1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chuyên đề ôn thi HS giỏi sử mối liên hệ giữa lịch sử thế giới với lịch sử việt nam từ năm 1919 đến năm 1945 su14

114 139 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 131,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo của Lênin đã đặt cơ sở cho việcxây dựng liên minh, đoàn kết giữa phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ở cácnước tư bản với phong trào đấu tranh của nhân dân lao động ở các

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

A PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lí do chọn đề tài 3

2 Mục đích của đề tài 4

B NỘI DUNG 5

I NHỮNG SỰ KIỆN LỚN CỦA LỊCH SỬ THẾ GIỚI (1917 – 1945) CÓ ẢNH HƯỞNG, TÁC ĐỘNG TRỰC TIẾP ĐẾN CÁCH MẠNG VIỆT NAM 5

1 Những yếu tố của thời đại mới xuất hiện 5

1.1 Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 5

1.2 Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) với quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 10

1.3 Hậu quả của cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) 19

1.4 Ảnh hưởng của phong trào cách mạng ở một số nước phương Đông 21

2 Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933) và khuynh hướng tả khuynh trong Quốc tế Cộng sản 25

2.1 Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933) 25

2.2 Khuynh hướng tả khuynh trong Quốc tế Cộng sản 31

3 Đại hội lần VII của Quốc tế Cộng sản (tháng 7 – 1935) 38

4 Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945) 44

4.1 Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (tháng 9 – 1939) 44

4.2 Nhật tiến vào Đông Dương (tháng 9 – 1940) 47

4.3 Chủ nghĩa phát xít trở thành kẻ thù chung của toàn nhân loại (cuối năm 1940 đến đầu năm 1941) 50

4.4 Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc (cuối năm 1944 đến tháng 3 – 1945) 53

4.5 Những ngày cuối cùng của chủ nghĩa phát xít Đức và quân phiệt Nhật Bản (từ tháng 5 – 1945 đến tháng 8 – 1945) 56

II PHƯƠNG PHÁP ÔN TẬP NỘI DUNG NHỮNG SỰ KIỆN LỚN CỦA LỊCH SỬ THẾ GIỚI (1917 – 1945) CÓ ẢNH HƯỞNG, TÁC ĐỘNG TRỰC TIẾP ĐẾN CÁCH MẠNG VIỆT NAM 61

1 Xác định mục đích học tập lịch sử để có phương pháp nhận thức đúng 62

2 Một số biện pháp để ôn tập và làm bài thi tốt 63

3 Kiểm tra năng lực học tập của học sinh 65

III HỆ THỐNG CÂU HỎI ÔN TẬP NỘI DUNG NHỮNG SỰ KIỆN LỚN CỦA LỊCH SỬ THẾ GIỚI (1917 – 1945) CÓ ẢNH HƯỞNG, TÁC ĐỘNG TRỰC TIẾP ĐẾN CÁCH MẠNG VIỆT NAM 65

1 Hệ thống câu hỏi ôn tập 65

2 Gợi ý một số câu hỏi 70

C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 113

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

Trang 3

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi là một trong những hoạt động vất vả, khókhăn và thử thách đối với những người làm nghề dạy học Bồi dưỡng học sinh giỏicũng là công tác cực kì quan trọng giúp cho ngành giáo dục phát hiện nhân tài, lựachọn những mầm giống tương lai cho đất nước trong sự nghiệp trồng người Đồng thờigiúp cho học sinh thực hiện được ước mơ là con ngoan, trò giỏi và có định hướngđúng về nghề nghiệp của mình trong tương lai

Là một giáo viên giảng dạy môn Lịch sử, may mắn khi được công tác tại mộttrường chuyên – nơi có cơ sở vật chất được ưu tiên đầu tư, trình độ đồng nghiệp đồngđều, học sinh lớp chuyên đều ham học và yêu thích môn Lịch sử Sự hội tụ những yếu

tố này là điều kiện thuận lợi cho những giáo viên trẻ như chúng tôi có cơ hội để ápdụng kiến thức đã học vào việc tuyển chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi Mặc dù hiệnnay ở các trường THPT Chuyên công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, trong đó có việc bồidưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử đã được chú trọng song vẫn còn những bất cập nhấtđịnh như: cách tuyển chọn, lựa chọn nội dung và phương pháp giảng dạy, phần lớn chỉlàm theo kinh nghiệm Từ những bất cập trên dẫn đến hiệu quả bồi dưỡng không đạtđược như ý muốn

Băng khoăn trước thực trạng đó, chúng tôi luôn tìm tòi, nghiên cứu để nâng caokiến thức và phương cách giảng dạy của bộ môn để gây hứng thú học tập môn lịch sửcho học sinh, nhất là công tác bồi dưỡng học sinh giỏi sao cho đạt hiệu quả Trongnhững năm gần đây, Hội các trường chuyên khu vực Duyên hải và Đồng bằng Bắc Bộ

đã tổ chức các Hội thảo chuyên đề Tôi nhận thấy rằng đây là những hoạt động bổ ích,mang lại tính hiệu quả cao vì không chỉ là diễn đàn trao đổi kinh nghiệm công tác bồidưỡng học sinh giỏi mà còn cung cấp rất nhiều các tài liệu hữu ích phục vụ bồi dưỡnghọc sinh giỏi Quốc gia Được sự phân công của đơn vị tổ chức Hội thảo khoa học cáctrường THPT Chuyên Khu vực Duyên hải và Đồng bằng Bắc bộ lần thứ XII, tại tỉnh

Bắc Ninh, chúng tôi đã tập hợp một số tài liệu để lựa chọn và viết nội dung: “Những

sự kiện lớn của lịch sử thế giới (1917-1945) có ảnh hưởng, tác động trực tiếp đến cách mạng Việt Nam”, nhằm chia sẻ cho giáo viên, học sinh tham khảo khi ôn luyện

để chuẩn bị cho kì thi chọn học sinh giỏi Quốc gia môn Lịch sử

Trang 4

Trong chương trình lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông, giai đoạn

1919 - 1945 là giai đoạn rất trọng tâm và cơ bản Đây là giai đoạn bao gồm nhiều sựkiện, nhiều vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam, phần lớn các đề thi chọn Học sinhgiỏi, thi Đại học - Tốt nghiệp THPT (nay là thi THPT Quốc gia) đều đề cập đến Trong

đó, những ảnh hưởng, tác động của các sự kiện lịch sử thế giới đến cách mạng ViệtNam là rất lớn Xuất phát từ thực tiễn công tác và những khó khăn trong việc tập hợp

tài liệu khi giảng dạy nên chúng tôi mạnh dạn lựa chọn nội dung: “Những sự kiện lớn

của lịch sử thế giới (1917-1945) có ảnh hưởng, tác động trực tiếp đến cách mạng Việt Nam”, nhằm chia sẻ về lí luận và thực tiễn từ việc xác định nội dung, lựa chọn phương

pháp và các cách dạy học hiệu quả, có thể vận dụng trong quá trình dạy học lịch sử nóichung cũng như công tác bồi dưỡng Quốc gia nói riêng

Nội dung của chuyên đề bao gồm 3 phần:

Phần I: Những sự kiện lớn của lịch sử thế giới (1917 – 1945) có ảnh hưởng, tácđộng trực tiếp đến cách mạng Việt Nam

Phần II: Phương pháp ôn tập

Phần III: Hệ thống câu hỏi ôn tập

Chúng tôi hy vọng đây là một nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho giáo viên,học sinh khi giảng dạy, học tập chuyên đề lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 – 1945

Trang 5

B NỘI DUNG

I NHỮNG SỰ KIỆN LỚN CỦA LỊCH SỬ THẾ GIỚI (1917 – 1945) CÓ ẢNH HƯỞNG, TÁC ĐỘNG TRỰC TIẾP ĐẾN CÁCH MẠNG VIỆT NAM

1 Những yếu tố của thời đại mới xuất hiện

1.1 Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917

Thực hiện khẩu hiệu “biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng”,Đảng Bônsêvich do V.I.Lênin đứng đầu đã lãnh đạo cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩatháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi Cách mạng tháng Mười Nga đã đập tan áchthống trị của giai cấp phong kiến và tư sản Nga, thiết lập nhà nước xã hội chủ nghĩađầu tiên trên thế giới, đưa nhân dân Nga từ thân phận nô lệ lên làm chủ cuộc sống củamình Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra thời kỳ mới chưa từng có tronglịch sử nhân loại – thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội

Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đã chặt dứt một mắt xích quan trọngtrong hệ thống tư bản chủ nghĩa và phân chia thế giới thành hai chế độ chính trị đối lậpnhau là chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội Cách mạng tháng Mười mở ra conđường giải phóng giải phóng cho giai cấp công nhân ở các nước tư bản và nhân dâncác nước thuộc địa và phụ thuộc; cung cấp những bài học kinh nghiệm quý báu, thúcđẩy cao trào cách mạng thế giới phát triển

Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đánh dấu mốc thắng lợi của chủ nghĩaMác – Lênin trước các trào lưu tư tưởng cơ hội của Quốc tế II Chủ nghĩa xã hội từ lýluận đã trở thành hiện thực trên Trái đất Chủ nghĩa Mác – Lênin có điều kiện truyền

bá nhanh chóng và được vận dụng rộng rãi trên thế giới, nhất là các nước thuộc địa vàphụ thuộc

Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 có tác động mạnh mẽ đến phong tràogiải phóng dân tộc thuộc địa ở các nước phương Đông Nói về ý nghĩa của Cách mạngtháng Mười, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thắng lợi của Cách mạng xã hội chủnghĩa tháng Mười có một ý nghĩa hết sức quan trọng đối với số phận lịch sử của cácdân tộc phương Đông Nó đã thức tỉnh các dân tộc bị áp bức ở châu Á, chỉ cho nhândân các nước thuộc địa và phụ thuộc con đường giải phóng, nêu gương tự do dân tộcthật sự”

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, để giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị củathực dân Pháp, phong trào yêu nước ở Việt Nam diễn ra vô cùng sôi nổi với nhiều

Trang 6

khuynh hướng chính trị khác nhau, vũ khí tư tưởng khác nhau, nhưng tất cả đều đi đếnthất bại Mặc dù rất khâm phục tinh thần cứu nước của ông cha, nhưng người thanhniên Nguyễn Tất Thành không tán thành các con đường của họ mà quyết tâm đi ranước ngoài, cụ thể là phương Tây, mà đích đến đầu tiên là nước Pháp - đất nước đangcai trị Việt Nam - để tìm một con đường cứu nước mới Sau gần 10 năm bôn ba ở nướcngoài, người thanh niên ấy đã đến với ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, ánh sángcủa Cách mạng tháng Mười Nga và đã tìm thấy con đường đi cho dân tộc Việt Namthoát khỏi áp bức, giành lại độc lập dân tộc.

Cách mạng tháng Mười Nga đã đi vào lịch sử nhân loại như một sự kiện vĩ đại,làm rung chuyển và đảo lộn trật tự thế giới Khác với các cuộc cách mạng trước đó,Cách mạng tháng Mười Nga thực hiện được mục tiêu giải phóng nhân dân lao độngkhỏi áp bức và kết quả là một hình thái kinh tế - xã hội mới ra đời, hình thái xã hội chủnghĩa Từ đó, Liên Xô trở thành thành trì của phong trào cách mạng thế giới, tạo điềukiện thuận lợi và giúp đỡ nhiều nước tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóngdân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minh đã nhận định Cách mạng ThángMười Nga không chỉ là cuộc cách mạng vô sản mà còn là cuộc cách mạng giải phóngdân tộc Nó là tấm gương sáng cổ vũ các dân tộc thuộc địa đứng lên đấu tranh chốnglại ách áp bức, giải phóng dân tộc “Giống như mặt trời chói lọi, cách mạng ThángMười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên tráiđất Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn vàsâu xa như thế”

Với lòng nồng nàn yêu nước và tinh thần lao động, học tập không mệt mỏi nơi

xứ người để mong tìm được hướng đi cho dân tộc, qua nhiều năm sống, quan sát vàhoạt động thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc không chọn đi theo con đường cách mạng tư sảnnhư các nước tư bản Pháp, Mĩ bởi: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa

là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thựctrong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa” Nguyễn Ái Quốc đãthấy được Cách mạng tháng Mười khác hẳn các cuộc cách mạng tư sản Anh, Pháp,

Mỹ Người nhận định: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công,

và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳngthật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoangbên An Nam Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho

Trang 7

công, nông các nước và dân tộc bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất

cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới” Từ đó, Người rút ra bài học cho cáchmạng trong nước: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thànhcông thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan,phải hy sinh, phải thống nhất Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mác và Lênin”

Dưới sự lãnh đạo của V.I.Lênin, Cách mạng tháng Mười Nga đã thành công và

có ảnh hưởng vô cùng to lớn, khai sinh ra một thời đại mới, thời đại quá độ từ chủnghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Đến với Cách mạngtháng Mười Nga, cách mạng vô sản, đi theo con đường mà V.I.Lênin và Cách mạngtháng Mười Nga vạch ra, cách mạng Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minhlãnh đạo đã liên tiếp giành nhiều thắng lợi Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945mang ý nghĩa lịch sử to lớn, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam - kỷ nguyênđộc lập, dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội Dân tộc thoát khỏi ách áp bức bóc lột,bất công, hàng triệu người Việt Nam được sống trong hòa bình, độc lập, tự do

Dành rất nhiều tình cảm đối với V.I.Lênin và Cách mạng tháng Mười, nhưngđến khi đọc được bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn

đề thuộc địa của V.I.Lênin (chuẩn bị trình bày tại Đại hội lần II của Quốc tế cộng sản)trên tờ báo Pháp L’Humanité tháng 7-1920, lúc bấy giờ trong tư tưởng Nguyễn ÁiQuốc mới thật sự có những chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, được xem như bướcngoặt trong quá trình tìm đường bao năm của Người

V.I.Lênin đã trình bày Luận cương dưới 12 luận điểm cơ bản, nêu lên nhữngvấn đề có tính nguyên tắc về vấn đề dân tộc, về bản chất của giai cấp tư sản đối vớivấn đề dân tộc, phương hướng giải quyết vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa TrongLuận cương, V.I.Lênin đã chỉ rõ Quốc tế cộng sản phải đoàn kết giai cấp vô sản vànhân dân bị áp bức ở các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh chung Tại luận điểmthứ 4 của Luận cương, V.I.Lênin nêu rõ: “… điều quan trọng nhất trong chính sáchcủa Quốc tế cộng sản về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa phải là làm cho giai cấp vôsản và quần chúng lao động của tất cả các dân tộc và tất cả các nước gần gũi nhau đểtiến hành cuộc đấu tranh cách mạng chung nhằm lật đổ bọn địa chủ và giai cấp tư sản.Bởi vì, chỉ có sự gần gũi ấy mới bảo đảm việc chiến thắng chủ nghĩa tư bản, nếukhông có chiến thắng đó thì không thể thủ tiêu được ách áp bức dân tộc và tình trạngbất bình đẳng”

Trang 8

Đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc, V.I.Lênin đặc biệt lưu ý với 6 chínhsách và chỉ rõ nhiệm vụ các Đảng cộng sản và giai cấp công nhân chính quốc phảigiúp đỡ tích cực phong trào giải phóng dân tộc của họ; cần ủng hộ phong trào nôngdân, chống mọi biểu hiện và tàn dư của chế độ phong kiến, thực hiện liên minh chặtchẽ giữa giai cấp công nhân và nông dân Đồng thời, giúp họ nhận thấy trách nhiệmcủa mình là đấu tranh chống phong trào dân chủ tư sản trong nội bộ nước họ Về sáchlược, phong trào vô sản có thể liên minh với phái dân chủ tư sản nhưng không bao giờđược hòa nhập vào phái đó.

Rõ ràng, với những luận giải có tính chiến lược trong vấn đề thuộc địa, Luậncương của V.I.Lênin đã có tác động mạnh mẽ đến Nguyễn Ái Quốc, là bước ngoặt lớn,điểm mốc quan trọng đánh dấu sự chuyển biến trong tư tưởng của Người về đường lốicứu nước Không phải ngẫu nhiên mà sau khi đọc xong Luận cương, Người đã “cảmđộng, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng… vui mừng đến phát khóc”, ngồi một mình trongbuồng mà nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọađày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”.Cùng với sự hiểu biết về thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga đã đạt được trước

đó, Luận cương của V.I.Lênin đã đáp ứng được những suy nghĩ, tình cảm, mong mỏiđược ấp ủ bấy lâu ở Nguyễn Ái Quốc Người đã tìm thấy được ánh sáng, phươnghướng để tiến hành con đường giải phóng dân tộc đạt đến thắng lợi cuối cùng Từ đó,Người đã hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế III do V.I.Lênin sáng lập Sau này,trong tác phẩm Đường cách mệnh (1927) Người đã khẳng định: “Bây giờ học thuyếtnhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnhnhất là chủ nghĩa Lênin”

Trải qua gần mười năm bôn ba ở các nước tư bản lớn lẫn các nước thuộc địa,Nguyễn Ái Quốc đã hình thành tình cảm và nhận thức cụ thể về tình cảnh, nguyệnvọng của các dân tộc thuộc địa, cùng với mong mỏi giải phóng dân tộc mình đã hằngnung nấu bấy lâu nên khi biết về cuộc Cách mạng tháng Mười Nga và bắt gặp Luậncương của V.I.Lênin, Người đã tiếp nhận dễ dàng, trọn vẹn Điểm nhấn khá quan trọng

mà V.I.Lênin đã nêu và xem như điều kiện đảm bảo thắng lợi của cuộc đấu tranh thủtiêu sự áp bức dân tộc và tình trạng bất bình đẳng, cũng chính là điểm tác động sâu sắcnhất đến Nguyễn Ái Quốc, đó là tinh thần đoàn kết chiến đấu giữa những người vô sản

và nhân dân lao động ở các nước Luận cương còn chỉ rõ: “…tất cả các phong trào giải

Trang 9

phóng dân tộc trong các thuộc địa và trong các dân tộc bị áp bức mà kinh nghiệm đauđớn đã làm cho họ tin chắc rằng đối với họ không có con đường cứu vãn nào ngoài sựchiến thắng của Chính quyền xô-viết đối với chủ nghĩa đế quốc thế giới” Luận cương

đã luận giải một cách ngắn gọn, sáng tỏ những nội dung chủ yếu về cách mạng giảiphóng dân tộc, soi tỏ hướng đi và biện pháp quan trọng nhất đưa sự nghiệp giải phóngcác dân tộc thuộc địa giành được thắng lợi hoàn toàn Điều này đã chỉ cho Nguyễn ÁiQuốc con đường cứu nước đúng đắn mà Người hằng mong đợi qua hàng chục năm tìmđường

Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin đã ảnh hưởng sâu sắc,

có ý nghĩa quyết định đến lập trường cứu nước Nguyễn Ái Quốc Những luận điểmquan trọng trong Luận cương đã tác động đến Nguyễn Ái Quốc và được Người nhanhchóng tiếp nhận, tạo sự chuyển biến bước ngoặt trong tư tưởng và được biểu hiện rabằng hành động Người đã quyết định lựa chọn con đường giải phóng dân tộc gắn vớicách mạng vô sản Người nhận định: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không cócon đường nào khác con đường cách mạng vô sản, con đường của Cách mạng ThángMười Nga

Từ đó, Lê nin và Quốc tế III là nguồn động lực tinh thần cho Nguyễn Ái Quốctiếp bước vững chắc trên con đường đã được định hướng rõ ràng Với tinh thần ấy,Nguyễn Ái Quốc vững tin đến Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp, khai mạcngày 25-12-1920 tại thành phố Tua - Đại hội quyết định bước chuyển căn bản theođường lối của Quốc tế Cộng sản Nguyễn Ái Quốc là người dân thuộc địa duy nhất,người Đông Dương duy nhất trong đoàn đại biểu các đảng bộ thuộc địa gồm 8 người(7 đại biểu khác của các thuộc địa đều là người Pháp) Việc Nguyễn Ái Quốc tham giasang lập Đảng Cộng sản Pháp và bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản là sự kiện có ýnghĩa to lớn, đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời và sự nghiệp của Người Lần đầutiên trong lịch sử thế giới hiện đại, một đại diện của giai cấp công nhân và dân tộcthuộc địa tham gia sáng lập Đảng tiên phong của giai cấp công nhân ở một đế quốc lớnđang áp bức dân tộc mình Thông qua Nguyễn Ái Quốc, giai cấp công nhân và nhândân lao động Việt Nam và giai cấp công nhân Pháp hợp thành một mặt trận chống chủnghĩa thực dân Pháp Điều này còn mang ý nghĩa tượng trưng cho xu hướng cáchmạng thế giới - tinh thần đoàn kết chiến đấu giữa giai cấp vô sản và các dân tộc bị ápbức trên thế giới theo khẩu hiệu chiến lược của Quốc tế Cộng sản

Trang 10

Vượt qua sự hạn chế về quan niệm cứu nước đương thời, Nguyễn Ái Quốc đãtìm ra con đường giải phóng dân tộc: Con đường cách mạng vô sản, con đường củaCách mạng tháng Mười Nga dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin Có thể nói, sựgặp gỡ giữa khát vọng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc với Luận cương củaV.I.Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa và lý tưởng đẹp đẽ của cuộc Cáchmạng tháng Mười Nga đã giúp Nguyễn Ái Quốc trở thành người chiến sĩ tiên phongtrong cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức theo con đường của giai cấp vôsản và trở thành người dẫn đường cho cách mạng giải phóng dân tộc, lãnh tụ kính yêucủa dân tộc Việt Nam sau này Hướng về Lênin và đất nước Xô viết, quê hương củaCách mạng tháng Mười, Người luôn dành những tình cảm tốt đẹp và kính trọng: “Khicòn sống, Lênin là người thầy, người cha của nhân dân bị áp bức Sau khi mất, Người

là ngôi sao chỉ đường tiến tới sự nghiệp giải phóng vĩ đại của nhân dân bị áp bức”

1.2 Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) với quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Vào những năm đầu thế kỷ XX, trên chính trường quốc tế phong trào cáchmạng thế giới phát triển mạnh mẽ, với đỉnh cao là thắng lợi của cuộc Cách mạng thángMười Nga năm 1917 Trong bối cảnh lịch sử đó, tháng 3-1919, dưới sự lãnh đạo củaLênin, các Đảng cộng sản và nhóm cộng sản của 30 nước đã tiến hành Đại hội tạiMoskva – Liên Xô thành lập Quốc tế Cộng sản – Quốc tế III

Cương lĩnh của Quốc tế Cộng sản vạch rõ mục tiêu và con đường cách mạng ởcác nước tư bản chủ nghĩa là tiến hành cách mạng vô sản; ở các nước thuộc địa là cáchmạng giải phóng dân tộc, thiết lập chuyên chính vô sản, xây dựng chủ nghĩa xã hội

Điều lệ của Quốc tế Cộng sản được Đại hội II (năm 1920) thông qua đòi hỏi cácđảng vô sản muốn gia nhập phải tuân theo những điều kiện hết sức chặt chẽ như: phải

có thái độ dứt khoát về đường lối và về tổ chức đối với Quốc tế III; phải đấu tranh kiênquyết về mặt tư tưởng cũng như biện pháp hoạt động cụ thể chống mọi biểu hiện củachủ nghĩa cơ hội và xét lại; nghiêm chỉnh thực hiện và tích cực tuyên truyền các quanđiểm của chủ nghĩa Mác – Lênin; phải đổi tên Đảng là Đảng Cộng sản Đảng phải có

tổ chức và kỷ luật chặt chẽ, phải vạch mặt những thủ đoạn xảo trá của đế quốc nướcmình trong các vấn đề thuộc địa; phải ủng hộ trên thực tế chứ không phải trên lời nóiphong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa, v.v…

Trang 11

Cũng tại Đại hội II, Lênin đã trình bày bản báo cáo “Sơ thảo lần thứ nhất nhữngluận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” Báo cáo của Lênin đã đặt cơ sở cho việcxây dựng liên minh, đoàn kết giữa phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ở cácnước tư bản với phong trào đấu tranh của nhân dân lao động ở các nước thuộc địa vànửa thuộc địa.

Đại hội lần thứ III của Quốc tế Cộng sản (1921), lần đầu tiên đề ra nhiệm vụxây dựng một Mặt trận thống nhất của giai cấp công nhân đấu tranh chống lại giai cấp

tư sản Chủ trương của Quốc tế cộng sản là tập hợp không chỉ giai cấp công nhân màcòn là tập hợp đa số những người bị bóc lột và bị áp bức

Đại hội lần thứ IV của Quốc tế Cộng sản (1922), trên cơ sở vạch rõ nguy cơ chủnghĩa phát xít đã đề ra những nguyên tắc cơ bản cho cuộc đấu tranh chống chủ nghĩaphát xít Đại hội thông qua “Đề cương chung về vấn đề phương Đông” đề ra chủtrương xây dựng Mặt trận thống nhất chống chủ nghĩa đế quốc ở các nước phươngĐông (ở phương Tây là Mặt trận công nhân thống nhất chống giai cấp tư sản) Xácđịnh cuộc đấu tranh của nhân dân các nước phương Đông chống chủ nghĩa đế quốc làlâu dài, quyết liệt nên phải tập hợp, phát huy tất cả các tầng lớp cách mạng

Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản (1924) tiếp tục quán triệt chủ trươngxây dựng mặt trận, tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân lao động dưới sự lãnh đạocủa các đảng cộng sản

Đại hội lần thứ VI của Quốc tế Cộng sản (1928) đã thông qua Cương lĩnh củaQuốc tế Cộng sản Cương lĩnh tổng kết kinh nghiệm lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản,của phong trào công nhân quốc tế, đồng thời chỉ ra phương hướng phát triển củaphong trào công nhân quốc tế Và đặc biệt, Đại hội đã thông qua bản “Đề cương vềphong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa”, vạch rõ tiến trình cáchmạng dân chủ tư sản kiểu mới, xác lập các điều kiện cho cách mạng xã hội chủ nghĩa

Sự ra đời và quá trình hoạt động của Quốc tế Cộng sản qua các kỳ Đại hội từĐại hội I đến Đại hội VI, có ý nghĩa quan trọng đối với phong trào cách mạng thế giới.Trước hết, đã thúc đẩy việc thành lập các Đảng Cộng sản ở nhiều nước: Tháng 5-1919,Đảng Cộng sản Bungari ra đời; từ tháng 3 đến tháng 11-1920, Đảng Cộng sản đượcthành lập ở các nước Nam Tư, Mỹ, Mêhicô, Đan Mạch, Tây Ban Nha, Indonesia,

….Thứ hai là, mở ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào cộng sản và côngnhân quốc tế Quốc tế Cộng sản ra đời đã tập trung lực lượng thợ thuyền và các người

Trang 12

bị áp bức, để chỉ dẫn cho quần chúng bị áp bức, bóc lột đè nén đứng lên đánh đổ tưbản chủ nghĩa và xã hội dân chủ, để chỉ dẫn cho giai cấp vô sản tranh đấu để thắng lợi.

Đóng góp nổi bật của Quốc tế Cộng sản đối với phong trào cách mạng phươngĐông là việc tổ chức này chủ trương thành lập Trường Đại học phương Đông (tên gọitắt của Trường Đại học cộng sản của những người lao động phương Đông) để đào tạocán bộ cách mạng cho các nước thuộc địa và phụ thuộc Trong gần 20 năm tồn tại,Trường đã đào tạo cho các nước phương Đông hàng ngàn cán bộ, trong đó có nhữngngười về sau trở thành cán bộ lãnh đạo có uy tín của các đảng cộng sản ở các nước.Nguyễn Ái Quốc đánh giá: “Việc thành lập Trường Đại học phương Đông, tập hợpnhững người lãnh đạo tích cực, thông minh của các nước thuộc địa, đã làm được côngcuộc to lớn Trường Đại học phương Đông ôm ấp dưới mái trường mình tất cả tươnglai của các dân tộc thuộc địa”

Đối với cách mạng Việt Nam, sự kiện đầu tiên phản ánh vai trò của Quốc tếCộng sản là việc vào năm 1920, Nguyễn Ái Quốc (sau 10 năm bôn ba tìm con đườngcứu nước) đọc báo cáo “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc vàthuộc địa” đăng trên báo Nhân đạo, số ra ngày 16 và 17-7-1920 (Báo cáo này là nộidung chủ yếu của Nghị quyết Đại hội lần thứ II của Quốc tế Cộng sản) Nguyễn ÁiQuốc tìm thấy trong Luận cương của Lênin lời giải đáp về con đường giải phóng chonhân dân Việt Nam; về vấn đề thuộc địa trong mối quan hệ với phong trào cách mạngthế giới…Cùng với việc nghiên cứu các văn kiện khác của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn

Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Lênin, đến với Quốc tế Cộng sản Tại Đại hội Đảng Xãhội Pháp (tháng 12-1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tếCộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp Sự kiện này đánh dấu bướcngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc – từ người yêu nướctrở thành người cộng sản quốc tế và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn: “Muốncứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng

vô sản”

Tháng 6-1923, Nguyễn Ái Quốc đến Liên Xô làm việc tại Ban Phương Đôngcủa Quốc tế Cộng sản Tại đây, cùng với việc thực hiện nhiệm vụ đối với phong tràocộng sản quốc tế, Nguyễn Ái Quốc xúc tiến nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin, xâydựng lý luận cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam Tháng 11-1924, Nguyễn ÁiQuốc đến Quảng Châu (Trung Quốc) làm việc với tư cách là phiên dịch của phái đoàn

Trang 13

M.Bôrôđin (đại diện Quốc tế Cộng sản) Với sự giúp đỡ của phái đoàn M.Bôrôđin,Nguyễn Ái Quốc tập hợp những người yêu nước, thành lập Hội Việt Nam cách mạngthanh niên – tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Như vậy, với tư cách là thành viên của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc cóđiều kiện thuận lợi để hoạt động cách mạng và trên nền tảng tư tưởng chính trị củaQuốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã vạch ra đường lối cách mạng Việt Nam, chuẩn

bị về tư tưởng chính trị, tổ chức cho việc tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Đông Dương và đặc biệt là xứ AnNam đã được Quốc tế Cộng sản quan tâm từ rất lâu Tại Đại hội lần thứ I của Quốc tếCộng sản đã thông qua Tuyên ngôn của Quốc tế Cộng sản gửi những người vô sảntoàn thế giới, trong đó có đề cập đến phong trào đấu tranh ở Việt Nam Và, ngay từcuối năm 1920, Quốc tế Cộng sản đã cử cán bộ của mình đến Việt Nam để nghiên cứutình hình chuẩn bị cho việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin Sau khi những ngườiđến đây bị trục xuất, Quốc tế Cộng sản đã chỉ thị cho các đảng cộng sản chuyển tàiliệu Mác-xít đến Việt Nam Có ý kiến cho rằng, các văn kiện của Quốc tế Cộng sảngửi nhân dân ta đã được phổ biến ở Việt Nam vào tháng 7-1924

Quốc tế cộng sản đã có những đóng góp to lớn, đặc biệt là đã tạo thế hệ lãnhđạo đầu tiên cho Đảng cộng sản Việt Nam: Nguyễn Ái Quốc trên hành trình tìm đườngcứu nước đã tìm thấy trong cương lĩnh của Quốc tế Cộng sản con đường giải phóngdân tộc Với Người, con đường của Lênin, con đường của Quốc tế thứ ba, con đườngcách mạng vô sản là con đường duy nhất đúng đắn cho cách mạng Việt Nam Ngườitích cực tham gia vào hoạt động của Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Nông dân, Quốc tếCộng sản đỏ…và tích cực chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lậpđảng cộng sản Việt Nam Thực hiện chỉ thị của Quốc tế Cộng sản về việc hợp nhất các

tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất ở Đông Dương, với tư cách là đại diện củaQuốc tế Cộng sản, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập Hội nghị thành lập Đảngcộng sản Việt Nam Từ đó, mỗi bước đi quan trọng của Đảng ta đều có sự quan tâmcủa Quốc tế cộng sản Từ những chiếc nôi của Quốc tế cộng sản như: Trường đại họcPhương Đông, Trường Quốc tế Lênin, v.v., nhiều chiến sĩ ưu tú của cách mạng ViệtNam đã được đào tạo để trở thành thế hệ lãnh đạo đầu tiên của Đảng ta như: Trần Phú,

Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai

Trang 14

Liên quan đến vấn đề thành lập Đảng Cộng sản ở Đông Dương, có ý kiến chorằng, tại Đại hội VI của Quốc tế Cộng sản (1928), Nguyễn Văn Tạo (bí danh NguyễnAn) cùng hai người Việt Nam khác đều là đảng viên trong đoàn đại biểu Đảng Cộngsản Pháp tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản, nhân danh người Đông Dương thuộc địacủa Pháp đã trình bày trước Đại hội “khẳng định ở Đông Dương có giai cấp vô sản và

đề nghị Quốc tế Cộng sản hết sức chú ý đến vấn đề thành lập một đảng cộng sản ởĐông Dương” Đây được coi là lần đầu tiên vấn đề thành lập Đảng Cộng sản ở ĐôngDương được đặt ra ở diễn đàn của Quốc tế Cộng sản

Trong Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 1, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm

2002, có bốn tài liệu thể hiện sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản đối với phong tràocộng sản ở Đông Dương Trong đó có ba tài liệu đề ra chủ trương chỉ đạo cụ thể việcthành lập Đảng Cộng sản ở Đông Dương

Tài liệu thứ nhất với tiêu đề: Những nhận xét liên quan đến Nghị quyết về việcthành lập Đảng Cộng sản Đông Dương Nội dung của tài liệu là những nhận xét, góp ý

cụ thể, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Quốc tế Cộng sản đối với cách mạng ĐôngDương

Tài liệu thứ hai là Bản đưa ra thảo luận tại phiên họp của Hội đồng Ban Bí thưphương Đông, ngày 18-10-1929 (còn có tên gọi khác là Bản dự thảo Nghị quyết vềviệc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương và về nhiệm vụ sắp tới của những ngườicộng sản Đông Dương) Trong bản thảo luận này, Quốc tế Cộng sản đề cập đến nhữngđiều kiện chín muồi cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Đông Dương: 1) Những mâuthuẫn giữa Đông Dương là xứ thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc Pháp, những mâu thuẫngiữa một bên là công nhân, nông dân và dân nghèo thành thị, với bên kia là khối liênminh của bọn đế quốc Pháp, bọn địa chủ phong kiến bản xứ và bọn quan lại chủ điền,ngày càng trở nên gay gắt và ở Đông Dương có những điều kiện khách quan cho cuộccách mạng dân chủ tư sản (cách mạng phản đế và cách mạng ruộng đất); 2) Phong tràocách mạng ở Đông Dương trở nên sôi nổi trong điều kiện phong trào cách mạng quốc

tế ngày càng phát triển mạnh mẽ và điều này có ý nghĩa đặc biệt – trong điều kiệnphong trào cách mạng ở các nước thuộc địa láng giềng (Ấn Độ, Trung Quốc) phát triểnngày càng mạnh mẽ; tất cả những điều đó tạo điều kiện và khả năng nâng cao và pháttriển mạnh hơn nữa phong trào cách mạng, khả năng xảy ra và chắc chắn xảy ra nhữngbiến cố cách mạng lớn ở Đông Dương

Trang 15

Bản dự thảo Nghị quyết, một mặt, đánh giá cao việc Đại hội Hội Việt Namcách mạng thanh niên thừa nhận Cương lĩnh của Quốc tế Cộng sản, coi đây là bướctiến đáng kể trong việc đoàn kết về tư tưởng, chính trị các phần tử cộng sản và chuẩn

bị tổ chức Đảng Cộng sản Đông Dương; nhưng mặt khác, cũng chỉ ra những hạn chế,khuyết điểm của Đại hội Thanh niên, đặc biệt là, trong một loạt vấn đề cơ bản Đại hội

đã đi chệch khỏi lập trường cộng sản về bản chất của các giai cấp và của Đảng…

Dự thảo Nghị quyết chỉ rõ các nhiệm vụ trung tâm của những người cộng sảnĐông Dương trong thời kỳ mới, trong đó nhấn mạnh: “Một trong những nhiệm vụquan trọng nhất của Đảng là phát triển phong trào ruộng đất của nông dân chống địachủ và kết hợp phong trào ruộng đất với phong trào phản đế…Cần làm sao để ngàycàng có đông đảo quần chúng biết đến Đảng, biết ý kiến của Đảng về tất cả những vấn

đề làm cho quần chúng quan tâm, vì thế cần đẩy mạnh việc tuyên truyền bất hợp phápbằng sách báo trong công nhân, nông dân, phụ nữ, thanh niên công nông, sinh viên”

Dự thảo đồng thời nêu các điều kiện có tính nguyên tắc về những thỏa thuận tạm thờihoặc hợp tác với các đảng tiểu tư sản dân tộc cách mạng

Về vấn đề thành lập Đảng Cộng sản, bản dự thảo Nghị quyết chỉ rõ việc tiếp tụckéo dài tình trạng hoạt động tuyên truyền có tính chất tổ nhóm trong các tổ chức Cộngsản đang trở thành sự kìm hãm nguy hiểm đối với quá trình phát triển chủ nghĩa cộngsản và đối với việc thực hiện sự lãnh đạo cộng sản trong phong trào cách mạng Và đểtiến tới triệu tập Hội nghị thành lập Đảng, Quốc tế Cộng sản đề nghị những ngườicộng sản Đông Dương phải thực hiện các yêu cầu cơ bản sau:

1 Dưới sự chỉ đạo của đại diện Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, tiến hànhđặc cách đưa vào Ban Chấp hành Trung ương Việt Nam Cách mạng Thanh niên một

số công nhân tiên tiến là đảng viên cộn sản và là thành viên của Việt Nam cách mạngThanh niên

2 Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản Đông Dương quyếtđịnh các vấn đề thể thức kết nạp các thành viên của Tân Việt vào Đảng Cộng sản;quyết định vấn đề phê chuẩn (dưới sự giám sát của đại diện Ban Chấp hành Quốc tếCộng sản) các tổ chức riêng lẻ của Việt Nam cách mạng Thanh niên thành các tổ chứccủa Đảng Cộng sản;

3 Chỉ có những tổ chức địa phương nào của Việt Nam cách mạng Thanh niên

và của Tân Việt đã hoàn toàn thừa nhận các Nghị quyết của Ban Chấp hành Quốc tế

Trang 16

Cộng sản và của Quốc tế Cộng sản thì mới được công nhận là các tổ chức của ĐảngCộng sản Đông Dương;

4 Trong tất cả các tổ chức có công nhân thì phải đặc cách công nhân vào cáccấp ủy của các tổ chức ấy;

5 Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản Đông Dương phảilập tức bắt tay vào xuất bản cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng Cộng sản, trướchết cơ quan ngôn luận này phải công bố và giải thích các Nghị quyết của Ban Chấphành Quốc tế Cộng sản và kiên quyết đấu tranh chống mọi khuynh hướng cơ hội chủnghĩa;

6 Sau khi thành lập Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sảnĐông Dương và sau khi Ban Chấp hành Trung ương lâm thời phê chuẩn các tổ chứcđịa phương thì Đảng phải được định hình trước khi Đại hội họp;

7 Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản Đông Dương phảiliên hệ với các đảng viên cộng sản Trung Quốc sống lưu vong tại Đông Dương và thuhút họ vào công tác của Đảng Cộng sản Đông Dương;

8 Đảng Cộng sản Đông Dương phải duy trì liên hệ có hệ thống với Đảng Cộngsản Pháp, thông báo cho Trung ương Đảng Cộng sản Pháp về hoạt động của mình Vềphần mình, Đảng Cộng sản Pháp phải hết sức giúp đỡ Đảng Cộng sản Đông Dương

9 Đảng Cộng sản Đông Dương cũng phải có liên hệ với các Đảng cộng sản anh

em khác, trước hết là với Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Ấn Độ

10 Vấn đề công nhận Đảng Cộng sản Đông Dương là chi bộ của Quốc tế Cộngsản vấn được để ngỏ cho đến khi nhận được thông tin về tiến trình Đảng Cộng sảnĐông Dương thực hiện các Nghị quyết của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản

Tài liệu thứ ba của Quốc tế Cộng sản gửi những người cộng sản Đông Dươngngày 27-10-1929 với nhan đề: Về việc thành lập một Đảng Cộng sản ở Đông Dương.Trong phần đầu của tài liệu này, Quốc tế Cộng sản nhận định: Sự trưởng thành củaphong trào cách mạng ở Đông Dương, lòng căm thù của quần chúng nhân dân đôngđảo đối với chủ nghĩa đế quốc Pháp và đặc biệt là sự phát triển của phong trào côngnhân độc lập và sự tồn tại của các tổ chức cộng sản trong nước, đang tạo ra những điềukiện cần thiết và sự cần thiết cấp bách là phải tổ chức một Đảng Cộng sản ở ĐôngDương Quốc tế Cộng sản nhấn mạnh: Cho tới nay, quá trình thành lập một ĐảngCộng sản là rất chậm so với sự phát triển của phong trào cách mạng ở Đông Dương và

Trang 17

nhiệm vụ quan trong hơn hết, tuyệt đối cần kíp của tất cả những người cộng sản ĐôngDương là phải khắc phục ngay sự chia rẽ giữa các nhóm cộng sản và thành lập mộtđảng của giai cấp vô sản Việc thiếu một Đảng Cộng sản duy nhất trong lúc phong tràoquần chúng công nhân và nông dân ngày càng phát triển, đã trở thành một điều nguyhiểm vô cùng cho tương lai trước mắt của cách mạng Đông Dương…Nhiệm vụ quantrọng nhất và cấp bách nhất của tất cả những người cộng sản Đông Dương là thành lậpmột đảng cách mạng có tính chất giai cấp của giai cấp vô sản, nghĩa là một Đảng cộngsản có tính chất quần chúng ở Đông Dương Đảng đó phải chỉ có một và là tổ chứccộng sản duy nhất ở Đông Dương.

Về phương thức thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, tài liệu của Quốc tếCộng sản chỉ rõ: Một là, cần phải thành lập ngay một Ban liên hợp gồm có đại biểucủa tất cả các tổ chức thừa nhận cương lĩnh, điều lệ và Nghị quyết của Quốc tế Cộngsản, trong đó một nửa số đại biểu phải là những người công nhân tích cực, lãnh tụ củaphong trào quần chúng Ban liên hợp này làm nhiệm vụ của một Ban Chấp hành Trungương lâm thời của Đảng và phải chịu sự lãnh đạo của một đại biểu Ban Chấp hànhQuốc tế Cộng sản; Hai là, Đảng Cộng sản Đông Dương phải được thành lập bằng cáchtập hợp những phần tử thật sự là cộng sản của các nhóm cộng sản; thành lập những chi

bộ cộng sản trong các xí nghiệp “Không có những chi bộ trong các xí nghiệp côngnghiệp, nhất là trong các xí nghiệp lớn, không có những chi bộ mà thực tế sẽ là những

cơ quan liên hệ của Đảng với quần chúng công nhân, thì Đảng Cộng sản không thể làcộng sản và Bônsêvich”; Ba là, sau khi hoàn thành các công việc chuẩn bị, cần phảitriệu tập Đại hội Đảng để cử ra một Ban Chấp hành Trung ương thường trực và tổchức thảo luận, giải quyết những vấn đề cơ bản của phong trào cách mạng ĐôngDương; Bốn là, Đảng Cộng sản Đông Dương phải đặt quan hệ và liên lạc với các ĐảngCộng sản anh em khác…

Với nội dung của ba tài liệu trên đây, cho thấy sự quan tâm và chỉ đạo sát saocủa Quốc tế Cộng sản đối với vấn đề thành lập Đảng Cộng sản ở Đông Dương Cácvăn kiện của Quốc tế Cộng sản đã thể hiện nhận thức đúng đắn của tổ chức này về sựphát triển phong trào đấu tranh của công nhân và sự cần thiết thành lập một tổ chứccộng sản duy nhất ở Đông Dương; đồng thời chỉ rõ phương thức để tiến tới thành lậpĐảng là phải bắt đầu từ việc xây dựng các chi bộ trong các nhà máy, xí nghiệp; chỉ rõmối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Đông Dương với phong trào cộng sản quốc tế Đây

Trang 18

là những chủ trương và chỉ đạo đúng đắn của Quốc tế Cộng sản Tuy nhiên, do chưanhận thức đầy đủ về đặc điểm kinh tế - xã hội và mối quan hệ dân tộc, giai cấp ở ViệtNam – một nước phương Đông thuộc địa, nửa phong kiến, do đó quan điểm và chỉ đạocủa Quốc tế Cộng sản trên một số vấn đề chưa thật sát với thực tiễn cách mạng nước talúc bấy giờ.

Về Hội nghị thành lập Đảng, có tài liệu cho rằng: Nhận được chỉ thị của Quốc

tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc triệu tập các đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng

và An Nam Cộng sản Đảng bàn việc hợp nhất; một tài liệu khác lại viết: Quốc tế Cộngsản giao cho đồng chí Nguyễn Ái Quốc chịu trách nhiệm thống nhất các lực lượngcộng sản ở Việt Nam để thành lập một đảng duy nhất

Liên quan đến “tư cách” của Nguyễn Ái Quốc ở Hội nghị thành lập Đảng, Vănkiện Đảng, Toàn tập, tập 2, có hai tài liệu đề cập đến vấn đề này:

Một là, trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản đề ngày 18-2-1930, Nguyễn ÁiQuốc viết: “Nhận được chỉ thị của Quốc tế Cộng sản về công tác ở Đông Dương, tôi từgiã nước Đức vào tháng 6 và đến Xiêm vào tháng 7-1928…Một đồng chí từ HồngKông tới Xiêm và tin cho tôi biết tình hình Hội An Nam Thanh niên Cách mạng bị tanrã; những người cách mạng chia thành nhiều phái…Lập tức tôi đi Trung Quốc, tới đóvào ngày 23-12 Sau đó tôi triệu tập các đại biểu của hai nhóm (Đông Dương và AnNam) Chúng tôi họp vào ngày 6-1 Với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản cóđầy đủ quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở ĐôngDương, tôi nói cho họ biết những sai lầm và họ phải làm gì Họ đồng ý thống nhất vàomột đảng Chúng tôi cùng nhau xác định cương lĩnh và chiến lược theo đường lối củaQuốc tế Cộng sản”

Hai là, trong lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc viết: “Nhậnchỉ thị của Quốc tế Cộng sản giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã hoàn thànhnhiệm vụ và thấy có trách nhiệm phải gửi tới các anh chị em và các đồng chí lời kêugọi này”

Qua tư liệu trên và qua Báo cáo tóm tắt Hội nghị thành lập Đảng, cho thấyNguyễn Ái Quốc với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã chủ động triệu tập

và chủ trì Hội nghị gồm nêu lý do cuộc Hội nghị, ra lời hiệu triệu kêu gọi quần chúngViệt Nam tham gia cách mạng, dự thảo chính cương, sách lược và Điều lệ Đảng

Trang 19

Thực tế cho thấy, thành công của Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thànhlập Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với công lao to lớn của Nguyễn Ái Quốc, đồngthời là kết quả của sự quan tâm, chỉ đạo chặt chẽ của Quốc tế Cộng sản đối với cáchmạng nước ta, đặc biệt là quá trình vận động thành lập Đảng.

1.3 Hậu quả của cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918)

Chiến tranh thế giới thứ nhất là một trong những cuộc chiến tranh quy mô lớnnhất trong lịch sử nhân loại Từ cuộc chiến tranh cục bộ ban đầu giữa Anh, Pháp, Nga,Italia, … với Đức, Áo – Hung, Thổ Nhĩ Kỳ, …, chiến tranh đã lôi kéo 36 nước thamgia và để lại hậu quả nặng nệ cho nhân loại: hơn 10 triệu người chết, hơn 20 triệungười bị thương và bị tàn phế; hàng nghìn thành phố, làng mạc, đường sá, cầu cống,nhà máy bị phá hủy Chiến tranh đã làm cho châu Âu bị tàn phá và mất đi vai trò đầutàu của nền văn minh nhân loại mà nó đã đứng đầu trong nhiều thế kỷ Sau chiếntranh, Mỹ giàu lên nhanh chóng và chi phối toàn thế giới

Sau Chiến tranh, các mâu thuẫn cở bản giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản,mâu thuẫn giữa các đế quốc với nhau, mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủnghĩa đế quốc càng thêm gay gắt Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: Cuộc chém giết đẫm máuthế giới đã mở mắt cho hàng triệu vô sản và nông dân các thuộc địa thấy rõ hoàn cảnhsinh sống không sao chịu nổi của mình

Sau chiến tranh, đế quốc Pháp tuy là nước thắng trận nhưng chịu nhiều tổn thấtnặng nề với 1,4 triệu người chết, thiệt hại kinh tế lên tới 200 tỷ phơ-răng và trở thànhcon nợ lớn nhất của Mỹ Ngành sản xuất công nghiệp bị đình trệ; hoạt động thươngmại sa sút nghiêm trọng, nợ nước ngoài tăng, … Thêm vào đó, cuộc khủng hoảngthiếu trong thế giới thứ bản chủ nghĩa càng gây khó khăn cho nền kinh tế Pháp

Trước tình hình đó, để nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phụcnền kinh tế và củng cố địa vị trong thế giới tư bản, chính quyền Pháp một mặt ra sứctìm các biện pháp thúc đẩy sản xuất trong nước, mặt khác trút gánh nặng lên các thuộcđịa, trong đó coi Việt Nam là trọng điểm

Trong cuộc khai thác thuộc địa lần hai, thực dân Pháp tiến hành đầu tư ồ ạt, vớitốc độ nhanh và quy mô lớn hơn Số vốn đầu tư vào Việt Nam tăng rất nhanh qua cácnăm Chỉ tính từ năm 1924 đến năm 1929, tổng số vốn đầu tư vào nước ta đã tăng gấp

6 lần so với vốn đầu tư trong 20 năm trước chiến tranh (1898 – 1918) Việc tăngcường đầu tư đó đã dẫn đến sự mở rộng kinh doanh của những công ty đã hoạt động từ

Trang 20

trước và thành lập nhiều công ty mới ở những ngành trước đó chưa được kinh doanh.Hai ngành được đầu tư nhiều nhất là nông nghiệp và công nghiệp, trong đó nôngnghiệp tập trung vào chiếm ruộng đất lập đồn điền còn công nghiệp tập trung vào khaithác mỏ.

Chính sách khai thác thuộc địa của Pháp đã khiến cho kinh tế - xã hội Việt Nam

có nhiều biến đổi Các quan hệ tư bản chủ nghĩa phát triển thêm một bước Tuy vậy,cũng như trước đây, thực dân Pháp không chủ trương xóa bỏ các quan hệ kinh tếphong kiến cũ mà chủ tâm duy trì các quan hệ đó Kết quả là trong nền kinh tế nước ta

đã diễn ra một quá trình hòa trộn, hỗn hợp giữa quan hệ tư bản thực dân với các quan

hệ tiền tư bản, chủ yếu là quan hệ phong kiến Tính chất thuộc địa, nửa phong kiến của

xã hội Việt Nam biểu hiện ngày càng rõ nét

Trên cơ sở của một nền kinh tế tuy đã có bước phát triển, nhưng mất cân đối,chứa đựng nhiều yếu tố tiêu cực, chủ yếu để phục vụ lợi ích của bọn thực dân, bất chấpyêu cầu khách quan của kinh tế Việt Nam, xã hội Việt Nam sau Chiến tranh thế giớithứ nhất tiếp tục phân hóa sâu sắc Các giai cấp cũ (địa chủ phong kiến, nông dân) vẫntồn tại nhưng có một số biến động, phân hóa Một số giai cấp mới hình thành (tư sản,tiểu tư sản) Giai cấp công nhân trưởng thành nhanh chóng

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, xã hội Việt Nam ngày càng phân chia thànhhai trận tuyến rõ rệt: một bên là đế quốc xâm lược và tay sai, một bên là các lực lượngcách mạng bao gồm công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và một bộ phậnđịa chủ vừa và nhỏ Trong xã hội Việt Nam vẫn tồn tại hai mâu thuẫn chủ yếu đó là:mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp (mâu thuẫn dân tộc) vàmâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với địa chủ phong kiến (mâu thuẫn giai cấp) ngàycàng sâu sắc Sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam phụ thuộc vàonhận thức và giải quyết hai mâu thuẫn đó

Do sự phát triển của bản thân xã hội Việt Nam, tác động trực tiếp của chínhsách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp mà xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến

to lớn Một hệ quả của sự chuyển biến ấy là sự ra đời, lớn mạnh của giai cấp vô sản,tiểu tư sản và tư sản có vai trò khác nhau trong phong trào yêu nước chống Pháp ởViệt Nam theo những khuynh hướng tư sản và vô sản

Tóm lại, cuộc khai thác thuộc địa lần hai của thực dân Pháp đã làm chuyển biếntình hình kinh tế, xã hội Việt Nam, tạo ra cơ sở xã hội (giai cấp) và những điều kiện

Trang 21

chính trị cho phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam phát triển lên một bướcmới.

1.4 Ảnh hưởng của phong trào cách mạng ở một số nước phương Đông

1.4.1 Phong trào cách mạng ở Trung Quốc

*Cách mạng Tân Hợi (1911) và chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn:

Tôn Trung Sơn (Tôn Văn, Tôn Dật Tiên, 1866 - 1925) là nhà yêu nước vĩ đại,nhà cách mạng dân chủ lỗi lạc của Trung Quốc Tên tuổi của Tôn Trung Sơn gắn liềnvới chủ nghĩa Tam dân và cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc Chủ nghĩaTam dân (với 3 nội dung chủ yếu là dân tộc, dân quyền, dân sinh) đã thể hiện khá hoànchỉnh tư tưởng dân chủ tư sản của Trung Quốc thời kỳ cận đại Trên nền tảng lý luậncủa chủ nghĩa Tam dân, Trung Quốc Đồng minh hội - (chính đảng của giai cấp tư sảnTrung Quốc) ra đời và lãnh đạo nhân dân Trung Quốc tiến hành thành công cuộc cáchmạng Tân Hợi Cuộc cách mạng đã lật đổ nền thống trị gần 300 năm của vương triềuMãn Thanh, kết thúc chế độ chuyên chế phong kiến hơn 2000 năm, lập nên nướcTrung Hoa dân quốc, thúc đẩy cuộc cách mạng dân chủ ở Trung Quốc lên một giaiđoạn mới Đó là cống hiến to lớn của Tôn Trung Sơn đối với lịch sử Trung Quốc.Cũng từ đó mà ảnh hưởng của ông đã lan rộng khắp các dân tộc thuộc địa và phụthuộc ở Châu Á

Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn và cuộc cách mạng vận động dưới sựchỉ đạo của hệ tư tưởng này - cách mạng Tân Hợi - ngay lập tức có những ảnh hưởngtrực tiếp, nhanh chóng và sâu sắc đến phong trào cách mạng Việt Nam thời kỳ cuối thế

kỷ XIX, đầu thế kỷ XX (lúc bấy giờ đang trong thời kỳ khủng hoảng đường lối cứunước) Không ít nhà yêu nước Việt Nam (Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học ) đã tìmđến với chủ nghĩa Tam dân và coi chủ nghĩa này như một trong những nền tảng hìnhthành tư tưởng của mình Nhiều tổ chức cách mạng mô phỏng theo tổ chức Quốc dânđảng của Tôn Trung Sơn lần lượt ra đời

Năm 1904, Phan Bội Châu thành lập Duy Tân Hội tại Quảng Nam, Việt Nam.Khi còn trẻ, Phan Bội Châu đọc một số sách của Lương Khải Siêu như “Ký chính biếnMậu Tuất”, “Hồn Trung Quốc” nên chịu ảnh hưởng sâu đậm của Tư tưởng Duy TânMậu Tuất và Tư tưởng Lương Khải Siêu

Năm 1905, Phan Bội Châu đã gặp và có cuộc bút đàm với Lương Khải Siêu tạiHoành Tân (Yokohama), Nhật Bản Trong thời gian ở Nhật, Phan Bội Châu đã kết

Trang 22

thân với Tôn Trung Sơn đang hoạt động cách mạng tại đây Ông có hai lần hội đàm(bút đàm) với Tôn Trung Sơn tại Chính hòa đường của Hoành Tân Tôn Trung Sơn đãtừng đọc “Việt Nam vong quốc sử” của Phan Bội Châu Ông đã tuyên truyền tư tưởnglật đổ quân chủ, thực hiện tư tưởng Dân chủ Cộng hòa với Phan Bội Châu Điều này

có ảnh hưởng lớn đối với việc cải tổ chủ trương từ quân chủ lập hiến sang dân chủcộng hòa sau này của Phan Bội Châu Từ năm 1906 đến năm 1908, Phan Bội châu đãtiếp xúc với Hoàng Hưng, Chương Bính Lân, một số nhà cách mạng người TrungQuốc và các lưu học sinh Việt Nam học tại Nhật Bản, cùng thành lập Hội “Điền QuếViệt liên minh” đồng thời tham gia công tác biên tập tạp chí “Vân Nam” Năm 1911,Cách mạng Tân Hợi lật đổ chế độ phong kiến thống trị hơn 2000 năm ở Trung Quốcchính điều này đã cổ vũ khích lệ Phan Bội Châu Ông đã cùng các đồng chí trong DuyTân Hội triệu tập cuộc họp tại Quảng Châu, Trung Quốc và đưa ra quyết định giải tánDuy Tân Hội thành lập Quang Phục Hội Tôn chỉ và hình thức tổ chức của QuangPhục Hội dựa trên mô hình của Trung Quốc Đồng Minh Hội do Tôn Trung Sơn sánglập tại Nhật Bản

Năm 1924, Tôn Trung Sơn cải tổ Quốc Dân Đảng, lấy Quảng Đông làm căn cứđịa và tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng oanh liệt đầu tiên trong nước Một số cácchí sĩ cách mạng của Việt Nam đã nhận được sự cổ vũ Tháng 6 năm 1924, PhạmHồng Thái, thành viên của nhóm cách mạng Việt Nam “Tâm tâm hội” đã ám sát toànquyền Đông Dương Martial Merlin nhưng không thành công Phạm Hồng Thái đã hysinh do bị sự truy sát của quân Pháp Phan Bội Châu tập hợp các chí sỹ yêu nước củaViệt Nam tại Quảng Châu mở cuộc họp cải tổ Việt Nam Phục Quang Hội thành ViệtNam Quốc Dân Đảng Tháng 12 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc từ Mátxcơva đến QuảngChâu với danh nghĩa là phiên dịch của cố vấn Liên Xô Bôrôđin được cử sang giúp TônTrung Sơn, đồng thời Người đã tiến hành công tác trù bị thành lập chính đảng của giaicấp vô sản Việt Nam Nguyễn Ái Quốc đã góp ý với Phan Bội Châu về việc sửa đổiĐiều lệ của Việt Nam Quốc Dân Đảng Phan Bội Châu vui mừng tiếp nhận những ýkiến của Hồ Chí Minh, nhưng kế hoạch này chưa kịp tiến hành thì Phan Bội Châu đã

bị bắt

Ở Việt Nam, phong trào dân tộc từ sau chiến tranh thế giới cho tới những năm

1925, 1926 về thực chất là một cao trào vận động dân tộc dân chủ rộng lớn, với nộidung và hình thức đấu tranh mới mẻ, đa dạng mà tiêu biểu là các phong trào đấu tranh

Trang 23

đòi thả Phan Bội Châu để tang Phan Châu Trinh, đưa đám Lương Văn Can…từ trongcao trào ấy, phong trào giải phóng dân tộc đã có một bước phát triển mới, đi vào chiềusâu với sự xuất hiện liên tiếp của các tổ chức cách mạng đi theo nhiều xu hướng chínhtrị khác nhau Trong đó Việt Nam Quốc dân đảng là một tổ chức đại diện tiêu biểu cho

xu hướng dân tộc dân chủ tư sản lúc bấy giờ

So với Việt Nam cách mạng Thanh Niên và Tân Việt cách mạng đảng là hai tổchức cách mạng tiêu biểu cùng thời, Việt Nam Quốc dân đảng có những điểm khátương đồng về hoàn cảnh ra đời, mục tiêu thành lập cũng như thành phần xuất thân củanhững người sáng lập…những người lãnh đạo của Việt Nam Quốc dân đảng “đều lànhững tân cự tri thức, đã không chịu còng lưng uốn gối trước bọn ngoại xâm, cũngkhông chịu sống cái đời khuất phục của một người dân mất nước nên đã cương quyết

hy sinh, đề cao khí tiết, mong rửa nhục nước, báo thù cho dân tộc” Tuy nhiên, trongquá trình phát triển Việt Nam Quốc dân đảng có những biểu hiện khác biệt có bản vềđường lối và phương pháp hoạt động so với hai tổ chức cách mạng nói trên

Ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt được sự chuẩn bị chu đáo về tư tường và líluận của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ngay từ đầu đã

đi theo con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa Đường lối chiến lược và sách lược củaHội được hình thành trên lập trường của giai cấp công nhân; còn Tân Việt Cách mạngđảng lúc đầu cũng đứng trên lập trường dân tộc những rồi dần dần đã ngả sang khuynhhướng cách mạng vô sản Khác với Thanh Niên và Tân Việt, Việt Nam Quốc dân đảng

đã tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản trên nguyên tắc Tự do, Bình đẳng, Bắc ái và đã vaymượn một số khái niệm và nội dung của chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn.Đồng thời, kể từ khi thành lập đến lúc tan rã, Việt Nam Quốc dân đảng luôn đúng trênlập trường của giai cấp tư sản để giải quyết vấn đề dân tộc

Trong quá trình tồn tại của mình, Việt Nam Quốc Dân đảng cũng đã cố gắngvươn lên nắm lấy vai trò lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng đất nước nhưng vì nhiềunguyên nhân khách và chủ quan mà mục đích và sự nghiệp cứu nước của tổ chức cáchmạng này đã không đạt được kết quả Mặc dù vậy, bằng thất bại của mình mà đỉnh cao

là khởi nghĩa Yên Bái, Việt Nam Quốc Dân đảng đã giúp cho các tầng lớp nhân dân tasớm nhận rõ được những hạn chế và sự bất lực của khuynh hướng cách mạng tư sản,

và nhanh chóng chuyển sang con đường cách mạng vô sản, góp phần tạo nên ưu thế và

Trang 24

tiền đề thắng lợi cho khuynh hướng cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vào đầunăm 1930.

*Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập (1921):

Sau cách mạng tháng Mười Nga và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản, phong tràocách mạng Trung Quốc phát triển rất nhanh, điển hình là phong trào Ngũ Tứ(4/5/1919) lan rộng ra 20 tỉnh và hơn 100 thành phố ở Trung Quốc

Tháng 5/1920, được sự giúp đỡ của Quốc tế Công sản, các tổ chức cộng sảnđầu tiên của Trung Quốc được thành lập ở Thượng Hải và nhanh chóng lan rộng ranhiều nơi khác trên khắp đất nước Trung Quốc Ngày 1/7/1921, Đảng Cộng sản TrungQuốc ra đời, mở ra bước ngoặt phát triển của cách mạng Trung Quốc

Cách mạng Việt Nam và những người yêu nước Việt Nam đã có mối quan hệ từrất sớm với cách mạng Trung Quốc và những người cộng sản Trung Quốc Ngay từnhững năm 20 của thế kỷ XX, thành phố Quảng Châu đã là nơi lánh nạn, đứng chân vàhoạt động của những người yêu nước Việt Nam như Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu,

Lê Hồng Sơn, Phạm Hồng Thái, Lâm Đức Thụ, Phùng Chí Kiên v.v Đặc biệt làNguyễn Ái Quốc đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của nhân dân, cán bộ Cách mạngTrung Quốc trong suốt chặng đường hoạt động của mình Quảng Châu, Hương Cảng,Thượng Hải, Ma Cao, Côn Minh, Quảng Tây là những nơi thành lập, đặt trụ sở củanhững tổ chức cách mạng ban đầu của Việt Nam như Tâm Tâm xã (1923), Hội ViệtNam Cách mạng Thanh niên (6-1925), nơi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng2-1930); nơi đứng chân của Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng (4-1934); nơi tổ chức Đạihội Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất (3-1935) ; là nơi giác ngộ, huấn luyện,đào tạo cán bộ cách mạng Việt Nam (do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp mở), Trường Quân

sự Hoàng Phố là nơi có nhiều thanh niên yêu nước Việt Nam theo học; là nơi in ấn cáctài liệu cách mạng để đưa về nước (tác phẩm Đường Cách mệnh, báo Thanh niên ).Những chuẩn bị về lý luận, tư tưởng, tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản vàcách mạng Việt Nam đã diễn ra trên đất Trung Quốc

Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc đều được tổ chức trênnền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, cùng đảm nhiệm sứ mệnh lãnh đạo nhân dân đấutranh chống xâm lược, đánh đuổi phản động, tay sai xây dựng đất nước tiến lên theocon đường chủ nghĩa xã hội Bởi thế, những người yêu nước, cộng sản Việt Nam hoạtđộng trên đất Trung Quốc cũng góp công, góp sức với phong trào cách mạng nơi đây:

Trang 25

Nguyễn Ái Quốc tham gia cuộc Tổng bãi công Hương Cảng - Quảng Châu; hơn 30thanh niên Việt Nam đang học ở Trường Quân sự Hoàng Phố tham gia cuộc khởinghĩa Quảng Châu (12-1927); Lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn đã đi cùng Hồngquân Trung Quốc trong cuộc “Vạn lý trường chinh” lịch sử; Đảng Cộng sản ĐôngDương (đổi tên từ tháng 10-1930) phát truyền đơn, kêu gọi quần chúng đấu tranhchống can thiệp vũ trang và bảo vệ các Xôviết Tàu khi thực dân Pháp điều động quânđội đàn áp cuộc khởi nghĩa ở Tĩnh Tây (3-1935); đầu năm 1939, Việt Nam đã tổ chứcmột hội chợ lớn để giúp đỡ các nạn nhân chiến tranh của Trung Quốc; nhiệt thành ủng

hộ Trung Quốc kháng chiến chống Nhật (tẩy chay hàng Nhật) Những ví dụ trênminh chứng tinh thần quốc tế vô sản, tình đồng chí, anh em và ý thức giúp bạn cũng là

tự giúp mình của Việt Nam đối với cách mạng Trung Quốc

1.4.2 Phong trào cách mạng ở Ấn Độ

Từ những năm 1907 – 1909, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đã bùng

nổ ở nhiều thành phố lớn trên khắp đất nước Ấn Độ và bị thực dân Anh đàn áp dãman Những năm 1919 – 1922, phong trào dân tộc của tư sản Ấn Độ do M.Gandi vàĐảng Quốc đại lãnh đạo tiếp tục bùng lên mạnh mẽ, với mục tiêu chấn hưng dân tộc,đòi độc lập, phát triển kinh tế bằng con đường hợp pháp lan rộng khắp cả nước Phongtrào đình công “bất bạo động” kết hợp với đấu tranh vũ trang của quần chúng pháttriển rộng khắp Tuy phong trào bị đàn áp và bị thất bại nhưng thực dân Anh cũngbuộc phải thi hành một số cải cách cho đất nước và nhân dân Ấn Độ

Tóm lại, sự sôi động của cách mạng thế giới và cách mạng ở một số nướcphương Đông đã tác động mạnh mẽ đến nhận thức của nhiều nhà yêu nước Việt Nam.Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định sự tác động đó như sau: “Luồng gió từ nước Nga thợthuyền, từ Trung Quốc cách mạng hoặc từ Ấn Độ chiến đấu đang thổi đến giải độc chongười Đông Dương…Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu mộtcái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến Bộphận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến”

2 Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933) và khuynh hướng tả khuynh trong Quốc tế Cộng sản

2.1 Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933)

Khủng hoảng kinh tế thường xuyên xảy ra trên thế giới, đặt biệt là ở các nước

tư bản, nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế lần này rất nghiêm trọng diễn ra trong thời

Trang 26

gian dài, bao trùm tất cả các ngành của nền kinh tế và lôi cuốn tất cả các nước trên thếgiới.

Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 là cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhấttrong lịch sử của chủ nghĩa tư bản Đó là cuộc khủng hoảng sản xuất “thừa”, bởi vì sựsản xuất bừa bãi, ồ ạt chạy theo lợi nhuận trong những năm ổn định của chủ nghĩa tưbản 1924-1929 đã dẫn đến tình trạng hàng hoá ế thừa vì sức mua của quần chúng đã bịgiảm sút nhiều do sự bóc lột tàn tệ của giai cấp tư sản

Tháng 9-1929, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ nước Mĩ, là nước tư bản phát triểnnhất lúc bấy giờ Sản lượng công nghiệp ở Mĩ giảm 50%, trong đó gang, thép sụtxuống 75%, ô tô giảm 90%, 11500 xí nghiệp nhỏ và cả những xí nghiệp lớn bị phásản Nông thôn cũng bị tác động mạnh mẽ Để nâng cao giá hàng hoá và thu nhiều lời,các nhà tư bản kếch sù đã tiêu huỷ hàng hoá: cà phê, sữa, lúa mì, thịt, v.v bị đốthay đổ xuống biển chứ không được bán giá hạ

Cuộc khủng hoảng lan rộng đến các nước tư bản chủ nghĩa khác Ở Anh, sảnlượng gang năm 1931 sụt mất 50% , thép cũng sụt gần 50% , thương nghiệp sụt 60%

Ở Pháp, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ cuối năm 1930và kéo dài đến năm 1936, sảnlượng công nghiệp giảm 30%, nông nghiệp 40%, ngoại thương 60%, thu nhập quốcdân 30% Ở Đức, đến năm 1930, sản lượng công nghiệp giảm 77% Ở các nước BaLan, Ý, Ru-ma-ni, Nhật, đều có khủng hoảng kinh tế

Để cứu vãn tình hình, chính phủ các nước tư bản thi hành một số chính sáchnhư đánh thuế nhập cảng nặng để hạn chế hàng hoá nước ngoài vào, lấy tiền trongngân quỹ nhà nước trợ cấp cho các nhà tư bản Chính phủ Mĩ đã bỏ ra hàng chục triệu

đô la trong việc trợ cấp này

Trong thời kì khủng hoảng kinh tế, đời sống nhân dân thật là khốn khổ.Thứ nhất là nạn thất nghiệp Ở Mĩ, năm 1933, có 17 triệu người thất nghiệp, đó là chưa

kể vô số nông dân bị phá sản, phải bỏ ruộng vườn đi ra thành phố sống lang thang ỞAnh, năm 1931, có 3 triệu người thất nghiệp Ở các nước khác cũng xảy ra tình trạngấy

Thứ hai là tiền lương bị giảm xuống rất nhiều Ở Mĩ, lương công nhân côngnghiệp chỉ còn 56 % Ở Anh lương giảm còn 66%; ở Pháp lương giảm từ 30 đến 40%

Đó là chưa kể giá đồng bạc sụt xuống làm cho tiền lương thực tế càng bị giảm sút hơn

Ở Pháp, mức thu nhập của nông dân giảm 2,7 lần và hàng vạn nông dân bị vỡ nợ và

Trang 27

phá sản Do đó đời sống của nhân dân lao động rất cùng cực Năm 1931, riêng thànhphố Niu-ooc (Mĩ) có hàng nghìn người chết đói Bị đẩy đến bước cùng cực, công nhân

và nhân dân lao động nổi dậy đấu tranh Ở Mĩ năm 1930 có 2 vạn công nhân biểu tìnhthị uy, từ năm 1929-1933, có 3 triệu rưỡi công nhân tham gia bãi công Ở Đức, năm

1930, 15 vạn công nhân bãi công, năm 1933, 35 vạn công nhân mỏ bãi công

Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 là cuộc khủng hoảng lớn nhất trongnhững cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra từ xưa đến nay, kéo dài gần 4 năm Sau đó làthời kì tiêu điều Nền kinh tế tư bản vừa hồi phục lại đôi chút, thì lại lâm vào một cuộckhủng hoảng kinh tế mới 1937-1938

Khủng hoảng kinh tế làm cho mâu thuẫn giai cấp giữa tư bản và vô sản, giữanông dân lao động với địa chủ, phú nông trở nên gay gắt Và một cao trào cách mạngmới lại đến Giai cấp thống trị các nước tư bản phải tăng cường chuyên chính, hạn chế

tự do dân chủ và ở một số nước, phải đi tới biện pháp cực đoan là thiết lập chế độ phátxít Khủng hoảng kinh tế thế giới cũng làm cho mâu thuẫn giữa các đế quốc về vấn đềthị trường trở nên cực kì gay gắt Các đế quốc tích cực chuẩn bị chiến tranh để chia lạithế giới

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 tác động mạnh mẽ tới nước Pháptrên nhiều lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, … Kinh tế Việt Nam vốn phụ thuộc vàokinh tế Pháp nên phải gánh chịu hậu quả nặng nề: giá lúa hạ, ruộng đất bỏ hoang, côngnghiệp suy sụp, xuất khẩu đình đốn, hàng hóa khan hiếm, đồng bạc Đông Dương hạgiá, … Nền kinh tế tiêu điều kéo theo những hậu quả khác trên mọi lĩnh vực xã hội,chính trị Đời sống của các tầng lớp nhân dân Việt Nam, đặc biệt là công, nông hết sứckhổ cực, 2/3 số công nhân bị thất nghiệp Nhiều viên chức bị sa thải Không ít nhàkinh doanh nhỏ và vừa vỡ nợ, phá sản Tình hình này đã làm cho mâu thuẫn giữa toànthể dân tộc ta với đế quốc Pháp và tay sai ngày càng sâu sắc

Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng, nổi bật là cuộc đấu tranh giữanhững quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và các quan điểm phi vô sản, giữa nhữngđảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng với các chiến sĩ cộng sản trong nhà tù, cuộc tranhluận về “nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh, … cũng diễn ra gay gắt,quyết liệt

Sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái (2-1930), Pháp tăng cường khủng bố dã man,càng làm cho mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với bọn thực dân và tay sai trở nên sâu

Trang 28

sắc hơn Đồng thời, tiếng vang của cách mạng Trung Quốc, Ấn Độ, thành tựu củacông cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranhyêu nước của nhân dân Việt Nam

Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3-2-1930 với Chínhcương vắn tắt, Sách lược vắn tắt đã xác định tính chất cách mạng của phong trào, biến

sự căm thù của quần chúng thành hành động cách mạng Đảng Cộng sản Việt Nam đãnhận trách nhiệm tổ chức, lãnh đạo quần chúng, phát động một cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc trong cả nước

Mở đầu là các cuộc đấu tranh của công nhân, tiêu biểu là cuộc bãi công của5.000 công nhân đồn điền cao su Phú Riềng (2-1930), của 4.000 công nhân nhà máysợi Nam Định (tháng 2-4/1930), công nhân đồn điền Dầu Tiếng (ngày 10-2-1930), nhàmáy Diêm Bến Thủy (tháng 4-1930)… Các cuộc đấu tranh đó là những “phát pháohiệu” mở đầu cao trào cách mạng mới ở Việt Nam

Từ tháng 5 phong trào lên mạnh, tiêu biểu là cuộc biểu dương lực lượng củacông, nông và quần chúng ngày 1-5-1930 trên khắp ba kỳ Tại các thành phố lớn như

Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Huế, Sài Gòn, … đều xuất hiện cờ đỏ búa liềm, truyềnđơn đòi tăng lương bớt giờ làm cho công nhân, hoãn sưu thuế cho nông dân Đây làbước ngoặt trong phong trào công nhân, thể hiện tình đoàn kết quốc tế với nhân dânlao động thế giới, đoàn kết giữa công nhân và nông dân trong nước

Từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1930, phong trào cách mạng tiếp tục sôi nổi trong

cả nước: Bắc Kỳ có 17 cuộc đấu tranh, Trung Kỳ có 82, Nam Kỳ có 22 Trong đó,công nhân có 22 cuộc đấu tranh, nông dân có 95, các tầng lớp nhân dân lao động khác

có 4 cuộc đấu tranh Tháng 10-1930, các cuộc biểu tình của nông dân ở Quảng Ngãiliên tiếp nổ ra Ở Bắc Kỳ, những người cộng sản đã vận động một cuộc đấu tranh mớivới khẩu hiệu phản đối Hội đồng đề hình thông qua những án tử hình cho các chiến sĩcách mạng Trong dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga, cờ đỏ xuất hiện ở nhàmáy nước Hàng Đậu (Hà Nội), truyền đơn rải khắp nơi

Bước sang năm 1931, do chính quyền thực dân khủng bố ác liệt, phong tràogiảm sút Tuy vậy, ở Nam Kỳ phong trào vẫn tiếp tục sôi nổi Suốt trong tháng 1-1931,công nhân hãng dầu Standard ở Nhà Bè, công nhân nhà in Văn Võ Văn ở Sài Gòn, …

tổ chức bãi công, mít tinh, biểu tình Nông dân các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Thủ DầuMột, … đấu tranh đòi cải thiện đời sống

Trang 29

Thống kê cho thấy, từ tháng 2-1930 đến tháng 4-1931, trong cả nước đã có1.236 cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân Điều đó chứng tỏ, đây là phong tràocách mạng mới ở Việt Nam do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo Phong trào nổ

ra đều khắp trong cả nước, thu hút đông đảo nhân dân tham gia, đánh dấu một bướcbước phát triển của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và đạt tới đỉnh cao với nhữngcuộc đấu tranh của công nhân và nông dân hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh

Phong trào đấu tranh trong năm 1930 ở Nghệ - Tĩnh được mở đầu bằng cuộcbiểu tình nhân kỷ niệm ngày 1-5 tại khu vực Vinh – Bến Thủy Công nhân nhà máy xelửa Trường Thi, nhà máy diêm, nhà máy cưa Vinh – Bến Thủy và nông dân các huyệnHưng Nguyên, Nghi Lộc đã sát cánh bên nhau đấu tranh Đặc biệt, ngày 12-9-1930,đợt sóng đấu tranh dâng lên mạnh mẽ Tại Hưng Nguyên (Nghệ An), hơn 8.000 nôngdân đã liên kết với nông dân Nam Đàn tổ chức cuộc biểu tình lớn với mục đích ủng hộcuộc bãi công của công nhân Bến Thủy, hưởng ứng những cuộc đấu tranh của nôngdân các tỉnh bạn Đoàn biểu tình đã xếp hàng dài hơn 1km kéo đến thành phố Vinh,dẫn đầu là những người cầm cờ đỏ Dòng người ngày một đông thêm, tới gần Vinh,đoàn đã đông tới gần 30 ngàn người, xếp thành hàng dài gần 4 km Thực dân Pháp đãtiến hành đàn áp hết sức dã man nhưng phong trào đấu tranh của nhân dân Nghệ - Tĩnhvẫn tiếp tục dâng cao, phát triển thành cuộc đấu tranh vũ trang, làm sụp đổ và tan rãhàng mảng chính quyền của đế quốc và phong kiến

Trong bối cảnh đó, các tổ chức Đảng, Nông hội đỏ đã lãnh đạo quần chúng thựchiện quyền làm chủ, tự đứng ra quản lý đời sống của mình, làm nhiệm vụ của chínhquyền nhân dân theo hình thức Xô viết Tuy còn sơ khai nhưng Xô viết đã thực sự làmchức năng của chính quyền cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo Về kinh tế, Xôviết đã tịch thu ruộng đất công chia cho nông dân, bãi bỏ các thứ thuế vô lý, chú ý đến

đê điều, … Về văn hóa – xã hội, tổ chức học chữ Quốc ngữ, xóa bỏ những phong tụctập quán lạc hậu, …

Tuy mới thành lập ở một số xã, thời gian tồn tại chỉ được 4 – 5 tháng nhưng Xôviết Nghệ - Tĩnh đã tỏ rõ bản chất cách mạng và tính ưu việt của nó Đó là một chínhquyền của dân, do dân và vì dân nên đã đem lại nhiều lợi ích căn bản cho nhân dân

Phong trào cách mạng Việt Nam 1930 – 1931 là phong trào cách mạng đầu tiên

do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Đó là một phong trào cách mạng rộng lớn, lốicuốn đông đảo quần chúng nhân dân tham gia với những hình thức đấu tranh phong

Trang 30

phú và quyết liệt Mặc dù cuối cùng phong trào này bị thực dân Pháp dìm trong biểnmáu nhưng nó vẫn có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn.

Phong trào đã khẳng định trong thực tế quyền lãnh đạo và năng lực lãnh đạocách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam Nó chứng tỏ đường lối của Đảng là đúngđắn và được đông đảo quần chúng ủng hộ Phong trào đã mang lại cho giai cấp nôngdân niềm tin vào giai cấp công nhân, đồng thời cũng đem lại cho đông đảo quần chúngcông nông niềm tin vào năng lực lãnh đạo cách mạng của chính mình Qua phong trào,đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng yêu nước được tôi luyện và trưởng thành

Phong trào cách mạng 1930-1931 với đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh có ýnghĩa lịch sử quan trọng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng giaicấp ở nước ta Từ trong phong trào này, khối công nông liên minh được hình thành.Lần đầu tiên công nhân và nông dân liên minh với nhau trong cuộc đấu tranh dưới sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản Từ trong phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh (1930-1931) đã

ra đời chính quyền cách mạng ở một số vùng nông thôn

Phong trào cách mạng 1930-1931 và Xô viết Nghệ - Tĩnh được đánh giá caotrong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Quốc tế Cộng sản, Đảng Cộng sảnLiên Xô, Đảng Cộng sản Pháp đã nhiệt liệt biểu dương phong trào Tháng 4 năm 1931,tại Hội nghị toàn thể lần thứ XI của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản đã quyết địnhĐảng Cộng sản Đông Dương là một thành viên độc lập, trực thuộc Quốc tế Cộng sản

Phong trào cách mạng 1930-1931 với đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh đã xácnhận ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, nóchứng tỏ rằng “ giai cấp vô sản đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”

Phong trào cách mạng 1930 – 1931 đã khẳng định trên thực tế những nhân tố cơbản đầu tiên đảm bảo cho thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam là:1) Phải có sự lãnh đạo của Đảng mang lập trường của giai cấp công nhân, là đại biểucho toàn thể nhân dân lao động; 2) Khẳng định đường lối cách mạng giải phóng dântộc theo con đường cách mạng vô sản là đúng đắn, đường lối chính trị mà Đảng vạch

ra là thích hợp, đáp ứng nguyện vọng thiết tha của quần chúng nhân dân lao động Đó

là ngọn đuốc soi đường đưa cách mạng Việt Nam tiến lên

Bài học lớn nhất của Xô viết Nghệ - Tĩnh là đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, xâydựng và củng cố sự đoàn kết dân tộc trên cơ sở liên minh công nông thì cách mạng sẽ

Trang 31

thành công Ngoài ra, Xô viết Nghệ - Tĩnh còn để lại nhiều kinh nghiệm quý giá vềxây dựng chính quyền nhân dân, về thành lập lực lượng vũ trang, …

Với những ý nghĩa hết sức to lớn ấy, phong trào cách mạng 1930-1931 đượcxem là cuộc diễn tập đầu tiên chuẩn bị cho cách mạng tháng Tám Đánh giá Xô viếtNghệ - Tĩnh, Nguyễn Ái Quốc viết: “Tuy đế quốc Pháp đã dập tắt phong trào đó trongmột biển máu, nhưng Xô viết Nghệ - Tĩnh đã chứng tỏ một tinh thần oanh liệt và nănglực cách mạng của nhân dân lao động Việt Nam Phong trào tuy thất bại nhưng nó rènluyện lực lượng cho cuộc cách mạng tháng Tám thắng lợi sau này”

2.2 Khuynh hướng tả khuynh trong Quốc tế Cộng sản

Quốc tế Cộng sản do V.I.Lênin sáng lập không những chỉ ra con đường giảiphóng dân tộc cho nhân dân các nước bị áp bức, mà còn tích cực giúp đỡ họ trongcuộc đấu tranh vì độc lập tự do Tuy nhiên, do nhiều yếu tố, khách quan và chủ quan,Quốc tế Cộng sản không tránh khỏi những hạn chế về lý luận cũng như trong thực tiễn

đã ảnh hưởng đến Đảng và Cách mạng Việt Nam, đặc biệt là từ sau Đại hội VI của tổchức này

Trong cương lĩnh và chương trình nghị sự, Quốc tế Cộng sản đã nêu vấn đềcách mạng thuộc địa và coi việc giúp đỡ cách mạng thuộc địa là một trọng tâm trong

sự nghiệp hoạt động của mình Nhưng trong thực tế, Quốc tế Cộng sản chưa coi trọngđúng mức loại hình cách mạng này Một trong những nguyên nhân của tình trạng đó là

lý luận của Quốc tế Cộng sản về chiến lược và sách lược đối với các nước thuộc địa vànửa thuộc địa còn có mặt hạn chế Quốc tế Cộng sản cho rằng cách mạng thuộc địakhông thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc, mà nó phụ thuộc vào cáchmạng vô sản ở chính quốc Trong Tuyên ngôn được thông qua tại Đại hội thành lậpQuốc tế Cộng sản năm 1919 có đoạn viết: “Sự giải phóng các thuộc địa có thể đượcchỉ cùng với sự giải phóng giai cấp công nhân ở các chính quốc Công nhân và nôngdân không chỉ ở An Nam, Angiêri, Bengalia, mà cả ở Iran và Ácmênia sẽ chỉ nhậnđược khả năng sống độc lập khi công nhân Anh và Pháp lật đổ Lôít Gióocgiơ vàClêmăngxô giành chính quyền nhà nước về tay mình”

Quan điểm đặt cách mạng giải phóng dân tộc phụ thuộc trực tiếp vào thắng lợicủa cách mạng vô sản ở chính quốc đã tồn tại một thời gian dài trong Quốc tế Cộngsản Cho mãi đến Đại hội VI năm 1928, Đề cương về phong trào cách mạng ở cácnước thuộc địa và nửa thuộc địa vẫn khẳng định như vậy

Trang 32

Như vậy, Quốc tế Cộng sản chỉ mới thấy mối liên hệ một chiều, sự chi phối củacách mạng vô sản ở chính quốc đến cách mạng thuộc địa Tư tưởng này đã làm giảmtính năng động cách mạng của các phong trào ở thuộc địa, đã tạo ra tư tưởng trôngchờ, ỷ lại, thụ động của nhiều đảng ở các nước thuộc địa Tuy nhiên, Đảng ta hoàntoàn không bị chi phối bởi quan điểm trên Bởi vì, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã sớmnhìn thấy mối quan hệ biện chứng giữa cách mạng vô sản và cách mạng thuộc địa.Người nhận thấy không những cách mạng vô sản ảnh hưởng đến cách mạng thuộc địa

mà cách mạng thuộc địa cũng tác động đến cách mạng vô sản Người đã dự báo cáchmạng thuộc địa có thể thắng lợi trước và đã vận dụng thành công

Đại hội VI Quốc tế Cộng sản đã đánh giá chưa chính xác, có phần tả khuynhđối với giai cấp tư sản, đặc biệt là giai cấp tư sản dân tộc, nhấn mạnh mặt dao độngcủa họ Nhận định tả khuynh này lúc đó đã chi phối hành động của các đảng Một sốđảng viên cộng sản, thậm chí cả một số đảng cộng sản ở các nước thuộc địa, căn cứvào luận điểm trong Đề cương về phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửathuộc địa được thông qua tại Đại hội VI về khuynh hướng thỏa hiệp với chủ nghĩa đếquốc của giai cấp tư sản, về tính dao động của giai cấp tư sản, đã rút ra kết luận: chỉkhi nào giai cấp tư sản bị gạt ra ngoài cương vị lãnh đạo phong trào thì cuộc đấu tranhgiải phóng dân tộc mới có thể thắng lợi

Ở Việt Nam và Đông Dương – một thuộc địa lớn của Pháp, nền kinh tế chủ yếu

là nông nghiệp lạc hậu, nên đặc điểm của sự ra đời và phân hóa trong giai cấp tư sảnkhác rất nhiều nước Vì vậy, việc thực hiện chủ trương này của Quốc tế Cộng sản đãdẫn đến những biểu hiện tả khuynh trong tập hợp lực lượng cách mạng

Đầu tháng 4-1931, Xứ ủy Trung Kỳ đã ra chỉ thị “thanh Đảng” và phổ biếnxuống tận cơ sở Nội dung chính của chỉ thị thanh Đảng là đưa ra khỏi Đảng những aixuất thân là trí thức, giàu có hoặc con em các quan lại lớn nhỏ Đặc biệt, trong Chỉ thịthanh Đảng của Xứ ủy Trung Kỳ có những câu gay gắt: “Thanh trừ trí phú địa hào,đào tận gốc trốc tận rễ” Trong Chỉ thị truyền đạt của Tỉnh ủy Nghệ An cũng có nhữngcâu tương tự Đây là một biểu hiện tả khuynh Điều đó gây ra sự hoang mang, tiêu cựctrong những đảng viên xuất thân từ các giai cấp trên đã từ bỏ giai cấp mình, tích cựctham gia phong trào cách mạng của công nông, làm cho phong trào đã khó khăn khi bịđàn áp lại càng khó khăn hơn Đây cũng là một lý do để lý giải vì sao mà một mô hìnhchính quyền hợp lòng dân lại chỉ có thể đứng vững trong một thời gian ngắn

Trang 33

Là một tổ chức chính trị cao nhất của phong trào cộng sản và công nhân quốc

tế, nhưng do áp dụng cơ chế tập trung quan liêu trong khi việc nắm thông tin, hiểu biếtthực tiễn còn bất cập…, nên Quốc tế Cộng sản không tránh khỏi có lúc cứng nhắc,chưa sát thực tế, đã áp đặt, giáo điều trong việc xác định đường lối Đối với ĐảngCộng sản Việt Nam và cách mạng Việt Nam, Quốc tế Cộng sản cũng có những biểuhiện khó tránh khỏi này

Các văn kiện của Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam được Ban chấphành Quốc tế Cộng sản nghiên cứu kỹ lưỡng Ngoài việc khẳng định ý nghĩa lịch sửcủa việc thành lập Đảng ta, Quốc tế Cộng sản còn đánh giá rằng: “Hội nghị thống nhấttiến hành hợp nhất các nhóm cộng sản khác nhau vào một đảng cộng sản chung nhất

đã phạm hàng loạt sai lầm, sai lầm chính trong số những sai lầm đó là sự thống nhấtđược tiến hành thiếu phân định trước một cách đầy đủ và sự lựa chọn từ các nhómcộng sản đang tồn tại những lực lượng thực sự cách mạng Vào thời điểm thoái tràocách mạng, tâm trạng thất bại là người bạn đồng hành của những người đã vào Đảngthời kỳ cao trào mà thiếu sự kiểm tra một cách đầy đủ”

Quốc tế Cộng sản đã gửi một bức thư với nội dung gồm hàng loạt vấn đề bổsung liên quan đến đường lối và nhiệm vụ cách mạng Việt Nam Trong bức thư đócũng đặt vấn đề đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng cộng sản Đông Dương

Dựa trên cơ sở 3 nước Đông Dương ở cùng một vị trí địa lý, có điều kiện chínhtrị, kinh tế như nhau, cùng là thuộc địa của Pháp và muốn áp dụng mô hình Liên bang

Xô viết nên Quốc tế Cộng sản đã chủ trương thành lập một đảng cộng sản duy nhất ởĐông Dương… Bên cạnh đó, cũng có thể do quan điểm của một vài cán bộ lãnh đạoQuốc tế Cộng sản về các vấn đề dân tộc và vấn đề đấu tranh giai cấp ở tầm vĩ mô cóphần cực đoan Vì vậy, Quốc tế Cộng sản đã buộc Đảng Cộng sản Việt Nam đổi tênthành Đảng Cộng sản Đông Dương

Việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam cùng với việc thông qua Chính cươngvắn tắt, Sách lược vắn tắt thấm nhuần tư tưởng mácxít-lêninnít và không làm giảm tínhgiai cấp, phẩm chất cách mạng của Đảng Làm như vậy là phù hợp với lý luận Mác-Lênin về xây dựng đảng ở các nước, vừa phù hợp với thực tế cách mạng ở 3 nướcĐông Dương lúc bấy giờ Giai cấp công nhân và đội tiên phong của nó mang bản chấtquốc tế trong sáng, song trước hết nó mang tính chất dân tộc-giai cấp và đảng cộng sảnphải xây dựng trong một quốc gia dân tộc cụ thể Đảng phải ủng hộ quyền lợi chính

Trang 34

đáng của các dân tộc trên thế giới, song trước hết phải chịu trách nhiệm với giai cấp vàdân tộc của mình Việc lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

và cách giải quyết mối quan hệ giữa 3 dân tộc Đông Dương trong khuôn khổ mỗi nướcriêng biệt là phù hợp với lý luận và thực tiễn cách mạng, thể hiện 1 quan điểm đúngđắn về việc vận dụng tính quốc tế và tính dân tộc trong xây dựng Đảng Đúng nhưNguyễn Ái Quốc đã giải thích về vấn đề đặt tên đảng cho các đại biểu dự Hội nghị hợpnhất: “Cái từ Đông Dương rất rộng, và theo nguyên lý của chủ nghĩa Lênin, vấn đềdân tộc là một vấn đề rất nghiêm túc, người ta không thể bắt các dân tộc khác gia nhậpđảng, làm như thế là trái với nguyên lý chủ nghĩa Lênin Còn cái từ An Nam thì hẹp, vì

An Nam chỉ là miền trung của nước Việt Nam mà thôi, và nước ta có 3 miền: Bắc Kỳ,Trung Kỳ, Nam Kỳ Do đó, từ Việt Nam hợp với cả 3 miền và không trái với chủnghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc”…

Việc Quốc tế Cộng sản buộc Đảng Cộng sản Việt Nam phải đổi tên thành ĐảngCộng sản Đông Dương chứng tỏ rằng Quốc tế Cộng sản chưa chú ý đến vấn đề dântộc, chưa thấy hết đặc điểm lịch sử, chính trị của mỗi nước và đã áp đặt như vậy Lúc

ấy, ở Lào và Campuchia chưa hình thành một nhóm cộng sản nào hoạt động độc lậpnhư ở Việt Nam Vì vậy, không có cơ sở nào để hợp nhất các nhóm cộng sản ở ĐôngDương như Quốc tế Cộng sản yêu cầu

Sáng tạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong Hội nghị thành lập Đảng thể hiệntrong việc nêu mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng là đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lênhàng đầu, cả trong việc xác định lực lượng cách mạng, trong chủ trương thực hiện liênminh công-nông, cả với tiểu tư sản, thực hiện liên hiệp với tư sản dân tộc, phân hóa và

cô lập địa chủ, thực hiện mặt trận thống nhất đoàn kết rộng rãi dân tộc, chĩa mũi nhọncách mạng vào kẻ thù chủ yếu là đế quốc và tay sai

Những sáng tạo đó của Người đã không được Quốc tế Cộng sản coi là mộtđóng góp vào kho tàng lý luận Mác-Lênin, trái lại, bị coi là biểu hiện của sự xa rời chủnghĩa Mác-Lênin, xa rời lý tưởng cộng sản

Vì hiểu lầm và đánh giá không đúng về Nguyễn Ái Quốc, nên Quốc tế Cộngsản đã có thời kỳ có phần dè dặt đối với Người Trong thư gửi đại diện của Đảng Cộngsản Pháp ở Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã băn khoăn về vị trí của mình: “Lúcnày tôi chưa biết rõ vị trí của tôi Tôi hiện là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp hay ĐảngCộng sản Việt nam? Cho đến khi có lệnh mới, tôi vẫn phải chỉ đạo công việc của Đảng

Trang 35

Cộng sản Việt Nam Nhưng với danh nghĩa gì? Sự ủy nhiệm công tác của Quốc tếCộng sản cho tôi đã hết hạn chưa? Nếu chưa, tôi vẫn tham gia Ban Phương Đông ởđây? Tôi đề nghị các đồng chí nhắc Ban Thường vụ Quốc tế Cộng sản cho quyết định

về việc này”

Nguyễn Ái Quốc và Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Người soạn thảocòn bị phê phán từ phía các đồng chí của mình, là những đồng chí bị ảnh hưởng củaQuốc tế Cộng sản Sau khi đã tốt nghiệp Trường Đại học Phương Đông, tháng 4-1930,Quốc tế Cộng sản cử Trần Phú về nước hoạt động và bổ sung vào Ban Chấp hànhTrung ương lâm thời Trần Phú mang theo tinh thần của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản,trong đó nhấn mạnh vấn đề giai cấp và sách lược mặt trận công nhân thống nhất Chấphành chỉ thị của Quốc tế Cộng sản về việc bổ sung một số vấn đề về đường lối vànhiệm vụ của cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại và vấn đề đổi tên Đảng,tháng 10-1930, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lâm thời họp tại HồngKông Hội nghị đã thông qua Luận cương chính trị của Đảng do Trần Phú soạn thảo,Điều lệ mới, án nghị quyết về tình hình hiện tại ở Đông Dương và nhiệm vụ cần kípcủa Đảng, bầu Ban Chấp hành Trung ương và Trần Phú làm Tổng bí thư của Đảng

Luận cương nêu lên những vấn đề cơ bản của cuộc cách mạng dân tộc dân chủnhân dân ở Đông Dương do giai cấp công nhân lãnh đạo Nhưng do vận dụng máymóc những luận điểm và sách lược mặt trận của Quốc tế Cộng sản, Luận cương chínhtrị xác định chưa rõ nhiệm vụ hàng đầu là giải phóng dân tộc, đề cao nhiệm vụ phảnphong Vì bị ảnh hưởng quan điểm của Quốc tế Cộng sản cho nên có những đánh giásai về tư sản dân tộc, chưa thấy hết khả năng phản đế của giai cấp tư sản dân tộc Luậncương chính trị cũng như án nghị quyết của Hội nghị đã không phản ánh được mộtthực tiễn thực tiễn sinh động, phong phú của phong trào cách mạng ở trong nước làngoài công nông ra, các tầng lớp trí thức và một số sĩ phu, một số trung tiểu địa chủ lại

có xu hướng cách mạng rõ ràng… Luận cương vẫn giữ quan điểm là chỉ thấy sứcmạnh của cách mạng tư sản dân quyền là “vô sản giai cấp”

Hội nghị còn phê phán Hội nghị hợp nhất và Nguyễn Ái Quốc đã phạm nhiềusai lầm rất nguy hiểm vì “chỉ lo việc hiệp các đoàn thể ấy lại làm một mà ít chú ý đếnviệc bài trừ những tư tưởng và hành động biệt phái của các đảng phải trước kia”, đặttên Đảng không đúng, hữu khuynh trong đường lối chính trị, “chỉ lo đến việc phản đế,

mà quên mất lợi ích giai cấp đấu tranh ấy là một sự rất nguy hiểm” Nguyễn Ái Quốc

Trang 36

bị phê phán là hẹp hòi, là theo chủ nghĩa dân tộc Hội nghị đã quyết định “thủ tiêuchính cương sách lược và điều lệ cũ của Đảng, lấy kinh nghiệm trong thời kỳ vừa qua

mà thực hành công việc cho đúng như án nghị quyết và thư chỉ thị của Quốc tế Cộngsản Bỏ tên “Việt Nam Cộng sản Đảng” mà lấy tên “Đông Dương Cộng sản Đảng”

Trong Thư của Trung ương gửi cho các cấp đảng bộ ngày 9-12-1930, Thường

vụ Trung ương đã phê phán những điều sai lầm của Hội nghị hợp nhất như: “chủtrương các công việc rất sơ sài, mà có nhiều điều không đúng với chủ trương của Quốctế”, “không hợp nhất các phần tử cộng sản chân chính nhất mà lại hợp nhất các tổ chứccộng sản”, “không lấy một nền tư tưởng cộng sản và những kế hoạch công tác cộngsản làm căn bản để chiêu tập Đảng, chỉ bàn chuyện cần phải hợp nhất mà thôi”, đặt tênĐảng Cộng sản Việt Nam không phù hợp, chính sách của Đảng đối với địa chủ, tư sảnkhông đúng: “Nói mập mờ về việc lợi dụng hoặc chủ trương những việc làm cho bọn

tư sản chưa phản cách mạng như trong Chánh cương sách lược cũ là 1 điều sai lầmchánh trị rất lớn và rất nguy hiểm cho cách mạng”, khuyết điểm về tổ chức

Như vậy, Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị tháng 10-1930 chưanhận thức được mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội thuộc địa là mâu thuẫn giữa toàn thểdân tộc bị áp bức với đế quốc xâm lược nên không thấy được nhiệm vụ hàng đầu củacách mạng là giải phóng dân tộc Từ đó, Trung ương Đảng không nhận rõ mặt tích cựccủa các giai cấp và tầng lớp trên, nên không coi họ là lực lượng có khả năng tham gialàm cách mạng giải phóng dân tộc

Một lý do khác dẫn đến những hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10-1930

là từ ảnh hưởng của những tư tưởng tả khuynh, giáo điều của một số lãnh đạo trong tổchức Quốc tế cộng sản và một số Đảng Cộng sản lúc bấy giờ Quốc tế cộng sản coitrọng đấu tranh giai cấp hơn là đấu tranh giải phóng dân tộc, không nhìn thấy thực tiễnmâu thuẫn xã hội ở các nước thuộc địa phương Đông mà chỉ xuất phát từ mâu thuẫngiai cấp ở các nước châu Âu

Về sau, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã từng bước khắc phụcnhững hạn chế của Luận cương chính trị (10/1930) và đưa cách mạng đến thành công

Bảng 1 NHỮNG SỰ KIỆN CỦA LỊCH SỬ THẾ GIỚI (1917 – 1930)

CÓ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆT NAM

Sự kiện lịch sử thế giới Tác động tới Việt Nam

1 Cách mạng tháng Mười Nga năm Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc “Sơ

Trang 37

1917 thành công đưa đến sự ra đời của

nước xã hội chủ nghĩa hiện thực đầu tiên

trên thế giới Đây không chỉ là một cuộc

vô sản ở Việt Nam

2 Hậu quả của cuộc chiến tranh thế giới

thứ nhất (1914-1918) đã tác động đến

các nước tư bản và thuộc địa của họ Để

bù đắp những thiệt hại do Chiến tranh

gây ra, các nước đế quốc vừa bóc lột

nhân dân trong nước, vừa tiến hành khai

thác thuộc địa

Tác động, ảnh hưởng to lớn đến cả thế

giới

Từ năm 1919 – 1929, Pháp tiến hànhcuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai ởĐông Dương, trọng tâm là Việt Nam.Cuộc khai thác này có quy mô lớn, toàndiện

Phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa có điều kiện phát triển, dẫn tới sựhình thành các giai cấp, tầng lớp mới vàngày càng tăng nhanh về số lượng (tưsản, tiểu tư sản tri thức)

3 Hệ tư tưởng dân chủ tư sản tiếp tục

được tuyền bá vào Việt Nam, trong đó có

chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn

Giai cấp tư sản tăng nhanh về số lượngnhưng bị Pháp chèn ép nên có tinh thầndân tộc Họ tiếp thu chủ nghĩa Tam dâncủa Tôn Trung Sơn, thành lập các tổchức chính trị làm vũ khí đấu tranhchống thực dân Pháp

4 Quốc tế Cộng sản ra đời (1919) và

hoạt động tích cực như tháng 7-1920,

thông qua Luận cương của Lê-nin tại Đại

hội II; Đại hội V tháng 5-1924 đánh giá

vai trò của cách mạng thuộc địa trong

phong trào cách mạng thế giới; …

Những hoạt động của Quốc tế Cộng sản

là phương hướng đấu tranh cho cáchmạng ở các nước thuộc địa, trong đó cóViệt Nam, góp phần thúc đẩy khuynhhướng vô sản ở Việt Nam phát triển, dẫnđến sự ra đời của Đảng Cộng sản ViệtNam đầu năm 1930

5 Sự ra đời của nhiều Đảng Cộng sản

trên thế giới như Mỹ (1919), Pháp

Là một trong những yếu tố khách quangóp phần thúc đẩy khuynh hướng vô sản

Trang 38

(1920), Trung Quốc (1921), Ấn Độ

(1925), …minh chứng cho khuynh

hướng vô sản đã vượt ra khỏi phạm vi

nước Nga, lan nhanh tới các quốc gia

khác, có sức mạnh to lớn

ở Việt Nam phát triển Cách mạng ViệtNam từ lâu đã được Nguyễn Ái Quốcxác định có mối quan hệ gắn bó với cáchmạng thế giới

6 Quốc tế Cộng sản có những bất đồng

trong nội bộ (sau khi Lê-nin mất năm

1924), đề cao đấu tranh giai cấp và cách

mạng ruộng đất, coi nhẹ vấn đề giải

phóng dân tộc ở các nước phương Đông

tác động đến đường lối đấu tranh giải

phóng dân tộc ở nhiều nước, trong đó có

Việt Nam

Trần Phú được Quốc tế Cộng sản giaonhiệm vụ tiến hành Hội nghị Ban Chấphành Trung ương Đảng lâm thời tháng10-1930, những quyết định của Hội nghịchịu sự chi phối của khuynh hướng tảkhuynh trong Quốc tế Cộng sản đó làthay đổi tên Đảng; viết và thông quaLuận cương đề cao nhiệm vụ đấu tranhgiai cấp và cách mạng ruộng đất, xácđịnh thiếu lực lượng của phong trào cáchmạng, …

3 Đại hội lần VII của Quốc tế Cộng sản (tháng 7 – 1935)

Trên thế giới, vào đầu những năm 20-30 của thế kỷ XX, chủ nghĩa phát xít xuấthiện ở Italia năm 1922, ở Đức năm 1933, ở Nhật nam 1935 đã hình thành những lò lửachiến tranh cực kỳ nguy hiểm ở cả châu Âu và Viễn Đông Càng nguy hiểm hơn, khicác cường quốc tư bản phương Tây, trước hết là Anh, Pháp, Mỹ đã có những hànhđộng nhân nhượng, thỏa hiệp, dung túng cho chủ nghĩa phát xít Đức, Ý, Nhật hoànhhành nhằm thực hiện những ý đồ chiến lược sâu xa của họ Các lò lửa chiến tranh dophát xít Đức, Ý, Nhật nhóm lên trong thập niên 30 không tồn tại biệt lập, tách rời, đơn

lẻ mà chúng được liên kết với nhau trong “trục Berlin – Roma – Tokyo” (gọi là pheTrục), nên lại càng cực kỳ nguy hiểm, đe dọa không chỉ an ninh mà cả sự tồn vong củavăn minh toàn nhân loại Phe Trục được hình thành nhằm gây ra một cuộc chiến tranhmới để đánh bại các cường quốc đế quốc Anh, Pháp, Mỹ, thống trị thế giới và chủ yếu

là tiêu diệt Liên Xô, phong trào cộng sản quốc tế Cuộc chiến tranh xảy ra sẽ gây tổnthất to lớn cho loài người

Trước tình hình đó, những người cộng sản, đứng trước yêu cầu cấp bách cầnphải tổng kết kinh nghiệm đấu tranh của các đảng cộng sản; định ra một đường lối

Trang 39

chiến lược, sách lược mới của phong trào cộng sản thế giới Đại hội VII họp để thựchiện nhiệm vụ đó.

Nội dung cơ bản nhất của Đại hội là vấn đề chống chủ nghĩa phát xít và nguy

cơ của một cuộc chiến tranh đế quốc đang đến gần Đại hội xác định hai nguyên nhândẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa phát xít:

Một là, các đảng cộng sản chưa đủ sức mạnh để phát động quần chúng đấutranh chống chủ nghĩa phát xít, cá biệt có một số đảng còn có thái độ thoả hiệp

Hai là, do sự phản bội của các đảng xã hội - dân chủ, các đảng này đã hợp tácvới giai cấp tư sản Đại hội ra nghị quyết về việc lập Mặt trận thống nhất chống chủnghĩa phát xít Mặt trận đoàn kết giữa nông dân, công nhân, tiểu tư sản thành thị vàgiai cấp lao động thuộc các dân tộc bị áp bức, trên cơ sở mặt trận thống nhất của giaicấp công nhân

Nghị quyết Đại hội hướng dẫn các đảng cộng sản khi đề ra cương lĩnh mặt trậnphải bảo vệ yêu sách của nông dân, thợ thủ công, trí thức Trong quá trình đấu tranhcho mặt trận nhân dân, có thể phải thành lập chính phủ của mặt trận đó Chính phủ này

có thể là chính phủ quá độ lên chuyên chính vô sản Nhưng trong tất cả mọi trườnghợp chính phủ của mặt trận nhân dân phải đấu tranh chống lực lượng phản động vàphát xít Những người cộng sản tham gia chính phủ mặt trận nhân dân không giốngchính sách hợp tác giai cấp do các lãnh tụ xã hội - dân chủ thi hành mà với mục đíchđấu tranh chống chủ nghĩa phát xít

Đại hội thông qua nghị quyết về vấn đề sự thống nhất của phong trào, coi đó lànhiệm vụ chủ yếu để củng cố Mặt trận thống nhất Đại hội chú trọng đấu tranh trênlĩnh vực tư tưởng chống chủ nghĩa phát xít, chống nguy cơ chiến tranh đế quốc và âmmưu gây chiến tranh chống Liên Xô Đại hội kêu gọi các đảng cộng sản trong trườnghợp chiến tranh nổ ra hãy lợi dụng cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị để “biếnchiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng”

Với những nội dung chủ yếu nêu trên, Đại hội VII xác định khẩu hiệu trung tâmcủa các Đảng cộng sản lúc đó là “đấu tranh cho hòa bình” nhằm động viên tất cả cáclực lượng dân chủ sẵn sàng tham gia phong trào chống chiến tranh đế quốc

Đại hội vạch rõ, vì thắng lợi của cuộc đấu tranh giai cấp chống giai cấp tư sảnnên cần thiết phải có sự thống nhất về chính trị của giai cấp công nhân, có đảng thốngnhất của giai cấp vô sản, độc lập hoàn toàn với giai cấp tư sản và các lực lượng xã hội

Trang 40

dân chủ; thực hiện sự thông nhất hành động Đại hội thừa nhận phải dùng cách mạng

để lật đổ giai cấp tư sản, thiết lập chuyên chính vô sản dưới hình thức các Xô viết;không ửng hộ giai cấp tư sản trong cuộc chiến tranh đế quốc; xây dựng đảng theonguyên tắc tập trung dân chủ v.v

Đại hội VII Quốc tế Cộng sản đã định ra phương hướng sách lược mới, đókhông phải là sự phủ nhận sách lược mặt trận thống nhất mà là phát triển sách lược đótrong điều kiện mới

Đại hội VII có vị trí đặc biệt trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế vàphong trào giải phóng dân tộc Nghị quyết của Đại hội VII đã phát triển những vấn đề

lý luận về chiến lược và sách lược cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, xác địnhphương hướng cho cuộc đấu tranh của Mặt trận thống nhất công nhân và nhân dânchống chủ nghĩa phát xít và chiến tranh đế quốc

Những nghị quyết đúng đắn của Đại hội đã góp phần buộc chính phủ tư sản ởmột số nước phải thực hiện chính sách chống phát xít Ví dụ, ở Anh, phong trào cộngsản và công nhân đã buộc Đảng Bảo thủ Sớcsin phải thực hiện chính sách chống chủnghĩa phát xít Ở Mỹ, Tổng thống Rudơven cũng phải ủng hộ chính sách chống chủnghĩa phát xít

Thực hiện Nghị quyết của Quốc tế Cộng sản, nhiều nước trên thế giới đã thànhlập Mặt trận Nhân dân như ở Tây Ban Nha, Pháp, … Ở nước Pháp, Đảng Cộng sảnPháp liên minh với những người thuộc cánh tả cảu Đảng Xã hội, giành thắng lợi lớntrong cuộc Tổng tuyển cử được tổ chức vào đầu năm 1936 và thành lập Chính phủ Mặttrận Nhân dân Chính phủ này thực hiện một số chính sách tiến bộ như nới lỏng áchthống trị ở các nước thuộc địa bằng cách cho nhân dân các nước thuộc địa hưởng một

số quyền tự do dân chủ tối thiểu, thả nhiều tù chính trị, thành lập Ủy ban điều tra tìnhhình thuộc địa Những việc làm này có lợi cho phong trào đấu tranh của nhân dân ta

Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới đã hưởng ứngthực hiện Nghị quyết Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, kết hợp với việc tiến hành côngcuộc đấu tranh giải phóng dân tộc

Trong nước, sau khi phong trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là Xô viếtNghệ - Tĩnh bị đàn áp1, phong trào cách mạng và tổ chức Đảng dần được phục hồi.Đầu năm 1935, phong trào dần được phục hồi Tháng 3-1935, Đảng tiến hành Đại hội

Ngày đăng: 09/03/2020, 12:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Mậu Hãn (2006), Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 3, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 3
Tác giả: Lê Mậu Hãn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
2. Trịnh Đình Tùng (2008), Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử
Tác giả: Trịnh Đình Tùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
3. Trần Huy Đoàn (2013), Hướng dẫn bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử
Tác giả: Trần Huy Đoàn
Nhà XB: NXB Đạihọc Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
4. Trương Ngọc Thơi (2012), Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử 12, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử 12
Tác giả: Trương Ngọc Thơi
Nhà XB: NXB Đại họcQuốc gia Hà Nội
Năm: 2012
5. Nguyễn Mạnh Hưởng, Nguyễn Văn Ninh (2016), Bồi dưỡng năng lực thi THPT Quốc gia môn Lịch sử, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng năng lực thi THPTQuốc gia môn Lịch sử
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hưởng, Nguyễn Văn Ninh
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2016
6. Vũ Quang Hiển (2016), Bộ đề môn Lịch sử chuẩn bị cho kỳ thi THPT Quốc gia, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ đề môn Lịch sử chuẩn bị cho kỳ thi THPT Quốc gia
Tác giả: Vũ Quang Hiển
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2016
7. Trịnh Đình Tùng (2016), Hướng dẫn ôn luyện thi THPT Quốc gia môn Lịch sử, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn ôn luyện thi THPT Quốc gia môn Lịch sử
Tác giả: Trịnh Đình Tùng
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2016
8. Hội Giáo dục lịch sử (2001), Các loại bài thi HSG môn Lịch sử, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loại bài thi HSG môn Lịch sử
Tác giả: Hội Giáo dục lịch sử
Nhà XB: NXB Đại học Sưphạm
Năm: 2001
9. Hội Giáo dục lịch sử (2002), Những bài thi đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi Quốc gia môn Lịch sử, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài thi đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi Quốcgia môn Lịch sử
Tác giả: Hội Giáo dục lịch sử
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
10. Phan Ngọc Liên (2008), Thuật ngữ khái niệm lịch sử phổ thông, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ khái niệm lịch sử phổ thông
Tác giả: Phan Ngọc Liên
Nhà XB: NXB Đại họcQuốc gia Hà Nội
Năm: 2008
12. Nguyễn Anh Thái (Chủ biên), Lịch sử thế giới hiện đại, NXB Giáo dục, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới hiện đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
13. Nguyễn Huy Quý (Chủ biên), Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945), NXB Chính trị Quốc gia, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945)
Nhà XB: NXBChính trị Quốc gia
14. Lê Văn Quang (Chủ biên), Lịch sử quan hệ quốc tế từ 1917 đến 1945, NXB Giáo dục, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử quan hệ quốc tế từ 1917 đến 1945
Nhà XB: NXB Giáodục
11. Đề thi Học sinh giỏi Quốc gia (từ năm 2006 đến năm 2019) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w