1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các giải pháp marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty bảo việt hải phòng

106 93 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan tình hình nghiên cứu Việc nghiên cứu các giải pháp marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty, đơn vị và một trong những vấn đề vô cùng quan trọng trong thời

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ iii

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 5

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 5

1.1 Cạnh tranh 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Vai trò và tầm quan trọng của cạnh tranh 8

1.1.3 Các hình thức cạnh tranh 12

1.1.4 Các công cụ cạnh tranh 14

1.1.5 Sức cạnh tranh của sản phẩm 16

1.2 Năng lực cạnh tranh 21

1.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 21

1.2.2 Các cấp độ của năng lực cạnh tranh 24

1.2.3 Các yếu tố tác động khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp 25

1.2.4 Các mô hình và phương pháp để đánh giá năng lực cạnh tranh doanh nghiệp 34

1.2.5 Các phương pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên phương diện lý thuyết 49

1.2.6 Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam 51

CHƯƠNG 2 56

THỰC TRẠNG VỀ VIỆC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP MARKETING TẠI CÔNG TY BẢO VIỆT HẢI PHÒNG 56

Trang 4

2.1 Giới thiệu chung về công ty bảo việt hải phòng 56

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Bảo Việt Hải Phòng 56

2.1.2 Cơ cấu tổ chức Công ty 57

2.2 Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty Bảo Việt Hải Phòng tại Hải Phòng 58

2.2.1 Điểm mạnh ( Strengths) 58

2.2.2 Điểm yếu 65

2.2.3 Cơ hội 67

2.2.4 Thách thức 70

2.2.5 Thực trạng việc thực hiện các biện pháp Marketing tại Công ty Bảo Việt Hải Phòng 78

CHƯƠNG 3 84

BIỆN PHÁP MARKETING NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI BẢO VIỆT HẢI PHÒNG 84

3.1 Quan điểm nâng cao năng lực cạnh tranh của bảo việt Hải Phòng 84

3.2 Những mục tiêu cơ bản và giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của bảo việt Hải Phòng 85

3.2.1 Về phía nhà nước 85

3.2.2 Về phía Công ty Bảo Việt Hải Phòng 91

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Doanh thu phí bảo hiểm của công ty Bảo Việt Hải Phòng từ 2009 -

2013 60 Bảng 2.2: Thị phần của các doanh nghiệp theo một số nghiệp vụ chính 63 Bảng 2.3 : Cơ cấu GDP của Việt Nam 69

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, cạnh tranh không còn là điều mới mẻ đối với các nhà kinh doanh Việt nam, cạnh tranh đã trở thành bạn đồng hành của mỗi doanh nghiệp Người ta không thể tồn tại và phát triển nếu không biết cạnh tranh hoặc cạnh tranh yếu kém

Hoạt động Marketing ra đời từ khi nền kinh tế hàng hoá phát triển Ngày nay, hoạt động Marketing ngày càng trở nên quan trọng và không thể thiếu được đối với mỗi tổ chức kinh doanh và càng cần thiết hơn khi cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên gay gắt và hiếm có cơ hội Một chính sách Marketing đúng đắn, kịp thời sẽ đem lại bao nhiêu lợi ích cho doanh nghiệp

Xem xét mối quan hệ giữa sự phát triển của ngành bảo hiểm trong nước tương quan chung với sự phát triển của toàn nền kinh tế ở nhiều nuớc, nhiều nhà kinh tế học đã khẳng định tác dụng to lớn, cũng như vai trò không thể thiếu của bảo hiểm đối với nền kinh tế Ngoài việc giúp bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất, bảo hiểm còn sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo được nguồn vốn lớn để đầu tư vào các lĩnh vực khác Cũng nhờ bảo hiểm mà ngân sách nhà nước hàng năm có nguồn đóng góp không nhỏ, mọi người có được tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống, công tác đề phòng và hạn chế tổn thất được tăng cường

Thị trường bảo hiểm Việt Nam tuy còn khá non trẻ nhưng với sự tồn tại của gần ba mươi doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thuộc các thành phần kinh tế khác nhau cũng đủ để tạo nên một không khí cạnh tranh khá khốc liệt

Để giữ được vị trí của mình trên thị trường, các doanh nghiệp bảo hiểm đều xây dựng cho mình một phương án cạnh tranh sao cho hợp lý và hiệu quả

Trang 9

Trong quá trình công tác tại Công ty Bảo Việt Hải Phòng, tôi nhận thấy

về lâu dài, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, để tạo lập vị thế trên thị trường và thu hút nhiều khách hàng, các doanh nghiệp bảo hiểm nói chung và tại Hải Phòng nói riêng đều phải hướng tới sự cạnh tranh lành mạnh, vì mục tiêu hiệu quả nhưng không làm tổn hại đến lợi ích khách hàng Đó cũng là lý

do tôi chọn đề tài: “Các giải pháp marketing nhằm nâng cao năng lực

cạnh tranh tại công ty bảo việt hải phòng”

Trong phạm vi của luận văn, tôi xin đề cập tới một số khía cạnh có ảnh hưởng tới việc đề ra chiến lược xúc Marketing, những nội dung cơ bản của chiến lược và áp dụng vào thực tiễn tại Công ty Bảo Việt Hải phòng Sau cùng, tôi xin mạnh dạn đưa ra một vài kiến nghị

Câu hỏi nghiên cứu: giải pháp nào để hoàn thiện marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty Bảo Việt Hải Phòng?

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Việc nghiên cứu các giải pháp marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty, đơn vị và một trong những vấn đề vô cùng quan trọng trong thời kỳ hội nhập Vai trò của marketing trong nền kinh tế thị trường được ví như 1 chân trong 3 chân kiềng của bất kỳ doanh nghiệp nào Marketing sẽ giúp đưa sản phẩm đến gần với thị trường hơn, nâng cao giá trị cảm nhận từ phía người tiêu dùng, và là một công cụ mà bất kỳ một doanh nghiệp nào đều phải dùng để tồn tại và phát triển

Trong ngành xuất bản hiện nay, sự cạnh tranh giữa các nhà xuất bản vô cùng khắc nghiệt bởi sự khác nhau giữa tư duy “quản lý nhà nước” và tư duy

“quản lý tư nhân” Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này là vô cùng cần thiết và

có ý nghĩa lý luận, thực tiễn đối với nhà xuất bản Kim Đồng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nhà xuất bản trong giai đoạn hiện nay

Trang 10

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Hệ thống những lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh trong phạm

vi một công ty

Phân tích hiện trạng và đưa ra một số biện pháp Marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Bảo Việt Hải Phòng

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm của công ty Bảo Việt Hải Phòng

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Toàn bộ những vấn đề có liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại công ty trong khoảng thời gian từ 2008 – 2013

5 Những đóng góp của luận văn

Hệ thống những vấn đề cơ bản về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh

Phân tích sự ảnh hưởng của chiến lược Marketing tới khả năng cạnh tranh của Công ty

Phân tích thực trạng và đưa ra một số giải pháp Marketing nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty Bảo Việt Hải Phòng

6 Những phương pháp nghiên cứu của luận văn

Các phương pháp áp dụng cụ thể là: Các phương pháp mô hình, phân tích hệ thống, phương pháp ngoại suy, phương pháp chuyên gia

Luận văn dựa trên lý thuyết chung về xây dựng chiến lược kinh doanh trong cơ chế thị trường kết hợp phân tích tổng hợp các nghiên cứu thực tế

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Trang 11

Chương 2: Thực trạng về việc thực hiện các giải pháp Marketing tại Công ty Bảo Việt Hải Phòng

Chương 3: Một số giải pháp Marketing để nâng cao khả năng cạnh tranh tại Công ty

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG

ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Cạnh tranh

Tuy cạnh tranh là vấn đề phổ biến và được nghiên cứu từ rất lâu, nhưng cho đến nay trên thế giới vẫn chưa có khái niệm thống nhất về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Do vậy, để đưa ra khái niệm này một cách có căn cứ, cần điểm lại một số lý thuyết về năng lực cạnh tranh trên thế giới và trong nước

1.1.1 Khái niệm

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là hiện tượng phổ biến và có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế ở các quốc gia Việc nghiên cứu hiện tượng cạnh tranh đã từ rất sớm với các các trường phái nổi tiếng như: lý thuyết cạnh tranh cổ điển, lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại

Đối với nền kinh tế thị trường, các khái niệm liên quan tới cạnh tranh còn rất khác nhau

Theo C.Mác “ Cạnh tranh là sự ganh đua gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và trong tiêu thụ để đạt được những lợi nhuận siêu ngạch”, có các quan niệm khác lại cho rằng “ cạnh tranh là sự phấn đấu về chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình sao cho tốt hơn các Doanh nghiệp khác ”

Theo kinh tế chính trị học: “ Cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thử nhằm giành giật thị trường khách hàng cho Doanh nghiệp mình” Để hiểu nhất quán ta có khái niệm sau:

Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các Doanh nghiệp trên thị trường nhằm giành giật được ưu thế hơn về cùng

Trang 13

một loại sản phẩm hàng hoá dịch vụ, về cùng một loại khách hàng so với đối thủ cạnh tranh

Từ khi nước ta thực hiện đường lối mở cửa nền kinh tế, từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước theo định hướng XHCN thì vấn đề cạnh tranh bắt đầu xuất hiện và len lỏi vào từng bước đi của Doanh nghiệp Môi trường hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp lúc này đầy biến động và vấn đề cạnh tranh đã trở nên cấp bách, có thể nói cạnh tranh đã hình thành và bao trùm lên mọi lĩnh vực của cuộc sống, từ tầm vi mô đến vĩ mô, từ một cá nhân đơn lẻ đến tổng thể toàn

xã hội Cạnh tranh vốn là một quy luật tự nhiên và khách quan của nền kinh tế thị trường, nó không phụ thuộc và ý muốn chủ quan của mỗi người, bởi tự do

là nguồn gốc dẫn tới cạnh tranh, cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hoá phát triển Bởi vậy, để giành được các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm buộc các Doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới, tích cực nhạy bén và năng động, phải thường xuyên cải tiến

kỹ thuật, ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ mới, bổ xung xây dựng các

cơ sở hạ tầng, mua sắm thêm trang thiết bị máy móc, loại bỏ những máy móc

đã cũ kỹ và lạc hậu và điều quan trọng là phải có phương pháp tổ chức quản

lý có hiệu quả, đào tạo và đãi ngộ trình độ chuyên môn, tay nghề cho người lao động Cạnh tranh không chỉ kích thích tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất mà còn cải tiến mẫu mã, chủng loại hàng hóa, nâng cáo chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ làm cho sản xuất ngày càng gắn liền với tiêu dùng, phục vụ nhu cầu xã hội được tốt hơn Bên cạnh những mặt tích cực cạnh tranh còn để lại nhiêu hạn chế và tiêu cực, đó là sự phân hoá sản xuất hàng hoá, làm phá sản những Doanh nghiệp kinh doanh gặp nhiều khó khăn do thiếu vốn, cơ sở hạ tầng hạn hẹp, trình độ công nghệ thấp và có thể

Trang 14

quan mang lại như thiên tai, hoả hoạn, hoặc bị rơi vào những hoàn cảnh, điều kiện không thuận lợi

Như vậy, cạnh tranh được hiểu và được khái quát một cách chung nhất

đó là cuộc ganh đua gay gắt giữa các chủ thể đang hoạt động trên thị trường với nhau, kinh doanh cùng một loại sản phẩm hoặc những sản phẩm tương tự thay thế lẫn nhau nhằm chiếm lĩnh thị phần, tăng doanh số và lợi nhuận

- Cạnh tranh là hiện tượng phổ biến mang tính tất yếu, là một quy luật cơ bản trong nền kinh tế thị trường

- Cạnh tranh có tính chất hai mặt: tác động tích cực và tác động tiêu cực Cạnh tranh là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các chủ thể kinh doanh hoạt động hiệu quả hơn trên cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả vì sự sống còn và phát triển của mình Tuy nhiên, cạnh tranh cũng có nguy cơ dẫn đến cạnh tranh, giành giật, khống chế lẫn nhau… tạo nguy cơ gây rối loạn và thậm chí đổ vỡ lớn

- Trong điều kiện hiện nay, cạnh tranh chuyển từ quan điểm đối kháng sang cạnh tranh trên cơ sở hợp tác, cạnh tranh không phải là khi nào cũng đồng nghĩa với việc tiêu diệt lẫn nhau, triệt hạ nhau Trên thực tế, các thủ pháp cạnh tranh hiện đại dựa trên cơ sở cạnh tranh bằng chất lượng, mẫu mã, giá cả và các dịch vụ hỗ trợ Bởi lẽ, khi mà các đối thủ cạnh tranh quá nhiều thì việc tiêu diệt các đối thủ khác là vấn đề không đơn giản

- Tập hợp những quan điểm trên xin đưa ra một khái niệm về cạnh tranh trong kinh tế, đặc biệt là cạnh tranh giữa doanh nghiệp:

“ Trong hoạt động kinh tế, cạnh tranh luôn liên quan đến quyền sở hữu Nói cách khác, sở hữu là điều kiện để cạnh tranh kinh tế diễn ra “Cạnh tranh” là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (giữa các quốc gia, doanh nghiệp) trên cơ sở sử dụng hiệu quả các nguồn lực kinh tế kết hợp áp dụng khoa học công nghệ trong sản xuất cũng như dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu

Trang 15

khách hàng bằng sản phẩm chất lượng và giá cả hợp lý và “cạnh tranh” cũng tạo ra sự sai biệt giữa các sản phẩm cùng loại thông qua các giá trị vô hình

mà doanh nghiệp tạo ra Qua đó, doanh nghiệp sẽ giành lấy những vị thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa để tối đa hóa lợi nhuận”

1.1.2 Vai trò và tầm quan trọng của cạnh tranh

Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây phạm trù cạnh tranh hầu như không tồn tại giữa các Doanh nghiệp, tại thời điểm này các Doanh nghiệp hầu như đã được Nhà nước bao cấp hoàn toàn về vốn, chi phí cho mọi hoạt động, kể cả khi các Doanh nghiệp làm ăn thua lỗ thì trách nhiệm này thuộc về Nhà nước Vì vậy, vô hình dung Nhà nước đã tạo ra một lối mòn trong kinh doanh, một thói quen trì trệ và ỉ lại, Doanh nghiệp không phải tự tìm kiếm khách hàng mà chỉ có khách hàng tự tìm tới đến Doanh nghiệp Chính điều đó

đã không tạo được động lực cho Doanh nghiệp phát triển Sau khi kết thúc Đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI ( 1986) nước ta đã chuyển sang một giai đoạn mới, một bước ngoặt lớn, nền kinh té thị trường được hình thành thì vấn

đề cạnh tranh xuất hiện và có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với Doanh nghiệp mà còn đối với người tiêu dùng cũng như nền kinh tế quốc dân nói chung

Đối với nền kinh tế quốc dân

Đối với nền kinh tế, cạnh tranh không chỉ là môi trường và động lực thúc đẩy sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá quan hệ xã hội, cạnh tranh còn là điều kiện giáo dục tính năng động của các Doanh nghiệp Bên cạnh đó cạnh tranh góp phần gợi mở những nhu cầu mới của xã hội thông qua

sự xuất hiện của nhữnh sản phẩm mới Điều đó chứng tỏ đời sống của con người ngày càng được nâng cao về chính trị, về kinh tế và văn hoá Cạnh

Trang 16

động xạ hội ngày càng phát triển sâu và rộng Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích to lớn mà cạnh tranh đem lại thì nó vẫn còn mang lại những mặt hạn chế như cạnh tranh không lành mạnh tạo sự phân hoá giàu nghèo, cạnh tranh không lành mạnh sẽ dấn tới có những mốt làm ăn vi phạm pháp luật như trốn thuế, lậu thuế, làm hàng giả, buôn bán trái phép những mặt hàng mà Nhà nước và pháp luật nghiêm cấm

Đối với Doanh nghiệp

Bất kỳ một Doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh trên trên thị trường thì đều muốn Doanh nghiệp mình tồn tại và đứng vững Để tồn tại và đứng vững các Doanh nghiệp phải có những chiến lược cạnh tranh cụ thể và lâu dài mang tính chiến lược ở cả tầm vi mô và vĩ

mô Họ cạnh tranh để giành những lợi thế về phía mình, cạnh trạnh để giành giật khách hàng, làm cho khách hàng tự tin rằng sản phẩm của Doanh nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp với thì hiếu, như cầu người tiêu dùng nhất Doanh nghiệp nào đáp ứng tốt nhu cầu của khác hàng kịp thời, nhanh chóng và đầy

đủ các sản phẩm cũng như dịch vụ kèm theo với mức giá phù hợp thì Doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại và phát triển Do vậy cạnh tranh là rất quan trọng và cấn thiết

Cạnh tranh đòi hỏi Doanh nghiệp phải phát triển công tác marketing bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường để quyết định sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai ? Nghiên cứu thì trường để Doanh nghiệp xác định được nhu cầu thị trường và chỉ sản xuất ra những gì mà thị trường cần chứ không sản xuất những gì mà Doanh nghiệp có Cạnh tranh buộc các Doanh nghiệp phải đưa ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn, tiện dụng với người tiêu dùng hơn Muốn vậy các Doanh nghiệp phải áp dụng những thành tựư khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh, tăng cường công tác quản lý, nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân, cử cán bộ đi học để nâng

Trang 17

cao trình độ chuyên môn Cạnh tranh thắng lợi sẽ tạo cho Doanh nghiệp một

vị trí xứng đáng trên thị trường tăng thêm uy tín cho Doanh nghiệp Trên cơ

sở đó sẽ có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, tái sản xuất xã hội, tạo đà phát triển mạnh cho nền kinh tế

Đối với Ngành:

Hiện nay, đối với nền kinh tế nói chung và đối với ngành bảo hiểm nói riêng, cạnh tranh đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển nâng cao chất lượng sản phẩm Cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh sẽ tạo bước đà vững chắc cho mọi ngành nghề phát triển Nhất là đối với ngành bảo hiểm- là một ngành tuy không mới nhưng rất tiềm năng Cạnh tranh sẽ tạo bước đà và động lực cho ngành phát triển trên cơ sở khai thác lợi thế và điểm mạnh của ngành đó là thu hút được một nguồn lao động dồi dào và có thể khai thác tối

Nhờ có cạnh tranh, mà sản phẩm sản xuất ra ngày càng được nâng cao

về chất lượng, phong phú về chủng loại, mẫu mã và kích cỡ Giúp cho lợi ích của người tiêu dùng và của Doanh nghiệp thu được ngày càng nhiều hơn Ngày nay, các sản phẩm được sản xuất ra không chỉ để đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn cung cấp và xuất khẩu ra nước ngoài Qua những ý nghĩa trên ta thấy rằng cạnh tranh không thể thiếu sót ở bất cứ một lĩnh vực nào của nền kinh tế Cạnh tranh lành mạnh sẽ thực sự tạo ra những Doanh nghiệp lớn và đồng thời là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển đảm bảo công bằng xã hội, Bởi vậy, cạnh tranh là một yếu tố rất cần có sự hỗ trợ và quản lý của Nhà

Trang 18

nước để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực như cạnh tranh không lành mạnh dẫn tới độc quyền và gây lũng loạn thị trường

Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng

và trong lĩnh vực kinh tế nói chung Cạnh tranh không những có mặt tác động tích cực mà còn có những tác động tiêu cực

Về mặt tích cực:

- Ở tầm vĩ mô, cạnh tranh mang lại: Động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế, giúp đất nước hội nhập tốt kinh tế toàn cầu

- Ở tầm vi mô, đối với một doanh nghiệp cạnh tranh được xem như công

cụ hữu dụng để:

+ Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ trong đó cao hơn để đáp ứng với thị hiếu của người tiêu dùng

+ Người tiêu dùng được hưởng những sản phẩm hay dịch vụ tốt hơn với giá thành hợp lý

Ngoài mặt tích cực, cạnh tranh cũng đem lại những hệ quả không mong muốn về mặt xã hội cũng như kinh tế

Trang 19

1.1.3 Các hình thức cạnh tranh

Cạnh tranh được phân loại theo các hình thức sau:

* Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh: Chia làm 3 loại

- Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Là cuộc cạnh tranh diễn ra

theo quy luật mua rẻ bán đắt, cả hai bên đều muốn tối đa hoá lợi ích của mình Người bán muốn bán với giá cao nhất có thể, còn người mua muốn mua với giá rẻ nhất những chất lượng vẫn không thay đổi Tuy vậy, mức giá vẫn là sự thoả thuận mang lại lợi ích của cả 2 bên

- Cạnh tranh giữa người mua và người mua: là cuộc cạnh tranh trên cơ

sở quy luật cung cầu, khi trên thị trường mức cung nhỏ hơn mức cầu Lúc này hàng hoá trên thị trường sẽ khan hiếm, người mua có để đạt được nhu cầu mong muốn của mình họ sẽ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn do vậy mức

độ cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn giữa những người mua, kết quả là giá cả hàng hoá sẽ tăng lên, những người bán sẽ thu được lợi nhuận lớn trong khi những người mua bị thiệt thòi cả về giá và chất lượng, nhưng trong trường hợp này chủ yếu chỉ tồn tại ở nền kinh tế bao cấp và xảy ra khi diễn ra hoạt động bán đấu giá một loại hàng hoá nào đó

- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: đây là cuộc cạnh tranh

gay go và quyết liệt nhất khi mà trong nền kinh tế thị trường sức cung lớn hơn cầu rất nhiều, khách hàng được coi là thượng đế của người bán, là nhân tố có vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của Doanh nghiệp Do vậy, các Doanh nghiệp phải luôn ganh đua, loại trừ nhau để giành giật những

ưu thế và lợi thế cho mình

* Căn cứ theo tính chất và mức độ cạnh tranh: chia làm 4 loại:

- Cạnh tranh hoàn hảo: Là cạnh tranh thuần tuý, là một hình thức đơn

giản của cấu trúc thị trường trong đó người mua và người bán đều không đủ

Trang 20

trường này chỉ có cách thích ứng với mức giá đưa ra vì cung cầu trên thị trường được tự do hình thnàh, giá cả do thị trường quyết định

- Cạnh tranh không hoàn hảo: đây là hình thức cạnh tranh phổ biến trên

thị trường mà ở đó Doanh nghiệp nào có đủ sức mạnh có thể chi phối được giá cả của sản phẩm thông qua hình thức quảng cáo, khuyến mại các dịch vụ trong và sau khi bán hàng Cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh mà phần lớn các sản phẩm không đồng nhất với nhau, mỗi loại sản phẩm mang nhãn hiệu và đặc tính khác nhau dù xem xét chất lượng thì sự khác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể nhưng mức giá mặc định cao hơn rất nhiều Cạnh tranh không hoàn hảo có 2 loại:

+ Cạnh tranh độc quyền: Là cạnh tranh mà ở đó một hoặc một số chủ

thể có ảnh hưởng lớn, có thể ép tất cả các đối tác của mình phải bán hoặc mua sản phẩm của mình với giá cao và những người này có thể làm thay đổi giá thị trường Có hai loại cạnh tranh độc quyền đó là độc quyền bán và độc quyền mua Độc quyền bán là trên thị trường có ít người bán và nhiều người mua Còn độc quyền mua thì ngược lại có nhiều người mua và ít người bán

+ Độc quyền tập đoàn: Hình thức cạnh tranh này tồn tại trong một số

ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một số ít người sản xuất Lúc này cạnh tranh sẽ xẩy ra giữa một số lực lượng nhỏ các Doanh nghiệp Do vậy, mọi Doanh nghiệp phải nhận thức rằng giá cả các sản phẩm của mình không chỉ phụ thuộc vào số lượng mà còn phụ thuộc vào hoạt động của những đối thủ khác trên thị trường

* Căn cứ vào phạm vi kinh tế

-Cạnh tranh nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các Doanh nghiệp

trong cùng một ngành, sản xuất và tiêu dùng cùng một chủng loại sản phẩm Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau, các Doanh nghiệp phải

áp dụng mọi biện pháp để thu được lợi nhuận như cải tiến kỹ thuật, nâng cao

Trang 21

năng suất lao động, giảm chi phí cá biệt của hàng hoá nhằm thu lợi nhuận, siêu ngạch

- Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các ngành kinh tế khác

nhau nhằm tạo ra lợi nhuận cao nhất, là ngành cạnh tranh giữa các Doanh nghiệp hay đồng minh các Doanh nghiệp cùng một ngành với ngành khác

1.1.4 Các công cụ cạnh tranh

Công cụ cạnh tranh của Doanh nghiệp có thể hiểu tập hợp các yếu tố, các

kế hoạch, các chiến lược, các chính sách, các hành động mà Doanh nghiệp sử dụng nhằm vượt lên các đối thủ cạnh tranh và tác động vào khách hàng đẻ thoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng Nghiên cứu các công cụ cạnh tranh cho phép cách Doanh nghiệp lựa chọn những công cụ cạnh tranh phù hợp với tình hình thực tế, với quy mô kinh doanh và thị trường của Doanh nghiệp Từ

đó phát huy được hiệu quả sử dụng công cụ, việc lựa chọn công cụ cạnh tranh

có tính chất linh hoạt và phù hợp không theo một khuân mẫu cứng nhắc nào Dưới đây là một số công cụ cạnh tranh tiêu biểu và quan trọng:

Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm:

Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những thuộc tính của sản phẩm thể hiện mức độ thoả mãn như cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng lợi ích của sản phẩm Nếu như trước kia giá cả được coi là quan trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay nó phải nhường chỗ cho tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm Khi có cùng một loại sản phẩm, chất lượng sản phẩm nào tốt hơn, đáp ứng và thoả mãn được nhu cầu của người tiêu dùng thì họ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn Nhất là trong nền kinh tế thị trường cùng với sự phát triển của sản xuất, thu nhập người lao động ngày càng được nâng cao, họ có đủ điều kiện để thoả mãn như cầu của mình, cái

mà họ cần là chất lượng và lợi ích của sản phẩm mang lại

Trang 22

Để sản phẩm của Doanh nghiệp luôn là sự lựa chọn của khách hàng ở hiện tại và tương lai thì nâng cao chất lượng sản phẩm là điều cần thiết Nâng cao chất lượng sản phẩm là sự thay đổi chất liệu sản phẩm hoặc thay đổi côgng nghệ chế tạo đảm bảo lợi ích và tính an toàn trong quá trình tiêu dùng

và sau khi tiêu dùng Hay nói cách khác nâng cao chất lượng sản phẩm là việc cải tiến sản phẩm có nhiều chủng loại mẫu mã, bền hơn và tốt hơn Điều này làm cho khách hàng cảm nhận lợi ích mà họ thu dường ngày càng tăng lên khi duy trì tiêu dùng sản phẩm của Doanh nghiệp Làm tăng lòng tin cà sự trung thành cẩu khách hàng đối với Doanh nghiệp

Chất lượng sản phẩm được coi là một vấn đề sống còn đối với Doanh nghiệp nhất là đối với Doanh nghiệp Việt Nam khi họ phải đương đầu với các đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài vào Việt Nam Một khi chất lượng hàng hoá dich vụ không được đảm bảo thì có nghĩa là khách hàng đến với Doanh nghiệp ngày càng giảm, Doanh nghiệp sẽ mất khách hàng và thị trường dẫn tới sự suy yêu trong hoạt động kinh doanh kinh doanh Mặt khác chất lượng thể hiện tính quyết định khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp ở chỗ nâng cao chất lượng sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng hàng hoá bán ra, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm

sẽ làm tăng uy tín của Doanh nghiệp, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Doanh nghiệp Do vậy, cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm là một yếu

tố rất quan trọng và cần thiết mà bất cứ một Doanh nghiệp nào cũng đều phải

sử dụng nó

Cạnh tranh bằng giá cả:

Giá cả được hiểu là toàn bộ số tiền mà người mua trả cho người bán về việc cung ứng một số hàng hoá dịch vụ nào đó Thực chất giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hao phí lao động sống và hao phí lao động vật hoá

để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm chịu ảnh hưởng của quy luật cung cầu

Trang 23

Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh giữa các Doanh nghiệp, khách hàng được tôn vinh là “ Thượng đế ” họ có quyền lựa chọn những gì học cho

là tốt nhất, khi có cùng hàng hoá dịch vụ với chất lượng tương đương nhau thì chắc chắn họ sẽ lựa chọn mức giá thấp hơn, để lợi ích học thu được từ sản phẩm là tối ưu nhất Do vậy, cạnh tranh bằng giá cả chính là một công cụ hữu hiệu của Doanh nghiệp và nó thể hiện qua:

Cạnh tranh với một mức giá ngang bằng với giá thị trường: Giúp Doanh

nghiệp đánh giá được khách hàng, nếu Doanh nghiệp tìm ra được biện pháp giảm giá mà chất lượng sản phẩm vẫn được đảm bảo thì khi đó lượng tiêu thụ

sẽ tăng lên, hiệu quả kinh doanh cao và lợi sẽ thu được nhiều

Cạnh tranh với một mức giá thấp hơn giá thị trường: Chính sách này

được áp dụng khi cơ số sản xuất muốn tập trung một lượng hàng hoá lớn, thu hồi vốn và lời nhanh Không ít Doanh nghiệp đã thành công khi áp dụng chính sách

1.1.5 Sức cạnh tranh của sản phẩm

Khái niệm sức cạnh tranh sản phẩm

Theo UNCTAD thuộc liên hợp quốc, thì cho rằng khẳ năng (hay sức cạnh tranh sản phẩm của Doanh nghiệp ) có thể được khảo sát dưới góc độ sau: Nó có thể được định nghĩa là năng lực của một Doanh nghiệp trong việc giữ vững hay tăng thị phần của mình một cách vững chắc

Như vậy, ta có thể định nghĩa sức cạnh tranh sản phẩm như sau: Sức cạnh tranh sản phẩm là năng lực tạo ra duy trì, phát triển thị phần, lợi nhuận thông qua việc giảm thiểu chi phí sản xuất, chất lượng được nâng cao, giá thành hạ Sức cạnh tranh sản phẩm được thể hiện các yếu tố: Giá cả, chất lượng sản phẩm, các dịch vụ kèm theo và các yếu tố khác

Trang 24

Các chỉ tiêu phản ánh sức cạnh tranh sản phẩm:

Khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp được thể hiện thông qua chỉ tiêu cạnh tranh của Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, sức cạnh tranh sản phẩm thì lại thể hiện thông qua một số chỉ tiêu sau:

Chỉ tiêu doanh thu:

Doanh thu là số tiền mà Doanh nghiệp thu được khi bán hàng hoá, dịch

vụ Doanh thu có thể được coi là một chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh sản phẩm, bởi suy cho cùng sức cạnh tranh sản phẩm của Doanh nghiệp là khả năng duy trì và phát triển thêm lợi nhuận mà doanh thu là điều kiện cần

để có lợi nhuận Muốn có cạnh tranh Doanh nghiệp cần xem xét các chỉ số sau:

Tỷ lệ doanh thu của Doanh nghiệp/ doanh thu của đối thủ cạnh tranh

Tỷ lệ doanh thu năm sau / năm trước

Thông qua các tỷ lệ này thì Doanh nghiệp có thể đánh giá được sức cạnh tranh sản phẩm của mình hay không? Sử dụng chỉ tiêu này thì có ưu điểm là đơn giản, dễ tính nhưng cũng khó khăn trong công việc chọn chính xác đối thủ cạnh tranh

Chỉ tiêu chi phí:

HQf = M/F

M: Doanh thu thuần đạt được

F: Chi phí bỏ ra

HQ: Hiệu quả sử dụng chi phí

Chỉ tiêu này phản ánh mức doanh thu đạt được trên một đồng chi phí Đây là một chỉ tiêu thuận, nghĩa là HQf cao thì hiệu quả chi sử dụng chi phí càng cao

Trang 25

Chỉ tiêu lợi nhuận:

Là phần dôi ra của Doanh nghiệp sau khi trừ đi chi phí Lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp, nó không chỉ phản ánh sức cạnh tranh của sản phẩm mà còn

là sức cạnh tranh của Doanh nghiệp Khi xem xét chỉ tiêu này ta chú ý đến tỷ suất lợi nhuận:

HQf = (LN / M )*100

LN: Tổng lợi nhuận đạt được (Lợi nhuận trước thuế )

M: Doanh thu thuần

Chỉ tiêu này phản ánh trong một thời kỳ nhất định, Doanh nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một đồng doanh thu bán hàng Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả kinh tế của Doanh nghiệp càng cao

Chỉ tiêu thị phần:

Đó là phần thị trường mà Doanh nghiệp chiếm giữ trong tổng dung lượng thị trường Thị phần đã trở thành một tiêu thức đánh giá sức cạnh tranh sản phẩm của Doanh nghiệp Bởi thực chất khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp là khả năng duy trì và phát triển thị phần Khi đó cần chú ý tới các chỉ tiêu như:

Tỷ lệ thị phần của Doanh nghiệp so với toàn bộ dung lượng thị trường Thị phần tương đối: Là tỷ lệ thị phần của công ty so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất

Giá cả:

Một sản phẩm được coi là có sức cạnh tranh nếu sản phẩm được người tiêu dùng chấp nhận với mức giá phù hợp Trong nền kinh tế thị trường, cung luôn lớn hơn cầu thì việc sản phẩm có sức cạnh tranh hay không phụ thuộc vào rất nhiều giá cả của nó Người tiêu dùng luôn luôn có sự so sánh khi đứng trước quyết định lựa chọn sản phẩm tiêu dùng và điều quan trọng sẽ đưa ra

Trang 26

Chất lượng sản phẩm :

Các sản phẩm giống nhau về mức giá nhưng chưa chắc đã có sức cạnh tranh giống nhau Một sản phẩm có sức cạnh tranh khi mà nó vừa đảm bảo mức giá chấp nhận và tương xứng với chất lượng Vì thế đối với Doanh nghiệp thì giá cả và chất lượng được coi là vấn đề sống còn Do đó, các Doanh nghiệp luôn tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm của mình nhằm đưa ra các sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường

* Các yếu tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh sản phẩm

Nhân tố nguồn lực sản xuất sản phẩm:

Các nhân tố thuộc nhóm này bao gồm: nguồn vốn, công nghệ, nhân lực

Nguồn vốn và công nghệ:

Các nhân tố này là nhân tố biến động và ảnh hưởng sâu sắc tới hoạt động của Doanh nghiệp nói chung và khả năng cạnh tranh sản phẩm của Doanh nghiệp nói riêng Với nguồn tài chính lớn, Doanh nghiệp sẽ có được những lợi thế ban đầu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Không một Doanh nghiệp nào lại không muốn sản xuất ra các sản phẩm trên một dây chuyền công nghệ hiện đại để tối ưu hoá sản xuất, nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng Đồng thời dưới sự phát triển nhanh chóng của khoa học

kỹ thuật công nghệ trên thế giới đòi hỏi các Doanh nghiệp không ngừng thu thập thông tin về khẳ năng ứng dụng các công nghệ mới vào sản xuất sản phẩm

Nguồn nhân lực:

Bất kỳ một Doanh nghiệp nào cũng vậy, nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng, đảm bảo sự thành công của mình Nguồn nhân lực trong công ty sẽ được chia làm các cấp khác nhau, với chức năng và nhiệm vụ riêng Cấp quản trị viên cấp cao sẽ tạo ra hướng đi cho sản phẩm thông qua việc đưa ra các

Trang 27

chiến lược phát triển của Doanh nghiệp Cấp thấp hơn sẽ tạo ra khả năng cạnh tranh sản phẩm thông qua việc nghiên cứu và tạo gia những giá trị mới cho sản phẩm nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm Đội ngũ công nhân lao động cũng sẽ tạo ra sức cạnh tranh của sản phẩm thông qua các yếu tố về năng suất lao động, trình độ tay nghề, ý thức trách nhiệm

Nhân tố về việc tổ chức sản xuất gia công sản phẩm:

Có được những nguồn lực tốt là điều kiện tốt cho mọi doanh nghiệp nhưng để thành công thì chưa đủ, sự phối hợp hợp lý, hài hoà trong sản xuất, kinh doanh sẽ tạo ra được lợi thế cho Doanh nghiệp, góp phần đảm bảo sản xuất ra sản phẩm có sức cạnh tranh

Khả năng tổ chức sản xuất, gia công sản phẩm thể hiện thông qua sự phân công, sắp xếp hợp lý các nguồn lực, sự kiểm tra đánh giá, nhằm phát hiện những sản phẩm không đảm bảo, tránh thất thoát, lãng phí trong quá trình sản xuất kinh doanh nâng cao sức cạnh tranh trực tiếp cho sản phẩm

Nhân tố thị trường và kênh tiêu thụ:

Sức cạnh tranh sản phẩm sẽ được nâng cao khi mà sản phẩm sản xuất ra luôn đến và được thông tin nhanh chóng tới thị trường nhanh hơn đối thủ cạnh tranh Việc nghiên cứu về thị trường và quyết định đưa ra những chiến lược phân phối hợp lý đối với từng thị trường sẽ đảm bảo sản phẩm của Doanh nghiệp tiếp cận với các thị trường một cách hợp lý Mọi thông tin về sản phẩm sẽ được cung cấp cho khách hàng, từ đó khách hàng sẽ nhanh chóng đưa ra quết định mua sản phẩm của Doanh nghiệp

Nhân tố thuộc về môi trường vĩ mô:

Sẽ là có lợi thế nếu như các tác động của môi trường vĩ mô tác động tích cực tới hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp, sự phù hợp của chính sách luật pháp, sự ổn định của nền kinh tế nước nhà, sẽ tạo điều kiện

Trang 28

cho sự phát triển của công ty và tạo điều kiện nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm của công ty

Nền kinh tế thị trường của một nước phát triển, với các hệ thống quản lý chặt chẽ sẽ tạo điều kiện cho kinh tế thương mại phát triển nhanh chóng, sự quan tâm, lãnh đạo của nhà nước cầm quyền sẽ tạo ra một môi trường ổn định, một nền kinh tế với cơ sở hạ tầng phát triển, sản xuất và lưu thông phát triển Những yếu tố đó sẽ tạo ra một cơ chế hoạt động có hiệu quả cho mọi thành phần kinh tế, cho mọi Doanh nghiệp và tạo ra một môi trường cạnh tranh thông thoáng, có lợi

1.2 Năng lực cạnh tranh

1.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1990 Theo Aldington Report (1985): “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp”

Tuy nhiên, khái niệm năng lực cạnh tranh đến nay vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất Theo Buckley (1988), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần được gắn kết với việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp với 3 yếu tố: các giá trị chủ yếu của doanh nghiệp, mục đích chính của doanh nghiệp và các mục tiêu giúp các doanh nghiệp thực hiện chức năng của mình Điểm lại các tài liệu trong và ngoài nước, có nhiều cách quan niệm về năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Dưới đây là một số cách quan niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đáng chú ý

Trang 29

Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở

rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với các đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp

Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu

trước sự tấn công của doanh nghiệp khác Chẳng hạn, Hội đồng Chính sách năng lực cạnh tranh của Mỹ đưa ra định nghĩa: năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường thế giới… Ủy ban Quốc gia

về hợp tác kinh tế có trích dẫn khái niệm năng lực cạnh tranh theo Từ điển Thuật Ngữ chính sách thương mại (1997), theo đó, năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế” Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính chất định tính, khó có thể định lượng

Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động Theo Tổ

chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế Theo M Porter (1990), năng suất lao động là thước

đo duy nhất về năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp

Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế

cạnh tranh Chẳng hạn, tác giả Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, tác giả Trần Sửu (2005) cũng có ý kiến tương tự: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ

Trang 30

cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững”

Ngoài ra, không ít ý kiến đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với năng lực kinh doanh

Như vậy, cho đến nay quan niệm về năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu thống nhất Để có thể đưa ra quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phù hợp, cần lưu ý những đặc thù khái niệm này như Henricsson và

các cộng sự (2004) chỉ ra: đó là tính đa nghĩa (có nhiều định nghĩa), đa trị (có nhiều cách đo lường), đa cấp (với các cấp độ khác nhau), phụ thuộc, có tính

quan hệ qua lại, tính chất động và là một quá trình Ngoài ra, khi đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, cần lưu ý thêm một số vấn đề sau đây:

Một là, quan niệm năng lực cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện, bối

cảnh và trình độ phát triển trong từng thời kỳ Chẳng hạn, trong nền kinh tế thị trường tự do trước đây, cạnh tranh chủ yếu trong lĩnh vực bán hàng và năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với việc bán được nhiều hàng hóa hơn đối thủ cạnh tranh; trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh trên cơ

sở tối đa hóa số lượng hàng hóa nên năng lực cạnh tranh thể hiện ở thị phần; còn trong điều kiện kinh tế tri thức hiện nay, cạnh tranh đồng nghĩa với mở rộng “không gian sinh tồn”, doanh nghiệp phải cạnh tranh không gian, cạnh tranh thị trường, cạnh tranh tư bản và do vậy quan niệm về năng lực cạnh tranh cũng phải phù hợp với điều kiện mới

Hai là, năng lực cạnh tranh cần thể hiện khả năng đua tranh, tranh giành

giữa các doanh nghiệp không chỉ về năng lực thu hút và sử dụng các yếu tố sản xuất, khả năng tiêu thụ hàng hóa, mà cả khả năng mở rộng không gian sinh tồn của sản phẩm, khả năng sáng tạo sản phẩm mới

Trang 31

Ba là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thể hiện được phương

thức cạnh tranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyền thống và các phương thức hiện đại – không chỉ dựa trên lợi thế so sánh mà dựa vào lợi thế cạnh tranh, dựa vào quy chế

Từ những yêu cầu trên, có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau:

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững

Như vậy, năng lực cạnh tranh không phải là chỉ tiêu đơn nhất mà mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhóm doanh nghiệp (ngành) và từng doanh nghiệp

1.2.2 Các cấp độ của năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh có thể được phân biệt thành bốn cấp độ: Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia, cấp ngành, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của sản phẩm hàng hoá Chúng có mối tương quan mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bị hạn chế khi năng lực cạnh tranh cấp quốc gia và của sản phẩm doanh nghiệp đó đều thấp Vì vậy trước khi đề cập đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, em xin được

đề cập sơ lược đến năng lực cạnh tranh cấp quốc gia và của sản phẩm Còn năng lực cạnh tranh cấp ngành có mối quan hệ và chịu ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh cấp quốc gia và của sản phẩm tương tự như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia

Trong một báo cáo về tính cạnh tranh tổng thể của Diễn đàn kinh tế thế

Trang 32

lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác”

Như vậy, năng lực cạnh tranh cấp quốc gia có thể hiểu là việc xây dựng một môi trường cạnh tranh kinh tế chung, đảm bảo phân bố có hiệu quả các nguồn lực, để đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững Ở Việt Nam năng lực cạnh tranh cấp quốc gia còn thấp đứng thứ 65 trên 80 nước (năm 2002), tăng 5 bậc so với năm 2001 (là 60/75 nước)

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá

Một sản phẩm hàng hoá được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì… hơn hẳn so với những sản phẩm hàng hoá cùng loại Nhưng năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá lại được định đoạt bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Sẽ không

có năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá cao khi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó thấp

Ở đây cũng cần phân biệt năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó là hai phạm trù khác nhau nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau Năng lực cạnh tranh của hàng hoá có được do năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo ra; nhưng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ do năng lực cạnh tranh của hàng hoá quyết định mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của hàng hoá có ảnh hưởng rất lớn và thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.2.3 Các yếu tố tác động khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Cũng như bản thân doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chịu tác động của rất nhiều nhân tố khác nhau Theo mô hình Kim cương của

M Porter có thể thấy, có ít nhất 6 nhóm yếu tố tác động tới năng lực cạnh

Trang 33

tranh của doanh nghiệp, điều kiện cầu (thị trường), điều kiện yếu tố (nguồn lực đầu vào), các ngành cung ứng và liên quan (cạnh tranh ngành), các yếu tố ngẫu nhiên và yếu tố nhà nước Tuy nhiên, có thể chia các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp làm hai nhóm: các yếu tố bên trong doanh nghiệp và các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp

1.2.3.1 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp

Có nhiều yếu tố bên trong doanh nghiệp tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đang sử dụng các chỉ tiêu thuộc 5 nhóm yếu tố bên trong doanh nghiệp trong việc xác định năng lực cạnh tranh gồm: năng lực quản lý (triết lý kinh doanh, sự tin tưởng vào quản

lý nghiệp vụ, sự hiện diện chuỗi giá trị), chất lượng nhân lực (mở rộng đào tạo nhân viên), năng lực marketing (định hướng khách hàng, đổi mới mẫu mã, tăng cường tiếp thị, mở rộng thị trường quốc tế, kiểm soát hoạt động phân phối ở nước ngoài, mở rộng mạng lưới bán lẻ), khả năng đổi mới, năng lực nghiên cứu và phát triển (chỉ tiêu cho nghiên cứu và phát triển)

Theo cách tiếp cận truyền thống, các yếu tố bên trong của doanh nghiệp ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh gồm: năng lực tổ chức quản lý của doanh nghiệp, trình độ công nghệ, năng lực tài chính, trình độ tay nghề của người lao động… Có thể phân bổ thành những nhóm yếu tố bên trong tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau:

- Trình độ, năng lực và phương thức quản lý

Trang 34

a Trình độ và năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp:

b Năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp được coi là yếu tố quyết định

sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói chung cũng như năng lực cạnh tranh doanh nghiệp nói riêng Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp được thể hiện ở các mặt sau:

* Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý

- Trình độ của đội ngũ này không chỉ đơn thuần là trình độ học vấn mà còn thể hiện những kiến thức rộng lớn và phức tạp thuộc rất nhiều lĩnh vực liên quan tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ pháp luật trong nước

và quốc tế, thị trường, ngành hàng, … đến kiến thức về xã hội, nhân văn

a Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp

Thể hiện ở việc sắp xếp, bố trí cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận

- Trình độ, năng lực quản lý của doanh nghiệp còn thể hiện trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh, lập kế hoạch, điều hành tác nghiệp… Điều này có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn và do đó có tác động mạnh tới việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

b Trình độ thiết bị, công nghệ

Thiết bị, công nghệ sản xuất là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Công nghệ phù hợp cho phép rút ngắn thời gian sản xuất, giảm mức tiêu hao năng lượng, tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra lợi thế cạnh tranh đối với sản phẩm của doanh nghiệp Công nghệ còn tác động đến tổ chức sản xuất của doanh nghiệp, nâng cao trình độ cơ khí hóa, tự động hóa của doanh nghiệp

Trang 35

c Trình độ lao động trong doanh nghiệp

Trong doanh nghiệp, lao động vừa là yếu tố đầu vào vừa là lực lượng trực tiếp sử dụng phương tiện, thiết bị để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Lao động còn là lực lượng tham gia tích cực vào quá trình cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa quá trình sản xuất và thậm chí góp sức vào những phát kiến

và sáng chế… Do vậy, trình độ của lực lượng lao động tác động rất lớn đến chất lượng và độ tinh xảo của sản phẩm, ảnh hưởng lớn đến năng suất và chi phí của doanh nghiệp Để nâng cao sức cạnh tranh, doanh nghiệp cần chú trọng bảo đảm cả chất lượng và số lượng lao động, nâng cao tay nghề của người lao động dưới nhiều hình thức, đầu tư kinh phí thỏa đáng, khuyến khích người lao động tham gia vào quá trình quản lý, sáng chế, cải tiến…

d Năng lực tài chính của doanh nghiệp

Năng lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện ở quy mô vốn, khả năng huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, năng lực quản lý tài chính… trong doanh nghiệp Trước hết, năng lực tài chính gắn với vốn – là một yếu tố sản xuất cơ bản và là một đầu vào của doanh nghiệp Do đó, sử dụng vốn có hiệu quả, quay vòng vốn nhanh… có ý nghĩa rất lớn trong việc làm giảm chi phí vốn, giảm giá thành sản phẩm Đồng thời, vốn còn là tiền đề đối với các yếu tố sản xuất khác

Việc huy động vốn kịp thời nhằm đáp ứng vật tư, nguyên liệu, thuê nhân công, mua sắm thiết bị, công nghệ, tổ chức hệ thống bán lẻ… Như vậy, năng lực tài chính phản ánh sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp, là yêu cầu đầu tiên, bắt buộc phải có nếu muốn doanh nghiệp thành công trong kinh doanh

và nâng cao năng lực cạnh tranh

e Năng lực marketing của doanh nghiệp và khả năng xác định lượng cầu

Năng lực marketing của doanh nghiệp là khả năng nắm bắt nhu cầu thị

Trang 36

trong hoạt động marketing Khả năng marketing tác động trực tiếp tới sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, góp phần làm tăng doanh thu, tăng thị phần tiêu thụ sản phẩm, nâng cao vị thế của doanh nghiệp Đây là nhóm nhân tố rất quan trọng tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Vì vậy, điều tra cầu thị trường và dựa trên khả năng sẵn có của doanh nghiệp để lựa chọn lĩnh vực kinh doanh phù hợp, tạo ra sản phẩm có thương hiệu được người sử dụng chấp nhận

Trong điều kiện kinh tế hàng hóa phát triển, văn minh tiêu dùng ngày càng cao, thì người tiêu dùng càng hướng tới tiêu dùng những hàng hóa có thương hiệu uy tín Vì vậy, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm là một tất yếu đối với những doanh nghiệp muốn tồn tại trên thị trường

Mặt khác, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc nhiều khâu như tiêu thụ, khuyến mãi, nghiên cứu thị trường… do đó dịch vụ bán hàng và sau bán hàng đóng vai trò quan trọng đến doanh số tiêu thụ - vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp

f Năng lực nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp

Năng lực nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp là yếu tố tổng hợp gồm nhiều yếu tố cấu thành như nhân lực nghiên cứu, thiết bị, tài chính cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), khả năng đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp Năng lực nghiên cứu và phát triển có vai trò quan trọng trong cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi mẫu mã, nâng cao năng suất, hợp lý hóa sản xuất

g Yếu tố liên quan đến mức độ cạnh tranh lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, vị thế của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh

Vị thế của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp cùng loại khẳng định mức độ cạnh tranh của nó trên thị trường Doanh nghiệp nào lựa chọn lĩnh

Trang 37

vực có mức độ cạnh tranh càng thấp thì càng thuận lợi, vì vậy, hiểu biết thị trường để quyết định kinh doanh ở lĩnh vực có mức độ cạnh tranh thấp là yếu

tố quan trọng dẫn đến sự thành công và mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp Tuy nhiên, trong môi trường cạnh tranh lành mạnh sẽ có tác dụng thúc đẩy doanh nghiệp nhiều hơn là môi trường độc quyền

Vị thế của doanh nghiệp được thể hiện qua thị phần sản phẩm so với sản phẩm cùng loại, uy tín thương hiệu sản phẩm đối với người tiêu dùng, sự hoàn hảo của các dịch vụ và được đo bằng thị phần của các sản phẩm dịch vụ

đó trên thị trường

Ngoài ra, một số yếu tố khác nhau như lợi thế về vị trí địa lý, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp… có ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.2.3.2 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

Có rất nhiều nhân tố bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) dựa trên mô hình Kim cương của M.Porter để đưa ra các yếu tố bên ngoài tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dưới tiêu đề môi trường kinh doanh của doanh nghiệp” với

56 chỉ tiêu cụ thể (các chỉ tiêu này được lượng hóa để xếp hạng cho các quốc gia) thuộc 4 nhóm yếu tố như sau:

Một là, các điều kiện yếu tố đầu vào, gồm 5 phân nhóm: kết cấu hạ tầng

vật chất – kỹ thuật; hạ tầng hành chính, nguồn nhân lực, hạ tầng công nghệ, thị trường tài chính

Hai là, các điều kiện về cầu: sở thích của người mua, tình hình pháp luật

về tiêu dùng, về công nghệ thông tin…

Ba là, các ngành cung ứng và ngành liên quan: chất lượng và số lượng

các nhà cung cấp địa phương, khả năng tại chỗ về nghiên cứu chuyên biệt và

Trang 38

dịch vụ đào tạo, mức độ hợp tác giữa các khu vực kinh tế, khả năng cung cấp tại chỗ các chi tiết và phụ kiện máy móc

Bốn là, bối cảnh đối với chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp, gồm

hai phân nhóm là động lực và cạnh tranh (các rào cản vô hình, sự cạnh tranh của các nhà sản xuất địa phương, hiệu quả của việc chống độc quyền)

Theo logic truyền thống, các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp được chia thành các nhóm sau đây: thị trường, thể chế - chính sách, kết cấu hạ tầng, các ngành hỗ trợ…

a Thị trường

Thị trường là môi trường kinh doanh rất quan trọng đối với doanh nghiệp Thị trường vừa là nơi tiêu thụ sản phẩm, tìm kiếm đầu vào thông qua hoạt động mua – bán hàng hóa dịch vụ đầu ra và các yếu tố đầu vào Thị trường còn đồng thời là công cụ định hướng, hướng dẫn hoạt động của doanh nghiệp, thông qua mức cầu, giá cả, lợi nhuận… để định hướng chiến lược, kế hoạch kinh doanh Như vậy, sự ổn định của thị trường có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp nói chung và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng Để phát huy vai trò của các yếu tố thị trường đối với doanh nghiệp, cần có sự can thiệp của nhà nước vào thị trường nhằm ổn định thị trường (hạn chế những biến động lớn của thị trường), thông qua việc xây dựng và thực hiện tốt, nghiêm pháp luật thương mại, tạo lập môi trường thị trường cạnh tranh tích cực và hiệu quả, chống gian lận thương mại, hạn chế

độc quyền kinh doanh,…

Điều quan trọng là tạo lập môi trường thị trường cạnh tranh tích cực, tăng sức ép đổi mới quản lý, cải tiến quy trình sản xuất, ứng dụng thành tựu khoa học – công nghệ, đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm,… tạo động lực cho doanh nghiệp để vươn lên Cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia nhập thị

Trang 39

trường, tạo ra nhiều nhà cung cấp cũng như nhiều đối tác kinh doanh, nhiều khách hàng cho doanh nghiệp

b Thể chế, chính sách

Thể chế, chính sách là tiền đề quan trọng cho hoạt động của doanh nghiệp Thể chế, chính sách bao gồm pháp luật, chính sách về đầu tư, tài chính, tiền tệ, đất đai, công nghệ, thị trường… nghĩa là các biện pháp điều tiết

cả đầu vào và đầu ra cũng như toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp

Do vậy, đây là nhóm yếu tố rất quan trọng và bao quát rất nhiều vấn đề liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp nói chung và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng

Các thể chế, chính sách đối với doanh nghiệp có thể được đánh giá theo từng chính sách hoặc bằng chỉ tiêu tổng hợp với nhiều cách tiếp cận khác nhau Chẳng hạn, để đánh giá việc thực hiện thể chế, chính sách đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam, Quỹ Châu Á và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tiến hành nghiên cứu đánh giá môi trường kinh doanh với 9 chỉ tiêu thành phần: về đăng ký kinh doanh, chính sách đất đai, tình hình thanh tra – kiểm tra, chính sách phát triển, tính minh bạch, chi phí giao dịch, năng động của chính quyền

c Kết cấu hạ tầng

Kết cấu hạ tầng bao gồm hạ tầng vật chất – kỹ thuật và hạ tầng xã hội, bao gồm hệ thống giao thông, mạng lưới điện, hệ thống thông tin, hệ thống giáo dục – đào tạo… Đây là tiền đề quan trọng, tác động mạnh đến hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến chất lượng và giá cả của sản phẩm Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đã sử dụng tới tiêu chí phản ánh kết cấu hạ tầng trong tổng số 56 tiêu chí đánh giá về môi trường kinh doanh được sử dụng để tính năng lực cạnh tranh quốc gia

Trang 40

Để bảo đảm cho doanh nghiệp hoạt động bình thường và nâng cao năng lực cạnh tranh, cần có hệ thống kết cấu hạ tầng đa dạng, có chất lượng tốt Điều đó đòi hỏi có sự đầu tư đúng mức để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế -

xã hội

d Các ngành công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ

Hoạt động sản xuất kinh doanh với mỗi doanh nghiệp sẽ liên quan tới một chuỗi các ngành khác và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh như: những ngành cung cấp nguyên liệu đầu vào, dịch vụ vận tải, cung cấp điện, cung cấp nước… Nếu sử dụng các dịch vụ với chi phí thấp, chất lượng phục vụ tốt sẽ tạo ra lợi thế cho doanh nghiệp tăng năng lực cạnh tranh, bởi vì mỗi lĩnh vực hoạt động sẽ có cơ hội để thực hiện mức độ chuyên môn hóa cao hơn làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh

Vì vậy, doanh nghiệp rất cần duy trì mối quan hệ hợp tác lâu dài với các ngành có liên quan nhằm tạo ra lợi thế tiềm tàng cho cạnh tranh

Trong nền sản xuất hiện đại, cùng với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt thì sự liên kết, hợp tác cũng phát triển mạnh mẽ Thực tế chỉ ra rằng, khi trình

độ sản xuất càng hiện đại thì sự phụ thuộc lẫn nhau càng lớn

e Trình độ nguồn nhân lực

Trong nền sản xuất hiện đại, đặc biệt là trong xu hướng chuyển sang nền kinh tế tri thức thì chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia hay của một vùng lãnh thổ là yếu tố được quan tâm nhất khi các doanh nghiệp lựa chọn đầu tư Trình độ và các điều kiện về nguồn nhân lực thể hiện ở kỹ năng của nguồn nhân lực, mức lương, hệ thống lương, điều kiện làm việc, sức khỏe và an toàn, đầu tư cho đào tạo, vai trò của công đoàn Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cần chú trọng giáo dục và đào tạo, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các cơ sở đào tạo, các hoạt động đào tạo phát triển thông qua cơ chế, chính sách và các biện pháp khác của Nhà nước

Ngày đăng: 09/03/2020, 19:25

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w