1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chuyên đề ôn thi HS giỏi sử mối liên hệ giữa lịch sử thế giới với lịch sử việt nam từ năm 1919 đến năm 1945 su19

39 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 263,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước đây, các nhà sử học Việt Nam nghiên cứu lịch sử Việt Nam trênnguyên tắc biệt lập, ít liên hệ với khu vực và thế giới, không đặt trong bình diện pháttriển của từng thời kỳ lịch sử,

Trang 1

HỘI CÁC TRƯỜNG CHUYÊN VÙNG DUYÊN HẢI ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

CHUYÊN ĐỀMỐI LIÊN HỆ GIỮA LỊCH SỬ THẾ GIỚI VỚI

LỊCH SỬ VIỆT NAM 1919-1945

Tháng 7 năm 2019

Trang 2

III Vận dụng kiến thức về “Mối liên hệ giữa lịch sử thế giới với lịch sử Việt Nam thời kì 1919 – 1945” để làm bài tập lịch sử ……….26

1.Phương pháp sử dụng kiến thức lịch sử thế giới trong việc học và vận dụng làm bài tập lịch sử có lien hệ đến lịch sử Việt Nam ……… 26

2 Vận dụng kiến thức về “Mối liên hệ giữa lịch sử thế giới với lịch sử Việt Nam

1919 – 1945” để làm bài tập lịch sử ……… 27

C.KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ……… 39

Trang 3

A.PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

"Học lịch sử và khoa học lịch sử luôn có một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, bởi nếu chỉ biết hiện tại mà không biết đến quá khứ bạn sẽ giống như người mù lòa và nếu như chỉ biết quá khứ mà không biết đến hiện tại chẳng khác gì bạn là người chết đuối trên cạn" Đó là lời dẫn đề trong phiên thảo luận khai mạc hội

thảo của Giáo sư Nguyễn Văn Khánh, Hiệu trưởng Trường đại học KHXHNV khẳngđịnh

Thông qua quá trình giao thương, tiếp biến văn hóa, tôn giáo Việt Namtừng bước có sự kết nối với thế giới bên ngoài Tuy nhiên, do những hạn chế về nguồntài liệu, phương pháp tiếp cận, quan niệm mà sự nhìn nhận về mối quan hệ giữa lịch

sử Việt Nam với lịch sử thế giới; vị trí lịch sử Việt Nam trong tiến trình lịch sử thếgiới vẫn chưa có sự thống nhất, đúng đắn, sáng tỏ

Trước đây, các nhà sử học Việt Nam nghiên cứu lịch sử Việt Nam trênnguyên tắc biệt lập, ít liên hệ với khu vực và thế giới, không đặt trong bình diện pháttriển của từng thời kỳ lịch sử, thì nay, trước xu thế toàn cầu hóa, các nhà sử học cầnphải nghiên cứu Việt Nam từ nhiều góc độ, trong những mối tương quan khác nhau;qua đó khẳng định bản thân lịch sử Việt Nam với tư cách một quốc gia dân tộc, luônluôn là một bộ phận của lịch sử thế giới, tồn tại và phát triển trong mối quan hệ giaolưu với các nước trong khu vực và thế giới Và ngược lại cũng cần phải thấy được sựtác động trở lại – cả trực tiếp và gián tiếp của lịch sử thế giới với lịch sử Việt Nam Bổ

sung cho quan điểm trên, GS M.Gin-bớt, Chủ tịch Hội Sử học thế giới, chia sẻ: "Lịch

sử thế giới chính là một quá trình hội nhập, thể hiện rõ nét nhất qua việc con người xích lại gần nhau như thế nào".

Một vấn đề khác cũng nhận được đông đảo sự quan tâm của các nhà sử họctrong và ngoài nước, là làm thế nào để nâng cao hiệu quả và chất lượng giảng dạymôn Lịch sử? Theo GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, để

Trang 4

hội nhập sâu vào khu vực và thế giới, sử học Việt Nam trong nghiên cứu cũng nhưđào tạo cần có sự liên kết, trao đổi thường xuyên về các công trình nghiên cứu khoahọc giữa nhà nghiên cứu lịch sử với người làm công tác truyền dạy sử tại các cơ sởgiáo dục Còn trong vấn đề dạy và học, GS D.Pich-cot, Đại học Nhân dân Trung

Quốc, chia sẻ: "Một mặt, giáo viên không nên áp đặt các em học sinh, sinh viên học thuộc kiến thức mà quan trọng là thách thức người học với các góc nhìn, đánh giá khác nhau, có quan điểm tiếp cận có tư duy; mặt khác, sự chủ động và có ý thức chọn lọc, tăng cường trao đổi thông tin giữa những người học với nhau là yếu tố rất cần thiết Hơn nữa, với sự phát triển nhanh chóng hiện nay của Internet, các công cụ mạng xã hội như facebook, e-mail, youtube quá trình tương tác giữa người dạy và người học sẽ ngày càng trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn" GS Pich-cot cũng nêu bật

vai trò to lớn của thanh niên trong quá trình phát triển của một quốc gia Để hiểu đượclịch sử, trước tiên thanh niên Việt Nam cần phải hiểu đúng và rõ về lịch sử thế giới,

và sự tác động qua lại của lịch sử thế giới với lịch sử đất nước mình; có trách nhiệmtrong việc chia sẻ những hiểu biết đó với nhau và rộng ra là với bạn bè quốc tế Trên

cơ sở trao đổi qua lại này, thế giới sẽ hiểu thêm về Việt Nam cũng như Việt Nam hiểuđược thế giới nhìn nhận mình như thế nào, vị trí của Việt Nam ở đâu trong lịch sử củathế giới

Với cách tiếp cận trong mối tương quan so sánh và liên hệ giữa lịch sử thế

giới và lịch sử Việt Nam, đề tài “Mối liên hệ giữa lịch sử thế giới với lịch sử Việt Nam (1919 – 1945)” mong muốn mở ra triển vọng cho sự nghiên cứu về mối quan

hệ giữa lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc nói chung và thời kì 1919 – 1945 nói riêng,

từ đó vận dụng kiến thức đã học ở phần lịch sử thế giới để tìm hiểu và hiểu hơn lịch

sử dân tộc; Đồng thời nâng cao khả năng hội nhập khu vực và quốc tế trong nghiêncứu lịch sử thế giới để soi dọi với lịch sử Việt Nam cùng thời và xác định được lịch sửViệt Nam trong dòng chảy chung của nhân loại

2 Mục đích của đề tài

Trang 5

Qua đề tài này tác giả mong muốn đóng góp thêm quan điểm và cách tiếp cận

của cá nhân để các thầy - cô đồng nghiệp và các em học sinh thấy rõ mối quan hệ biệnchứng giữa lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc; Lịch sử dân tộc nằm chung trong dòngchảy của lịch sử nhân loại Từ đó chúng ta thấy được tính logic và sự thú vị của lịch

sử, từ đó có cách học và nghiên cứu lịch sử đạt hiệu quả Đồng thời biết vận dụngkiến thức đã học ở phần lịch sử thế giới để lý giải và làm sáng tỏ lịch sử dân tộc

B PHẦN NỘI DUNG

Trang 6

I Những vấn đề lí luận về sử dụng kiến thức lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam khi dạy học lịch sử.

Lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc vốn là hai bộ phận riêng biệt, mỗi phần

có những đặc điểm riêng Tuy nhiên đây là hai bộ phận không tách dời nhau Những

sự kiện lịch sử xảy ra ở mỗi quốc gia ít nhiều cũng ảnh hưởng tới sự phát triển của lịch sử thế giới và những chuyển biến của lịch sử thế giới sẽ tạo nên xu hướng phát triển chung cho các quốc gia

Mối quan hệ tác động qua lại giữa lịch sử thế giới với lịch sử dân tộc là điềukhông ai có thể phủ nhận Vì vậy, nếu chúng ta hiểu rõ được tình hình đang diễn ratrên thế giới thì chúng ta có thể giải thích được các sự kiện đang xảy ra trong nước tacùng thời điểm đó và sẽ dự đoán được một phần tương lai phát triển của mỗi quốc gia,dân tộc mình

Hiểu rõ được tầm quan trọng mối quan hệ qua lại giữa hai bộ phận lịch sử thếgiới và lịch sử dân tộc nên trong các bộ sách giáo khoa lịch sử phổ thông cấp THCS

và THPT, các nhà biên soạn sách đã sắp xếp phần lịch sử thế giới học trước phần lịch

sử Việt Nam Việc biên soạn như vậy nhằm giúp học sinh có cái nhìn tổng quan trướckhi đi tìm hiểu lịch sử dân tộc Đây là các sắp xếp hợp lí và khoa học, có tính chấtđịnh hướng tư duy cho cả giáo viên và học sinh

Tuy nhiên trên thực tế, nhiều học sinh và một số giáo viên vẫn có quan niệmlịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam là hai bộ phận tách biệt Bởi vậy khi dạy họcphần lịch sử thế giới có một số thầy cô dạy qua loa và chỉ chú trọng dạy phần lịch sửdân tộc Vì thế khi học đến lịch sử Việt Nam, các em không hiểu được sự phát triểncủa các sự kiện cũng như không tìm thấy được nguyên nhân sâu xa tác động từ những

sự kiện của lịch sử thế giới đến lịch sử Việt Nam

II Những kiến thức cơ bản lịch sử thế giới có mối quan hệ, ảnh hưởng đến học tập lịch sử Việt Nam và trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông.

Xác định những sự kiện của thế giới có mối quan hệ, tác động đến Việt Nam cùng thời điểm (1919-1945)

Trang 7

1 Giai đoạn 1917 – 1929: điều kiện lịch sử cho khuynh hướng cứu nước mới ở Việt Nam – Khuynh hướng Vô sản

Cách mạng tháng 10 Nga 1917 thành công không chỉ tác động sâu sắc đếnnước Nga mà còn tác động đến thế giới, đặc biệt là những dân tộc đang bị áp bức bóclột cần phải giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, trong đó có Việt Nam Cuộc cáchmạng giải quyết được bốn mâu thuẫn của nước Nga: mâu thuẫn giữa nhân dân với chế

độ phong kiến Nga Hoàng; giữa các dân tộc bị áp bức trên nước Nga với chế độ NgaHoàng; mâu thuẫn giữa Tư sản với Vô sản; mâu thuẫn giữa đế quốc Nga với các đếquốc khác Cuộc cách mạng Nga đã chọc thủng khâu yếu nhất trong sợi dây chuyềncủa Chủ nghĩa đế quốc Là ánh sáng soi đường cho các nước trên con đường giảiphóng dân tộc và giải phóng giai cấp

Cao trào cách mạng 1918 – 1923 ở Âu – Mĩ nổ ra dưới ảnh hưởng của cáchmạng tháng 10 Nga và hậu quả của chiến tranh thế giới I (1914-1918) làm cho chínhphủ Tư sản các nước lâm vào khủng hoảng Nhiều Đảng cộng sản ra đời lãnh đạophong trào đấu tranh: Đảng cộng sản Đức, Đảng cộng sản Pháp, Đảng cộng sản Mĩ Như vậy, khuynh hướng vô sản vượt qua khỏi nước Nga và lan nhanh ra các nước Tưbản

Cao trào giải phóng dân tộc ở Phương Đông do tác động của cách mạngtháng 10 Nga dẫn đến nhiều Đảng cộng sản thành lập: Đảng cộng sản Đảng cộng sảnInđônêxia, Đảng cộng sản Ấn Độ, Đảng cộng sản Trung Quốc Khuynh hướng vôsản truyền bá rộng khắp trên thế giới, có sức sống mãnh liệt vì đã đưa người dân laođộng lên nắm quyền, giải phóng áp bức, xây dựng chế độ mới : độc lập, Dân chủ, tiếnbộ

Quốc tế Cộng sản ra đời năm 1919 có những hoạt động tích cực bênh vực vàbảo vệ quyền lợi cho nhân dân lao động trên thế giới; chỉ cho giai cấp công nhân ởcác nước Tư bản và các dân tộc thuộc địa trên thế giới con đường đấu tranh theo

khuynh hướng vô sản Đặc biệt, Đại hội II (1920) đã thông qua “Luận cương về vấn

đề Dân tộc và thuộc địa” của Lê - nin Đây là lí luận cách mạng đúng đắn và phù hợp

Trang 8

với hoàn cảnh của nhiều nước thuộc địa trên thế giới Nguyễn Ái Quốc đã tiếp xúc vàlựa chọn cho dân tộc Việt Nam con đường cứu nước theo khuynh hướng vô sản - conđường vừa giải phóng dân tộc, vừa giải phóng giai cấp

Cùng với điều kiện khách quan - những sự kiện của lịch sử thế giới thì điềukiện chủ quan - những yếu tố trong nước đã tạo nên khuynh hướng cứu nước mới ởViệt Nam, khuynh hướng Vô sản Đó là, sự bế tắc, khủng hoảng về đường lối cứunước và giai cấp lãnh đạo chưa được lịch sử dân tộc Việt Nam giải quyết Khuynhhướng phong kiến đã bị lịch sử từ chối vì lạc hậu Khuynh hướng dân chủ tư sản đầuthế kỉ XX tuy mới với Việt Nam nhưng đã cũ so với thời đại, không phù hợp với điềukiện lịch sử Việt Nam vì không giải quyết được đồng thời hai nhiệm vụ Dân tộc vàgiai cấp Sự khủng hoảng bế tắc về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo đã đặt racho lịch sử cần phải tìm và lựa chọn một con đường cứu nước mới, khắc phục nhữnghạn chế của các con đường cứu nước trước đó Đúng vào thời điểm lịch sử này, Cáchmạng tháng 10 Nga nổ ra thành công, đưa nước Nga bước sang thời kì mới Cáchmạng Nga được nhiều nước trên thế giới đón nhận và cũng phù hợp với điều kiện lịch

sử nước ta

Sự xuất hiện của cơ sở kinh tế, xã hội mới tạo điều kiện thuận lợi cho khuynhhướng cách mạng Vô sản hoạt động Chính sách khai thác thuộc địa của thực dânPháp làm cho nhiều giai cấp, tầng lớp mới ra đời, phân hóa ngày càng sâu sắc Địachủ có một bộ phận yêu nước, có tinh thần dân tộc (địa chủ vừa và nhỏ) Giai cấpcông nhân tăng nhanh về số lượng (sau chiến tranh thế giới I: 22 vạn người), đã có sựthay đổi trong nhận thức Nông dân chiếm đông đảo nhất, cuộc sống cùng cực, có mốiquan hệ mật thiết với công nhân, là cơ sở cho việc hình thành liên minh công – nông

Tư sản dân tộc bị chèn ép trong kinh doanh nên sẵn sàng chống Pháp Tiểu tư sản tríthức là lực lượng tiên phong, được tiếp thu tư tưởng, thông tin mới từ bên ngoàitruyền vào, trong đó có ảnh hưởng không nhỏ từ Cách mạng tháng 10 Nga

Trang 9

Trong bối cảnh sự bế tắc của khuynh hướng Dân chủ tư sản đầu thế kỉ XX thìkhuynh hướng vô sản được truyền bà vào Việt Nam lúc này có điều kiện thuận lợi đểcác lực lượng xã hội đón nhận.

Nhờ có những lựa chọn đúng đắn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc vàhoạt động trực tiếp của Nguyễn Ái Quốc trong những năm 20 của thế kỉ XX đã gópphần vào thắng lợi của của khuynh hướng vô sản ở Việt Nam đầu năm 1930 Tháng 7năm 1920, đọc được Luận cương của Lê – nin về những vấn đề dân tộc và thuộc địa,Người đã quyết định lựa chọn con đường giải phóng dân tộc cho dân tộc Việt Nam –Con đường đi theo khuynh hướng vô sản Giải phóng dân tộc gắn liền với giải phónggiai cấp; Độc lập dân tộc gắn liền với CHủ Nghĩa xã hội Đánh dấu sự kết thúc khủnghoảng về con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam

Trong những năm 1921 – 1930, Nguyễn Ái Quốc trực tiếp truyền bá lí luậncách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản vào Việt Nam; trựctiếp đào tạo, huấn luyện cán bộ, chuẩn bị cho sự thành lập Đảng cộng sản vào đầunăm 1930 Khi Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập năm 1930 đã chấm dứt thời

kì dài khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo Từ đây cách mạng Việt Namnắm dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng cộng sản Việt Nam theo khuynh hướng vôsản

2 Giai đoạn 1930-1931: những nhân tố kháchquan tác động làm bùng nổ phong trào cách mạng Việt Nam 1930 - 1931

Tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) là nguyên nhân sâu

xa cũng là nguyên nhân trực tiếp làm bùng nổ phong trào cách mạng 1930-1931 Đây

là cuộc khủng hoảng thừa Hàng hóa của các nước tư bản, trong đó có Pháp khôngtiêu thụ được Họ sa thải công nhân, ngừng trệ sản xuất, dẫn đến tình trạng công nhânthất nghiệp, nông dân không có ruộng cày cấy, tư sản bị phá sản, tiểu tư sản trí thứcgặp nhiều khó khăn…

Trang 10

Các nước tư bản đã tìm lối thoát khỏi khủng hoảng bằng việc lựa chọn mộttrong hai con đường: Những nước có nhiều thuộc địa, thị trường, tài nguyên, nhâncông chọn con đường cải cách dân chủ như Mĩ, Anh, Pháp… Những nước ít thuộcđịa, thiếu nhân công, nguyên liệu thì chọn con đường phát xít hóa bộ máy chínhquyền như Đức, Italia, Nhật Bản chuẩn bị chiến tranh đòi chia lại thị trường thế giới.Tình hình quan hệ quốc tế trở nên phức tạp.

Những năm 1929 – 1933, thế giới tư bản lâm vào cuộc khủng hoảng kinh

tế trầm trọng trên quy mô lớn, để lại hậu quả hết sức nặng nề, làm cho những mâuthuẫn trong lòng xã hội tư bản phát triển gay gắt Phong trào đấu tranh của công nhân

và quần chúng lao động dâng cao

Trong khi đó, Liên Xô đang xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, hoànthành công nghiệp hóa và đang tiến hành tập thể hóa nông nghiệp Quảng Châu công

xã (Trung Quốc) thắng lợi

Sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới có ảnh hưởng tích cực đếncách mạng Việt Nam Đây là nguyên nhân quan trọng thúc đẩy phong trào đấu tranhcách mạng ở Việt Nam

Quốc tế cộng sản cũng có những biến động nội bộ, xuất hiện khuynh hướng tảkhuynh, đề cao đấu tranh giai cấp, coi nhẹ vấn đề giải phóng dân tộc vì các nhà lãnhđạo của quốc tế cộng sản ở Châu Âu không chịu ảnh hưởng bị mất độc lập như ở cácnước phương Đông nên không có nhu cầu giải phóng dân tộc Chính điều này đã chiphối đến đồng chí Trần Phú Khi viết Luận cương chính trị (tháng 10 năm 1930)Người đã đề cao nhiệm vụ đấu tranh giai cấp và cách mạng ruộng đất

Trong hoàn cảnh đó, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đúng vào thời điểm cácgiai cấp, tầng lớp trong xã hội chịu những chính sách cai trị,bóa lột của Pháp Dướitác động của khủng hoảng, hiểu được nguyện vọng của quần chúng nhân dân Đảng đãlãnh đạo đấu tranh

Phong trào cách mạng 1930 -1931:

Trang 11

Từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1930 là bước khởi đầu của phong trào với bacuộc bãi công tiêu biểu của 3000 công nhân đồn điền cao su Phú Riềng, 4.000 côngnhân nhà máy sợi Nam Định và 400 công nhân nhà máy Cưa và nhà máy Diêm BếnThuỷ (Nghệ An)

Tháng 5 năm 1930, phong trào phát triển thành cao trào Ngày 1 – 5 – 1930lần đầu tiên nhân dân Việt Nam kỉ niệm ngày Quốc tế Lao động Khắp nơi diễn ra cáchình thức đấu tranh để kỉ niệm như mít tinh, biểu tình, bãi công, bãi khoá, bãi thị, treo

cờ đỏ búa liềm, rải truyền đơn, căng khẩu hiệu… Tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh của

5000 công nhân và nông dân khu vực thành phố Vinh, đòi tăng tiền lương, bớt giờlàm, chống sưu thuế…

Trong nửa sau năm 1930, phong trào tiếp tục nổ ra ở nhiều nơi:

+ Bãi công của công nhân nổ ra ở hầu khắp các cơ sở kinh tế của tư bản Pháp

+ Phong trào nông dân bùng nổ dữ dội chưa từng thấy Ở Bắc Kì có các cuộc biểu tìnhcủa nông dân Tiền Hải (Thái Bình), Duy Tiên (Hà Nam) Ở Trung Kì, có các cuộc đấutranh của nông dân Đức Phổ, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) Ở Nam Kì, có cuộc đấu tranh ở

Bà Chiểu (Sài Gòn – Chợ Lớn)…

+ Ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, phong trào nông dân tiép tục lên cao với nhữngcuộc biểu tình lớn có vũ trang tự vệ, kéo đến huyện lị, tỉnh lị đòi giảm sưu thuế, nhưnông dân các huyện Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng nguyên, Quỳnh Lưu, Thanh Chương,

Đô Lương, Anh Sơn, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kì Anh…

+ Tiêu biểu nhất là cuộc biểu tình ngày 12/9/1930 của nông dân Hưng Nguyên (NghệAn) kéo đến huyện lị, phá nhà lao, đốt huyện đường, vậy lính khố xanh, ủng hộ cuộcbãi công của công nhân Bến Thuỷ

+ Chính quyền thực dân bị tê liệt, tan rã ở nhiều nơi Chính quyền cách mạng đượcthành lập ở nhiều vùng nông thôn thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh

Từ cuối năm 1930, khi chính quyền Xô viết ra đời, thực dân Pháp tập trunglực lượng đàn áp, kết hợp sử dụng bạo lực với những thủ doạn lừa bịp về chính trị

Trang 12

Phong trào cách mạng bị tổn thất nặng nề Một số cuộc đấu tranh lẻ tẻ còn kéo dàisang năm 1931 thì kết thúc.

Nhận xét, ý nghĩa và kinh nghiệm

– Phong trào cách mạng 1930 – 1931 là một phong trào cách mạng đầu tiên do ĐảngCộng sản tổ chức và lãnh đạo Đó là một phong trào cách mạng triệt để, diễn ra trênqui mô rộng lớn, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia với những hình thức đấutranh phong phú và quyết liệt Đây là một bước phát triển nhảy vọt về chất so vớinhững phong trào yêu nước trước kia

– Mặc dù cuối cùng bị kẻ thù dìm trong biển máu nhưng phong trào vẫn có ý nghĩa tolớn:

+ Khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng và quyền lãnh đạo cách mạng của giaicấp công nhân Qua thực tiễn đấu tranh, quần chúng nhân dân tin vào sự lãnh đạo củaĐảng

+ Khẳng định vai trò của khối liên minh công nông Công nhân, nông dân đã đoàn kếtđấu tranh và tin vào sức mạnh của chính mình

+ Đội ngũ cán bộ và đảng viên và quần chúng yêu nước được tôi luyện và trưởngthành Phong trào đã rèn luyện lực lượng cho cách mạng về sau

+ Được đánh giá cao trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Quốc tế cộngsản đã công nhận Đảng Cộng sản Đông Dương là bộ phận độc lập, trực thuộc quốc tếcộng sản

+ Đây là bước thắng lợi đầu tiên có ý nghĩa quyết định đến tiến trình phát triển về saucủa cách mạng Việt Nam Nếu không có phong trào cách mạng 1930 – 1931, trong đóquần chúng công, nông đã vung ra một nghị lực cách mạng phi thường thì không thể

có thắng lợi của phong trào dân chủ 1936 – 1939 và Cách mạng Tháng Tám

Trang 13

– Phong trào để lại cho Đảng nhiều bài học kinh nghiệm quý giá về công tác tư tưởng,

về chỉ đạo chiến lược, về xây dựng khối liên minh công nông và mặt trận dân tộcthống nhất, về tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh

3 Giai đoạn 1936 – 1939: Điều kiện lịch sử dẫn tới hội nghị tháng 7 năm 1936 của Đảng và sự bùng nổ phong trào dân chủ công khai

Ba lò lửa chiến tranh thế giới đã hình thành ở Đức, Italia, Nhật Bản Họ liênminh với nhau, công khai tuyên bố chống lại Quốc tế cộng sản và tích cực chuẩn bịchiến tranh, đòi chia lại thị trường thế giới Nguy cơ chiến tranh thế giới mới đangđến gần, đòi hỏi cả nhân loại phải chung tay ngăn chặn Trong đó, vai trò của cáccường quốc được đặt lên hàng đầu

Trong bối cảnh nguy cơ chiến tranh phát xít đang đe dọa thì thái độ của cácnước lớn lại không thống nhất, càng tạo điều kiện cho phát xít hành động Mĩ tuyên

bố “trung lập” với những vấn đề quân sự ngoài châu Mĩ Anh, Pháp dung dưỡng, thỏahiệp với Phát xít Đỉnh cao là hội nghị Muy nich, Anh, Pháp cắt vùng Xuy-đec củaTiệp Khắc cho Đức để đổi lấy lời hứa Đức sẽ tấn công Liên Xô

Tháng 7 năm 1935, Quốc tế cộng sản họp đại hội lần thứ VII đưa ra haiquyết định quan trọng, định hướng cho các dân tọc chủ trường, đường lối đấu tranh.Hội nhgị chỉ rõ kẻ thù của nhân loại là Chủ nghĩa phát xít Kêu gọi các nước thành lậpmặt trận nhân dân chống phát xít, chống chiến tranh Đoàn đại biểu của Đảng cộngsản Đông Dương do đồng chí Lê Hồng Phong dẫn đầu tới dự đại hội, tiếp thu tinhthần Đại hội rồi về nước triển khai cho phù hợp với tình hình thế giới

Năm 1936, ở Pháp Mặt trận nhân dân trúng cử lên nắm quyền và ban hànhnhiều chính sách tiến bộ cho nhân dân thuộc địa: thả tù chính trị, cho phép quyền tự

do dân chủ, cho các tổ chức đảng phái hoạt động…Đây là những điều kiện thuận lợicho cách mạng Việt Nam tiến lên Nhưng bọn phản động thuộc địa Pháp và tay sailuôn tìm cách ngăn cản không cho nhân dân ta hưởng quyền đó Họ chính là kẻ thùcủa dân tộc lúc này

Trang 14

Trong bối cảnh lịch sử trên, tháng 7 năm 1936, Tổng bí thư Đảng Lê HồngPhong đã triệu tập, chủ trì hội nghị Đảng tại Thượng Hải (Trung Quốc) đề ra chủtrương và đường lối đấu tranh cho phù hợp với giai đoạn lịch sử này Nhiệm vụ chiếnlược là chống kẻ thù chung là đế quốc và phong kiến Nhiệm vụ trực tiếp, trước mắt làđấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống chủ nghĩa phát xít, chống nguy

cơ chiến tranh, đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình Phương pháp đấutranh: Kết hợp các hình thức công khai và bí mật, hợp pháp, bán hợp pháp, và bất hợppháp Chủ trương: Thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương.Tháng 3 năm1938, đổi thành Mặt trận Thống nhất Dân chủ Đông Dương, gọi tắt

là Mặt trận Dân chủ Đông Dương

Từ đó, Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra những phong trào đấu tranh đòicác quyền tự do, dân sinh, dân chủ

Phong trào đấu tranh tự do, đòi dân sinh, dân chủ

+ Từ giữa những năm 1936 được tin Quốc hội Pháp cử phái đoàn điều tra tình hìnhĐông Dương, Đảng chủ trương vận động các tầng lớp nhân dân hội họp, thảo ra bản

“dân nguyện” để gửi tới phái đoàn, tiến tới triệu tập Đông Dương đại hội vào tháng8/1936

+ Lợi dụng sự kiện Gô-đa sang điều tra tình hình và Brêviê nhận chức toànquyền Đông Dương, Đảng tổ chức quần chúng mít-tinh, đón rước, biểu dương lựclượng, đưa yêu sách đòi quyền dân sinh, dân chủ

+ Trong những năm 1937 – 1939, các cuộc mít tinh, biểu tình của nhân dân diễn rasôi nổi Nhiều hình thức tổ chức quần chúng ra đời như Hội cứu tế bình dân, Hộitruyền bá Quốc ngữ Đặc biệt là ngày 1/5/1938, lần đầu tiên trong ngày quốc tế laođộng nhiều cuộc mít tinh được tổ chức ở Hà Nội, Sài Gòn và nhiều nơi khác, thu hútđông đảo quần chúng tham gia

– Phong trào đấu tranh nghị trường:

Trang 15

+ Đảng Cộng sản Đông Dương vận động đưa người của Mặt trận Dân chủ ĐôngDương ra ứng cử vào các cơ quan: Viện Dân biểu Trung Kì (1937), Viện Dân biểuBắc Kì, Hội đồng Kinh tế lí tài Đông Dương (1938) và Hội đồng Quản hạt Nam Kì(1939).

+ Mục đích: mở rộng lực lượng của Mặt trận Dân chủ và vạch trần chính sách phảnđộng của thực dân và tay sai, bênh vực quyền lợi của đa số quần chúng nhân dân.– Đấu tranh trên lĩnh vực báo chí:

+ Đảng Cộng sản Đông Dương đã xuất bản nhiều tờ báo công khai: Tiền phong, Dânchúng, Lao động, Tin tức…, tuyên truyền, vận động quần chúng đấu tranh đòi dânsinh, dân chủ

+ Nhiều tác phẩm văn học hiện thực phê phán được xuất bản: Tắt đèn, Bước đườngcùng…

+ Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực báo chí giúp cho quần chúng nhân dân được giácngộ về đường lối cách mạng

Nhận xét, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm

– Là một phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo, diễn ratrên qui mô rộng lớn, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia, với những hình thức tổchức và đấu tranh phong phú; buộc chính quyền thực dân phải nhượng bộ một số yêusách về dân sinh, dân chủ

– Mặc dù khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (9-1939), thế lực phản động thuộcđịa đàn áp cách mạng Cuộc vận động dân chủ kết thúc, nhưng vẫn có ý nghĩa lịch sử

Trang 16

+ Đảng thêm trưởng thành một bước về chỉ đạo chiến lược và tích lũy thêm nhiềukinh nghiệm quay báu.

– Bài học kinh nghiệm: Phong trào dân chủ 1936 – 1939 để lại nhiều bài học về xâydựng Mặt trận dân tộc thống nhất; về kết hợp mục tiêu chiến lược với mục tiêu trướcmắt, về sử dụng các hình thức đấu tranh…

– Phong trào dân chủ 1936- 1939 là một bước chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng khởinghĩa tháng Tám sau này

4 Giai đoạn 1939 – 1945: Những tác động tích cực của tình hình thế giới cho cuộc vận động giải phóng dân tộc

Ngày 1 tháng 9 năm 1939, sau một thời gian chuẩn bị, Đức tấn công BaLan Ngày 3 tháng 9 năm 1939 Anh, Pháp tuyên chiến với Đức Pháp tham chiếnnên tích cực chuẩn bị về mọi mặt cho chiến tranh Cả thế giới đang đứng trước tìnhhình căng thẳng Khi Pháp tham chiến, chính phủ Pháp đẩy mạnh bóc lột nhân dân

trong nước Ở thuộc địa, chúng thực hiện chính sách “thời chiến” Về kinh tế, áp dụng chính sách “kinh tế chỉ huy”, đẩy mạnh vơ vét, bóc lột của cải trong nhân dân,

làm cho đời sống của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội ngột ngạt, nhân dân đóikhổ Từ tháng 9-1939 đến tháng 6-1940, chính phủ Catơru (Catroux) hết sức khuyếnkhích các nhà nông, các điền chủ Đông Dương trồng thầu dầu, cà phê, khoai tây,ngô, đậu Tóm lại, những thứ nông sản cần dùng cho chiến tranh Về kỹ nghệ,Catơru bắt đầu mở những nhà máy lắp súng, chế thuốc súng, làm bom đạn, và dựđịnh lập mấy xưởng đóng máy bay ở Tổng Phú Thọ và Sài Gòn Về tiền tệ in một lô

10 triệu bạc giấy phát ra bắt nhân dân phải tiêu dùng Việc phát hành bạc giấykhông có chuẩn bị kim khí làm cho tiền tệ Đông Dương so với tiền ngoại quốc bịsụt giá dữ dội Một nguyên nhân làm cho sinh hoạt đắt đỏ

Một điều đáng chú ý trong giai đoạn này là: cùng với bọn tư bản bên chínhquốc, bọn tư bản thuộc địa lợi dụng chiến tranh kiếm được nhiều mối lợi Theonhững con số của sở kinh tế Đông Dương thì trong 8 tháng đầu chiến tranh ĐôngDương đã xuất cảng sang Pháp nhiều nhất là cao su, hồ tiêu, chè, cà phê, dầu trẩu,

Trang 17

thiếc Vân Nam, kẽm, von-fram Nhờ có chiến tranh, bọn chủ mỏ, bọn đồn điền ởĐông Dương đã bán được quá gấp hai lần rưỡi (251%) và vơ vét được giá gấp balần (338%) Số xuất cảng gạo, ngô, hai thứ nông sản phổ thông nhất của người bản

xứ bị sụt đi nhiều Những thứ hàng kỹ nghệ, nhất là hàng nhập cảng tǎng giá từ100% đến 200% Xem thế đủ biết trong giai đoạn thành lập kinh tế chiến tranh, giánhững thứ nguyên liệu cần dùng cho kỹ nghệ cũng như giá những thứ hàng kỹ nghệđều tǎng gia Trái lại, giá những thứ nông sản chính không tǎng được mấy tí hoặc cóthứ bị sút kém là khác

Suốt trong chín tháng chiến tranh, Đông Dương đã cung cấp cho Pháp rấtnhiều nhân công, nguyên liệu và tiền bạc Từ tháng 9-1939 đến tháng 9-1940 trịgiá số hàng xuất cảng trội hơn số hàng nhập cảng là 200 triệu đồng Kết quả số thunhập vào ngân quỹ Đông Dương về quan thuế và các thứ thuế thương mại kháccũng do đó trội hơn trước Nhưng Đông Dương không được hưởng số thặng dư mậudịch với ngoại quốc Khi chính sách chuyển sang "quốc gia hối đoái cục" những tiền

tệ tạm tiêu biểu cho số thặng dư mậu dịch nói trên, đế quốc Pháp đã bắt buộc xứĐông Dương phải gánh chịu một phần lớn cho chiến tranh, ngoài những sự gánhchịu phức tạp khác, là chính vì thế xứ Đông Dương đã dự thẳng vào chiến tranh trênlập trường kinh tế

Nếu nhân chiến tranh ngân quỹ Đông Dương có thu thêm được ít nào, thì

số ấy đã bị đế quốc Pháp chiếm mất cả Dân Đông Dương vẫn phải đóng thêm thuế.Chế độ kinh tế chiến tranh chỉ có lợi cho bọn tư bản cá mập và chính phủ củachúng Còn đối với dân, nó chỉ mang lại cho họ sự sinh hoạt đắt đỏ, thiếu thốn bầncùng

Về mặt quân sự, lung sục bắt người đi lính đưa sang Pháp làm bia đỡ đạntrên chiến trường, nhiều gia đình mất người thân Hàng vạn thanh niên mãi mãi nằmlại nơi đất khách Đối với phong trào cách mạng, chúng tiến hành khủng bố, tra tấn, tùđày những người yêu nước Những quyền lợi người dân đạt được trong phong trào1936-1939 về dân sinh, dân chủ nay không còn

Trang 18

Như vậy, chính sách của Pháp đối với nhân dân Việt Nam khi chiến tranh thếgiới II nổ ra đã làm cho mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với Pháp ngàycàng sâu sắc Nhiệm vụ giải phóng dân tộc trở nên cấp thiết.

Trước tình hình đó, Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản ĐôngDương được triệu tập tại Hóc Môn, Bà Điểm (Gia Định) từ ngày 6 đến ngày 8 tháng

11 năm 1939 với sự tham dự của Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần…, dưới sựchủ tọa của Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ

Diễn ra vào thời điểm hai tháng sau khi Chiến tranh thế giới bùng nổ, thực dânPháp đẩy mạnh khủng bố, Hội nghị đã giải quyết vấn đề chuyển hướng đường lối vàphương pháp cách mạng trong tình hình mới Nghị quyết của hội nghị đã phân tíchtình hình thế giới, vạch rõ âm mưu của chủ nghĩa phát xít và đế quốc quốc tế, đồngthời dự đoán chiều hướng phát triển của thời cuộc, trong đó có khả năng phát xít Nhậtnhảy vào Đông Dương Phân tích tình hình Đông Dương, nghị quyết khẳng định:

“Cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị, gây ra bởi đế quốc chiến tranh lần này sẽ nung nấu cách mạng Đông Dương bùng nổ”.

Hội nghị xác định mục tiêu chiến lược của cách mạng Đông Dương lúc này:

“không có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất

cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng, để tranh lấy giải phóng dân tộc” và chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, đề ra khẩu hiệu: “tịch ký ruộng đất của đế quốc Pháp và của những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc”.

Hội nghị đã quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế ĐôngDương thay cho Mặt trận Dân chủ, quyết định những hình thức đấu tranh phù hợp vớitình hình và nhiệm vụ mới, trong đó chú trọng tới công tác xây dựng Đảng để tạo nên

sự thống nhất về ý chí hành động Sự kiện này đánh dấu bước chuyển quyết địnhtrong chỉ đạo cách mạng Việt Nam bước vào giai đọan trực tiếp giành độc lập dân tộc Tháng 9 năm 1940, ở Châu Âu, phát xít Đức thôn tính nhiều nước châu Âu,trong đó có Pháp Đế quốc Pháp bị đại bại và từ địa vị một đại cường quốc tụt xuống

Trang 19

địa vị phụ thuộc vào phe phát xít Đức, Italia, Nhật Hai phần ba nước Pháp bị Đứcchiếm giữ Nước Pháp hầu biến thành thuộc địa của Đức Chính phủ quân nhân độctài Pêtanh chỉ là chính phủ bù nhìn vâng lệnh Hítle Nhân dân Pháp đứng dậy chốngPhát xít Sau khi Pêtanh hàng Đức, cách mạng chưa kịp bùng nổ đã bị đàn áp gắt gao.Nhưng phong trào phản chiến, chống đầu hàng vẫn không ngớt

Ở châu Á, phát xít Nhật sau khi thôn tính Đông Bắc Trung Quốc đã tiến sátbiên giới Việt – Trung, sau đó xâm chiếm Việt Nam, Lào, Camphuchia Vì quyền lợicủa mình Pháp đứng lên chống Nhật nhưng thất bại Pháp chấp nhận bắt tay với Nhậtbóc lột nhân dân Đông Dương

Trong bối cảnh phátxít Nhật đổ bộ chiếm đóng Đông Dương, thực dân Pháp

từng bước nhượng bộ và đầu hàng Nhật, nhân dân Việt Nam chịu cảnh "một cổ hai tròng" thống trị của Pháp - Nhật Khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra (27-9-1940), Xứ uỷ Nam

Kỳ sau nhiều lần thảo luận đã chủ trương phát động nhân dân vũ trang khởi nghĩa Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng họp từ ngày 6 đến ngày 9-11-1940.Hội nghị đã bàn sâu nhiều chủ trương được nêu ra ở Hội nghị Trung ương tháng 11-

1939 Phân tích về Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Hội nghị đã đánh giá từng đếquốc, chỉ rõ thủ phạm gây ra chiến tranh và nhận định cả hai phe đế quốc đều rắp tâmtiến công Liên Xô nhằm xoá bỏ Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên Về phong tràocách mạng thế giới và cuộc chiến tranh đế quốc, Hội nghị cho rằng, chính sách thốngtrị tàn bạo của chủ nghĩa tư bản trong điều kiện lao vào chiến tranh, càng làm chomâu thuẫn giai cấp càng sâu sắc, xô đẩy các tầng lớp nhân dân đi theo giai cấp vô sản.Tại các nước thuộc địa và phụ thuộc, phong trào chống chiến tranh, đòi độc lập dântộc đã nổ ra ngày càng lan rộng Về tình hình Đông Dương, Hội nghị cũng phân tích,đánh giá sâu sắc tình trạng sưu cao thuế nặng, chính sách vơ vét của Pháp - Nhật và

sự khủng bố đàn áp của chúng, đã đẩy nhân dân vào tình thế phải đấu tranh quyếtliệt Căn cứ vào sự phân tích tình hình thế giới và ảnh hưởng của Chiến tranh thế giới

lần thứ hai tới Đông Dương, Hội nghị dự đoán: "Một cao trào cách mạng nhất định

sẽ nổi dậy Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy cái sứ mệnh thiêng liêng cho các dân tộc

bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập" Hội nghị

Ngày đăng: 09/03/2020, 12:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w