1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

V08 rèn kỹ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận văn học dành cho học sinh giỏi ngữ văn

71 150 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 103,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHUYÊN ĐỀ CỤM DH VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 2019ĐỀ TÀI: RÈN KỸ NĂNG CHỌN VÀ PHÂN TÍCH DẪN CHỨNG TRONG BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC DÀNH CHO HỌC SINH GIỎI VĂN Đối với học sinh giỏi văn, tạo lập được n

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ CỤM DH VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 2019

ĐỀ TÀI: RÈN KỸ NĂNG CHỌN VÀ PHÂN TÍCH DẪN CHỨNG TRONG BÀI NGHỊ

LUẬN VĂN HỌC DÀNH CHO HỌC SINH GIỎI VĂN

Đối với học sinh giỏi văn, tạo lập được những bài văn nghị luận đặc sắc có sức thuyếtphục cao luôn là đích đến nhưng cũng là một thử thách không nhỏ Suy cho cùng, quá trìnhbồi dưỡng năng lực viết văn cho học sinh giỏi là quá trình nâng tầm các em: từ viết đúng sangviết hay; từ viết bản năng (có gì viết nấy) sang lối viết có kĩ thuật, có tính toán tới phương ánhiệu quả tối ưu Vì thế, việc rèn giũa một hệ thống kĩ năng trong đó có kĩ năng chọn và phântích dẫn chứng là một điều rất quan trọng Nếu nói tương lai sẽ thuộc về những người nắmđược phương pháp thì cũng có thể nói tương lai cũng thuộc về những người nắm chắc kĩnăng Trong đó, kĩ năng chọn và phân tích dẫn chứng là điểm cốt yếu mà học sinh cần thựchiện nhuần nhuyễn

Trên thực tế, khi triển khai một bài nghị luận văn học của học sinh giỏi, xác định đượcvấn đề, xây dựng được hệ thống lý lẽ đã là một công đoạn khó, nhưng để thuyết phục đượcngười đọc, tạo bản sắc cho người viết lại không dễ dàng Trong đó, kỹ năng huy động, lựachọn dẫn chứng, phân tích dẫn chứng như thế nào cho đúng cho hay lại luôn là thử thách vớingười làm văn Nhiều bài văn đã không đạt kết quả khi thực hiện kỹ năng này thiếu tínhthuyết phục Không ít giáo viên cũng thấy lúng túng trong quá trình hướng dẫn học sinh rènluyện kỹ năng này Hiện tượng người học văn nhiều, người làm văn không hiếm, nhưngngười viết văn giỏi lại “như lá mùa thu”

Trang 2

Từ những lý do trên, chúng tôi thấy rằng, nghiên cứu và đưa ra những giải pháp rèn kỹnăng lựa chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận văn học cho học sinh giỏi văn làviệc có ý nghĩa quan trọng và thiết thực để nâng tầm bài viết, nâng cao chất lượng dạy và họcmôn văn chuyên ở trường THPT

2 Mục đích, ý nghĩa của đề tài

Để xây dựng một cách hệ thống những cách thức rèn kỹ năng chọn và phân tích dẫnchứng trong bài văn nghị luận cho học sinh giỏi văn, đề tài hướng đến:

- Xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn có tính nền tảng cho việc triển khai vấn đề

- Đề xuất các giải pháp cụ thể để rèn kỹ năng chọn và phân tích dẫn chứng

- Cung cấp một số minh chứng tiêu biểu có ý nghĩa như một tài liệu học tập hữu íchcho người làm văn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Chọn và phân tích dẫn chứng là một trong những kỹ năng quan trọng cần phải rèn

luyện cho học sinh ngay từ khi còn học phổ thông Kỹ năng này gắn với thực tế học tập vàhoạt động của người học trong một diện không gian, thời gian rộng lớn, lâu dài Riêng bộmôn Ngữ văn, với quá trình tạo lập bài văn, dù là nghị luận xã hội hay nghị luận văn học, họcsinh chuyên hay không chuyên đều nên xem đây là một kỹ năng thực sự cần thiết Trong giớihạn triển khai của đề tài, chúng tôi đặc biệt khảo sát với đối tượng học sinh giỏi văn, trongphạm vi viết bài văn nghị luận văn học của học sinh giỏi chuyên

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này, chúng tôi lựa chọn và sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơbản sau:

- Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết

- Phương pháp phân tích và tổng hợp

- Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm

Trang 3

B NỘI DUNG

I Tầm quan trong của dẫn chứng trong bài nghị luận văn học của học sinh giỏi

1 Đặc điểm bài nghị luận văn học của học sinh giỏi

Bài văn nghị luận là một kiểu văn bản mà người viết chủ yếu sử dụng lí lẽ, dẫn chứng,lập luận nhằm xác lập, thuyết phục người khác về một quan điểm, tư tưởng nhất định Bàinghị luận văn học là một dạng nghị luận mà các vấn đề đưa ra bàn luận thuộc phạm vi vănhọc sử, lí luận văn học hoặc các khía cạnh trong tác phẩm văn chương

Bài nghị luận văn học (NLVH) của học sinh giỏi là một sản phẩm đặc biệt được kếttinh từ trí tuệ, tâm hồn của người học văn, được tạo lập trong quá trình tiếp nhận, học tập vànghiên cứu văn chương So với bài viết của học sinh phổ thông thì bài NLVH của học sinhgiỏi được nâng lên ở một cấp độ cao hơn, được khẳng định trên thang giá trị của làm văn, bàivăn

Những đặc điểm riêng trong bài NLVH của học sinh giỏi được thể hiện ở các phươngdiện sau:

Về bố cục, kết cấu: giống như bài nghị luận thông thường, bài NLVH của học sinh giỏi

cũng đảm bảo 3 phần: Mở bài, Thân bài và Kết bài Tuy nhiên, Mở và Kết trong bài viết củahọc sinh giỏi không chỉ làm nhiệm vụ giới thiệu và kết thúc vấn đề nghị luận mà còn phải tạođược hứng thú, sức hấp dẫn, tình huống có vấn đề cho người đọc, người nghe Hệ thống luậnđiểm, luận cứ trong phần thân bài được sắp xếp với bố cục hợp lí, khoa học, có tính sáng tạo

và mang tính thuyết phục cao

Về nội dung kiến thức: bài NLVH của học sinh giỏi không chỉ đảm bảo đúng yêu cầu

của đề, người viết cần phải thể hiện được vốn kiến thức vừa chắc chắn, phong phú, uyên bác,sâu sắc về các tác phẩm văn học, các tác giả, các hiện tượng trong lịch sử văn học, các phạmtrù lí luận… vừa mang đến những phát hiện có tính mới mẻ

Về kĩ năng lập luận: bài NLVH của học sinh giỏi thể hiện khả năng vận dụng nhuần

nhuyễn, hiệu quả các thao tác lập luận giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ, sosánh Lí lẽ sắc sảo và dẫn chứng lựa chọn tiêu biểu, mới mẻ; đảm bảo cả về lượng và chất;phân tích dẫn chứng sáng tỏ, sâu sắc - được phối hợp chặt chẽ, logic làm sáng tỏ, sâu sắc vấn

đề nghị luận, tạo tính thuyết phục cao

Trang 4

Về hành văn: bài NLVH của học sinh giỏi thường tạo được giọng điệu riêng, dùng từ

độc đáo, viết câu linh hoạt, diễn đạt có hình ảnh Bên cạnh phương thức biểu đạt chính lànghị luận, học sinh giỏi văn thường biết vận dụng linh hoạt, thông minh phương thức biểucảm, thuyết minh, tự sự… khiến cho bài văn tạo được sức truyền cảm, hấp dẫn đối với ngườiđọc

Có thể nói, bài NLVH của học sinh giỏi là một “tác phẩm” của người học, vừa khoa

học, sâu sắc lại vừa sáng tạo và giàu chất văn Những bài viết đó tựa như một “thứ quả ngọt” được kết trái sau những ngày gieo trồng, vun xới; như “bông lúa vàng” trĩu hạt sau những

ngày vỡ đất, cày ải, bón chăm… trên cánh đồng văn chương mà người học văn muốn có,người dạy văn muốn hái và người yêu văn muốn thưởng thức

2 Dẫn chứng và vai trò của của dẫn chứng trong bài NLVH của học sinh giỏi

2.1 Dẫn chứng trong bài NLVH của học sinh giỏi

Dẫn chứng là những sự vật, sự việc, số liệu, ý kiến… rút ra từ thực tế hay từ sách vở đểthuyết minh cho ý kiến, nhận định, đánh giá trong nghị luận Trong nghị luận văn học đó cóthể là những nhận định, ý kiến bàn về văn học Đó có thể là những câu văn, câu thơ đượctrích dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp Hay dẫn chứng có thể là một hình tượng nghệ thuật

Dẫn chứng được sử dụng trong bài NLVH của học sinh giỏi thường chia thành 3 loại:dẫn chứng bắt buộc, dẫn chứng tự chọn và dẫn chứng mở rộng (liên hệ so sánh)

2.2.Vai trò của dẫn chứng trong bài NLVH của học sinh giỏi

a Dẫn chứng là mắt xích quan trọng trong mạch lập luận, thể hiện tư duy sắc bén người làm văn

Bản chất cốt lõi của văn nghị luận chính là cách thức người viết sử dụng lí lẽ để thuyếtphục người khác Vì vậy luận điểm, luận cứ phải có sự liên kết, xâu chuỗi chặt chẽ theo mộtquan điểm nhất định để người đọc hiểu và tin ở những vấn đề mà người viết muốn hướng tới.Với bài NLVH của học sinh giỏi, tính tư duy logic càng được thể hiện rõ Vì vậy, lập luậnphải có lí lẽ, dẫn chứng phải cụ thể, xác thực, người viết phải có năng lực trình bày, phântích, đánh giá làm sáng tỏ mục đích nghị luận

Hai thành tố quan trọng làm nên quá trình lập luận đó là luận điểm, luận cứ Luận điểm

Trang 5

của lập luận được khẳng định và nhấn mạnh Luận cứ là những lí lẽ và dẫn chứng làm cơ sởcho luận điểm Luận điểm sẽ được cụ thể hóa trong luận cứ hoặc luận điểm có thể được rút ra

từ lí lẽ và dẫn chứng Trong đó luận cứ lại bao gồm lí lẽ và dẫn chứng có quan hệ mật thiết và

hỗ trợ lẫn nhau Quá trình tư duy thông thường sẽ đi từ những dẫn chứng cụ thể kết hợp với lĩ

lẽ sau đó mới hình thành nên luận điểm Khi đó quá trình tư duy được sắp xếp, có sự chuẩn bị

để hình thành văn bản Ngược lại trong quá trình viết bài văn nghị luận, người viết thườngnêu luận điểm trước, sau đó dùng luận cứ để chứng minh Dù phát triển vấn đề nghị luận theohướng nào thì luận điểm đều có tác dụng thâu tóm luận cứ và luận cứ là nền tảng, cơ sở đểhình thành luận điểm

Vì vậy, trong bài NLVH của học sinh giỏi, luận cứ, luận chứng càng chân thực, điểnhình, phong phú thì mối liên hệ logic giữa nó với luận điểm càng chặt chẽ, càng thể hiện nănglực lập luận của người viết Xét về ý nghĩa đó, mức độ sâu sắc của luận cứ tỉ lệ thuận vớimức độ được chứng minh của luận điểm Tức là luận cứ mạnh thì luận điểm thuyết phục, luận

cứ yếu thì luận điểm mờ nhạt

Ví dụ:

Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du đã viết Truyện Kiều bằng cả trái tim và tâm hồn mình Ông đã thương cho nỗi đau đời của người con gái “pha nghề thi hoa đủ mùi ca

ngâm” ấy, khi đứt ruột trao đi mối tình đầu của mình Duyên đã trao mà tình không dứt, đó

là bi kịch của tình yêu “giữa đường đứt gánh” của Thúy Kiều và Kim Trọng Ông còn đau đáu, tủi hờn cho số phận của nàng khi sống ở lầu xanh nhục nhã, ê chề với nỗi cô đơn cùng cực, không thể san sẻ cùng ai, một mình mình biết, một mình mình hay.

“ Vui là vui gượng kẻo là

Ai tri âm đó, mặn mà với ai”

Đó không chỉ là những lời giãi bày, lời than của Thúy Kiều mà dường như còn là tiếng nói tình cảm của cụ Nguyễn Mộng Liên Đường từng nói “Nguyễn Du viết Truyện Kiều như

có máu rỏ trên đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên trang giấy khiến ai đọc cũng phải xót xa, ngậm ngùi, đau đớn như đứt từng khúc ruột” Phải nhập thân vào nhân vật thế nào, phải có trái tim đau đời, đau người như thế nào, cảm xúc phải trào dâng như thế nào, Nguyễn Du mới viết được Truyện Kiều hay đến thế (Bài làm của học sinh)

Trang 6

Trong đoạn văn trên, câu in đậm là câu nêu luận điểm Các câu còn lại là luận cứ đượchuy động để làm sáng tỏ luận điểm Luận điểm đó có được sự đồng thuận hay không phụthuộc vào lí lẽ và dẫn chứng sau đó Cách nêu dẫn chứng theo lối trích dẫn nguyên văn câuthơ hoặc lồng ghép một số ý thơ tiêu biểu một cách đa dạng và linh hoạt Người viết đã khéoléo sử dụng những dẫn chứng điển hình cho những bi kịch cuộc đời của nàng Kiều cũng như

tâm sự tấm lòng của Nguyễn Du gửi gắm qua tác phẩm Cách dẫn dắt “không những … mà

còn” giúp dẫn chứng được nêu ra một cách phong phú Đồng thời người viết còn kết lại bằng

câu nói của Mộng Liên Đường nhằm nhấn mạnh tính đúng đắn của luận điểm Đây là cáchviết có tiền đề, kết đề chặt chẽ

Luận cứ lí lẽ và luận cứ dẫn chứng thường được trình bày đan xen nhau Quan hệ giữahai loại luận cứ này là quan hệ tương hỗ Lí lẽ được sáng tỏ thông qua dẫn chứng và ngượclại, dẫn chứng chứng minh tính đúng đắn của lí lẽ Lí lẽ được trình bày theo các thao tác nghịluận (giải thích, chứng minh, phân tích…) và quy luật logic (quan hệ tương phản, nguyênnhân - kết quả, điều kiện - kết quả…) Dẫn chứng được trình bày theo nhiều cách: dẫnnguyên văn cả câu, cả đoạn hoặc một văn bản ngắn; trích dẫn nguyên văn, trích dẫn một số

từ, tóm lược ý chính Cách trình bày lí lẽ và dẫn chứng phải có sự kết hợp linh hoạt với nhau

để tạo nên tính hợp lí và hoàn chỉnh Mỗi cách trình bày luận cứ đều thể hiện một ý thức tổchức, lựa chọn và sắp xếp của người viết Trình bày luận cứ góp phần không nhỏ vào việc thểhiện ý đồ lập luận trong bài văn nghị luận

b Dẫn chứng thể hiện vốn kiến văn sâu rộng, lối viết văn phóng khoáng góp phần mở rộng biên độ ý nghĩa của bài viết

Dẫn chứng là sự tổng hợp và chắt lọc những kiến thức của người viết Trong quá trìnhlàm bài người viết phải huy động và xử lý vốn kiến thức này Vì vậy vốn kiến văn càng sâurộng, dẫn chứng trong bài làm càng phong phú, mới mẻ, sâu sắc, càng thể hiện rõ năng lựccủa người học văn

Đối với học sinh giỏi, yêu cầu dẫn chứng phải thực sự phong phú thì mới có thể chủđộng, mạnh dạn, phóng khoáng trong bài viết Ngược lại vốn dẫn chứng nghèo nàn, ít ỏikhiến bài văn trở nên khô khan, không có tính cụ thể để từ đó khái quát nên luận điểm của

Trang 7

khuôn ép dẫn chứng sao cho phù hợp với luận điểm bài viết vì thế luận cứ đưa ra trở nênkhiên cưỡng

Ví dụ:

Đề bài: “Nghệ thuật chỉ làm nên câu thơ, trái tim mới làm nên thi sĩ” (Andre Chenien).

Qua tác phẩm văn học trung đại đã học, anh/ chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên

Học sinh đã lấy ra được những ý kiến khác nhau của các nhà văn nổi tiếng trong nước

và ngoài nước, phương Đông và phương Tây làm dẫn chứng, để dẫn dắt, đối chiếu và khẳngđịnh vấn đề một cách toàn diện hơn:

Lỗ Tấn - một nhà văn Trung Quốc đã từng nói rằng: “Chuyện văn chương muôn đời vẫn thế, được hay mất cốt ở tấm lòng” Hay Nguyễn Du - một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn cũng từng khẳng định: “Thiện căn ở tại lòng ta/ Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” Phải chăng, cả Lỗ Tấn, cả Nguyễn Du đều muốn khẳng định vai trò, tầm quan trọng của tình cảm, cảm xúc trong thơ Và ta cũng thấy được sự giao thoa đồng điệu trong tâm hồn của những người nghệ sĩ phương Đông với nhà thơ phương Tây - Andre Chenien “Nghệ thuật chỉ làm nên câu thơ, trái tim mới làm nên thi sĩ”.(Bài làm của học sinh)

Bằng vốn hiểu biết sâu rộng, học sinh đã tìm ra những điểm chung trong tâm hồn củangười nghệ sĩ muôn đời không phân biệt ranh giới quốc gia dân tộc:

Tâm hồn nhà thơ chính là cửa ải để hiện thực cuộc sống bước vào trong thơ Bằng trải nghiệm của lòng mình, bằng sự nhập thân giữa nhà thơ với cuộc đời, chính hương phấn cuộc đời và tâm hồn nhà thơ đã giao thoa mà làm nên nghệ thuật Trên đỉnh núi Ôđense kì diệu, nơi có những vòm hoa thạch thảo tim tím nên thơ, Andersen đã nhặt lấy những hạt giống trên luống đất của người dân chài mà dệt lên những bài ca bất diệt Những phù sa của một dòng sông Mississippi miền tây nước Mĩ đã bồi đắp, bồi đắp mãi cho trang văn Mark Twain Để rồi bây giờ hơi ấm và chất mặn nồng của con người miền Tây vẫn ám ảnh ta, gợi cho ta nhớ

về những chuyến phiêu lưu, những con người ưa mạo hiểm Cả Anđersen, cả Mark Twain đều tìm đến với cuộc đời, một cuộc đời mà mình gắn bó yêu thương để làm nên các tác phẩm bất hủ Và Nguyễn Du cũng vậy, ông đã từng rung lên vì xã hội đương thời lúc bấy giờ, một

xã hội rối ren, bế tắc, xã hội đồng tiền Như Chế Lan Viên trong bài “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng” đã từng viết về thời đại Nguyễn Du sống:

Trang 8

“Ông cha ta từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khóa

Những pho tượng chùa Tây Phương không biết cách trả lời

Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ”

(Bài làm của học sinh)

Ví dụ: khi phân tích về cuộc chia ly giữa “mình – ta” trong đoạn trích Việt Bắc của Tố Hữu,

học sinh có sự liên tưởng đến những cuộc chia ly trong ca dao, trong Truyện Kiều, trong

những cuộc chia ly của văn học cách mạng khác để từ đó thấy được tính dân tộc cũng nhưgiọng điệu riêng của Tố Hữu:

Cuộc ra đi của người lính cách mạng bỗng hóa yêu thương quyến luyến như chinh phu – chinh phụ, chàng – thiếp của những ngày xưa Và đã là những cuộc chia li, thì trong văn học dường như ít ai không mượn đến hình ảnh cái khăn, cái áo Ngay từ ca dao:

“Áo xông hương chàng vắt mắc Đêm em nằm, em đắp dành hơi”

đến cả cuộc chia li của nàng Kiều với chàng Thúc năm xưa “người lên ngựa, kẻ chia bào” Ấy thế mà, cái áo trong thơ Tố Hữu vẫn có điểm mới Không phải áo xông hương, áo bào sang trọng mà là chiếc áo chàm Nếu chỉ hiểu đơn giản là sắc áo dân tộc, cũng đúng, nhưng lại hạ thấp giá trị của câu thơ đi Chàm là màu không phai khó nhạt Ta mượn cái màu áo chàm để nói cái sắc lòng thủy chung son sắt của những người Cách mạng -ấy mới là cách đánh giá đúng câu thơ.Và ngay cả cái cầm tay cũng quen thuộc quá:

“Nhủ rồi tay lại cầm tay Bước đi một bước, giây giây lại dừng”

(Chinh phụ ngâm)

“Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”

(Đồng chí) Nhưng cái cầm tay của Tố Hữu là tình quân dân vẫn thật chặt Và cái dấu ba chấm – khoảng nặng vô ngôn mà dư tình trong thi ca, cũng đã diễn tả sự “biết nói gì hôm nay” – sự quyến luyến, bồi hồi trong phút chia tay của những người đã quá mực thân quen Đó chính là

Trang 9

(Bài làm của học sinh)

Vì vậy, biết sử dụng những dẫn chứng để liên hệ, mở rộng có hiệu quả đã thể hiện vốnkiến văn sâu rộng, sự miệt mài trau dồi kiến thức trong quá trình học văn

Tóm lại, dẫn chứng có vai trò vô cùng quan trọng trong bài NLVH của học sinh giỏi.Thông qua những dẫn chứng được sử dụng trong bài, ta sẽ đánh giá được tư duy, vốn kiếnthức, kĩ năng làm văn của người viết Xét đến cùng, năng lực sử dụng dẫn chứng ấy có được

là nhờ quá trình lựa chọn dẫn chứng xác đáng, phân tích dẫn chứng hiệu quả, xâu chuỗi dẫnchứng hợp lí, tạo thành một mạch chung có tính hệ thống làm cơ sở cho lập luận, làm sáng tỏluận điểm trong bài viết Cho nên, đề cao vai trò của dẫn chứng, chính là đề cao vai trò của kĩnăng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài NLVH nói chung và NLVH của học sinh giỏi nóiriêng

II Những lỗi học sinh hay mắc phải khi chọn và phân tích dẫn chứng trong bài NLVH của học sinh giỏi

1 Lỗi sai khi chọn dẫn chứng

- Lựa chọn dẫn chứng sai

Dẫn chứng sai hay là dẫn chứng được lựa chọn không phù hợp với luận điểm Luậnđiểm một đằng, dẫn chứng lại nêu một kiểu Hoặc dẫn chứng đưa ra nhưng lí lẽ phân tích lạikhông chứng minh cho ý nghĩa của luận điểm một cách tốt nhất Dẫn chứng dù hay đến đâu

mà không có mối liên hệ logic bản chất với luận điểm được nêu trước đó cần chứng mình thìcũng không có giá trị

Nguyên nhân lựa chọn dẫn chứng sai xuất phát từ việc học sinh không hiểu rõ luậnđiểm mà mình nêu ra dẫn đến sự vênh lệch giữa dẫn chứng và luận điểm Khi chưa hiểu vấn

đề lí luận được nêu ra, giải thích chưa trọn vẹn, học sinh dễ rơi vào lỗi lấy dẫn chứng tùy tiện,thiếu mục đích rõ ràng Cũng có thể là do vốn dẫn chứng còn hạn hẹp nên không có sự lựachọn phù hợp, học sinh học được gì thì đưa và dẫn chứng như thế Hoặc do học sinh tâm đắcvới dẫn chứng của mình, thấy dẫn chứng hay, độc đáo, mới mẻ nên muốn đưa vào bài làmcủa mình mà ít quan tâm đến sự phù hợp của nó với luận điểm

Lựa chọn dẫn chứng sai còn biểu hiện ở việc trích dẫn dẫn chứng nguyên văn nhưngkhông chính xác làm giảm đi độ tin cậy của dẫn chứng

Trang 10

Ví dụ:

Trái tim Nguyễn Du không ngừng đập những nhịp đập cùng thời đại, không chỉ đau nỗi đau thời thế, khóc cho nàng Tiểu Thanh, cũng đã có lúc trái tim ấy say cùng thiên nhiên tuyệt đẹp nơi bức tranh “Cảnh ngày xuân” trích “Truyện Kiều”:

“Ngày xuân con én đưa thoi

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Trái tim ông đã biết yêu, biết say trước bước chân nàng xuân trên trang Kiều Khung cảnh nhộn nhịp, náo nức “con én đưa thoi” Những cánh én chao liệng trên bầu trời ngày xuân mang hơi xuân, khí xuân ngập tràn và lòng ta đọc cũng thêm phần náo nức “Thiều quang” thứ ánh sáng tinh khôi mùa xuân chiếu rọi làm bừng sáng cả ngày xuân trong tiết tháng ba Ngày xuân có chín mươi nay đã ngoài sáu mươi đã sang tháng ba và xuân đương

độ đẹp nhất, căng tràn đầy sức sống Chẳng còn hơi lạnh vương vấn của mùa đông mà giờ chỉ còn sức sống mãnh liệt của cỏ cây mơn mởn: “Cỏ non xanh tận chân trời” Không gian bức tranh mùa xuân trải rộng ra mênh mông, bao la, không có khung không có đường viền, thảm cỏ xanh trải dài mãi Không một chữ nào tả gió nhưng hình như ta vẫn thấy cơn gió nô đùa trên ngọn cỏ đuổi nhau đến “tận chân trời” Chữ “tận” ở đây tôn lên sức sống mãnh liệt của nàng xuân tiết thanh minh Màu xanh của cỏ nổi bật, tràn trề sức sống Và trên nền cỏ xanh ấy là sắc trắng của hoa lê “Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” Chỉ một vài bông hoa lê tinh khiết, mang cái trong trẻo của mùa xuân cũng làm nổi bật bức tranh tráng lệ Nghệ thuật điểm xuyết chấm phá được sử dụng khéo léo Ấy là Nguyễn Du đã đặt mình vào tâm thế du xuân của chị em Thúy Kiều nên bức tranh thiên nhiên đã đẹp lại càng trở nên sống động tươi tắn và hình như có chút rạo rực với niềm vui phơi phới của hai nàng.

(Bài làm học sinh)

Ở đoạn văn này, học sinh đi từ nỗi đau thời thế đến tình yêu thiên nhiên của Nguyễn

Du để làm rõ cho luận điểm “trái tim làm nên người thi sĩ” chưa thật sự phù hợp Có thể thấy

rõ trái tim của người nghệ sĩ tập trung nhiều hơn ở tâm sự đồng cảm, yêu thương với thân

Trang 11

mình Vì thế khi phân tích dẫn chứng làm lí lẽ, học sinh chỉ tập trung vào làm rõ vẻ đẹp của

bức tranh mùa xuân qua các từ ngữ: “thiều quang”, “tận chân trời”, “trắng điểm” chứ chưa

thấy được tâm hồn của người thi sĩ Đây là lỗi thường xuyên bắt gặp trong bài làm của họcsinh khi áp đặt một đoạn phân tích có sẵn trước đó đã được học vào luận điểm mới nhưngkhông có sự phù hợp hoặc không khai thác để dẫn chứng trở nên phù hợp Học sinh chỉ phântích được cái hay cái đẹp của dẫn chứng mà không phục vụ cho việc chứng minh luận điểm

- Chọn dẫn chứng thiếu

Dẫn chứng được lựa chọn phải đầy đủ, phong phú Mục đích là chứng minh luận điểm

từ các góc độ khác nhau, tầng bậc khác nhau logic, hệ thống Dẫn chứng có thể không cầnnhiều nhưng phải toàn diện, đáp ứng được đầy đủ các khía cạnh của luận điểm Nếu luậnđiểm có hai vế mà chỉ nêu dẫn chứng và tập trung vào một vế của luận điểm sẽ dẫn đến mức

độ nặng nhẹ của lập luận không cân bằng Nếu dẫn chứng không đầu đủ còn khiến cho lậpluận trở nên phiến diện, thiếu căn cứ

Nguyên nhân là do học sinh bao quát được vấn đề để phân tách luận điểm rõ ràngthành cách tầng bậc, cấp độ Học sinh đưa ra quá nhiều dẫn chứng dẫn đến lộn xộn, khôngsắp xếp nên chỗ quá nhiều chỗ lại thiếu Ngược lại khi vốn hiểu biết của học sinh còn hạn chếthì học sinh cũng khó đưa ra được dẫn chứng đầy đủ

- Chọn dẫn chứng cũ mòn, vụn vặt

Dẫn chứng cũ mòn, vụn vặt lặp lại ở nhiều bài khiến người đọc không hứng thú Bàiviết vì thế không có điểm sáng, không có phát hiện mới nên ít giá trị Khi nói đến văn họcdân gian là dẫn ca dao, khi huy động kiến thức văn học trung đại là nhắc ngay Nguyễn Du

với Truyện Kiều tong những câu thơ rất quen thuộc Chẳng những không tạo được sự hấp dẫn

mà còn cho thấy người viết rất hạn chế đọc tài liệu và cập nhật kiến thức

2 Lỗi sai khi phân tích dẫn chứng

- Đưa dẫn chứng nhưng không phân tích

Trong nhiều bài viết, học sinh chỉ nêu dẫn chứng theo cách liệt kê mà không có sự kếthợp giữa dẫn chứng với lý lẽ để làm sáng rõ cho luận điểm

Nguyên nhân là do học sinh chưa biết cách khai thác hết giá trị của dẫn chứng Hay dohọc sinh chưa tiết chế, muốn có nhiều dẫn chứng nên nêu cho đầy đủ nhưng các dẫn chứng

Trang 12

lại giống nhau nên thành ra thừa thãi Hoặc nhiều học sinh muốn liên hệ giữa các tác phẩmnhưng lại thiếu thao tác so sánh để nâng cao và mở rộng vấn đề.

Ví dụ:

Chẳng phải đã hơn một lần ta thấy trái tim thi sĩ nó vườn thơ trung đại rung lên mãnh liệt hay sao? Một tiếng kêu thổn thức giữa Đèo Ngang đã hoá thành bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan tài năng đấy thôi:

“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”

Hay niềm vui khi bạn đến chơi nhà cũng biến thành bài thơ đặc sắc của cụ Tam Nguyên Yên Đổ:

“Bác đến chơi đây ta với ta”

Trái tim những người nghệ sĩ ấy đa sầu đa cảm lắm Những rung động , những bất chợt chạm khẽ mạch ngầm cảm xúc vô hình của trái tim với trái tim, trái tim với cuộc đời làm nên những tiếng thương cảm Từ mấy trăm năm có lẻ ta đã nghe Nguyễn Du khóc cho nàng Tiểu Thanh qua những dòng thơ “Độc Tiểu Thanh kí”:

“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư

Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”

(Bài làm của học sinh)Trong bài làm của học sinh mới chỉ nêu dẫn chứng mà thiếu phân tích để chỉ ra nhữngcảm xúc khác nhau trong tâm hồn người thi sĩ : đó là tình yêu quê hương đất nước ; tình cảmbằng hữu ; nỗi niềm thương cảm với những kiếp tài hoa

Trang 13

lòng nhân đạo ấy còn là một trái tim lớn, một tâm hồn vượt thời đại, con mắt ấy đã nhìn ra

và trân trọng những con người tạo ra giá trị tinh thần Chữ dùng của Nguyễn Du cũng hết sức điêu luyện “tẫn” chỉ một chữ thôi nhưng rất đắt giá Chỉ sự biến đổi, sự tàn phá của thời gian song là biến đổi đến tận cùng, cảnh đẹp Tây Hồ giờ đã hoá gò hoang Một mình Nguyễn

Du ngồi đây đọc những phần còn sót lại nơi trang viết của nàng Tiểu Thanh Từ chữ dùng công phu đến những câu thơ đối rất chỉnh: “Chi phấn hữu thần liên tử hậu/ Văn chương vô mệnh luỵ phần dư” Những câu thơ như những tiếng lòng nhức nhối chắt ra nơi đầu ngọn bút Nguyễn Du đã cảm, đau cho nỗi đau của một con người, của cả thời đại.

(Bài làm của học sinh)

Trong bài làm trên, học sinh sử dụng dẫn chứng về bài thơ Độc Tiểu Thanh kí để làm

sáng rõ cho tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du dành cho người con gái bạc mệnh và những

số phận tài hoa khác giống như mình Nhưng ở phần phân tích lí lẽ, học sinh lại lí giải cách

sử dụng từ ngữ đắt giá, cách sử dụng câu thơ rất chỉnh của tác giả Vì vậy lí lẽ nêu ra chưa

làm rõ được tấm lòng của Nguyễn Du theo đúng vấn đề nghị luận mà đề bài đưa ra : Nghệ

thuật chỉ làm nên câu thơ, trái tim mới làm nên thi sĩ

- Phân tích dẫn chứng sơ sài không tạo sức thuyết phục cho lí lẽ

Cách thức lập luận thông qua lí lẽ và dẫn chứng không cần thiết phải dài dòng nhưngphải đầy đủ, phân tích đúng trọng tâm dẫn chứng, tránh qua loa đại khái

Nguyên nhân do bản thân người viết chưa nắm vững dẫn chứng nên khai thác chưa sâuvấn đề Có thể do học sinh không có thời gian, hạn chế dung lượng nhưng lại mong muốnđưa nhiều dẫn chứng nên không khai thác hết được vấn đề

Ví dụ :

Không chỉ ở văn học trung đại Việt Nam, trong thơ Đường Trung Quốc ta cũng thấy một Đỗ Phủ với trái tim lớn khóc thương cho khắp mọi lớp người trong nhân gian đặc biệt là người phụ nữ Họ thường hiện lên với những bi kịch cuộc đời, là những người dân đen, nghèo túng, bị ngược đãi Như người vợ trẻ quần áo rách tả tơi trong “Thạch hào lại”, người vợ già trong “Thuý lão biệt”, người phụ nữ lỡ duyên bị người đời khinh bỉ trong “Phụ tân hành” hay thậm chí là vợ của chính mình trong “Nguyệt dạ”, “Giang khôn”, Đỗ Phủ

đã dùng trái tim nặng tình và tấm lòng nhân đạo sâu sắc để khóc cho những người phụ

Trang 14

nữ-những con người không được trân trọng trong xã hội tù túng, trọng nam khinh nữ Cả ở những vần thơ Hai-cư tinh tế ta cũng thấy trái tim lớn của những bậc thi nhân vĩ đại Ma-su-ô Ba-sô hay Yô-sa Bu-sôn cùng tình yêu thiên nhiên thể hiện qua những bài thơ không đề ngắn gọn, hàm súc cô đọng Mỗi bài thơ đều đậm chất lãng mạn, trữ tình với các hình ảnh thiên nhiên và tâm trạng con người trước thiên nhiên Bất cứ đâu trong vườn thơ trung đại không khó để ta có thể thấy những trái tim lớn làm nên những tác phẩm để đời, và chính nhờ có trái tim, những thi sĩ ấy , những người nghệ sĩ chân chính ấy đã tạo nên những vần thơ đích thực, nghệ thuật đích thực (Bài làm của học sinh)

Trong ví dụ trên, học sinh đưa ra nhiều dẫn chứng nhưng lại không phân tích cụ thểnhững dẫn chứng tiêu biểu, cần thiết Trong đó có nhiều dẫn chứng mới mẻ nhưng lại đượcphân tích chung chung, sơ sài vì thế khi mở ra theo chiều rộng, đoạn văn lại thiếu chiều sâu

Từ cơ sở lý luận và thực tế bài làm của học sinh trên đây, chúng tôi nhận thấy cần đềxuất và triển khai một số giải pháp để nâng cao kỹ năng chọn và phân tích dẫn chứng trongbài nghị luận văn học của học sinh giỏi

III Nâng cao kĩ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài NLVH của học sinh giỏi

1 Nâng cao kỹ năng chọn dẫn chứng trong bài NLVH của học sinh giỏi

1.1 Tích lũy dẫn chứng

a Tích lũy dẫn chứng thường xuyên

Vì sức mạnh của dẫn chứng ngang bằng lý lẽ, đôi khi còn mang tính thuyết phục caohơn lý lẽ trong bài làm văn của người học sinh, cho nên trước khi có một bài viết hay cầnchú ý đến việc lựa chọn dẫn chứng Để có thể lựa chọn được dẫn chứng phù hợp các yêu cầucủa bài NLVH, người viết phải có một gia tài dẫn chứng giàu có, phong phú Gia tài này hìnhthành thông qua việc đọc, phải đọc nhiều, ghi nhớ nhiều, phải có trong mình hàng ngàn vạnsách mới thâu về trong một vài bài viết mà thôi Phải có trong đầu hàng trăm câu thơ, mới cóthể chọn để trích một vài câu thơ thích hợp Phải sở hữu hiểu biết về nhiều tác phẩm hay, mới

có thể nhận ra giá trị của một tác phẩm đích thực Vì vậy, người viết phải học cách tích lũydẫn chứng thông qua việc đọc thường xuyên Sự trau dồi, tìm hiểu, ghi chép dẫn chứng từnhiều nguồn khác nhau trong quá trình tự đọc, tự mở rộng vốn kiến văn của mình là phẩm

Trang 15

nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Minh Châu qua truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, bài viết của học sinh giỏi văn cần phải biết liên hệ với những dẫn chứng khác trong truyện ngắn Bức

tranh, Bến quê, Mảnh trăng cuối rừng, tiểu thuyết Dấu chân người lính, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành… để thấy được sự vận động, phát triển trong cái nhìn hiện thực cuộc

sống và con người của tác giả qua các thời kì khác nhau Khi nghị luận về đoạn trích Việt Bắc

của tác giả Tố Hữu, học sinh giỏi phải có ý thức tìm tới để mở rộng dẫn chứng trong các bài

thơ khác trong tập thơ Việt Bắc, so sánh với các tập thơ khác như Từ ấy, Ra trận, Máu và

hoa…để thấy sự thống nhất và phát triển của đời thơ Tố Hữu trong mối quan hệ với cách

mạng dân tộc

b Tích lũy dẫn chứng một cách hệ thống, chính xác

Để có được dẫn chứng phong phú, để lựa chọn và vận dụng linh hoạt, huy động nhanhtrong quá trình triển khai bài viết, người viết cần có ý thức tích lũy dẫn chứng thường xuyênmột cách có hệ thống, theo cách thức của mình dưới sự hướng dẫn và đánh giá của giáo viên.Học sinh sẽ tích lũy dẫn chứng trong một cuốn sổ tay hoặc một file lưu trữ điện tử

- Để việc đọc và tích lũy không lan man, ôm đồm, học sinh sẽ được hướng dẫn danhmục tài liệu và tác phẩm cần đọc đối với mỗi yêu cầu kiến thức, mỗi chặng học tập

VD: Học về văn học trung đại Việt Nam, người học sẽ được giao nhiệm vụ đọc các tài

liệu: Giáo trình văn học trung đai VN, Thi pháp văn học trung đại, Văn học trung đại dưới

góc nhìn văn hóa, Thơ Nôm Đường luật, Văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam, Thơ văn Lý Trần dưới góc nhìn thể loại… Đọc để thấy: một cái nhìn khái quát về lịch sử VN thời phong kiến

với những ảnh hưởng như thế nào đến văn học; một hiểu biết về tính chất giao thoa giữa vănhọc với các lĩnh vực văn hóa, chính trị, tư tưởng của con người thời đại; một hình dung vềđặc trưng thi pháp giúp tiếp cận, giải mã các hiện tượng văn học trung đại; một hiểu biết tổngthể về đặc điểm một số thể loại đặc thù của văn học; những tác giả tiêu biểu với những đónggóp có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển của văn học …Những yêu cầu đọc này không chỉ giúpngười học nắm bắt về văn học trung đại, mà còn là sự chuẩn bị để trên nền kiến thức đó,người học sẽ huy động dẫn chứng để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận khi làm bài như: đặctrưng văn học, chức năng văn học, cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ,… Người học cũng sẽ

Trang 16

được gợi ý tự tìm kiếm tài liệu trên mạng hoặc từ những nguồn kiến thức khác để nâng khảnăng tự tích lũy thành một nhu cầu thiết thân

Học về tác giả Nam Cao, người học được giao nhiệm vụ đọc các tài liệu như: Tuyển

tập Nam Cao, Nam Cao tác giả, tác phẩm; Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam; Nhà văn hiện đại Việt Nam, chân dung và phong cách; Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn;…Đọc để: nắm bắt những ảnh hưởng thời đại, quê hương, gia đình, con người

đến văn nghiệp của Nam Cao; tạo vốn hiểu biết về tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nhàvăn trên các đề tài và thể loại khác nhau, ở những giai đoạn nối tiếp có sự thống nhất và biếnđối như thế nào; ghi nhớ những đánh giá, nhận xét của các nhà nghiên cứu về Nam Cao; thấynhững minh chứng cho các đặc điểm phong cách của nhà văn tài năng qua thế giới nghệ thuậtnhà văn sáng tạo nên Những yêu cầu trên vừa định hướng cho việc đọc tích lũy dẫn chứngvừa là gợi ý để học sinh có tinh thần chuẩn bị sẵn sàng khi bàn luận những vấn đề liên quanđến đánh giá về tác giả, thời đại văn học, phương pháp sáng tác; hay làm sáng tỏ các vấn đề

lý luận như: nhà văn và quá trình sáng tạo, chức năng văn học, phong cách nghệ thuật, tiếpnhận văn học, các quy luật của văn học,…

- Hành trình đọc là cả một quá trình dài, và sự tích lũy cũng như vậy Để tích lũy đượckhoa học, hệ thống, thuận lợi cho quá trình sử dụng dẫn chứng trong các bài viết thực hành,người học nên có sự phân loại theo các chủ điểm Dưới đây là một số gợi ý

+ Nhận định về văn học của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học, của chính các tácgiả văn học: về thơ, về văn xuôi, về các đặc trưng và chức năng văn học, về thiên chức ngườinghệ sĩ…

+ Đề tài: Thiên nhiên, chiến tranh, tôn giáo, tình yêu,

+ Chủ đề: tình yêu đất nước, tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình, chí hướng làm trai,tình cảm nhân đạo,

+ Hình tượng: người lính, người nông dân, hình tượng người trí thức phong kiến, hìnhtượng nhà nho ẩn cư, hình tượng trăng, dòng sông, sóng, biển,…

+ Kiểu sáng tác: cổ điển, lãng mạn, hiện thực,…

Trang 17

+ Mô típ: trong ca dao ( thân em, cây cầu, …); trong cổ tích ( hóa thân, ông Bụt bà

Tiên và phép màu, kết thúc, nhân vật chính được làm hoàng hậu hoặc phò mã con vua,…);

trong truyện hiện đại (người hóa vật, đồ vật,…)

+ Biểu tượng: trong văn học dân gian ( trúc –mai; mận- đào; trầu cau,…); trong vănhọc trung đại( những biểu tượng ước lệ tùng cúc trúc mai,…); trong văn học hiện đại ( sángtạo biểu tượng mang dấu ấn riêng của người nghệ sĩ ( thơ Hàn Mặc Tử, thơ Chế lan Viên,)

+ Quan niệm: về con người, về cái đẹp, về tôn giáo, về tình yêu, về lý tưởng

+ Cách miêu tả: thiên nhiên, con người, hiện thực đời sống

+ Chi tiết nghệ thuật cùng loại: trong thơ, trong văn xuôi

- Các ghi chép tích lũy đặc biệt chú ý dẫn nguồn chính xác

c Rèn kỹ năng xử lý dẫn chứng ngay trong quá trình tích lũy

Nguồn dẫn chứng mà người học có thể tiếp cận qua việc đọc là lớn rộng vô cùng, ngoàiviệc ghi chép theo định hướng, giáo viên sẽ gợi ý người học viết đoạn văn ngắn từ 3-5 câu đểtái hiện- bình giá dẫn chứng theo các định hướng hoặc theo sự chuẩn bị của người học chomột kiểu dạng đề nghị luận văn học nhất định Có thể tham khảo bảng tích lũy sau

- Tô Hoài: sở trường về

đề tài Tây Bắc và miềnnúi

- Cũng viết về những câuchuyện hàng ngày ngày nhỏnhen, lem luốc, bụi bặm củacuộc sống ở miền núi, nhưngcái hay của ngòi bút TH lạichính ở sự khai thác đậm đàphong tục văn hóa Tây Bắc

Đây cũng chính là nét bềnvững của trang văn Tô Hoàicòn mãi với thời gian Cóphải, mỗi nghệ sĩ khi tạo lậpcõi riêng trong thế giới nghệ

Trang 18

- Nam Cao: Đặc biệtquan tâm đến cuộc sốngcủa người trí thức, ngườinông dân trước cáchmạng

thuật chung đều có sở trườngriêng của mình?

- Xuất thân trong gia đìnhtrung nông từ một miền quênghèo lên thành phố lậpnghiệp, Nam Cao không chỉ

am tường mà còn có một gắn

bó máu thịt với miền quênghèo, với cuộc sống khốnkhó của người trí thức lay lắt

vì đói khổ Điều đó lý giải vìsao, trong sự nghiệp sáng tạocủa mình, Nam Cao đặc biệtviết nhiều, viết hay, để lạicho đời không ít tác phẩmxứng tầm kiệt tác về cuộcsống của người trí thức vànông dân trước cách mạng

- Gạt kỹ thuật ra khỏi phongcách của nhà văn, có nênchăng? Nhưng không thể phủnhận, đối với phong cáchnghệ thuật trước hết là vấn

đề cái nhìn, cái nhìn về cuộcsống và con người không aigiống ai

- Thế giới được tạo lập

không chỉ một lần Mỗi

- Khi người nghệ sĩ đem đếnmột cách nhìn độc đáo, một

Trang 19

lần người nghĩ sĩ độc đáo xuất hiện lại một lần thế giới được tạo lập-

Macxen Prut

cách nhìn riêng về thế giớithì nghĩa là anh ta đã đemđến những điều chưa bao giờ

có, chưa bao giờ thấy Nhờvậy, thêm một lần, thế giớiđầy kỳ thú được mở ra trongtâm trí bạn đọc, qua trangsách

- Thích một bài thơ, theo

tôi nghĩ, trước hết là thích một cách nhìn, một cách nghĩ, một cách xúc cảm, một cách nói, trước hết là thích một con người- Hoài Thanh

- Văn chính là người Cónghệ sĩ nào khi hoài thai mộtsinh mệnh nghệ thuật lạikhông gửi gắm vào đó mộtxúc cảm, một cách nghĩ,cách nhìn về cuộc đời mangđậm dấu ấn cá tính củamình? Vậy nên, thích mộtbài thơ, suy cho cùng là thíchmột con người vậy

1.2 Nâng cao kỹ năng chọn dẫn chứng trong bài NLVH của học sinh giỏi

Có được kho dẫn chứng phong phú rồi, điều quan trọng là lựa chọn như thế nào để bàinghị luận văn học được thuyết phục Đứng trước một đề văn, người viết cần đọc kỹ yêu cầu

đề, xác định được vấn đề nghị luận then chốt, hình dung được đường hướng lập luận, xácđịnh kiểu đề cũng như giới hạn phạm vi tư liệu cần huy động để lựa chọn dẫn chứng Khithực hành kỹ năng này, cần lưu ý những yêu cầu sau đây

a Chọn dẫn chứng đảm bảo tính mục đích làm sáng tỏ vấn đề nghị luận

Trang 20

Theo đặc điểm của đề văn nghị luận học sinh giỏi, có thể chia dẫn chứng thành ba loại,tương ứng với ba cách thức lựa chọn để đảm bảo tính mục đích khi sử dụng.

- Dẫn chứng bắt buộc: Là dẫn chứng nằm trong phạm vi yêu cầu của đề về tư liệu

Ví dụ: Đề thi HSGQG năm 2013

Trong tác phẩm văn học, sáng tạo nghệ thuật quan trọng, đặc sắc nhất, nhiều khi không phải ở hình tượng con người mà ở hình tượng đồ vật, sự vật: một thứ thuốc chữa bệnh quái lạ ( Thuốc- Lỗ Tấn; một bức thư pháp đẹp và quý ( Chữ người tử tù- Nguyễn Tuân), một công trình kiến trúc kỳ vĩ tinh xảo( Vũ Như Tô- Nguyễn Huy Tưởng), một cây đàn huyền thoại ( Đàn ghi ta của Lor-ca- Thanh Thảo), …Đó là những đồ vật, sự vật mang ý nghĩa biểu trưng cho nhận thức, nhân cách, ý chí, khát vọng, số phận,… của con người.

Ý kiến của anh/ chị về nhận định trên? Hãy phân tích hai trong những hình tượng đồvật, sự vật đã nêu để làm sáng tỏ ý kiến của mình

Vấn đề nghị luận cần triển khai trong đề bài trên đã rất rõ ràng, liên quan đến lý thuyết

về hình tượng Dẫn chứng bắt buộc nằm trong phạm vi yêu cầu của đề, người viết không thểchọn ở bên ngoài để thay thế Đề bài yêu cầu người viết lựa chọn hai trong số các hình tượng

đồ vật sự vật để chứng minh Theo đó, người viết phải tinh nhạy để chọn hai dẫn chứng saocho làm nổi lý lẽ nhất, thể hiện được bút lực trong cảm nhận và phân tích dẫn chứng củamình rõ nhất, tạo được sức hấp dẫn đối với người đọc Với đề bài trên, có thể chọn hai hình

tượng: Thuốc chữa bệnh quái lạ trong truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn và hình tượng cây đàn huyền thoại trong Đàn ghi ta của Lor ca của Thanh Thảo để chứng minh làm rõ vấn đề nghị

luận

Lẽ tất nhiên, đây là hai dẫn chứng được yêu cầu phân tích tập trung, ngoài ra, trongphần bình luận ý kiến và đánh giá nâng cao, người viết có thể chọn nhiều dẫn chứng khác đểlàm chỗ dựa cho lập luận Những dẫn chứng này không bắt buộc, nhưng nên có để hô ứnglàm sáng tỏ vấn đề chính, và vì thế không tập trung phân tích, chỉ đưa, nêu lướt

- Dẫn chứng tự chọn: Gắn liền với những đề bài yêu cầu người viết phải tự xác định,

huy động, tìm kiếm dẫn chứng

Ví dụ:

Trang 21

Đề bài : Đối với nhà thơ thì cách viết, bút pháp của anh ta - là một nửa việc làm Dù

bài thơ thể hiện ý tứ độc đáo đến đâu, nó cũng nhất thiết phải đẹp Không chỉ đơn giản là đẹp mà còn đẹp một cách riêng Đối với nhà thơ, tìm cho ra bút pháp của mình và thấy được mình - nghĩa là trở thành nhà thơ.

( Raxun Gamzatop, Đaghetxtan của tôi, NXB Kim Đồng, 2018)

Anh/ chị có đồng tình với quan niệm của Raxun Gamzatop? Hãy làm sáng rõ ý kiếncủa mình qua hiểu biết về tác phẩm của một nhà thơ mà anh/ chị tâm đắc

Với đề bài trên, người viết không được chỉ dẫn cụ thể phạm vi dẫn chứng cần huyđộng Vì vậy, trước hết cần xác định vấn đề nghị luận thật chuẩn xác, sau đó xác định vùngdẫn chứng cần huy động theo định hướng của đề Quan niệm của Raxun Gamzatop đã đề caophẩm chất thẩm mỹ của thơ ca và cá tính sáng tạo của người làm thơ muôn đời, điều kiện tiênquyết của một nhà thơ chân chính Khi chọn dẫn chứng, người viết cần huy động vùng dẫnchứng rộng tự cổ chí kim để kết hợp với lý lẽ khi bàn luận Đồng thời, chọn được một tác giatiêu biểu nhất, có khả năng soi rọi vấn đề nghị luận rõ nhất để phân tích kỹ lưỡng dẫn chứng.Chọn được tác giả rồi lại cần thiết phải xác định đích đáng các dẫn chứng để phân tích

- Dẫn chứng mở rộng: Loại dẫn chứng nằm ngoài phạm vi yêu cầu của đề về tư liệu.

Loại dẫn chứng này do người viết bằng vốn kiến văn phong phú đã viện dẫn ra để liên hệ,đối chiếu, so sánh nhằm làm sáng tỏ thêm ý đang được bàn bạc Hình thức dẫn chứng này cóthể xuất hiện kết hợp với hai dạng dẫn chứng trên khi tổ chức bài viết

b Chọn dẫn chứng cần chú ý tỷ lệ cân đối, hợp lí giữa dẫn chứng và lý lẽ

Một bài văn nghị luận được triển khai bao giờ cũng trên cơ sở xây dựng được hệ thốngluận điểm luận cứ và tổ chức lập luận đi đến làm sáng tỏ vấn đề Luận cứ gồm có lý lẽ và dẫnchứng, lý lẽ nghiêng về việc làm cho người đọc hiểu, còn dẫn chứng thì thiên về phía làm chongười ta tin Tuy nhiên, trong quá trình viết bài nghị luận, người viết cũng phải tùy từng vấn

đề, kiểu bài, thao tác lập luận, đoạn mạch lập luận mà xác định tỷ lệ lý lẽ và dẫn chứng chophù hợp Bài viết chỉ có lý lẽ hoặc quá mỏng về dẫn chứng sẽ nặng nề, giáo điều, khô khan;bài viết chỉ toàn dẫn chứng hoặc quá mỏng về lý lẽ cũng sẽ khiến lập luận trở nên hời hợtthiếu tính thuyết phục Không chỉ vậy, độ đậm nhạt khi trình bày dẫn chứng cũng cần được

xử lý linh hoạt khi viết bài

Trang 22

+ Đối với dạng bài nghị luận về một vấn đề văn học sử, tác gia văn học, trào lưu văn học,

tác phẩm văn học cụ thể, , lý lẽ được trình bày chừng mực, nhường dung lượng cho dẫnchứng

Ví dụ: Đề bài : Hồi tưởng về cha ông trong quá khứ, nhà thơ Tố Hữu viết:

“Nghe hồn Nguyễn Trãi phiêu diêu Tiếng gươm khua, tiếng thơ kêu xé lòng”

(Trích Bài ca mùa xuân 1961 – Tuyển tập thơ Tố Hữu - NXB Văn học, 2005, trang 147)

Bằng hiểu biết của mình về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Trãi, anh/ chịhãy làm sáng tỏ ý thơ trên

Trong đề trên, dẫn chứng được chọn lựa từ cuộc đời và các trứớc tác của Nguyễn Trãi

@ Về lý lẽ: cần huy động kiến thức lý luận về tiếp nhận văn học, về mối quan hệ giữavăn học và đời sống, về quá trình sáng tạo của người nghệ sĩ, về tác phẩm văn học để bàn.Tuy nhiên, đó không phải là yêu cầu trọng tâm của bài viết

@ Về dẫn chứng: Yêu cầu của đề tập trung làm sáng tỏ qua cuộc đời và thơ vănNguyễn Trãi Do vậy, người viết tập trung chọn, phân tích dẫn chứng để làm sáng rõ

+ Đối với kiểu bài về một vấn đề lý luận văn học: Nếu có hạn định về dẫn chứng thì cần tổ

chức kết hợp lý lẽ cho hài hòa, các dẫn chứng được yêu cầu bắt buộc phân tích cần được trìnhbày sâu sắc Nếu không có xác định bắt buộc về dẫn chứng, lý lẽ cần được tổ chức công phu,lớp lang, tỷ lệ dẫn chứng sẽ được cân đối theo từng phần mạch lập luận

Phần giải thích bình luận ý kiến, vấn đề nghị luận: lý lẽ và dẫn chứng cần phong phúnhưng dẫn chứng chỉ nêu lướt

Phần chứng minh, dẫn chứng không cần nhiều nhưng cần tinh tuyển

Phần đánh giá nâng cao: dẫn chứng mở rộng, không cần nhiều nhưng đích đáng

Ví dụ: Đề bài“Việc sáng tạo nghệ thuật vẫn có hai thiên hướng: làm giàu mình và làm

rõ mình Để tạo nên một ngòi bút đa dạng, cần làm phong phú bản thân Để tạo dấu ấn cá tính lại rất cần làm sắc nét bản ngã Trong sân chơi nghệ thuật, anh sẽ chìm vô tăm tích nếu không thắp nổi một ngọn đèn riêng” (Ngọn đèn xanh trong xứ mơ hồ/ Nghĩ về Trúc Thông, Chu Văn

Sơn)

Trang 23

Anh/ chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ thiên hướng làm giàu mình và

làm rõ mình của một tác giả văn học Việt Nam hiện đại mà anh/ chị quan tâm.

Hướng chọn dẫn chứng như sau

Mạch lập luận 1: Phần bình luận ý kiến

- Làm giàu mình để tạo nên một ngòi bút đa dạng

+ Vì sao?

+ Biểu hiện: Đa dạng trong khai thác nhìn nhận đời sống: đề tài, thể tài, chủ đề, cảmhứng, thể loại, bút pháp, ngôn ngữ Dẫn chứng: Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh; Luôn vận độngbiến đổi phù hợp với thời đại và xu hướng nghệ thuật cũng như những vận động và thay đổicủa chính tư tưởng và quan niệm của mình D/C: Xuân Diệu, Chế Lan Viên; Ngay cả khi viết

về một đề tài quen thuộc cũng không được phép lặp lại chính mình dẫn chứng: Nguyễn Du,

+ Dẫn chứng: Nguyễn Tuân, Nam Cao, Nguyễn Khải,…

-> Tỷ lệ lý lẽ và dẫn chứng ngang bằng, dẫn chứng ko phân tích kỹ, chỉ dẫn nêu, giảithích

Mạch lập luận 2: Phần chứng minh ý kiến Chọn tác giả tiêu biểu cho ý kiến trên Đề xuất

chọn tác giả Nam Cao, hướng chứng minh như sau:

- Nam Cao đã làm giàu mình như thế nào?

+ Đa dạng phong phú: Quan điểm nghệ thuật: tính chân thật, nhân đạo và sáng tạotrong vhnt: Đề tài, chủ đề: Người nông dân, người trí thức Trong mỗi đề tài lại vô cùngphong phú các chủ đề được triển khai

+ Vận động biến đổi: Trước cách mạng cái nhìn bế tắc về số phận con người: Đề tài

người trí thức tiểu tư sản Tác phẩm chính: Giăng sáng, Nước mắt, Đời thừa, Sống mòn Đề tài người nông dân: Tác phẩm tiêu biểu: Chí Phèo, Một bữa no, Lão Hạc -> Dù viết về đề tài

nào, các tp NC đều chứa đựng nội dung triết lý cuộc sống, khả năng khái quát những quy luật

Trang 24

của đời sống( vật chất, ý thức) Đặc biệt NC luôn trăn trở về nhân phẩm, danh dự con ngườitrong xã hội loạn lạc Sau cách mạng tháng Tám: Hướng về nhân dân và kháng chiến.

- Nam Cao đã làm rõ mình như thế nào?

+ Cách nhìn: NC đặc biệt quan tâm tới đời sống tinh thần của con người, luôn cóhứng thú khám phá con người bên trong-> đề cao con người tư tưởng NC nhìn đời bằng conmắt của tình thương nên nhìn thấy nhân tính của con người có thể bị thay đổi nhưng không

Mạch lập luận 3: Phần đánh giá nâng cao

Dẫn chứng mở rộng: Puskin, Victo Huygo

c Chọn dẫn chứng cần đảm bảo cả lượng và chất

- Về lượng: Dẫn chứng phải đầy đủ, toàn diện và vừa vặn với lý lẽ.

+ Dẫn chứng đầy đủ: Nghĩa là mỗi ý kiến, mỗi nhận định đưa ra đều phải có lý lẽ và dẫn

chứng thuyết minh Khi chọn dẫn chứng, cần bao quát cho hết các khía cạnh của vấn đề đểhuy động dẫn chứng làm cơ sở chắc vững cho lập luận

Ví dụ: Với đề bài trong đề thi HSG quốc gia 2013 Dưới đây là gợi ý dẫn chứng có thể huy

Trang 25

@ Lý lẽ 1: Hình tượng nghệ thuật, nhân vật văn học thường là con người; Dẫnchứng: Trong truyện cổ tích, truyện hiện dại DC nêu lướt.

@ Lý lẽ 2: Nhiều khi cũng là hình tượng đồ vật, sự vật trong mối quan hệ với con

người; Dẫn chứng: đàn tỳ bà của người thiếu phụ trong Tỳ bà hành, đàn ghi ta gắn bó với cuộc đời người nghệ sĩ Lorca, chiếc bánh bao- một phương thuốc chữa bệnh kỳ quái ( Thuốc,

Lỗ Tấn), chiếc lá được vẽ bởi người họa sĩ già Bơ-men ( Chiếc lá cuối cùng- Ô Henri)

@ Lý lẽ 3: Có những tác phẩm hoàn toàn vắng bóng con người, hoặc con người chỉxuất hiện thấp thoáng, hình tượng đồ vật sv có ý nghĩa biểu trưng cho nhận thức, nhân cách, ý

chí con người; Dẫn chứng: truyện ngụ ngôn, Dế mèn phiêu lưu ký ( Tô Hoài), Bánh trôi

nước ( Hồ Xuân Hương), Sóng ( Xuân Quỳnh) , Biển ( Xuân Diệu), , Hóa thân (Kafka)

+ Dẫn chứng toàn diện, phong phú: Để một vấn đề lý luận khi bàn bạc có tính thuyết phục,

dẫn chứng được chọn cần được chú ý đảm bảo cả lịch đại và đồng đại về thời gian (văn họcdân gian, văn học trung đại, văn học hiện đại, văn học đương đại), bao quát về không gian( văn học trong nước, ngoài nước), phong phú về thể loại ( trữ tình, tự sự, kịch), kiểu sáng tác( hiện thực, lãng mạn)

Ví dụ: Đề quốc gia năm 2017: Mỗi nhà văn chân chính khi bước lên văn đàn, về thực chất

là sự cất tiếng bằng nghệ thuật của một giá trị nhân văn nào đó được chưng cất từ những trải nghiệm sâu sắc trong trường đời.

Đây là một khái quát có tính đúc kết về đặc điểm làm nên ý nghĩa của một nhà vănchân chính Dẫn chứng được huy động cần chọn lọc, đảm bảo những thí dụ đưa ra đều thuộc

về nhà văn có tầm vóc, đã được ghi nhận Đồng thời phải bao quát toàn diện

@ Có tính thời gian: Có văn học dân gian ( ca dao, cổ tích- người bình dân đã chưngcất từ những trải nghiệm mà cất tiếng nói về cuộc sống, ước mơ của nhân dân mình), văn họctrung đại ( Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương), Văn học hiện đại ( Văn học 1930-1945), Văn học đương đại ( Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Ma Văn Kháng)

@ Toàn diện về không gian: văn học nước ngoài Tấn trò đời Ban zăc; Những người

khốn khổ Huy-gô

+ Dẫn chứng vừa vặn: Một vấn đề lý luận hay văn học nếu tách riêng cần rất nhiều minh

chứng và lý lẽ để triển khai Tuy nhiên, trong giới hạn thời gian của bài viết không thể sử

Trang 26

dụng quá nhiều dẫn chứng Vì vậy, khi chọn lựa và sắp xếp, người viết cần chú ý tìm cách kếthợp cả điểm và diện, vừa đảm bảo đầy đủ các mặt, vừa tập trung vào một số điểm mấu chốt

Ví dụ: Với đề bài: Trong cuốn Đaghetxtan của tôi, nhà thơ Nga Raxun Gamzatop đã viết:

“ Những chiếc bình đẹp nhất

Nặn từ đất bình thường Như câu thơ đẹp nhất

Từ những chữ bình thường ”

Ý thơ trên đã gợi cho anh/chị suy nghĩ như thế nào về vẻ đẹp của ca dao?

Dẫn chứng diện học sinh có thể nêu và bình ngắn gọn, hoặc nêu mà không phân tíchminh họa cho cái đẹp về nội dung phong phú và vẻ đẹp mộc mạc của ca dao

Dẫn chứng điểm: Người viết chọn một vài bài tiêu biểu, có ý nghĩa nhân văn về nội

dung và có nhiều đặc sắc về nghệ thuật ngôn từ để phân tích Chọn: Khăn thương nhớ ai điển hình cho tiếng hát yêu thương tình nghĩa; chọn Chùm ca dao mở đầu bằng Thân em tiêu biểu cho tiếng hát than thân; Chọn ca dao mở đầu bằng hai chữ Làm trai là những câu hát đặc sắc

mang tính hài hước nói lên tinh thần lạc quan và trí tuệ của người bình dân Dẫn chứng điểmtrở thành điểm nhấn của bài viết, là phần người viết có thể phô diễn khả năng thẩm bình vàhành văn, đồng thời cũng góp phần làm vấn đề nghị luận trở nên thuyết phục nhất

- Về chất: dẫn chứng phải đúng, tiêu biểu, có tính mới

+ Dẫn chứng đúng : Nghĩa là dẫn chứng đúng ý, phù hợp với luận điểm, với lý lẽ; dẫn chứng

phải chính xác( đúng nguyên văn khi trích dẫn, đúng về tác giả, tác phẩm, thời đại,…)

Ví dụ: Đề thi HSGQG năm 2013 Người viết đã chọn được dẫn chứng đúng ý, đúng tác

phẩm, tác giả để trình bày như sau:

“ Cũng có khi sáng tạo nghệ thuật độc đáo, quan trọng là ở hình tượng đồ vật, sự vật

vốn tưởng như vô tri vô giác Từ cây chuối đời thường trong thơ Nguyễn Trãi ( Cây chuối), miếng trầu đơn sơ trong thơ Hồ Xuân Hương ( Mời trầu), cho đến bức thư pháp trong trang văn Nguyễn Tuân( Chữ người tử tù), cây đàn huyền diệu trong thơ Thanh Thảo ( Đàn Ghi ta của Lor ca) đều cho thấy sự quan trọng, giá trị không nhỏ của các hình tượng đồ vật, sự vật trong việc làm nên giá trị cho tác phẩm văn chương Phải chăng cốt lõi của văn học là ở đó?

Trang 27

Không phải cao xa, mơ mộng mà là đời sống giản dị quanh ta, từ những điều bình dị mà ý nghĩa nhất của cuộc sống” ( Bài làm của học sinh)

+ Dẫn chứng tiêu biểu: Trong kho dẫn chứng đã tích lũy có thể huy động cho đề bài, người

viết phải chọn được dẫn chứng phù hợp ở mức độ cao nhất với luận điểm, với điều mình địnhnói Sao cho, khi đọc lên, người đọc không hoặc khó có thể tìm thấy dẫn chứng nào phù hợphơn thế Lẽ tất yếu, để làm được điều này, người viết phải có vốn liếng tích lũy dồi dào, cónhãn quan tinh tường để nhận diện và chọn lựa dẫn chứng Và như vậy, chọn được hệ thốngdẫn chứng tiêu biểu, đặc sắc sẽ phần nào khẳng định được bản lĩnh kiến thức, sắc màu cánhân của người làm bài Khả năng này không tự nhiên mà đến, cần rất nhiều sự tìm tòi, họchỏi, tích lũy và rèn luyện thường xuyên

Ví dụ: Đề thi HSGQG năm 2017 Khi nói về những giá trị nhân văn được chưng cất từ trải

nghiệm trước hết của chính nhà văn, người viết đã chọn Nam Cao, một tác gia văn học lớn,một nhà văn mà bao nhiêu chưng cất trong văn chương đều thấm cái mặn mòi của cuộc đờingười trí thức Nam Cao để viết:

“ Trải nghiệm từ chính mình buộc nhà văn phải có năng lực sống kỹ lưỡng, sống sâu

cuộc đời mình, lấy chính đời mình làm tư liệu quan sát, phân tích từ đó nhận ra những lẽ đời, những giá trị nhân văn Cuộc đời của Nam Cao là cuộc đời rất tiêu biểu cho cuộc đời người trí thức tiểu tư sản trước cách mạng Người thanh niên ấy có ý thức về sự sống, khao khát sống tận độ giá trị của mình Nhưng ước mơ ấy nhanh chóng bị vùi nát: NC vào Nam với ước

mơ du học nhưng bị bệnh nên đành trở vể quê; lên Hà Nội làm giáo khổ trường tư để rồi ước

mơ cứ mòn đi, xa vơi; trường học đóng cửa, ông lại đành trở về quê nhà sống lắt lay Đó cũng là trải nghiệm chung của hết trí thức tiểu tư sản lúc bấy giờ Nhưng đến NC, đề tài về người trí thức mới thực sự ám ảnh khi nhà văn đã từ trải nghiệm cá nhận, chăm chú nhìn ra cuộc đời chung và tự nghiệm để rồi cất lên những: yêu thương, căm hờn, khao khát Sự cất tiếng của một giá trị nhân văn ( Bài làm của học sinh)

+ Dẫn chứng có tính mới: Tính mới có thể hiểu là mới mẻ trong cách chọn lựa hay xử lý dẫn

chứng để minh họa cho một vấn đề đã quen thuộc; tính mới cũng có thể là sự cập nhật nhữngdẫn chứng văn học mang tính thời sự nhất của đời sống văn học hiện thời Như vậy tính mớitheo đó vừa cho thấy người viết đã theo sát diễn biến của đời sống văn học đương đại lại vừa

Trang 28

có những sáng tạo riêng của mình trong quá trình chọn lựa và sử dụng dẫn chứng Điều nàyrất cần thiết với bài nghị luận của học sinh giỏi văn nếu muốn khẳng định tầm của mình trongnghệ thuật viết văn.

Ví dụ:

Đề bài: Nhận xét về thơ cổ điển và thơ hiện đại, Lê Đạt viết: Nghĩa trong một bài thơ cổ

điển thường đến đúng hẹn, nghĩa trong một bài thơ hiện đại thường đến trễ giờ

Bằng trải nghiệm về văn học, hãy bình luận ý kiến trên

Khi triển khai chứng minh nghĩa trong một bài thơ hiện đại đến trễ giờ, thử thách sựchờ đón, khơi mở sự tìm tòi ở người tiếp nhận, người viết đã mạnh dạn lựa chọn dẫn chứngmới để minh họa như sau:

“ …Thi sĩ trao quyền sáng tạo cho bạn đọc, trong cấu trúc như một khối vuông Rubik

nhiều mặt, nhiều cách hiểu, để sáng tạo ra những lớp nghĩa mới mà chính thi nhân cũng không ngờ: “Chia xa rồi anh mới thấy em/ Như một thời thơ thiếu nhỏ/ Em về trắng đầy cong khung nhớ/ Mưa mấy mùa/ mây mấy độ thu” ( “Bóng chữ”, Lê Đạt) Lê Đạt là nhà thơ hiện đại, luôn tâm niệm những quan niệm nghệ thuật rất mực hiện đại Chẳng thế mà thi sĩ cũng chủ trương sáng tạo những vân chữ, bóng chữ trong hình thức câu thơ mà phải cần qua sự đọc cảu độc giả, bóng và vân chữ ấy mới trở thành “nghĩa” Câu thơ “ Như một thời thơ thiếu nhỏ” thật nhiều cách hiểu: có thể vắt dòng từ câu thơ trên- em như một thời thơ thiếu nhỏ; “thơ” có thể là thơ ấu, cũng có thể là nàng thơ, hay chỉ là thơ thôi…”

( Bài làm của học sinh)

2 Nâng cao kỹ năng phân tích dẫn chứng trong bài NLVH của học sinh giỏi

2.1 Một số yêu cầu khi rèn kĩ năng phân tích dẫn chứng trong bài NLVH của HS giỏi

a Phân tích dẫn chứng cần làm sáng tỏ lí lẽ và vấn đề nghị luận chung

Đặc trưng của văn nghị luận là tính thuyết phục cao Nếu lí lẽ khiến cho người đọchiểu rõ vấn đề thì dẫn chứng làm cho người ta tin cậy Nếu lập luận chỉ dựa vào lí lẽ mà chưa

có dẫn chứng thì lập luận thiếu tính thuyết phục Với bài NLVH của học sinh giỏi, yêu cầulàm sáng tỏ vấn đề nghị luận và sức thuyết phục của lí lẽ là vô cùng cần thiết Một trongnhững cách thức để tăng tính thuyết phục cho bài viết chính là nâng cao hiệu quả của việc

Trang 29

Phân tích dẫn chứng cần làm sáng tỏ lí lẽ nghĩa là dẫn chứng phải hỗ trợ đắc lực, làm

rõ hơn những lí lẽ mà người viết đưa ra trong quá trình lập luận Nếu lí lẽ nghiêng về líthuyết, có tính trừu tượng, khô khan - là sản phẩm của tư duy logic; thì sự phân tích dẫnchứng là những minh họa cụ thể, sinh động trong thực tế văn chương, có tác dụng làm sáng tỏhơn lí lẽ

Phân tích dẫn chứng không chỉ làm sáng tỏ lí lẽ mà còn đảm nhiệm vai trò kép là sáng

tỏ vấn đề mà đề bài yêu cầu Nghĩa là tính định hướng của việc phân tích dẫn chứng là mộtyêu cầu bắt buộc đối với bài viết của học sinh giỏi Nếu người viết chỉ phân tích dẫn chứng

để làm sáng tỏ lí lẽ mà chưa bám sát vấn đề nghị luận chung thì tính liên kết về ý của cácđoạn văn trong bài văn nghị luận chưa cao, chưa tập trung làm nổi rõ luận đề, khiến chongười đọc chỉ “thấy cây mà không thấy rừng” Vì thế, sau mỗi đoạn văn phân tích dẫn chứnglàm sáng tỏ lí lẽ, người viết cần dẫn dắt và chốt lại vấn đề nghị luận chung mà đề yêu cầu

Dưới đây là một ví dụ về phân tích dẫn chứng đạt được yêu cầu sáng tỏ lí lẽ và vấn đềnghị luận chung:

“Nghệ thuật như một khung cửa, mở ra tầm nhìn, nới rộng khả năng nhận thức phong phú của con người về hiện thực cuộc sống Đến với văn học, ta được sống nhiều cuộc đời, hiểu thêm về con người ở thời đại khác với bao số phận và tâm hồn “Ngồi trong xó nhà mà lịch lãm hết các danh lam thắng cảnh, xem trên mảnh giấy mà tinh thông điều hay dở của thế gian, sinh ra sau mấy ngàn năm mà tựa hồ như được ngồi đối diện, nghe tiếng bàn bạc của người sinh trước mấy ngàn năm” cũng là vì vậy (Phan Kế Bính) Quá trình tiếp nhận trở thành hành trình khám phá, trải nghiệm và cảm hiểu đầy thú vị, sẽ luôn là điểm đến, chốn dừng chân của biết bao tâm hồn yêu thơ văn và thiết tha với thời đại lịch sử Cùng văn học,

ta biết đến một vẻ đẹp đậm chất sử thi, mạnh mẽ, phi thường của người anh hùng Đăm Săn, đại diện cho cả cộng đồng tộc người Ê đê Ê ga thuở trước Từ vóc dáng dũng mãnh, trang phục oai phong,lẫm liệt như một vị thần; lời nói mang âm vang của chúa tể đại ngàn đến khát vọng hùng cường vô biên và tài năng chiến trận bách thắng vô song cùng sức mạnh quy

tụ cộng đồng của Đăm Săn - ta hiểu thêm về những năm tháng bình minh của lịch sử loài người, con người thời ấy đã sống với lí tưởng, ước mơ và bao ngưỡng vọng khôn cùng Bên văn học, ta biết đến vẻ đẹp của lòng yêu làng, yêu nước, tinh thần chiến đấu kiên cường của

Trang 30

quân dân ta trong những năm tháng lịch sử hào hùng, bi tráng: đó là nhiệt huyết tràn đầy hào khí Đông A của một thời đại binh hùng tướng mạnh, rừng rực khát vọng lập công, lập danh trong Hịch Tướng sĩ – Trần Quốc Tuấn, trong Thuật Hoài – Phạm Ngũ Lão; đó là tinh thần đoàn kết quyết chiến quyết thắng “ nhân dân bốn cõi một nhà /Dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới” của của Đại Việt ta được tổng kết trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi; đó

là hình tượng những người dân cày tự nguyện xả thân “chẳng đợi ai đòi ai bắt, phen này xin

ra sức đoạn kình…”, hóa thành những người anh hùng yêu nước những năm đầu chống Pháp trong văn tế của Nguyễn Đình Chiều, và biết bao những con người yêu nước khác trong trang viết của Kim Lân, Nguyễn Thi, Nguyễn Trung Thành Cùng văn học, ta biết đến

vẻ đẹp của tinh thần lao động, cống hiến sản xuất trong những cô gái thanh niên xung phong, người lao động giữa biển khơi muôn trùng giàu có, những người lái đò trí dũng tài hoa… Rõ ràng, thông qua hình tượng nghệ thuật tiêu biểu, đặc sắc cùng sức truyền cảm mãnh liệt của ngôn từ, văn học sẽ luôn là sự soi bóng chân thực và sống động hình ảnh con người trong từng thời đại, mang đến giá trị nhận thức cho người đọc ( Bài làm của học sinh)

Trong đoạn văn trên, người viết đã kết hợp giữa lí lẽ và dẫn chứng; có dẫn chứng chỉnêu tên, có dẫn chứng phân tích ngắn gọn, đã bổ trợ với lí lẽ để làm sáng tỏ một khía cạnhtrong giá trị nhận thức của văn học

b Phân tích dẫn chứng cần sâu sắc

Sáng tỏ mới chỉ mang lại cảm giác tin cậy, sự sâu sắc mới khiến cho người đọc có cảmgiác thuyết phục mọi bề Vì thế, nếu có lí lẽ sắc sảo cần kết hợp với sự phân tích dẫn chứngthật kĩ lưỡng, có chiều sâu mới thể hiện năng lực thực sự của người giỏi văn

Phân tích dẫn chứng sâu sắc nghĩa là không chỉ đúng, không chỉ sát với lí lẽ và vấn đềnghị luận chung mà còn phải đào sâu, khám phá, phát hiện ra những sắc cạnh mà dẫn chứngmang lại Phân tích dẫn chứng sâu là không chỉ soi chiếu ý nghĩa ở bề mặt ngôn từ, không chỉdừng lại ở mức độ tái hiện dẫn chứng mà phải cần đến năng lực thẩm thấu, bình giá, phân tíchcác yếu tố nghệ thuật, kết hợp với suy luận, đánh giá cùng những liên hệ, mở rộng để làm rõ

sự sâu sắc, riêng biệt của dẫn chứng mà người viết đã chọn và phân tích Phân tích dẫn chứngsâu sắc là còn phải biết cắt nghĩa, lí giải thuyết phục từ các góc độ khác nhau

Trang 31

Đề số 1: “Việc sáng tạo nghệ thuật vẫn có hai thiên hướng: làm giàu mình và làm rõ

mình Để tạo nên một ngòi bút đa dạng, cần làm phong phú bản thân Để tạo dấu ấn cá tính lại rất cần làm sắc nét bản ngã Trong sân chơi nghệ thuật, anh sẽ chìm vô tăm tích nếu không thắp nổi một ngọn đèn riêng” (Ngọn đèn xanh trong xứ mơ hồ/ Nghĩ về Trúc Thông - Chu Văn Sơn)

Anh/ chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ thiên hướng “làm giàu mình

và làm rõ mình” của một tác giả văn học Việt Nam hiện đại mà anh chị quan tâm.

+ Ở đề 1, muốn làm nổi bật vấn đề: thiên hướng “làm rõ mình” để sắc nét bản ngã, tạo

dấu ấn cá nhân và chọn dẫn chứng để phân tích, chứng minh là tác giả Nam Cao; học sinhcần phân tích dẫn chứng theo các phương diện: cách nhìn con người, cách xử lí đề tài, xácđịnh chủ đề, đối tượng, cách viết chân thực có tầm khái quát, sở trường miêu tả tâm lí, giọngđiệu riêng không trộn lẫn… của nhà văn

+ Muốn làm sáng tỏ luận cứ 1: Nam Cao “làm rõ mình” qua cách nhìn con người (biểu

hiện qua sự quan tâm đặc biệt tới đời sống tinh thần, luôn có hứng thú khám phá “con ngườibên trong”, đề cao con người tư tưởng; nhìn bằng con mắt của tình thương), học sinh cần

phân tích sâu sắc, kĩ lưỡng bi kịch tinh thần của nhân vật Hộ trong Đời thừa với những giằng

xé nội tâm đầy khắc khoải, đau đớn; bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo khi bịđồng loại từ chối…Quá trình phân tích dẫn chứng cần chỉ ra được các sắc thái nội tâm thểhiện qua hành động, ngôn ngữ, suy nghĩ của nhân vật; cần bám sát các hình thức nghệ thuật

để thể hiện nội dung; cần thấy được thái độ, tình cảm của nhà văn đối với nhân vật Đồngthời, để đánh giá sâu sắc hơn về cái nhìn ấy của Nam Cao, học sinh cần so sánh với cái nhìncon người của Vũ Trọng Phụng và lí giải sự khác biệt ấy

c Phân tích dẫn chứng thể hiện màu sắc cá nhân

Bài văn của học sinh giỏi nhất thiết phải thể hiện được màu sắc cá nhân, sự sáng tạoriêng của người học văn Năng lực đặc biệt ấy không chỉ thể hiện ở tố chất nhận diện đề tinh,đúng hướng; ở hệ thống lí lẽ sắc sảo mà còn ánh lên qua những đoạn văn phân tích dẫnchứng

Màu sắc cá nhân, sự sáng tạo khi phân tích dẫn chứng được thể hiện qua góc độ tiếpcận dẫn chứng để phát hiện ra những mới mẻ, độc đáo mà dẫn chứng đem tới nhằm làm sáng

Trang 32

tỏ vấn đề nghị luận; qua kĩ thuật phân tích dẫn chứng mang đến những hiệu quả bất ngờ, lôicuốn; qua lối dùng từ, viết câu; qua giọng điệu, cảm xúc để lại những ấn tượng đặc biệt chongười đọc mà bài viết mang đến.

d Phân tích dẫn chứng cần linh hoạt, phù hợp, đảm bảo tính cân đối giữa các phần của bài NLVH của học sinh giỏi

Phân tích dẫn chứng trong bài NLVH của học sinh giỏi chỉ có hiệu quả khi người viếtbiết làm chủ ngòi bút của mình Bởi vì, các đoạn phân tích dẫn chứng thường khác nhau ởmức độ nông - sâu; ở tỉ lệ đậm - nhạt; ở dung lượng ngắn - dài, tuỳ thuộc vào hệ thống luậnđiểm và mục đích lập luận của người viết

Nếu phân tích dẫn chứng nhằm mục đích minh họa cho lí lẽ (trong đoạn bình luận ý

kiến) thì chọn lối phân tích ngắn gọn, tinh.

Nếu phân tích dẫn chứng nhằm làm sáng rõ hệ thống luận điểm (trong đoạn chứng

minh ý kiến) thì phân tích cần kĩ lưỡng, soi chiếu nhiều góc độ, có tầng bậc, lớp lang.

Nếu phân tích dẫn chứng nhằm mục đích so sánh, đối chiếu thì thao tác phân tích cầnhướng đến những bình giá tinh gọn, sâu sắc

2.2 Các bước rèn kĩ năng phân tích dẫn chứng trong bài NLVH của học sinh giỏi

a Bước 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh nhận diện yêu cầu của đề và lựa chọn dẫn chứng

phù hợp (Lựa chọn dẫn chứng cần đảm bảo một số yêu cầu như đã trình bày ở phần trên)

b Bước 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh tạo lập các đoạn văn phân tích dẫn chứng trong bài.

Thông thường, trong bài NLVH của học sinh giỏi, quá trình phân tích dẫn chứng xuấthiện ở 3 phần của bài viết: phân tích dẫn chứng trong đoạn bình luận; phân tích dẫn chứngtrong đoạn chứng minh vấn đề; phân tích dẫn chứng trong đoạn đánh giá, nâng cao vấn đề Ởmỗi phần, kĩ năng phân tích dẫn chứng có những đặc thù riêng:

+ Phân tích dẫn chứng (không bắt buộc) trong đoạn bình luận ý kiến: với những dẫn

chứng đã được lựa chọn tiêu biểu, phong phú thì nội dung đoạn phân tích phải nêu được dẫnchứng và chỉ ra giá trị của dẫn chứng để làm sáng tỏ lí lẽ Muốn thế, người viết cần lựa chọnđược những từ khoá thật tinh và trúng, sát với lí lẽ Để đảm bảo tỉ lệ cân đối giữa lí lẽ và dẫnchứng nên mỗi dẫn chứng chỉ nên viết từ 1 đến 3 câu, hình thức câu văn nên lựa chọn kiểu

Trang 33

+ Phân tích dẫn chứng trong đoạn chứng minh ý kiến (dẫn chứng bắt buộc): Đây là

những đoạn văn rất quan trọng được coi là điểm sáng trong bài văn học sinh giỏi Vì thế, giáoviên cần rèn cho học sinh kĩ năng phân tích dẫn chứng thành thạo, đảm bảo các yêu cầu vàtránh các lỗi như đã nêu ở phần II Khi phân tích dẫn chứng, học sinh cần tập trung làm sáng

tỏ luận điểm Muốn thế, cần xác định nội dung chính của dẫn chứng cần phân tích là gì? Toàn

bộ đối tượng hay một khía cạnh của đối tượng cần phân tích? Hình thức đoạn văn phân tíchtrình bày theo phương pháp tổng phân hợp hay diễn dịch, quy nạp, song hành, móc xích?Trình tự phân tích cần đảm bảo các bước: giới thiệu; phân tích nội dung, nghệ thuật; lập luận,đánh giá khái quát dẫn chứng đối với vấn đề nghị luận

+ Phân tích dẫn chứng trong đoạn liên hệ, so sánh (dẫn chứng không bắt buộc): Đây là

đoạn cần có trong bài viết của học sinh giỏi để thể hiện vốn kiến văn và cách lập luận sắc sảocủa người học nhưng không phải là trọng tâm của bài, vì thế khi phân tích cần hướng đếnmục đích cụ thể, tránh lan man làm loãng vấn đề nghị luận

Sau đây là minh họa cụ thể của Bước 2 khi rèn kĩ năng phân tích dẫn chứng ứng với 3 mục đích lập luận trong bài NLVH của học sinh giỏi.

Đề số 2 ( Đề thi HSGQG năm 2013):

Trong tác phẩm văn học, sáng tạo nghệ thuật quan trọng, đặc sắc nhất, nhiều khi không phải ở hình tượng con người mà ở hình tượng đồ vật, sự vật: một thứ thuốc chữa bệnh quái lạ (Thuốc- Lỗ Tấn; một bức thư pháp đẹp và quý (Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân), một công trình kiến trúc kỳ vĩ tinh xảo(Vũ Như Tô- Nguyễn Huy Tưởng), một cây đàn huyền thoại (Đàn ghi ta của Lor-ca- Thanh Thảo), …Đó là những đồ vật, sự vật mang ý nghĩa biểu trưng cho nhận thức, nhân cách, ý chí, khát vọng, số phận,… của con người.

Ý kiến của anh/ chị về nhận định trên? Hãy phân tích hai trong những hình tượng đồ vật, sự vật đã nêu để làm sáng tỏ ý kiến của mình.

Với kiểu đề mà phạm vi dẫn chứng đã được gợi ý trong đề, kĩ năng phân tích dẫnchứng là năng lực vô cùng quan trọng để nâng tầm bài viết của học sinh và các đoạn phântích dẫn chứng gắn với các mục đích lập luận khác nhau cần được phát huy Cụ thể là:

- Viết đoạn phân tích dẫn chứng (không bắt buộc) ở phần bình luận ý kiến Khi đưa ra lí lẽ:

“Trong tác phẩm văn học, sáng tạo nghệ thuật quan trọng, đặc sắc nhất, nhiều khi không

Trang 34

phải ở hình tượng con người mà ở hình tượng đồ vật, sự vật”; sau khi chọn các dẫn chứng

tiêu biểu trong thực tế văn chương và sắp xếp theo trình tự thời gian, không gian (từ văn họcdân gian đến văn học viết, văn học thế giới); học sinh không chỉ gọi ra được những đồ vật, sựvật đặc sắc mà cần phân tích ngắn gọn sức hấp dẫn, vẻ đẹp, sức sống của hình tượng nghệthuật đó, cho thấy sức sáng tạo của người nghệ sĩ Ví dụ, khi phân tích dẫn chứng là những đồvật, sự vật trong văn học dân gian Việt Nam, có thể viết:

“Truyện Tấm Cám hấp dẫn bạn đọc không chỉ ở chiều sâu tư tưởng mà còn ở những

sự vật lấp lánh sắc màu cổ tích mà nhân dân đã để cho cô Tấm hoá thân Đó là chiếc khung cửi biết cất lên tiếng nói con người Khung cửi xưa kia vốn là hình ảnh gắn liền với người con gái ở làng quê, hiện thân cho nết chăm chỉ, chịu thương chịu khó; nay khung cửi cũng biết chuyển mình, thay cho Tấm cất lên tiếng nói mạnh mẽ, quyết liệt đấu tranh với cái ác

“kẽo ca kẽo kẹt, lấy tranh chồng chị, chị khoét mắt ra” Đó là hình ảnh quả thị thơm bình dị

mà Tấm đã náu thân, giữ mình như hiện thân cho tấm lòng thơm thảo của người con gái hiếu thảo, nghĩa tình Truyện còn hấp dẫn người đọc ở những đồ vật“nên duyên” như chiếc hài

“vô ý” rơi xuống sông nhưng “cố ý” đợi nhà Vua đi qua, nhặt được và chỉ chọn Tấm làm hoàng hậu Đó còn là vật “nối duyên”- miếng trầu têm cánh phượng – một nét đẹp văn hóa dân gian tượng trưng cho tình duyên đôi lứa, tình vợ chồng gắn kết, nay đã giúp Vua nhận ra người vợ yêu quý, nết na của mình Những đồ vật, sự vật mang tính nghệ thuật ấy không chỉ xuất hiện trong truyện cổ dân gian mà còn cả trong những khúc ca dao tâm tình Nỗi tha thiết nhớ thương của người con gái trong lời thơ xưa cũng được ấp ủ trong hình ảnh khăn, đèn cứ lặp đi lặp lại và khát vọng tình yêu mãnh liệt, táo bạo cũng đã dám tỏ bày kín đáo qua cây cầu dải yếm mềm mại, thắm đỏ có một không hai trong văn học Đó đều là những sáng tạo tuyệt diệu của người nghệ sĩ bình dân khi đã thổi hồn và trao gửi bao yêu thương, tâm tình và cả sự tài hoa của mình nơi những đồ vật, sự vật ấy” (Bài làm của học sinh)

- Khi viết đoạn phân tích dẫn chứng (bắt buộc) để làm sáng tỏ luận điểm: “Đó là những đồ

vật, sự vật mang ý nghĩa biểu trưng cho nhận thức, nhân cách, ý chí, khát vọng, số phận,… của con người” Học sinh cần phân tích kĩ lưỡng, sâu sắc để làm sáng tỏ luận điểm, luận cứ.

Với luận cứ: đồ vật, sự vật mang ý nghĩa biểu trưng cho nhận thức con người Khi chọn và

Trang 35

phân tích dẫn chứng 1 là thứ thuốc chữa bệnh quái lạ qua hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người trong truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn, học sinh cần phải đảm bảo các ý sau:

+ Giới thiệu thứ thuốc chữa bệnh quái lạ là chiếc bánh bao tẩm máu người dùng để

chức bệnh lao

+ Tái hiện thứ thuốc chữa bệnh qua các phần của truyện: mua thuốc (lão Hoa đến pháp trường trong đêm thu gần về sáng); ăn thuốc (thằng Thuyên nướng chiếc bánh trên lửa và ăn); bàn về thuốc (lời những người trong quán trà) và công hiệu của thuốc (hình ảnh nấm mồ

thằng Thuyên nơi nghĩa địa trong tiết thanh minh)

+ Phân tích nghĩa tả thực của phương thuốc: bánh bao là món ăn thông thường củangười Trung Hoa nay được tẩm máu của người tù chết chém ở pháp trường đêm ấy và trởthành phương thuốc để chữa bệnh lao

+ Phân tích nghĩa biểu trưng của thứ thuốc kì quái, thể hiện nhận thức của con người:Nhận thức u mê, tăm tối về khoa học của người dân Trung hoa thời đó (gia đình lão Hoa,những người trong quán trà): Chiếc bánh bao tẩm máu không phải là thuốc, không thể cứuchữa được con bệnh trầm trọng là thằng Thuyên, nhưng tất cả mọi người trong đám đông ấy

vẫn mù quáng, thật bụng tin rằng “lao gì chẳng khỏi”, “cam đoan thế nào cũng khỏi” Kết

cục là thằng Thuyên vẫn chết Vì thế, thứ thuốc kì quái đó chính là sản phẩm ung nhọt của

một thứ nhận thức về khoa học thật u tối, trì trệ, đúng như Lỗ Tấn nói về họ: “ngủ quên trong

cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”; Nhận thức tăm tối, thiển cận về chính trị: Chiếc bánh

bao tẩm máu người chiến sĩ cách mạng Hạ Du - người đã xả thân vì nhân dân mà tranh đấu,đáng lẽ ra phải được tôn vinh, ngợi ca; nhưng lại bị chính nhân dân lợi dung, khinh thường,chế nhạo cả khi sống, khi vào tù và khi đã chết Vì thế, chiếc bánh bao tẩm máu là hiện thânđau xót cho thứ nhận thức đen tối về chính trị, là hệ quả cay đắng của căn bệnh xa rời quầnchúng của những người làm cách mạng; Nhận thức sáng suốt về thời đại của tác giả: Hìnhảnh chiếc bánh bao tẩm máu người được Lỗ Tấn dũng cảm khắc họa trong câu chuyện đã thểhiện nhận thức sâu sắc của nhà văn về hiện thực cuộc sống, nhà văn đã phanh phui căn bệnhtinh thần của quốc dân Trung Hoa thời đó và đề nghị phải tìm một phương thuốc đề chữa trị.Nhận thức đó có ý nghĩa khai sáng, thức tỉnh dân tộc

Ngày đăng: 09/03/2020, 11:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w