Trước đây, các nhà sửhọc Việt Nam nghiên cứu lịch sử Việt Nam trên nguyên tắc biệt lập, ít liên hệvới khu vực và thế giới, không đặt trong bình diện phát triển của từng thời kỳlịch sử, t
Trang 1I Ý NGHĨA CỦA MỐI LIÊN HỆ GIỮA LỊCH SỬ THẾ GIỚI VÀ
LỊCH SỬ VIỆT NAM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG
PHỔ THÔNG
6
II MỐI LIÊN HỆ GIỮA LỊCH SỬ THẾ GIỚI VÀ LỊCH SỬ VIỆT
NAM TỪ NĂM 1919 ĐẾN NĂM 1945
7
1 Xác định nội dung kiến thức lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam
từ 1919 đến 1945 để nêu mối quan hệ của khóa trình ở trường phổ
2 Một số biện pháp tiến hành sử dụng kiến thức lịch sử để nêu mối
quan hệ giữa lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến
năm 1945
25
2.1 Hướng dẫn học sinh lựa chọn những kiến thức cơ bản lịch sử thế
giới có mối liên hệ với lịch sử Việt Nam.
25
2.2 Gợi mở thông tin để học sinh tái hiện sự kiện 25
2.3 Nêu vấn đề và xây dựng bài học nhận thức 26
2.4 Tổ chức và tiến hành các hoạt động ngoại khóa 26
III PHƯƠNG PHÁP ÔN TẬP CHO HỌC SINH GIỎI KHI
GIẢNG DẠY CHUYÊN ĐỀ MỐI LIÊN HỆ LỊCH SỬ THẾ GIỚI
VÀ LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1919 ĐẾN NĂM 1945
Trang 2phong trào cách mạng Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất?
Câu hỏi 2: Hoàn cảnh lịch sử, quá trình tìm đường cứu nước và đến với
chủ nghĩa Mác – Lênin của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
32
Câu hỏi 3: Đặc điểm bao trùm của phong trào yêu nước Việt Nam từ
1919 đến năm 1930 là gì? Phân tích những yếu tố quy định đặc điểm
đó.
35
Câu hỏi 4: Từ phân tích hoàn cảnh lịch sử, hãy rút ra ý nghĩa sự ra đời
của ba tổ chức cộng sản đầu tiên ở Việt Nam.
Câu hỏi 7: Tại sao Đảng ta chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và sách
lược trong thời gian 1936-1939? Kết quả, ý nghĩa?
38
Câu hỏi 8: Sự chuyển hướng đấu tranh của Đảng ta trong những năm
1939 – 1941 như thế nào? Ý nghĩa của việc chuyển hướng đó?
40
Câu hỏi 9: Trên cơ sở phân tích nguyên nhân bùng nổ Chiến tranh thế
giới thứ hai và sự lan rộng của chiến tranh trong giai đoạn 1939- 1941
đã ảnh hưởng đến cách mạng Việt Nam như thế nào?
42
Câu hỏi 10: Chủ trương chung của Đảng Cộng sản Đông Dương trong
giai đoạn 1939 – 1945 là gì? Trình bày và nhận xét việc hoàn chỉnh nội
dung chuyển hướng đấu tranh của Đảng tại Hội nghị Trung ương tháng
5 – 1941
44
Câu hỏi 11: Phân tích điều kiện bùng nổ của Tổng khởi nghĩa tháng
Tám năm 1945 Điều kiện nào đã quyết định thắng lợi của Cách mạng
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
1 Xuất phát từ quan điểm, đường lối đổi mới toàn diện giáo dục của Đảng vàtinh thần Hội thảo khoa học các trường THPT Chuyên khu vực Duyên hải Đồngbằng Bắc Bộ
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diệngiáo dục và đào tạo nêu rõ: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ về phương pháp dạy vàhọc theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sang tạo, vận dụng kĩnăng, kiến thức của người học; tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích
tự học, tạo cơ sở cho người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, pháttriển năng lực…
Hàng năm, các trường THPT Chuyên khu vực DHĐBBB đều tổ chức Hộithảo khoa học: hội thảo các chuyên đề; rút kinh nghiệm về đề thi, cấu trúc vàmức độ đánh giá học sinh; trao đổi kinh nghiệm công tác bồi dưỡng học sinhgiỏi và các tài liệu phục vụ bồi dưỡng học sinh giỏi Quốc gia, Quốc tế Cácchuyên đề tham gia hội thảo cần đảm bảo tính chính xác, khoa học, logic, hợp lí,chặt chẽ, mạch lạc, dung văn phong…phản ánh tính mới, tính sáng tạo: thể hiệnđối tượng, nội dung nghiên cứu mới; đánh giá đúng đối tượng, vấn đề; có giảipháp nghiên cứu mới, mang lại hiệu quả cao hơn trước; đảm bảo tính thực tiễncao…
2 Căn cứ vào tầm quan trọng của lịch sử thế giới đến Việt Nam giai đoạn 1919– 1945 trong lịch sử dân tộc, giúp học sinh có được sự nhìn nhận đúng đắn về vịtrí của Việt Nam trong tiến trình lịch sử thế giới, đồng thời giúp nâng cao khảnăng nghiên cứu và học tập lịch sử tại các cơ sở giáo dục Trước đây, các nhà sửhọc Việt Nam nghiên cứu lịch sử Việt Nam trên nguyên tắc biệt lập, ít liên hệvới khu vực và thế giới, không đặt trong bình diện phát triển của từng thời kỳlịch sử, thì nay, trước xu thế toàn cầu hóa, các nhà sử học cần phải nghiên cứuViệt Nam từ nhiều góc độ, trong những mối tương quan khác nhau; qua đókhẳng định bản thân lịch sử Việt Nam với tư cách một quốc gia dân tộc, luônluôn là một bộ phận của lịch sử thế giới, tồn tại và phát triển trong mối quan hệgiao lưu với các nước trong khu vực và thế giới
3 Xuất phát từ ảnh hưởng của chuyên đề đối với việc dạy học tại lớp xã hội cóhọc sinh dự thi môn Lịch sử
Trang 4Nội dung chuyên đề, nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơbản những nét chính của tình hình thế giới sau chiến tranh thế giới thứ nhất
có ảnh hưởng tới Việt Nam (các nước tư bản thắng trận họp tại Véc-xai phânchia lại thế giới; bước phát triển mới của phong trào cộng sản và công nhânquốc tế); Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp ở ĐôngDương, cùng với các chính sách về chính trị, văn hóa và giáo dục; điều kiện lịch
sử và các hoạt động tiêu biểu của phong trào yêu nước: Hoạt động của ngườiViệt Nam yêu nước ở nước ngoài (Trung Quốc và Pháp), những hoạt động của
tư sản và tiểu tư sản, phong trào đấu tranh của công nhân; sự ra đời của ĐảngCộng sản Việt Nam,…Đồng thời, vừa đảm bảo những tri thức về lịch sử, vừagợi mở những suy nghĩ về hiện tại và tương lai; vừa mang tính lí thuyết, vừa có
ý nghĩa thực tiễn đối với sự hội nhập quốc tế của đất nước Do đó, khi giảngdạy, bồi dưỡng và ôn tập học sinh cần phải tổng hợp kiến thức thành chuyên đề
cụ thể
Nhận thức được tầm quan trọng của việc tăng cường đổi mới căn bản,toàn diện giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong các trườngTHPT Đồng thời, với mong muốn đưa Hội thảo khoa học thực sự trở thành nơigiao lưu, trao đổi, trau dồi về chuyên môn, mang lại tính hiệu quả cao Vì vậy,
tại Hội thảo khoa học lần thứ XII, bộ môn Lịch sử tôi chọn chuyên đề: “Mối liên hệ giữa lịch sử thế giới với lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1945”.
II MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Kiến thức lịch sử thế giới có mối quan hệ chặt chẽ với nội dung khóa trìnhlịch sử Việt Nam, do đó là một nguồn tài liệu có ý nghĩa quan trọng đối với việcnghiên cứu và dạy học lịch sử ở trường phổ thông Vì vậy cần tìm hiểu các điểmchung về mối quan hệ kiến thức lịch sử thế giới để có thể vận dụng có hiệu quảtrong dạy học ở trường phổ thông Ở đây, tôi tập trung vào việc sử dụng kiếnthức lịch sử thế giới trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 đến 1945
Từ những mục đích trên, chuyên đề tập trung vào các nội dung sau:
- Phần I Ý nghĩa của mối liên hệ giữa lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông.
1 Ý nghĩa về nhận thức
2 Ý nghĩa về giáo dục
Trang 5- Phần II Mối liên hệ giữa lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam giai đoạn
1919 đến 1945.
1 Xác định nội dung kiến thức lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam từ 1919 đến
1945 để nêu mối quan hệ của khóa trình ở trường phổ thông
2 Một số biện pháp tiến hành sử dụng kiến thức lịch sử để nêu mối quan hệ giữalịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945
- Phần III Phương pháp ôn tập cho học sinh giỏi khi giảng dạy chuyên đề
về “Mối liên hệ giữa lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 đến
1945”.
Trang 6B PHẦN NỘI DUNG
I Ý NGHĨA CỦA MỐI LIÊN HỆ GIỮA LỊCH SỬ THẾ GIỚI VÀ LỊCH
SỬ VIỆT NAM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG.
1 Ý nghĩa về nhận thức.
Khi con người và xã hội loài người xuất hiện thì đã hình thành nên mốiquan hệ giữa những cộng đồng, bắt đầu từ mối quan hệ giữa những cộng đồngngười đầu tiên – bầy người nguyên thủy Cùng với sự phát triển hợp quy luậtcủa xã hội loài người, những mối quan hệ giữa các cộng đồng người cũng ngàycàng phát triển Từ thời cổ đại mối quan hệ, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nềnvăn minh ngày càng mở rộng và chặt chẽ Tuy nhiên, mối quan hệ lúc bấy giờcòn mang tính ngẫu nhiên; nó diễn ra không liên tục, chưa xuất phát tử nhu cầunội tại của các cộng đồng, các quốc gia; nó dễ bị phá vỡ vì những yếu tố,nguyên tố bên ngoài
Mối quan hệ giữa các dân tộc, quốc gia thực sự hình thành từ khi chủnghĩa tư bản phát hiện, tạo nên thị trường thế giới làm cho sự giao lưu giữa cácdân tộc từ ngầu nhiên, xảy ra từng lúc trở thành tất yếu và thường xuyên
Từ giữa thế kỉ XX, thế giới đã dần dần diễn ra xu thế liên kết các quốc giavào một hệ thống với nhiều hình thức: trao đổi, giao thông, văn hóa Các quan
hệ quốc tế kéo con người trên các châu lục xích lại gần nhau
Những vấn đề về mối quan hệ giữa các cộng đồng dân tộc, quốc gia trênthế giới phải được nhận thức đúng, vì sự nhận thức này sẽ chi phối dần hoạtđộng thực tiễn của nhân dân các nước Bởi vì, như V.I.Lênin đã khẳng định, chỉdựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm của thời đại, trong đó có mối liên hệgiữa các cộng đồng, quốc gia, chúng ta mới có thể tính đến những đặc điểm chitiết của nước này hay nước nọ để hoạt động có kết quả
Mối quan hệ giữa lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới ngày càng phát triển
và có tác động qua lại với nhau; vì vậy, trong dạy học lịch sử chúng ta cũng cầnnhận rõ vấn đề này Trên thực tế, lịch sử dân tộc không tách rời khỏi lịch sử thếgiới, phong trào cách mạng Việt Nam gắn liền với phong trào cách mạng thếgiới Mối quan hệ này tác động hai chiều, ngày càng bền chặt hơn
Nhận thức đúng mối quan liên hệ giữa lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc,
sự tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau giúp chúng ta tránh được những quanđiểm sai lầm trong nghiên cứu và dạy học lịch sử: hoặc đề cao lịch sử dân tộc,
Trang 7xem nhẹ lịch sử thế giới, hoặc đề cao lịch sử thế giới xem nhẹ lịch sử dân tộc,làm nẩy sinh chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hẹp hòi, xuyên tạc, bóp méo nhiều sựthật lịch sử.
2 Ý nghĩa về giáo dục.
Đảm bảo tính toàn diện là một trong những nguyên tắc quan trọng củaviệc dạy học lịch sử ở trường phổ thông Nguyên tắc đó được thể hiện trong tất
cả các khâu của quá trình dạy học, từ xác định mục tiêu, nhiệm vụ đến nội dung
và phương pháp dạy học Một yêu cầu đầu tiên của việc thực hiện nguyên tắcnày là làm cho học sinh nhận thức lịch sử trên các lĩnh vực của đời sống xã hộitrong mối liên hệ giữa lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới ngày càng chặt chẽ
Nhận thức sự phát triển thống nhất của lịch sử thế giới và mối liên hệ giữacác quốc gia dân tộc, các nhà giáo dục lịch sử Việt Nam đã xây dựng chươngtrình lịch sử ở trường phổ thông trung học một cách khoa học Lịch sử thế giới
và lịch sử Việt Nam là hai khóa trình độc lập, nhưng có mối quan hệ chặt chẽvới nhau Tuy khóa trình lịch sử dân tộc có vị trí quan trọng, nhưng không chỉcung cấp cho học sinh những hiểu biết về lịch sử dân tộc mà còn giúp cho các
em những hiểu biết cần thiết về quá trình phát triển hợp quy luật của xã hội loàingười, qua đó sẽ hiểu biết sâu sắc hơn lịch sử dân tộc
Trong quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông, nếu giáo viên khaithác sử dụng kiến thức lịch sử thế giới trong dạy học lịch sử Việt Nam và ngượclại sẽ có tác dụng nhiều mặt, không chỉ giúp học sinh hiểu đúng, hiểu toàn diện
sự phát triển của lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc mà còn có tác dụng giáo dục
về tư tưởng, đạo đức, thế giới quan, cách nhìn nhận đánh giá những biến đổi củalịch sử Điều này góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng bộ môn – mộtđiều cấp thiết của giáo dục hiện nay ở nhà trường phổ thông
II MỐI LIÊN HỆ GIỮA LỊCH SỬ THẾ GIỚI VÀ LỊCH SỬ VIỆT NAM
sự kiện quan trọng trong chương trình lịch sử dân tộc
Giai đoạn từ năm 1919 đến năm 1945 là phần mở đầu của thời kì lịch sửViệt Nam hiện đại, với những nội dung hết sức cơ bản, có liên quan một cách
Trang 8sâu sắc tới những nội dung của giai đoạn tiếp theo Đây là giai đoạn lịch sử diễn
ra cuộc đấu tranh và thống nhất của các khuynh hướng cách mạng, để dẫn đến
sự ra đời của một chính Đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam: Đảng cộng sảnViệt Nam (2 – 1930); các cao trào cách mạng chuẩn bị cho thắng lợi của cáchmạng tháng Tám 1945 dẫn đến sự ra đời của của nước Việt Nam Dân chủ Cộnghòa (2 – 9 – 1945)
1.1 Giai đoạn 1919 – 1930
1.1.1 Hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918), chương trình khai thác thuộc địa lần thứ 2 của Thực dân Pháp ở Việt Nam.
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918), đế quốc Pháp rút ra khỏi
cuộc chiến tranh với “tư thế oai hùng” của một kẻ thắng trận, song nền kinh tế
Pháp bị thiệt hại nặng nề: Sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, hoạt độngthương nghiệp và giao thông vận tải giảm sút nghiêm trọng Số nợ của Pháp,chủ yếu là nợ Mĩ, cuối năm 1918 là 170 tỷ Phơrăng, đầu năm 1920 đã là khoảng
300 tỷ Phơrăng Để bù đắp thiệt hại to lớn do chiến tranh gây ra, tư bản Pháp ráo
riết đẩy mạnh khai thác ở các thuộc địa “Chương trình khai thác thứ hai” được
thi hành ở Đông Dương – trong đó chủ yếu là Việt Nam
Trong khi đó, Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga 1917 bùng nổ
và thắng lợi, toàn bộ số vốn Pháp đầu tư vào nước Nga giờ đây bị mất trắng (14
tỷ Phơrăng) Việc chính phủ Clêmăngxô tham gia cuộc can thiệp vũ trang của 14nước đế quốc vào nước Nga cách mạng và trợ cấp tài chính cho bọn Bạch vệ lạingốn thêm ngân quỹ Pháp hàng tỷ Phơrăng Phần lớn số vàng trong ngân quỹPari đều không cánh mà bay sang ngân hàng Niu Óoc hoặc Luân Đôn ĐồngPhơrăng bị mất giá nghiêm trọng Cuộc khủng hoảng thiếu nổ ra tại hầu hết cácnước tư bản trong những năm 1921 – 1923 lại gây thêm khó khăn cho nền kinh
tế Pháp
Những kiến thức lịch sử thế giới nêu trên sẽ giúp học sinh hiểu rõ nguyênnhân thực dân Pháp đẩy mạnh đầu tư khai thác thuộc địa trong đó Đông Dương
được chúng xem là thuộc địa “quan trọng nhất, phát triển nhất và giàu có nhất”
trong tất cả các thuộc địa của Pháp trên thế giới
Đợt khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp chính thức đượctriển khai từ sau đại chiến thế giới thứ nhất và kéo dài cho đến trước cuộc khủnghoảng kinh tế thế giới ( 1929- 1933) tức là khoảng 10 năm nhằm bòn rút thuộc
Trang 9địa, làm giàu cho chính quốc, không cho thuộc địa có cơ hội cạnh tranh vớichính quốc.
Cơ cấu vốn đầu tư nếu trước chiến tranh thế giới thứ nhất chủ yếu là vốnđầu tư của tư bản nhà nước thì trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai chủyếu là vốn đầu tư của tư bản tư nhân
Cuộc khai thác diễn ra với cường độ mạnh Riêng 6 năm 1924- 1929, tổng
số vốn đầu tư của Pháp vào Đông Dương tăng 6 lần so với 20 năm trước chiếntranh:
Về nông nghiệp: Thực dân Pháp tăng cường đầu tư vốn vào nông nghiệp,
mà trọng tâm là cao su Diện tích trồng cao su tăng từ 15 ngàn héc ta năm 1918lên 120 ngàn ha năm 1930 Nhiều công ti cao su lớn ra đời: Công ty Đất đỏ,công ti Mi sơ lanh, công ti Cây nhiệt đới…( 1924: Vốn bỏ vào nông nghiệp 52triệu Prăng; 1927 vốn bỏ vào nông nghiệp: 400 triệu Prăng)
Về khai thác mỏ: Thực dân Pháp tăng cường khai thác mỏ, chủ yếu là mỏthan, nhiều công ti than mới nối tiếp nhau ra đời: Công ti than Hạ Long- ĐồngĐăng, công ti than và kim khí Đông Dương, Công ti than Tuyên quang, Công tithan Đông Triều…
Về công nghiệp: Chỉ đầu tư vào công nghiệp nhẹ, không đầu tư vào côngnghiệp nặng để nền kinh tế phát triển không cân đối, phụ thuộc vào chính quốc
Thương nghiệp: Đánh thuế nặng vào hàng các nước nhập vào Việt Namtrước đây: Trung Quốc, Nhật bản…; hàng hoá Pháp nhập vào Việt Nam tăng
Ngân hàng Đông Dương nắm mọi huyết mạch kinh tế, độc quyền pháthành đồng bạc
Tăng cường bóc lột bằng thuế má( thuế ruộng đất, thuế thân, thuế rượu,thuế muối, thuế thuốc phiện và trăm thứ thuế khác) Tính đổ đồng đầu người:Mỗi người dân Việt Nam đóng 8 đồng tiền thuế - tương đương 70 kg gạo trắnghạng nhất lúc bấy giờ Ngoài ra Pháp còn bắt nhân dân ta mua công trái, quốctrái lấy tiền xây dựng các công trình công cộng, phục vụ nhu cầu quân sự Riêngcông trái phát hành trong những năm khủng hoảng kinh tế đã thu về cho chínhquyền thực dân 150 triệu đồng
Chương trình khai thác lần thứ hai ở Việt Nam của Thực dân Pháp, tấncông qui mô lớn và toàn diện vào nước ta biến nước ta thành thị trường tiêu thụhàng hoá ế thừa và thị trường đầu tư tư bản có lợi cho chúng Kinh tế Việt Namchuyển biến: có nhiều ngành, nhiều lĩnh vực đó là nền kinh tế mất cân đối, què
Trang 10quặt, phát triển không đồng đều giữa kinh tế nông nghiệp, công nghiệp và giữacác vùng miền của đất nước Với chương trình khai thác lần này, kinh tế xã hội
và văn hoá giáo dục biến đổi sâu sắc
Điểm mới trong chương trình khai thác lần thứ 2 so với trước là tăngcường đầu tư vốn, kỹ thuật vào mở rộng sản xuất để kiếm lời Tuy nhiên, về cơbản chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp không thay đổi so vớitrước kia: vẫn hạn chế công nghiệp phát triển, đặc biệt là công nghiệp nặng; tăngcường thủ đoạn bóc lột vơ vét tiền của của nhân dân ta bằng cách đánh thuếnặng như: Thuế ruộng đất, thuế thân, thuế rượu, thuế thuốc phiện và hàng trămthứ thuế khác
Dưới tác động cuộc khai thác và do chính sách thống trị của Pháp, cơ cấu
xã hội Việt Nam có chuyển biến, các giai cấp cũ vẫn tồn tại nhưng có biến động,phân hoá Một số giai cấp mới hình thành Với quyền lợi kinh tế, địa vị chính trịkhác nhau nên các giai cấp tầng lớp có thái độ và khả năng cách mạng khácnhau, cụ thể:
Giai cấp phong kiến: tiếp tục bị phân hóa thành ba bộ phận: Đại địa chủ;trung địa chủ và tiểu địa chủ; Đại địa chủ chiếm bộ phận nhỏ, tăng cường chiếmđoạt ruộng của nông dân, bóc lột nông tay, làm tay sai cho Pháp, chống lại dântộc; bộ phận địa chủ vừa nhỏ có tinh thần yêu nước, tham gia chống Pháp và taysai khi có điều kiện
Giai cấp nông dân: Bị tước đoạt ruộng đất, bị bần cùng hóa, chiếm sốđông trong xã hội, có mâu thuẫn gay gắt với đế quốc, phong kiến, sẵn sàng đấutranh Nhưng vì không đại diện cho một phương thức sản xuất mới, khong có hệ
tư tưởng riêng nên không thể lãnh đạo, tổ chức tự giải phóng mình được Họ chỉ
có thể phát huy khả năng và sức mạnh khi có một lực lượng tiên tiến lãnh đạo vàtrở thành lực lượng chính của cách mạng
Giai cấp tư sản ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần hai trong hoàn cảnhcủa xã hội thuộc địa nửa phong kiến, thế lực kinh tế nhỏ bé, lại bị tư sản nướcngoài chèn ép nên phát triển chậm chạp yếu ớt cho nên dần dần phân hóa thành
2 bộ phận gồm tư sản mại bản là những chủ tư sản lớn, mở xí nghiệp, kinhdoanh lớn, dựa vào Pháp để kinh doanh, làm tay sai cho Pháp và tư sản dân tộc
là tư sản vừa và nhỏ, có xu hướng phát triển kinh tế dân tộc, có mâu thuẫn vớithực dân phong kiến nên ít nhiều có tinh thần dân tộc dân chủ nhưng dễ thỏahiệp
Trang 11Giai cấp tiểu tư sản ra đời bao gồm trí thức, công chức, học sinh sinhviên, tiểu thương…bị đế quốc bóc lột kinh rẻ, cuộc sống bấp bênh, có ý thức dântộc dân chủ, đặc biệt bộ phận trí thức học sinh, sinh viên rất nhạy cảm về thờicuộc, tha thiết canh tân đất nước nên hăng hái trong cuộc đấu tranh
Giai cấp công nhân tăng nhanh về số lượng (5 vạn tăng lên 22 vạn), ngoàiđặc điểm chung của công nhân thế giới (sinh sống tập trung, có tinh thần cáchmạng triệt để, đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến ) còn có đặc điểmriêng Vì vậy trở thành lực lượng chính cách mạng, là giai cấp lãnh đạo cáchmạng
Sự phân hóa giai cấp làm cho xã hội Việt Nam có đầy đủ những giai cấpcủa một xã hội hiện đại Những giai cấp mới là cơ sở cho việc du nhập nhữngánh sáng tư tưởng mới vào Việt Nam Những giai cấp mới cùng với hệ tư tưởngmới là điều kiện hình thành nên những khuynh hướng mới trong phong trào yêunước, làm cho phong trào yêu nước Việt Nam mang những màu sắc mới mànhững phong trào yêu nước trước kia không có được
1.1.2 Ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga đến phong trào yêu nước Việt Nam
Trong lúc xã hội Việt Nam đang có sự chuyển biến sâu sắc do tác động
của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất thì Cách mạng tháng Mười Nga 1917bùng nổ và thắng lợi Ảnh hưởng lớn đến Việt Nam ở những góc độ khác nhau.Trước hết cần khẳng định rằng cách mạng tháng Mười Nga chưa ảnh hưởngngay đến Việt Nam mà từ những năm 20 của thế kỉ XX mới có tác động và ngàycàng thêm rõ rệt Lúc đầu chỉ mới là việc bày tỏ cảm tình chưa phải là một sựhiểu biết cụ thể về đất nước và con người nước Nga xa xôi
Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi, xóa bỏ ách thống trị của phongkiến và tư sản Nga, thành lập Chính quyền Xô viết, đưa nhân dân lao động lênlàm chủ đất nước Cách mạng tháng Mười không chỉ là cuộc cách mạng vô sản
mà còn là cách mạng giải phóng dân tộc Thắng lợi đó đã mở ra con đường giảiphóng cho giai cấp công nhân và các dân tộc thuộc địa Cách mạng tháng MườiNga làm cho phong trào cách mạng ở phương Tây và phong trào giải phóng dântộc ở phương Đông, các thuộc địa của Pháp (trong đó có Việt Nam) có mối quan
hệ mật thiết với nhau vì cùng chống một kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc
Trang 121.1.3 Sự thành lập Quốc tế Cộng sản và sự phát triển mạnh của phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á.
Do sự phát triển của phong trào cách mạng ở các nước tư bản, nhiều tổchức cộng sản lần lượt thành lập ở các nước châu Âu Trước yêu cầu mới của sựnghiệp cách mạng, tháng 3 năm 1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế thứ ba) đượcthành lập ở Mátxcơva Tiếp đó, Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộng sản TrungQuốc được thành lập Tất cả những sự kiện đó tạo điều kiện thuận lợi cho việctruyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam
Tại Đại hội II (1920), Quốc tế Cộng sản thông qua một loạt cương lĩnh vàvăn kiện quan trọng nhằm xác định đường lối chiến lược và sách lược của phong
trào cách mạng thế giới, trong đó đặc biệt là bản Luận cương về vấn đề dân tộc
và vấn đề thuộc địa của Lênin Bản luận cương này đã được Nguyễn Ái Quốc
đọc và Người đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc ta là cáchmạng vô sản
Tháng 12 – 1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia Đại hội 18 của Đảng Xã hộiPháp ở Tua, Người đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ ba, tham gia sáng lậpĐảng Cộng sản Pháp và trở thành nguời cộng sản Việt Nam đầu tiên Sự kiệnnày đánh dấu bước ngoặt trong tư tưởng chính trị của Nguyễn Ái Quốc, từ lậptrường yêu nước sang lập trường cộng sản Nó mở ra cho cách mạng giải phóngdân tộc Việt Nam một giai đoạn đoạn mới – giai đoạn gắn phong trào cách mạngViệt Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo conđường cách mạng tháng Mười Nga
Đảng Cộng sản Trung Quốc (7-1920) được thành lập đã tạo điều kiện choviệc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào cách mạng nước ta
Như vậy, các sự kiện trên đã tạo điều kiện thuận lợi cơ bản để truyền básâu rộng chủ nghĩa Mác – Lênin vào nước ta sau Chiến tranh thế giới thứ nhất
Từ đó hình thành mộ khuynh hướng cách mạng mới ở Việt Nam – khuynhhướng cách mạng vô sản
1.1.4 Tiếp thu và vận dụng sáng tạo tư tưởng cách mạng vô sản vào thực tiễn cách mạng nước ta và hoàn chỉnh đường lối giải phóng dân tộc.
Sau khi tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn, Nguyến Ái Quốc đã nhậnthức được vai trò của Đảng Cộng sản, từ đó người tích cực chuẩn bị về tư tưởngchính trị và tổ chức tiến tới thành lập Đảng Cộng sản ở nước ta
Trang 13Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác –Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của nước Việt Nam thuộc địa, xây dựng nên
lý luận cách mạng giải phóng dân tộc, diễn đạt thành tiếng nói của dân tộc ViệtNam Những tư tưởng cách mạng của Người được thể hiện qua nhiều tờ báo vàcác bài tham luận tại Quốc tế Cộng sản Những tư tưởng đó là ánh sáng soiđường cho lớp thanh niên yêu nước Việt Nam đầu thế kỉ XX đi tìm chân lí cứunước, là ngọn cờ hướng đạo phong trào cách mạng Việt Nam trong thời kì vậnđộng thành lập Đảng
Cuối năm 1929, nước ta xuất hiện ba tổ chức cộng sản Tuy nhiên các tổchức đó hoạt động riêng rẽ, thậm chí còn công kích lẫn nhau, tranh giành đảngviên quần chúng của nhau, điều đó đã làm trở ngại cho sự phát triển của phongtrào cách mạng ở nước ta Yêu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam là phải cómột Đảng Cộng sản thống nhất trong cả nước Trước tình thế đó, Quốc tế Cộngsản đã giao cho Nguyễn Ái Quốc chịu trách nhiệm thống nhất các lực lượngcộng sản ở Việt Nam để thành lập một tổ chức cộng sản duy nhất
Hội nghị thành lập Đảng (3-2-1930) đã thông qua “Chính cương vắn tắt”,
“Sách lược vắn tắt”, “Điều lệ vắn tắt”,… do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo.
Những văn kiện này được xem là cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Tư tưởng trong “Chính cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt” là tiếp nhận
có chọn lọc tư tưởng của V.I.Lênin và những người Bônsêvích Nga thể hiệntrong “Cương lĩnh tối thiểu” và “Cương lĩnh tối đa” tại Đại hội lần thứ XI củaĐảng công nhân xã hội dân chủ Nga (7-1903, tại Luân Đôn) Đại hội khẳng địnhnhiệm vụ chủ yếu của Đảng là cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đánh đổ chínhquyền của tư sản, thành lập chính quyền vô sản Đồng thời đề ra nhiệm vụ trướcmắt của là đánh đổ chế độ Nga hoàng thành lập nước Cộng hòa, thi hành nhữngchính sách dân chủ, giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân Tư tưởng cáchmạng không ngừng được thể hiện trong thực tiễn cách mạng Nga sau cuộc Cáchmạng tháng 2 – 1917, khi xuất hiện tình trạng hai chính quyền song song tồn tại
Trong “Luận cương tháng Tư” (4 – 1917) V.I.Lênin đã chỉ rõ: trong một quốc
gia không thể có hai chính quyền, hai nền chuyên chính song song tồn tại,những người Bônsêvích phải giải thích cho nhân dân và lãnh đạo họ thủ tiêu nềnchuyên chính của giai cấp tư sản, chuyển giao chính quyền vào tay Xô viết, đạibiểu của công nhân và binh lính Những kiến thức lịch sử thế giới trình bày trênquan điểm của tư tưởng của V.I.Lênin, tình hình nước Nga từ Cách mạng tháng
Trang 14Hai đến cách mạng tháng Mười năm 1917 giúp học sinh hiểu sâu sắc vì saoĐảng ta và Nguyễn Ái Quốc lại xác định cách mạng Việt Nam phải trải qua haigiai đoạn kế tiếp nhau
Luận cương chính trị tháng 10 – 1930, do Trần Phú – Tổng bí thư đầu tiêncủa Đảng soạn thảo nêu rõ: tính chất của cách mạng Đông Dương lúc này làcuộc cách mạng tư sản dân quyền; cách mạng tư sản dân quyền là thời kì dự bị
để làm xã hội cách mạng; sau khi cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ tiếptục phát triển, bỏ qua thời kì tư bản mà tiến thẳng lên con đường xã hội chủ
nghĩa Ta thấy cũng có điểm tương đồng với nội dung của “Luận cương về vấn
đề dân tộc và thuộc địa” do V.I.Lênin soạn thảo và thông qua tạo Đại hội lần II
của Quốc tế Cộng sản (1920) đã vạch rõ con đường tiến lên cuộc cách mạng ởcác nước thuộc địa là “Tiến hành những cải cách dân chủ - cách mạng, có tínhchất tư sản trong giai đoạn thứ nhất của cuộc cách mạng, sau đó tiến thắng lêngiai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa bỏ qua thời kì phát triển tư bản chủnghĩa”
Trong “Cương lĩnh của Quốc tế Cộng sản” được thông qua tại Đại hội
lần thứ VI (1928), vạch rõ tính tất yếu , đa dạng của những điều kiện và nhữngcon đường quá độ lên chuyên chính vô sản ở các nước, đã chỉ rõ: “Ở các nướcthuộc địa, nửa thuộc địa và phụ thuộc cần phải tiến hành cuộc cách mạng chống
đế quốc, chống phong kiến; chỉ có thể thiết lập chuyên chính vô sản Sau khihoàn thành cuộc cách mạng dân chủ tư sản và chuyển sang cách mạng xã hộichủ nghĩa; chỉ có thể xây dựng thắng lợi của chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạnphát triển tư bản chủ nghĩa với điều kiện cách mạng phải đặt dưới sự lãnh đạocủa đảng Mác xít – Lênin nít, được sự giúp đỡ trực tiếp của các nước chuyênchính vô sản khác và sự ủng hộ của phong trào cách mạng vô sản quốc tế”
Những nội dung lịch sử thế giới nêu trên giúp cho học sinh vừa củng cốnhớ lại kiến thức lịch sử thế giới vừa giúp học sinh hiểu rõ hơn nội dung củaLuận cương chính trị tháng 10-1930
1.2 Giai đoạn 1931 – 1935
1.2.1 Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933.
Tháng 10 – 1929, cuộc khủng hoảng kinh tế bùng nổ ở Mĩ, sau đó lan ratất cả các nước tư bản và kéo dài đến năm 1933, chấm dứt thời kì ổn định củachủ nghĩa tư bản trong những năm 20 Khủng hoảng diễn ra trên tất cả cácngành công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, tài chính và đưa đến giảm sút
Trang 15mạnh mậu dịch thế giới Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến khủng hoảng là do sảnxuất chủa chủ nghĩa tư bản tăng lên quá nhanh trong thời gian ổn định, nhữngnhu cầu và sức mua của quần chúng lại không có sự tăng lên tương ứng làm chohàng hóa ngày càng giảm sút, ế thừa và dẫn đến suy thoái trong sản xuất
Cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra hầu khắp các nước tư nhưng ở các nướckhác nhau, mức độ và thời gian diễn ra khủng hoảng cũng ít nhiều có sự khácnhau Tiếp sau sự suy thoái ở Mĩ là sự suy thoái hết sức nặng nề ở Mĩ (vì Đứcphụ thuộc nhiều vào Mĩ)
Ở Pháp, cuộc khủng hoảng kinh tế nổ ra muộn nhất so với các nước tưbản chủ yếu khác Mãi đến giữa năm 1930, cuộc khủng hoảng mới bắt đầu bằng
sự phá sản các ngân hàng Sau đó, khủng hoảng lan sang tất cả các ngành củanền kinh tế Trong thời gian khủng hoảng, sản lượng công nghiệp ở Pháp giảmsút 1/3, nông nghiệp giảm 2/5, ngoại thương giảm 3/5, thu nhập quốc dân giảm1/3, Cuộc khủng hoảng ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đến ngành công nghiệpnhẹ: 130 xí nghiệp dệt vải bị phá sản trong giai đoạn 1929 – 1935,
Ở Đông Dương, chính phủ Đông Dương đã áp dụng hàng loạt biện phápkinh tế - tài chính nhằm tăng cường bóc lột, cướp tài sản của nhân dân Việt Nam
để chống đỡ với tai họa của cuộc khủng hoảng Chẳng hạn, chúng dùng tiền vàngân sách Đông Dương trợ cấp cho các công ty tư bản Pháp có nguy cơ phá sản.Chúng đặt thêm nhiều thứ thuế mới, tăng mức thuế đã có và phát hành công trái
Dưới tác động của khủng hoảng, nền kinh tế Việt Nam trở nên tiêu điềuthảm hại Sự phân cực giàu nghèo càng sâu sắc hơn Hậu quả của khủng hoảng
là vô cùng khốc liệt với mọi tầng lớp nhân dân, trước hết là công nhân và nôngdân Cuộc khủng hoảng làm cho những mâu thuẫn vốn có trong xã hội càng trởnên sâu sắc hơn Đó chính là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm bùng
nổ cao trào cách mạng 1930 – 1931 trên quy mô toàn quốc Thêm vào đó, các vụbắt bớ, đàn áp của chính quyền thực dân diễn ra tàn bạo trên khắp cả nước, đặcbiệt sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc dân đảng Bầu không khíchính trị ở Việt Nam càng trở nên ngột ngạt Vào thời điểm đó, ngọn cờ giảiphóng dân tộc được giai cấp công nhân, đứng đầu là Đảng Cộng sản giương cao.Sau khi hợp nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành chính đảng thống nhất
về tổ chức và đúng đắn về cương lĩnh chính trị, đã nhanh chóng tập hợp lựclượng, phát động và lãnh đạo quần chúng đấu tranh
1.2.2 Tác động của phong trào cách mạng thế giới.
Trang 16Ở Liên Xô, với những thành tích to lớn của sự nghiệp công nghiệp hóa xãhội chủ nghĩa trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1928 - 1933), nông nghiệpLiên Xô đã đạt được trang bị kĩ thuật hiện đại bằng máy kéo và những máy mócnông nghiệp mới nhất Liên Xô từ một nước tiểu nông trở thành nước có nềnnông nghiệp tập thể, cơ giới hóa và sản xuất quy mô lớn trên thế giới Liên Xôtrở thành chỗ dựa vững chắc về vật chất và tinh thần cho phong trào cách mạngthế giới
Ở Trung Quốc, sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc được thành lập(1921), là thời kì đấu tranh quyết liệt tranh giành quyền lãnh đạo của Đảng Cộngsản Trung Quốc với Quốc Dân đảng (1927 - 1937) Nhiệm vụ của cách mạngdân tộc dân chủ Trung Quốc trong giai đoạn mới là đánh đổ chính quyền TưởngGiới Thạch, đại diện cho thế lực đế quốc và phong kiến Trung Quốc Ngay trongnăm 1927, những người cộng sản Trung Quốc tiếp tục tổ chức, lãnh đạo quầnchúng đấu tranh chống lại sự khủng bố của bọn phản động Quốc dân đảng Đầutháng 9-1927, nông dân ở các thành Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, Quảng Đông
đã tiến hành cuộc đấu tranh chống địa chủ phong kiến, không nộp tô cho chúngthậm chí ở một số nơi còn tịch thu ruộng đất của địa chủ (thường được gọi làkhởi nghĩa Thu Thu - vụ gặt mùa thu) Lực lượng vũ trang của địa chủ đã đàn áp
dã man cuộc đấu tranh của nông dân Ngày 11-12-1927, để chống lại cuộckhủng bố, tàn sát của bọn phản động Tưởng Giới Thạch, công nhân và binh línhthành phố Quảng Châu (tỉnh Quảng Đông) đã khởi nghĩa Nghĩa quân đã chiếmlĩnh thành phố, thành lập công xã Quảng Châu (một hình thức chính quyền côngnông) Công xã Quảng Châu chỉ tồn tại trong 3 ngày Quân đội Quốc dân đảng
đã tàn sát, khủng bố đẫm máu những người khởi nghĩa, giết hại khoảng 7,8nghìn người Tuy tồn tại trong 3 ngày, nhưng Quản Châu Công xã là tiếng vanglớn đối với phong trào cách mạng nước ta trong những năm 1930 – 1931
Như vậy, cùng với sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới, cáchmạng Việt Nam cũng chịu những tác động tích cực, thúc đẩy mạnh mẽ phongtrào giải phóng dân tộc trong nước
1.2.3 Ảnh hưởng của Quốc tế Cộng sản, phong trào cộng sản và công nhân thế giới.
Cao trào cách mạng 1930 – 1931 với đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh chỉtồn tại trong một thời gian ngắn, nhưng có ý nghĩa hết sức to lớn Cao trào cáchmạng cùng sự ra đời của chính quyền Xô viết là kết tinh sức mạnh to lớn của
Trang 17khối liên minh công – nông do giai cấp công nhân lãnh đạo Và cũng qua “cuộcchiến đấu xung thiên” của giai cấp công nhân và nông dân Việt Nam mà nhữngngười cộng sản và nhân dân lao động trên toàn thế giới biết đến dân tộc ta Quốc
tế Cộng sản đã khẳng định: “Phong trào cách mạng bồng bột trong cả xứ ĐôngDương đã góp phần tăng thêm ảnh hưởng của cộng sản trong các xứ thuộc địa,nhất là các nước phương Đông” Trong phiên họp ngày 11 – 4 – 1931, Hội nghịtoản thế lần thứ 11 Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản đã ra quyết định công nhậnĐảng Cộng sản Đông Dương là phân bộ độc lập trực thuộc Quốc tế Cộng sản
Từ cuối năm 1931, trước sự khủng bố ác liệt của thực dân Pháp, cáchmạng Việt Nam gặp khó khăn và tạm thời lắng xuống Hàng vạn người bị bắt,kết án và giam cầm Đồng thời thực dân Pháp phối hợp với những nước đế quốc
có thuộc địa trong vùng và các thế lực phản động quốc tế (Anh, Hà Lan, phảnđộng cầm quyền ở Trung Quốc…) trục xuất, bắt bớ các nhà cách mạng ViệtNam đang hoạt động ở các thuộc địa nước đó
Trong hoàn cảnh đó, việc khôi phục phong trào cách mạng là hết sức khókhăn Từ năm 1932 đến đầu năm 1935, phong trào cách mạng Việt Nam dần dầnđược phục hồi Kết quả đó là có sự nỗ lực từ hai phía: nỗ lực nội sinh của nhữngngười cộng sản Việt Nam và quần chúng cách mạng cũng như sự giúp đỡ to lớncủa Quốc tế Cộng sản, phong trào cộng sản và công nhân thế giới
Trước sự tổn thất nặng nề của Đảng Cộng sản Đông Dương, Quốc tếCộng sản đã có cả một kế hoạch để tổ chức lại Năm 1932 theo Chỉ thị của Quốc
tế Cộng sản, Lê Hồng Phong và một số đồng chí khác về Hương Cảng (TrungQuốc) lập Ban lãnh đạo Trung ương Đảng Tháng 6 – 1932, Cương lĩnh hànhđộng đã được soạn thảo và thông qua Nội dung đề cập tới nhiều vấn đề cấp thiếtnhư củng cố, phát triển các đoàn thể cách mạng, tăng cường xây dựng Đảng;lãnh đạo các cuộc đấu tranh đòi các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân laođộng, đòi ân xá chính trị phạm, bỏ các thứ thuế bất công Nhiều chiến sĩ cáchmạng đã tốt nghiệp trường Đại học Phương Đông Mátxcơva bí mật về nướcchắp nối và xây dựng lại phong trào cách mạng
Ngày 27-2-1932, Quốc tế Cộng sản gửi thư cho các Đảng Cộng sản Pháp,Trung Quốc và Ấn Độ yêu cầu các Đảng này phát động quần chúng nước mìnhđấu tranh chống cuộc khủng bố trắng của thực dân Pháp ở Đông Dương, ủng hộ
và cổ vũ phong trào cách mạng Đông Dương
Trang 18Từ cuối năm 1933, các tổ chức đảng dần dần được xây dựng lại Đầu năm
1934, với sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản, Ban lãnh đạo hải ngoại như là Banchấp hành Trung ương lâm thời, đứng đầu là đồng chí Lê Hồng Phong, đượcthành lập và hoạt động tích cực
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dươngtháng 3 năm 1935 đánh dấu sự khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng và phongtrào cách mạng Việt Nam
Với tính nhân đạo của Quốc tế Cộng sản giúp cho những người cộng sảnViệt Nam đứng vững và vượt qua khó khăn trong những năm khủng bố trắngcủa thực dân Pháp, tạo cơ sở cho sự phát triển của cách mạng Việt Nam giaiđoạn tiếp theo
1.3 Giai đoạn 1936 – 1939
1.3.1 Chủ nghĩa phát xít hình thành và nguy cơ chiến tranh thế giới mới
Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929 – 1933 đã để lại những hậu quả nặng
nề trên mọi mặt đời sống xã hội các tầng lớp nhân dân trên thế giới, đặc biệt ảnhhưởng đến hệ thống tư bản chủ nghĩa Giai cấp tư bản độc quyền ở nhiều nướcmuốn tìm lối thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng bằng cách thiết lập chế độ phát xít,chủ nghĩa phát xít đã nắm quyền ở một số nước, điển hình là Đức, Italia, NhậtBản Đây là chế độ độc tài tàn bạo nhất, Sô vanh nhất, đế quốc nhất của chủnghĩa tư bản tài phiệt Chúng tìm mọi cách đoại lại mọi quyền tự do dân chủ củanhân dân trong nước, ráo riết chuẩn bị cuộc chiến tranh mới để chia lại thịtrường thế giới và tấn công Liên Xô – thành trì của cách mạng thế giới nhằmthực hiện giấc mộng đẩy lùi phong trào cách mạng vô sản thế giới
Ở Pháp, nhiều tổ chức phát xít cũng xuất hiện và tăng cường hoạt động.Đáng chú ý là tổ chức “Thập tự lửa”, “Đảng Đoàn kết nước Pháp”, liên minh
“Những nhà tài chính”, “Đảng Hành động” và “Đội chữ thập chiến đấu” Trongnhững năm 1929 – 1933, các đảng cánh hữu liên tiếp cầm quyền đã âm mưu giảiquyết khủng hoảng bằng cách tập trung chính quyền và vì vậy nó đã dung túngcho chủ nghĩa phát xít hoành hành Đứng trước nguy cơ phát xít, Đảng Cộng sảnPháp đã kêu gọi nhân dân đứng dậy đấu tranh và được sự hưởng ứng rộng rãi
Tháng 7 – 1934, những người lãnh đạo Đảng Cộng sản và Đảng Xã hộiPháp đã kí kết hiệp nghị về thống nhất hành động chống nguy cơ của chủ nghĩaphát xít Việc thành lập Mặt trận thống nhất của phong trào công nhân có tổ
Trang 19chức có ý nghĩa quyết định đối với việc thành lập Mặt trận nhân dân rộng rãi đểđấu tranh thắng lợi chống chủ nghĩa phát xít ở Pháp
Năm 1936, Chính phủ Mặt trận nhân dân được thành lập do Lêông Bơlum(Leon Blum), người của Đảng Xã hội đứng đầu Chính phủ đã thực hiện một sốđiều khoản của cương lĩnh mặt trận: cải cách ngân hàng, xuất quỹ tín dụng đểgiải quyết những vấn đề xã hội, ổn định giá cả cho nông dân, tăng tiền lươngtrung bình của công nhân lên 15% và đảm bảo chế độ làm việc 40 tiếng mộttuần, quốc hữu hóa một bộ phận xông nghiệp chiến tranh, chuẩn y sắc lệnh cấmcác tổ chức phát xít hoạt động Đối với thuộc địa, Chính phủ Pháp có 3 quyếtđịnh quan trọng: Thả tù chính trị; Thành lập Uỷ ban điều tra tình hình thuộc địa,đặc biệt ở Bắc Phi và Đông Dương; thi hành một số cải cách xã hội cho ngườilao động
Ở Việt Nam, nhân dân lao động dựa vào những cơ sở pháp lý đó đấutranh với giới chủ tư bản và chính quyền thuộc địa nhằm từng bước cải thiệnđiều kiện lao động và sinh hoạt của mình Những tháng cuối năm 1936 đã có
361 cuộc bãi công, trong đó có một số cuộc bãi công có quy mô lớn và có tiếngvang trên cả nước như cuộc bãi công của hàng ngàn công nhân mỏ thiếc TĩnhTúc (Cao Bằng), đặc biệt là cuộc bãi công của hơn 30.000 công nhân mỏ thanHồng Gai - Cẩm Phả tháng 11-1936
Kết quả của sự phối hợp đấu tranh giữa dân Pháp và dân Việt là đã buộcchính quyền thuộc địa phải trả lại tự do cho 1.532 tù chính trị, phần lớn là cácchiến sĩ cộng sản Ngay sau khi ra khỏi nhà tù thực dân, họ đã lao ngay vào cuộcchiến đấu mới, tổ chức quần chúng, xây dựng lại cơ sở, đưa phong trào cáchmạng đi lên
Đầu năm 1937, từ Bắc chí Nam người dân lao động mít tinh biểu dươnglực lượng nhân dịp Gôđa - phái viên của chính phủ Pháp sang điều tra tìnhhình Đông Dương Ngày 1-1-1937, ở Nam Kỳ, hơn 20.000 người đủ các giới,nhất là giới lao động Sài Gòn - Chợ Lớn và nông dân phụ cận đón Gôđa bằngnhững khẩu hiệu đòi tự do dân chủ, công bằng, thi hành luật lao động, thi hànhchế độ ngày làm 8 giờ, đòi quyền phụ nữ, quyền nông dân, công nhân, hủy thuếthân, giảm sưu cao thuế nặng, ân xá chính trị phạm,
Phong trào của Mặt trận Dân chủ Đông Dương đạt tới đỉnh điểm với lễ kỷniệm ngày Quốc tế Lao động 1-5-1938 Lần đầu tiên ở Đông Dương, ngày Quốc
tế Lao động được tổ chức kỷ niệm công khai, rầm rộ Để phong trào tiến lên
Trang 20mạnh mẽ hơn nữa, nhiều quyết định về tổ chức đã được thực hiện: lập Đoànthanh niên phản Đế, Hội cứu tế bình dân, Công hội, Nông hội Tại nông thôn,các hình thức tổ chức như Hội cấy, Hội lợp nhà, Hội chèo được phát triển rộngkhắp, tập hợp được hàng triệu quần chúng Năm 1936, Đảng Cộng sản ĐôngDương thảo ra bản "nguyện vọng" gửi tới phái đoàn chính phủ Pháp, đấu tranhđòi tự do, dân chủ Các ủy ban hành động thành lập khắp nơi, phát truyền đơn,
ra báo, mít tinh, thảo luận dân chủ, dân sinh
1.3.2 Đại hội lần VII của Quốc tế Cộng sản (11 - 1935)
Trước nguy cơ của chủ nghĩa phát xít và cuộc chiến tranh thế giới mới,Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản (7-1935) họp tại Mátxcơva đã xác định kẻthù nguy hiểm trước mắt của nhân dân thế giới không phải là chủ nghĩa đế quốcnói chung mà chủ nghĩa phát xít Đại hội đề ra chủ trương thành lập mặt trậnnhân dân ở các nước, nhằm tập hợp rộng rãi các lực lượng dân chủ đấu tranhchống chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh thế giới
Đại hội đã phân tích sự khác nhau giữa chế độ phát xít và chế độ chủnghĩa tư sản, những mâu thuẫn giữa chủ nghĩa phát xít và chế độ tư sản Chủnghĩa phát xít lên nắm quyền đó không phải là sự thay thế thông thường mộtchính phủ tư sản bằng một chính phủ tư sản khác mà là sự thay thế một hìnhthức nhà nước thống trị có tính chất giai cấp của giai cấp tư sản – chế độ dânchủ tư sản, bằng một hình thức thống trị khác nền chuyên chính khủng bố côngkhai
Trong bản báo cáo “Sự tấn công của chủ nghĩa phát xít và nhiệm vụ của Quốc tế Cộng sản trong cuộc đấu tranh để thống nhất giai cấp công nhân chống chủ nghĩa phát xít” của G Đimitơrốp được trình bày tại Đại hội lần VII
của Quốc tế Cộng sản (11 - 1935) đã khẳng định rằng mặc dù chế độ độc tàiphát xít đã thiết lập và nắm chính quyền ở một số nước đó là một nền chuyênchính hết sức tàn bạo nhưng giai cấp công nhân và nhân dân toàn thế giới hoàntoàn có thể đánh bại được nếu như họ thiết lập được mặt trận thống nhất Trên
cơ sở mặt trận thống nhất công nhân, các Đảng cộng sản phải đấu tranh để thànhlập mặt trận thống nhất nhân dân rộng rãi chống phát xít Đối với các nướcthuộc địa Đimitơrốp đã đề ra nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng đặc biệt là Đảngcộng sản phải tiến hành thành lập Mặt trận thống nhất chống đế quốc, mặt trậnnày phải dựa trên cơ sở liên min công – nông nhằm thực hiện nhiệm vụ chủ yếu
là chống lại chính sách tăng cường áp bức, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc, chống
Trang 21lại ách thống trị tàn bạo, đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc lên bước phát triểnmới
Dưới ánh sáng của những nghị quyết Đại hội, các đảng cộng sản Pháp,Tây Ban Nha, Trung Quốc làm nòng cốt trong việc xây dựng Mặt trận dân tộcthống nhất, nhằm đoàn kết mọi lực lượng chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình,đòi dân chủ tự do
Tháng 7 – 1936, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng do Lê HồngPhong, ủy viên Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản chủ trì, đã họp tại Hương Cảng(Trung Quốc) để định ra đường lối và phương pháp đấu tranh mới đưa phongtrào cách mạng nước ta tiếp tục phát triển Hội nghị đã xác định mục tiêu chủyếu trước mắt của cacgs mạng Việt Nam là đấu tranh chống chế độ phản độngthuộc địa, chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình
Để tập hợp rộng rãi quần chúng nhân dân nhằm thực hiện mục tiêu đó, Đảng chủtrương thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương (từ tháng 3– 1938 được đổi tên thành Mặt trận Dân chủ Đông Dương) Hội nghị Trungương tháng 7 – 1936 là sự vận dụng sáng tạo Nghị quyết của Đại hội VII củaQuốc tế Cộng sản vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể nước ta, kết hợp nhiều hình thứcđấu tranh phong phú, tạo ra một phong trào cách mạng rầm rộ, sâu rộng trên quy
mô toàn quốc: từ năm 1937 đến năm 1939 nhiều cuộc mít tinh, biểu tình đòiquyền sống tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, tiêu biểu là cuộc mít tinh khổng lồ tạiquảng trường nhà Đấu Xảo – Hà Nội thu hút hơn 2,5 vạn người, ngoài ra còn cóhình thức đấu tranh nghị trường và đấu tranh trên lĩnh vực báo chí với phươngpháp kết hợp các hình thức công khai và bí mật, hợp pháp và bất hợp pháp,…
Kinh nghiệm quý báu nhất của thời kì 1936 – 1939 – một thời kì có mộtkhông hai ở thuộc địa – là biết triệt để lợi dụng mọi khả năng hợp pháp để tậphợp lực lượng, tổ chức đội quân chính trị hùng hậu trong Mặt trận Dân chủĐông Dương, kết hợp khéo léo, chặt chẽ hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp, vớihoạt động bí mật và không hợp pháp để từng bước đưa phong trào tiến lên
Những kiến thức lịch sử thế giới nêu trên làm cơ sở để học sinh có biểutượng cụ thể về bối cảnh lịch sử Việt Nam trong những năm 1936 – 1939, qua
đó thấy được những tác động, ảnh hưởng của thế giới đến nước ta, đồng thờicũng lí giải được nguyên nhân vì sao phong trào cách mạng Việt Nam 1936 –
1939 có bước phát triển mạnh mẽ, với cuộc vận động dân chủ rộng rãi thu hút
Trang 22tập hợp được hành triệu quần chúng nhân dân vào Mặt trận Dân chủ ĐôngDương đấu tranh đòi tự do, cơm áo, hòa bình, chống chiến tranh đế quốc
1.4 Giai đoạn 1939 – 1945.
Đây là giai đoạn diễn ra Chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc chiến tranh đãtác động đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội nhiều nước Đảng Cộng sảnĐông Dương đã kịp thời chuyển hướng đấu tranh, tích cực chuẩn bị về mọi mặt.Khi chiến tranh gần kết thúc, tranh thủ thời cơ, Đảng lãnh đạo nhân dân cả nướckhởi nghĩa giành chính quyền Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành
lập
1.4.1 Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và lan rộng khắp thế giới.
Tháng 9 – 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Lợi dụng tình thếchiến tranh, chính phủ Đalađiê (Pháp) mạnh tay thi hành hàng loạt biện phápđàn áp lực lượng dân chủ ở trong nước và phong trào cách mạng ở thuộc địa.Mặt trận nhân dân Pháp bị tan vỡ Đảng Cộng sản Pháp bị đặt ra ngoài vòngpháp luật
Ở Đông Dương, Pháp tiến hành phát xít hóa bộ máy nhà nước, tăng cường
vơ vét và đàn áp phong trào cách mạng Chúng vơ vét, bóc lột Đông Dương đểphục vụ cho cuộc chiến tranh của nước Pháp, đồng thời Đông Dương phải đểcho Pháp sử dụng nguồn nhân lực của mình, hoặc làm các công binh xưởng,hoặc cung cấp những quân số quan trọng được tổ chức và biên chế điều đến cácchiến trường phương Tây
Trước tình hình lịch sử thế giới có biến động to lớn – chiến tranh thế giớithứ hai bùng nổ - Đảng Cộng sản Đông Dương đã chỉ thị cho cán bộ hoạt độnghợp pháp và nửa hợp pháp phải nhanh chóng rút vào hoạt động bí mật và giữvững liên lạc với quần chúng; phải chuyển trọng tâm công tác về nông thôn.Tháng 11 – 1939, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản ĐôngDương họp ở Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định) đã quyết định đặt nhiệm vụ giảiphóng dân tộc lên hàng đầu; tịch thu ruộng đất của địa chủ phản bội, chống tocao, lãi nặng; lập Chính phủ dân chủ cộng hòa; thành lập Mặt trận Dân tộc thốngnhất phản đế Đông Dương Hội nghị đánh dấu sự mở đầu cho chủ trươngchuyển hướng đấu tranh của Đảng, đưa nhân dân ta bước vào cuộc vận độnggiải phóng dân tộc
Từ tháng 4 – 1940, Đức tập trung lực lượng đánh chiếm các nước Tây Âu:
Na Uy, Đan Mạch, Bỉ, Hà Lan, Lúcxembua Tiếp đó, quân Đức vượt “chiến lũy
Trang 23Magiô” (Maginot) tiến đánh Pháp, Pari nhanh chóng thất thủ Lợi dụng cơ hộiPháp bị Đức chiếm đóng, Nhật Bản tăng sức ép với chính quyền thực dân Pháp
ở Đông Dương, từng bước thực hiện ý đồ xâm chiếm Đông Dương Ngày 22 – 9– 1940, Nhật Bản cho quân vượt biên giới Việt – Trung đánh vào Lạng Sơn,đồng thời cho 6.000 quân theo đường biển đổ bộ lên Đồ Sơn (Hải Phòng), chínhthức xâm lược Đông Dương Thực dân Pháp ở đây đã nhanh chóng đầu hàng vàdâng Đông Dương cho Nhật Nhật – Pháp tạm thời câu kết với nhau để bóc lộtnhân dân Đông Dương
Nhật ra sức tuyên truyền lừa bịp về sức mạnh của Nhật, tìm cách hất cẳngPháp khỏi Đông Dương, các đảng phái chính trị thân Nhật ra sức hoạt động.Pháp – Nhật tăng cường cướp đất, bắt nông đân nhổ lúa, ngô để trồng đay vàthầu dầu, phục vụ chiến tranh
Pháp ở Đông Dương bị Nhật ép chia sẻ quyền lợi; phải đương đầu vớicuộc đấu tranh của nhân dân Đông Dương ngày càng cao Pháp thực hiện chínhsách “Kinh tế chỉ huy” và lệnh tổng động viên để vơ vét cạn kiệt sức người vàcủa ở Đông Dương phục vụ cho cuộc chiến tranh thế giới và đáp ứng nhu cầucủa Nhật Chính sách vơ vét, bóc lột của Pháp – Nhật đã đẩy nhân dân ta tới chỗcùng cực Tất cả các giai cấp, tầng lớp xã hội nước ta, trừ bọn tay sai đế quốc,đại địa chủ và tư sản mại bản, đều bị ảnh hưởng bởi chính sách bóc lột của Pháp– Nhật Nhiệm vụ giải phóng dân tộc trở nên cấp bách Tình hình trên buộcĐảng ta thay đổi chiến lược, sách lược đấu tranh cho phù hợp Đầu năm 1941,Nguyễn Ái Quốc về nước, trực tiếp cùng Trung ương Đảng lãnh đạo cách mạng.Tháng 5 – 1941, Người chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lầnthứ 8 (Pác Bó, Cao Bằng), hội nghị nhấn mạnh: giải phóng dân tộc là nhiệm vụbức thiết, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu cáchmạng ruộng đất
Như vậy, đến Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8,những hạn chế của Luận cương chính trị đã được khắc phục triệt để, đồng thời
đó cũng là sự khẳng định lại chủ trương đúng đắn trong Cương lĩnh chính trị đầutiên Việc nắm rõ tình hình thế giới giúp Đảng chủ động đề ra những chủ trươngphù hợp, hoàn chỉnh nhiệm vụ cách mạng
1.4.2 Chiến tranh thế giới bước vào giai đoạn kết thúc – thời cơ của Cách mạng tháng Tám
Trang 24Đầu tháng 5 – 1945, phát xít Đức bị Hồng quân Liên Xô tiêu diệt, kể từ
đó quân phiệt Nhật bị cô lập Ngày 8 – 8 – 1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật.Ngày 9 – 8 – 1945, quân đội Xô viết mở màn chiến dịch tổng công kích đạoquân Quan Đông của Nhật Bản ở Trung Quốc Ngày 6 và 9 – 8 – 1945, Mĩ némhai quả bom nguyên tử xuống Nhật Bản Ngày 15 – 8 – 1945, Nhật hoàng tuyên
bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã,chính phủ Trần Trọng Kim hoang mang, lo sợ đến cực điểm Kẻ thù chính củacách mạng không thể giữ được quyền thống trị như cũ được nữa Điều kiệnkhách quan thuận lợi cho tổng khởi khĩa đã đến Thời cơ cách mạng đã xuấthiện
Tuy nhiên, bên cạnh thuận lợi, ta cũng đối mặt với khó khăn:
Ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, quân đội các nước đếquốc với danh nghĩa là quân Đồng minh chuẩn bị vào nước ta để giải giáp quânđội Nhật, song thực chất là tiêu diệt chính quyền cách mạng, đàn áp Đảng Cộngsản Với bản chất đế quốc, chúng sẽ dựng ra một chính quyền tay sai Trong khi
đó các thế lực phản động trong nước cũng đang tìm thời cơ ngóc đầu dạy thaythầy đổi chủ Một nguy cơ mới đang đến gần với dân tộc ta Chính vì thế, vấn đềgiành chính quyền được đặt ra như một cuộc chạy đua nước rút với quân Đồngminh mà nhân dân Việt Nam không thể chậm trễ
Vậy khi nắm những sự kiện lịch sử thế giới đã nêu trên, học sinh sẽ hiểu
rõ rằng thời cơ cách mạng “ngàn năm có một” đã chín muồi, thời cơ chỉ diễn ratrong khoảng thời gian rất ngắn Đó là thời điểm: sau khi phát xít Nhật đầu hàngĐồng minh vô điều kiện đến trước khi quân Đồng minh vào nước ta thực hiệnnhiệm vụ giải giáp quân đội phát xít Nếu khởi nghĩa lúc quân Nhật chưa đầuhàng thì chúng sẽ phản ứng quyết liệt, nếu chậm trễ thì quân Đồng minh kéo vàothì thời cơ không còn nữa
Như vậy, Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh đã nắm vững thời cơ để hànhđộng, phát động toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cảnước, đúng như nhận của chủ tịch Hồ Chí Minh ở Tân Trào “Bây giờ thời cơ đãtới, dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải làm cách mạng thành công”.Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận Việt Minh, trong những điều kiện thuậnlợi, cả dân tộc ta đã nhất tề vùng dậy tiến hành tổng khởi nghĩa trong toàn quốc,làm tan rã bộ máy chính quyền của phát xít Nhật và tay sai, lập nên nước ViệtNam Dân chủ Cộng hòa Song, trong những điều kiện trên thì điều kiện chủ
Trang 25quan giữ vai trò quyết định Vì nếu không có sự chuẩn bị chu đáo của Đảng, thìcho dù điều kiện khách quan có thuận lợi, cũng không thể nổ ra một cuộc tổngkhởi nghĩa được Sự lãnh đạo của Đảng giữ vai trò quan trọng nhất
Cách mạng tháng Tám đã mở ra bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc, đãđuổi được bọn đế quốc xâm lược giải phóng dân tộc, lật đổ chế độ phong kiến,lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – một nhà nước dân chủ nhân dân đầutiên ở khu vực Đông Nam Á Tác động ngược lại lịch sử thế giới: cách mạngtháng Tám đã góp phần đánh bại chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giớithứ hai, đưa nước ta đứng trong hàng ngũ các nước dân chủ nhân dân và xã hộichủ nghĩa trên thế giới Đây là một thắng lợi lớn, chung của phong trào giảiphóng dân tộc trên thế giới, có sức cổ vũ rất lớn đối với nhân dân các nướcthuộc địa và phụ thuộc, nhất là các nước thuộc địa của Pháp đang nổi dạy đấutranh giải phóng cho mình
2 Một số biện pháp tiến hành sử dụng kiến thức lịch sử để nêu mối quan hệ giữa lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945.
2.1 Hướng dẫn học sinh lựa chọn những kiến thức cơ bản lịch sử thế giới có mối liên hệ với lịch sử Việt Nam
Trước hết học sinh phải nắm được các sự kiện cơ bản đã học qua việc gợi
ý của giáo viên
Ví dụ: khi trình bày mục 1 “Phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, lệnh tổng khởi nghĩa được ban bố” trong phần VII “Cách mạng tháng Tám thành công
trong cả nước” (SGK Lịch sử 12), giáo viên lưu ý học sinh tìm hiểu các sự kiệntrình bày trong các tài liệu tham khảo về các sự kiện lịch sử thế giới có liên quanđến những vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc Tổng khởi nghĩa giành chínhquyền tháng Tám năm 1945 Đó là ở châu Âu phát xít Đức đã bị tiêu diệt hoàntoàn, ở châu Á quân phiệt Nhật cũng đã đầu hàng Đồng minh không điều kiện,
…
Việc lựa chọn kiến thức này giúp học sinh nhận thức sâu hơn vị trí, vai tròcủa lịch sử thế giới trong bài học lịch sử Việt Nam, tăng cường tính tích cực,chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập Lịch sử, qua đó các em hiểu toàndiện và sâu hơn lịch sử Việt Nam
2.2 Gợi mở thông tin để học sinh tái hiện sự kiện
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh tiến hành một số công việc sau: