻđang phải chịu đựng Mặc dù trẻ CPTNN có trí tuệ phát triển bình thường, nhưng do khôngthể biểu hiện hay bộc lộ ra bằng ngôn ngữ thông thường nên dễ cáu giận và căng thẳng Sựthiếu hụt chăm sóc và những giao tiếp hàng ngày của bố mẹ với trẻ được xem là nguyênnhân hàng đầu về mặt tâm lý dẫn tới việc CPTNN ở trẻ em
Giống như mọi dạng khuyết tật khác, nguyên nhân của CPTNN tương đốikhó nhận dạng Tuy nhiên, khi đánh giá y khoa những trẻ này, các bác sĩ tìm hiểuquá trình người mẹ mang thai cũng như sự phát triển của trẻ và tìm ra những yếu tốbất thường Có trẻ CPTNN vốn là một đứa trẻ được sinh non, có trẻ do bị sốt cao cogiật, bị ngã chấn thương hoặc bị bất cứ một vấn đề gì gây rối loạn, tổn thương thựcthể (vỏ não, hoặc cơ quan phát âm “tai, mũi, họng”), thiếu vắng giao tiếp hai chiềutrong giai đoạn từ 0 -2 tuổi …
Bên cạnh đó, có nhiều yếu tố tác động khác khiến cho quá trình phát triểnngôn ngữ của trẻ chậm lại:
- Trẻ xem ti vi quá nhiều, bố mẹ ít nói chuyện với con, khiến cho trẻ chỉnhận thông tin một chiều, không có sự phản hồi lại những thông tin nhậnđược từ ti vi, như vậy trong một thời gian dài sẽ làm trẻ CPTNN;
- Trẻ suy dinh dưỡng, thiếu tình thương của bố mẹ, trẻ bị ngược đãi;
- Bố mẹ phó mặc con cho người giúp việc, vì lo làm công việc trong nhà nên không có thời gian trò chuyện với trẻ, trẻ không có cơ hội được nói;
- Trẻ bị tách ra khỏi môi trường xung quanh, không có cơ hội giao lưu, bắt chước;
- Trẻ xuất thân từ gia đình có “truyền thống” chậm phát triển ngôn ngữ Thực trạng chẩn đoán bệnh cho trẻ em khuyết tật tinh thần nói chung và trẻ
em CPTNN nói riêng ở Việt Nam còn mang tính hình thức, mang tính kinh nghiệm
và chưa chính xác Các công cụ chẩn đoán mới chỉ dựa vào một số trắc nghiệm cósẵn, chủ yếu là trắc nghiệm Denver – trắc nghiệm đo sự phát triển tâm vận động ở
Trang 18trẻ Test Denver là công cụ nhằm đánh giá sự phát triển toàn diện của trẻ so với thang tuổi của trẻ dựa trên 4 lĩnh vực: (1) Cá nhân-xã hội → (2) Vận động tinh tế →(3) Ngôn ngữ → (4) Vận động thô sơ Với trẻ CPTNN mà khả năng nhận thức củatrẻ như những trẻ bình thường ta chỉ cần đánh giá sự phát triển ngôn ngữ của trẻ ởlĩnh vực thứ 3: ngôn ngữ để xác định lại mức độ và vấn đề của trẻ.
Theo chuyên viên tâm lý Lê Khanh - Biên soạn theo tài liệu của Gs NguyễnVăn Thành – Thụy Sĩ có 12 nguyên tắc cơ bản mà các bậc phụ huynh tùy theo tình trạng chậm nói của trẻ có thể áp dụng:
1 Giúp trẻ xây dựng mối quan hệ gắn bó
2 Giúp trẻ bày tỏ nhu cầu
3 Giúp trẻ tham gia các hoạt động Tâm vận động
4 Trò chơi “Bập bẹ - líu lo” vận dụng các cơ quan phát âm của trẻ
5 Lặp lại một số âm thanh và từ ngữ có trong ngôn ngữ bình thường
6 Giúp trẻ biết cách lắp ráp, kết hợp và sắp xếp các dụng cụ, hình ảnh và ngôn từ lại với nhau
7 Giúp trẻ nghe và hiểu một số từ thông thường, qua việc thi hành những mệnh lệnh đơn sơ
8 Giúp trẻ gọi tên từ 25 – 100 đồ dùng và các hoạt động thường ngày
9 Giúp trẻ hiểu biết và nói về các hoạt động trong gia đình
10 Biết trả lời các câu hỏi
11 Giúp trẻ nhận biết và sử dụng chữ và số
12 Xây dựng mối quan hệ tốt và giúp trẻ biết chơi đùa với bạn bè.
Việc chẩn đoán phân biệt chưa được xem trọng nên đôi khi những trẻ chỉCPTNN do thiếu hụt môi trường giao tiếp hai chiều ở giai đoạn từ 0 đến 2 tuổi đã cóthể bị liệt kê vào tình trạng của trẻ tự kỷ
Việc CPTNN ở trẻ gây những lo lắng không nhỏ cho gia đình và ảnh hưởng nhiềuđến sự phát triển tâm lý của trẻ Thêm nữa, các nghiên cứu ở góc độ khoa học tâm lý về trẻchậm phát triển ngôn ngữ hiện nay chưa nhiều và thường dừng ở góc độ các nghiên cứutrong lĩnh vực giáo dục đặc biệt do quan niệm trẻ CPTNN là trẻ khuyết tật
3 Ý nghĩa của vấn đề can thiệp
Quá trình và kết quả can thiệp cho thấy các nỗ lực của NV CTXH trong hoạtđộng hỗ trợ trẻ CPTNN trong môi trường hòa nhập tại các cơ sở giáo dục Từ kếtquả nghiên cứu của đề tài để thấy được mặt tích cực của NV CTXH trong vai trò hỗtrợ hòa nhập cho trẻ CPTNN tại các trường mầm non
Trang 194 Mục đích can thiệp
Tìm hiểu những khó khăn của trẻ CPTNN đươc ̣ nghiên cứu thưc ̣ tiêñ trongđề tài và ứng dụng phương pháp CTXH với cá nhân để can thiêp ̣ hỗtrơ ̣cho trẻCPTNN đểthấy đươc ̣ vai trò của NV CTXH trong hoạt động hỗ trợ hòa nhập cho trẻCTPNN Từ đó NV CTXH có biện pháp hỗ trợ trẻ phù hợp và đưa ra một số đề xuấtcho việc giáo dục hòa nhập cho nhóm trẻ này
6 Phương pháp can thiệp
- Phương pháp CTXH với cá nhân: Tác giả tiến hành can thiệp cá nhân trên 2trẻ CPTNN Từ kết quả thực nghiệm , tác giả tổng kết vai trò hỗ trợ của NV CTXHđối với việc giáo dục hòa nhập cho trẻ CPTNN Tiến trinh can thiêp ̣ cua phương
pháp CTXH với cá nhân gồm 7 bươc sau:
̀́
Bước 1: Tiếp cận thân chủ:
Tiếp cận thân chủ là bước đầu tiên có thể là thân chủ tự tìm đến với nhân viên
xã hội khi họ gặp vấn đề và cần sự giúp đỡ, song trong một chừng mực nào đó cũng
có thể chính nhân viên xã hội lại là người tìm đến với thân chủ trong phạm vi hoạtđộng theo chức năng của mình Ở bước tiếp cận này nếu nhân viên xã hội tạo được
ấn tượng tốt với thân chủ thì những bước sau sẽ thuận lợi hơn
Bước 2: Xác định vấn đề:
Sau khi tiếp cận với thân chủ nhân viên xã hội phải xác định được vấn đề thânchủ đang gặp khó khăn trong việc tìm ra hướng giải quyết Trong giai đoạn nàynhân viên xã hội cần thu thập thông tin nhằm xác định 3 yếu tố liên quan tới vấn đềcủa thân chủ và có ảnh hưởng tới kết quả của quá trình can thiệp cho thân chủ đó là:yếu tố rào cản, yếu tố rủi ro nguy cơ và yếu tố bảo vệ Giai đoạn này bao gồm:
- Thu thập các dữ liệu, thông tin liên quan để tìm hiểu hoàn cảnh và vấn đề
- Phân tích các thông tin, dữ liệu (về tính chất, đặc điểm của vấn đề, phân tích nguyên nhân, yếu tố tác động, mức độ trầm trọng )
- Kết hợp ghi chép, lưu giữ những thông tin cần thiết về đối tượng và vấn đề
Trang 20Bước 3: Thu thập dữ liệu:
Nhân viên xã hội có thể dựa vào 4 nguồn tin:
- Chính thân chủ là nguồn tin trực tiếp (lời kể, hành vi, cử chỉ, ngôn ngữ )
- Những nguời có quan hệ thân thiết như gia đình, bạn bè thân, đồng nghiệp, hàng xóm
- Tài liệu, biên bản, hồ sơ về thân chủ có liên quan đến vấn đề
- Trắc nghiệm tâm lý để xác định chức năng xã hội,nguyên nhân, thông tin tiềm ẩn mà quan sát bình thường không có được của thân chủ
Bước 4: Chuẩn đoán:
Gồm 3 bước: Chẩn đoán, phân tích và thẩm định
Bên cạnh đó còn sử dụng các phương pháp như: phương pháp thu thập thôngtin tại cơ sở, phương pháp quan sát địa bàn và các nhóm thân chủ tại cơ sở thực tập,tham vấn cá nhân và các kỹ năng trong công tác xã hội như: kỹ năng giao tiếp, kỹnăng lắng nghe, kỹ năng quan sát, kỹ năng tự bộc lộ, kỹ năng hỗ trợ tâm lý, thamvấn, xử lý khủng hoảng
Bước 5: Lên kế hoạch can thiệp:
Trong giai đoạn này NV CTXH sẽ xác định mục đích trị liệu và các mục tiêu
cụ thể để đạt được mục đích dựa trên những yếu tố liên quan tới vấn đề và quá trìnhgiải quyết vấn đề cho thân chủ
Bước 6: Can thiệp:
NV CTXH cùng với thân chủ thực hiện các hoạt động cụ thể để đi đến mục tiêu đề ra
Bước 7: Lượng giá:
Xem xét lại toàn bộ những bộ phận trong tiến trình công tác xã hội với cá nhân
để thẩm định kết quả Sau khi lượng giá phải nhìn về tương lai gần để phục vụ choviệc hình thành một số kế hoạch sâu hơn giúp đỡ của công tác xã hội trong tiếntrình công tác xã hội cá nhân
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia trong lĩnh vựctrẻ CTPNN nhằm kiểm định lại các phương pháp mà tác giả đã sử dụng để hoànthành đề tài nghiên cứu
- Phương pháp quan sát thực tiễn: Phương pháp này được sử dụng trong đềtài nghiên cứu nhằm quan sát những hành vi, kỹ năng, sự tương tác của trẻ với bạnhọc, cô giáo, người hỗ trợ khi tham gia các hoạt động học tập, vui chơi trong môitrường mẫu giáo để phát hiện khả năng giao tiếp, tương tác của trẻ
Trang 21- Phương pháp trò chuyện: Phương pháp này giúp NV CTXH có thể tròchuyện, trao đổi thông tin với nhóm cha mẹ trẻ và những giáo viên dạy trẻ, giao tiếpvới trẻ nhằm tìm hiểu thông tin về trẻ CPTNN để thấy được mức độ hòa nhập củatrẻ đang ở mức độ nào từ đó có biện pháp hỗ trợ tích cực đồng thời thu thập dữ liệucần thiết cho quá trình nghiên cứu.
- Các thang đánh giá: Test CARS, test DENVER II, PEP 3 , BAYLEY (Xem
thêm phần phu ̣luc ̣)
7 Phạm vi của vấn đề can thiệp
7.1 Phạm vi thời gian
-Thời gian tiến hành can thiệp từ tháng 9 năm 2013 đến hết tháng 6 năm 2014
- NV CTXH trực tiếp đến trường cùng trẻ để hỗ trợ các hoạt động học và chơi với thời gian 3 buổi/ tuần
7.2 Phạm vi không gian
- Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn thành phố Hà Nội và tập trung tại khu vực Mỹ Đình – Từ Liêm – Hà Nội
7.3 Giới hạn nội dung can thiệp
Do hạn chế về thời gian nghiên cứu, thực nghiệm nên trong đề tài này tác giảxin tập trung vào hai vai trò của Nhân viên Công tác xã hội là người giáo viên canthiệp trực tiếp và vai trò là người kết nối các nguồn lực trong quá trình can thiệp chothân chủ, áp dụng phương pháp Công tác xã hội với cá nhân thông qua các hoạtđộng như ngôn ngữ giao tiếp, kỹ năng xã hội (kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng chơi độclập, kỹ năng chơi nhóm…)
Nghiên cứu được tiến hành trên 2 trẻ (Nguyễn M – bé gái và Lưu T.Đ – bétrai) được chẩn đoán CPTNN đã từng học chuyên biệt tại Trung tâm Nắng Mai – TừLiêm – Hà Nội và có kết quả học tập tiến bộ và hiện nay đang theo học hòa nhập tại
là trường Mầm non Kid’s Color (Mỹ Đình)
Tác giả lựa chọn 2 trẻ là nam và nữ có cùng độ tuổi để can thiệp vì sự pháttriển về ngôn ngữ giữa bé trai và bé gái có sự khác nhau Ở bé gái kỹ năng ngôn ngữthường tốt hơn bé trai Nhiều chuyên gia đã chứng minh được rằng ở cùng một độtuổi nhưng não của bé trai và bé gái có tốc độ phát triển khác nhau Ở bé gài vùngkiểm soát ngôn ngữ và cảm xúc phát triển mạnh hơn, vì các bé gái thường rất nhạycảm, đặc biệt là sự vận động tinh tế của các ngón tay, hay sự cử động của cơ miệng.Còn ở các bé trai khả năng thị lực lại có phần phát triển mạnh mẽ hơn Bé trai thíchvận động, chạy nhảy, nô đùa hơn là việc tập trung vào ngôn ngữ
Trang 22NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Khái niệm Chậm phát triển ngôn ngữ
Ngôn ngữ là hệ thống ký hiệu (âm thanh hoặc chữ viết) dưới dạng từ ngữ chứa đựng ý nghĩa nhất định (tượng trưng cho sự vật, hiện tượng cũng như thuộc tính và các mối quan hệ của chúng) được con người quy ước và sử dụng trong quá trình giao tiếp [3, tr.222]
Ngôn ngữ có hai dạng chính là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
Đối với một trẻ bình thường sẽ bắt đầu bập bẹ một số từ đơn lúc 12 -15
tháng Chậm phát triển ngôn ngữ là sau 16 tháng trẻ chưa nói được từ đơn và sau 24
tháng trẻ chưa nói được câu 2-3 từ Trẻ cũng có thể bắt đầu nói muộn hơn khi bắtđầu nói từng từ đơn lúc 4-5 tuổi Những từ đầu tiên của trẻ nhiều khi không rõ,ngọng nghịu Trẻ càng bị chậm phát triển trí tuệ thì học nói càng muộn
1.1.2 Khái niệm Vai trò của Nhân viên Công tác xã hội trong hỗ trợ hòa nhập cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ
Có rất nhiều khái niệm về các vai trò khác nhau của NV CTXH với mỗi vị tríkhác nhau trong hoạt động can thiệp Tuy nhiên mỗi thân là một trường hợp có nhữngđặc điểm riêng do vậy chưa có một khái niệm cụ thể nào cho mỗi vai trò cụ thể của NVCTXH Ví dụ, đối với vai trò là giáo viên chúng ta có thể hiểu NV CTXH sẽ là ngườitham gia trực tiếp vào quá trình giáo dục cho thân chủ với tư cách như là một giáo viên
có đủ kỹ năng và được đào tạo chuyên môn trong lĩnh vực cụ thể đó Vậy trong đề tàinày, NV CTXH với vai trò là giáo viên sẽ trực tiếp lên lớp và tiến hành dạy học, hướngdẫn thân chủ về kiến thức, kỹ năng cho thân chủ của mình tại trường mầm non
Tuy nhiên do thân chủ xuất phát điểm là trẻ chậm phát triển ngôn ngữ đi họchoà nhập tại môi trường bình thường nên không thể tránh khỏi những khó khăn mà bảnthân trẻ chưa thể ứng phó ngay được Chính vì vậy, trẻ cần sự hỗ trợ hoà nhập từ phíagiáo viên, NV CTXH, nhà trường, gia đình và các bạn học Như thế sự hỗ trợ hoà nhập
có thể hiểu “là thay đổi thái độ và thói quen của các cá nhân tổ chức và hiệp hội để các
em có thể tham gia một cách đầy đủ, bình đẳng và đóng góp vào cuộc sống của cộngđồng mình, nền văn hóa của mình Một xã hội hòa nhập là một xã hội trong đó mọi sựkhác biệt đều được tôn trọng và có giá trị, và xã hội đó có các chính sách và chươngtrình nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử thành kiến”, “giáo dục hòa nhập là một quá trìnhbắt đầu từ việc xác định mọi rào cản trong và xung quanh nhà trường,
Trang 23những gì cản trở việc học của các em, tới việc giảm bớt và xóa bỏ những trở ngạinày” [14, tr.16]
Giáo dục hòa nhập là hệ thống giáo dục bao gồm tất cả các đối tượng học
sinh khác nhau Điều này đồng nghĩa với việc nhóm trẻ khuyết tật và và TTK cũng
là một trong những đối tượng của giáo dục hòa nhập “Điều này có nghĩa là tất cảtrẻ em có quyền được giáo dục mà không phải chịu bất kỳ sự phân biệt đối xử nào;
và mọi trẻ em phải có cơ hội học tập và phát triển như nhau, bất kể cha mẹ hayngười bảo hộ của các em thuộc chủng tộc gì, màu da gì, giới tính, ngôn ngữ, tôngiáo, chính kiến, quốc tịch, nguồn gốc dân tộc, ( ), khuyết tật, thành phần xuấtthân Giáo viên đứng lớp có nhiệm vụ phải tìm ra những phương pháp sư phạmthích hợp để giúp mọi trẻ em học theo khả năng tối đa của các em.” Năm 1994 tạiHội nghị Quốc tế về giáo dục đặc biệt của UNESCO: “Những nước không có hoặc
có rất ít trường chuyên biệt nên thành lập các trường hòa nhập chứ không nên thànhlập trường chuyên biệt” [1, tr.12], [7, tr.29]
Với những lý giải cụ thể về CPTNN, về vai trò và giáo dục hoà nhập chúng ta
có thể hiểu ngắn gọn về khái niệm “Vai trò của Nhân viên Công tác xã hội trong hỗ trợ
hòa nhập cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ” là các tác động của những nhân viên xã
hội có trình độ chuyên môn, hoạt động có cơ sở khoa học nhằm trợ giúp/giúp đỡ trẻchậm biết nói có thể học tập, vui chơi, phát triển ngôn ngữ và các kỹ năng xã hội mộtcách tự chủ, linh hoạt trong môi trường giáo dục bình thường với các trẻ cùng lứa tuổi
1.1.3 Sự khác nhau giữa Nhân viên Công tác xã hội với một số ngành nghề trong hoạt động can thiệp cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ
Ở nước ngoài việc trị liệu cho trẻ tự kỷ hoặc trẻ CPTNN thường có ít nhất 4thành viên chính Đó là: bác sĩ tâm thần Nhi, chuyên gia Tâm lý, giáo dục viên đặcbiệt, và NV CTXH Ngoài ra có thể có thêm 2 vị trí của chuyên viên tâm lý lâmsàng và chuyên viên chỉnh âm Hiện nay, nhiều gia đình còn nhờ tới sự trợ giúp củacác chuyên gia dinh dưỡng để hỗ trợ trị liệu cho trẻ
Bác sĩ tâm thần Nhi có trách nhiệm theo dõi tiến trình can thiệp của trẻ đểtrao đổi, động viên hay nhắc nhở các thành viên trong nhóm trị liệu và chia sẻ cácvấn đề của trẻ với phụ huynh Đây cũng được coi là người chị trách nhiệm chính vềkết quả của việc trị liệu [5,tr.104]
Chuyên viên Tâm lý là người hiểu biết vàcó khả năng v ận dụng các phươngpháp can thiệp với sự thống nhất của nhóm Chuyên viên này sẽ chịu trách nhiệm
Trang 24trước nhóm về kết quả can thiệp của mình, cũng như có quyền đưa ra các yêu cầucần thiết cho hoạt động can thiệp [5,tr.104]
Giáo dục viên đặc biệt là người dạy trẻ, theo dõi và hướng dẫn cho trẻ trongcác buổi học có thể được tổ chức trong nhà trường hay trong bệnh viện Giáo dụcviên đặc biệt này là người có trách nhiệm củng cố những kết quả đạt được sau cácbuổi can thiệp tâm lý, trao đổi với nhà Tâm vận động những thông tin về trẻ trongthời gian trẻ sinh hoạt tại lớp và nhắc nhở, động viên phụ huynh của trẻ [5,tr.104]
Nhân viên CTXH là người liên kết và thống nhất các quan điểm, tạo nên sựthông hiểu giữa các thành viên NV CTXH sẽ đến thăm gia đình trẻ, quan sát môitrường sống của trẻ và đưa ra những góp ý về tổ chức, cách chăm sóc trẻ dựa trênlịch hoạt động, đồng thời ghi nhận thái độ, phản ứng, mối tương tác giữa các thànhviên trong gia đình trẻ, để cùng với ê kíp trị liệu xây dựng kế hoạch can thiệp giađình theo lý thuyết Hệ Thống [5,tr.104]
Ở Việt Nam, việc can thiệp cho trẻ CPTNN và trẻ tự kỷ chủ yếu có sự thamgia của bác sĩ tâm thần Nhi hoặc chuyên gia tâm lý và giáo viên chuyên biệt Trong
đó, giáo viên chuyên biệt có thể được đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng cóchuyên khoa về giáo dục đặc biệt, tâm lý và cả công tác xã hội Do vậy, khi NVCTXH làm việc với trẻ, họ không chỉ là người kết nối mà ở mỗi vị trí khác nhau họ
sẽ đảm nhận những vai trò cụ thể khác nhau và đều hướng tới mục đích là bảo vệ lợiích cao nhất của thân chủ, giúp thân chủ tự đương đầu và giải quyết vấn đề
1.1.4 Nhận biết trẻ chậm phát triển ngôn ngữ Nguyên nhân trẻ chậm phát triển ngôn ngữ
1.1.4.1 Nhận biết trẻ chậm phát triển ngôn ngữ.
a Các giai đoạn phát triển bình thường về ngôn ngữ của trẻ từ 0 – 9 tuổi
Bảng 1.1: Các giai đoạn phát triển ngôn ngữ của trẻ (từ 0 – 6 tuổi)
Giai
tuổi
-Trẻ chăm chú nhìn vào người nói chuyện;
khác nhau phát ra từ các vị trí khác nhau; Phát ra các âm thanh khi được
tháng
hỏi chuyện Có thể đáp lại các âm thanh khi được hỏi: mỉm cười
-Tự chơi một mình với các âm thanh
Trang 25-Biết phối hợp các hoạt động
-Theo dõi sự chuyển động của các vật theo các hướng khác nhau
-Hiểu một vài từ
- Nối kết các âm thanh để tạo nên vần
-Bắt chước gần đúng âm của người khác
-Dùng cử chỉ, điệu bộ nét mặt để giao tiếp
-Tạo ra được một vài âm gần giống với các phụ âm
-Tùy theo mỗi trẻ nhưng khi được khoảng mười một tháng hay một tuổitrẻ nói được khoảng hai ba từ đơn khá rõ, có thể là: bố, bà Thông thường
6–11 các trẻ thường bắt đầu bằng các âm phát ra bằng âm đầu môi như các p,
khoảng khi trẻ được tầm tám chín tháng tuổi Còn ở trẻ em trai thường nóichậm hơn trung bình trẻ nói được từ đầu tiên khi trẻ được khoảng một tuổithậm chí khi trẻ được mười ba, mười bốn tháng tuổi mới bập bập bẹ nói ê acác âm không rõ Các từ đầu tiên trẻ nói được thường là các từ thường có liênquan đến người, đồ vật hoặc sự kiện xung quanh liên quan đến trẻ hoặc cácnhu cầu bản thân của trẻ ví dụ: gọi bố, mẹ; ạ, dạ, xin; ô tô, bíp bíp hoặc tiếngkêu các con vật: meo meo, con chó, con mèo, gà Tùy vào bản thân mỗi trẻcũng như tùy vào môi trường, vùng văn hóa mà trẻ sống mà trẻ phát âm racác từ đầu tiên có khác nhau ở các trẻ khác nhau
-Khi trẻ được 18 tháng tuổi trẻ bắt đầu nói và tự nối ghép được hai từ vớinhau Ở giai đoạn này trẻ nói bắt đầu hình thành các trật tự câu Trẻ biết chỉđược ít nhất là sáu bộ phận trên cơ thể, chỉ được một hai hình ảnh quen thuộckhi cho trẻ nhìn tranh như: hình bố,hình con cá hoặc hình con chó…
-Thực hiện các mệnh lệnh đơn giản: “ném bóng cho mẹ, cầm cốc cho bố”…
tuổi -Nhận ra được một số bức tranh về các đồ vật ở xung quanh Ví dụ: tranh
về cái cốc, bàn
-Nói một vài từ
-Biết khởi xướng các trò chơi
-Tạo ra chuỗi âm không có nghĩa với các ngữ điệu khác nhau
-Có khả năng bắt chước được từ đơn
tuổi bên ngoài, hiểu một vài chức năng công dụng của đồ vật và các bộ phận
của cơ thể như: cốc để uống nước, lược để chải đầu, hay mũi để ngửi,
Trang 26miệng để ăn…
-Hiểu một vài đại từ, hiểu các từ mô tả: To/bé, ướt/khô
-Trẻ bắt đầu hiểu về khái niệm số lượng, quan hệ bộ phận, tổng thể Trẻhiểu các hành động trong tranh: đang tắm, đang ăn, các đại từ: cô bé,em
bé, cậu bé
-Trẻ biết sử dụng các câu đơn giản, đặt câu hỏi đơn giản
-Trẻ trả lời được các câu hỏi như: cái gì, ở đâu? Có/ không
-Trẻ nói được các câu đơn giản: có chủ, vị, và bắt đầu dùng từ sở hữu: của con…
- Đến 3 tuổi trẻ tạo ra một cụm từ có đầy đủ thành phần chủ vị Sau giaiđoạn này trẻ sẽ nói được và sẽ tạo đà cho trẻ phát triển được rất nhiều cáccâu phức tạp và tiếp sau đó là trẻ hình thành nên các câu chuyện dài vớinội dung khá logic
- Từ 3,5 tuổi - 4, 5, 6 tuổi không những trẻ nói được các câu phức tạp trẻbắt đầu sử dụng các ngôn ngữ ấy một cách khá tốt Tự kiểm soát đượccường độ giọng nói, xây dựng ngữ điệu như người lớn, thường hỏi cái gì,
ở đâu, tại sao Trẻ phân biệt và hiểu được các câu với nghĩa khá đa dạng
và phức tạp trái nghĩa nhau và chúng có thể biết phát triển và duy trì đượchội thoại khá dài
Bảng 1.2: Sựphát triển về hinh̀ thức ngôn ngữcủa trẻtừ 8 tháng tuổi – 9 tuổi
Phát ngôn 2 tiếng mô ̣t, từ 2 tiếng; Ổn định trật tự từ trong phát
ngôn; Phát ngôn kiểu “điện tín” với ít nhiều lỗi cú pháp
Lời của trẻ50% có thể hiêut được; phát âm đúng 70% các phụ âm
Bắt đầu xuất hiê ṇ ýthức về cấu ta ọ từ
Sử du ̣ng thể phủđi nḥ Không , không có, không
thể Đặt câu hỏi chỉ bằng cách thay đổi ngữ điệu
Nhâ ṇ thức về vần điê ụ
Trang 27Đồng hóa mọi thời về hiện tại ( chưa nhâṇ thưc va phân biê ̣ t đươc ̣ đa,
Có khả năng nhớ , nhắc laịcac đoaṇ đồng dao co vần điêụ
Lần đầu tiên xuất hiêṇ dang ̣ thưc câu ghep đằng lâp ̣
Đặt đúng vị trí từ phủ định và tư đểhoi trong câu phu đinḥ va câu hoi
Bắt đầu hiểu vàsử dung ̣ đươc ̣ câu bi ̣đông ̣
tuổi Có khả năng phân tích tiếng thành các âm vị
Phân biêṭđươc ̣ cac tư /khái niệm với cái mà từ/khái niệm đó biểu đaṭ
Tư ngư sư dung ̣ trong giao tiếp tăng lên trong viêc ̣ dung cư chi ̀̉ , điêụ bô ̣̀̀ ̀ ̃ ̉ ̀̀ ̀̉
Trang 28Bươc đầu biết cach đềnghi ̣kheo leo (Ví dụ: nài nỉ…đi bố)
Hương đến thêm nhưng muc ̣ đich mơi như chơi vơi biểu tương ̣ , nói với đồ
vâṭvắng măṭ
Kểvềsư ̣vâṭ, sư ̣viêc ̣ goịtên – mô tả
Biết nêu yêu cầu đểngươi khac giai thich laị
Viêc ̣ sử dung ̣ ngôn trong vui chơi tăng lên
tháng
Kểchuyêṇ theo chủđềnhưng không giữđươc ̣ cốt chuyêṇ
Linh hoaṭhơn trong thểhiêṇ đ ề nghị , biết xin phep va đềnghi ̣môṭcach
viêc ̣ đa xay ra , lâp ̣ luâṇ, suy đoan , thểhiêṇ sưụ thông cam , tương tương ̣
sắm vai, và duy trì tương tác
Kểlaịchuyêṇ it nhiều phan anh đươc ̣ cốt truyêṇ nhưng không ro điển nut
Sử dung ̣ ngôn ngữ trong thiết lậpvà duy trì vị thếxa ̃hôị
Kỹ năng thuyết phục tăng lên , đưa đến nhiều thanh công hơn trong hanh
Có khả năng sửa chữa và hỏi đáp trong đàm thoại : giải thích từ ngữ , đưa
Trang 2912-18 Có vốn từ diễn đạt từ 50 - 100 tưở18 tháng tuổi
Hiểu vàdiễn đaṭcâu tiếng môṭvềchủthể, hành động, đối tương ̣, vị trí, sở
hưu – sơ hưu, chỉ định – thưc ̣ thể, thuôc ̣ tinh – thưc ̣ thể
Trang 30- Trẻ có âm mũi: mm, nn
- Trẻ phát âm hoặc cười to để đáp ứng với chú ý của người nói
- Trẻ tạo ra ít nhất 2 âm khác biệt, phân biệt với nguyên âm
11 tháng tuổi:
- Trẻ cố tạo ra sự chú ý của bạn hoặc của người khác
- Trẻ có 2 âm khác nhau, có phụ âm
- Trẻ có ít nhất một cử chỉ, điệu bộ để thể hiện cái mà trẻ muốn
13,5 tháng tuổi:
- Trẻ bắt trước nói ít nhất là một âm bao gồm cả phụ âm và nguyên âm kết hợp: vd: ba ba, da da, măm măm, ma ma
- Trẻ tham gia vào trò chơi quen thuộc: vd: chi chành, kéo cưa
- Trẻ phát âm bập bẹ như muốn thể hiện một điều gì đó
- Trẻ có ít nhất 4 âm bao gồm cả phụ âm và nguyên âm kết hợp: vd: ba ba, da
da, măm măm, ma ma
16,5 tháng tuổi:
- Trẻ phát âm ít nhất 1 từ gần giống: có thể là tên người, đồ vật, đồ chơi
- Trẻ chỉ tay vào hoặc cho bạn xem ít nhất một đồ vật (dụng cụ mẫu: sách, cốc,thìa, bóng, búp bê)
- Trẻ bắt chước ít nhất một từ
19,5 tháng tuổi:
- Trẻ bắt trước ít nhất một hoạt động tương tác khi chơi
- Trẻ nói được ít nhất 2 từ phù hơp – không phải là nhại lại
- Trẻ dùng ít nhất một từ để thể hiện cái mà trẻ muốn
22,5 tháng tuổi:
- Nói chính xác tên ít nhất một đồ vật trước mặt : sách, cốc, thìa, bóng, búp bê.(dụng cụ mẫu: sách, cốc, thìa, bóng, búp bê)
- Trẻ sử dụng ít nhất 1 từ kết hợp với cử chỉ điệu bộ phù hợp
- Nói ít nhất tên một hình trong tranh: sách, cốc, thìa, bóng, búp bê
28,5 tháng tuổi:
- Nói ít nhất 8 từ phù hợp
- Trẻ trả lời “có” hoặc “không” phù hợp: vd: Con có thích ăn kẹo không? Con
có muốn đi chơi không?
- Trẻ bắt chước nói câu 2 từ: vd: mẹ mua, để đây, ăn kẹo
Trang 31- Nói câu 2 từ trở lên có nghĩa.
có một số vấn đề với con trẻ, buộc phải ghi nhận để tìm hiểu
Trẻ có một số dấu hiệu bất thường về ngôn ngữ trong những tháng đầu đời như:+ Không đáp ứng với giọng nói hay những âm thanh to khi bé 6 - 8 tuần tuổi.+ Không cười với giọng nói của cha mẹ lúc 2 tháng
+ Không quan tâm đến người và vật xung quanh lúc 3 tháng
+ Không quay đầu theo hướng âm thanh lúc 4 tháng
+ Không cười tự phát lúc 6 tháng
+ Không bập bẹ lúc 8 tháng
Trẻ có một số dấu hiệu đáng quan tâm như: Gọi tên không quay lại khi trẻ đãtrên 6 tháng tuổi; ăn khó, không thể thay đổi món ăn, không biết nhai; trẻ khônggiao tiếp mắt, không tương tác với người khác; trẻ chậm phát triển vận động Đặcbiệt, ngôn ngữ của trẻ chậm so với trẻ cùng tuổi Trẻ có tiền sử sinh non; trẻ thường
bị bệnh viêm tai mũi họng, viêm tai giữa, trẻ bị tật chẻ vòm… đây cũng là nhữngnguy cơ có thể dẫn tới trẻ CPTNN
Trẻ chỉ có thể chỉ trỏ vào đối tượng để thể hiện mong muốn và nhu cầu hơn làtạo ra âm thanh hay lời nói, những âm thanh trẻ phát ra thường là những âm vônghĩa Đôi khi, những đứa trẻ chỉ có thể khóc hoặc diễn tả hành vi và không có khảnăng thể hiện bản thân một cách thích hợp Bên cạnh đó cha mẹ gặp khó khăn khi
cố gắng để xác định những gì con trẻ đang cố gắng giao tiếp với mình Khi thấy sựchậm trễ của cha mẹ trong việc hiểu và đáp ứng nhu cầu cho mình, trẻ thường cónhững hành vi như cáu giận, la hét, khóc, hờn dỗi hoặc kéo tay cha mẹ tới đối tượng
Trang 32mà trẻ mong muốn được thực hiện và giao tiếp với cha mẹ bằng những âm thanhcủa riêng trẻ nhưng thường là âm vô nghĩa.
Một đứa trẻ có hành vi khác thường có thể có một nguy cơ lớn bị CPTNN Nếuđứa trẻ bộc lộ các vấn đề về cảm giác, chẳng hạn như quá nhạy cảm với âm thanhhay ánh sáng, có ác cảm với một số thức ăn hoặc phòng thủ của xúc giác (khôngthích người khác tiếp xúc), có thể có nhiều khả năng bị CPTNN và kém phát triểnngôn ngữ Những dấu hiệu này "phất cờ đỏ" cảnh báo các bậc cha mẹ là có một sốvấn đề với con trẻ, buộc phải ghi nhận để tìm hiểu
Các dấu hiệu đáng quan tâm của trẻ từ 12 tháng đến 24 tháng tuổi như sau:
- Trẻ 12 tháng tuổi mà không làm một cử chỉ, điệu bộ nào, chẳng hạn như động tác chỉ trỏ hoặc vẫy tay tạm biệt
- Trẻ 18 tháng tuổi thích giao tiếp bằng điệu bộ và động tác hơn lời nói Hoặc
18 tháng tuổi trẻ gặp khó khăn khi bắt chước âm thanh
- Trẻ khó hiểu các câu yêu cầu đơn giản bằng lời
Nếu trẻ trên 2 tuổi có các dấu hiệu sau đây thì cha mẹ cũng nên quan tâm và kiểm tra cho trẻ như:
- Trẻ chỉ có thể bắt chước các hoạt động hoặc lời nói mà không hề tự nói các
từ hoặc cuṃ từ một mìnhđược
- Trẻ chỉ có thể nói được một vài từ hoặc một vài âm thanh nào đó một cách lặp đi lặp lại và không giao tiếp được bằng lời để truyền đạt những nhu cầu
cơ bản nhất của mình
- Trẻ không hiểu được các lời chỉ dẫn đơn giản
- Trẻ có giọng nói khác thường (chẳng hạn như âm thanh the thé hoặc âm mũi)
- Trẻ khó tiếp nhận , khó hiểu nhiều hơn so với lứa tuổi của mình Bố mẹ vàngười chăm sóc trẻ thường xuyên chỉ hiểu được phân nửa điều trẻ muốn
nói lúc 2 tuổi và hiểu được khoảng ¾ ngôn từ của bé khi bé lên 3 Khi trẻlên 4 tuổi thì người khác có thể hiểu hầu hết các điều trẻ muốn nói, thậm chí là những người không quen biết với chúng
1.1.4.2 Nguyên nhân trẻ chậm phát triển ngôn ngữ
Có khá nhiều nguyên nhân đươc ̣ cho làtác nhân gây nên sư ̣CPTNN ởtrẻnhỏ Trong những nguyên nhân dẫn tới CPTNN có 2 nguyên nhân đáng lưu ý đó là trẻmắc hội chứng tự kỷ và trẻ chậm phát triển tâm thần dẫn tới tình trạng trẻ chậm pháttriển ngôn ngữ Tuy nhiên trẻ CPTNN từ 2 nguyên nhân trên thường có rất nhiềuvấn đề phức tạp phải can thiệp trên nhiều lĩnh vực và đòi hỏi phải kết hợp nhiều
Trang 33chuyên gia trong quá trình trị liệu và việc can thiệp thường kéo dài, phức tạp Vìvậy trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này , tôi xin lưạ choṇ thân chủlàtrẻ CPTNN
do nguyên nhân từ môi trường xa ̃hôị , sau khi đa ̃đươc ̣ can thiêp ̣ đăc ̣ biêṭ trẻ có những tiến bộ vượt trội về ngôn ngữ , nhâṇ thức cókhảnăng hoc ̣ hoànhâp ̣ taị trường mầm non để hỗ trợ với tư cách là một nhân viên xa ̃hội
Hai nhóm nguyên nhân cơ bản dâñ tới sư ̣CPTNN ởtrẻnhỏ:
- Trẻ sinh ra trong một gia đình có “truyền thống” CPTNN hoặc trong gia đình
có tiền sử có người CPTNN
Trang 34- Trẻ có bệnh lý về hệ thống nghe, nghe khó, bị điếc vì thế bị rối loạn ngônngữ.
- Trẻ CPTNN gặp các vấn đề về cơ vận động miệng , nghĩa là sự giao tiếp không đạt hiệu quả ở các vùng do não điều tiết để có thể giúp trẻ phát âm thànhlời…
- Trẻ có vấn đề về tai gây khó nghe cũng khiến trẻ gặp khó khăn trong việc hiểu, bắt chước và sử dụng ngôn ngữ
Nguyên nhân tâm lý (từ môi trường xã hội):
- Trẻ bị ngã chấn thương hoặc bị bất cứ một vấn đề gì gây rối loạn, khủnghoảng cho trẻ dẫn tới trẻ luôn ở trong trạng thái sợ hãi, mất niềm tin vào mọi ngườixung quanh, sống thu mình không giao tiếp với người khác
- Khả năng nói của trẻ là tổng hợp của khả năng bẩm sinh và nuôi dạy Tuynhiên, nó phụ thuộc rất nhiều vào việc chăm sóc và giáo dục của cha mẹ Việc trẻkhông có được kích thích nói đúng mức ở nhà, trẻ không có cơ hội trò chuyện, tiếpxúc với người thân ngay từ nhỏ cũng gây khó khăn cho trẻ trong quá trình tiếp xúc,nghe và bắt chước các âm thanh xung quanh trẻ
-Bố mẹ mải mê với công việc, ít hoặc không có thời gian chăm sóc, giao tiếp vớitrẻ
- Trẻ mất khả năng tập trung, chú ý là do xem ti vi quá nhiều, nghiện xem ti vi.Khi xem tivi, ánh sáng, con người, cảnh vật thay đổi một cách nhanh chóng và độtngột Ngoài ra, khi trẻ đã “nghiện” tivi, thời gian vui chơi giải trí bên ngoài, tròchuyện cùng bố mẹ cũng giảm đáng kể Cùng với nó là chứng béo phì luôn đe doạsức khoẻ của trẻ
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu, tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu các lýthuyết sau: Lý thuyết nhận thức - hành vi, lý thuyết học tập xã hội và lý thuyếtCTXH với cá nhân Nội dung chủ yếu của các lý thuyết như sau:
Trang 35nhận thức sai và lý giải sai Quá trình trị liệu cố gắng sửa chữa việc hiểu sai, do đó,hành vi của chúng ta cũng được tác động trở lại một cách phù hợp với môi trường.
Lý thuyết này là nền tảng cơ bản cho phương pháp ABA trong trị liệu choTTK và cũng được ứng dụng để trị liệu ngôn ngữ cho trẻ CPTNN Việc ứng dụng lýthuyết này nhằm mục đích thay đổi nhận thức, hành vi sai của trẻ trong quá trìnhhọc tập, tạo ra hành vi mới tích cực cho trẻ, điều này giúp trẻ tăng khả năng nhậnthức và dễ dàng hòa nhập với môi trường giáo dục hòa nhập hơn
Việc sử dụng lý thuyết hành vi nhằm giải thích lý do tổ chức các hoạt động
hỗ trợ can thiệp trẻ và tác dụng của các hoạt động can thiệp trong việc kích thích trẻphát triển ngôn ngữ, coi việc đáp ứng nhu cầu, sở thích của trẻ là kích thích và việctrẻ sử dụng ngôn ngữ nói và hành vi đúng là phản xạ Trẻ được thay đổi nhận thứcrằng việc bắt chước phát âm và sử dụng ngôn ngữ cá nhân là một phản xạ có điềukiện, để được thực hiện các nhu cầu trẻ buộc phải sử dụng hành vi và ngôn ngữ nói.Ngoài ra, việc sử dụng hình thức thưởng phạt là 1 công cụ để tăng cường nhữnghành vi tích cực và giảm thiểu những hành vi tiêu cực của trẻ
1.2.2 Lý thuyết học tập xã hội
Lý thuyết học tập xã hội xuất hiện đầu tiên và phát triển trong tâm lý học lâmsàng để trị liệu hành vi dựa trên nghiên cứu của tâm lý học Chúng ta không chỉ họctập những hành vi mang tính bẩm sinh, mà cả những hành vi mới nhằm đáp ứngnhững nhu cầu của chúng ta hoặc thay thế những hành vi đã có nếu nó gây ra một sốvấn đề của chúng ta Và không chỉ quan tâm đến những vấn đề biến đổi có thể xảy
ra trong ý thức
Lý thuyết học tập xã hội (Bandura, 1977) mở rộng quan điểm này và cho rằng hầuhết các lý thuyết học tập đạt được qua nhận thức của con người và suy nghĩ những điều gì
mà họ đã trải nghiệm Học tập qua việc xem xét các ví dụ của người xung quanh
Đối với một đứa trẻ, quá trình học ngôn ngữ là một quá trình trong đó có sựbắt chước từ và âm từ môi trường xung quanh Do đó, để nâng cao hiệu quả trongquá trình hỗ trợ hòa nhập xã hội cho trẻ CPTNN tác giả đã sử dụng lý này
1.2.3 Lý thuyết Công tác xã hội với cá nhân
CTXH với cá nhân là một trong những phương pháp cơ bản của CTXH CTXHvới cá nhân xuất hiện sớm nhất trong lịch sử hình thành và phát triển CTXH cả trênphương diện lý thuyết và thực tế CTXH với cá nhân bắt đầu được thực hiện từ nửa saucủa thế kỷ XIX và không ngừng được bổ sung hoàn thiện cho đến ngày nay
Trang 36Đối tượng tác động của phương pháp CTXH với cá nhân là những cá nhânhoặc gia đình có vấn đề xã hội Đây là những người có hoàn cảnh khó khăn, gặp rủi
ro, bất hạnh trong cuộc sống, bị yếu thế trước xã hội; những người nghèo đói, thấtnghiệp; người bị khuyết tật; người già, người cô đơn; trẻ em mồ côi, không nơinương tựa, sống lang thang, bị ngược đãi, bị lạm dụng tình dục, lạm dụng sức khoẻ,bóc lột sức lao động; phụ nữ bị bạo hành, bất bình đẳng trong gia đình và xã hội;người bị nhiễm các dịch bệnh hiểm nghèo; người nghiện ma tuý, hành nghề mạidâm, tội phạm xã hội…
Phương pháp CTXH với cá nhân trong việc hỗ trợ, giải quyết vấn đề dựa trênquan hệ mặt đối mặt: NV CTXH và đối tượng (thân chủ) Chúng ta thấy rằng CTXHvới cá nhân là phương pháp tác động hai chiều, trong đó NV CTXH đóng vai trò địnhhướng, giúp phát huy năng lực của thân chủ, còn thân chủ là đối tượng, là trung tâmcủa quá trình tác động, chuyển biến thay đổi từ tình trạng yếu kém năng lực xã hội trởthành chủ thể tích cực của việc giải quyết vấn đề của bản thân mình
Mục đính của CTXH với cá nhân là nhằm giúp cá nhân, gia đình phục hồi,củng cố và phát triển các chức năng xã hội, giúp họ giải quyết vấn đề, cải thiện tìnhhình của họ thông qua sự tham gia tích cực và phát huy tiềm năng của cá nhân và xãhội vào quá trình giải quyết vấn đề
Trong CTXH với cá nhân chúng ta cần chú ý tới 5 cách tiếp cận vấn đề - conđường tiếp cận với đối tượng (thân chủ) sau: Cách tiếp cận tâm lý; Cách tiếp cậngiải quyết vấn đề - tạo điều kiện đối tượng tham gia giải quyết vấn đề; Cách tiếp cậnchức năng - can thiệp khủng hoảng; Cách tiếp cận toàn diện - tổng quát; Cách tiếpcận phát triển
Các nguyên tắc cơ bản trong CTXH cá nhân là: Nguyên tắc cá biệt hóa,nguyên tắc chấp nhận đối tượng, nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ,nguyên tắc thân chủ cùng tham gia giải quyết vấn đề, nguyên tắc giữ bí mật thôngtin liên quan đến thân chủ
Tiến trình CTXH với cá nhân là quá trình thể hiện sự tương tác giữa NVCTXH và thân chủ trong việc trợ giúp, giải quyết vấn đề của thân chủ từ khi bắt đầutiếp nhận ca cho đến khi kết thúc Quá trình này bao gồm 7 bước: Tiếp cận thânchủ; Nhận diện vấn đề; Thu thập và xử lý thông tin; Xác định vấn đề ưu tiên vàtrọng tâm vấn đề cần giải quyết; Xây dựng kế hoạch giải quyết vấn đề; Thực hiện
kế hoạch giải quyết vấn đề; Lượng giá và kết thúc
Trang 37Trong đềtài nghiên cứu , tác giả ứng dụng phương pháp can thiệp CTXH với
cá nhân để trực tiếp can thiệp cho 2 thân chủlàtrẻCPTNN hoc ̣ hòa nhâp ̣ taịtrường Mầm non Kid’s Color Phương pháp này giúp NV CTXH làm viêc ̣ t rưc ̣ tiếp với thân chủ, tìm hiểu nhhững thuận lợi , những khókhăn màthân chủgăp ̣ phải trong quátrình học tập Từ đó, NV CTXH se ̃cónhững biêṇ pháp đểhỗtrơ ̣tốt nhất cho thân chủ
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1:
Bằng việc áp dụng các lý thuyết liên quan sẽ giúp cho tác giả hiểu rõ hơn sựphát triển tâm sinh lý, hành vi, nhận thức cũng như các yếu tố tác động tới sự pháttriển của trẻ, đặc biệt là những trẻ ở lứa tuổi MN nói chung và nhóm trẻ CPTNN nóiriêng Mặc dù trẻ CPTNN không nằm ngoài quy luật phát triển chung của lứa tuổinhưng mỗi trường hợp CPTNN lại có những đặc điểm riêng biệt do vậy việc hiểuđược điểm mạnh, yếu và những yếu tố còn bị che lấp bên trong trẻ sẽ giúp GV,người hỗ trợ (NV CTXH) dễ tiếp xúc và hỗ trợ trẻ tốt hơn
Trang 38quanh Môi trường chăm sóc, nuôi dưỡng vàhoc ̣ tâp ̣ an toàn, ấm cúng như gia đinh̀ thứhai, giúp trẻ cảm nhận được tình yêu thương,sự quan tâm vàchia se.̉
Mục tiêu giáo dục của trường hướng tới một môi trường giáo dục toàn diện nhằm:
- Phát triển và rèn luyện thể lực cho trẻ
- Phát triển nhận thức và tư duy sáng tạo
- Phát triển ngôn ngữ và khả năng bày tỏ, diễn đạt ý kiến
- Phát triển đạo đức, tình cảm xã hội
- Phát triển năng khiếu, thẩm mỹ
Chương trình học của trẻ theo chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo theo từnglứa tuổi Ngoài ra nhà trường còn bổ sung chương trình học nâng cao phù hợp vớilứa tuổi trẻ
Phương pháp giáo dục của trường nhằm phát huy tối đa khả năng sáng tạocủa trẻ Với đội ngũ giáo viên nhiệt tình, yêu trẻ, có chuyên môn vững vàng, có khảnăng cập nhập và áp dụng các phương tiện khoa học công nghệ hiện đại trong quátrình dạy học đã luôn tạo cho trẻ sự hào hứng trong giờ học, sáng tạo trong các giờsinh hoạt xã hội (chơi nhóm, ngoại khóa…)
Trường Mầm non Kid’s Color là một trong những cơ sở giáo dục hòa nhập
có mối liên kết khá gắn bó với Trung tâm Nắng Mai (TTNM) Trong những năm qua, trường Mầm non Kid’s Color đã tiếp nhận nhiều trẻ CPTNN và TTK trên địa bàn Hà Nội Ban giám hiệu và các GV chủ nhiệm lớp luôn nhiệt tình và tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộ , GV hỗ trợ của Trung tâm theo dõi , giúp đỡ trực tiếp những trẻ CPTNN đang học hòa nhập tại đây
Hiện nay, trường có khoảng 10 trẻ CPTNN trong đó có 5 trẻ đã học chuyênbiệt tại TTNM đạt kết quả tốt và có khả năng hòa nhập cao Hầu hết các trẻ đềutrong độ tuổi từ 4-5 tuổi
Trang 392.2 Kế hoạch can thiệp
Mục đích can thiệp: Quá trình can thiệp giúp cho từng thân chủ cải thiện khảnăng giao tiếp bằng ngôn ngữ Sau khi kết thúc quá trình can thiệp, NV CTXHchứng tỏ được các vai trò của mình trong việc hỗ trợ hoà nhập cho trẻ CPTNN
KẾ HOẠCH CAN THIỆP
5/9/2013 -NV CTXH gặp gỡ, trao đổi với Ban giám
hiệu trường MN Kid’s Color-Thống nhất lịch làm việc, thời gian can thiệp,
kế hoạch can thiệp với chủ nhiệm lớp mầm non9/9-13/9/2013 -Tiến hành quan sát, ghi chép, thu thập thông
tin về thân chủ trong tuần học đầu tiên-Lập kế hoạch can thiệp cho thân chủ dựa trênnhững ghi chép, đánh giá đã thu thập đượctrong tuần học đầu tiên tại trường mầm nonTuần từ 15/9 – Thực hiện kế hoạch can thiệp cá nhân, hỗ trợ
27/12/2013 thân chủ trong các giờ học trên lớp, các hoạt
động ngoại khoá, các hoạt động vui chơi
29/12/2013 Mời phụ huynh của thân chủ tham gia buổi Mời phụ huynh
toạ đàm: “cách dạy trẻ chậm nói tại gia đình” và đại diện
trường MNNgày 30/12- -Thực hiện đánh giá quá trình can thiệp giai
31/12/2013 đoạn 1
-Bổ sung, làm mới kế hoạch can thiệp giaiđoạn 2
Từ 1/2014 – -Thực hiện kế hoạch can thiệp trong 3 tháng Ghi chép cá nhân
- Ghi chép những thay đổi tích cực và không huynh để có sựtích cực của thân chủ trong thời gian từ hỗ trợ thích hợp1/2014 -27/3/2014
28/3-31/3/2014 -Nhận xét kết quả học tập, can thiệp của thân Ghi chép cá nhân
chủ trong thời gian 3 tháng đầu năm 2014 để
có phương hướng can thiệp cho 3 tháng cuối
Trang 40của giai đoạn 2-Bổ sung kế hoạch can thiệp từ 4/2014-6/2014
Từ 4/2014 – -Thực hiện kế hoạch can thiệp
20/6/2014
Từ 23/6- Đánh giá kết quả can thiệp giai đoạn 2 Nhận
30/6/2014 xét tổng kết quá trình can thiệp hoà nhập
-Trao đổi với phụ huynh những chuyển biếncủa thân chủ trong suốt quán trình can thiệp
và kết quả can thiệp cuối cùng
-Kết thúc quá trình can thiệp
2.3 Kết quả can thiệp của bé Nguyễn M
2.3.1 Mô tả trường hợp
Họ tên trẻ: Nguyễn M Giới tính: Nữ
Sinh nhật: 21/12/2009
Địa chỉ: Hà Nội
Thời gian bắt đầu học chuyên biệt: 2/7/2012
Thời gian bắt đầu học hòa nhập: 9/2013
Tình trạng ban đầu của trẻ:
Bé M là một cô bé nhỏ nhắn, xinh xắn Khi bé tới học tại Trung tâm chúngtôi, bé có vẻ gầy gò và nhỏ hơn so với các bạn cùng lứa tuổi Lúc đó bé được 2,5tuổi nhưng cân nặng chỉ có 12 kg Bé thích chạy lăng xăng trong phòng chơi và nhìnmọi thứ xung quanh có vẻ lạ lẫm Khi tôi gọi tên, bé quay lại nhìn tôi và tỏ ra rấtngạc nhiên, sau đó bé chạy về phía mẹ đang ngồi ôm chầm lấy mẹ Có vẻ như bécảm thấy yên tâm khi có mẹ ở đó Theo lời kể của mẹ bé M, tôi được biết bé chưabiết nói Do kinh tế gia đình eo hẹp, chỉ dựa vào lương công chức của bố mẹ lại phảibận bịu với công việc, chăm sóc nhà cửa nên nhiều khi cả bố mẹ đều không cónhiều thời gian để ý tới bé nữa Bé hay vê tay và khi thích một món đồ nào đó cóthể chỉ là cái nắp bé sẽ chơi với nó cả ngày mà không chán Bé chưa biết ăn cơm màchỉ ăn cháo Bé cũng thích chơi với chị gái những cũng hay dỗi hờn lắm
Trong một lần xem chương trình tư vấn về trẻ tự kỷ trên Ti vi, mẹ M mớichột dạ nghĩ tới những biểu hiện bất thường của con mà trước đó chị vẫn nghĩ dotính cách của con như vậy Điều chị băn khoăn nhất là bé M đã 2,5 tuổi mà chưa