Môn Lịch sử giữ vai trò chủ đạo trong việc giáo dục lòng yêu nước,tinh thần tự tôn dân tộc, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, giúp học sinh nhậnthức và vận dụng được các bài học l
Trang 1CHUYÊN ĐỀ
MỐI LIÊN HỆ GIỮA LỊCH SỬ THẾ GIỚI VỚI LỊCH SỬ
VIỆT NAM TỪ NĂM 1919 ĐẾN NĂM 1945
Phần thứ nhất
I Đặt vấn đề
Mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới đều có lịch sử của riêng mình Nói như
Nehru trong tác phẩm “Phát hiện Ấn Độ”: “Ấn Độ giống như một bản viết trên da cừu, ở đó các lớp ý nghĩ và suy tư được viết chồng chất lên nhau nhưng lớp viết sau không làm mất hẳn hoặc che khuất lớp viết trước” Lịch sử của mỗi quốc gia cũng
vậy Từng trang sử của từng nước có những bản sắc riêng, giá trị riêng nhưng đềuhòa vào dòng chảy chung của lịch sử thế giới và xu thế phát triển của thời đại Cáiriêng trong lịch sử của từng quốc gia được soi trong cái chung của lịch sử nhân loại
và ngược lại, bức tranh tổng thể lịch sử nhân loại được tạo nên từ lịch sử các quốcgia, dân tộc
Trong tổng thể các bộ môn ở trường Trung học phổ thông, Lịch sử là môn họcthuộc nhóm Khoa học xã hội, có sứ mệnh giúp học sinh hình thành và phát triểnnăng lực lịch sử, thành phần của năng lực khoa học, đồng thời góp phần hình thành,phát triển những phẩm chất chủ yếu về năng lực chung được xác định trong Chươngtrình tổng thể Môn Lịch sử giữ vai trò chủ đạo trong việc giáo dục lòng yêu nước,tinh thần tự tôn dân tộc, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, giúp học sinh nhậnthức và vận dụng được các bài học lịch sử giải quyết những vấn đề thực tế cuộcsống, phát triển tầm nhìn, củng cố các giá trị nhân văn, tinh thần cộng đồng, lòngkhoan dung, nhân ái, góp phần hình thành những phẩm chất của công dân Việt Nam,công dân toàn cầu trong xu thế phát triển của thời đại Do đó, phần Lịch sử thế giới
và Lịch sử Việt Nam là những phần nội dung cơ bản trong chương trình Lịch sử phổthông hiện nay được thiết kế kế tiếp nhau, thể hiện sự phát triển thống nhất của xãhội loài người một cách hợp qui luật, theo con đường đi lên Giữa Lịch sử thế giới
và Lịch sử Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: lịch sử dân tộc phát triểntrong quá trình chung của lịch sử loài người, song cũng có những nét riêng và đónggóp vào tiến trình của lịch sử thế giới Vì thế, khi học tập, học sinh không thể chỉnắm những kiến thức của từng phần mà còn phải tìm hiểu những mối quan hệ giữacác sự kiện trong sự phát triển chung, thống nhất của lịch sử
Trang 2Nghiên cứu chuyên đề “Mối liên hệ giữa lịch sử thế giới với lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1945” giúp chúng ta có cái nhìn vừa bao quát vừa cụ
thể về vị trí, vai trò của lịch sử dân tộc Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1945 đối vớitiến trình phát triển của lịch sử thế giới đồng thời cũng thấy được những ảnh hưởng
to lớn của lịch sử thế giới đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc Từ nội dung củachuyên đề có thể rút ra những bài học kinh nghiệm về đường lối chỉ đạo chiến lược
và sách lược của Đảng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, nhất
là trong bối cảnh thế giới đang có biến động không ngừng và bối cảnh khu vực đang
có những vấn đề bất ổn về chủ quyền biển đảo
Chuyên đề này cũng là một trong những chuyên đề cơ bản trong công tác bồidưỡng ôn thi học sinh giỏi Quốc gia môn Lịch sử ở trường THPT, vì vậy chúng tôi
chọn chuyên đề này để nghiên cứu mong muốn góp vào diễn đàn “Hội thảo chuyên
đề các trường chuyên vùng Duyên hải Đồng bằng Bắc Bộ” một góc nhìn riêng.
II Mục đích chuyên đề
Mục đích của chuyên đề là hệ thống lại những nét cơ bản nhất về nội dunglịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1945, nhất là những sựkiện có mối liên hệ lẫn nhau của lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam Trong khuônkhổ của chuyên đề, tôi đề cập đến mối liên hệ giữa lịch sử thế giới với lịch sử dântộc ở hai giai đoạn chính: 1919-1930 và 1930-1945
Qua chuyên đề này, học sinh sẽ nắm được mối liên hệ biện chứng của lịch sửthế giới và lịch sử dân tộc, có cái nhìn đầy đủ, khách quan, biết đặt các sự kiện củalịch sử dân tộc trong bối cảnh của thế giới và biết dùng các sự kiện lịch sử thế giới
để tìm hiểu sự tác động đối với lịch sử dân tộc, thấy được những đóng góp của cáchmạng Việt Nam vào sự nghiệp chung của cách mạng thế giới; từ đó rút ra đượcnhững bài học kinh nghiệm trong việc nhìn nhận và đánh giá các sự kiện, hiệntượng Để nâng cao hiệu quả của của chuyên đề, tác giả đã hệ thống một số bài tập
từ bài tập nhận biết, đến bài tập nhận thức nhằm giúp học sinh củng cố lại kiến thứcsau khi học chuyên đề
Trang 3
Phần thứ hai: NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Chương trình môn Lịch sử ở trường phổ thông cung cấp những sự kiện cơ bảntrong tiến trình lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc Toàn bộ nội dung chương trìnhđược phân chia thành các phần, chương, bài, mục cụ thể Do đó, trong quá trình dạyhọc, giáo viên phải luôn tính đến mối quan hệ chặt chẽ giữa các phần, chương, bài,mục để giúp học sinh hình thành kiến thức một cách có hệ thống Ở bậc học phổthông, chương trình Lịch sử luôn được cấu tạo theo hương tích hợp lịch sử thế giới
và lịch sử Việt Nam Trong các giáo trình đào tạo sinh viên chuyên ngành lịch sử ởcác trường đại học và cao đẳng, chuyên ngành lịch sử thế giới và lịch sử Việt Namcũng là những chuyên ngành riêng biệt, được học với thời lượng riêng, nội dungriêng Nói như vậy không có nghĩa đây là những chuyên ngành hoàn toàn độc lập,không có mối liên hệ với nhau Mà ngược lại, lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc quatừng giai đoạn đều có mối quan hệ biện chứng, gắn bó, tác động qua lại với nhau.Nếu lịch sử thế giới là bức tranh tổng thể về lịch sử của tất cả các quốc gia trên thếgiới được nhìn nhận một cách khái quát nhất, thì lịch sử của các dân tộc chính làtừng lát cắt trong bức tranh tổng thể đó Do vậy, trong dạy học lịch sử, giáo viênluôn hướng dẫn học sinh học hai khóa trình lịch sử thế giới với lịch sử Việt Namtrong mối quan hệ biện chứng với nhau, không tách rời nhau Theo quan điểm củachủ nghĩa duy vật biện chứng, có thể xem mối liên hệ giữa lịch sử thế giới với lịch
sử dân tộc là mối quan hệ giữa cặp phạm trù cái chung với cái riêng Cái chung ởđây lịch sử thế giới, cái riêng ở đây là lịch sử của từng quốc gia, dân tộc (trong đó cólịch sử Việt Nam)
I.1 Cặp phạm trù cái chung và cái riêng trong phép duy vật biện chứng
Trong triết học, phép biện chứng duy vật khái quát các quan hệ tương tác, vậnđộng biến đổi vô cùng đa dạng, phức tạp của sự vật hiện tượng bằng các cặp phạmtrù cơ bản Trong đó, có các cặp phạm trù như nguyên nhân và kết quả; ngẫu nhiên
và tất nhiên; nội dung và hình thức; bản chất và hiện tượng; khả năng và hiện thực;cái chung- cái riêng và cái đơn nhất Vậy hiểu thế nào về phạm trù cái chung và cáiriêng?
Xét về khái niệm: cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộctính, những mặt, những yếu tố, những quan hệ tồn tại phổ biến ở nhiều sự vật, hiệntượng Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, hiện tượng, một quátrình nhất định
Trong lịch sử triết học, có hai quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ giữacái chung và cái riêng Phái duy thực cho rằng, cái riêng chỉ tồn tại tạm thời, thoáng
Trang 4qua, không phải tồn tại vĩnh viễn, chỉ có cái chung mới tồn tại vĩnh viễn, độc lập với
ý thức của con người Cái chung không phụ thuộc vào cái riêng mà còn sinh ra cáiriêng Phái duy danh cho rằng, chỉ có cái riêng tồn tại thực sự, còn cái chung lànhững tên gọi trống rỗng, không phản ánh cái gì trong hiện thực
Cả hai quan niệm này đều sai lầm ở chỗ đã tách cái riêng ra khỏi cái chung,tuyệt đối hóa cái riêng, phủ nhận cái chung hoặc ngược lại Họ không thấy được sựtồn tại khách quan và mối quan hệ khăng khít giữa cái chung và cái riêng
II.2 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, cái chung và cái riêng đềutồn tại khách quan, vì nó là biểu hiện tính hiện thực tất yếu, độc lập với ý thức conngười Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồntại của mình; cái chung không tồn tại biệt lập, tách rời cái riêng mà nó phải tồn tạitrong từng cái riêng cụ thể, xác định Ví dụ: không có một cái cây nói chung nào tồntại bên cạnh cây cam, cây quýt, cây đào cụ thể; những cây trên đều có những đặctính chung, có rễ, có thân, có lá, có quá trình đồng hóa, dị hóa để duy trì sự sống
Cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cái chung; không có cái riêng tồntại độc lập tuyệt đối tách rời cái chung, mà tất yếu nó phải tồn tại trong mối liên hệvới cái chung Ví dụ: Một con người là một cái riêng (không thể tồn tại độc lập được
mà phải gắn liền với thế giới tự nhiên (vật chất hữu cơ) và xã hội loài người (quan
hệ với mọi người)
Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú, đa dạng hơn cái chung; còn cái chung làcái bộ phận nhưng sâu sắc, bản chất hơn cái riêng Bởi vì, cái riêng là tổng hợp củacái chung và cái đơn nhất; còn cái chung biểu hiện tính phổ biến, tính qui luật củanhiều cái riêng Ví dụ: giai cấp công nhân Việt Nam là “cái riêng” bên cạnh cáichung với giai cấp công nhân ở các nước trên thế giới bị bóc lột của giai cấp tư sản,giai cấp không có tư liệu sản xuất… lao động gắn liền với máy móc và có tính chất
xã hội… Giai cấp công nhân Việt Nam còn có những những đặc điểm riêng: xuấtthân từ giai cấp nông dân, ra đời gắn liền với việc khai thác thuộc địa của thực dânPháp cho nên gần gũi với giai cấp nông dân, bị chủ nghĩa đế quốc thống trị Nhữngđặc điểm đó khác với giai cấp công nhân các nước tư bản chủ nghĩa
Mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung đã được Lê-nin khái quát: “Như vậy,các mặt đối lập là đồng nhất Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cáichung Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng Bất cứ cái riêng(nào cũng) là cái chung Bất cứ cái chung nào cũng là (một bộ phận, một khía cạnhhay một bản chất) của cái riêng Bất cứ cái chung nào cũng chỉ bao quát một cách
Trang 5đại khái tất cả mọi vật riêng lẻ Bất cứ cái riêng nào cũng không gia nhập đầy đủ vàocái chung bất cứ cái riêng nào cũng thông qua hàng nghìn sự chuyển hóa mà liên hệvới những cái riêng thuộc loại khác (sự vật, hiện tượng, quá trình)”
Việc nhận thức được cái chung, cái riêng và mối quan hệ giữa chúng có ý nghĩaphương pháp luận rất sâu sắc trong thực tiễn cuộc sống Vì cái riêng chỉ tồn tại trongmối liên hệ với cái chung nên không được tuyệt đối hóa cái riêng Không chỉ vậy, vìcái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng, nên muốn tìm ra cái chung(bản chất, quy luật, chính sách, v.v ) phải thông qua việc nghiên cứu cái riêng Mặtkhác, khi áp dụng cái chung vào cái riêng cần phải tính đến đặc điểm và những điềukiện tồn tại cụ thể của cái riêng Cái chung là cái sâu sắc, cái bản chất nên nhận thức
là phải nhằm tìm ra cái chung, trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái chung đểcải tạo cái riêng Phải thấy được mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng để khi ápdụng những cái chung vào những trường hợp riêng biệt không bị rơi vào tả khuynh,giáo điều
I.3 Vận dung cặp phạm trù cái riêng và cái chung trong phép biện chứng duy vật để tìm hiểu về mối quan hệ giữa lịch sử thế giới với lịch sử dân tộc
I.3.1 Lịch sử thế giới có tác động mạnh mẽ đến lịch sử dân tộc
Từ việc tìm hiểu mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng trong phép biệnchứng duy vật có thể thấy, lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc có mối liên hệ với nhaurất chặt chẽ Lịch sử thế giới hay còn gọi là lịch sử loài người, bắt đầu từ thời đại đồ
đá cũ Khác với lịch sử Trái Đất (nó gồm cả lịch sử địa chất Trái Đất và lịch sử tiếnhóa sự sống trước khi có sự xuất hiện của con người), lịch sử thế giới được nghiêncứu qua khảo cổ học và các ghi chép, truyền miệng còn sót lại từ thuở xưa Từ khi
có con người xuất hiện trên Trái Đất, lịch sử thế giới được chia ra thành các thời kìchính: thời kì xã hội nguyên thủy, xã hội cổ đại, xã hội trung đại, xã hội cận đại và
xã hội hiện đại tương ứng với các hình thái kinh tế- xã hội Nếu hình dung lịch sửthế giới là một bức tranh đa sắc màu thì lịch sử của các quốc gia, dân tộc trên thếgiới chính là những mảng màu tạo nên bức tranh tổng thể ấy Từ sự phát triển củalịch sử từng quốc gia mà có quá trình khái quát thành những nội dung lớn thể hiệncác qui luật phát triển của lịch sử thế giới
Lịch sử thế giới có tác động mạnh mẽ đến lịch sử dân tộc Khi nghiên cứu lịch
sử của từng dân tộc khác nhau, các nhà nghiên cứu đều đặt trong bối cảnh chung củalịch sử thế giới, của thời đại để tìm ra các qui luật, phát hiện các sự kiện, hiện tượnglịch sử Có những sự kiện của thế giới đã tác động trực tiếp tới các quốc gia ngay khivừa xảy ra; hoặc có những sự kiện đã xảy ra trong lịch sử thế giới đã trở thànhnhững bài học kinh nghiệm quý báu đối với nhiều nước trong quá trình đấu tranh
Trang 6giải phóng và xây dựng đất nước Như vậy, sử dụng kiến thức lịch sử thế giới chính
là để hiểu sâu sắc hơn lịch sử Việt Nam (ví dụ: nêu hoàn cảnh lịch sử thế giới và tácđộng của tình hình thế giới đến lịch sử Việt Nam)
Để nghiên cứu về sự ra đời các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam, khôngthể không tìm hiểu về điều kiện ra đời, thời gian xuất hiện, các thành tựu và ý nghĩacủa những nền văn minh cổ đại nổi tiếng trên thế giới như văn minh sông Nil, vănminh sông Ấn, sông Hằng Khi tìm hiểu về phong trào giải phóng dân tộc ViệtNam 1939-1945 phải đặt trong bối cảnh chung của cuộc Chiến tranh thế giới thứhai Rất nhiều sự kiện của cuộc chiến này đã trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc cáchmạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam như sự kiện tháng 9/1939, tháng6/1940, tháng 6/1941, tháng 8/1945 Cuộc cách mạng tháng Mười Nga năm 1917không chỉ giải phóng các dân tộc bị áp bức trên đất nước Nga mà còn có ý nghĩa vôcùng to lớn đối với các dân tộc thuộc địa Ánh sáng của cách mạng tháng Mười, tưtưởng của Lê-nin và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước Nga Xô viết đãtrở thành hình mẫu cho rất nhiều nước trên thế giới sau này đi theo con đường chủnghĩa xã hội tin tưởng và học tập
Ở những thời điểm lịch sử nhất định, các sự kiện xảy ra trên thế giới đã tácđộng trực tiếp đến sự xuất hiện của các sự kiện trong lịch sử dân tộc Ngày15/8/1945, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, báo hiệu Chiến tranh thế giới thứ haikết thúc Nhân cơ hội Nhật đầu hàng, các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc trên thếgiới đã nổi dậy đấu tranh để giải phóng dân tộc Nhân dân Việt Nam nổi dậy tổngkhởi nghĩa làm nên Cách mạng tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt NamDân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945; nhân dân Lào nổi dậy giành chính quyền, chínhphủ Lào ra mắt quốc dân và tuyên bố độc lập; nhân dân Inđônêxia cũng nổi dậychiếm các công sở, đài phát thanh và giành chính quyền từ tay Nhật Bản
I.3.2 Lịch sử dân tộc tồn tại trong mối liên hệ ảnh hưởng đến lịch sử thế giới
Lịch sử các quốc gia, dân tộc trên thế giới là lịch sử riêng, đặc thù của từngđất nước Nó rất phong phú và qui định bản sắc văn hóa dân tộc của từng đất nước.Nhưng bên cạnh nét đặc thù riêng, lịch sử mỗi dân tộc không hề tồn tại bên ngoài sựphát triển mang tính qui luật của lịch sử thế giới Có những sự kiện lịch sử lớn củamỗi quốc gia nhưng lại mang tính thời đại và có sức ảnh hưởng lớn lao đến lịch sửcủa nhiều quốc gia và lịch sử thế giới Những sự kiện ấy đã vượt tầm dân tộc và trởthành sự kiện mang tầm quốc tế, đóng góp vào sự phát triển của lịch sử thế giới Mặtkhác, thấy được ảnh hưởng của lịch sử dân tộc đến lịch sử thế giới cũng là thấy đượcnhững đóng góp của dân tộc Việt Nam, của cách mạng Việt Nam vào sự nghiệp cáchmạng thế giới
Trang 7Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 của nhân dân Việt Nam trong cuộckháng chiến chống Pháp là một sự kiện lịch sử dân tộc có tầm quốc tế Chiến thắngnày không chỉ kết thúc cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp trường kì, gian khổ củanhân dân Việt Nam; bảo vệ vững chắc thành quả của cuộc Cách mạng tháng Támnăm 1945 mà còn có ý nghĩa sâu sắc đối với cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vìhòa bình và tiến bộ xã hội; cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thếgiới, đặc biệt là ở khu vực Đông Nam Á và châu Phi Đây được coi là “trận Van-micủa các dân tộc da màu”, chôn vùi chủ nghĩa thực dân cũ, tạo ra “phản ứng dâychuyền” trong phong trào giải phóng dân tộc thế giới Khắp nơi ở châu Phi, từAngiêri đến Marốc, từ Cônggô đến Nigieria, cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc
đã được tấm gương Điện Biên Phủ cổ vũ Nhịp độ sụp đổ của hệ thống thuộc địa củachủ nghĩa đế quốc thực dân diễn ra chưa từng thấy sau chiến thắng Điện Biên Phủcủa nhân dân Việt Nam Nếu như 12 năm đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chỉ
có độ 20 nước giành được độc lập thì từ năm 1958 đến 1964, tức là trong vòng 6năm đã có thêm 35 nước, trong đó năm 1960 có 17 nước châu Phi giành được độclập Cái tên “Việt Nam - Hồ Chí Minh - Võ Nguyên Giáp - Điện Biên Phủ” đã gắnliền với nhau, được nhân dân nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc ghi nhớ, trở thànhniềm hi vọng cho một tương lai độc lập
I.3.3 Một số kết luận về mặt phương pháp luận
Lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc tồn tại trong một mối liên hệ khăng khít vớinhau Muốn tìm hiểu lịch sử thế giới phải nghiên cứu qua lịch sử của từng quốc giadân tộc, nhất là những quốc gia, dân tộc có nền văn minh lớn, có ảnh hưởng đến tiếntrình phát triển của lịch sử Khi nghiên cứu về văn minh Hy Lạp và La Mã cổ đại,Mác và Ăngghen đã viết “không có chế độ nô lệ thì không có quốc gia Hy Lạp,không có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp; không có chế độ nô lệ thì không có quốcgia La Mã Mà không có cơ sở của văn minh Hy Lạp và đế quốc La Mã thì cũngkhông có châu Âu hiện tại được” Do đó, khi tìm hiểu về lịch sử của bất cứ quốc gia,dân tộc nào cũng cần đặt trong bối cảnh của lịch sử thế giới và ngược lại, muốn hiểu
rõ lịch sử thế giới phải tìm hiểu từ lịch sử của các quốc gia, dân tộc
Lịch sử dân tộc chỉ tồn tại trong mối liên hệ với lịch sử thế giới nên khôngđược tuyệt đối hóa lịch sử dân tộc Mặt khác, lịch sử thế giới cũng chỉ tồn tại tronglịch sử dân tộc, thông qua lịch sử dân tộc, nên muốn tìm ra và hiểu rõ lịch sử thế giớiphải thông qua việc nghiên cứu lịch sử dân tộc Khi áp dụng lịch sử thế giới vào lịch
sử dân tộc cần phải tính đến đặc điểm và những điều kiện tồn tại cụ thể của lịch sửdân tộc
Trang 8CHƯƠNG II MỐI LIÊN HỆ GIỮA LỊCH SỬ THẾ GIỚI VỚI LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1919 ĐẾN NĂM 1945
II.1 Những nội dung cơ bản của lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam từ năm
1919 đến năm 1945
II.1.1 Những nội dung cơ bản của lịch sử thế giới từ năm 1919 đến năm 1945
Trong những năm 1919 đến năm 1945, lịch sử thế giới đã chứng kiến nhiềuđổi thay có tính cách mạng Hàng loạt sự kiện lịch sử diễn ra ở khắp các châu lục,các quốc gia trên thế giới, dẫn tới các cuộc cách mạng, khủng hoảng, xung đột vàchiến tranh Đây là thời kì diễn ra những chuyển biến quan trọng trong nền sản xuấtvật chất của nhân loại, làm thay đổi đời sống chính trị- xã hội, văn hóa của các dântộc trên thế giới, đồng thời chứng kiến sự phát triển có tính chất bước ngoặt củaphong trào cách mạng thế giới, mở đầu bằng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thángMười Nga, sự phát triển thăng trầm đầy kịch tính của chủ nghĩa tư bản, cuộc đấutranh dân tộc và giai cấp rộng lớn trong phạm vi từng nước và trên thế giới nhằmgiành hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Thời kì 1919-1945 là thời kì diễn ra những chuyển biến quan trọng trong nềnsản xuất vật chất của nhân loại Những tiến bộ về khoa học - kĩ thuật đã thúc đẩynền kinh tế thế giới phát triển với tốc độ cao Sự tăng trưởng của nền kinh tế thế giới
đã làm thay đổi đời sống chính trị, xã hội, văn hóa của các quốc gia, dân tộc và thếgiới nói chung
Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi năm 1917 mở ra một kỉ nguyên mớitrong lịch sử loài người, bắt đầu thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xãhội Cách mạng tháng Mười Nga không chỉ có ý nghĩa đối với nước Nga mà còn có
ý nghĩa đối với thế giới Chủ nghĩa xã hội trở thành hiện thực, được xác lập đầu tiên
ở một nước trên thế giới, nằm giữa vòng vây của chủ nghĩa tư bản
Sau khi ra đời, nhà nước Xô Viết đã trải qua những chặng đường khó khăn,gian khổ để bảo vệ chính quyền và từng bước đi lên trong những năm 1921-1941.Chính sách kinh tế mới do Lê - nin đề xướng năm 1921 đã đưa nước Nga thoát khỏicuộc khủng hoảng chính trị, kinh tế được phục hồi, bắt đầu quá trình xây dựng chủnghĩa xã hội từ năm 1921-1941 Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, Liên Xô đã vươnlên, trở thành một cường quốc công nghiệp đứng thứ hai thế giới, có nền văn hóa,khoa học - kĩ thuật tiên tiến và có vị trí quan trọng trên trường quốc tế, ủng hộ tíchcực phong trào cách mạng thế giới
Từ sau Cách mạng tháng Mười Nga đến khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứhai, phong trào cách mạng thế giới bước sang một thời kì phát triển mới Trongnhững năm 1918-1923, ở các nước tư bản châu Âu, một cao trào cách mạng đã bùng
Trang 9nổ ở Đức, Hunggari, Anh, Pháp Quốc tế Cộng sản ra đời tháng 3/1919 tạiMaxcơva đã đề ra đường lối cách mạng phù hợp với từng thời kì phát triển của cáchmạng thế giới Đại hội II (1920) và Đại hội VII (1935) của Quốc tế Cộng sản giữmột vị trí nổi bật trong lịch sử hoạt động của Quốc tế Cộng sản khi thông qua Luậncương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lê- nin; chỉ rõ nguy cơ của chủ nghĩa phátxít và kêu gọi thành lập các mặt trận nhân dân chống phát xít trên thế giới Ở nhiềunước, các đảng cộng sản ra đời và nắm vai trò lãnh đạo cách mạng (ở Inđônêxia,Trung Quốc ) Trong những năm khủng hoảng kinh tế 1929-1933, các nước tư bảnchịu tác động nặng nề của cuộc khủng hoảng thì phong trào đấu tranh giành độc lập
ở châu Á cũng có những bước phát triển mới, đưa tới sự ra đời của các đảng cộngsản ở Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á Phong trào Mặt trận Nhân dânchống phát xít, chống chiến tranh (1936-1939) diễn ra ở nhiều nước và trong thời kìChiến tranh thế giới thứ hai, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít Đức - Italia -Nhật không chỉ giới hạn trong phạm vi một nước mà bùng nổ rộng rãi, nhất là ởnhững nước bị phát xít chiếm đóng
Chủ nghĩa tư bản không còn là hệ thống duy nhất trên thế giới và trải quanhững bước phát triển thăng trầm đầy biến động từ năm 1918 đến năm 1939 Tronghơn 10 năm đầu sau chiến tranh (1918-1929), các nước tư bản từng bước ổn định vàđạt mức tăng trưởng cao về kinh tế Đây là thời kì bùng phát của nền kinh tế Mĩ,Đức Tổng thống Mĩ đã mạnh dạn tuyên bố “nước Mĩ đã đi gần đến chỗ xóa hết đóinghèo hơn bất cứ quốc gia nào trên thế giới” Tuy nhiên, trong 10 năm sau (1929-1939), các nước tư bản đã lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng chưa từng có, cuộc
“đại khủng hoảng” Từ khủng hoảng về kinh tế, bắt đầu từ Mĩ, cuộc đại khủnghoảng này lan nhanh như “phản ứng domino” sang tất cả các lĩnh vực chính trị, xãhội và lan rộng ra tất cả các nước tư bản Để thoát khỏi cuộc khủng hoảng, các nước
tư bản đã tìm nhiều cách khác nhau để giải quyết Anh, Pháp và điển hình là Mĩ đãthực hiện những cải cách kinh tế - xã hội để duy trì sự phát triển của chủ nghĩa tưbản Trong khi đó, các nước Đức, Italia, Nhật lại tiến hành phát xít hóa bộ máy nhànước và gây ra chiến tranh xâm lược, dẫn tới sự bùng nổ cuộc Chiến tranh thế giớithứ hai, mang lại nhiều đau thương đối với nhân loại
Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) là cuộc chiến tranh lớn nhất, khốcliệt nhất và tàn phá nặng nề nhất trong lịch sử nhân loại Đứng trước thảm họa củachiến tranh, các quốc gia dù có chế độ chính trị khác nhau nhưng đã phối hợp vớinhau trong khối Đồng minh chống phát xít Cuộc chiến tranh ấy đã ghi nhận tinhthần chiến đấu và hi sinh dũng cảm của nhân dân tiến bộ thế giới yêu chuộng hòabình; đặc biệt ghi nhận tinh thần hy sinh anh dũng của nhân dân Liên Xô trong cuộc
Trang 10chiến tranh vệ quốc vĩ đại Họ không chỉ bảo vệ nền độc lập của đất nước Xô Viết
mà còn bảo vệ nền hòa bình của các dân tộc trên thế giới Do đó, Liên Xô giữ vai trò
là lực lượng chủ chốt, góp phần quyết định trong việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít.Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã mở ra một thời kì phát triển mới của lịch sửthế giới
II.1.2 Những nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1945
Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1945 đề cập đến một giai đoạn củalịch sử Việt Nam từ khi Pháp bắt đầu cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai ở ĐôngDương (1919) đến khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt NamDân chủ Cộng hòa ra đời Có thể chia lịch sử Việt Nam từ 1919-1945 thành hai thờikì: thời kì 1919-1930 và thời kì 1930-1945
Thời kì 1919-1930: từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1919 đến khiĐảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, bao gồm các nội dung cơ bản sau:
- Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-1929) của thực dân Pháp đã làmbiến sâu sắc tình hình kinh tế, xã hội Việt Nam, tạo cơ sở xã hội (giai cấp) và điềukiện chính trị (phong trào yêu nước) để tiếp thu luồng tư tưởng cách mạng vô sản
Sự biến đổi về kinh tế, nhất là sự biến đổi cơ cấu kinh tế quyết định sự biến đổi về
xã hội, nhất là sự phân hoá giai cấp ngày càng sâu sắc, làm cho xã hội Việt Nam cóđầy đủ những giai cấp của một xã hội hiện đại Những giai cấp mới là cơ sở vật chất
để tiếp thu những tư tưởng mới vào Việt Nam (kể cả tư tưởng tư sản và tư tưởng vôsản), làm cho phong trào dân tộc Việt Nam mang những màu sắc mới mà các phongtrào yêu nước trước kia không thể nào có được Những giai cấp mới cùng những hệ
tư tưởng mới làm xuất hiện hai khuynh hướng tư sản và vô sản Cả hai khuynhhướng đều cố gắng vươn lên giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc do lịch sửđặt ra Đó chính là cuộc đấu tranh giành quyền lãnh đạo duy nhất đối với cách mạngViệt Nam Đây là đặc điểm lớn nhất của phong trào yêu nước Việt Nam trong thờigian 1919-1930
- Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản của bộ phận tư sản,tiểu tư sản phát triển mạnh mẽ trong những năm 1919-1930 với nhiều hoạt động sôinổi trong và ngoài nước như: đòi chấn hưng nội hóa, bài trừ ngoại hóa; thành lậpmột số tổ chức chính trị; xuất bản nhiều tờ báo tiến bộ; lập các nhà xuất bản tiếnbộ Đặc biệt, năm 1927, Việt Nam Quốc dân đảng là chính đảng của giai cấp tư sảnViệt nam được thành lập đã tổ chức cuộc khởi nghĩa Yên Bái Mặc dù cuộc khởinghĩa không thành công nhưng đã góp phần khảo nghiệm một con đường cứu nướcmới; giúp cho những người yêu nước Việt Nam hướng đến một con đường mới, tiếpthu lý luận giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản, làm cho phong trào yêu
Trang 11nước trở thành một trong những điều kiện dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản ViệtNam
Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản phát triển mạnh mẽ trongnhững năm 20 của thế kỉ XX Nguyễn Ái Quốc trong hành trình tìm đường cứunước của mình đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về trong nước Những luận điểm của Nguyễn Ái Quốc về con đường cáchmạng giải phóng dân tộc Việt Nam và bài học của Cách mạng tháng Mười về nước
đã làm chuyển biến phong trào yêu nước chống Pháp từ lập trường tư sản sang lậptrường vô sản Phong trào công nhân Việt Nam từ tự phát dần từng bước chuyểnbiến về chất, chuyển sang tự giác Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên được thànhlập (6/1925) là một tổ chức yêu nước có khuynh hướng cộng sản, một tổ chức quá
độ để tiến lên thành lập Đảng, một bước chuẩn bị có ý nghĩa về mặt tổ chức Đâyđược coi là tổ chức tiền thân của Đảng Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ra đời
đã góp phần giải quyết một bước tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước đầuthế kỉ XX Thông qua nhiều hoạt động của mình, hội đã tuyên truyền lí luận giảiphóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc về Việt Nam, góp phần xác lập từng bước conđường cứu nước theo khuynh hướng vô sản ở Việt Nam
Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam vào nửa sau năm 1929 từ hai tổchức yêu nước - cách mạng (Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Tân Việt Cáchmạng đảng) là một xu thế khách quan của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam
Sự ra đời này đặt ra yêu cầu cấp thiết là phải thống nhất các tổ chức cộng sản trởthành một chính đảng duy nhất Với uy tín chính trị và năng lực lãnh đạo của mình,Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản năm 1930 đểthống nhất, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930 là kết quả tất yếu của cuộc đấutranh dân tộc và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam trong thời đại mới; là sản phẩm của
sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêunước Việt Nam trong những năm 20 của thế kỉ XX; đồng thời là bước ngoặt vĩ đạitrong lịch sử của giai cấp công nhân và lịch sử của dân tộc Việt Nam
Thời kì 1930-1945: sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 đếnngày 2/9/1945 có những nội dung cơ bản như sau:
Do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 cùng với cuộc
“khủng bố trắng” của thực dân Pháp sau khởi nghĩa Yên Bái (9/2/1930) đã làm bùng
nổ phong trào cách mạng của quần chúng cả nước trong những năm 1930-1931 Sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa phong trào lên tới đỉnh cao với sựthành lập các Xô viết ở Nghệ An và Hà Tĩnh Các Xô viết chính là chính quyền kiểu
Trang 12mới của nhân dân lao động, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động, điềuhành mọi mặt đời sống xã hội Tuy chỉ tồn tại được 4-5 tháng nhưng các Xô viếtchính là nguồn cổ vũ mạnh mẽ quần chúng nhân dân trong cả nước Từ cuối năm
1931, phong trào cách mạng Việt Nam đi vào thoái trào, cách mạng Việt Namchuyển sang đấu tranh nhằm phục hồi phong trào (1932-1935)
Trong những năm 1936-1939, chủ nghĩa phát xít xuất hiện, đe dọa hòa bìnhthế giới và phong trào chống phát xít ở Pháp bước đầu thắng lợi, ở nước ta đã dấylên một phong trào đấu tranh công khai rộng lớn Phong trào dân chủ 1936-1939 đãthu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đấutranh đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình Đây là phong trào quần chúng
có mục tiêu và hình thức đấu tranh mới mẻ ở nước ta và rất hiếm có ở một nướcthuộc địa Phong trào dân chủ 1936-1939 là một bước phát triển về chất so với cácphong trào yêu nước trước đó; là một bước chuẩn bị về lực lượng cho cuộc Tổngkhởi nghĩa tháng Tám về sau này
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ năm 1939 và kéo dài đến năm 1945 đãtác động đến toàn thế giới Trong Chiến tranh thế giới, thắng lợi của nhân dân Liên
Xô và các lực lượng dân chủ thế giới chống phát xít đã tạo điều kiện thuận lợi chocách mạng Việt Nam và nhiều nước tiến lên giải phóng dân tộc
Đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng ViệtNam Người đã chủ trì Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) tại Pác Bó (Cao Bằng) hoànchỉnh chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu được đề ra từ Hộinghị Trung ương tháng 11/1939 Hội nghị đã đề ra nhiều nội dung quan trọng: khẳngđịnh lại đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đứng đắn trong Cương lĩnh chínhtrị đầu tiên của Đảng, đồng thời khắc phục triệt để những hạn chế của Luận cươngChính trị tháng 10/1930; giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nước ĐôngDương Từ Hội nghị này, cách mạng Việt Nam đẩy mạnh quá trình chuẩn bị tiến tớitổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi cả nước Việc xây dựng lực lượngchính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng được xúc tiến nhanh chóng Cảdân tộc bước vào cuộc vận động trực tiếp cho cách mạng tháng Tám
Cách mạng tháng Tám năm 1945 diễn ra và thắng lợi nhanh chóng, ít đổ máu,
là kết quả của quá trình chuẩn bị và tập dượt trong 15 năm kể từ khi Đảng ra đời.Đảng đã lãnh đạo cuộc đấu tranh trải qua nhiều giai đoạn, toàn diện và trực tiếp nhất
là giai đoạn chuẩn bị tiến tới tổng khởi nghĩa 1939-1945 Ngày 19/8, Hà Nội giànhđược chính quyền; ngày 23/8, giành chính quyền ở Huế; ngày 25/8 giành chínhquyền ở Sài Gòn; ngày 28/8, Hà Tiên và Đồng Nai Thượng là những địa phươnggiành được chính quyền muộn nhất trong cả nước; ngày 30/8, vua Bảo Đại thoái vị,
Trang 13chế độ phong kiến Việt Nam chấm dứt Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình(Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độclập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở đầu kỉ nguyên mới của dântộc: kỉ nguyên độc lập, tự do, kỉ nguyên nhân dân nắm chính quyền, làm chủ đấtnước Thắng lợi của nhân dân Việt Nam đã góp phần vào thắnglợi của cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít; chọc thủng hệ thống thuộc địa củachủ nghĩa đế quốc và cổ vũ các dân tộc thuộc địa trên thế giới trong cuộc đấu tranh
tự giải phóng
II.2 Hướng dẫn khai thác mối liên hệ giữa lịch sử thế giới với lịch sử Việt Nam
từ năm 1919 đến năm 1945
II.2.1 Hướng dẫn một số phương pháp khai thác
Nhìn một cách tổng thể, chương trình Lịch sử ở bậc Trung học phổ thông luônđược cấu tạo song song hai chương trình: lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc Do đó,trong quá trình giảng dạy trên lớp, người giáo viên ngoài việc truyền đạt kiến thứctheo đúng nội dung trình tự sách giáo khoa còn phải luôn chú ý tới mối quan hệtrước - sau, nguyên nhân - hệ quả của các sự kiện lịch sử; luôn nhìn các sự kiệnlịch sử trong một bức tranh tổng thể thế giới và trong nước và luôn có ý thức lồngghép, phát hiện các kiến thức lịch sử thế giới có tác động tới lịch sử dân tộc hoặclịch sử dân tộc có ảnh hưởng đến lịch sử thế giới làm cho bài giảng phong phú, sâusắc hơn
Có rất nhiều phương pháp khác nhau có thể sử dụng để khai thác mối liên hệgiữa lịch sử thế giới với lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919-1945 trong quá trình giảngdạy của giáo viên và học tập của học sinh Ở đây, chúng tôi chỉ xin nêu một vàiphương pháp cơ bản, thường sử dụng trong quá trình dạy học trên lớp của giáo viên
để giúp học sinh dễ hiểu và hiểu sâu hơn về mối liên hệ giữa lịch sử thế giới với lịch
sử dân tộc trong giai đoạn này
Phương pháp sử dụng sách giáo khoa lịch sử: sách giáo khoa là tài liệu chủ
yếu để thực hiện chương trình ở trường phổ thông Nội dung của bài dạy phải đảmbảo những kiến thức cơ bản được qui định trong chương trình Với học sinh, sáchgiáo khoa là tài liệu bắt buộc trong học tập, là phương tiện quan trọng để học sinhtiếp thu kiến thức mới, ôn tập củng cố những kiến thức đã học, trả lời câu hỏi và làmbài tập ở nhà Vì vậy, giáo viên cần hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa đểvừa tiếp nhận kiến thức vừa rèn luyện các kĩ năng tự học, tự nghiên cứu
Với những nội dung bài học có sự liên hệ rõ rệt giữa lịch sử thế giới với lịch
sử Việt Nam hoặc ngược lại, giáo viên có thể yêu cầu học sinh về nhà đọc trước sáchgiáo khoa bài mới sắp học và xem lại bài cũ đã học để chỉ rõ sự liên quan giữa các
Trang 14sự kiện lịch sử trong nước và quốc tế Hoặc giáo viên yêu cầu học sinh đọc trước nộidung bài học trong sách giáo khoa ở nhà kèm theo các câu hỏi và bài tập phù hợp.Giáo viên có thể thiết kế sẵn các câu hỏi và bài tập phù hợp với trình độ học sinh vàhướng dẫn học sinh thực hiện để học sinh nhận thấy rõ mối liên hệ giữa lịch sử thếgiới và lịch sử dân tộc.
Ví dụ: Khi dạy “Bài 18: Phong trào giải phóng dân tộc (1939-1945)” (Lịch sử 12,chương trình nâng cao), giáo viên có thể thiết kế bài tập để học sinh đọc sách vàchuẩn bị trước ở nhà
Đọc sách giáo khoa trang 146 - 152 (Lịch sử 12 nâng cao) và hoàn thành Đề cương trống về chủ đề “Những tác động của tình hình thế giới trong những năm 1939-
1941 đến cách mạng Việt Nam”
Thời gian Các sự kiện chính của Chiến tranh
thế giới thứ hai (1939-1941)
Tác động đến cách mạng Việt Nam (1939-1941)
- - Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ -
- 9/1940 - -
- - - Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp
hành Trung ương Đảng
Phương pháp sử dụng tài liệu tham khảo: các tài liệu tham khảo có thể sử
dụng trong dạy học lịch sử bao gồm: tài liệu lịch sử (các văn kiện, tài liệu có liênquan trực tiếp đến sự kiện, ra đời vào thời điểm xảy ra các sự kiện như các hiệp ước,điều ước, tuyên ngôn ; tài liệu, văn kiện của Đảng, Nhà nước ), tài liệu văn học Các tài liệu tham khảo này có thể được sử dụng để cụ thể hóa các sự kiện, hiệntượng lịch sử đang học nhằm tạo biểu tượng rõ ràng, sinh động, tạo hứng thú choviệc học tập của học sinh
Ví dụ: Đoạn trích minh họa cụ thể về chính sách của Nhật ở Đông Dương trong cái
nhìn so sánh với nước Nga “Vì Nhật cần có đay để làm bao cát và bông để làm thuốc súng nên Tây ra sức khuyên dân ta giồng bông, giồng đay Giồng bông và đay càng nhiều thì đất giồng lúa càng ít và dân ta sẽ bị đói Thế là Tây làm lợi cho Nhật
và làm hại cho ta Ở các nước như Nga, trẻ em đi học rất sung sướng Không mất tiền sách vở tiền thầy Nếu ở xa lại được ăn một bữa không phải giả tiền Còn ở nước ta nhất là Cao Bằng thì trẻ em đi học khổ lắm Lúc xin vào học thì Tây nó bắt giấy khai sinh Lúc đi học thì sách vở bút đắt quá Bây giờ lại phải góp gạo, góp củi, góp tiền Thế là trẻ em cũng phải đóng thuế” [6; 290-291].
Tài liệu tham khảo có thể dùng để giải thích một sự kiện lịch sử giúp cho họcsinh hiểu được bản chất của sự kiện và giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh
Ví dụ: Trích dẫn bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân kỉ niệm 50 năm thắng lợicủa Cách mạng tháng Mười Nga để khẳng định ý nghĩa to lớn của Cách mạng tháng
Trang 15Mười đối với cách mạng Việt Nam “Đi theo con đường do Lênin vĩ đại đã vạch ra, con đường của Cách mạng tháng Mười, nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi rất to lớn Chính vì vậy mà mối tình gắn bó và lòng biết ơn của nhân dân Việt Nam đối với Cách mạng tháng Mười vẻ vang, đối với Lênin vĩ đại và đối với nhân dân Liên Xô là vô cùng sâu sắc” [dẫn theo 3;86]
Cũng có thể sử dụng tài liệu văn học để minh họa giúp học sinh hiểu rõ hơn
về các sự kiện lịch sử như khi giảng dạy về những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc
từ 1911-1920, giáo viên có thể trích dẫn một đoạn trong bài thơ “Người đi tìm hình của nước” của nhà thơ Chế Lan Viên
“Kìa mặt trời Nga bừng chói ở phương Đông Cây cay đắng đã ra mùa quả ngọt Người cay đắng đã chia phần hạnh phúc Sao vàng bay theo liềm búa công nông Luận cương đến Bác Hồ Và Người đã khóc
Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin”.
Phương pháp sử dụng câu hỏi và bài tập lịch sử: câu hỏi và bài tập lịch sử có
cùng một chức năng là phương tiện để tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh.Bài tập có thể bao gồm một hoặc nhiều câu hỏi Có nhiều loại câu hỏi và bài tậpkhác nhau tùy theo đối tượng học sinh Khi học một giai đoạn, thời kì nào đó củalịch sử dân tộc, giáo viên chú ý đặt trong bối cảnh lịch sử thế giới để tìm hiểu mốiquan hệ giữa chúng hoặc gợi ý để học sinh tìm ra được tác động của các sự kiện.Các câu hỏi này sẽ được liệt kê theo nội dung của bài học, tạo thành một hồ sơ tưliệu riêng Một số câu hỏi và bài tập về mối liên hệ giữa lịch sử thế giới với lịch sửViệt Nam từ năm 1919 đến năm 1945 sẽ được trình bày cụ thể trong chương III
Phương pháp thảo luận nhóm: có ý nghĩa quan trọng trong việc đổi mới
phương pháp dạy và học Thảo luận nhóm tạo cơ hội cho tất cả học sinh tham giaphát biểu ý kiến, tăng cường tương tác giữa những người học với nhau, kích thíchtính chủ động suy nghĩ và tinh thần trách nhiệm trong học tập, tạo điều kiện để họcsinh có thể cung cấp kiến thức cho nhau, tự kiểm tra, đánh giá việc học tập và tựkhẳng định mình, tạo không khí sôi nổi trong giờ học Một số nội dung thể hiện mốiliên hệ giữa lịch sử thế giới với lịch sử Việt Nam có thể đưa ra thảo luận nhóm như
- Bối cảnh thời đại có tác động gì đến việc lựa chọn con đường cứu nước, giải phóngdân tộc của Nguyễn Ái Quốc?
- Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 ở các nước tư bản có ảnh hưởng đếnViệt Nam không? Vì sao?
Trang 16- Sự kiện Nhật Bản đầu hàng Đồng minh ngày 15/8/1945 đã tác động gì đến cáchmạng Việt Nam?
- Có đúng không khi khẳng định Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam diễn
- Thứ nhất, Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 là cuộc cách mạng xã hội chủ
nghĩa thành công đầu tiên trên thế giới, giải phóng nhân dân lao động và các dân tộc
bị áp bức trên đất nước Nga, đưa nước Nga đi theo Chủ nghĩa xã hội Do đó, nhiềunước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam nhận thấy mô hìnhcách mạng này phù hợp với mình nên đã tiếp thu ánh sáng của Cách mạng thángMười Cách mạng tháng Mười đã tác động mạnh mẽ đến cách mạng Việt Nam trongnhững năm 20 của thế kỉ XX
Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) là cuộc chiến tranh đế quốc nhằmtranh giành thuộc địa giữa các nước đế quốc lớn Nhưng từ trong cuộc chiến tranh
đế quốc ấy, Cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ như một tiếng sấm vang dội làmrung chuyển cả hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới, lật tung xiềng xích nô lệ mà chủnghĩa đế quốc quàng vào các dân tộc Bản thân Cách mạng tháng Mười đã giảiphóng cho các dân tộc thuộc địa trong đế quốc Nga, làm cho các dân tộc đó đượcđộc lập, được hưởng các quyền dân tộc tự quyết Cách mạng tháng Mười đã nêu mộttấm gương sáng về sự nghiệp giải phóng dân tộc, cổ vũ và động viên các dân tộcthuộc địa, trong đó có Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dângiành độc lập dân tộc
Với thắng lợi của Cách mạng tháng Mười, chủ nghĩa Mác- Lênin trở thànhhiện thực Chủ nghĩa Mác- Lênin không chỉ là vũ khí giải phóng giai cấp công nhân
mà còn là vũ khí giải phóng các dân tộc bị áp bức Nó có sức hấp dẫn đối với cácdân tộc thuộc địa, dễ dàng thâm nhập vào các dân tộc thuộc địa, truyền bá vào cácdân tộc thuộc địa để hình thành nên các Đảng Cộng sản ở thuộc địa Người thanhniên yêu nước Nguyễn Ái Quốc trong hành trình tìm đường cứu nước của mình đãđến với chủ nghĩa Mác- Lênin, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên trên đấtđất Pháp Giữa tháng 7/1920, tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc được đọc bản “Sơ thảo lầnthứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin đăngtrên báo Nhân đạo của Đảng Xã hội Pháp, số ra hai ngày 16 và 17 tháng 7 năm
1920 Nguyễn Ái Quốc đã đọc đi đọc lại nhiều lần bản Luận cương và qua lăng kính
Trang 17của chủ nghĩa yêu nước chân chính, Người đã tìm thấy ở đó con đường đi đúng đắngiải phóng đất nước khỏi ách thực dân Sau này, chính bản thân Người nhớ lại
“Trong Luận cương ấy có những chữ chính trị khó hiểu Nhưng cứ đọc đi đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính Luận cương của Lênin làm tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ và tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên! Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây
là con đường giải phóng chúng ta Từ đó, tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”[9;27] Như vậy, chính Luận cương của Lênin, ánh sáng của Cách
mạng tháng Mười Nga đã giúp Nguyễn Ái Quốc xác định con đường cứu nước, conđường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản Đây là con đường hoàn toànmới mẻ, khác hẳn con đường của các thế hệ tiền bối (Phan Bội Châu, Phan ChâuTrinh, Hoàng Hoa Thám ) đã đi trước đó Cũng từ đó, Liên Xô, đất nước của cuộcCách mạng tháng Mười trong tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc đã trở thành chỗ dựa,thành trì của phong trào cách mạng thế giới nói chung và phong trào giải phóng dântộc nói riêng
- Thứ hai, cao trào cách mạng ở các nước Âu- Mĩ trong những năm 1918-1923, dưới tác động của Cách mạng tháng Mười Nga và hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất đã đưa đến kết quả là sự ra đời của nhiều Đảng Cộng sản trên thế giới
Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc đã tạo ra sự thay đổi lớn đối với cácnước tư bản Trong những năm 1918-1923, phần lớn các nước tư bản (trừ Mĩ) đềulâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị, biểu hiện ở sự suy sụp về kinh tế vàcao trào cách mạng bùng lên mạnh mẽ ở châu Âu Các phong trào đấu tranh khôngchỉ dừng lại ở những yêu sách kinh tế mà còn nhằm ủng hộ nước Nga Xô viết Đỉnhcao của phong trào là sự thành lập các nước Cộng hòa Xô viết ở Hunggari và ởBavie (Đức) Trong bối cảnh cuộc đấu tranh của nhân dân lao động, Đảng Cộng sảnĐức được thành lập (1918) đã trực tiếp chỉ đạo cách mạng Khởi nghĩa vũ trangbùng nổ ở Hăm- buốc là âm hưởng cuối cùng của bão táp cách mạng vô sản ở nướcĐức Ở Mĩ, ngay trong thời kì hoàng kim của nền kinh tế, những người lao động vẫnphải thường xuyên đối mặt với nạn thất nghiệp, bất công xã hội và nạn phân biệtchủng tộc Năm 1921, Đảng Cộng sản Mĩ thành lập trên cơ sở hợp nhất Đảng Cộngsản công nhân Mĩ và Đảng Cộng sản Mĩ (1919), đánh dấu bước phát triển của phongtrào công nhân Mĩ Tại Anh, năm 1920, Đảng Cộng sản cũng được thành lập TạiPháp, không có những phong trào cách mạng mang tính vô sản như ở Đức nhưngcao trào cách mạng cũng lên rất cao Tổng bãi công ở Pari năm 1920 lôi cuốnkhoảng 1 triệu người tham gia Trong bối cảnh đó, Đảng Xã hội Pháp bị phân hóa
Trang 18Tại Đại hội của Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua, đa số đại biểu, trong đó có Nguyễn ÁiQuốc đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và thành lập Đảng Cộng sảnPháp (12/1920)
Như vậy, với sự phát triển của phong trào cách mạng ở các nước tư bản trongnhững năm 1918-1923, nhiều Đảng Cộng sản được thành lập ở các nước tư bản Âu-
Mĩ Việc thành lập các Đảng Cộng sản đã mở ra một khuynh hướng cứu nước mớitrên thế giới muốn đi theo cách mạng tháng Mười Nga Người thanh niên yêu nướcNguyễn Ái Quốc cũng trở thành đảng viên cộng sản, là một trong những người thamgia thành lập Đảng Cộng sản Pháp Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới hiện đại, mộtđại diện của giai cấp công nhân và dân tộc thuộc địa tham gia sáng lập Đảng tiênphong của giai cấp công nhân ở một nước đế quốc lớn đang áp bức dân tộc mình.Điều đó có nghĩa là thông qua Nguyễn Ái Quốc, giai cấp công nhân và nhân dân laođộng Việt Nam đã bắt tay với giai cấp công nhân Pháp hợp thành một mặt trận đánh
đổ kẻ thù chung là chủ nghĩa tư bản Pháp “Sự kiện đó còn mang một ý nghĩa tượng trưng cho xu thế cách mạng thế giới- tình đoàn kết chiến đấu giữa giai cấp vô sản
và các dân tộc bị áp bức trên thế giới theo khẩu hiệu chiến lược của Quốc tế Cộng sản” [9;34] Kể từ đây, Nguyễn Ái Quốc càng tích cực hoạt động và tiếp tục học tập,
nghiên cứu lú luận cách mạng dân tộc ở thuộc địa theo con đường cách mạng vô sản
để truyền bá về Việt Nam
Thứ ba, cao trào giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông nhất là các nước thuộc địa và phụ thuộc dưới ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga và hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất làm cho các nước đế quốc gặp nhiều khó khăn, có tác dụng cổ vũ to lớn đối với cách mạng Việt Nam
Khi ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: “trừ Nhật Bản là nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa đang bị chủ nghĩa đế quốc xâu xé, (còn) nước Trung Hoa rộng lớn luôn luôn là “con bò sữa” đối với tư bản châu Âu và châu Mĩ; nước Triều Tiên nằm trong tay chủ nghĩa tư bản Nhật; Ấn Độ một nước nông dân và giàu
có bị đế quốc Anh cai trị và Đông Dương với 75.000 km 2 đất đai, 20 triệu dân bị phó mặc cho sự bóc lột thậm tệ của một nhóm kẻ cướp thực dân Chính sự tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc thực dân về mặt khách quan đã chuẩn bị điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa xã hội nẩy nở và phát triển” [9;39-40] Do đó, sự phát triển của
phong trào giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông nhất là Trung Quốc, Ấn Độ
và nhiều nước Đông Nam Á khác đều có tác dụng to lớn đối với cách mạng ViệtNam
Cách mạng tháng Mười Nga đã mở ra một thời kì mới trong lịch sử TrungQuốc Dưới ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười, phong trào Ngũ tứ (4/5/1919)
Trang 19đã bùng nổ ở Trung Quốc Phong trào lan rộng khắp 22 tỉnh và 150 thành phố trong
cả nước, lôi cuốn đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, đặc biệt là công nhân.Phong trào Ngũ tứ đã mở đầu cao trào cách mạng chống đế quốc và phong kiến ởTrung Quốc Lần đầu tiên, giai cấp công nhân Trung Quốc xuất hiện trên vũ đàichính trị với tư cách là một lực lượng cách mạng độc lập Từ sau phong trào Ngũ tứ,chủ nghĩa Mác- Lênin được truyền bá mạnh mẽ vào Trung Quốc Nguyễn Ái Quốc
cho rằng “việc nắm chính quyền của nhà cách mạng Tôn Dật Tiên ở miền Nam đã hứa hẹn một nước Trung Hoa được tổ chức lại và có tính chất vô sản Thật không phải quá đáng khi nghĩ rằng trong một tương lai rất gần, hai chị em - nước Trung Hoa và nước Nga công nhân - tay nắm tay cùng nhau tiến lên vì nền dân chủ và vì nhân loại”.[9;40] Đảng Cộng sản Trung Quốc được thành lập (7/1921) đánh dấu
bước ngoặt quan trọng của cách mạng nước này, đồng thời có ý nghĩa to lớn đối vớicác dân tộc thuộc địa ở phương Đông đang trên con đường đấu tranh tự giải phóng
Kể từ khi Đảng Cộng sản Trung Quốc được thành lập, cách mạng Trung Quốc
có những biến đổi to lớn Chiến tranh Bắc phạt bùng nổ (1926-1927) do Đảng Cộngsản và Quốc dân đảng hợp tác với nhau để tiến hành cuộc chiến tranh cách mạngnhằm đánh đổ các tập đoàn quân phiệt đang chia nhau thống trị các vùng ở miền BắcTrung Quốc Tuy nhiên, chiến tranh cách mạng đang tiến triển thuận lợi thì các phần
tử cánh hữu trong Quốc dân đảng do Tưởng Giới Thạch cầm đầu đã câu kết với cácthế lực đế quốc, phong kiến chống lại phong trào cách mạng Cuộc chính biến(4/1927) của Quốc dân đảng đã tàn sát, khủng bố đẫm máu những người cộng sản,
mở đầu cho các hoạt động công khai chống phá cách mạng ở nhiều địa phương.Cuộc chính biến đã cho thấy bộ mặt của giai cấp tư sản Trung Quốc, đồng thời cũng
là bài học với con đường đấu tranh theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở các nướcphương Đông lúc bấy giờ, trong đó có Việt Nam Trong cuộc phản biến, bọn phảncách mạng không chỉ khủng bố Đảng Cộng sản Trung quốc mà còn khủng bố cảnhững nhà cách mạng Việt Nam đang hoạt động tại đó Các cơ sở hoạt động và huấnluyện của những người yêu nước Việt Nam bị giải tán Yêu cầu đặt ra phải có mộtmảnh đất mới, một cơ sở mới để tiếp tục đưa phong trào cách mạng tiến lên
Ở Ấn Độ, phong trào độc lập dân tộc sau Chiến tranh thế giới thứ nhất cũngphát triển mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng Quốc đại, đứng đầu là Gan-đi Năm
1925, Đảng Cộng sản Ấn thành lập, góp phần thúc đẩy làn sóng đấu tranh của nhândân Ấn chống thực dân Anh
Ở In-đô-nê-xi-a, sự phát triển của phong trào công nhân cùng với việc truyền
bá chủ nghĩa Mác- Lênin đã dẫn tới việc thành lập chính đảng của giai cấp côngnhân (5/1920) Được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng, Đảng Cộng sản đã nhanh
Trang 20chóng trưởng thành và lãnh đạo phong trào cách mạng ở In- đô- nê-xi-a trong thậpniên 20 của thế kỉ XX
Như vậy, “tất cả các dân tộc bị trị ấy đều nung nấu tinh thần đấu tranh giải phóng dân tộc, một khí thế cách mạng sôi nổi đang lay động tất cả tâm hồn người
Ấn Độ, người Triều Tiên Tất cả đang chuẩn bị âm ỉ nhưng khôn ngoan cho cuộc đấu tranh cuối cùng và giải phóng”[9;40-41] Sự đầu độc có hệ thống của bọn tư
bản thực dân ở các nước phương Đông không hề làm tê liệt sức sống, càng khôngthể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của các nước Nó chỉ càng làm tăng thêm tinhthần đoàn kết, cổ vũ và làm bùng nổ các phong trào đấu tranh ở các xứ thuộc địa,trong đó có Việt Nam
Thứ tư, trong xu thế nhiều Đảng Cộng sản được thành lập, phong trào công nhân phát triển cao, Quốc tế Cộng sản ra đời năm 1919 tại Max-cơ-va do Lê-nin sáng lập đã lãnh đạo nhân dân thế giới làm cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp.
Trong thời gian tồn tại từ năm 1919 đến năm 1943, Quốc tế Cộng sản (Quốc
tế thứ ba) đã tiến hành 7 lần đại hội, đề ra đường lối cách mạng phù hợp với từngthời kì phát triển của cách mạng thế giới Đại hội II (tháng 7 và tháng 8/ 1920) giữmột vị trí nổi bật trong hoạt động của Quốc tế Cộng sản với việc thông qua “Luậncương về vấn đề dân tộc và thuộc địa”, “Luận cương về vai trò của Đảng Cộng sản”của Lênin Trong đó, “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin lầnđầu tiên được Nguyễn Ái Quốc đón nhận qua báo “Nhân đạo” của Pháp với niềmsay mê, tin tưởng và hi vọng Người khẳng định con đường cứu nước đúng đắn chodân tộc Việt Nam là con đường cách mạng vô sản Người tìm đọc những tác phẩmcủa Lênin, những bài viết về Lênin và Quốc tế Cộng sản Ngay sau khi kết thúc,nghị quyết của Đại hội II của Quốc tế Cộng sản đã được phổ biến rộng rãi Tư tưởngđoàn kết phương Tây vô sản và phương Đông bị áp bức được thể hiện rõ trong khẩuhiệu “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại” Biên bản củaĐại hội được Quốc tế Cộng sản in bằng nhiều thứ tiếng, trong đó có tiếng Pháp, đãthu hút sự chú ý của tất cả những ai quan tâm đến phương Đông, trong đó cóNguyễn Ái Quốc Có thể nói, sau Luận cương, những sự kiện chính trị trên đã gópphần củng cố thêm niềm tin vững chắc vào Lênin, vào Quốc tế Cộng sản, vào nướcNga Xô viết, củng cố thêm lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc
Tất cả những sự kiện trên trong lịch sử thế giới từ những năm cuối Chiếntranh thế giới thứ nhất đến năm 1925 đã có ảnh hưởng to lớn đến cách mạng ViệtNam Có thể xem đây là những điều kiện khách quan, nguyên nhân làm bùng nổphong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, và cũng là
Trang 21nguyên nhân làm bùng nổ khuynh hướng cứu nước mới: khuynh hướng vô sản ởViệt Nam sau năm 1919.
II.2.2.2 Trong giai đoạn 1929-1933
Thứ nhất, cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 đã tác động sâu sắc tới các nước tư bản và các nước thuộc địa.
Trong lịch sử phát triển kinh tế của chủ nghĩa tư bản, khủng hoảng dường như
đã trở thành căn bệnh “kinh niên” Nó không phải là hiện tượng của bất cứ một nước
tư bản nào mà là hiện tượng chung của tất cả các nước tư bản trên thế giới, tuân theo
“qui luật làn sóng” Khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 là một trong nhữngcuộc khủng hoảng lớn nhất về cơ cấu của chủ nghĩa tư bản do sản xuất ồ ạt chạy đuatheo lợi nhuận Cuộc đại khủng hoảng này đã chấm dứt thời kì ổn định của chủnghĩa tư bản cùng với ảo tưởng về một kỉ nguyên hòa bình của thế giới Cuộc khủnghoảng bắt đầu từ nước Mĩ, nhanh chóng tràn sang châu Âu, bao trùm toàn bộ thếgiới tư bản chủ nghĩa, để lại những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xãhội Hàng trăm triệu người (công nhân, nông dân và gia đình của họ) bị rơi vào vũnglầy đói khổ Hàng ngàn cuộc biểu tình lôi cuốn trên 17 triệu công nhân ở các nước tưbản tham gia trong những năm 1929-1933 Ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, cuộcđấu tranh giành độc lập dân tộc cũng bùng lên mạnh mẽ Những mâu thuẫn của chủnghĩa tư bản trở nên cực kì gay gắt
Trong bối cảnh đó đã hình thành những xu hướng khác biệt nhau trong việctìm kiếm con đường phát triển giữa các nước tư bản chủ nghĩa Các nước không cóhoặc có ít thuộc địa gặp nhiều khó khăn về vốn, nguyên liệu và thị trường đã đi theocon đường phát xít hóa chế độ chính trị, thiết lập nền chuyên chính khủng bố côngkhai nhằm cứu vãn tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng của mình Các nước Đức,Italia, Nhật Bản là điển hình cho xu hướng này Trong khi đó, các nước Mĩ, Anh,Pháp đã tìm cách thoát ra khỏi khủng hoảng bằng những cải cách kinh tế- xã hội,duy trì nền dân chủ tư sản đại nghị, đồng thời chủ trương duy trì nguyên trạng hệthống Vécxai- Oasinhtơn Quan hệ giữa các cường quốc tư bản trong thập niên 30chuyển biến ngày càng phức tạp Sự hình thành hai khối đối lập - một bên là Đức,Italia, Nhật với một bên là Mĩ, Anh, Pháp và cuộc chạy đua vũ trang giữa hai khối
đã phá vỡ hệ thống thỏa hiệp tạm thời Vécxai- Oasinhtơn, dẫn tới sự hình thành các
lò lửa chiến tranh, báo hiệu một cuộc chiến tranh thế giới mới Tình hình này tácđộng sâu sắc đến các nước thuộc địa và phụ thuộc, trong đó có Việt Nam trong cuộcđấu tranh giành độc lập vào những năm 30 của thế kỉ XX, đòi hỏi các nước phải có
sự chuyển hướng kịp thời trong đường lối đấu tranh để phù hợp với tình hình mới