1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chuyên đề ôn thi HS giỏi sử mối liên hệ giữa lịch sử thế giới với lịch sử việt nam từ năm 1919 đến năm 1945 su07

20 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 42,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách mạng tháng Mười đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế, chỉ ra cho họ con đường đi tới thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản.. Thực tiễ

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ: MỐI LIÊN HỆ GIỮA LỊCH SỬ THẾ GIỚI VỚI LỊCH SỬ VIỆT NAM

TỪ NĂM 1919 ĐẾN NĂM 1945

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông, tôi nhận thấy nổi lên một vấn đề là chương trình dạy học môn lịch sử được xây dựng mang tính tách biệt giữa lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam Điều này khiến cho học sinh khó xác định được mối liên hệ giữa các sự kiện, vấn đề lịch

sử

Hiện nay dạy học theo định hướng phát triển năng lực đang là xu thế chung của thời đại Một trong những năng lực chuyên biệt mà các nhà giáo dục hướng đến cho học sinh khi tiếp cận với môn lịch sử là năng lực nhân thức và tư duy lịch sử Muốn phát triển được năng lực này cần phải phát triển tư duy logic, biện chứng cho học sinh Cách tốt nhất để làm được điều này là nên tạo những vấn

đề để kết nối các sự kiện lịch sử Sự kết nối không chỉ diễn ra theo hình thức tiếp nối, sự kiện trước

là tiền đề cho sự kiện sau, mà còn phải kết nối giữa lịch sử quốc gia dân tộc với lịch sử khu vực và thế giới

Xuất phát từ những vấn đề đó, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Mối quan hệ giữa lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1945”.

2 Mục đích nghiên cứu

 Làm rõ những sự kiện, vấn đề cơ bản của lịch sử thế giới giai đoạn 1919-1945

 Làm rõ những sự kiện, vấn đề cơ bản của lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919-1945

 Xác định mối liên hệ giữa lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919-1945

 Định hướng phát triển năng lực tư duy logic cho học sinh phổ thông

Trang 2

B PHẦN NỘI DUNG

1 Những vấn đề lớn của lịch sử thế giới từ năm 1919 đến năm 1945

1.1 Cuộc cách mạng tháng Mười Nga (1917) và sự ra đời, phát triển của nhà nước Xô Viết

Năm 1917, ở nước Nga đã diễn ra hai cuộc cách mạng: Cách mạng dân chủ tư sản tháng Hai

và Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Thắng lợi của các cuộc cách mạng này có ý nghĩa lịch

sử trọng đại đối với nước Nga và thế giới

Một kỉ nguyên mới đã mở ra làm thay đổi hoàn toàn tình hình đất nước và số phận hàng triệu người ở Nga Lần đầu tiên trong lịch sử nước Nga, giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc được giải phóng, thoát khỏi mọi gông xiềng nô lệ, đứng lên làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình Lịch sử nước Nga đã sang trang: một chế độ mới được thiết lập với mục đích cao cả là xóa

bỏ chế độ người bóc lột người, xây dựng một xã hội tự do, hạnh phúc và công bằng cho người lao động

Cách mạng tháng Mười có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tiến trình lịch sử và cục diện thế giới Cuộc cách mạng này đã phá vỡ trận tuyến của chủ nghĩa tư bản, làm cho không còn là một hệ thống hoàn chỉnh bao trùm thế giới Sự xuất hiện của nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên trên thế giới

đã tạo ra một chế độ xã hội đối lập với hệ thống xã hội tư bản chủ nghĩa

Cách mạng tháng Mười đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế, chỉ ra cho họ con đường đi tới thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản Thực tiễn của Cách mạng tháng Mười không những đã thức tỉnh, cổ vũ ý chí đấu tranh mà còn mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới

Vấn đề cơ bản của một cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền, giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn Sau Cách mạng tháng Mười, nước Nga Xô viết phải chiến đấu chống thù trong giặc ngoài, tiếp đó là công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh (1921 – 1925) và xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội (1925 – 1941) Những thành tựu Liên

Xô gặp hái được trong quá trình này đã thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội, tiếp tục cổ vũ nhân dân lao động, các dân tộc bị áp bức trên thế giới đứng lên đấu tranh, đồng thời tạo tiềm lực vững chắc để Liên Xô có thể bước vào cuộc chiến tranh vệ quốc, bảo vệ độc lập dân tộc và hòa bình thế giới

Trang 3

1.2 Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 và hậu quả

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 bùng nổ đã chấm dứt thời kì ổn định của chủ nghĩa tư bản cùng với ảo tưởng về một kỉ nguyên hòa bình Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ nước Mĩ ngày 24/10/1929, đã nhanh chóng tràn châu Âu, bao trùm toàn bộ thế giới tư bản chủ nghĩa, để lại những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội

Tiếp sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán, vòng xoáy của Đại suy thoái lan rộng ra toàn

bộ các ngành kinh tế Mĩ và đật đến đỉnh cao vào năm 1932 Khoảng 5000 ngân hàng đóng cửa, tổng giá trị sản lượng công nghiệp giảm sút 50% so với năm 1929 [4; 85]

Đức là nước chịu thiệt hại nặng nề nhất ở châu Âu Năm 1930, chỉ trong vòng một tuần lễ, 5 ngân hàng lớn nhất nước Đức bị phá sản, kéo theo sự sụp đổ của hệ thống tài chính quốc gia Đến năm 1932, sản xuất công nghiệp giảm sút 50% so với năm 1929 [4; 86]

Ở Anh, cuộc khủng hoảng kinh tế đã khiến sản xuất công nghiệp giảm sút 16%, trong khi ngoại thương giảm sút đến 60% Khủng hoảng kinh tế ở Pháp nổ ra muộn nhất với mức độ thiệt hại

ít nhất nhưng lại kéo dài so với các nước tư bản châu Âu khác Khủng hoảng bắt đầu từ giữa năm

1930, kéo dài đến năm 1936, làm sản xuất công nghiệp giảm sút 28%, thu nhập quốc dân giảm trên 30%.[4; 86]

Đại suy thoái kinh tế không chỉ đem đến hậu quả nặng nề về kinh tế mà còn làm rung chuyển nền tảng chính trị - xã hội của chủ nghĩa tư bản Hàng chục triệu công nhân thất nghiệp, nông dân bị phá sản và gia đình của họ rơi vào tình trạng đói khổ, túng quẫn Hàng nghìn cuộc biểu tình, tuần hành, “đi bộ vì đói, vì việc làm”…đã diễn ra ở hầu khắp các nước tư bản phương Tây, lôi cuốn trên

17 triệu người lao động tham gia trong những năm 1929 – 1933.[4; 89]

Thành phố Chicago – thủ đô của nền công nghiệp vốn là niềm tự hào của nước Mĩ, trở thành thành phố của những người thất nghiệp và những cuộc bãi công Chính phủ Hoover ở Mĩ phải đối mặt với làn sóng bãi công của 3.5 triệu công nhân trong những năm khủng hoảng Những biện pháp đối phó của chính phủ Hoover nhằm bảo vệ lợi ích của chủ nghĩa tư bản chẳng những không cứu vãn được tình thế mà còn làm khủng hoảng ngày càng trầm trọng hơn Đó cũng là lí do dẫn đến sự thất bại của Đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử Quốc hội năm 1930 và cuộc bầu cử tổng thống năm 1932

Trang 4

Ở Anh, chính phủ Công đảng do MacDonald đứng đầu do không có được những biện pháp hữu hiệu giải quyết khủng hoảng đã lâm vào tình trạng chia rẽ nghiêm trọng, buộc phải từ chức vào tháng 8/1931 và nhường chỗ cho một chính phủ liên minh dân tộc lên cầm quyền Chính phủ mới bao gồm những đại biểu của Đảng Bảo thủ, Công đảng và Đảng tự do phải duy trì chính sách liên hiệp các đảng phái để đối phó với khủng hoảng

Đại suy thoái đã dẫn tới những bất ổn của nền chính trị Pháp trong thập niên 1930 với các cuộc bãi công chốn Chính phủ của công nhân và người lao động đã liên tiếp bùng nổ Trong khí đó,

ở Đức, Italia, khủng hoảng chính trị đã tạo điều kiện cho các thế lực phát xít trỗi dậy

Trong bối cảnh đó đã hình thành hai xu hướng khác biệt trong việc tìm kiếm con đường phát triển giữa các nước tư bản Các nước không có, hoặc có ít thuộc địa, gặp nhiều khó khăn về vốn, nguyên liệu và thị trường đã đi theo con đường phát xít hóa bộ máy chính trị, thiết lập nền chuyên chính khủng bố công khai, thực hiện chính sách xâm lược thuộc địa nhằm cứu vãn tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng của mình Italia, Đức và Nhật Bản là ba nước điển hình cho xu hướng này

Trong khi đó, các nước Anh, Pháp, Mĩ tìm cách thoát ra khỏi khủng hoảng bằng việc thực hiện những cải cách theo hướng tăng cường sự can thiệp của nhà nước vào đời kinh tế - xã hội trong khi vẫn duy trì nền dân chủ tư sản đại nghị Về đối ngoại, các nước này chủ trương duy trì nguyên trạng hệ thống Versailles – Washington để bảo vệ lợi ích của mình trong trật tự thế giới được xác lập sau Chiến tranh thế giới thứ nhất

Thực trạng trên đã khiến quan hệ giữa các cường quốc tư bản trong thập niên 30 chuyển biến ngày càng phức tạp Sự hình thành hai khối đế quốc đối lập – một bên là các nước phát xít Đức, Italia, Nhật Bản với một bên là các nước tư bản dân chủ Mĩ, Anh, Pháp và cuộc chạy đua vũ trang giữa hai khối đã phá vỡ hệ thống thỏa hiệp tạm thời Versailles – Washington, dẫn tới sự xuất hiện các lò lửa chiến tranh, báo hiệu nguy cơ của một cuộc chiến tranh thế giới mới

Nhận thức được sự nghiêm trọng của tình hình, tháng 7/1935, Quốc tế cộng sản đã họp Đại hội lần thứ VII tại Moscow, xác định kẻ thù nguy hiểm trước mắt của giai cấp vô sản và nhân dân lao động thế giới lúc này chưa phải là chủ nghĩa đế quốc nói chung mà là chủ nghĩa phát xít Nhiệm

vụ trước mắt của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới lúc này chưa phải là đấu tranh lật

đổ chủ nghĩa tư bản, giành chính quyền, mà là đấu tranh chống phát xít, chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình dân chủ Để thực hiện nhiệm vụ cấp bách đó, các đảng cộng sản và nhân dân các nước trên

Trang 5

thế giới phải thống nhất hàng ngũ của mình, lập mặt trận nhân dân rộng rãi chống phát xít và chống chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, hòa bình và cải thiện đời sống

1.3 Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945)

Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945) là cuộc chiến tranh có quy mô lớn nhất trong lịch

sử nhân loại Chiến tranh bùng nổ trước hết do những mâu thuẫn về quyền lợi, về lãnh thổ hết sức gay gắt giữa các nước đế quốc với nhau Sự phân chia thế giới theo hệ thống Versailles – Washington chứa đựng những mâu thuẫn không thể dung hòa được giữa các nước đế quốc

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 đã làm sâu sắc thêm mâu thuẫn của chủ nghĩa

đế quốc, dẫn tới việc lên cầm quyền của các thế lực phát xít ở Đức, Italia, Nhật Bản Trước nguy cơ của chủ nghĩa phát xít, các cường quốc phương Tây đã thi hành chính hai mặt tạo điều kiện cho các lực lượng phát xít gây chiến

Ngày 1/9/1939, Đức bất ngờ tấn công Ba Lan Hai ngày sau, chính phủ Anh, Pháp tuyên chiến với Đức Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Từ tháng 5/1940, quân Đức tràn vào Bỉ, Hà Lan, Pháp…Chiến sự ở Mặt trận phía Tây chính thức được khởi động Đến tháng 6/1940, nước Pháp

bị phát xít Đức chiếm đóng

Sau khi làm chủ phần lớn Tây Âu, từ cuối năm 1940, để xây dựng bàn đạp chiến lược ở Đông Nam Âu chuẩn bị cho kế hoạch tấn công Liên Xô, Hitler dùng những thủ đoạn chính trị kết hợp với sức ép quân sự để lôi kéo Rumani, Hunggari, Bungari gia nhập Hiệp ước Tay ba, đồng thời đưa quân tiến vào ba nước này

Ở Viễn Đông, khi chiến tranh bùng nổ, Nhật Bản đẩy mạnh xâm lược Trung Quốc và Viễn Đông Tháng 6/1940, chính phủ Nhật công bố chính sách xây dựng “Khu vực thịnh vượng chung Đại Đông Á”, thể hiện rõ tham vọng bành trướng của mình Tháng 9/1940, Nhật vào Đông Dương, bắt tay với Pháp để biến Đông Dương thành chiếc cầu nối để mở rộng xâm lược xuống phía Nam châu Á

Ngày 22/6/1941, Đức tấn công Liên Xô Tính chất chiến tranh thế giới thứ hai có sự thay đổi Trên thế giới dần hình thành hai trận tuyến: một bên là các nước phát xít Đức, Italia, Nhật Bản, một bên là các lực lượng hòa bình dân chủ đứng đầu là Liên Xô Cuối năm 1941, quân Đức mở 2 cuộc

Trang 6

tấn công mãnh liệt vào Moscow hòng kết thúc chiến tranh nhưng đã bị thất bại Chiến lược “Chiến tranh chớp nhoáng” của Đức bị phá sản hoàn toàn

Trận Trân Châu cảng (7/12/1941) mở đầu cuộc chiến tranh Thái Bình Dương giữa Nhật Bản với Mĩ – Anh Hạm đội Nhật đã bất ngờ tấn công hạm đội Thái Bình Dương của Mĩ tại Trân Châu cảng Mĩ buộc phải tham gia chiến tranh thế giới

Sau thất bại ở Moscow, mùa hè năm 1942, quân Đức chuyển mũi nhọn tiến công xuống phía nam nhằm chiếm vùng lương thực và dầu mỏ quan trọng nhất của Liên Xô ở đây, đồng thời cắt đứt nguồn tiếp tế chủ yếu của Hồng quân Muốn làm chủ được vùng này, quân Đức phải chiếm được thành phố Xtalingrat Cuộc chiến đấu bảo vệ Xtalingrat diễn ra vô cùng ác liệt suốt hơn 2 tháng Thắng lợi của Hồng quân Liên Xô trong trận chiến đã tạo nên bước ngoặt xoay chuyển tình thế của cuộc chiến tranh thế giới: ưu thế chuyển từ phe Trục sang phe Đồng minh Từ đây, quân Đồng minh chuyển sang tấn công trên khắp các mặt trận

Từ cuối năm 1944, chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc Ở châu Âu, liên quân Anh – Mĩ đổ bộ lên bờ biển Normandie (Bắc Pháp) mở mặt trận thứ hai, tấn công quân Đức ở phía Tây Từ đây phát xít Đức lâm vào tình thế nguy ngập, buộc phải chiến đấu cùng một lúc trên cả hai mặt trận Ở mặt trận châu Á – Thái Bình Dương, liên quân Đồng minh liên tiếp mở các cuộc tấn công vào các vị trí then chốt của Nhật Bản Anh vào Miến Điện, Mĩ chiếm Philippin, ném bom cắt đứt con đường biển xuống các thuộc địa Đông Nam Á

Đến tháng 5/1945, trận tấn công Berlin của Hồng quân Liên Xô đã đập tan mọi sự kháng cự của phát xít Đức Ngày 2/5/1945, Berlin treo cờ trắng đầu hàng Ngày 9/5/1945, nước Đức kí hiệp định đầu hàng không điều kiện, chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc ở châu Âu Ở châu Á – Thái Bình Dương, trong hai ngày 6 và 9/8/1945, Mĩ đã ném hai qua bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản và tổ chức cuộc tấn công đạo quân Quan Đông ở Mãn Châu Trước những thất bại nặng nề, ngày 15/8/1945, Nhật Bản chính thức đầu hàng Đồng minh không điều kiện Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc

2 Mối liên hệ giữa lịch sử thế giới với lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1945

2.1 Tác động của cuộc cách mạng tháng Mười Nga (1917) và sự ra đời của nước Nga Xô Việt đến việc lựa chọn con đường giải phóng của dân tộc Việt Nam.

Trang 7

- Đất nước bị xâm lược, giải phóng dân tộc là yêu cầu cấp thiết.

Năm 1884, triều đình Nguyễn kí với thực dân Pháp bản Hiệp ước Patenotre Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Các mâu thuẫn trong xã hội phát triển gay gắt, trong đó chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp

và tay sai Nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt ra vô cùng cấp thiết

- Cuộc khủng hoảng về đường lối -> yêu cầu tìm kiếm một con đường cứu nước mới

Để giải quyết bài toán độc lập tự do, nhân dân Việt Nam đã đứng lên đấu tranh kiên cường, bất khuất với tinh thần “người trước ngã xuống, người sau đứng dậy” Tuy nhiên tất cả các phong trào đấu tranh này đều bị thất bại Phong trào Cần Vương cuối thế kỉ XIX bị đàn áp đã chứng tỏ ngọn cờ phong kiến không còn đủ sức giúp nhân dân Việt Nam thoát khỏi kiếp nô lệ Độc lập dân tộc không gắn liền với chế độ phong kiến Đầu thế kỉ XX, các sĩ phu tiến bộ đã phát động một phong trào cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản nhưng hướng dân chủ tư sản nhưng cũng không thành công Thực tế này chứng tỏ Việt Nam đang lâm vào cuộc khủng hoảng về đường lối, “mò mẫm trong đêm tối như không có đường ra” Yêu cầu lịch sử đặt ra là phải tìm kiếm một con đường cứu nước mới phù hợp để đủ sức giúp nhân dân Việt Nam giải phóng dân tộc

- Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga (1917) đã mở ra một hướng đi mới cho dân tộc Việt Nam, có tác động đến nhiều nhà yêu nước Việt Nam trong đó có Nguyễn Ái Quốc

Giữa lúc đó, Cách mạng tháng Mười Nga (1917) nổ ra và giành thắng lợi đã mở ra một hướng

đi mới cho dân tộc Việt Nam Vì Cách mạng tháng Mười không chỉ là cuộc cách mạng vô sản khi giải phóng được giai cấp vô sản và nhân dân lao động ở Nga, mà còn giải là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc khi giải phóng các dân tộc thuộc địa trong đế quốc Nga khỏi ách thống trị của Nga hoàng, mang lại cho họ quyền tự quyết có thể liên hiệp với nước Nga Xô viết hoặc phân lập để thành lập quốc gia độc lập

- Tác động của Luận cương của Lênin, Quốc tế cộng sản đến việc giải quyết cuộc khủng hoảng ở Việt Nam

+ 1920

Cách mạng tháng Mười Nga (1917) đã có tác động đến nhiều nhà cách mạng yêu nước Việt Nam trong đó có Nguyễn Ái Quốc Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đã đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất

Trang 8

những luận cượng của Lênin về vấn đề dân tôc và thuộc địa Luận cương của Lênin đã đã chỉ ra con đường đấu tranh cho các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc, sự phối hợp hành động giữa phong trào công nhân quốc tế và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Lenin đã phát triển khẩu hiệu của Mác “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại” thành khẩu hiệu “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” Bản Luận cương đã giúp Nguyễn Ái Quốc khẳng định “muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản” Sự kiện này đã đánh dấu bước

mở đường cho việc giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối ở Việt Nam đầu thế kỉ XX

+ 1930

Sau khi đến được với chủ nghĩa Mác – Lênin, xác định một con đường cứu nước mới cho dân tộc Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực học tập, nghiên cứu để hình thành lý luận giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản và truyền bá lý luận đó về Việt Nam Những quan điểm đó của Nguyễn Ái Quốc được thể hiện trong các bài viết ở báo Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân…các tác phẩm như Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Người cùng khổ (1927); các bài tham luận ở Hội nghị quốc tế nông dân (1923), Đại hội V của Quốc tế cộng sản (1924)…với nội dung căn bản như sau:

Bản chất của chủ nghĩa thực dân là “ăn cướp”, và “giết người” Vì vậy chủ nghĩa thực dân là

kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới

Cách mạng giải phóng dân tộc ở trong thời đại mới phải đi theo con đường cách mạng vô sản

và là một bộ phân của cách mạng vô sản thế giưới Giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng nhân dân lao động, giải phóng giai cấp công nhân

Cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc có mối quan hệ khăng khít với nhau, nhưng không phụ thuộc vào nhau Cách mạng giải phóng dân tộc có thể bùng

nổ và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản chính quốc

Cách mạng thuộc địa trước hết là một cuộc “dân tộc cách mệnh”, đánh đuổi bọn ngoại xâm, giành độc lập, tự do

Ở một nước nông nghiệp lạc hậu, nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội, bị đế quốc, phong kiến bóc lột nặng nề Vì vậy, cách mạng giải phóng dân tộc muốn giành được thắng lợi cần phải thu phục, lôi cuốn được nông dân đi theo, cần xây dựng khối công nông liên minh làm động

Trang 9

lực cho cách mạng Đồng thời, cần phải thu hút, tập hợp rộng rãi các giai tầng xã hội khác vào trận tuyến đấu tranh chung của dân tộc

Cách mạng muốn thành công trước hết cần phải có Đảng lãnh đạo Đảng phải theo chủ nghĩa Mác – Lênin và phải có một đội ngũ cán bộ sẵn sàng hi sinh, chiến đấu vì lý tưởng của Đảng, vì lợi ích và sự tồn vong của dân tộc, vì lý tưởng giải phóng giai cấp công nhân và nhân loại

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân chứ không phải việc của một người Vì vậy, cần phải tập hợp, giác ngộ và từng bước tổ chức quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao [1; 41-42]

Những quan điểm trên đã trở thành ánh sáng soi đường cho những lớp thanh niên yêu nước Việt Nam đang đi tìm chân lý, ngọn cờ hướng đạo cho phong trào giải phóng dân tộc trước khi Đảng

ra đời và là sự chuẩn bị về tư tưởng chính trị cho sự thành lập của Đảng cộng sản việt Nam đầu năm

1930

Đến năm 1929, những điều kiện thành lập một đảng cộng sản ở Việt Nam đã chín muồi Chủ nghĩa Mác – Lênin đã được truyền bá và có ảnh hưởng sâu rộng trong các phong trào đấu tranh Phong trào công nhân đang chuyển dần từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác Phong trào yêu nước cũng ngả dần từ quỹ đạo tư sản sang quỹ đạo vô sản Trong bối cảnh đó, ở Việt Nam đã lần lượt xuất hiện ba tổ chức cộng sản là Đông Dương cộng sản Đảng (6/1929), An Nam cộng sản đảng (8/1929) và Đông Dương cộng sản liên đoàn (9/1929) Ba tổ chức cộng sản ra đời đã đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của phong trào cách mạng Việt Nam Tuy nhiên các tổ chức này lại hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng của nhau, thậm chí công kích lẫn nhau, tạo ra nguy cơ chia rẽ lớn Yêu cầu lịch sử đặt ra là phải thống nhất các tổ chức cộng sản lại thành một chính đảng duy nhất để tiếp tục chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam

Trước yêu cầu lịch sử đó, với tư cách là phái viên của Quốc tế cộng sản có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến cách mạng Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động từ Xiêm về Trung Quốc để triệu tập các đại biểu của Đông Dương cộng sản đảng và An Nam cộng sản đảng đến Cửu Long (Hương Cảng – Trung Quốc) để bàn về việc thống nhất đảng Hội nghị bắt đầu họp từ ngày 6/1/1930 Ngày 7/2/1930, các đại biểu dự Hội nghị về nước

Tại đây, Nguyễn Ái Quốc đã phê phán những quan điểm sai lầm của các tổ chức cộng sản riêng rẽ và nêu chương trình Hội nghị Các đại biểu đã thảo luận và nhất trí thống nhất các tổ chức

Trang 10

cộng sản thành một đảng duy nhất lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam, thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt…Tác phẩm được đánh giá là một cương lĩnh cách mạng giải phóng dân tộc sáng tạo, kết hợp đúng đắn vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp Độc lập tư do là tư tưởng cốt lõi của cương lĩnh

Rõ ràng, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp quyết liệt của nhân dân Việt Nam, là sự sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử trên con đường đấu tranh trong 3 thập niên đầu thế kỉ XX Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam Nó chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối ở Việt Nam, chứng tỏ giai cấp vô sản

đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng, đưa cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới Đây là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên có tính quyết định cho những bước phát triển nhảy vọt mới trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam

2.2 Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 đến phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam.

Dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 và chính sách trút gánh nặng của thực dân Pháp, từ năm 1930, kinh tế Việt Nam bước vào thời kì suy thoái, bắt đầu từ nông nghiệp Giá lúa gạo sụt giảm nghiêm trọng Năm 1929, giá 1 tạ gạo là hơn 11 đồng, nhưng dến năm

1933, mức giá chỉ còn hơn 3 đồng Ruộng đất bị bỏ hoang ngày càng nhiều Năm 1933, diện tích đất canh tác bị bỏ hoang lên tới 370.000ha Sản xuất công nghiệp đình đốn Hàng hóa khan hiếm, giá cả đắt đỏ

Hậu quả lớn nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế là làm trầm trọng thêm tình trạng đói khỏ của các tầng lớp nhân dân lao động Một phần ba số công nhân bị thất nghiệp Riêng Bắc Kì có 25.000 công nhân bị sa thải Những công nhân có việc làm lương bị giảm từ 30 – 50% Nông dân phải chịu sưu cao, thuế nặng và nạn cho vay nặng lãi Một suất sưu năm 1929 bằng giá 50kg gạo, đến năm

1932 đã tăng lên 100kg và năm 1933 là 300kg [3; 298] Các tầng lớp nhân dân lao động khác cũng không tránh khỏi tác động xấu của khủng hoảng kinh tế Thợ thủ công bị phá sản, nhà buôn nhỏ phải đóng cửa hiệu, viên chức bị sa thải…Một số đông tư sản dân tộc gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh

Ngày đăng: 09/03/2020, 12:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w