,
Trang 1GIAO LƯU VĂN HÓA VIỆT PHÁP
Đề bài: Trình bày những hiểu biết của anh chị về các khái niệm: văn hóa,
văn hóa mưu sinh, biến đổi văn hóa mưu sinh tại địa bàn xã Hương Sơn, huyện
Mỹ Đức, thành phố Hà Nội trong bối cảnh phát triển du lịch hiện nay
Nhóm 1: Nhóm những nhà nghiên cứu quan niệm: Văn hóa là toàn bộ những gì do con người sáng tạo ra hay “văn hóa là cái gì không phải tự nhiên, đối lập với tự nhiên” như GS Nguyễn Từ Chi đưa ra trong Văn hóa học đại
cương và cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Khoa học xã hội
Nhóm 2: Quan niệm: Văn hóa là một phạm vi rất hẹp, là những sáng tạo
về tinh thần
Như vậy, đến nay trên thế giới đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa khácnhau Trên tìm kiếm google hiển thị thống kê tới: 9.390.000 tài liệu nói về vănhóa và 500 định nghĩa về văn hóa Mỗi định nghĩa về văn hóa tùy theo tác giả
và bối cảnh ra đời, hướng vận dụng khác nhau mà có những quan điểm đưa rakhác nhau do vậy các định nghĩa cũng có tính ưu và nhược nhất định tùy theohướng lựa chọn tiếp cận của học giả NCS chỉ có thể lựa chọn một trong nhữngđịnh nghĩa hay quan điểm nghiên cứu phù hợp với đối tượng nghiên cứu của đềtài làm cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu Trong tiểu này, NCS dựa vào quanđiểm của nguyên chủ tịch nước Hồ Chí Minh- nhà đại văn hóa của dân tộc ta đểnghiên cứu đề tài Nhà văn hóa Hồ Chí Minh sau khi khẳng định tính mục đích
của sự sáng tạo văn hóa: “ vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống” và
hệ thống hóa các biểu hiện văn hóa đã kết luận “văn hóa là sự tổng hợp
Trang 2phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”
(Hồ Chí Minh toàn tập, xuất bản lần 2; NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995,tập 3; tr 341) Trong trường hợp liên kết vấn đề tiếp theo của tiểu luận: Văn hóamưu sinh- chính là “phương thức sinh hoạt” mà cộng đồng cư dân vùng HươngSơn, Mỹ Đức, Hà Nội đã và đang “sản sinh” ra “nhằm thích ứng với nhu cầucủa đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn trong nền cảnh của đại phương hiện nay
Biến đổi: Theo từ điển tiếng Việt, “biến đổi” có nghĩa là sự đổi khác.
Trong xã hội học, thuật ngữ biến đổi được gắn với sự biến đổi trong nhiều lĩnhvực khác nhau như: Biến đổi xã hội, biến đổi công nghệ Biến đổi xã hội(social change) được định nghĩa là sự thay đổi trong cấu trúc và hành vi vănhóa Theo quan niệm của triết học nhân sinh quan, biến đổi là một thuộc tính,đồng thời cũng là phương thức tồn tại của sự vật và hiện tượng trong thế giớikhách quan Tuy nhiên, sự biến đổi các sự vật và hiện tượng không giống nhau;trong một sự vật thì sự biến đổi cũng có thể khác tùy theo nội hàm sự vật, thờiđiểm biến đổi, nhân tố tác động, điều kiện tác động khác nhau Sự biến đổiphải đặt trong những hoàn cảnh cụ thể
Biến đổi văn hóa: Biến đổi văn hóa là một lĩnh vực biểu hiện của biến đổi
xã hội; là một trong những hiện tượng đặc thù của văn hóa Nhà nghiên cứu vănhóa Nguyễn Từ Chi từng nhận xét về sự biến đổi trong văn hóa Việt Nam: ‘‘…Văn hóa Việt Nam luôn thay đổi và nhiều khi thay đổi rất nhanh Theo tôi,người Việt là một trong những dân tộc rất nhạy cảm và dễ thay đổi mình cho
phù hợp với hoàn cảnh’’ (Nguyễn Từ Chi (2003); Góp phần nghiên cứu văn hóa
và tộc người; Nxb Tạp chí văn hóa dân tộc và Tạp chí văn hóa nghệ thuật, Hà Nội)
Có 3 nguyên nhân của sự biến đổi văn hóa trong xã hội:
- Biến đổi gây ra do áp lực công việc
- Biến đổi do sự liên hệ giữa các chủ thể trong xã hội
- Biến đổi do môi trường tự nhiên
Trang 3Văn hóa mưu sinh : Văn hóa mưu sinh là một thuật ngữ khoa học còn
mới ở Việt Nam và trong nghiên cứu văn hóa nói chung Qua tìm hiểu từ nhiềunguồn tài liệu và điều tra bằng phương pháp phỏng vấn chuyên gia để xác thựcvấn đề tìm hiểu, nghiên cứu sinh nhận thấy: Đây là một lĩnh vực được nhiềungành khoa học quan tâm, nghiên cứu và ứng dụng từ lâu trên thế giới, mưusinh hay sinh kế (livelihood) đang tiếp tục được một số nhà nghiên cứu văn hóađầu ngành trong nước tiếp nhận và phát triển trong những nghiên cứu về khoahọc văn hóa ứng dụng, bởi nội hàm của văn hóa mưu sinh rất thú vị và có tínhthực tiễn cao
Thuật ngữ ‘Mưu sinh’ trong tiếng Anh trên thế giới được nhiều nhà khoahọc văn hóa sử dụng nhiều với các cách dịch/ cách gọi tên khác nhau như:Economic purposes, living purpose và livelihoods Tuy nhiên, được công nhận
và sử dụng nhiều nhất là: livelihood
Mưu sinh (livelihood) được hiểu là: Tổng thể những phương diện hỗ trợ sự tồn tại của con người trong các lĩnh vực về nghề nghiệp, tài chính hay sinh hoạt Nghĩa gốc livelihood ám chỉ các ứng xử trong cuộc sống, cách sống trong nghề nghiệp, việc làm Wikipedia cũng có định nghĩa về livelihood với cách hiểu: Mưu sinh là những nỗ lực vượt qua những khó khăn, hoàn cảnh sống để xóa đói, giảm nghèo và cải thiện cuộc sống tốt hơn Theo
www.freedictionary.com: Mưu sinh (livelihood) được hiểu là sự tập hợp những
phương tiện hỗ trợ hoặc tự cung, tự cấp nghề nghiệp hay việc làm để tự nuôi sống bản thân
Theo Tổ chức liên đoàn quốc tế Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm (IFRC);Mưu sinh có thể hiểu là một tập hợp những yếu tố, giải pháp và phương tiệnsống để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của một người dân Một chỉnh thể văn hóamưu sinh được bền vững khi nó cân bằng được các yếu tố văn hóa trong nộihàm, để chống lại những cú sốc tác động từ bên ngoài tới đời sống của ngườidân hay tập người nghiên cứu, phát triển được tương lai, các thế hệ nối tiếp màkhông phá hủy môi trường tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Trang 4Trong tiếng Trung: “Mưu sinh” được phát âm dưới 2 dạng: “Sheng qi”(sinh kế); trực tiếp từ “Mưu sinh” được phát âm là “Mou sheng” Mưu sinh làđộng từ, chỉ việc tìm cách sinh sống, kiếm nghề nghiệp, làm sinh kế Mưu sinh
là khởi đầu, còn sinh kế là kết quả của hành động Khi nói cách mưu sinh tức làdanh từ hóa động từ mưu sinh thành sinh kế Do vậy, mưu sinh và sinh kế có thể
sử dụng thay thế cho nhau khi thêm vào một danh từ vào động từ mưu sinh như:Các mưu sinh, phương thức mưu sinh, nghề nghiệp mưu sinh, cũng có thể hiểu
là sinh kế với nội hàm tương tự trong cách vận dụng
Tại hội đồng chấm tiểu luận tổng quan của NCS ngày 11/2/2015, trên cơ
sở khung lý thuyết, tình hình nghiên cứu đã tổng hợp của NCS, trong vai trògiám khảo thành viên, TS Dương Văn Sáu đã bổ sung thêm những kiến thứckhoa học trong lĩnh vực nghiên cứu về văn hóa và du lịch trong nhiều năm, vàđưa ra định nghĩa về văn hóa mưu sinh, theo T.S Dương Văn Sáu (ĐH Văn Hóa
Hà Nội), “Văn hóa mưu sinh là toàn bộ cách thức ứng xử trong mối quan hệ với
tự nhiên và xã hội của các cá nhân và tổ chức diễn ra trong những không gian
và thời gian xác định nhằm mục đích nâng cao chất lượng và kĩ năng sống Những ứng xử này luôn bị chi phối bởi các biến đổi mưu sinh chủ động và bị động” Như vậy, so với định nghĩa hay cách hiểu về văn hóa mưu sinh trước đó,
định nghĩa về Văn hóa mưu sinh của TS Dương Văn Sáu đã nêu lên yếu tố mớitrong văn hóa mưu sinh: là cách thức ứng xử, nhằm nâng cao chất lượng và kĩnăng sống và văn hóa mưu sinh chịu sự tác động bởi những tác nhân khác nhautrong xã hội
Trong giáo trình Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa tr 44; của Ngô ĐứcThịnh (Nxb trẻ năm 2003), khi nói về hiện tượng Kinh tế- văn hóa Việt Nam,Ngô Đức Thịnh có khẳng định: “loại hình kinh tế- văn hóa xuất hiện đầu tiên ởLiên Xô”.Quan điểm gợi mở này cũng trùng với những nhà nghiên cứu có thâmniên về văn hóa Mưu sinh như PGS.TS Trần Bình (ĐH Văn Hóa): Lĩnh vựcnghiên cứu về văn hóa mưu sinh đã có từ lâu trên thế giới, nằm trong số ítnhững nhà nghiên cứu về mảng văn hóa mưu sinh đầu tiên phải nhắc đến nhà
Trang 5nghiên cứu Makarian (thủ đô Eurevan, Liên Xô cũ) Ông đã có nhiều công trìnhnghiên cứu đầu tiên trong lĩnh vực văn hóa về livelihood…
Trong nhiều tài liệu nghiên cứu về văn hóa mưu sinh, Makarian xếp Vănhóa mưu sinh vào nhóm Văn hóa sản xuất bởi văn hóa mưu sinh có nhiều nộihàm tương đồng của phân nhóm:
1) Văn hóa đảm bảo đời sống (nhà ở, trang phục, đồ ăn, vật chất…)
2) Văn hóa chuẩn mực xã hội (tình cảm xã hội, quan hệ xã hội, nghi lễ đờisống…)
3) Văn hóa nhận thức (tư tưởng đạo đức, nhân sinh quan, thế giới quan, trithức…) Theo cách phân loại này, khái niệm văn hóa mưu sinh chỉ: Tất cả hành
vi tác động vào tự nhiên, cuộc sống để tạo ra cuộc sống, của cải, vật chất; việcvận dụng những tài nguyên văn hóa vật thể, phi vật thể để xóa đói, giảm nghèo
và nâng cao đời sống con người trong xã hội hay trong một cộng đồng cư dân,hay đối tượng nghiên cứu cụ thể
Theo Makarian, giữa văn hóa mưu sinh với văn hóa nhận thức (văn hóatinh thần), văn hóa vật chất, văn hóa chuẩn mực xã hội có mỗi liên hệ hữu cơvới nhau, có nhiều điểm chung, có giao nhau, nhưng không hoàn toàn trùngkhớp, nhưng chúng vẫn có những nội hàm, khía cạnh riêng và biểu hiện giống
và khác nhau nhất định
Tóm lại, từ sự tìm hiểu và cách hiểu, cách định nghĩa về văn hóa mưu sinhtrên thế giới của nhiều nhà nghiên cứu khác nhau; từ góc độ nhà nghiên cứu vănhóa học và hướng nghiên cứu của luận án này, NCS đưa ra khái niệm về mưusinh và văn hóa mưu sinh như sau:
Mưu sinh là tổng thể những yếu tố về vật chất và tinh thần trong phương thức hoạt động nghề nghiệp của một cá nhân, hộ gia đình hay một cộng đồng
cụ thể; bao gồm: những công cụ lao động, phương thức lao động, những kinh nghiệm nghề nghiệp, tôn giáo nghề, tín ngưỡng, phong tục tập quán, niềm tin…, của những cá nhân, gia đình hay cộng đồng dân cư trong hoạt động nghề nghiệp nhằm nỗ lực xóa đói, giảm nghèo, phát triển cuộc sống và bảo tồn, phát
Trang 6huy giá trị văn hóa truyền thống
Văn hóa mưu sinh là: Toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần, cách thức ứng xử, thái độ và tác động của cá nhân, hộ gia đình hay cộng đồng trong hoạt động nghề nghiệp, tới tự nhiên xã hội và con người trong bối cảnh không gian và thời gian xác định nhằm nỗ lực xóa đói, giảm nghèo, phát triển cuộc sống; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.
Để xóa đói, giảm nghèo và phát triển cuộc sống, chủ thể mưu sinh phải có những giải pháp hữu hiệu nhằm phát huy giá trị của tài nguyên thiên nhiên, di sản vật thể và phi vật thể nơi mình đang sống; bằng những con đường chính thống và những con đường phi chính thống để đạt được mục tiêu ổn định đời sống cộng đồng trước những tác động khách quan
Văn hóa mưu sinh chịu sự chi phối, tác động và ảnh hưởng bởi các tác động chủ động và bị động từ ngoại cảnh khác nhau
Quan niệm về mưu sinh bền vững: Những khái niệm về mưu sinh bền
vững (Stable livelihood) được giới thiệu đầu tiên bởi Ủy ban Brundtland về Môitrường phát triển và hội nghị quốc tế năm 1992 nhằm mục tiêu thích ứng điềukiện xã hội mới, xóa đói, giảm nghèo, và phát triển cuộc sống Trong tiếp cậnứng dụng về văn hóa mưu sinh cho một điểm văn hóa hay một cộng đồng dân
cư, một vấn đề nghiên cứu văn hóa trong xã hội cụ thể, các nhà nghiên cứu trênthế giới như: Robert Chamber; Colin Murray, Diana Carney, AnthonyBedbington hay Bộ phát triển quốc tế Anh (Department for internationaldevelopment: DFID) , ở trong nước như: PGS.TS Nguyễn Văn Sửu, PGS.TS.Trần Bình, TS Phùng Thị Tô Hạnh đều hướng tới sự bền vững mưu sinh hay cáchtiếp cận mưu sinh bền vững (sustainable livelihood approaches) theo 5 hướng khaithác về nội hàm giống nhau
Văn hóa mưu sinh có nội dung khai thác theo 5 thành tố hợp thành:
- Vốn tự nhiên (Natural capital): bao gồm toàn bộ nguyên liệu về tự nhiên
để tạo dựng sinh kế của một gia đình hay cộng đồng Có nhiều nguồn lực để tạo
ra vốn tự nhiên: Đất đai, rừng, nước, khí hậu
Trang 7- Vốn vật chất (physical capital): Bao gồm cơ sở hạ tầng, các loại hàng hóa
mà con người sản xuất cần thiết để hậu thuẫn kinh tế
- Vốn xã hội (social capital): Là các nguồn lực xã hội mà con người sử
dụng để theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình, bao gồm: Quan hệ, mạnglưới, thành viên nhóm, niềm tin, sự phụ thuộc lẫn nhau và trao đổi cung cấp cácmạng an ninh chính thống quan trọng
- Vốn con người (human capital): Là những kĩ năng, tri thức, khả năng làm
việc và sức khỏe tốt
- Vốn tài chính (financial capital): Ngụ ý về nguồn lực tài chính mà con
người sử dụng để đạt các mục tiêu sinh kế của mình
Mô hình về mưu sinh bền vững, sau nhiều năm nghiên cứu theo Makarian,cũng như các nhà nghiên cứu khác là: Sự cân bằng, điều hòa thỏa đáng các lợiích và trách nhiệm của các chủ thể hay thành tố mưu sinh tham gia Tài nguyên
tự nhiên được người dân địa phương khai thác trong bối cảnh phát triển về dulịch thu về cần được người dân địa phương và các tổ chức quản lý phân chiathỏa đáng để tái sản xuất, phân chia cho cộng đồng tham gia, các quỹ phúc lợi Quỹ cộng đồng lại tiếp tục bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa bản địa Chỉkhi cân bằng được các yếu tố này thì văn hóa mưu sinh mới bền vững được.Một hoạt động văn hóa mưu sinh bền vững (Sustainable livelihood), cần cónhững nguyên tắc chỉ đạo phát triển nhất định Có 7 nguyên tắc:
1) Con người phải là trung tâm: Hoạt động văn hóa mưu sinh bắt đầu bằng
việc phân tích về hoạt động mưu sinh của người dân và làm thế nào họ thay đổiđược theo thời gian Bản thân người dân cần tích cực tham gia trong suốt dự án
2) Mưu sinh cần toàn diện: Mọi người cần chủ động áp dụng nhiều chiến
lược khác nhau để đảm bảo đời sống sinh kế của họ, chủ động tổ chức hoặc lôikéo nhiều đối tượng khác nhau tham gia Ví dụ tổ chức tư nhân, các bộ, các tổchức dựa vào cộng đồng và tổ chức quốc tế
3) Mưu sinh bền vững cần chủ động: Tìm hiểu xem bản chất sự năng động
của đối tượng mưu sinh, những gì ảnh hưởng, tác động đến họ
Trang 84) Xây dựng thế mạnh: Mưu sinh bền vững xây dựng dựa trên thế mạnh.
Cơ hội nhận thức của người dân chứ không tập trung vào vấn đề và nhu cầu của
họ Nó hỗ trợ các chiến lược sinh kế hiện có
5) Đẩy mạnh liên kết vi, vĩ mô: Mưu sinh bền vững xem xét ảnh hưởng của
các chính sách, thể chế về lựa chọn sinh kế , các chính sách và đặc biệt ưu tiênngười nghèo
6) Khuyến khích quan hệ đối tác rộng: Mưu sinh bền vững dựa trên nhiều
quan hệ xã hội, trong các giai tầng và cơ chế xã hội khác nhau
7) Mục tiêu phát triển bền vững: Tính bền vững là quan trọng nếu giảm
nghèo là để được lâu dài
Tổng hợp thành tố những biểu hiện và ứng dụng văn hóa mưu sinh trong du lịch
Đáp ứng nhu cầu trong bối cảnh
Tham quan, trảinghiệm, giải trí của dukhách; khai thác tàinguyên phục vụ sinhhoạt và tồn tại hàngngày và nhu cầu du lịchcủa khách du lịch
2 Vốn con người
( human capital)
Trí tuệ, kinh nghiệm,nguồn nhân lực thayđổi thế nào trong kinhdoanh dịch vụ Nhậnthức con người thayđổi khi có du lịch đếnnhư thế nào, sức
Tri thức và kinhnghiệm Kinh doanh dulịch, nhu cầu tồn tại vàbán được các sản phẩm
du lịch do chính bảnthân, hộ gia đình làmra; khả năng đầu tư,
Trang 9khỏe, dân trí thayđổi sau khi du lịchphát triển như thế nào
kinh doanh du lịch đểthoát nghèo, gìn giữgốc văn hóa truyềnthống và phát triểncuộc sống
3 Vốn xã hội
( Social capital)
Các chính sách trước
và sau năm 1998(trước và sau cải cáchruộng đất ở HươngSơn), tổ chức và thiếtchế xã hội, nhữngmạng lưới xã hộimưu sinh, hình thứcsản xuất ); Quan hệcông việc; Các mạnglưới thông tin, quảngcáo, truyền thông
Môi trường giao lưuhọc hỏi, cố kết cộngđồng, gìn giữ văn hóatruyền thống trong sựgiao lưu và tiếp biếnvăn hóa do sự tác độngcủa hoạt động du lịch.Môi trường và nhân tố
để Phát triển mạng lướimưu sinh khi du lịchphát triển
4 Vốn tài chính
( Financial capital)
Các nguồn vốn đầu tưtài chính từ du lịch,thu nhập hay vốn đểkhai thác giá trị tàinguyên văn hóa dulịch trong cuộc sống
Làm vật giao dịch banđầu để tạo ra lợi nhuận
từ việc kinh doanh dulịch
5 Vốn vật chất
(Physical capital)
Công trình, cơ sở hạtầng và vật chất, phúclợi xã hội, nhà,xưởng, cửa hàng, vậtdụng tùy theo ngànhnghề mưu sinh
Ki ốt, xe máy, cửahàng, hàng lưu niệm,biển quảng cáo, đấttrồng rau, dụng cụ laođộng nhằm giúpngười dân khai thác giátrị của sản phẩm du
Trang 10lịch để bán cho khách
du lịch, để quảng cáosản phẩm trong mưusinh du lịch; nhằm pháttriển kinh doanh để thulợi nhuận, đáp ứng nhucầu thoát nghèo và cảithiện cuộc sống từ sựphát triển du lịch
Biến đổi văn hóa mưu sinh
Từ cơ sở lý luận về biến đổi văn hóa và hướng nghiên cứu của đề tài luận
án này, theo NCS, đưa ra quan niệm về biến đổi văn hóa mưu sinh là: những biến đổi, thay đổi về phương diện vật chất và tinh thần, những thay đổi trong cách thức ứng xử trong không gian, thời gian, hoạt động nghề nghiệp xã hội xác định của những nghệ nhân, người hoạt động nghề nghiệp - con người trước những nhân tố chủ động và bị động khác nhau, để tạo ra của cải, vật chất nhằm nỗ lực xóa đói, giảm nghèo, phát triển nghề nghiệp và cuộc sống Bao gồm những thay đổi về công cụ lao động, thay đổi về phương thức lao động, thay đổi về kinh nghiệm thích ứng nghề nghiệp, thay đổi về phương tiện lao động, thay đổi về phong tục, thay đổi về tập quán nghề nghiệp, cung cách ứng xử trong hoạt động nghề nghiệp trong bối cảnh tác động hay thời gian xác định.
Trong bối cảnh phát triển du lịch tác động đến sự biến đổi văn hóa mưu sinh,những biến đổi về văn hóa mưu sinh dựa trên ba thành tố nói trên được hiểu:
Biến đổi văn hóa mưu sinh trên phương diện vật chất (material – livelihood acculturation), hay còn gọi là những biến đổi của văn hóa mưu sinh
hữu thể bao gồm: Những biến đổi về công trình, biến đổi về kiến trúc như đình,chùa, miếu, mạo, lăng, mộ, nhà sàn, biến đổi trong những công cụ lao động,mưu sinh hàng ngày của người lao động như: cày, bừa, cuốc, thuổng, gậy, gộc,
Trang 11ki ốt, nhà xưởng, bàn, ghế, đò, xe máy, xe đạp, xe taxi
Biến đổi văn hóa mưu sinh trên phương diện xã hội (Social livelihood acculturation): Bao gồm những biến đổi trong quy tắc ứng xử và
culture-quan hệ trong gia đình, dòng họ, xã hội có liên culture-quan đến hoạt động nghề nghiệp;những biến đổi trong quy định về thiết chế văn hóa, xã hội có liên quan đến hoạtđộng bảo tồn và phát triển nghề nghiệp
Trong khi đó, những biến đổi về phương diện văn hóa mưu sinh trên
phương diện tinh thần (spiritual - livelihood acculturation), hay còn gọi là
những biến đổi tinh thần, vô thể lại mang những sắc tố riêng Nó bao gồmnhững biến đổi về tượng trưng và không chạm vào và cảm nhận bằng các giácquan được Biến đổi Văn hóa mưu sinh vô thể đề cập tới những yếu tố văn hóangành nghề vô thể lưu truyền và biến đổi theo thời gian, với một số quá trìnhsửa đổi, bổ sung, tích lũy dưới nhiều dạng thức khác nhau Những biến đổi vănhóa mưu sinh vô thể có thể bao gồm: những biến đổi về kinh nghiệm thích ứngnghề nghiệp, biến đổi trong khả năng phát triển nghề nghiệp, biến đổi về sựphân phối và mở rộng phạm vi nghề, âm nhạc, múa, truyền thống, văn chươngtruyền miệng, ngôn ngữ, huyền thoại, tư thái, nghi lễ, ngôn ngữ hay thuật ngữriêng trong hoạt động nghề nghiệp, biến đổi về phong tục, tập quán nghề, cácmón ăn truyền thống, các công nghệ thủ công truyền thống
Quan niệm về bối cảnh phát triển du lịch bền vững
Du lịch là một ngành kinh tế mang tính xã hội cao vì vậy phát triển dulịch cũng tạo ra sự tác động mạnh mẽ lên nhiều mặt của đời sống xã hội Các tácđộng này vừa có tính tích cực và tiêu cực Để đảm bảo sự phát triển bền vữngcho văn hóa, vấn đề đặt ra là các tác động (không thể tránh khỏi) đến văn hóa từcác hoạt động trong sự phát triển du lịch cần phải được kiểm soát và quản lýchặt chẽ
Phát triển du lịch
Phát triển du lịch là một quá trình nâng cao điều kiện sống về phương diệnvật chất và tinh thần trong du lịch, được ghi dấu bằng sự phát triển lực lượng
Trang 12sản xuất, quan hệ sản xuất, các giá trị văn hóa cộng đồng dân cư Phát triển dulịch tạo ra sự nâng cao điều kiện sống của con người, tạo ra một xã hội tốt đẹphơn nhờ du lịch về các phương diện: công bằng, dân chủ và tiến bộ xã hội thôngqua những biểu hiện về đời sống vật chất như: nhà ở khang trang hơn, nguồnlương thực đảm bảo hơn, các điều kiện về giáo dục, sức khỏe, nhận thức, sự tậnhưởng cuộc sống và các giá trị nghệ thuật
Tuy nhiên, sự phát triển cũng tạo ra thách thức với cộng đồng dân cư trongviệc: Bên cạnh việc đem lại những giá trị vô và hữu hình thì sự vận động đócũng dễ gây ra những tác động tiêu cực như: Cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên,suy thoái đời sống văn hóa bản địa ở góc độ nào đó, cơ hội bùng phát những tệnạn không mong muốn trong khi nguồn tài nguyên về văn hóa bản địa cũng nhưvăn hóa vật chất, truyền thống không phải là vô hạn, do vậy nếu cứ duy trì sựkhai thác không kiểm soát thì có thể dẫn tới hiện trạng chảy máu tài nguyênthiên nhiên và các giá trị văn hóa Từ nhận thức đó mà sự ra đời khái niệm hay
Phát triển bền vững: Lý thuyết về phát triển bền vững bắt đầu xuất hiện
trên thế giới vào những năm 80 của thế kỷ XX và chính thức đưa ra tại Hội nghị
Ủy ban thế giới về phát triển và môi trường năm 1987, trong báo cáo Our Common Future của Ủy ban môi trường và phát triển thế giới- WCED (nay là Ủy ban Brundtland) Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là sự tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu các thế hệ tương lai Nói cách khác, phát triển bền vững phải đảm bảo được sự hiệu quả về các thành tố: Kinh tế, xã hội, môi trường
Phát triển bền vững là hoạt động nhằm đáp ứng những nhu cầu của thế hệhiện tại mà không làm ảnh hưởng sự phát triển của các thế hệ sau Theo quan