ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ --- NGUYỄN HẢI ANH QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ƯU ĐÃI TẠI QUỸ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH -
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN HẢI ANH
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ƯU ĐÃI TẠI QUỸ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ -
NGUYỄN HẢI ANH
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ƯU ĐÃI TẠI QUỸ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN THỊ VÂN ANH
XÁC NHẬN CỦA
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ
CHẤM LUẬN VĂN
Trang 3CAM KẾT
Tôi xin cam đoan bài luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các tài liệu, số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về lời cam đoan của tôi
Hà Nội, ngày tháng 8 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Hải Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau khoảng thời gian học tập tại Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, là một học viên chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, tác giả đã cố gắng tìm hiểu, học hỏi về những vấn đề có liên quan đến chuyên ngành của mình Hiện nay, tác giả đã hoàn thành được bài luận văn, ngoài sự nỗ lực và cố gắng của bản thân, tác giả còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên và hướng dẫn cũng như những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình trong suốt khóa học cao học và trong thời gian nghiên cứu luận văn
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trần Thị Vân Anh, người đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô Khoa Tài chính – Ngân hàng, Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế - Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội về những lời nhận xét vô cùng quý báu để tác giả hoàn thành bài luận văn
Tuy nhiên trong điều kiện có hạn, hạn chế về mặt thời gian và trình độ nên bài luận văn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất định Tác giả rất mong nhận được sự góp ý chân tình của các thầy cô, bạn bè và các cá nhân, tổ chức quan tâm đến luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn!
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
i
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.2 Tổng hợp tình hình cho vay ưu đãi theo lĩnh vực ưu tiên giai
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ
Trang 8MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ……….……… i
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ……… ……….…….ii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ……….……… iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA QUỸ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.1.1 Các công trình đã thực hiện nghiên cứu 4
1.1.2 Những vấn đề còn tồn tại và hướng nghiên cứu 7
1.2 Những vấn đề cơ bản về Quỹ Bảo vệ môi trường 8
1.2.1 Tổ chức tài chính phi ngân hàng 8
1.2.2 Quỹ Bảo vệ môi trường 9
1.3 Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi tại Quỹ Bảo vệ môi trường11 1.3.1 Hoạt động tín dụng 11
1.3.2 Rủi ro tín dụng 14
1.3.3 Quản trị rủi ro tín dụng 21
1.4 Bài học kinh nghiệm về quản trị rủi ro tín dụng 26
1.4.1 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng 26
1.4.2 Bài học cho Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam 31
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 34
2.1 Thiết kế nghiên cứu 34
2.2 Phương pháp nghiên cứu 34
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 34
2.2.2 Phương pháp tính toán số liệu 41
2.2.3 Phương pháp phân tích 41
2.2.4 Mô hình SWOT 42
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ƯU ĐÃI TẠI QUỸ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM 46
3.1 Giới thiệu về Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam 46
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 46
3.1.2 Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý và điều hành 47
Trang 93.2.1 Những quy định về hoạt động cho vay ưu đãi 50
3.2.2 Hoạt động cho vay ưu đãi 51
3.2.3 Thực trạng rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi 56
3.3 Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam 58
3.3.1 Nhận dạng rủi ro tín dụng 58
3.3.2 Đo lường rủi ro tín dụng 59
3.3.3 Quản lý rủi ro tín dụng 61
3.3.4 Kiểm soát rủi ro tín dụng 62
3.4 Đánh giá quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam 63
3.4.1 Những kết quả đạt được 63
3.4.2 Những tồn tại và nguyên nhân 64
CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ƯU ĐÃI TẠI QUỸ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM 69
4.1 Định hướng phát triển của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam 69
4.1.1 Định hướng phát triển chung 69
4.1.2 Định hướng phát triển hoạt động cho vay ưu đãi và quản trị rủi ro tín dụng 70
4.2 Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam71 4.2.1 Hoàn thiện bộ máy quản trị rủi ro tín dụng và khung hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng 72
4.2.2 Hoàn thiện và tuân thủ nghiêm ngặt quy trình cho vay 73
4.2.3 Nâng cao chất lượng thẩm định đối với từng khoản cho vay 77
4.2.4 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát quy trình tín dụng 79
4.2.5 Nâng cao vai trò của công tác kiểm soát nội bộ Quỹ 79
4.2.6 Tăng cường công cụ quản lý và phòng ngừa rủi ro tín dụng 81
4.2.7 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ 82
4.2.8 Một số giải pháp khác 84
4.3 Một số kiến nghị 85
4.3.1 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 85
4.3.2 Kiến nghị với Chính phủ 87
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Phát triển bền vững đi đôi với bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là nguyên tắc trong quá trình phát triển của hầu hết các quốc gia trên thế giới Không nằm ngoài xu thế này, Đại hội lần thứ XI Đảng ta đã xác định rõ “Phát triển kinh
tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; những thành quả đạt được từ phát triển kinh tế - xã hội sẽ phải được dành một phần xứng đáng cho mục tiêu môi trường, cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường”
Việt Nam đang trên đà phát triển và đã thành công trong nhiều lĩnh vực, giữ vững ổn định về chính trị, phát triển kinh tế - xã hội nâng cao đời sống của người dân Cùng với sự phát triển đó, Việt Nam đang trở thành một trong những nước chịu ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; nhiều vùng, nhiều địa phương và khu dân cư đang trở thành các điểm nóng về ô nhiễm môi trường Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng là do các doanh nghiệp thiếu nguồn vốn đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường Vì vậy, nhằm tạo ra những cơ chế mới về hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường trên phạm vi cả nước, ngày 26/6/2002 Thủ tướng Chính phủ đã
ký Quyết định số 82/2002/QĐ-TTg về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam (tên giao dịch tiếng Anh là Vietnam Environment Protection Fund - VEPF) trực thuộc Bộ Khoa học – Công nghệ và Môi trường và được chuyển về trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường khi Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam là Quỹ Bảo vệ môi trường quốc gia, có chức năng cho vay lãi suất ưu đãi, tài trợ, hỗ trợ lãi suất cho các chương trình, dự án, các hoạt động, nhiệm vụ bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu không nằm trong kế hoạch ngân sách trên phạm vi toàn quốc Sự ra đời của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam là một sự kiện lớn trong tiến trình phát
Trang 11triển của công cuộc bảo vệ môi trường ở nước ta Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam
ra đời đã đáp ứng phần nào nguồn vốn cho công tác bảo vệ môi trường Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam trở thành một tổ chức tài chính phi ngân hàng quan trọng trong việc cung cấp vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường
Trong hơn 10 năm hoạt động, Quỹ Bảo vệ môi trường Viêt Nam đã hoạt động rất tốt nhưng không tránh khỏi những khó khăn và thách thức cũng như luôn tiềm ẩn những rủi ro, đặc biệt là rủi ro trong lĩnh vực tín dụng Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi mà vấn đề nợ xấu trở thành điểm nóng trong hoạt động của các ngân hàng Thực tế cho thấy, nhiều Ngân hàng lâu năm, giàu kinh nghiệm nhưng vẫn phải gánh chịu những thiệt hại lớn trong hoạt động tín dụng, vì vậy quản trị rủi
ro tín dụng đang là mối quan tâm hàng đầu của các tổ chức tín dụng Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam là tổ chức tài chính mới còn non trẻ so với nhiều tổ chức tín dụng khác, kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, nên việc học hỏi kinh nghiệm từ các ngân hàng, tránh những hậu quả lớn xảy ra như các ngân hàng là rất cần thiết Xuất
phát từ thực tế trên, đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam” được tác giả lựa chọn nghiên cứu trong
Luận văn thạc sĩ kinh tế
Một số câu hỏi nghiên cứu:
- Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam trong thời gian vừa qua đã đạt được những kết quả gì?
- Những hạn chế trong quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam và nguyên nhân của những hạn chế này là gì?
- Các giải pháp để tăng cường quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam trong thời gian tới như thế nào?
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu: Vận dụng những cơ sở lý luận và thực tiễn về tín dụng
và rủi ro về tín dụng để đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam
Trang 12Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận về tín dụng, rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại Quỹ Bảo vệ môi trường
- Phân tích thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam giai đoạn 2010-2014 Từ đó, đưa ra những hạn chế trong quản trị rủi ro tín dụng và nguyên nhân của những hạn chế này
- Đề xuất một số giải pháp để tăng cường quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Các số liệu nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam được cập nhật từ năm 2010 đến năm 2014
4 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống và khá phổ biến hiện nay trong nghiên cứu khoa học kinh tế là dựa trên cơ sở phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh, sử dụng mô hình phân tích SWOT, …
5 Kết cấu của luận văn:
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng của Quỹ Bảo vệ môi trường
Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam
Chương 4: Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA QUỸ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Các công trình đã thực hiện nghiên cứu
Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học và các luận án, luận văn đề cập đến quản trị rủi ro tín dụng tại các Tổ chức tín dụng Tuy nhiên, qua nghiên cứu tổng thể cho thấy, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại, trong khi quản trị rủi ro tín dụng tại các tổ chức tài chính phi ngân hàng ít được quan tâm nghiên cứu Hơn nữa, quản trị rủi ro tín dụng tại các tổ chức tài chính phi ngân hàng còn nhiều hạn chế, chưa được quan tâm đúng mức như tại các ngân hàng thương mại Vì vậy, tác giả lựa chọn các bài luận án, luận văn về quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại, Công ty tài chính để tìm hiểu và tham khảo
* Luận án Tiến sỹ của Nghiên cứu sinh Nguyễn Tuấn Anh về “Quản trị rủi
ro tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam”, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2012
- Luận án đã đưa ra các dấu hiệu cơ bản để nhận biết rủi ro tín dụng, bao gồm nhóm các dấu hiệu phát hiện và cảnh báo sớm rủi ro và nhóm các yếu tố nhận diện rủi ro, cũng như cách đo lường rủi ro tín dụng
- Luận án đề xuất mô hình đo lường rủi ro, qua đó xây dựng hệ thống chấm điểm và xếp hạng khách hàng theo chuẩn mực quốc tế, đưa ra một hệ thống đầy đủ các tiêu chí định tính và định lượng để đánh giá hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng của các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam
- Luận án đã chỉ ra nhiều hạn chế trong quản trị rủi ro tín dụng của Agribank như: Mô hình quản trị rủi ro còn nhiều lạc hậu; cơ cấu vốn chủ sở hữu thấp; Hệ thống đánh giá chấm điểm khách hàng chưa đánh giá đúng khả năng khách hàng và còn mang tính hình thức; Công tác phân loại nợ chưa thực hiện đầy đủ, việc trích lập dự phòng rủi ro chưa thực sự hoàn hảo
Trang 14- Luận án đã đưa ra khuyến nghị về tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro của Agribank cũng như đề xuất nhấn mạnh Agribank cần phải nhanh chóng thay đổi mô hình quản trị rủi ro tín dụng, thành lập Ủy ban quản trị rủi ro, phân công lại chức năng nhiêm vụ của từng đơn vị, xây dựng hệ thống cảnh báo theo chuẩn quốc tế
* Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Ngọc Lý về “Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng – Chi nhánh Thái Nguyên”, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2012 Luận văn đã đi sâu nghiên cứu những bất cập tồn tại của VPBank – Chi nhánh Thái Nguyên như tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu duy trì ở mức cao Từ đó đưa ra các giải pháp để hạn chế RRTD
Luận văn đã đưa ra một số giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại VPBank – Chi nhánh Thái Nguyên như sau:
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý RRTD: cần phải có sự phối kết hợp đồng bộ giữa các bộ phận trong bộ máy (từ thu thập, xử lý, thẩm định
và ra quyết định phải được tiến hành nhịp nhàng và đảm bảo độ chính xác cao)
- Nâng cao chất lượng thẩm định, kiểm tra giám sát khoản vay: cần thường xuyên kiểm tra, giám sát khoản vay và chú trọng nâng cao trình độ nguồn nhân lực
- Giám sát toàn diện rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ quá hạn
- Tăng cường quản lý danh mục tài sản đảm bảo: quản lý hồ sơ tài sản đảm bảo một cách chặt chẽ, xây dựng hệ thống quản lý và khai thác dữ liệu, …
- Nâng cao chất lượng công tác thông tin phòng ngừa rủi ro tín dụng, sử dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro và phát triển hệ thống công nghệ thông tin
* Luận văn Thạc sỹ của tác giả Trần Hương Lê về “Tăng cường quản trị rủi
ro tín dụng Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam”, Học viện ngân hàng, năm
2013
Tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản trị rủi ro tín dụng, áp dụng các chuẩn mực và thông lệ ngân hàng quốc tế trong quản trị rủi ro Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, tác giả đề xuất một số giải pháp như sau:
Trang 15- Xây dựng chính sách tín dụng hiệu quả, khoa học, thống nhất sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng duy trì về tiêu chuẩn tín dụng, tránh được các rủi ro trong hoạt động tín dụng Việc xác định trước về chính sách sẽ góp phần làm giảm bớt sự thay đổi, đơn giản hóa và tiến hành nhanh các quá trình ra quyết định
- Xây dựng quy trình quản trị rủi ro tín dụng tổng thể và mang tính dài hạn + Tăng cường quản lý rủi ro tín dụng thông qua việc xác định các dấu hiệu nhận biết rủi ro, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm nhằm xử lý kịp thời các khoản vay có vấn đề, hạn chế thấp nhất tổn thất cho ngân hàng
+ Hoàn thiện các công cụ đo lường rủi ro tín dụng, hạn chế rủi ro tín dụng
- Hoàn thiện hệ thống thông tin quản trị rủi ro tín dụng: hệ thống xếp hạng rủi ro doanh nghiệp, đánh giá dựa trên các nguồn thông tin khác nhau và cần đảm bảo sự chính xác của thông tin khi đánh giá
- Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng cho cán bộ quản trị và các bộ tác nghiệp tại Ngân hàng
* Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Quang Huy về “Quản trị rủi ro tín dụng Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam”, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014 Luận văn đã đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng về phương diện thiết lập cơ cấu tổ chức, chỉ tiêu, giới hạn rủi ro tín dụng, …
và đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro như sau:
- Nâng cao công tác kiểm tra và giám sát tín dụng nhằm hỗ trợ cho việc nhận biết rủi ro tín dụng: cần thường xuyên kiểm tra, trong và sau khi cho vay, xây dựng
hệ thống cảnh báo sớm và giám sát tổng thể danh mục tín dụng
- Xây dựng chính sách tín dụng, các quy chế, quy trình hiệu quả: các chính sách và quy trình tín dụng cần phải được lập một cách rõ ràng, thống nhất với thông
lệ và quy định của Nhà nước
- Thực hiện cơ cấu lại danh mục tín dụng và đa dạng hóa khách hàng nhằm phòng ngừa và kiểm soát rủi ro
- Nâng cao công tác phòng ngừa, kiểm soát rủi ro: siết chặt quy định về điều kiện và định giá tài sản bảo đảm, hạn chế nhận tài sản có tính thanh khoản thấp,…
Trang 16* Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Vân về “Quản trị rủi ro tín dụng tại Tổng công ty tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam”, Trường Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011: Luận văn đã hệ thống hóa lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng của Công ty Tài chính, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tại Tổng công ty tài chính dầu khí Việt Nam
Luận văn đã đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tại Tổng công ty tài chính dầu khí Việt Nam như sau:
- Hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro tín dụng, bao gồm: Hoàn thiện cơ cấu tổ chức mô hình quản trị rủi ro tín dụng, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra nội bộ, xây dựng hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro tín dụng, nâng cao trình độ nhân sự
- Hoàn thiện chính sách quản trị rủi ro tín dụng: hoàn thiện hệ thống văn bản điều chỉnh hoạt động tín dụng; đẩy mạnh công tác phân loại, giám sát thu hồi và xử
lý nợ, thực hiện phân tán rủi ro tín dụng; thực hiện đúng quy trình tín dụng và quy trình ngăn ngừa, xử lý rủi ro tín dụng; tăng cường cho vay có tài sản đảm bảo
- Hoàn thiện hệ thống các công cụ quản trị rủi ro tín dụng: hoàn thiện các công cụ đo lường, đánh giá rủi ro tín dụng; giám sát rủi ro tín dụng
1.1.2 Những vấn đề còn tồn tại và hướng nghiên cứu
Thị trường tài chính luôn được xem là xương sống của nền kinh tế, trong đó
hệ thống các tổ chức tín dụng đóng một vai trò quan trọng trong thị trường vốn, các
tổ chức tín dụng vừa đóng vai trò là nguồn cấp tín dụng cho nền kinh tế mà vừa đóng vai trò là nhà đầu tư thúc đẩy nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, vấn đề quản trị rủi ro tín dụng tại các tổ chức tín dụng gần đây được quan tâm rất nhiều và xuất hiện nhiều trong các đề tài thảo luận, đề tài nghiên cứu, nhưng vẫn chưa thấy được hiệu quả như mong muốn Bằng chứng là các năm qua nợ xấu tăng cao ở các
tổ chức tín dụng
Có thể thấy, từ lý luận nghiên cứu khoa học và thực tiễn tư vấn các giải pháp
đi đến vận dụng quản trị rủi ro là cả một quá trình lâu dài Đòi hỏi tốn nhiều chi phí, chất xám, thời gian, đặc biệt là con người và sự hỗ trợ từ những chính sách đúng
Trang 17đắn hợp lý và có tầm nhìn chiến lược của các nhà Lãnh đạo ngân hàng cũng như các nhà Lãnh đạo Nhà nước Cũng như các Ngân hàng, quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam thời gian vừa qua còn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu cán bộ chuyên trách, công tác kiểm soát tín dụng, kiểm soát nội bộ còn yếu, …
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến các vấn đề về rủi ro tín dụng và đưa ra các giải pháp cụ thể cho các NHTM và chưa có công trình nào nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi của Quỹ Bảo
vệ môi trường Việt Nam giai đoạn 2010-2014
Căn cứ vào những thực tế tồn tại nêu trên, Luận văn đi sâu tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về tổ chức tài chính phi ngân hàng, phân tích thực tiễn quản trị rủi
ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam,
từ đó đề ra các giải pháp nhằm tăng cường quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam
1.2 Những vấn đề cơ bản về Quỹ Bảo vệ môi trường
1.2.1 Tổ chức tài chính phi ngân hàng
1.2.1.1 Khái niệm
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng là những trung gian tài chính hoạt động, kinh doanh trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ, được thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn và không cung cấp hệ thống thanh toán
Ngày nay, do nhu cầu mở rộng phạm vi hoạt động, đa dạng hóa các nghiệp
vụ của mỗi tổ chức tài chính trung gian nên khó phân biệt một cách rõ rệt tổ chức tài chính trung gian là NHTM với các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác Sự tách biệt cũng như sự đan xen cạnh tranh lẫn nhau về nghiệp vụ, nội dung và phạm vi hoạt động của các trung gian tài chính có nhiều mặt tích cực, đồng thời lại có những hạn chế nhất định, tác động không tốt tới sự phát triển kinh tế Bởi vậy, tuỳ theo sự phát triển nền kinh tế - xã hội ở mỗi nước, các Chính phủ thường can thiệp vào việc thiết lập các tổ chức tài chính trung gian, quy định giới hạn, nội dung và phạm vi
Trang 18hoạt động của mỗi loại để phát huy cao nhất thế mạnh của mỗi loại trong hệ thống các tổ chức tài chính trung gian
1.2.1.2 Vai trò của các tổ chức tài chính phi ngân hàng
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, góp phần làm đa dạng hóa các dịch vụ, tài chính cho nền kinh tế, đem lại những lợi ích thiết thực tạo cơ hội sinh lời cho các nguồn tiết kiệm nhỏ lẻ thúc đẩy cạnh tranh
Các hoạt động của các tổ chức tài chính phi ngân hàng đem lại các hợp đồng bảo hiểm, các dịch vụ cung cấp thông tin, cho các khách hàng, giúp họ được bảo
vệ tài chính và phân tán rủi ro
1.2.1.3 Sự khác nhau giữa tổ chức tài chính phi ngân hàng và các NHTM
Tổ chức tài chính phi ngân hàng khác với NHTM ở chỗ: tổ chức tài chính phi ngân hàng thì chủ yếu sử dụng vốn chủ sở hữu, không huy động tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn của dân chúng, không nhận tiền gửi của cá nhân, tổ chức với thời hạn ngắn để cho vay và đầu tư Trong khi, NHTM là một định chế tài chính nhận tiền gửi theo mọi yêu cầu của khách hàng và sử dụng tiền đó để cho vay, NHTM được
mở tài khoản thanh toán và thực hiện chức năng thanh toán cho khách hàng Tổ chức tài chính phi ngân hàng không thực hiện các dịch vụ thanh toán và tiền mặt, không sử dụng vốn làm phương tiện thanh toán cho khách hàng Vì vậy, tổ chức tài chính phi ngân hàng không bị NHNN quản lý, giám sát chặt chẽ như NHTM
1.2.2 Quỹ Bảo vệ môi trường
1.2.2.1 Khái niệm
Tại khoản 1 - Điều 115, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định rõ:
“Quỹ Bảo vệ môi trường là tổ chức tài chính được thành lập ở trung ương, ngành, lĩnh vực, địa phương để hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường”
Theo quan điểm về quản lý Nhà nước thì Quỹ Bảo vệ môi trường là một tổ chức tài chính được lập ra để hỗ trợ việc sử dụng và bảo tồn tài nguyên bền vững Tài chính của Quỹ Bảo vệ môi trường được lấy từ nhiều nguồn khác nhau nhau như phí, các khoản bồi thường thiệt hại về môi trường, tiền phạt vi phạm hành chính
Trang 19trong lĩnh vực môi trường,… Cơ chế cấp vốn cho Quỹ môi trường tương đối thống nhất thông qua các hình thức cấp kinh phí cho vay với lãi suất ưu đãi hoặc không lãi suất Ngoài ra còn một số hình thức như Quỹ môi trường hỗ trợ lãi suất sau đầu tư đối với các đơn vị đã vốn vay ngân hàng, cho vay vốn thông qua một ngân hàng trung gian,…
1.2.2.2 Đặc điểm của Quỹ Bảo vệ môi trường
Quỹ Bảo vệ môi trường là một tổ chức tài chính phi ngân hàng với hoạt động chủ yếu là cung cấp vốn cho đầu tư bảo vệ môi trường Điểm khác biệt giữa Quỹ Bảo vệ môi trường và các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác là ở mục đích hoạt động Quỹ Bảo vệ môi trường là một tổ chức tài chính hoạt động không vì mục đích lợi nhuận Quỹ Bảo vệ môi trường hoạt động với mục tiêu là hỗ trợ tài chính một cách có hiệu quả cho các chương trình, dự án, các hoạt động, phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường
Quỹ Bảo vệ môi trường có thể coi là một tổ chức tài chính phi ngân hàng bởi một số điểm khác biệt của Quỹ so với các ngân hàng Quỹ Bảo vệ môi trường có thể huy động vốn dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng không nhận tiền gửi của dân
cư và các tổ chức kinh tế dưới hình thức mở tài khoản; không làm trung gian thanh toán cho khách hàng Với vai trò là một tổ chức tài chính phi ngân hàng, Quỹ Bảo
vệ môi trường trở thành một trung gian tài chính dẫn chuyển vốn từ người có vốn đến những người cần vốn cho đầu tư bảo vệ môi trường
Tóm lại, Quỹ Bảo vệ môi trường là một tổ chức tài chính phi ngân hàng, hoạt động trong lĩnh vực môi trường và không vì mục đích lợi nhuận
1.2.2.3 Hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường
a Nguồn vốn hoạt động
- Ngân sách nhà nước cấp
- Phí, lệ phí và các khoản bồi thường thiệt hại về môi trường
- Lệ phí bán/chuyển CERs từ các dự án CDM tại Việt Nam
- Nhận tài trợ, hỗ trợ, đóng góp tự nguyện, ủy thác đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước dành cho bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu
- Các nguồn vốn hợp pháp khác
Trang 20b Các hoạt động
- Cho vay ưu đãi
- Tài trợ, đồng tài trợ (không hoàn lại)
- Hỗ trợ lãi suất vay vốn sau đầu tư
- Thực hiện chính sách tài chính đối với dự án CDM: Quản lý, thu lệ phí bán/chuyển CERs đối với dự án CDM tại Việt Nam, hỗ trợ hoạt động CDM, trợ giá sản phẩm CDM
- Hỗ trợ giá điện cho dự án điện gió nối lưới
- Hỗ trợ tài chính cho hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu
- Thực hiện các chương trình, dự án và nhiệm vụ khác do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường giao
1.3 Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi tại Quỹ Bảo vệ môi trường
Có thể nhận thấy, tín dụng ra đời và tồn tại từ đòi hỏi khách quan của quá trình tuần hoàn vốn nhằm giải quyết hiện tượng dư thừa, thiếu hụt vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế
Trang 21
tư
- Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả Trong khi thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại vốn, tín dụng đã góp phần làm giảm khối lượng tiền lưu hành trong nền kinh tế, đặc biệt là tiền mặt trong tay các tầng lớp dân cư, làm giảm áp lực lạm phát, nhờ vậy góp phần ổn định tiền tệ
- Tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm, ổn định trật tự xã hội Một mặt, do tín dụng có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản xuất hàng hóa dịch vụ ngày càng nhiều làm thỏa mãn nhu cầu đời sống của người lao động, mặt khác do vốn tín dụng cung ứng đã tạo ra khả năng trong khai thác các tiềm năng sẵn
có trong xã hội về tài nguyên thiên nhiên, về lao động, đất, rừng, …
- Tín dụng mở rộng và phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại và mở rộng giao lưu quốc tế Sự phát triển của tín dụng không những trong phạm vi một nước mà còn mở rộng ra phạm vi quốc tế, nhờ đó thúc đẩy, mở rộng và phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại
1.3.1.3 Hoạt động tín dụng tại Quỹ Bảo vệ môi trường
- Cho vay ưu đãi
Cho vay ưu đãi là một trong các hình thức hỗ trợ tài chính đối với các tổ chức, cá nhân có các dự án đầu tư thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường; dự án đầu tư thực hiện việc phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường mang tính quốc gia, liên ngành, liên vùng hoặc giải quyết các vấn đề môi trường cục bộ nhưng có phạm vi ảnh hưởng lớn trên phạm vi cả nước
Chủ đầu tư có dự án bảo vệ môi trường được Quỹ cho vay phải bảo đảm nguyên tắc sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
Trang 22và hoàn trả vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Đồng thời, dự án của Chủ đầu tư đã hoàn thành thủ tục đầu tư và xây dựng theo quy định của pháp luật về quản lý đầu tư và xây dựng, Chủ đầu tư phải bảo đảm nguồn vốn đối ứng tham gia đầu tư theo đúng tiến độ đã xác định trong hồ sơ đề nghị vay vốn
và thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Quỹ Mức vốn vay
và lãi suất vay của một dự án được quy định đối với từng nhóm đối tượng trong từng thời kỳ
- Hỗ trợ lãi suất vay
Hỗ trợ lãi suất vay là một trong các hình thức hỗ trợ tài chính cho các tổ chức, cá nhân đi vay vốn của các tổ chức tín dụng ngoài Quỹ để thực hiện các chương trình, dự án, hoạt động và nhiệm vụ bảo vệ môi trường mang tính quốc gia, liên ngành, liên vùng hoặc giải quyết các vấn đề môi trường cục bộ nhưng phạm vi ảnh hưởng lớn thuộc các lĩnh vực phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái và sự
cố môi trường
Hình thức hỗ trợ lãi suất vay được áp dụng cho các Chủ đầu tư có dự án được cơ quan quản lý nhà nước về môi trường xác nhận là dự án thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ môi trường hoặc giải quyết các vấn đề môi trường, dự án đã hoàn thành, đưa vào sử dụng, vốn vay đã được hoàn trả Chủ đầu tư chỉ được nhận
hỗ trợ lãi suất vay một (01) lần đối với số vốn vay đầu tư (không bao gồm các khoản nợ quá hạn) trong phạm vi tổng mức đầu tư của dự án
- Tài trợ, đồng tài trợ
Tài trợ và đồng tài trợ là một trong các hình thức hỗ trợ tài chính không hoàn lại cho các tổ chức, cá nhân thực hiện dự án bảo vệ môi trường trong các lĩnh vực sau: Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức môi trường; phổ cập kiến thức bảo
vệ môi trường; Xây dựng, phổ biến và nhân rộng các mô hình cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường; Thiết kế các chương trình, dự án nhằm vận động sự tài trợ của các tổ chức, cá nhân cho bảo vệ môi trường; Đào tạo, chuyển giao công nghệ thân thiện với môi trường, sản xuất sạch hơn, các giải pháp phòng tránh, hạn chế và khắc phục sự cố môi trường
Trang 231.3.2 Rủi ro tín dụng
1.3.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro lâu đời nhất và lớn nhất trên thị trường tài chính, nó thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề đối với hoạt động của tổ chức tín dụng, vì các khoản cho vay thường chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của các tổ chức này Rủi ro tín dụng là một loại rủi ro phức tạp nhất, khó quản lý và phòng ngừa Nó đòi hỏi các tổ chức tín dụng phải có những giải pháp đồng bộ, hữu hiệu mới có thể hạn chế, ngăn ngừa và giảm thiểu tối đa những thiệt hại có thể xảy ra
Theo Ủy ban BASEL thì rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam kết Rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng là sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp đồng, trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả nợ và lãi
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng
do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”
Như vậy, rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong mối quan hệ mà các tổ chức tín dụng là chủ nợ và khách hàng là con nợ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác như: bảo lãnh, tài trợ thương mại, cho vay trên thị trường liên ngân hàng, đồng tài trợ, …
1.3.2.2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng có những đặc điểm cơ bản sau:
- Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: trong quan hệ tín dụng, người cho vay chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn vay hay nói cách
Trang 24khác rủi ro trong hoạt động kinh doanh của người vay là nguyên nhân chủ yếu gây nên rủi ro tín dụng
- Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: đặc điểm này biểu hiện ở
sự đa dạng và phức tạp của nguyên nhân dẫn đến rủi ro, cũng như các hậu quả do rủi ro gây ra Nhận thức và vận dụng đặc điểm này, khi thực hiện phòng ngừa và hạn chế rủi ro cần áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp, không chủ quan với bất cứ một dấu hiệu rủi ro nào Bên cạnh đó trong quá trình xử lý hậu quả rủi ro cần xuất phát
từ nguyên nhân, bản chất và hậu quả của rủi ro để đưa ra biện pháp phù hợp
- Rủi ro tín dụng có tính tất yếu tức luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng: tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho người cho vay không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro
1.3.2.3 Phân loại rủi ro tín dụng
a Phân loại theo nguyên nhân phát sinh rủi ro
- Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch, xét duyệt cho vay và đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn (rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định cho vay), rủi ro bảo đảm (rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, … và rủi ro nghiệp vụ (rủi ro liên quan đến quản lý khoản vay và hoạt động cho vay)
- Rủi ro danh mục: là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của bên cho vay Rủi ro danh mục được phân chia thành rủi ro nội tại (xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinh tế) và rủi ro tập trung (rủi ro do tổ chức tín dụng tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách hàng, một ngành kinh tế, …)
b Phân loại theo tính chất của rủi ro tín dụng
- Rủi ro khách quan: là rủi ro do các nguyên nhân khách quan gây ra như thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, hỏa hoạn, người vay bị chết, mất tích,… dẫn đến
Trang 25thất thoát vốn vay mặc dù người cho vay và người vay đã thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý và sử dụng khoản vay
- Rủi ro chủ quan: là rủi ro thuộc về lỗi của tổ chức tín dụng hoặc bên đi vay
vì vô tình hoặc cố ý gây ra dẫn đến thất thoát vốn vay Đối với rủi ro chủ quan nếu
có những biện pháp hợp lý có thể khắc phục hoặc hạn chế được loại rủi ro này
1.3.2.4 Chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi
Các ngân hàng thương mại thường sử dụng rất nhiều chỉ tiêu để đánh giá rủi
ro tín dụng, bao gồm cả chỉ tiêu định tính và định lượng Đối với hoạt động cho vay
ưu đãi của Quỹ, để đánh giá rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi, Quỹ sử dụng kết quả phân loại nợ và một số chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng như sau:
a Phân loại nợ
Để đo lường rủi ro tín dụng một trong những công việc đầu tiên và quan trọng của các Tổ chức tín dụng là phân loại nợ Hiện nay, việc phân loại nợ của Quỹ thực hiện theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 29/04/2005 của Ngân hàng Nhà nước ban hành qui định về phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 29/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước, cụ thể như sau:
- Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn; các khoản
nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại
- Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu); các khoản nợ khác được phân vào nhóm 2 theo quy định
Trang 26- Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2; các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định
- Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến
360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định
- Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên
360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định
Bên cạnh đó, quy định này cũng nêu rõ, thời gian tối thiểu để thăng hạn nợ (ví dụ từ nhóm 2 lên nhóm 1, ) là 06 tháng đối với các khoản nợ trung dài hạn và
03 tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi của khoản vay bị quá hạn Toàn bộ dư nợ của một khách hàng tại một tổ chức tín dụng phải được phân loại vào cùng một nhóm nợ, ví dụ đối với khách hàng có từ hai (02) khoản nợ trở lên tại TCTD mà có bất cứ một khoản nợ nào bị phân loại nhóm có rủi ro cao hơn các khoản nợ khác thì toàn bộ các khoản nợ còn lại của khách hàng phải được TCTD phân vào nhóm có rủi ro cao nhất đó
b Một số chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng
- Chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu:
+ Nợ quá hạn: là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn mà chưa thu hồi được Chỉ tiêu này phản ánh số dư nợ quá hạn chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ
Trang 27Tuy nhiên, các tỷ lệ này chỉ phản ánh nợ quá hạn tại một thời điểm nhất định
mà chưa phản ánh hết quá trình hoạt động tín dụng
+ Tỷ lệ nợ xấu: phản ánh số dư nợ xấu chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng
dư nợ tại một thời điểm nhất định Tỷ lệ nợ xấu cho biết chất lượng và rủi ro danh mục cho vay Tỷ lệ nợ xấu càng cao thì mức độ rủi ro tín dụng càng lớn, ngược lại tỷ
lệ này càng thấp chứng tỏ chất lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng đã được cải thiện hoặc đã có chính sách xóa các khoản nợ xấu hay thay đổi cách phân loại nợ
- Nhóm chỉ tiêu đo lường rủi ro mất vốn
Để giảm thiểu và hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại khi xảy ra rủi ro, Quỹ đều phải trích lập dự phòng rủi ro, việc trích lập dự phòng rủi ro là một nội dung quan trọng của quản trị rủi ro tín dụng
1.3.2.5 Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi
Hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, những rủi ro này gây hậu quả nghiêm trọng cho hoạt động của tổ chức tài chính cũng như nền kinh tế Vì vậy, nhận diện những nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng là rất cần thiết để có biện pháp phòng ngừa hiệu quả, giảm thiệt hại
Trang 28Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi tại Quỹ như sau:
a Nhân tố xuất phát từ môi trường kinh tế - xã hội
- Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách của Nhà nước: Quỹ vừa là một tổ
chức tài chính, lại vừa hoạt động trong lĩnh vực đặc thù mang tính xã hội cao nên chịu sự chi phối của nhiều văn bản pháp luật thuộc các Bộ, ngành khác nhau Chính
sự phức tạp này cũng gây khó khăn cho hoạt động của Quỹ Việc hoàn thiện hoạt động của Quỹ phải đảm bảo sự thống nhất giữa các văn bản pháp lý của Nhà nước Trong trường hợp mà giữa các văn bản pháp lý còn có sự xung đột thì hoạt động của Quỹ khó có thể hoàn thiện được Vì vậy, hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách của Nhà nước đóng vai trò vô cùng quan trọng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cũng
như định hướng cho hoạt động của Quỹ để đạt được những mục tiêu đã đề ra
- Môi trường kinh tế: Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của
thị trường thế giới là nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như các tổ chức tài chính Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường Điều này dẫn đến hệ quả tất yếu là nợ xấu trong nền kinh tế gia tăng
- Thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh, dịch bệnh: Đây là những rủi ro mà cả
khách hàng và Quỹ đều không lường trước được đối với khoản tín dụng của mình
- Nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường: Vai trò của cộng đồng trong
các hoạt động xã hội ngày càng rõ nét, đặc biệt trong hoạt động bảo vệ môi trường
Để phát huy tối đa vai trò này, nhận thức của cộng đồng về vấn đề bảo vệ môi trường phải được nâng cao thông qua việc cung cấp thông tin và cùng tham gia trong các sự kiện, hoạt động xã hội
b Nhân tố xuất phát từ khách hàng vay vốn
- Sử dụng vốn vay sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay: Khách hàng cố tình lập các chứng từ rút vốn vay giả mạo mà do nhiều lí do Quỹ
Trang 29không phát hiện được, khách hàng sử dụng vốn vay khác với mục đích đã trình bày trong phương án vay vốn
- Năng lực quản lý kinh doanh kém, đầu tư nhiều lĩnh vực vượt quá khả năng quản lý Quy mô kinh doanh phình ra to quá so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế
- Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam
- Khách hàng vay vốn tại nhiều tổ chức tín dụng dưới một danh nghĩa hay nhiều thực thể khác nhau nên thiếu sự phân tích trên tổng thể, khó theo dõi được dòng tiền dẫn đến việc sử dụng vốn vay chồng chéo và mất khả năng thanh toán dây chuyền
c Nhân tố xuất phát từ Quỹ Bảo vệ môi trường
- Bộ máy tổ chức: HĐQL Quỹ hoạt động chưa thật sự hiệu quả, thiếu tính chuyên nghiệp do quản lý theo chế độ kiêm nhiệm: vừa làm công tác quản lý Nhà nước vừa điều hành, quyết định các hoạt động của Quỹ nên thời gian dành cho hoạt động của Quỹ không nhiều đã ảnh hưởng một phần đến hoạt động của Quỹ
- Quy trình tín dụng: Là mô hình hoạt động mới nên các Quỹ chưa xây dựng được một quy trình tín dụng hợp lý và hiệu quả dẫn tới ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động tín dụng của Quỹ
- Cán bộ tín dụng không tuân thủ chính sách tín dụng, không chấp hành đúng quy trình cho vay Trình độ chuyên môn nghiệp vụ yếu kém: sự yếu kém trong năng lực thi hành nhiệm vụ, được giao nhiệm vụ không cân xứng với năng lực cá nhân
- Thu thập và xử lý thông tin: Quỹ không có đủ thông tin về các số liệu thống
kê, chỉ tiêu để phân tích và đánh giá khách hàng,… dẫn đến việc xác định sai hiệu quả của phương án xin vay hoặc xác định thời hạn cho vay và trả nợ không phù hợp với phương án kinh doanh của khách hàng
Trang 30- Kiểm tra, kiểm soát tín dụng: Sự lơi lỏng trong quá trình giám sát trong và sau khi cho vay nên không phát hiện kịp thời các sai sót trong quá trình thực hiện
- Quỹ thiếu một bộ phận chuyên trách theo dõi, quản lý rủi ro, quản lý hạn mức tín dụng tối đa cho từng khách hàng thuộc từng ngành nghề, lĩnh vực cho vay khác nhau để phân tán rủi ro và các dự báo cần thiết trong từng thời kỳ
1.3.3 Quản trị rủi ro tín dụng
1.3.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản trị và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững Đồng thời, phải tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế đến mức tối đa các rủi ro tín dụng phát sinh và giảm thấp nợ xấu, nợ quá hạn trong kinh doanh tín dụng, từ đó tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng
1.3.3.2 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng
- Quản lý khách hàng vay vốn: Các tổ chức tín dụng sử dụng cơ chế sàng lọc
để chọn lựa khách hàng tốt cho vay, các tiêu chí thường được sử dụng để đánh giá khách hàng bao gồm: tiêu chí tài chính và tiêu chí phi tài chính
Tiêu chí tài chính thể hiện năng lực tài chính của khách hàng thông qua đánh giá nhóm chỉ tiêu tài chính như nhóm chỉ tiêu thanh khoản, hoạt động, cơ cấu vốn, hiệu quả sản xuất kinh doanh, …
Tiêu chí phi tài chính thường đánh giá thông qua mức độ tín nhiệm của khách hàng, trình độ quản lý, môi trường nội bộ doanh nghiệp
Quản lý khách hàng là một nội dung đầu tiên của quản lý rủi ro, đây là cơ sở
để tổ chức tín dụng có thể nhận diện được rủi ro thông qua việc đánh giá, phân loại khách hàng
- Quản lý danh mục cho vay
Rủi ro là yếu tố song hành trong hoạt động tín dụng, do đó các tổ chức tín dụng luôn xây dựng những chính sách hợp lý để kiểm soát rủi ro theo quy định và mức độ cho phép Tổ chức tín dụng tiến hành phân loại các khoản nợ trong hạn, nợ
Trang 31cần đặc biệt lưu ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn Tổ chức tín dụng phải thường xuyên kiểm soát danh mục cho vay, đặc biệt là các khoản
nợ xấu, nợ có vấn đề để có những biện pháp xử lý kịp thời khi có rủi ro xảy ra
- Kiểm soát rủi ro tín dụng
Hoạt động kiểm soát được thực hiện liên tục và xuyên suốt quá trình cho vay giúp cho tổ chức tín dụng có điều kiện theo dõi các khoản cho vay một cách chặt chẽ, đồng thời tăng khả năng cạnh tranh về tín dụng với các ngân hàng khác
1.3.3.3 Chỉ tiêu đánh giá quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi
Có rất nhiều tiêu chí để đánh giá quản trị rủi ro tín dụng nhưng hiện tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam đang sử dụng các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi đã được trình bày ở mục 1.3.2.4 để đánh giá quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi Vì vậy, trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của bài luận văn tác giả cũng sử dụng chỉ tiêu này để đánh giá quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi
1.3.3.4 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi
Khẩu vị rủi ro tín dụng là cơ sở quan trọng để các ngân hàng ban hành các chính sách, quy trình, sản phẩm tín dụng cụ thể hơn cho từng thời kỳ Tùy thuộc vào mục tiêu chiến lược mà ngân hàng đưa ra khẩu vị quản trị rủi ro tín dụng sao cho phù hợp với định hướng về những đối tượng cấp tín dụng Khác với các ngân hàng thương mại, đối tượng cho vay của Quỹ bị giới hạn là các cá nhân/tổ chức thực hiện dự án bảo vệ môi trường nên Quỹ không đưa ra quy định về khẩu vị quản trị rủi ro tín dụng
Quy trình quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ưu đãi của Quỹ bao gồm 4 bước như sau:
Bước 1: Nhận dạng rủi ro
Nhận dạng các dấu hiệu rủi ro là một trong những khâu quan trọng nhất trong quy trình quản trị rủi ro tín dụng Trên cơ sở những dữ liệu thu thập được tiến hành phân tích, so sánh với các tiêu chuẩn, tham khảo dự báo sự phát triển của
Trang 32ngành nghề, xếp loại từng khách hàng để có cảnh báo sớm, nhận diện rủi ro tín dụng tiềm ẩn
Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro trong hoạt động cho vay ưu đãi Hoạt động nhận dạng rủi ro chủ yếu là nhằm phát hiện các thông tin tiềm ẩn về nguồn rủi ro trong hoạt động cho vay ưu đãi, các yếu tố mạo hiểm, hiểm họa, đối tượng rủi ro và các loại tổn thất có thể xảy ra
Nhận dạng rủi ro sẽ được xét trên 2 góc độ:
- Về phía Quỹ: Rủi ro tín dụng được thể hiện qua quy mô tín dụng, cơ cấu tín dụng, nợ quá hạn, nợ xấu và dự phòng rủi ro Do đó, khi các yếu tố này có xu hướng thiên lệch như quy mô tín dụng tăng quá nhanh vượt quá khả năng quản lý của Quỹ, hay là các chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu có dấu hiệu vượt qua ngưỡng cho phép, dự phòng rủi ro được sử dụng hết, Quỹ đứng trước nguy cơ rủi ro
- Về phía khách hàng: khi khách hàng có những dấu hiệu khó có khả năng trả được nợ, tình hình tài chính xấu, nguy cơ rủi ro sẽ xảy ra Lúc đó, Quỹ cần nhận biết được khả năng xảy ra rủi ro để ra quyết định kịp thời
Bước 2: Đo lường rủi ro
Để quản trị rủi ro đạt kết quả tốt việc đánh giá và ước lượng được các loại rủi
ro là rất quan trọng Do vậy, việc đo lường rủi ro tín dụng là một phương pháp cần thiết trong việc nhận diện đánh giá và dự báo tình trạng “sức khỏe” của Quỹ, đồng thời thông qua việc lượng hóa rủi ro tín dụng sẽ giúp cho Quỹ xác định được mức
độ rủi ro và có những giải pháp thích hợp nhằm điều chỉnh rủi ro về mức mà Quỹ có thể chấp nhận được
Trong đo lường rủi ro, các Ngân hàng thương mại thường sử dụng cả mô hình định tính và mô hình định lượng để đo lường rủi ro tín dụng Tuy nhiên, Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam mới chỉ sử dụng mô hình định tính để đo lường rủi ro tín dụng, cụ thể: Mô hình 6C
Với mỗi khoản vay, câu hỏi đầu tiên của bên cho vay là khách hàng có thiện chí trả nợ khi khoản vay đến hạn hay không? Điều này liên quan đến việc nghiên cứu chi tiết “6 khía cạnh – 6C” của khách hàng bao gồm:
Trang 33+ Tư cách của người đi vay (Character): mục đích vay của khách hàng có phù hợp với chính sách tín dụng của bên cho vay, phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của khách hàng hay không, đồng thời xem xét về lịch sử đi vay và trả nợ vay, ngoài ra cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, như từ trung tâm thông tin tín dụng, từ ngân hàng khác, từ các cơ quan thông tin đại chúng
+ Năng lực của người đi vay (Capicity): Bên vay phải có năng lực pháp luật
và năng lực hành vi dân sự, người đại diện bên vay phải là đại diện hợp pháp của doanh nghiệp
+ Thu nhập của người đi vay (Cashflow): xác định nguồn trả nợ và khả năng tạo ra đủ tiền để trả nợ của bên đi vay
+ Đảm bảo tiền vay (Collateral): đây là nguồn thu thứ hai có thể dùng trả nợ vay thay cho khách hàng Để đánh giá, cán bộ tín dụng phải biết người đi vay có sở hữu hợp pháp đối với tài sản hay giá trị đem hỗ trợ khoản vay không? Tiếp đó, xem xét tính thanh khoản, giá trị tài sản thế chấp hoặc năng lực của bên đứng ra bảo lãnh
có tốt không trong trường hợp không thu được nợ
+ Các điều kiện (Conditions): xu hướng hiện hành về ngành nghề của người
đi vay, trạng thái và chu kỳ kinh doanh Các tiêu chí này phải được đánh giá tốt, thì khoản vay được xem là khả thi Bên vay quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng từng thời kỳ Cán bộ tín dụng cần lưu ý khi điều kiện kinh tế thay đổi sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của bên đi vay, ảnh hưởng đến khoản tín dụng ra sao?
+ Kiểm soát (Control): đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của luật pháp, quy chế hoạt động, khả năng khách hàng đáp ứng các tiêu chuẩn của bên cho vay Bên cạnh đó, cán bộ tín dụng cũng phải tính đến khả năng bên cho vay kiểm soát được việc khách hàng sử dụng tiền vay ra sao không?
Bước 3: Quản lý rủi ro
Mục đích của khâu này là giúp cho bộ máy quản trị rủi ro nắm được tình trạng rủi ro của ngân hàng theo thời gian Quản lý, báo cáo là khâu thể hiện rõ nhất chiến lược, cũng như tư tưởng của ngân hàng về vấn đề rủi ro tín dụng
Các công cụ quản trị rủi ro tín dụng:
Trang 34- Quản lý danh mục cho vay:
Quỹ phải thường xuyên phân tích và theo dõi danh mục tín dụng, đặc biệt là các khoản nợ xấu, nợ có vấn đề để có những biện pháp xử lý kịp thời khi có rủi ro xảy ra Trên cơ sở danh mục cho vay, tiến hành phân loại nợ để phân loại các khoản
nợ vào các nhóm nợ trong hạn, nợ cần lưu ý, nợ dưới chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn
- Phân tán rủi ro
Phân tán rủi ro trong hoạt động tín dụng là việc thực hiện cấp tín dụng nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, … nhằm tránh những tổn thất lớn xảy ra cho Quỹ
Các hình thức phân tán rủi ro chủ yếu bao gồm:
+ Không tập trung cấp tín dụng cho một ngành, một lĩnh vực hay một khu vực: Để hạn chế rủi ro không nên tập trung vốn quá nhiều vào một loại hình kinh doanh, một vùng kinh tế Khi lĩnh vực kinh tế mà Quỹ tập trung vốn đầu tư gặp phải những biến động bất lợi thì thiệt hại của Quỹ sẽ là vô cùng lớn
+ Không nên dồn vốn đầu tư vào một hoặc một số khách hàng: Đây là lời khuyến cáo quan trọng trong việc ra quyết định cấp tín dụng của Quỹ
+ Đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng: Đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng có tác dụng phân tán rủi ro theo danh mục tài sản, giảm thiệt hại xảy ra khi có rủi ro đối với một loại tài sản nhất định
- Rà soát và thay đổi chính sách quản lý RRTD của Quỹ theo từng thời kỳ Chính sách quản trị rủi ro tín dụng là cơ sở hình thành nên quy trình tín dụng với những hướng dẫn nghiệp vụ chi tiết, các bước cụ thể trong quá trình cấp tín dụng Chính sách phải vạch ra cho cán bộ tín dụng phương hướng hoạt động và một khung tham chiếu rõ ràng để làm căn cứ xem xét các nhu cầu vay vốn Điều này tạo
sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời
Bước 4: Kiểm soát rủi ro tín dụng
Kiểm soát rủi ro tín dụng là một nội dung của quản trị rủi ro tín dụng, được thực hiện song song với quản trị rủi ro nhằm mục tiêu: phòng, chống và kiểm soát
Trang 35các rủi ro có thể phát sinh trong hoạt động tín dụng; đảm bảo các bộ phận và từng
cá nhân trong Quỹ đều tuân thủ các quy định của pháp luật, tuân thủ và thực hiện các chiến lược, chính sách, quy trình và quyết định của các cấp có thẩm quyền, đảm bảo mục tiêu an toàn và hiệu quả trong hoạt động của Quỹ
Kiểm soát rủi ro tín dụng bao gồm kiểm soát trước khi cho vay, trong khi cho vay và sau khi cho vay
- Kiểm soát trước khi cho vay bao gồm: kiểm soát quá trình thiết lập chính sách, thủ tục, quy trình cho vay; kiểm tra quá trình lập hồ sơ vay vốn và thẩm định, thực hiện đối chiếu với quy định để kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp của hồ sơ vay vốn, kiểm tra tính chính xác của số liệu tính toán,…
- Kiểm tra trong khi cho vay: kiểm soát một lần nữa hợp đồng tín dụng, kiểm tra quá trình giải ngân, giám sát thường xuyên khoản vay
- Kiểm tra sau khi cho vay: kiểm soát việc đôn đốc thu hồi nợ
1.4 Bài học kinh nghiệm về quản trị rủi ro tín dụng
Hiện tại, hoạt động cho vay ưu đãi tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam tương đối giống với hoạt động cho vay tại các tổ chức tín dụng Vì vậy, Quỹ Bảo vệ môi trường có thể tham khảo kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của các NHTM Việt Nam, Công ty Tài chính và một số NHTM trên thế giới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Quỹ
1.4.1 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng
* Đổi mới mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam
Ngành ngân hàng Việt Nam cần có nhiều đổi mới và phát triển để đạt được những chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng Nghiên cứu và ứng dụng có chọn lọc những kinh nghiệm quốc tế trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là con đường ngắn nhất để thực hiện mục tiêu này Nguyên tắc Basel về quản lý nợ xấu có thể xem là một trong những cơ sở nền tảng khi xây dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại Việt Nam để đảm bảo tính an toàn, hiệu quả và phục vụ cho sự phát triển kinh tế
Trang 36Thực tế trong thời gian gần đây, đã có một số thay đổi cơ bản trong cơ cấu tổ chức bộ máy và quy trình cấp tín dụng của một số ngân hàng Việt Nam Giờ đây, một số ngân hàng (Vietcombank, Vietinbank, ) không còn thấy Phòng tín dụng, là
bộ phận trước đây tiếp xúc khách hàng và tiến hành thẩm định hồ sơ vay vốn để xem xét quyết định cho vay Chúng ta sẽ được làm quen với khái niệm là Phòng Quan hệ khách hàng, là đầu mối tiếp xúc và tiếp nhận đầy đủ hồ sơ để các bộ phận chức năng xem xét phê duyệt Những thay đổi cơ bản trong mô hình quản trị rủi ro tín dụng đang được các ngân hàng này áp dụng là:
- Hoàn thiện bộ máy quản trị rủi ro tín dụng từ Hội sở chính đến các chi nhánh với sự phân cấp rõ ràng về mức phán quyết, chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận, đồng thời xây dựng các chính sách quản lý rủi ro tín dụng, chính sách phân bổ tín dụng, chính sách khách hàng, xây dựng danh mục đầu tư,
- Chuyển đổi mô hình quản lý theo chiều ngang sang mô hình theo chiều dọc Theo mô hình này, các nghiệp vụ kinh doanh chính, trong đó có hoạt động cấp tín dụng, được quản lý tại Hội sở chính, các chi nhánh chủ yếu làm chức năng bán hàng
- Phân tách bộ phận tín dụng thành các bộ phận chuyên môn khác nhau như quan hệ khách hàng (tập trung chủ yếu vào hoạt động tiếp thị, tiếp xúc khách hàng, khởi tạo tín dụng), bộ phận quản lý rủi ro tín dụng (thực hiện thẩm định tín dụng độc lập và ra các ý kiến về cấp tín dụng cũng như giám sát quá trình thực hiện các quyết định tín dụng các bộ phận quan hệ khách hàng), bộ phận tác nghiệp (thực hiện lưu trữ hồ sơ, nhập hệ thống máy tính và quản lý khoản vay)
Tóm lại, mô hình quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng trong nước đã thực
hiện sự tách bạch giữa bộ phận tiếp thị và bộ phận thẩm định giúp cho các quyết định cho vay mang tính khách quan hơn, cũng như nhờ sự chuyên môn hóa sâu hơn theo chức năng mà việc thực hiện phân tích và phản biện tín dụng sâu sắc và chính xác hơn, giúp nhận dạng các rủi ro tiềm năng và có các biện pháp phòng ngừa, Thêm vào đó, chính sự giám sát của bộ phận quản lý rủi ro đối với quan hệ khách hàng trong quá trình thực hiện các quyết định cấp tín dụng đã tạo nên cơ chế kiểm
Trang 37tra, giám sát liên tục, song song trong quá trình cho vay, phát hiện và giảm thiểu được rủi ro sau khi cho vay mà cơ chế kiểm tra nội bộ của các ngân hàng hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế
* Thất bại của Tổng công ty Tài chính Dầu khí Việt Nam
Tổng Công ty Tài chính Dầu khí Việt Nam (PVFC) là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tiền thân là Công ty Tài chính Dầu khí, được thành lập từ năm 2000 với phương châm hoạt động “Vì sự phát triển vững mạnh của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN)”
Với sứ mệnh quan trọng là thu xếp nguồn vốn cho PVN, PVFC đã chủ động hợp tác với các tổ chức tín dụng, định chế tài chính lớn trong và ngoài nước; xây dựng và triển khai kế hoạch, thu xếp vốn kịp thời, đáp ứng nhu cầu về vốn cho PVN
và các đơn vị thành viên triển khai các dự án đầu tư đúng tiến độ, bảo đảm yêu cầu tăng trưởng của ngành Dầu khí PVFC cũng đã tham gia với tư cách là đơn vị tư vấn
cổ phần hóa thành công cho các đơn vị lớn trong và ngoài ngành Dầu khí Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động tín dụng và công tác quản lý rủi ro của PVFC còn bộc lộ nhiều hạn chế như sau:
- Công tác thu hồi nợ chưa tốt, nợ quá hạn của năm trước chưa được xử lý, thu hồi được cơ cấu lại và chuyển sang năm sau Với chủ trương ưu tiên, khuyến khích thực hiện cấp tín dụng ưu đãi đối với các khách hàng trong ngành dầu khí nên một số doanh nghiệp trong ngành phát sinh nợ quá hạn nhưng PVFC vẫn tiếp tục cho vay thêm hoặc gia hạn nợ để đơn vị phục hồi sản xuất
- PVFC đã cho vay theo kế hoạch Nhà nước, cho vay theo ủy thác của Chính phủ, cho vay đối với các doanh nghiệp quốc doanh cao với các công trình dài hạn chủ yếu thuộc lĩnh vực xây dựng, giao thông, thủy điện Khi đến hạn trả nợ, các DN này thường không trả được nợ đúng hạn, phải gia hạn thêm hoặc xử lý theo hướng dẫn của Chính phủ như đưa vào danh mục nợ khoanh hay được Nhà nước bù lỗ
- Tỷ lệ nợ xấu của PVFC chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng tăng lên (năm
2012 tỷ lệ nợ xấu khoảng 4,5%, cao hơn so với mức hơn 2% của năm 2011), điều này đồng nghĩa với việc PVFC phải đối mặt với việc rủi ro mất vốn là khá cao
Trang 38- Nguồn lực cán bộ tín dụng còn hạn chế, ít kinh nghiệm Do đó, công tác đánh giá, thẩm định tính khả thi, hiệu quả của các dự án vay vốn trung dài hạn chưa tốt Tài sản đảm bảo nợ vay, phát mại tài sản đảm bảo tiền vay gặp nhiều khó khăn
và làm giảm sút giá trị của tài sản
- PVFC đã tập trung cho vay vào một số khách hàng lớn như Tập đoàn công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) và Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines), vì vậy khi các doanh nghiệp này không trả được nợ sẽ đẩy nợ quá hạn,
nợ xấu của PVFC tăng lên và PVFC vẫn đang tiếp tục làm việc với Vinashin, Vinalines và các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền về phương án xử lý và thu hồi các khoản cho vay này
Đến tháng 8/2012, Chính phủ đã yêu cầu PVN không duy trì PVFC và theo
đó PVFC sẽ thực hiện chuyển đổi thông qua hợp nhất với một NHTM Tháng 9/2013, PVFC và Ngân hàng TMCP Phương Tây đã chính thức sáp nhập thành Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam (PVcom Bank)
* Kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ về sự quản lý lỏng lẻo trong cho vay tín dụng dưới chuẩn
Hệ thống ngân hàng của Mỹ đã có bề dày hoạt động rất hiệu quả, có những ngân hàng lớn trên toàn thế giới và cũng phải đối phó với rất nhiều RRTD trong từng thời kỳ nhất định Tuy nhiên, các ngân hàng đã biết cách hạn chế đến mức tối
đa các rủi ro có thể chấp nhận được bằng những biện pháp hiệu quả, đã tìm kiếm những khoản vay chất lượng cao hơn bằng cách đề ra biện pháp và điều kiện chặt chẽ hơn
Nhưng đến năm 2007, Mỹ đã gặp cuộc khủng hoảng tài chính xuất phát từ sự tập trung thái quá những khoản đầu tư với lãi suất rẻ và điều kiện tín dụng “dưới chuẩn” vào thị trường bất động sản, đồng thời có sự bùng nổ các công cụ phái sinh trên thị trường này, nhằm thu các khoản lợi nhuận cao, từ đó làm mất khả năng thanh toán của các khoản nợ khi thị trường bất động sản đảo chiều, xuống giá, dẫn đến những đổ vỡ nhanh chóng trên thị trường tín dụng Cuộc khủng hoảng đã gây ra những thiệt hại rất nặng nề cho nền kinh tế Mỹ và sau đó lan rộng ra toàn cầu Hậu quả là nước Mỹ có 25 ngân hàng đóng cửa trong năm 2008 và đến quý I/2009 có
Trang 39thêm 21 ngân hàng phải đóng cửa (trong đó có ngân hàng lớn thứ 4 của Mỹ, Lehman Brothers) Bên cạnh đó, việc các ngân hàng Mỹ cho vay cầm cố dưới chuẩn cũng được xem là nguyên nhân gây ra rối loạn trong hệ thống ngân hàng ở
Mỹ
Có thể nhận thấy, không có sự chắc thắng tuyệt đối trong kinh doanh Rủi ro luôn tồn tại nhất là khi hoạt động kinh doanh bất chấp các nguyên tắc thị trường, cũng như các quy định luật pháp hiện hành, khi các nhà đầu tư là những người thiếu năng lực tài chính và kinh nghiệm kinh doanh chuyên nghiệp hoặc chạy theo những
dự án có tính đầu cơ cao, không thuộc lĩnh vực hoạt động sở trường của nhà đầu tư Còn đối với các ngân hàng, họ đã thấy được tầm quan trọng của việc đánh giá mức
độ tín nhiệm của các khoản nợ, đánh giá chuẩn mực tín dụng và vai trò của nhà quản trị trong việc đưa ra các chính sách tín dụng cho từng thời kỳ
* Kinh nghiệm của Ngân hàng Citibank về mô hình tín dụng thương mại Một trong những tập đoàn tài chính có hiệu quả kinh doanh được đánh giá cao trên thế giới là Citigroup, trong đó kết quả hoạt động của Citibank đã tạo nên một nguồn thu lớn cho Citigroup Đây là một tập đoàn hàng đầu không chỉ về quy
mô mà còn là đối thủ có sức mạnh trên thương trường nhờ chính sách quản lý rủi ro của tập đoàn Chủ tịch tập đoàn Citigroup - Walter Wriston đã từng nói lên vai trò quan trọng của hoạt động quản lý rủi ro như sau: toàn bộ cuộc sống trong hoạt động ngân hàng là quản trị rủi ro
Citibank đã xây dựng một khung quản trị rủi ro, trong đó bao gồm các chính sách tín dụng được tuyên bố một cách rõ ràng, quy trình quản lý rủi ro, các công cụ
và nguồn thông tin cần thiết để ra quyết định, về đội ngũ nhân sự có cùng một sự hiểu biết, một ngôn ngữ chung, trách nhiệm về vai trò của họ trong quy trình tín dụng Khi những yếu tố này được hội tụ một cách đầy đủ sẽ tạo ra trong ngân hàng một văn hóa tín dụng hiệu quả
Mô hình tín dụng thương mại được tiêu chuẩn hóa và trải qua 3 giai đoạn của quá trình xét duyệt: gặp gỡ khách hàng, thẩm định, thực hiện giao dịch Ba giai đoạn trong chính sách tín dụng chủ chốt của Citibank bao gồm: hình thành chiến lược và kế hoạch cho vay; tiến hành cho vay khách hàng; đánh giá và báo cáo thực
Trang 40thi Trong các giai đoạn này trách nhiệm của các bộ phận tham gia được thể hiện một cách rất cụ thể, rõ ràng như sau:
Uỷ ban quản lý (Management Committee) thực hiện các nhiệm vụ: thiết lập
mục tiêu hoạt động và tiêu chuẩn danh mục đầu tư đối với ngân hàng; đặt hạn mức tín dụng đối với Uỷ ban chính sách tín dụng
Uỷ ban chính sách tín dụng (Credit Policy Committee) thực hiện các nhiệm
vụ sau: đặt ra hạn mức tín dụng cùng với Uỷ ban quản lý; xây dựng chính sách tín dụng; quản lý và đánh giá danh mục đầu tư và quản trị rủi ro
Bộ phận quản trị rủi ro (Line Management) thực thi các nhiệm vụ: lập ra
chiến lược kinh doanh; nhận định thị trường mục tiêu và mức chấp nhận rủi ro; gặp
gỡ khách hàng và đánh giá rủi ro, xét duyệt dư nợ rủi ro; theo dõi việc hoàn trả và các hồ sơ tín dụng, theo dõi và duy trì giao dịch, giải ngân cho nhà đầu tư: theo dõi các vấn đề phát sinh trong quá trình tín dụng; xúc tiến tiến độ khoản vay
1.4.2 Bài học cho Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam
Qua kinh nghiệm của một số tổ chức tín dụng về quản trị rủi ro tín dụng có thể rút ra một số bài học cho Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam:
- Một doanh nghiệp dù lớn đến đâu, có thâm niên và thành công cũng có thể sụp đổ nếu vi phạm luật chơi, mà cụ thể trong cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ là sự
vi phạm chuẩn cho vay bất động sản và sự dung túng của Chính phủ, …
- Nhà nước có vai trò không thể thiếu được và ngày càng quan trọng trong các cuộc khủng hoảng liên quan đến tài chính – ngân hàng, tuy nhiên sự can thiệp của Nhà nước phải tuân thủ các yêu cầu và lợi ích thị trường, không làm ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm hài hòa các lợi ích
- Xây dựng và hoàn thiện bộ máy quản trị rủi ro tín dụng:
+ Phân rõ quyền hạn và trách nhiệm cho từng thành viên, đảm bảo tính độc lập trong xử lý các khoản vay giữa cán bộ tín dụng, cán bộ quản lý nợ với cán bộ quản lý rủi ro tín dụng, cán bộ thẩm định
+ Xây dựng các chương trình nghiệp vụ, cơ cấu kiểm soát phòng chống rủi
ro, lựa chọn những công cụ kỹ thuật phòng chống rủi ro, xử lý rủi ro và giải quyết hậu quả do rủi ro gây ra một cách nghiêm túc