Tính lô-gic, chặt chẽ với những lý lẽ rõ ràng, những chứng cớ hiển nhiên đã làm nêncái hay cái đẹp của những bài văn nghị luận.Tuy nhiên trên thực tế giảng dạy hiện nay, chúng tôi nhận t
Trang 12.3 Vai trò của dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học 7
II Rèn luyện kĩ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận
1.1.Hướng dẫn học sinh tích lũy tư liệu dẫn chứng 9
2.1. Phân tích nghệ thuật để làm nổi bật nội dung 20
Trang 2A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Quá trình dạy và học môn Ngữ văn trong trường phổ thông hiện nay ngàycàng có nhiều đổi mới để phù hợp với xu hướng hiện đại Theo định hướng chung,tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh được đặt lên hàng đầu Có rất nhiềucách thức tiếp cận để theo kịp xu hướng đổi mới, trong đó, việc rèn luyện kĩ năngnghị luận cho học sinh cũng là một việc làm quan trọng để thúc đẩy việc đổi mớidạy và học môn văn đạt hiệu quả
Kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực đòi hỏi học sinh phải biếtvận dụng thuần thục các kĩ năng vào giải quyết một vấn đề cụ thể Một trong nhữngcách đánh giá năng lực làm văn của học sinh là đánh giá cách tổ chức văn bản Cáchthức tổ chức văn bản là cách thức tổ chức các yếu tố nội dung (những sự kiện, hiệntượng, luận điểm ) theo một kiểu mô hình nhất định
Riêng với đối tượng học sinh giỏi môn Văn, kiểu bài nghị luận văn học là kiểubài có thể giúp cho việc kiểm tra, đánh giá năng lực học sinh một cách tốt nhất.Nghị luận văn học được hiểu là bàn bạc, tranh luận, nói lý lẽ, thuyết phục người đọcbằng lập luận lô-gic chặt chẽ về một vấn đề văn học cụ thể Luận điểm mới mẻ, độcđáo là hết sức quan trọng, nhưng để bài văn có sức thuyết phục cao thì riêng luậnđiểm chưa đủ Ở đây còn cần đến vai trò của lập luận Sau khi xác định được vấn đềnghị luận cần trình bày, nêu ý kiến của bản thân về vấn đề, người viết cần sử dụng lí
lẽ và các minh chứng từ nhiều nguồn khác nhau để bảo vệ ý kiến Lí lẽ phải phùhợp, chặt chẽ, logic Tủy theo tính chất của vấn đề cần bàn bạc mà người viết lựachọn nguồn thông tin và cách thức lập luận Quá trình làm bài cần thiết phải có dẫnchứng để bài làm có tính thuyết phục, tạo nên văn phong hấp dẫn, sinh động Minhchứng cần tiêu biểu, sát với vấn đề đang bàn bạc Những bài văn nghị luận đặc sắcđều là những bài văn hàm chứa trong đó những cách lập luận sắc sảo, mẫu mực
Trang 3Tính lô-gic, chặt chẽ với những lý lẽ rõ ràng, những chứng cớ hiển nhiên đã làm nêncái hay cái đẹp của những bài văn nghị luận.
Tuy nhiên trên thực tế giảng dạy hiện nay, chúng tôi nhận thấy một thực trạngphổ biến của học sinh khi làm văn nghị luận văn học, đặc biệt là học sinh giỏi làtham kiến thức, phô dẫn chứng Số lượng dẫn chứng đưa vào phải tùy thuộc vào độdài ngắn của bài văn cũng như yêu cầu trực tiếp của đề ra và dựa vào các khía cạnhcủa bài văn để lấy dẫn chứng Thông thường, với mỗi luận điểm, lí lẽ người viết sẽphải lấy dẫn chứng phù hợp để làm sáng tỏ cho luận điểm đó Nhưng các em lại đưaquá nhiều dẫn chứng, thường có hình thức “đổ bê tông” dẫn chứng trên bài làm,thường muốn chứng tỏ sự hiểu biết sâu rộng, “uyên bác” của mình Điều này rấtnguy hại vì không những không dẫn bài làm đi đúng hướng mà khiến cho cách trìnhbày lan man, thiếu thuyết phục, lí lẽ của bài bị mờ nhòa, ý bị loãng, không đọng lạimột điều gì trong người đọc Ngoài ra, theo chiều hướng ngược lại, cũng có không ítnhững bài văn nghị luận văn học lại đưa quá ít dẫn chứng Bài viết trở nên khô khan,giáo điều, không thuyết phục
Lại có một thực trạng thường gặp khác là cách phân bố dẫn chứng chưa phùhợp Học sinh lấy dẫn chứng không cân đối, có những luận điểm có đến hai hoặc badẫn chứng nhưng có luận điểm lại chẳng có dẫn chứng nào, bài văn thiếu hài hòa,mất cân đối Dẫn chứng nếu không lựa chọn đúng lí lẽ cần đưa và phân tích rõ rang,sâu sắc thì sẽ làm bài viết mờ nhạt, tản mạn hoặc đi sai trọng điểm
Bên cạnh đó, việc chọn dẫn chứng chưa phù hợp, hoặc dẫn chứng không liênquan đến vấn đề nghị luận, hoặc dẫn chứng chưa cụ thể, tiêu biểu, xác thực cũng làthực trạng đáng quan tâm Đối với bài văn học sinh giỏi, học sinh có thể lấy dẫnchứng “diện” hay dẫn chứng “điểm”, mục đích “nhấn” hay “lướt” là tùy thuộc vàoyêu cầu đề bài và ý đồ của người viết Tuy nhiên, không ít trường hợp học sinh giỏicòn thiếu vốn dẫn chứng, chưa biết cách huy động và tổ chức các dẫn chứng phùhợp, trình bày lí lẽ, luận điểm một đằng rồi lại đưa dẫn chứng một nẻo, lấy dẫnchứng nhưng không phân tích dẫn chứng hoặc lấy dẫn chứng một cách chung chung,không tiêu biểu, nổi bật, sáo rỗng hoặc không liên quan đến vấn đề trình bày Tất cả
Trang 4những điều này dẫn đến việc dẫn chứng không phát huy được hiệu quả, bài vănchưa thuyết phục được người đọc, người nghe
Một thực trạng nữa có thể gặp trong các bài văn học sinh giỏi là học sinh tìmdẫn chứng rồi, thậm chí dẫn chứng hay, tiêu biểu nhưng viết, phân tích dẫn chứngkhông đạt Lỗi thường gặp nhất vẫn là sa đà, kể lể, chưa biết liên kết dẫn chứng vớicác lí lẽ và với vấn đề nghị luận, chưa có sự hình dung về trật sự sắp xếp ý cũng nhưmối liên hệ giữa các ý trong mạch lập luận của mình
Trong bài văn nghị luận, dẫn chứng và lí lẽ là hai bộ phận cấu thành luận điểmtạo nên hệ thống lập luận cho bài làm Cùng với lí lẽ, dẫn chứng đóng vai trò là
“chất sống” mang lại sự sinh động và hấp dẫn, góp phần làm tăng sức thuyết phụccho bài văn nghị luận Để lập luận trong bài văn nghị luận đạt hiệu quả tốt, ngườiviết phải biết trình bày và triển khai luận điểm; biết nêu vấn đề và giải quyết vấn đề;biết dùng những lý lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ điều mình muốn nói, để ngườiđọc hiểu, tin và đồng tình với mình Đối với bất cứ dạng văn nghị luận nào, dẫnchứng đều cần thiết Trong bài văn nghị luận văn học, dẫn chứng càng có vai tròquan trọng Nếu không có dẫn chứng, bài văn sẽ thiếu đi độ tin cậy Những lí lẽ đưa
ra chỉ là lý thuyết suông, mang tính chung chung, thiếu cơ sở Do đó bài văn sẽkhông thể nào thuyết phục được người đọc Nếu không có dẫn chứng, những lí lẽđược đưa ra dù hay và sắc sảo đến đâu thì vẫn không thể tác động mạnh mẽ đếnngười đọc, người nghe Thiếu dẫn chứng bài văn nghị luận sẽ khô khan, lập luậnkhông chặt chẽ, bài làm đạt điểm không cao Bài văn nghị luận sẽ trở thành nhữnglời bàn luận mang tính chất là những khái niệm, lí thuyết suông Dẫn chứng hay, xácđáng cũng giống như một điểm nhấn điểm sáng cho toàn bài Dẫn chứng không phùhợp khiến bài viết bị lạc đề và mất điểm
Trong quá trình dạy học sinh giỏi làm văn nghị luận văn học, chúng tôi chorằng, việc hướng dẫn giúp học sinh sử dụng và phận tích dẫn chứng trong bài làm là
vô cùng quan trọng Sử dụng và phân tích dẫn chứng hiệu quả giúp cho bài làm sinhđộng, hấp dẫn, giúp cho vấn đề nghị luận trở nên rõ ràng và có chiều sâu hơn Bàilàm văn dễ triển khai được dài hơn, nhiều ý, phong phú hơn Đây cũng là điểm sáng
Trang 5tạo được lưu ý trong bài văn nghị luận văn học của học sinh giỏi Theo nhiều giámkhảo chấm, yêu cầu đầu tiên là học sinh phải biết liên hệ, sử dụng dẫn chứng hiệuquả, phong phú vào bài làm.
Từ thực tế nhận thức rõ về yêu cầu phát triển năng lực học sinh để hướng tớiviệc đổi mới, khuyến khích những ý kiến cảm nhận riêng, mang đậm màu sắc cánhân của học sinh, đề cao sự sáng tạo, chúng tôi xin đề xuất và trình bày tổng quát
về chuyên đề “Rèn kỹ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận văn họcdành cho học sinh giỏi Ngữ văn” Với chuyên đề này, chúng tôi đưa ra một hướngtiếp cận, rèn luyện kĩ năng đưa dẫn chứng và phân tích dẫn chứng trong bài văn nghịluận văn học một cách cụ thể Thông qua việc phân tích các đoạn văn, bài văn thực
tế của học sinh giỏi văn, hy vọng chuyên đề sẽ giúp học sinh sẽ có những kĩ năng vàcách thức hiệu quả nhất trong quá trình làm bài để từ đó học sinh rút ra những cáchtriển khai phù hợp
II. CẤU TRÚC CỦA CHUYÊN ĐỀ
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề gồm các nội dung sau:
Trang 6-Đặc điểm của văn nghị luận:
+ Luận điểm: là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm trong bài văn nghị luận.Một bài văn thường có các luận điểm: luận điểm chính, luận điểm xuất phát, luậnđiểm khai triển, luận điểm kết luận
+ Luận cứ: là những lí lẽ và dẫn chứng làm cơ sở cho luận điểm Luân điểm làkết luận của những lí lẽ và dẫn chứng đó
Luận cứ trả lời các câu hỏi: Vì sao phải nêu luận điểm? Nêu ra để làm gì? Luận điểm
ấy có đáng tin cậy không?
- Cấu trúc :
+ Mở bài (đặt vấn đề): Giới thiệu vấn đề, tầm quan trọng của vấn đề, nêuđược luận điểm cơ bản cần giải quyết
Trang 7+ Thân bài (giải quyết vấn đề): Triển khai các luận điểm, dùng lí lẽ dẫn chứnglập luận để thuyết phục người nghe theo quan điểm đã trình bày.
+ Kết bài (kết thúc vấn đề): Khẳng định tầm quan trọng, ý nghĩa của vấn đề đãnêu
- Các phương pháp lập luận :
+ Phương pháp chứng minh: mục đích làm sáng tỏ vấn đề, dùng lí lẽ và dẫnchứng để khẳng định tính đúng đắn của vấn đề
+ Phương pháp giải thích: chỉ ra nguyên nhân, lí do, quy luật của sự việc hiệntượng được nêu trong luận điểm Trong văn nghị luận, giải thích là làm sáng tỏ một
từ, một câu, một nhận định
+ Phương pháp phân tích: là cách lập luận trình bày từng bộ phận, phươngdiện của một vấn đề nhằm chỉ ra nội dung của sự vật, hiện tượng Để phân tích nộidung của một sự vật, hiện tượng, người ta có thể vận dụng các biện pháp nêu giảthiết, so sánh đối chiếu,… và cả phép lập luận giải thích, chứng minh
+ Phương pháp tổng hợp: là phép lập luận rút ra cái chung từ những điều đãphân tích Lập luận tổng hợp thường đặt ở cuối đoạn hay cuối bài, phần kết luận củamột phần hoặc toàn bộ văn bản
1.2 Nghị luận văn học.
1.2.1 Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.
- Khái niệm: Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ là cách trình bày nhận xétđánh giá của mình về nội dung, nghệ thuật đoạn thơ, bài thơ ấy
- Yêu cầu:
+ Về nội dung: Nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ được thể hiệnqua ngôn từ, giọng điệu, …Bài nghị luận cần phân tích các yếu tố ấy để có nhữngnhận xét đánh giá cụ thể, xác đáng
Trang 8+ Về hình thức: Bài viết cần có bố cục mạch lạc, rõ ràng; có lời văn gợi cảm,thể hiện rung động chân thành của người viết.
- Bố cục:
+ Mở bài: Giới thiệu đoạn thơ, bài thơ và bước đầu nêu nhận xét đánh giá củamình ( nếu phân tích một đoạn thơ nên nêu rõ vị trí của đoạn thơ ấy trong tác phẩm
và khái quát nội dung cảm xúc của nó)
+ Thân bài: Lần lượt trình bày những suy nghĩ, đánh giá về nội dung và nghệthuật của đoạn thơ, bài thơ ấy
+ Kết bài: Khái quát giá trị, ý nghĩa của đoạn thơ, bài thơ
1.2.2 Nghị luận về tác phẩm truyện.
- Khái niệm: Nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) là trình bày
những nhận xét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật củamột tác phẩm cụ thể
- Yêu cầu:
+ Về nội dung: Những nhận xét đánh già về truyện phải xuất phát từ ý nghĩacủa cốt truyện, tính cách, số phận của nhân vật và nghệ thuật trong tác phẩm đượcngười viết phát hiện và khái quát
Các nhận xét, đánh giá về tác phẩm truyện (hay đoạn trích) trong bài nghịluận phải rõ ràng, đúng đắn, có luận cứ và lập luận thuyết phục
+ Về hình thức: Bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) cần có bốcục mạch lạc, có lời văn chuẩn xác, gợi cảm
2 Dẫn chứng trong bài nghị luận văn học
2.1 Khái niệm và phân loại dẫn chứng
Trang 9- Dẫn chứng là những sự vật, sự việc, số liệu được rút ra từ thực tế hay từ tácphẩm văn học để thuyết minh cho ý kiến, nhận định, đánh giá trong bài văn nghịluận Bài nghị luận văn học có dẫn chứng phong phú thì sẽ thuyết phục người đọc.
- Muốn có vốn kiến thức (dẫn chứng) phong phú thì cần tích lũy thườngxuyên bằng cách học, cách đọc sách báo, quan sát đời sống thường ngày…
2.2 Nguyên tắc lựa chọn dẫn chứng
Như chúng ta đã biết, một bài văn nghị luận văn học có thể sử dụng nhiều dẫnchứng để chứng minh; do đó khi đưa dẫn chứng để minh họa, chúng ta cần chú ýtuân thủ các nguyên tắc sau:
- Thứ nhất, khi chọn lọc dẫn chứng trong văn nghị luận phải đảm bảo sự chínhxác
- Thứ hai, khi đưa dẫn chứng vào bài văn nghị luận phải đảm bảo yếu tố cần vàđủ
- Thứ ba, khi đưa dẫn chứng vào bài văn nghị luận phải đảm bảo tính điển hình,tiêu biểu
- Thứ tư, khi đưa dẫn chứng vào bài văn nghị luận phải kết hợp với việc phân tíchdẫn chứng
- Thứ năm, khi đưa dẫn chứng trong văn nghị luận cần đảm bảo tính logic và
hệ thống
2.3 Vai trò của dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học
Việc lấy dẫn chứng đối với một bài văn nghị luận văn học có vai trò đặc biệtquan trọng Trong bài văn nghị luận, dẫn chứng và lí lẽ là hai bộ phận cấu thành luậnđiểm và làm tăng thêm tính thuyết phục, hấp dẫn cho hệ thống lập luận
Không có dẫn chứng, bài văn sẽ thiếu “chất sống”, thiếu sự sinh động, hấpdẫn Quan trọng hơn, nếu thiếu dẫn chứng, những lý lẽ đưa ra sẽ không còn sứcthuyết phục Lúc đó bài văn chỉ còn là những lời bàn luận chung chung, thiếu cơ sở,
Trang 10thiếu căn cứ và hoàn toàn mang tính lý thuyết suông Vì thế, việc lựa chọn và phântích dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học là vô cùng cần thiết, giúp bài văn trởnên hấp dẫn, giàu sức thuyết phục.
II Rèn luyện kĩ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận văn học dành cho học sinh giỏi Ngữ văn
1. Rèn luyện kĩ năng chọn dẫn chứng
1.1. Hướng dẫn học sinh tích lũy tư liệu dẫn chứng
Tích lũy tư liệu là thao tác quan trọng trong quá trình học tập môn Ngữ văn.Đặc biệt, đối với học sinh giỏi, tích lũy tư liệu lại càng cần thiết Để chọn được dẫnchứng phù hợp, tiêu biểu, đặc sắc cho bài văn nghị luận văn học, trước hết học sinhcần có vốn hiểu biết sâu rộng và phong phú Tư liệu có dồi dào thì việc lựa chọn dẫnchứng mới dễ dàng, chính xác Vì vậy trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ngữ
văn, việc làm đầu tiên của giáo viên là cần hướng dẫn học sinh có ý thức và cách thức tích lũy tư liệu văn học, xây dựng kho tàng, vốn liếng tri thức phong phú Hiện
nay, công việc này vẫn được diễn ra trong quá trình dạy học môn Ngữ văn ở nhàtrường phổ thông nhưng chưa được quan tâm đúng mức Từ kinh nghiệm giảng dạythực tiễn, nhóm chúng tôi đưa ra một số cách thức hướng dẫn học sinh tích lũy tưliệu dẫn chứng như sau:
1.1.1. Gieo đam mê đọc
Để hình thành thói quen đọc cho học sinh THPT, đặc biệt là học sinh giỏi mônNgữ văn, giáo viên cần là người khởi hứng, thổi bùng đam mê tri thức ở học trò,không nên biến việc đọc thành một công việc nặng nề, áp đặt khiến học sinh mệtmỏi Sau đây là một số phương pháp gợi ý tham khảo:
- Mưa dầm thấm lâu:
Giáo viên có thể bắt đầu từ những chủ đề thú vị, gần gũi, khuyến khích các
em tìm đọc khám phá Ở lớp 10, giáo viên có thể bắt đầu từ các tác phẩm văn họcdân gian hấp dẫn như Thần thoại Hy Lạp, Sử thi Ấn Độ, Truyện cổ tích Việt Nam…Lớp 11 gieo niềm vui đọc sách từ những tác phẩm của các tác giả nổi tiếng như NamCao, Nguyễn Tuân, Thạch Lam…Lớp 12 là thơ văn cách mạng hào hùng của dântộc Từ đó mở rộng nâng cao đọc các tác phẩm chuyên sâu như tác phẩm văn họcngoài nhà trường, các tài liệu nghiên cứu văn học…Việc đọc phải trở thành quá trình
Trang 11mưa dầm thấm lâu, từ đọc ít đến đọc nhiều, dần dần trở thành niềm đam mê đọcsách
- Học những người nổi tiếng:
Giáo viên có thể truyền cảm hứng đọc cho học sinh bằng chính những lời tâm
huyết của các tác giả quen thuộc với học sinh như Nguyễn Thành Long: Một đặc điểm của tôi là chịu đọc…tôi đọc cả trong khi ăn, cả những khi vừa ngủ dậy Tôi đọc các tác phẩm trong chương trình, đọc các tác phẩm ngoài chương trình, đọc rộng ra nữa những sách cao hơn trình độ của tôi Tất nhiên là đọc có phương pháp, nếu không có phương pháp đi nữa, thì nguyên việc đọc nhiều cũng để lại cho mình cái gì
đó Đọc là cách học văn rất quan trọng, Anh Đức: Tôi đọc say mê, ngấu nghiến cả những quyển mà lẽ ra tôi chưa được đọc Có lúc tôi ẩn mình trong kẹt ủ, có lúc leo tuốt lên ngọn ổi um tùm ngồi đọc, Vũ Tú Nam: Tôi say mê đọc sách báo văn học ngoài chương trình của nhà trường, thậm chí đọc cả dưới trăng, khiến mắt tôi bị cận thị … Những bài học từ những nhà văn, nhà thơ đó sẽ giúp các em ý thức được
vì sao phải đọc và đọc để làm gì?
- Tạo dựng “không gian đọc”:
Giáo viên có thể tạo “không gian đọc” cho học sinh bằng cách trang trí lớphọc như một thư viện nhỏ với các tủ sách văn chương, trang trí tranh ảnh của cácnhà thơ, nhà văn để gợi hứng thú tìm hiểu cho học sinh Việc làm này giáo viên nênđưa ý tưởng và để học sinh thực hiện, khuyến khích học sinh đóng góp và trao đổisách với các bạn để nguồn tư liệu phong phú dồi dào
Trang 121.1.2. Định hướng cách đọc
Kho tàng tri thức văn học của nhân loại rất đa dạng và phong phú Vì vậy để tíchlũy tư liệu dẫn chứng, giáo viên cần hướng dẫn học sinh kết hợp đọc lướt và đọc kĩ,đọc nông và đọc sâu, đọc toàn bộ và đọc có trọng điểm…
- Đọc lướt: là không cần đọc toàn bộ tài liệu mà chỉ lướt nhanh nhan đề tài liệu,mục lục, từ khóa…Kĩ năng đọc lướt giúp học sinh nắm bao quát toàn bộ tàiliệu, nắm được nội dung, thông điệp chính của tài liệu Đọc lướt tiết kiệmđược thời gian đồng thời tích lũy được lượng kiến thức lớn, phong phú và đadạng Khi hướng dẫn học sinh đọc lướt, giáo viên cần lưu ý học sinh một sốvấn đề sau:
+ Phân tích mục lục để nắm được cấu trúc tài liệu, ý chính của từng chương+ Dựa vào các câu chủ đề, từ khóa để hiểu nội dung tài liệu
Kĩ năng đọc lướt nên được áp dụng khi cần huy động nguồn dẫn chứng dồidào trong một thời gian ngắn
- Đọc kĩ: là đọc đi đọc lại nhiều lần, có trọng tâm Việc đọc kĩ giúp học sinhhiểu sâu một vấn đề, không chỉ nắm được tinh thần chung mà còn hiểu cặn kẽ,tầng bậc ý tứ tác giả gửi gắm trong tài liệu Để thực hiện kĩ năng này, học sinhcần chú trọng vào những đoạn quan trọng, đọc nhiều lần, đọc có nghiền ngẫm,suy nghĩ, so sánh, liên tưởng
Việc đọc kĩ sẽ rất đắc dụng khi học sinh cần lựa chọn một trong nhiều dẫnchứng Chỉ khi hiểu rõ được tài liệu, học sinh mới có kĩ năng chọn được dẫnchứng tiêu biểu và phù hợp
1.1.3. Hướng dẫn học sinh đọc kết hợp ghi chép tư liệu
D.L Mendeleev đã từng nói: Ý nghĩ không được ghi chép lại chỉ là một kho báu bị giấu biệt Quả là vậy, việc đọc sẽ không có kết quả nếu không ghi chép Việc
đọc và việc ghi chép cần được tiến hành song song Ghi chép có vai trò quan trọngtrong việc tích lũy dẫn chứng nên phải trở thành thói quen, như con ong cần cù hútmật, như con tằm ăn lá nhả tơ, như người thợ nhặt từng đinh ốc rơi vãi để sử dụngđúng chỗ khi cần thiết Để việc ghi chép có hiệu quả, giáo viên cần hướng dẫn họcsinh lưu ý một số vấn đề sau:
- Ghi chép phải chính xác: Dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học chỉ cótác dụng khi được trích dẫn chính xác Trích dẫn sai dù chỉ một chữ không những
Trang 13không có tác dụng, mà ngược lại còn tạo thành hạt sạn, lỗ hổng kiến thức, làm giảmchất lượng bài viết Vì vậy khi đọc học sinh cần ghi lại trung thành với văn bản, ghi
rõ tên tác phẩm, tác giả, nguồn gốc tài liệu
- Ghi chép phải hệ thống: Dẫn chứng cần được phân loại khoa học để phục vụcho việc tìm và chọn dẫn chứng được dễ dàng Trên thực tế học sinh đọc rất nhiềunhưng lại ghi chép lộn xộn dẫn đến tình trạng khó tìm được dẫn chứng khi làm vănnghị luận Giáo viên có thể định hướng học sinh ghi chép theo những tiêu chí sau:
+ Ghi chép theo chủ đề: Đây là cách ghi chép dẫn chứng theo những chủ đềlớn Học sinh chia thành nhiều thư mục theo một số chủ đề như: thiên nhiên trongvăn học, hình tượng người chiến sĩ, hình tượng người nông dân, hình tượng tổquốc…Từ đó, trong quá trình đọc, ứng với chủ đề nào thì ghi chép, lưu trữ vào thưmục chứa chủ đề đó Việc ghi chép này giúp học sinh phân loại dẫn chứng và vậndụng dẫn chứng theo chủ đề một cách hiệu quả
+ Ghi chép theo tác giả: Đây là cách hệ thống dẫn chứng theo các tác giả lớn.Học sinh ghi chép các tài liệu có liên quan đến nhà thơ, nhà văn như sự nghiệp vănhọc, thơ văn, lời phê bình, nhận định…Cách ghi chép này có tác dụng hệ thống hóakiến thức theo tác gia, giúp học sinh có kiến thức chuyên sâu về từng tác giả, từ đólựa chọn được dẫn chứng đắc dụng cho bài văn nghị luận văn học
+ Ghi chép theo thể loại: Tài liệu dẫn chứng được chia theo thể loại như thơ,truyện ngắn, kí, tùy bút…
+ Ghi chép theo thời đại: Đây là cách học sinh sắp xếp tài liệu dẫn chứng theothời gian, giai đoạn như văn học trung đại, văn học 1930 – 1945, thơ văn cáchmạng…
…
- Ghi chép những cảm nhận riêng của bản thân khi đọc tác phẩm: Bên cạnhviệc ghi chép chính xác và ghi chép có hệ thống, học sinh nên ghi lại những cảmnhận riêng của bản thân khi đọc tài liệu Đây là điều cần thiết vì đó là những cảmnhận bật ra ngay khi tiếp xúc với tác phẩm, có thể chưa trọn vẹn nhưng thường chứađựng cảm xúc và những ý tưởng bất ngờ Những cảm nhận này được ghi lại sẽ giúpích cho học sinh trong quá trình phân tích dẫn chứng trong bài văn nghị luận vănhọc
1.2 Rèn luyện học sinh chọn dẫn chứng
1.2.1 Xác định vấn đề nghị luận và phạm vi dẫn chứng
* Xác định vấn đề nghị luận
Trang 14Để chọn được dẫn chứng đúng và trúng, thao tác đầu tiên học sinh cần làm làphải xác định được vấn đề nghị luận Thông thường, các đề văn dành cho HSGthường gắn với một hoặc hai nhận định Học sinh cần giải thích các từ khóa trongnhận định để xác định vấn đề nghị luận, xem đề bài yêu cầu bàn về vấn đề nào Từ
đó chọn dẫn chứng làm sáng tỏ vấn đề đó Không xác định được đúng vấn đề nghịluận, học sinh sẽ lúng túng trong việc lựa chọn dẫn chứng dẫn đến tình trạng dẫnchứng không có đích đến, không hướng vào yêu cầu đề bài Bài viết sẽ lan man, lạc
Bằng trải nghiệm văn học, anh/chị hãy trình bày quan điểm của mình
Có đề chỉ khuôn vào 1 tác giả:
Ví dụ:
Đánh giá về thơ văn Nguyễn Trãi, Ngô Thế Vinh (thế kỉ XIX) cho rằng: “Văn chương có đủ sức sửa sang cuộc đời mới đáng lưu truyền ở đời Trong nền văn hiến nước ta, Ức Trai tiên sinh chính là người có thứ văn chương ấy”.
Bằng những hiểu biết về thơ văn Nguyễn Trãi, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiếntrên
Có đề lại yêu cầu chọn 2 ngữ liệu trong hai tác phẩm:
Ví dụ:
Trong bài viết Văn hóa nguồn mạch sáng tạo và khám phá văn chương, tác giả
Nguyễn Văn Hạnh đã viết:
Dù biến đổi không ngừng qua các môi trường xã hội và lịch sử khác nhau, văn chương nghệ thuật từ xưa đến nay vẫn đi sâu khai thác hai mặt cơ bản nhất là
sự thật và tư tưởng nhân văn trong cuộc sống con người và xã hội, luôn có một cách
Trang 15nhìn kết hợp thực tế và lý tưởng, cái hiện có và cái nên có, khiến con người nhận chân được thực trạng nhân thế, sống có ước mơ, có khát vọng về chân, thiện, mỹ (http://phebinhvanhoc.com.vn/van-hoa-nguon-mach-sang-tao-va-kham-pha-van-
chuong)
Anh/chị có suy nghĩ gì về ý kiến trên? Hãy phân tích một tác phẩm văn họctrung đại và một tác phẩm văn học hiện đại trong chương trình lớp 11 để làm sángtỏ
Có đề đưa nhận định về thơ ca:
Ví dụ:
Tại Đại hội tái thành lập Hội Nhà văn Á - Phi (năm 2012), khi được hỏi ý kiến
về vị trí của thơ ca trong thế giới ngày nay, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã chia sẻ:
“Đời sống vốn luôn như vậy, cái tốt cái xấu đan xen, và thơ ca vẫn gắng sống
để hoàn thiện sứ mệnh của mình là làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn hoặc nhắc thế giới về những điều tốt đẹp…”
(Theo Bình Nguyên Trang, thứ bảy - 23/02/2013 00:00, Quân đội nhân dân
điện tử online)
Anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên
Có đề lại yêu cầu dẫn chứng là văn xuôi:
(Bùi Việt Thắng, Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại,
Nxb ĐHQG Hà Nội, 2011, tr 76)
Anh/chị hãy bình luận ý kiến trên
Có đề tường minh, có đề lại giấu kín
Chính từ sự đa dạng trên, giáo viên cần yêu cầu học sinh chú trọng thao táctìm hiểu đề trước khi chọn lựa dẫn chứng Học sinh cần đọc kĩ đề bài, xem kĩ nộidung nhận định (nếu có) xem nhận định đề cập đến văn học nói chung, hay đề cập
Trang 16đến một thể loại, một tác giả, một tác phẩm nhất định, đồng thời xem kĩ câu lệnh đềbài có đưa giới hạn dẫn chứng hay không Giáo viên cần dành thời gian luyện thaotác cho học sinh gạch chân vào dưới những từ quan trọng trong đề bài Đây là việclàm nhỏ nhưng lại giúp học sinh chọn được đúng dẫn chứng.
1.2.2 Lựa chọn dẫn chứng
a Dẫn chứng cần đúng, đủ, phù hợp
- Trước hết cần chọn đúng dẫn chứng Dẫn chứng đúng là dẫn chứng đảm bảotính chính xác về kiến thức, trung thực với tài liệu trích dẫn Với thơ cần tránh tríchsai từ ngữ văn bản, tên tác giả, tác phẩm Với văn xuôi có thể tóm tắt nhưng phải giữnguyên vẹn nội dung, tối kị làm sai khác ý đồ tác giả Đồng thời, dẫn chứng đúngcần phải phù hợp với vấn đề nghị luận Học sinh nên lấy dẫn chứng sát với lí lẽ, luậnđiểm nêu ra trong bài Giữa nhiều dẫn chứng, học sinh nên xem đâu là dẫn chứngtiêu biểu
Ví dụ: Để làm sáng tỏ phong cách nghệ thuật của người nghệ sĩ, học sinhkhông nên chọn dẫn chứng là các tác giả trung đại do tính phi ngã là đặc trưng củavăn học trung đại Học sinh nên chọn dẫn chứng là các tác gia văn học hiện đạimang dấu ấn cái tôi, cá tính sáng tạo riêng mới
- Sau đó cần chọn đủ dẫn chứng Lấy quá ít dẫn chứng thì vấn đề nghị luận sẽkhông được sáng tỏ Ngược lại lấy quá nhiều dẫn chứng sẽ khiến bài văn nghị luận
bị loãng Vậy như thế nào là đủ? Điều này không có công thức nhất định, cần căn
cứ vào từng đề bài cũng như từng bài viết cụ thể Tuy nhiên thông thường mỗi lí lẽnên có ít nhất một dẫn chứng Học sinh cũng cần lưu ý kết hợp dẫn chứng điểm vớidẫn chứng diện Dẫn chứng diện nhằm chứng minh tính đúng đắn của vấn đề trêndiện rộng Với kiểu dạng dẫn chứng này, học sinh thường liệt kê nhiều tên tác phẩm,tác giả Dẫn chứng điểm chứng minh luận điểm một cách tập trung ở bề sâu Khidùng dẫn chứng điểm, học sinh không nên chọn nhiều mà chỉ nên chọn một hoặc haidẫn chứng tiêu biểu, đắt giá
b Dẫn chứng cần logic, hệ thống
Một điểm cần lưu ý trong quá trình chọn dẫn chứng là cần đảm bảo tính logic
và hệ thống Học sinh cần sắp xếp dẫn chứng theo trình tự thời gian (từ văn học dângian, văn học trung đại, văn học hiện đại, văn học cách mạng, văn học đương đại),trình tự không gian (văn học Việt Nam, văn học nước ngoài)…
Trang 17Ví dụ: Lấy dẫn chứng về tinh thần yêu nước, học sinh có thể sắp xếp theo trình tựthời gian như sau:
- Nam Quốc sơn hà (tương truyền của Lý Thường Kiệt)
- Bình Ngô đại cáo ( Nguyễn Trãi)
- Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)
- Thơ văn Phan Bội Châu
- Thơ văn Hồ Chí Minh
Ví dụ: Nhận xét về dụng ý nghệ thuật của người nghệ sĩ khi đặt tên nhân vật, họcsinh thường lấy dẫn chứng trường hợp bút lực Nam Cao khi đặt tên nhân vật là hắn,
y, thị, trường hợp Vũ Trọng Phụng đặt tên nhân vật theo thủ pháp giếu nhại…Đó đã
là những dẫn chứng tiêu biểu Nhưng thú vị hơn nữa, một số học sinh với vốn hiểubiết sâu rộng còn dẫn chứng cách đặt tên nhân vật độc đáo của nhà văn Kafka (đặttên theo chữ cái, theo số như một sự vật hóa thể hiện tình trạng con người trốngrỗng, dần bị thay thế…)
Bên cạnh chọn dẫn chứng tương đồng, học sinh có thể chọn dẫn chứng tương phản,lật ngược vấn đề, tạo những so sánh liên tưởng táo bạo
Ví dụ với đề bài sau:
Giải thích và bình luận ý kiến sau của nhà thơ Chế Lan Viên:
Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành mật
Mỗi giọt mật thành đôi vạn chuyến ong bay
Nay cành nhãn non Đoài, mai vườn cam xứ Bắc
Mật ngọt ở đồng bằng mà hút nhụy tận miền Tây
( “Ong và mật” – Chế Lan Viên)
Học sinh bên cạnh việc lấy dẫn chứng chứng minh quá trình lao động nghệ thuậtmiệt mài của nhà văn gắn liền với hiện thực đời sống, có thể chọn những dẫn chứngnhư sau:
“Không chỉ ngồi để chờ hiện thực đến với mình, các nhà thơ cần tìm hiện thực, đi đểlấy tư liệu cho trang viết:
Nay cành nhãn non Đoài, mai vườn cam xứ Bắc
Mật ngọt ở đồng bằng mà hút nhụy tận miền Tây
Trang 18Trong chuyến đi thực tế tại vùng biển Hạ Long, Huy Cận có “Đoàn thuyền đánh cá”,Nguyễn Thành Long cũng có cho văn chương một “Lặng lẽ Sa Pa” Khi Chế LanViên không có dịp đi lên Tây Bắc nhưng lại có những vần thơ tuyệt hay trong Tiếnghát con tàu:
Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hóa những con tàu
Khi tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu
Trong thơ ca cũng có hiện tượng lạ Nguyễn Chẩn đi viết hay, Bạch Cư Dị không điviết lại hay hơn Bài thơ “Con tàu xay” của Ranban được viết khi tác giả chưa đibiển Ở đây cũng vậy, lúc làm “Tiếng hát con tàu”, Chế Lan Viên chưa lên Tây Bắc.Phải chăng làm thơ “chính là nói, là viết về cái điều tỏa ra trước thực tế chứ khôngphải bằng bản thân thực tế: không có thực tế thì không có cái tỏa ra đó” (Chế LanViên) Nhà thơ không những phải gắn quá trình sáng tạo với thực tế mà còn là với trítưởng tượng càng sâu, càng đượm, càng hay.”
Trên đây là một số gợi ý trong việc chọn dẫn chứng mới mẻ, đặc sắc Trong quátrình làm bài, học sinh có thể có những sáng tạo riêng Để làm được điều đó, họcsinh cần trau dồi, tích lũy kiến thức sâu rộng, đa dạng và phong phú Cần có ý thứcchọn dẫn chứng tinh, đắt để làm tăng hiệu quả và tính thuyết phục cho bài viết
2. Rèn luyện kỹ năng phân tích dẫn chứng
Trong quá trình thực hiện bài văn nghị luận văn học, tùy vào mục đích, yêucầu của đề bài, học sinh sẽ lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp Và tương ứng vớicác thao tác lập luận đó là các cách triển khai dẫn chứng Ví dụ như khi thực hiệnthao tác lập luận chứng minh hoặc thao tác lập luận phân tích, cần phải phân tích dẫnchứng một các cụ thể để làm sáng tỏ vấn đề:
Trước hết "Độc Tiểu Thanh ký" là tiếng nói tri âm của một cá nhân dành cho một cá nhân Nguyễn Du thấu hiểu nỗi khổ của Tiểu Thanh - người con gái sống khác dân tộc, khác thời đại Có một khoảng không gian và thời gian diệu vợi, hun hút cách ngăn hai người nhưng chính văn chương đã xoá nhoà khoảng cách địa lý, biên giới lịch sử để họ tìm đến với nhau Nguyễn Du xót thương cho cảnh ngộ của nàng:
"Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư."
Trang 19Bài thơ mở đầu bằng câu thơ nói về quy luật nghiệt ngã của cuộc đời Dòng đời lạnh lùng chảy trôi, cuốn theo bao con người, bao số phận, tàn phá bao cảnh sắc Hồ Tây xưa đẹp đẽ, rực rỡ là thế, giờ chỉ còn là một đống đất hoang lạnh, vắng
vẻ, tiêu điều Một sự biết đổi thật ghê gớm! Tận” nghĩa là biết đổi hết, sạch trơn Cảnh xưa đã không còn Câu thơ nghe ngậm ngùi, thoáng gợi sự đời dâu bể
"thương hải biết vi tang điền" hay xót xa nỗi niềm "thế gian biến đổi vũng nên đồi" trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm Đó là quy luật của tự nhiên, sao ta không khỏi day dứt? Bởi lẽ cũng với sự đổi thay ấy, là sự ra đi của kiếp người, đời người Tiểu Thanh nàng hỡi, sự hiện diện của nàng trên cõi đời này còn gì đâu nếu không còn những vần thơ sót lại Nhưng may thay những vần thơ ấy - tấc lòng của nàng đã đến được với bến bờ tri âm - ấy chính là Nguyễn Du.” (Trích bài văn đạt giải nhất kì thi
"Nước biết trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào"
Vầng trăng cứ thế giãi lên thềm, cứ lọt qua song cửa, nơi giao lưu của tinh thần Trăng với người đồng cảm, đồng điệu, nhưng tình cảm ấy cũng có cái gì đó lẵng lẽ Vầng trăng vẫn còn mang vẻ tự nhiên của tạo vật không lời.
Đến Xuân Diệu, trăng như có linh hồn, có tâm tư, trăng cũng thấm thía nỗi cô đơn: ‘Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ” Có thể nói, lòng yêu thiên nhiên của Xuân Diệu mang cái đắm say của một hồn thơ khao khát sống, khao khát yêu đương mãnh liệt (Trích bài văn đạt giải nhất kì thi HSG QG bảng A năm 1998)
Khi thực hiện thao tác lập luận bình luận, học sinh có thể liệt kê những nét tiêu biểunhất của một số dẫn chứng để lời đánh giá có sức thuyết phục:
Trang 20Hiện thực cuộc sống là rộng lớn, là vô cùng Và mỗi nhà văn với chiếc xẻng nghệ thuật trong tay mình đã đào xới một mảnh đất để lật lên những vỉ hiện thực và tìm cho mình thế giới hình tượng trong đó Nếu như Vũ Trọng Phụng xuất sắc ở mảng
đề tài về cuộc sống thành thị của xã hội "chó đểu", nếu như Nguyễn Công Hoan tài năng trong việc khắc học bức trạnh thế giới quan lại khả ố, bất lương và Nam Cao rực rỡ trong những sáng tác về người nông dân và trí thức tiểu tư sản thì Thạch Lam lại hướng ngòi bút vào cuộc sống của những người ở tầng lớp dân nghèo với những khám phá tinh vi về thế giới nội tâm, đời sống tinh thần bên cạch những nỗi khổ "áo cơm ghì sát đất" (Trích bài văn đạt giải nhì kì thi HSG QG bảng A năm
2000)
Như vậy, việc triển khai chứng trong bài văn nghị luận cần được thực hiệnmột cách linh hoạt Một học sinh giỏi văn không chỉ biết cách tìm tòi, chọn lọc cácdẫn chứng tinh tế, đắt giá để đưa vào bài viết mà quan trọng hơn là, cần phải biếtcách sử dụng hệ thống dẫn chứng đó một cách phù hợp, hiệu quả và sáng tạo Đểlàm được như vậy, học sinh cần cả một quá trình rèn luyện kỹ năng với sự hướngdẫn của thầy cô Trong khuôn khổ của chuyên đề này, chúng tôi không bàn về việcrèn luyện tất cả các kỹ năng triển khai dẫn chứng trong bài văn mà chỉ đề cập đến kỹnăng phân tích dẫn chứng
Phân tích dẫn chứng là thao tác chia tách dẫn chứng thành các yếu tố bộ phậntheo các tiêu chí, mục đích nhất định, từ đó tìm ra đặc điểm, bản chất của dẫn chứngđược nêu Khác với các thao tác liệt kê hoặc đối sánh các dẫn chứng, việc phân tíchdẫn chứng đòi hỏi người viết không chỉ nắm bắt và chọn lựa đúng dẫn chứng mà cònphải trình bày cảm thụ sâu sắc, tinh tế Vì thế trong các kỹ năng triển khai dẫnchứng, kỹ năng phân tích dẫn chứng đòi hỏi sự rèn luyện công phu hơn cả Để vậndụng tốt kỹ năng này, học sinh cần có nền tảng kiến thức văn học tốt, có sự nhanhnhạy, sắc sảo trong cảm thụ văn chương, có năng lực diễn đạt trôi chảy giàu cảmxúc…
Kỹ năng phân tích dẫn chứng có thể được thực hiện với các thao tác sau:2.1. Phân tích nghệ thuật để làm nổi bật nội dung
Trong bài văn nghị luận văn học, để giải quyết triệt để vấn đề do đề bài đặt ra,bên cạnh hệ thống lí lẽ, luận điểm sắc sảo, khoa học, học sinh giỏi văn cần chọn cho
Trang 21mình những dẫn chứng trọng tâm- hay còn gọi là dẫn chứng bắt buộc Chính các dẫnchứng này là căn cứ xác đáng nhất để các lí lẽ và luận điểm có thể “đứng vững”.Cách triển khai các dẫn chứng này thường là sự phân tích tỉ mỉ, chặt chẽ Do đó, họcsinh có thể áp dụng thao tác phân tích nghệ thuật để làm nổi bật nội dung
Nghệ thuật và nội dung được ví như hai mặt của một tờ giấy, luôn hòa quyện trongnhau để cấu thành nên tác phẩm văn học- một chỉnh thể nghệ thuật Khi tiếp nhậnmột tác phẩm, bạn đọc sẽ cùng lúc tiếp nhận các yếu tố nghệ thuật và nội dung Tuynhiên trong thao tác đọc hiểu tác phẩm, học sinh phổ thông thường được hướng dẫntiến hành khám phá tác phẩm từ phương diện nghệ thuật để từ đó nắm rõ các tầng ýnghĩa nội dung
2.2. Bày tỏ cảm xúc cá nhân
Khi viết một bài văn nghị luận văn học, học sinh – đặc biệt là học sinh giỏi- sẽ
tự mình đi trên một chuyến hành trình của tư duy và cảm xúc Các em tư duy đểnhận diện vấn đề nghị luận, triển khai các vấn đề đó một cách khoa học và thuyếtphục Các em cũng cần “năng lượng của cảm xúc” để thực sự say mê trong thế giớivăn chương, cảm nhận các dẫn chứng theo “gu” thẩm mỹ của riêng mình Vì thế, khiphân tích dẫn chứng, học sinh có thể phân tích bằng cách bày tỏ cảm xúc cá nhân vềdẫn chứng
Ví dụ 1: khi phân tích dẫn chứng về chi tiết hai chị em Việt và Chiến mang bàn thờ
má sang gửi nhà chú Năm (Những đứa con trong gia đình), học sinh có thể viết nhưsau:
Đoạn hai chi em Việt khiêng bàn thờ ba má sang nhà chú Năm gửi để đi bộ đội thật cảm động, nó để lại trong lòng ta biết bao rung động, tình cảm ngọt ngào:
“Nào, đưa ba má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má” Câu văn như nghẹn ngào mà lại chứa chan biết bao nhiêu sự quyết tâm và tình cảm yêu thương trong trái tim của hai chị em Chiến và Việt Hình ảnh của Chiến và Việt hiện lên trong trang viết Nguyễn Thi thật xúc động, neo lại trong tâm hồn ta vừa ngạc nhiên vừa như ngỡ ngàng vì vẻ đẹp của con người Việt Nam một thuở (Bài