1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI

33 2K 18
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Áp Dụng Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Trọng Tài
Tác giả Nhóm Thực Hiện: Nguyễn Văn Quan, Lâm Đạo Nhật Quang, Phạm Thị Như Uyên, Nguyễn Thị Quỳnh Tâm, Trần Vũ Giang
Người hướng dẫn ThS. Dương Kim Thế Nguyên
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 352,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tiểu luận hay lắm

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

BÀI TIỂU LUẬN

BỘ MÔN : LUẬT KINH TẾ

ĐỀ TÀI: ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG TỐ TỤNG

TRỌNG TÀI GVHD: ThS Dương Kim Thế Nguyên

TP.HCM T6/2012

Trang 2

NHÓM THỰC HIỆN

1 Nguyễn Văn Quan – Nhóm trưởng

2 Lâm Đạo Nhật Quang

3 Phạm Thị Như Uyên

4 Nguyễn Thị Quỳnh Tâm

5 Trần Vũ Giang

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 5 PHẦN 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ LUẬT

TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 7 PHẦN 2 : NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG 12 PHẦN 3 : BIỆN PHÁP KHẦN CẤP TẠM THỜI 18 PHẦN 4: TÌNH HUỐNG VÀ CÁCH THỨC XỬ LÝ 30 LỜI KẾT 32

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Trong suốt quá trình phát triển từ năm 1986 đến nay, Việt Nam không ngừngnâng cao vị thế khi từng bước tham gia các diễn đàn và tổ chức kinh tế lớn mạnhtrên thế giới ASEAN (28/05/1995), ASEM (1-2/03/1996), APEC(14/11/1998),WTO(11/01/2007)… Bên cạnh những ưu việt mà con đường hội nhập toàn cầu hóamang lại thì các mâu thuẫn thương mại và tranh chấp giữa các đối tác, đối thủ cạnhtranh trên lĩnh vực kinh tế cũng gây cho nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nướcnhững khó khăn nhất định Trước tình hình đó, việc cải cách luật và các Bộ Luật về

tố tụng cũng như tranh chấp là một điều cần thiết

Sau khi nền kinh tế thế giới vừa vực dậy từ cuộc khủng hoảng tài chính từ Mỹ lạirơi vào khủng hoảng nợ công từ Châu Âu làm cho kinh tế toàn cầu càng bất ổn Từ

đó, cạnh tranh kinh tế lại từng bước được nâng cao, dẫn đến các vụ tranh chấp cũngtăng Và khi tranh chấp kinh tế xảy ra, hai hướng chủ yếu được thực hiện chính làđưa ra tòa án hoặc các trọng tài thương mại Với nhiều lý do nhất định, trọng tài lại

là lựa chọn của hầu hết các doanh nghiệp cũng như nhà đầu tư

Số vụ tranh chấp tại VIAC trong 17 năm từ 1993 đến 2011, cụ thể :

Và trong các vụ án kinh tế hầu hết các bên khởi kiện đều lo sợ việc giao dịchmua bán nhằm tẩu tán tài sản khi các vụ án còn đang gian dở…Vậy những tình

Trang 6

Theo luật trọng tài thương mại 2010 (Chương VII: Biện pháp khẩn cấp tạm thời) sẽgiúp ta giải quyết cụ thể cho từng vụ việc bằng các biện pháp khẩn cấp tạm thờitrong tố tụng trọng tài Và bài tiểu luận này của chúng tôi sẽ giúp mọi người hiểu rõhơn về các biện pháp khẩn cấp tạm thời khi Hội đồng trọng tài áp dụng cho các vụ

án kinh tế

Trang 7

PHẦN 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ LUẬT TRỌNG TÀI

THƯƠNG MẠI

Kế thừa sự phát triển từ Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, Nghị định

số 25/2004/NĐ-CP, dựa trên thực tiễn hoạt động của các trung tâm trọng tài thươngmại ở Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua, nhất là trong hai thập kỷ từ khi thực thiNghị định số 116/CP năm 1996 về trung tâm trọng tài kinh tế, thực hiện các cam kếthội nhập kinh tế quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập trong quá trình chủ động và tíchcực hội nhập, dự thảo Luật trọng tài thương mại quy định về tổ chức và tố tụngtrọng tài như một phương thức nhằm giải quyết một cách hiệu quả, nhanh chóng cáctranh chấp trong đời sống kinh doanh, thương mại và dân sự

Tôn trọng và bảo vệ thoả thuận của các bên dân sự giải quyết tranh chấpbằng trọng tài, dự thảo Luật trọng tài thương mại nhằm vào các mục đích: (i) quyđịnh một thủ tục tố tụng trọng tài nhanh chóng, công bằng, hiệu quả và thuận lợi,(ii) đảm bảo sự hỗ trợ hiệu quả của toà án để các hội đồng trọng tài tuân thủ đúng tốtụng, các quyết định và phán quyết của trọng tài có hiệu lực và được thi hành, (iii)tạo điều kiện cho trọng tài viên và tổ chức trọng tài phát triển trong bối cảnh ViệtNam thực thi các cam kết về thương mại dịch vụ khi hội nhập kinh tế quốc tế

Luật trọng tài thương mại về cơ bản là một luật tố tụng riêng so với các quyđịnh của Bộ luật tố tụng dân sự 2005 Dựa vào quy định của Luật trọng tài thươngmại này các Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài vụ việc có thể xây dựngquy tắc tố tụng cụ thể Về từng nội dung chi tiết của dự luật, bản thuyết minh dướiđây làm rõ mục đích của quy phạm, các phương án lựa chọn và giải pháp mà Bansoạn thảo ưu tiên

PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH VÀ TÊN GỌI CỦA ĐẠO LUẬT

1 Trong quá trình soạn thảo Luật trọng tài thương mại có hai loại ý kiến về phạm

vi điều chỉnh của dự luật Nhóm ý kiến thứ nhất đề xuất giới hạn phạm vi điềuchỉnh của pháp luật trọng tài trong các giao dịch thương mại của thương nhân,

Trang 8

có xem xét mở rộng khái niệm thương mại cho phù hợp với Luật thương mạinăm 2005 và các cam kết mà Việt Nam đã tham gia về thương mại quốc tế.

Quan điểm này dựa trên các lập luận: thứ nhất, số lượng các vụ việc được giải

quyết tại 08 trung tâm trọng tài thương mại hiện nay chưa nhiều (Trung tâmtrọng tài quốc tế Việt Nam VIAC với 140 trọng tài viên thụ lý 58 vụ trong năm2008), khả năng và uy tín chuyên môn của các trọng tài viên của một số trung

tâm cần được nâng cao hơn nữa; thứ hai, Luật mẫu của Uỷ ban Luật thương mại

quốc tế của Liên hợp quốc (Uncitral Model Law 2006) cũng nhấn mạnh thẩmquyền của trọng tài vào các tranh chấp thương mại Vì vậy nhóm ý kiến thứ nhấtnày cho rằng chưa nên mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật trọng tài và xácđịnh tên gọi của đạo luật là Luật trọng tài thương mại

2 Nhóm ý kiến thứ hai cho rằng cần mở rộng thẩm quyền của trọng tài cho tất cảcác tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên phát sinh từnghĩa vụ hợp đồng hoặc nghĩa vụ ngoài hợp đồng giữa các chủ thể dân sự Têngọi của đạo luật vẫn là Luật Trọng tài thương mại, nhưng được mở rộng theohướng không phân biệt tranh chấp thương mại với dân sự

Ban soạn thảo ưu tiên trình Quốc hội phương án thứ hai này với những lập luận dưới đây:

Thứ nhất, trong xu hướng cải cách pháp luật và hệ thống tư pháp nhằm đảmbảo tính thống nhất, tránh chồng chéo và mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật,

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005 về cơ bản đã thống nhất quy định tố tụng dân

sự, kinh tế, thương mại và lao động trước đây trong một đạo luật Thực tế giảiquyết tranh chấp tại toà án và trọng tài ở Việt Nam cho thấy việc phân biệt các

vụ việc tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh doanh, thương mại không dễ dàng

và thuyết phục Sự không chắc chắn này dẫn tới nhiều vụ việc không được thụlý; nhiều bản án, phán quyết không có hiệu lực pháp lý do cơ quan giải quyết thụ

lý không đúng thẩm quyền Trong bối cảnh này tại Việt Nam hiện nay, nếu chỉgiới hạn luật trọng tài trong các hoạt động thương mại sẽ dẫn đến nhiều tranhluận thế nào là các hoạt động thương mại, gây bất lợi cho hoạt động trọng tài

Trang 9

ngay từ bước đầu Tham khảo kinh nghiệm lập pháp của 80 quốc gia trên thếgiới cho thấy hầu hết các quốc gia đều có những đạo luật (Trung Quốc,Singapore, Thái-lan, Hoa Kỳ, Anh…) hoặc quyển luật trong các bộ luật tố tụngdân sự (Đức, Nhật, Pháp) với tên gọi là Luật trọng tài, không phân biệt tranhchấp dân sự và thương mại Việc Uỷ ban Luật thương mại quốc tế của Liên hợpquốc (UNCITRAL) đặt tên đạo luật mẫu hạn chế về trọng tài thương mại quốc

tế có lý do từ thẩm quyền được giao của chính cơ quan này được giới hạn trongpháp luật thương mại quốc tế Nhiều quốc gia như Liên bang Nga, Singapore,

Úc ban hành riêng các đạo luật về trọng tài thương mại quốc tế không có nghĩa ởcác quốc gia đó trọng tài chỉ có thẩm quyền cho các việc thương mại Trên thực

tế, các nước này thường lại còn có thêm một luật nữa để điều chỉnh các hoạtđộng trọng tài khác trong nước, và đạo luật này chỉ được gọi đơn giản là luậttrọng tài

Thứ hai, khác với quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003,Luật Đầu tư 2005 đã quy định các tranh chấp giữa cơ quan nhà nước Việt Nam

và nhà đầu tư cũng có thể được giải quyết bằng trọng tài trong và ngoài nước.Trong khuôn khổ Tổ chức thương mại thế giới mà Việt Nam đã tham gia, cáctranh chấp giữa các quốc gia về chính sách thương mại cũng có thể được giảiquyết bằng trọng tài Nhiều điều ước quốc tế về thương mại, tránh đánh thuế hailần, khuyến khích và bảo hộ đầu tư mà Việt Nam đã tham gia cũng ghi nhậnviệc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Như vậy, trên thực tế nhiều tranh chấpgiữa nhà nước Việt Nam với cá nhân và tổ chức nước ngoài có thể đã được giảiquyết bằng trọng tài, mặc dù đó không phải là tranh chấp thương mại giữa cácthương nhân theo định nghĩa của Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 và Luậtthương mại 2005

Thứ ba, trong xu thế tăng cường quyền tự định đoạt của các bên dân sự,

về cơ bản nếu các bên dân sự ưu tiên lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấpcủa họ thì ý chí đó cần được pháp luật bảo đảm, trọng tài không phải là phươngthức giải quyết tranh chấp chỉ dành riêng cho giới thương nhân Trên thực tếnhiều tranh chấp lao động cũng có thể được giải quyết bằng trọng tài, mặc dù

Trang 10

cách thức thành lập và hoạt động của hội đồng trọng tài trong pháp luật laođộng có một số điểm riêng biệt.

Thứ tư, nhiều tranh chấp ngoài hợp đồng, ví dụ đền bù thiệt hại ngoài hợpđồng trong lĩnh vực xây dựng, hàng hải, vận tải cũng có thể được giải quyếtbằng trọng tài theo ý chí của các bên liên quan, mặc dù các tranh chấp như vậykhông xuất phát từ hành vi thương mại của thương nhân

Thứ năm, nhiều cơ quan và tổ chức do nhà nước thành lập, mặc dù khôngđược xem là các thương nhân, ví dụ các ban quản lý các dự án đầu tư công, các

cơ sở nghiên cứu, trường học, tổ chức báo chí, truyền thông vẫn tham gia ngàycàng nhiều vào các giao dịch mang tính dân sự, các tranh chấp giữa các chủ thểnày cũng có thể được giải quyết bằng trọng tài theo ý chí của các bên

Thứ sáu, trọng tài hoạt động hiệu quả giúp giảm bớt công việc cho cáctoà án và góp phần thúc đẩy cơ hội tiệm cận công lý của người dân thông quacác thiết chế tài phán tư Một hệ thống trọng tài mạnh và hiệu quả, hoạt độngtích cực sẽ góp phần vào cải cách tư pháp, ổn định và cải thiện môi trường kinhdoanh Vì trọng tài do người dân lựa chọn, uy tín và năng lực của trọng tài sẽđược sàng lọc, phát triển thông qua cơ chế cạnh tranh

3 Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 liệt kê các loại tranh chấp được xem làtranh chấp thương mại thuộc thẩm quyền của các trung tâm trọng tài hoặc hộiđồng trọng tài vụ việc Khác với phương pháp liệt kê đó, dự thảo Luật trọng tàithương mại được soạn thảo theo phương pháp loại trừ, liệt kê những loại tranhchấp không thuộc thẩm quyền của trọng tài Đối tượng tranh chấp không thuộcthẩm quyền của trọng tài là những tranh chấp mà Nhà nước có nhu cầu phảitham gia để bảo vệ các lợi ích công cộng hoặc trong điều kiện hiện nay do tínhphức tạp và nhạy cảm của chúng chưa nên chuyển giao cho các thiết chế tàiphán tư để giải quyết, ví dụ các tranh chấp liên quan đến phá sản, các tranh chấpliên quan đến quyền nhân thân, đến quan hệ hôn nhân và gia đình

4 Luật Trọng tài thương mại quy định tổ chức và hoạt động của trọng tài trongnước, văn phòng và chi nhánh trọng tài nước ngoài hoạt động tại Việt Nam Mặt

Trang 11

khác, việc công nhận và cho thi hành các quyết định, phán quyết của trọng tàinước ngoài vẫn tuân thủ theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005.

Trang 12

PHẦN 2 : NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Những quy định chung gồm 12 điều Ngoài phạm vi điều chỉnh đượcxác định như trên, chương này có những quy định mang tính nguyên tắc cơ bảndưới đây đối với việc tổ chức và hoạt động của trọng tài

Điều 1 Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về thẩm quyền của Trọng tài thương mại, các hình thức trọng tài,

tổ chức trọng tài, Trọng tài viên; trình tự, thủ tục trọng tài; quyền, nghĩa vụ và tráchnhiệm của các bên trong tố tụng trọng tài; thẩm quyền của Tòa án đối với hoạt độngtrọng tài; tổ chức và hoạt động của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam, thi hànhphán quyết trọng tài

Điều 2 Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài

1 Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại

2 Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thươngmại

3 Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọngtài

Điều 3 Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1 Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận

và được tiến hành theo quy định của Luật này

2 Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài

tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh

3 Các bên tranh chấp là cá nhân, cơ quan, tổ chức Việt Nam hoặc nước ngoài tham

gia tố tụng trọng tài với tư cách nguyên đơn, bị đơn

4 Tranh chấp có yếu tố nước ngoài là tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương

mại, quan hệ pháp luật khác có yếu tố nước ngoài được quy định tại Bộ luật dân sự

5 Trọng tài viên là người được các bên lựa chọn hoặc được Trung tâm trọng tài

hoặc Tòa án chỉ định để giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật này

6 Trọng tài quy chế là hình thức giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài

theo quy định của Luật này và quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài đó

Trang 13

7 Trọng tài vụ việc là hình thức giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật này

và trình tự, thủ tục do các bên thoả thuận

8 Địa điểm giải quyết tranh chấp là nơi Hội đồng trọng tài tiến hành giải quyết

tranh chấp theo sự thỏa thuận lựa chọn của các bên hoặc do Hội đồng trọng tàiquyết định nếu các bên không có thỏa thuận Nếu địa điểm giải quyết tranh chấpđược tiến hành trên lãnh thổ Việt Nam thì phán quyết phải được coi là tuyên tại ViệtNam mà không phụ thuộc vào nơi Hội đồng trọng tài tiến hành phiên họp để raphán quyết đó

9 Quyết định trọng tài là quyết định của Hội đồng trọng tài trong quá trình giải

quyết tranh chấp

10 Phán quyết trọng tài là quyết định của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội

dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài

11 Trọng tài nước ngoài là Trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật

trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành giải quyết tranhchấp ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam

12 Phán quyết của trọng tài nước ngoài là phán quyết do Trọng tài nước ngoài

tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc ở trong lãnh thổ Việt Nam để giải quyết tranhchấp do các bên thỏa thuận lựa chọn

Điều 4 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài

1 Trọng tài viên phải tôn trọng thoả thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không viphạm điều cấm và trái đạo đức xã hội

2 Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của phápluật

3 Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Hội đồng trọng tài cótrách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình

4 Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trườnghợp các bên có thỏa thuận khác

5 Phán quyết trọng tài là chung thẩm

Điều 5 Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài

1 Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài.Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp

2 Trường hợp một bên tham gia thoả thuận trọng tài là cá nhân chết hoặc mất nănglực hành vi, thoả thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với người thừa kế hoặc ngườiđại diện theo pháp luật của người đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác

Trang 14

3 Trường hợp một bên tham gia thỏa thuận trọng tài là tổ chức phải chấm dứt hoạtđộng, bị phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức

tổ chức, thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với tổ chức tiếp nhận quyền vànghĩa vụ của tổ chức đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác

Điều 6 Toà án từ chối thụ lý trong trường hợp có thoả thuận trọng tài

Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởikiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vôhiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được

Điều 7 Xác định Toà án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài

1 Trường hợp các bên đã có thỏa thuận lựa chọn một Tòa án cụ thể thì Tòa án cóthẩm quyền là Tòa án được các bên lựa chọn

2 Trường hợp các bên không có thỏa thuận lựa chọn Tòa án thì thẩm quyền củaTòa án được xác định như sau:

a) Đối với việc chỉ định Trọng tài viên để thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc thìTòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú của bị đơn nếu bị đơn là cá nhân hoặcnơi có trụ sở của bị đơn nếu bị đơn là tổ chức Trường hợp có nhiều bị đơn thì Tòa

án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của một trong các bị đơnđó

Trường hợp bị đơn có nơi cư trú hoặc trụ sở ở nước ngoài thì Tòa án có thẩm quyền

là Tòa án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn;

b) Đối với việc thay đổi Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài vụ việc thì Tòa án cóthẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp;

c) Đối với yêu cầu giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài về thỏathuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, thẩm quyềncủa Hội đồng trọng tài thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài raquyết định;

d) Đối với yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa ánnơi có chứng cứ cần được thu thập;

đ) Đối với yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án có thẩmquyền là Tòa án nơi biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng;

e) Đối với việc triệu tập người làm chứng thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi

cư trú của người làm chứng;

g) Đối với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việcthì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài đã tuyên phán quyếttrọng tài

Trang 15

3 Tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài quy định tại khoản 1 và khoản

2 Điều này là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Điều 8 Xác định Cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài

1 Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài là Cơquan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Hội đồng trọngtài ra phán quyết

2 Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành quyết định áp dụng biện phápkhẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài là Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương nơi biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng

Điều 9 Thương lượng, hoà giải trong tố tụng trọng tài

Trong quá trình tố tụng trọng tài, các bên có quyền tự do thương lượng, thỏa thuậnvới nhau về việc giải quyết tranh chấp hoặc yêu cầu Hội đồng trọng tài hòa giải đểcác bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp

2 Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, tranh chấp mà ít nhất một bên là doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài do cácbên thỏa thuận Trường hợp các bên không có thỏa thuận thì ngôn ngữ sử dụngtrong tố tụng trọng tài do Hội đồng trọng tài quyết định

Điều 11 Địa điểm giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài

1 Các bên có quyền thoả thuận địa điểm giải quyết tranh chấp; trường hợp không

có thoả thuận thì Hội đồng trọng tài quyết định Địa điểm giải quyết tranh chấp cóthể ở trong lãnh thổ Việt Nam hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam

2 Trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác, Hội đồng trọng tài có thể tiến hànhphiên họp tại địa điểm được xem là thích hợp cho việc trao đổi ý kiến giữa cácthành viên của Hội đồng trọng tài, việc lấy lời khai của người làm chứng, tham vấn

ý kiến các chuyên gia hoặc tiến hành việc giám định hàng hoá, tài sản hoặc tài liệukhác

Điều 12 Gửi thông báo và trình tự gửi thông báo

Trang 16

Nếu các bên không có thỏa thuận khác hoặc quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tàikhông quy định khác, cách thức và trình tự gửi thông báo trong tố tụng trọng tàiđược quy định như sau:

1 Các bản giải trình, văn thư giao dịch và tài liệu khác của mỗi bên phải được gửitới Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài với số bản đủ để mỗi thành viêntrong Hội đồng trọng tài có một bản, bên kia một bản và một bản lưu tại Trung tâmtrọng tài;

2 Các thông báo, tài liệu mà Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài gửi chocác bên được gửi đến địa chỉ của các bên hoặc gửi cho đại diện của các bên theođúng địa chỉ do các bên thông báo;

3 Các thông báo, tài liệu có thể được Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tàigửi bằng phương thức giao trực tiếp, thư bảo đảm, thư thường, fax, telex, telegram,thư điện tử hoặc bằng phương thức khác có ghi nhận việc gửi này;

4 Các thông báo, tài liệu do Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài gửi đượccoi là đã nhận được vào ngày mà các bên hoặc đại diện của các bên đã nhận hoặcđược coi là đã nhận nếu thông báo, tài liệu đó đã được gửi phù hợp với quy định tạikhoản 2 Điều này;

5 Thời hạn nhận thông báo, tài liệu được tính kể từ ngày tiếp theo ngày được coi là

đã nhận thông báo, tài liệu Nếu ngày tiếp theo là ngày lễ hoặc ngày nghỉ theo quyđịnh của nước, vùng lãnh thổ nơi mà thông báo, tài liệu đã được nhận thì thời hạnnày bắt đầu được tính từ ngày làm việc đầu tiên tiếp theo Nếu ngày cuối cùng củathời hạn này là ngày lễ hoặc ngày nghỉ theo quy định của nước, vùng lãnh thổ nơi

mà thông báo, tài liệu được nhận thì ngày hết hạn sẽ là cuối ngày làm việc đầu tiêntiếp theo

Điều 13 Mất quyền phản đối

Trong trường hợp một bên phát hiện có vi phạm quy định của Luật này hoặc củathỏa thuận trọng tài mà vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng trọng tài và không phản đốinhững vi phạm trong thời hạn do Luật này quy định thì mất quyền phản đối tạiTrọng tài hoặc Tòa án

Điều 14 Luật áp dụng giải quyết tranh chấp

1 Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng phápluật Việt Nam để giải quyết tranh chấp

2 Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật docác bên lựa chọn; nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồngtrọng tài quyết định áp dụng pháp luật mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất

Ngày đăng: 20/09/2013, 13:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w