Xuất phát từ thực tế đó, với tất cả những lí do đã trình bày ở trên; chúngtôi đã triển khai đề tài: Rèn kỹ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận văn học dành cho học sinh
Trang 1CHUYÊN ĐỀ
RÈN KĨ NĂNG CHỌN VÀ PHÂN TÍCH DẪN CHỨNG TRONG BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC DÀNH CHO
HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN
Trang 2MỤC LỤC A.PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
II Mục đích của đề tài
III Cấu trúc chuyên đề
B PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ VĂN NGHỊ LUẬN VÀ DẪN CHỨNG TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
1 Khái quát chung về văn nghị luận
1.1 Định nghĩa về văn nghị luận
1.2 Các dạng bài nghị luận
1.3 Những yếu tố tạo nên nội dung bài nghị luận
2 Dẫn chứng trong văn nghị luận
2.1 Khái niệm dẫn chứng
2.2 Vai trò của dẫn chứng trong văn nghị luận
3 Dẫn chứng trong bài nghị luận văn học dành cho học sinh giỏi
3.1 Các kiểu bài nghị luận văn học thường gặp cho học sinh giỏi
3.2 Dẫn chứng trong bài nghị luận văn học cho học sinh giỏi
CHƯƠNG II: RÈN KỸ NĂNG CHỌN VÀ PHÂN TÍCH DẪN CHỨNG TRONG BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC DÀNH CHO HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN
Trang 33.2 Tóm lược nội dung chính, nêu một số từ hoặc ngữ tiêu biểu
4 Cách trình bày dẫn chứng
4.1 Phân tích, bình giảng – nêu dẫn chứng
4.2 Nêu dẫn chứng – phân tích, bình giảng
4.3 Nêu nội dung dẫn chứng- trích dẫn chứng – phân tích, bình giảng
5 Phân tích dẫn chứng
5.1 Xác định điểm nhìn để triển khai dẫn chứng
5.2 Kết hợp linh hoạt các thao tác nghị luận
5.3 Phân tích đậm và phân tích nhạt, hướng tới làm sáng tỏ vấn đề cần nghị luận
6 Một số lỗi thường gặp về chọn, phân tích dẫn chứng và cách sửa lỗi
CHƯƠNG III: MỘT SỐ BÀI VĂN CỦA HỌC SINH GIỎI VỀ CHỌN VÀ PHÂN TÍCH DẪN CHỨNG TRONG BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
C KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
1 Văn nghị luận có vai trò quan trọng với nhà trường và cuộc sống :
Trong nhà trường, mỗi môn học đều có ý nghĩa và sứ mệnh riêng Môn Ngữvăn từ xưa tới nay luôn là môn học chính, có vai trò quan trọng không chỉ trongnhà trường với các em học sinh mà còn quan trọng và thiết thực với tất cả mọingười, ở ngoài xã hội Môn văn trong nhà trường vừa trang bị cho học sinhnhững tri thức văn học, vừa giúp học sinh hình thành và hoàn thiện nhân cách;phát triển được toàn diện năng lực của bản thân Vì vậy, ngoài những giờ họcđọc – hiểu, khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn chương, người học được rènluyện kỹ năng làm văn, tạo lập văn bản (nói và viết) Chương trình Làm văntrong nhà trường rất chú ý rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm kiểu bài nghịluận, bao gồm cả nghị luận xã hội và nghị luận văn học Kiểu bài nghị luận nàygiúp học sinh hình thành và phát triển tư duy luận lí với khả năng lập luận chặtchẽ, giàu sức thuyết phục Điều này có ý nghĩa quan trọng với học sinh trongquá trình học tập, thi cử và ra ngoài cuộc sống Từ xưa, ở Việt Nam văn nghịluận đã có lịch sử từ rất lâu đời, không chỉ có ý nghĩa đối với những vấn đề lớnlao của đất nước, thời đại như công cuộc dựng nước, giữ nước, canh tân đấtnước mà còn rất gần gũi và có ý nghĩa trong đời sống công dân hiện nay Vìvậy văn nghị luận có vị trí, vai trò quan trọng trong bộ môn Ngữ văn, trong nhàtrường và cả cuộc sống
2.Dẫn chứng là yếu tố quan trọng của văn nghị luận Sức hấp dẫn, thuyết
phục của văn nghị luận nằm ở bố cục chặt chẽ, logic; lí lẽ, lập luận chặt chẽ,sắc sảo; dẫn chứng phong phú, tiêu biểu, xác đáng; văn phong giàu sức gợicảm… Như vậy dẫn chứng là yếu tố quan trọng cấu thành nên bài văn nghịluận Đối với bất cứ dạng văn nghị luận nào (nghị luận xã hội hay nghị luậnvăn học), dẫn chứng đều có vai trò vô cùng quan trọng
Trang 5Trong bài văn nghị luận, dẫn chứng và lí lẽ là hai bộ phận cấu thành luậnđiểm và làm tăng thêm tính thuyết phục, hấp dẫn cho hệ thống lập luận Bởinếu không có dẫn chứng, những lí lẽ được đưa ra dù hay và sắc sảo đến đâu thìvẫn không đủ sức thuyết phục và không thể tác động mạnh mẽ đến người đọc,người nghe Bài văn nghị luận sẽ trở thành những lời bàn luận mang tính kháiniệm, lí thuyết suông Trong bài văn nghị luận dẫn chứng rất quan trọng, dẫnchứng hay, xác đáng cũng giống như một nụ cười làm sáng bừng cả khuôn mặt.Thiếu dẫn chứng bài văn nghị luận sẽ khô khan, không thuyết phục, lập luậnkhông chặt chẽ, bài làm đạt điểm không cao Dẫn chứng không phù hợp khiếnbài viết bị lạc đề và mất điểm Như vậy bài làm của học sinh có đạt điểm caohay không phụ thuộc chủ yếu vào việc các em làm tốt phần chứng minh, đồngnghĩa với việc các em có kỹ năng chọn và phân tích dẫn chứng một cách nhuầnnhuyễn, sáng tạo.
3 Chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận văn học là khâu yếu
nhất của học sinh Văn nghị luận thường có hai kiểu bài chính là nghị luận xã
hội và nghị luận văn học Trong đề thi THPT Quốc gia hay đề thi học sinh giỏidạng bài nghị luận văn học bao giờ cũng chiếm số điểm nhiều nhất Để đạtđiểm cao bài nghị luận văn học, học sinh cần làm tốt phần phân tích chứngminh Điều đó đồng nghĩa với việc người viết phải có kỹ năng chọn và phântích dẫn chứng khéo léo, nhuần nhuyễn, sáng tạo Nhưng thực tế trong quátrình dạy học chúng tôi thấy rằng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghịluận văn học là khâu yếu nhất của học sinh Các em thường nghèo nàn dẫnchứng, hoặc chọn dẫn chứng chưa tiêu biểu, xác đáng; hoặc phân tích dẫnchứng chung chung/ lan man chưa bám sát yêu cầu của đề; dẫn đến bài viếtkhông thuyết phục, không gây ấn tượng với người đọc, người nghe Thực tế,khi dạy và chữa đề cho học sinh giỏi, nhất là dạng bài lí luận văn học, đáp ánphần chứng minh thường sơ sài, vắn tắt mang tính mở Chính vì thế ngay cảgiáo viên cũng chưa thật sự hướng dẫn kỹ càng, rèn luyện được thuần thục kỹ
Trang 6năng chọn và phân tích dẫn chứng cho học sinh Ví dụ đề thi có câu nghị luậnvăn học như sau:
Nhà thơ Thanh Thảo từng viết:
"Thơ chẳng ai giống ai, chẳng ai mong muốn giống ai, và không có lối đi nào
chung cho hai nhà thơ cả." ( Mười năm cõng thơ leo núi).
Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng những hiểu biết về Thơ mớiViệt Nam (1932-1945) hãy làm sáng tỏ điều đó
Hướng dẫn chấm phần chứng minh như sau:
“- Thí sinh cần đảm bảo những yêu cầu sau:
+ Chọn được những tác giả Thơ mới có phong cách nghệ thuật độc đáo,
có những sáng tạo riêng giàu giá trị
+ Phân tích để làm sáng tỏ lối đi riêng của các nhà thơ thể hiện ở: quan
niệm riêng về cuộc sống và con người (cái nhìn, cảm hứng chủ đạo, cách lí giảinhững vấn đề về đời sống…mang tính khám phá phát hiện); phương thức biểuhiện riêng (thể hiện ở việc lựa chọn các thủ pháp nghệ thuật, tổ chức kết cấu,
sử dụng ngôn ngữ…đầy sáng tạo) Có thể làm rõ nét riêng, nét mới trong sựđối sánh với các nhà thơ khác Từ đó, khẳng định tài năng, tầm vóc và đónggóp của nhà thơ cho văn học.”
Như vậy qua đáp án trên có thể thấy, hướng dẫn chấm phần chứng minhtrong các đề thi tương đối ngắn, mở, mang tính gợi ý buộc học sinh phải có kỹnăng chọn và phân tích dẫn chứng Trong khi đây là khâu yếu nhất của họcsinh, cũng là phần các thầy cô chữa đề thường mang tính gợi mở chứ không kỹcàng Thực tế hiện nay trong chương trình Sách giáo khoa môn Ngữ văn cũngchưa có tiết dạy nào cho các em kỹ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bàinghị luận văn học một cách tường tận, chi tiết; nếu có cũng chỉ là những địnhhướng rất chung
Trang 7Xuất phát từ thực tế đó, với tất cả những lí do đã trình bày ở trên; chúng
tôi đã triển khai đề tài: Rèn kỹ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận văn học dành cho học sinh giỏi Ngữ văn Đây là một đề tài hữu
ích, thiết thực, có ý nghĩa lớn với giáo viên và học sinh trong quá trình dạy vàhọc
II Mục đích của đề tài
Thực hiện đề tài này, chúng tôi hướng tới các mục đích sau:
Trước hết giúp giáo viên và học sinh hiểu rõ ý nghĩa, vai trò, tầm quantrọng của dẫn chứng trong bài văn nghị luận, đặc biệt là bài nghị luận văn họcdành cho học sinh giỏi Ngữ văn
Xác định, cung cấp một số phương pháp, kỹ năng chọn và phân tích dẫnchứng trong bài nghị luận văn học dành cho học sinh giỏi, chỉ ra các lỗi sai phổbiến trong quá trình làm văn của học sinh từ đó chỉ ra cách khắc phục, sửachữa
Chúng tôi hướng đến mục đích chính của chuyên đề là rèn luyện kỹ năng,hướng dẫn học sinh tự biết chọn và phân tích dẫn chứng Chuyên đề sẽ giúpcác em có kĩ năng tự học, tự nghiên cứu để thoát ly sự phụ thuộc vào thầy cô.Đồng thời, chính giáo viên cũng có thêm động lực và kỹ năng để tiếp tục nângcao công tác tự bồi dưỡng chuyên môn nhằm rèn luyện và hoàn thiện bản thân
III Cấu trúc chuyên đề
Chương 1: Khái quát về văn nghị luận và dẫn chứng trong văn nghị luận
Chương 2: Rèn kỹ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận văn học dành cho học sinh giỏi Ngữ văn
Chương 3: Một số bài văn của học sinh giỏi về chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận văn học
Trang 8PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ VĂN NGHỊ LUẬN VÀ DẪN CHỨNG
TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
1 Khái quát chung về văn nghị luận
1.1 Định nghĩa về văn nghị luận
Khái niệm văn nghị luận: Văn nghị luận là loại văn trong đó người viết
(người nói) trình bày những ý kiến của mình bằng cách dùng lí luận (bao gồm
cả lí lẽ và dẫn chứng) để làm rõ một vấn đề, nhằm làm cho người đọc (ngườinghe) hiểu, tin, đồng tình với những ý kiến của mình
Đặc trưng của văn nghị luận: Khác với văn miêu tả, kể chuyện nhằm tái
hiện con người và cuộc sống bằng ngôn ngữ, chủ yếu tác động vào cảm xúc,tưởng tượng của người đọc (người nghe); văn nghị luận thiên về trình bày các ýkiến, các lí lẽ để giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận…một vấn đề nào
đó Nó nhằm tác động vào trí tuệ, vào lí trí của người đọc Nó là kết quả của tưduy logic
Ngôn ngữ của văn nghị luận là ngôn ngữ mang phong cách ngôn ngữnghị luận Nó chú trọng đặc biệt đến sự chính xác, chặt chẽ vì mục đích củadiễn đạt trong văn nghị luận là nhằm phản ánh rõ ràng, chính xác quá trình tưduy để đạt đến việc nhận thức chân lí Tuy nhiên ngôn ngữ của văn bản nghịluận cũng cần có sức hấp dẫn, lôi cuốn bằng các từ ngữ hình tượng, có sự biểucảm; bằng cách diễn đạt linh hoạt chứ không chấp nhận sự khô khan đơn điệunhất là khi đối tượng nghị luận lại là một vấn đề văn học, một tác phẩm văn học
Vai trò, vị trí của văn nghị luận: Văn nghị luận đã hình thành từ xa xưa
và phát triển cùng với sự phát triển của tư tưởng, văn hóa của nhân loại và gópphần vào sự phát triển ấy Ngày nay văn nghị luận càng phát triển mạnh mẽ
Nó thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nó là vũ khí khoa học và
Trang 9vũ khí tư tưởng sắc bén, giúp cho con người nhận thức đúng đắn các lĩnh vựccủa đời sống xã hội và hướng dẫn, thúc đẩy hoạt động thực tiễn của con người.
Do đó, học làm văn nghị luận là một công việc, một yêu cầu rất trọngyếu của việc học văn trong nhà trường Văn nghị luận đặt ra những vấn đề tưtưởng và học thuật đòi hỏi người học phải giải quyết, từ đó giúp các em vậndụng tổng hợp các tri thức đã được học từ tự nhiên đến xã hội, rèn luyện khảnăng diễn đạt bằng ngôn ngữ, khả năng tư duy logic khoa học Từ đó góp phầntích cực vào việc xây dựng và hoàn thiện nhân cách người học Vì vậy văn nghịluận ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc sống
- Nghị luận về một tư tưởng đạo lí
- Nghị luận về một hiện tượng đời sống xã hội
- Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
1.2.2 Nghị luận văn học
Đối tượng của nghị luận văn học là tất cả các sự kiện và các vấn đề vănhọc, có ý nghĩa rất đa dạng và phong phú Có hai loại chính như sau:
Trang 10- Nghị luận về tác phẩm văn học: Nhằm kiểm tra năng lực cảm thụ vănhọc của người viết Đó có thể là một tác phẩm hoặc một đoạn trích
- Nghị luận về một ý kiến văn học: Thường là một ý kiến về lí luận, mộtnhận định về văn học sử hoặc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm…
Tóm lại cả hai loại nghị luận xã hội và nghị luận văn học đều nhằm phátbiểu tư tưởng, quan điểm, thái độ của người viết một cách trực tiếp về nhữngvấn đề văn hóa, chính trị, đạo đức, xã hội…với ngôn ngữ trong sáng, lập luậnchặt chẽ, dẫn chứng tiêu biểu, xác đáng, thuyết phục…
1.3 Những yếu tố tạo nên nội dung bài nghị luận
Có hai yếu tố tạo nên nội dung bài văn nghị luận là ý và việc tổ chức,liên kết ý
* Ý: Văn nghị luận là loại văn của tư duy, logic,trừu tượng Nó chủ yếu
bao gồm những ý kiến thể hiện những phán đoán, suy luận, thường được gọitắt là ý Tùy theo mức độ, vai trò, vị trí đối với bài văn nghị luận, những ý đượcgọi tên theo thuật ngữ chuyên ngành của bộ môn là: luận đề, luận điểm, luậncứ
- Luận đề: Là vấn đề cần nghị luận Đó là ý kiến được nêu ra trong đề
bài, yêu cầu chúng ta cần phải giải quyết
- Luận điểm: Là những ý chính hàm chứa trong luận đề Luận đề có thể
có một luận điểm hoặc nhiều luận điểm Luận điểm còn là những ý kiến thểhiện nhận định, phán đoán, quan điểm, tư tưởng của người viết trước vấn đềcần nghị luận Trong từng luận điểm lại có thể phân nhỏ ra thành những luậnđiểm nhỏ Các luận điểm lớn, nhỏ ấy tương đối độc lập với nhau nhưng cùngquy về luận đề để thuyết minh, soi sáng luận đề
- Luận cứ: Là các cứ liệu để thuyết minh cho luận điểm Có hai loại luận
cứ: lí lẽ (các nguyên lí, chân lí, ý kiến đã được công nhận) và thực tế (đời sốnghoặc văn học dùng làm dẫn chứng) Nói rõ hơn,luận cứ là những lí lẽ và dẫn
Trang 11chứng hình thành nên luận điểm hoặc thuyết minh, soi sáng luận điểm Vàtrong từng luận cứ, lí lẽ và dẫn chứng cùng soi sáng cho nhau: lí lẽ làm cho dẫnchứng có khả năng thuyết minh luận điểm, dẫn chứng làm cho lí lẽ có nội dung,
có sức nặng thuyết phục
* Tổ chức, liên kết ý : Có luận điểm , luận cứ rồi còn cần phải tổ chức,
phối hợp, trình bày chúng theo những quan hệ nhất định sao cho luận cứ “nóilên” được luận điểm, luận điểm thuyết minh được luận đề một cách mạnh mẽ,nổi bật, đầy sức thuyết phục Việc tổ chức, liên kết ý này được gọi chung làcách lập luận, tức là cách đưa luận cứ, luận điểm vào quỹ đạo logic trong quátrình trình bày để tạo sức thuyết phục mạnh mẽ cho việc giải quyết luận đề
Như vậy dẫn chứng là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành nênnội dung bài văn nghị luận
2 Dẫn chứng trong văn nghị luận
2.2 Vai trò của dẫn chứng trong văn nghị luận
Nội dung bài nghị luận được tạo nên bởi những lí lẽ và dẫn chứng Cảhai cùng có một mục đích là làm sáng tỏ vấn đề cần nghị luận Tuy vậy, nếu
như lí lẽ nghiêng về việc làm cho người đọc hiểu thì dẫn chứng thiên về phía làm người ta tin Một khi đã hiểu và tin tức là đã bị thuyết phục Thậm chí, nếu
không có dẫn chứng, những lí lẽ được đưa ra dù hay và sắc sảo đến đâu thì vẫnkhông đủ sức thuyết phục và không thể tác động mạnh mẽ đến người đọc,người nghe Bài văn nghị luận sẽ trở thành những lời bàn luận mang tính chất
là những khái niệm, lí thuyết suông
Trang 12Dẫn chứng là tổng hợp những kiến thức của người viết: vốn sống, vốnkiến thức về văn học, về kinh tế, chính trị, xã hội, về các khoa học tự nhiên…Trong quá trình chứng minh, người viết cần phải huy động và xử lí vốn kiếnthức này Vốn này càng nhiều, bài làm càng phong phú và luận cứ có sức sống,lập luận trở nên sắc sảo, có sức mạnh thuyết phục Vốn này nghèo nàn, bài làmtrở nên khô khan, thiếu “máu thịt” do đó thiếu sức thuyết phục Vì vậy, trongvăn nghị luận dẫn chứng rất quan trọng Dẫn chứng hay, xác đáng giống nhưmột nụ cười làm sáng bừng khuôn mặt
3 Dẫn chứng trong bài nghị luận văn học dành cho học sinh giỏi
3.1 Các kiểu bài nghị luận văn học thường gặp cho học sinh giỏi
Ở chuyên đề này, chúng tôi muốn tập trung vào dạng nghị luận văn họcdành cho học sinh giỏi Ngữ văn Đây là kiểu bài chiếm số lượng điểm nhiềunhất trong bài thi học sinh giỏi Qua quan sát và thực tiễn, chúng tôi nhận thấytrong đề thi Ngữ văn dành cho học sinh giỏi thường có những nhóm đề nghịluận văn học như sau:
III.1.1Loại đề nghị luận về một tác phẩm văn học
- Loại đề này nhằm kiểm tra trình độ tiếp nhận tác phẩm văn học của họcsinh với hai hình thức chính là phân tích và bình giảng Những đề văn yêu cầucảm thụ văn học thực chất là yêu cầu người viết làm sáng lên vẻ đẹp về nộidung và nghệ thuật của một đoạn trích, của một hoặc một số tác phẩm văn học
- Đối với kỳ thi bình thường (như thi tốt nghiệp và thi đại học) thì dạng đềnày có thể yêu cầu người viết phân tích, cảm thụ một tác phẩm nào đó đã học.Nhưng trong các kì thi học sinh giỏi Quốc gia, loại đề kiểm tra năng lực cảmthụ văn học có yêu cầu cao hơn Điều đó thể hiện ở chỗ ít khi đề yêu cầu phântích, cảm thụ một tác phẩm nào đã học trong chương trình Thường là, nếu đềcập đến những tác phẩm đã dẫn chứng học thì đề buộc người viết phải phântích và cảm thụ các tác phẩm ấy trong thế đối sánh với nhau để chỉ ra sự độcđáo, vẻ đẹp riêng biệt của mỗi tác phẩm
Trang 13- Ví dụ: Đề thi học sinh giỏi quốc gia năm 2001 – 2002: Theo Xuân Diệu: Trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, nức danh nhất là ba bài thơ mùa thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh (Nguyễn Khuyến – Về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, 1999, trang 160) Anh/chị hãy phân tích những sáng tác trên trong quan
hệ đối sánh để làm nổi bật vẻ đẹp độc đáo của từng thi phẩm, từ đó nêu vắn tắt yêu cầu đối với tác phẩm văn học
III.1.2Loại đề nghị luận về một vấn đề văn học sử
Văn học sử là những kiến thức về lịch sử văn học bao gồm những đặc điểm,những quy luật hình thành và phát triển lịch sử của các sự kiện văn học (tràolưu, tác giả, tác phẩm, thể loại…)
Trong nhà trường phổ thông, học sinh giỏi Ngữ văn thường được tiếp xúcvới các dạng bài văn học sử sau:
- Bài văn học sử về cả một nền văn học hay một thời kỳ, một giai đoạn văn
học Ví dụ: Phân tích và chứng minh một trong những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975: Sáng tác theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
- Bài văn học sử về một khuynh hướng văn học Ví dụ: Những đóng góp của khuynh hướng hiện thực qua một số tác phẩm của Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng giai đoạn 1930 – 1945.
- Bài văn học sử về một tác giả văn học Ví dụ: Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân giai đoạn trước và sau Cách mạng
- Bài văn học sử về một tác phẩm văn học Ví dụ: Tình cảm nhân đạo được biểu hiện trong Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh
3.1.3 Loại đề nghị luận về một vấn đề lí luận văn học (thường gặp nhất)
Lí luận văn học là một phân môn của môn văn có nhiệm vụ nghiên cứubản chất, chức năng xã hội và thẩm mĩ, quy luật phát triển của sáng tác vănhọc, có tác dụng xác định phương pháp luận và phương pháp phân tích văn
Trang 14học Những vấn đề lí luận trên được thể hiện bằng hàng loạt khái niệm, thuậtngữ…Đề thi học sinh giỏi Ngữ văn những năm gần đây hầu hết đều ra vàodạng đề nghị luận về một vấn đề lí luận văn học
Ví dụ đề thi học sinh giỏi các trường THPT chuyên khu vực Duyên hải
và Đồng bằng Bắc bộ lần thứ XII, năm 2019, Ngữ văn lớp 11, câu nghị luậnvăn học như sau:
“Trong bài Truyện ngắn đầu tiên, K Pauxtopxki cho rằng:
Chỉ có người nào nói được với mọi người những điều mới mẻ, có ý nghĩa và thú vị, nhìn thấy những gì mà người khác không nhận ra, người đó mới có thể
là nhà văn.
(Bông hồng vàng và Bình minh mưa, NXB Văn học, 1999, tr.56)
Anh/chị hãy bình luận và làm sáng tỏ ý kiến trên.”
BẢNG TÓM TẮT CÁC DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC Loại đề Phạm vi nội dung nghị luận Hình thức thao
tác nghị luận chính
- Bình giảng, phân tích một bài thơ,
một đoạn thơ, một tác phẩm văn xuôi, một trích đoạn văn xuôi…
Văn
học
sử
-Về một nền văn học -Về một giai đoạn văn học -Về một khuynh hướng văn học
Phân tíchGiải thíchChứng minh
Trang 15văn
học
-Về một tác giả văn học -Về một tác phẩm văn học
Bình luận
So sánhBác bỏ
So sánh Bác bỏ
3.2 Dẫn chứng trong bài nghị luận văn học cho học sinh giỏi
Dẫn chứng là yếu tố quan trọng cấu thành nên bài văn nghị luận, dù là nghịluận xã hội hay nghị luận văn học Trong các dạng bài nghị luận văn học dànhcho học sinh nói chung, học sinh giỏi nói riêng đều cần dẫn chứng để chứngminh, thuyết phục cho người đọc, người nghe về vấn đề cần nghị luận
Có hai loại dẫn chứng trong bài nghị luận văn học Đó là dẫn chứng bắt buộc và dẫn chứng mở rộng (liên hệ, so sánh) Dẫn chứng bắt buộc là dẫn
chứng nằm trong phạm vi yêu cầu của đề về tư liệu Còn dẫn chứng mở rộng làloại dẫn chứng ngoài phạm vi trên do người viết viện dẫn ra để liên hệ, đốichiếu, so sánh nhằm làm sáng tỏ thêm ý đang được bàn bạc
Ví dụ: Có ý kiến cho rằng Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ đặc sắc của làng cảnh Việt Nam Anh /chị hãy chứng minh điều đó qua việc phân tích chùm thơ mùa thu của ông
Ở đề này, chùm thơ mùa thu của Nguyễn Khuyến là phạm vi tư liệu màngười viết buộc phải trích dẫn Đó là những dẫn chứng bắt buộc Tuy vậy,trong quá trình viết, người làm bài có thể liên hệ với nhiều nhà thơ khác cùngviết về mùa thu để so sánh, đối chiếu, làm nổi rõ những nét đặc sắc của mùathu trong thơ Nguyễn Khuyến Tất cả những tác phẩm trích dẫn ngoài yêu cầucủa đề này đều là những dẫn chứng mở rộng
Trang 16Về nguyên tắc những dẫn chứng mở rộng này có thể ở nhiều cấp độ Nếudẫn chứng bắt buộc là một đoạn trích, thì dẫn chứng mở rộng có thể là nhữngđoạn khác trong tác phẩm ấy, những tác phẩm khác của cùng một nhà văn,những tác phẩm khác của những nhà văn khác (cùng thời, trước đó, sau đó,trong nước, ngoài nước, văn học dân gian, văn học viết…)
Cần phân biệt được hai loại dẫn chứng này trong bài nghị luận văn học vàchú ý: phải tôn trọng và tập trung vào những dẫn chứng bắt buộc, tránh tìnhtrạng dẫn chứng mở rộng lại nhiều hơn, coi trọng hơn, làm át cả dẫn chứng bắtbuộc Dẫn chứng mở rộng chỉ là để làm sáng tỏ thêm cho dẫn chứng bắt buộc.Dẫn chứng mở rộng khá quan trọng với bài viết của học sinh giỏi Ngữ văn.Những dẫn chứng này một mặt để liên hệ, so sánh, mặt khác cũng chứng tỏ tầmkiến văn sâu rộng của người viết
Ngoài việc phân biệt hai loại dẫn chứng trên đây, có những đề văn yêu
cầu người viết tự xác định lấy dẫn chứng Ví dụ: “Nhà thơ đích thực là người
có thể mơ khi đang tỉnh, và rất tỉnh khi đang mơ Với họ có ít nhất hai thế giới tồn tại song song Và họ dễ dàng “đi lại” giữa hai thế giới ấy Cái nhìn trong suốt là cái nhìn của tâm hồn, và cái mờ ảo của ngôn ngữ là kết quả của sự tương tác giữa hai thế giới ”
(Thanh Thảo trích trong Thanh Thảo – Mãi mãi là bí mật,NXB Lao động, Hà Nội, 2004, trang 228)
Anh/Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng trải nghiệm văn học củamình hãy làm sáng tỏ
Rõ ràng ở đề này người viết phải tự mình xác định và lựa chọn lấy nhữngdẫn chứng sao cho phù hợp, tiêu biểu, làm sáng tỏ dẫn chứng những lí lẽ vừanêu Trong trường hợp này không có sự phân biệt dẫn chứng bắt buộc và dẫnchứng mở rộng
Tiểu kết: Văn nghị luận có vai trò quan trọng trong trường học và ngoài
xã hội Văn nghị luận có hai dạng: nghị luận xã hội và nghị luận văn học Bài
Trang 17nghị luận văn học thường có số điểm cao nhất trong đề thi dành cho học sinhgiỏi Ngữ văn Trong văn nghị luận nói chung và nghị luận văn học nói riêng,dẫn chứng có vai trò vô cùng quan trọng Bài văn của học sinh có thuyết phụcngười đọc, người nghe dẫn chứng hay không chính là nằm ở kỹ năng chọn vàphân tích dẫn chứng Trong khi đây lại là khâu yếu nhất của học sinh cũng nhưnhiều giáo viên non trẻ mới vào tập huấn bồi dưỡng học sinh giỏi Vì vậy, saukhi đã giới thiệu khái quát về vị trí, vai trò của văn nghị luận và dẫn chứngtrong văn nghị luận; trong chương II, chúng tôi sẽ cụ thể hóa việc rèn kỹ năngchọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận văn học dành cho học sinhgiỏi ngữ văn
CHƯƠNG II: RÈN KỸ NĂNG CHỌN VÀ PHÂN TÍCH DẪN CHỨNG
TRONG BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC DÀNH CHO
HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN
Trước khi bắt tay vào công việc quan trọng nhất là chọn và phân tích dẫnchứng, người học phải luôn tư duy về dẫn chứng và hình dung trong đầu về hệ thống logic của phần chứng minh Có thể sơ đồ hóa như sau:
Trang 18
Toàn bộ chương II, chúng tôi sẽ tập trung hướng dẫn học sinh hình dung
và có được kỹ năng chọn dẫn chứng, nêu, trình bày và phân tích dẫn chứng
1 Chọn dẫn chứng
Việc chọn dẫn chứng có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi đây là công việcđầu tiên quyết định đến chất lượng bài làm của học sinh Nếu chọn được dẫnchứng đúng, đủ, phù hợp, hay, mới thì coi như bài viết đã có sức thuyết phụchấp dẫn, dễ đạt điểm cao Chọn sai dẫn chứng, chọn dẫn chứng không tiêubiểu, nhàm chán sẽ làm bài văn trở nên tẻ nhạt, thậm chí không đáp ứng yêucầu của đề bài
Việc chọn dẫn chứng trong bài nghị luận văn học dành cho học sinh giỏilại có những điểm riêng cần lưu ý hơn Bởi đề bài hầu như không yêu cầu phântích cảm thụ cái hay cái đẹp của một tác phẩm văn chương đơn thuần mà đều
có định hướng, cần làm sáng tỏ vấn đề cần nghị luận, đặc biệt là vấn đề lí luậnvăn học Qua thực tế dạy học, chúng tôi đề ra một số cách thức sau để giúp họcsinh và rèn luyện cho học sinh chọn đúng và hay dẫn chứng cho bài nghị luậnvăn học dành cho học sinh giỏi
1.1 Đọc đề và xác định phạm vi dẫn chứng
Một đề văn bao giờ cũng phải có hai thông tin cơ bản: Yêu cầu đề bài
(vấn đề cần bàn luận là gì? Những thao tác lập luận cần triển khai là gì) và
Trang 19phạm vi dẫn chứng Để triển khai tốt dẫn chứng, trước nhất phải đọc kĩ đề bài
để xác định được phạm vi dẫn chứng cần triển khai Một số tiêu chí xác địnhphạm vi dẫn chứng có thể là:
1 Kết cấu tác phẩm Đề yêu cầu bàn về toàn bộ tác phẩm,
hay một phần, một yếu tố cụ thể của tácphẩm?
2 Số lượng tác phẩm Đề yêu cầu bàn về một tác phẩm hay
nhiều tác phẩm
3 Giai đoạn văn học Đề yêu cầu bàn về giai đoạn văn học
nào? (dân gian, trung đại, hiện đại…)
4 Nền văn học Đề yêu cầu bàn về văn học Việt Nam
hay văn học nước ngoài?
5 Thể loại văn học Đề yêu cầu bàn về thể loại văn học
nào? (thơ, truyện, kịch…)?
6 Đề tài, chủ đề Đề có yêu cầu bàn về những tác phẩm
thuộc đề tài cụ thể (đất nước, người phụ nữ,người nông dân…) hay không?
của tác giả cụ thể hay không?
Mỗi đề khác nhau sẽ có những cách yêu cầu phạm vi dẫn chứng khácnhau Những yếu tố nào không thể hiện cụ thể trên đề, thì có thể hiểu là chọndẫn chứng thế nào cũng được
- Ví dụ : Alice Munro, bậc thầy truyện ngắn đương đại được trao giải
Nobel năm 2013, từng chia sẻ: "Khi viết truyện ngắn, bạn phải cẩn thận để không làm nó giống thơ ca"
Anh / chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua một tácphẩm truyện ngắn trong giai đoạn 1930-1945
Trang 20Như vậy dẫn chứng cần lựa chọn:
+ Vấn đề lí luận văn học cần làm sáng tỏ: đặc trưng của thể loại truyện ngắn + Dẫn chứng thuộc thể loại truyện ngắn
là thứ thuốc phiện tinh thần êm ái mà nhỏ nhen, độc hại…” (Phương Lựu)
Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua một số bài thơtrong phong trào Thơ Mới
- Hướng dẫn: Học sinh tự lựa chọn một số bài thơ Mới (trong hoặc ngoài
chương trình) để chứng minh song yêu cầu tác phẩm phải tiêu biểu, phù hợp vấn đề lý luận và biết thông qua tác phẩm để làm sáng tỏ vấn đề lý luận
Ví dụ, học sinh chọn tác phẩm Vội vàng của Xuân Diệu:
- Vội vàng là tiếng hát của trái tim?
- Vội vàng – không đơn giản mà cũng không thần bí?
- Vội vàng nuôi dưỡng tâm hồn người đọc?
Trong trường hợp đề không nói gì về phạm vi dẫn chứng, thì có nghĩa
là người viết được tùy chọn phạm vi dẫn chứng Trong trường hợp này, việcchọn dẫn chứng cần bao quát những yếu tố sau sẽ tốt nhất:
+ vừa có dẫn chứng thơ vừa có dẫn chứng truyện
Trang 21+ vừa có dẫn chứng văn học dân gian, văn học trung đại, văn học hiện đại+ vừa có dẫn chứng văn học Việt Nam và văn học nước ngoài…
Người viết cần cân nhắc yêu cầu đề bài và thời gian làm bài thực tế để xácđịnh chọn dẫn chứng và triển khai dẫn chứng nông, sâu cho phù hợp Cũngkhông nhất thiết phải triển dẫn chứng theo toàn bộ các tiêu chí đã nêu ở trên.Không phải lúc nào các tiêu chí trên cũng thể hiện trực tiếp trong câu
mệnh lệnh Một số trường hợp, phạm vi dẫn chứng được gợi ra ở phần dẫn
dắt hoặc trong ngữ liệu mà đề cung cấp Ví dụ với đề bài sau:
Đề bài: Nhà văn Trung Quốc Trương Hiền Lương cho rằng: “Truyện
ngắn giống như nước hoa quả cô đặc”, còn nhà văn Mĩ Truman Capote khẳngđịnh: “Đó là một tác phẩm nghệ thuật có bề sâu nhưng lại không được dài”
Anh (chị) hãy bình luận về ý kiến trên
Với đề trên, rõ ràng câu mệnh lệnh không nói gì nhiều, nhưng ta phải hiểuphạm vi dẫn chứng đó là các tác phẩm truyện ngắn, điều này gợi ra từ câu nhậnđịnh mà đề cung cấp Và học sinh nên lấy dẫn chứng các tác phẩm truyện ngắn
cả văn học Việt Nam và văn học nước ngoài…
Đề bài: Bàn về đặc trưng của thơ, Lamáctin - nhà thơ Pháp – tâm
sự: Thế nào là thơ? Đó không phải chỉ là một nghệ thuật, đó là sự giải thoát của lòng tôi Anh/chị hãy bình luận về ý kiến trên.
Trong đề trên, phạm vi dẫn chứng phải là những tác phẩm thuộc thể loại
thơ Điều này được gợi ra trong cụm từ “Bàn về đặc trưng của thơ”.Và học
sinh thông minh sẽ biết lấy những bài thơ có thể là trung đại và hiện đại, ViệtNam và nước ngoài…
Như vậy, việc đọc kĩ đề và xác định phạm vi dẫn chứng rất quan trọng.Trước nhất nó cho người viết một cái nhìn tổng quát về yêu cầu đề để chọnđược dẫn chứng đúng Nếu bài viết triển khai dẫn chứng nằm ngoài phạm vi đềyêu cầu, thì coi như lạc đề, mọi nỗ lực sau đó coi như đổ sông đổ bể
Trang 22Bên cạnh đó, việc xác định phạm vi dẫn chứng cũng giúp người đọc hìnhdung tổng thể về những dẫn chứng mình sẽ triển khai trong bài viết Cụ thể, có
thể dễ dàng xác định dẫn chứng bắt buộc và dẫn chứng mở rộng Dẫn chứng
bắt buộc là dẫn chứng đề yêu cầu, cần phải giải quyết thỏa đáng Dẫn chứng
mở rộng là dẫn chứng thêm, người viết sử dụng để so sánh, đối chiếu, liên hệvới dẫn chứng bắt buộc để làm sáng rõ hơn vấn đề, tạo ra cái nhìn trên diệnrộng cho vấn đề nghị luận mà mình triển khai (Hai loại dẫn chứng này đã đềcập ở chương I) Đương nhiên, cần phải lưu ý sự hợp lý giữa hai loại dẫnchứng này Dẫn chứng bắt buộc bao giờ cũng phải là trọng tâm, phải triển khainhiều hơn, sâu hơn, kĩ hơn dẫn chứng mở rộng
1.2 Xác định các tiêu chí lựa chọn dẫn chứng
Sau khi xác định phạm vi dẫn chứng, câu hỏi đặt ra sẽ là “Làm thế nào để chọn được dẫn chứng cho phù hợp?” Học sinh nắm được các tiêu chí sau sẽ
dễ dàng “sàng lọc” được những dẫn chứng đúng và hay
1.2.1 Dẫn chứng phải đủ, toàn diện và vừa phải (yêu cầu về lượng)
Mỗi ý kiến, mỗi nhận định đưa ra đều phải có dẫn chứng thuyết minh,đồng thời dẫn chứng phải bao quát đủ các khía cạnh của ý kiến, nhận định Tuynhiên, đầy đủ, toàn diện không có nghĩa là đưa dẫn chứng tràn lan, có baonhiêu đưa ra hết, mà phải cân nhắc xem đối với ý ấy, luận điểm ấy cần bao
nhiêu dẫn chứng là vừa Người viết nên tìm cách kết hợp diện với điểm, vừa
đảm bảo đầy đủ các mặt, vừa tập trung vào một số điểm mấu chốt
Ví dụ: Để chứng minh lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam, muốn dẫn chứng đạt dẫn chứng yêu cầu đầy đủ, toàn diện, ta phải chọn dẫn chứng bao quát đủ các mặt:
- Thời gian: Từ xưa đến nay
- Không gian: từ miền xuôi đến miền ngược, từ miền Nam đến miền Bắc
Trang 23- Thành phần xã hội: từ nông dân đến trí thức
- Lứa tuổi: từ trẻ nhỏ đến cụ già
- Lĩnh vực: từ chiến đấu đến sản xuất…
Bài văn nghị luận cần có nhiều hơn một dẫn chứng Lấy quá ít dẫnchứng thì vấn đề nghị luận sẽ không được làm sáng tỏ Bên cạnh những dẫnchứng mang tính chất bản lề và bắt buộc, người viết cần liên hệ thêm nhữngdẫn chứng để có sự liên hệ, so sánh Tuy nhiên, nếu đưa quá nhiều dẫn chứngvào bài sẽ khiến bài văn nghị luận bị loãng Bởi vậy, khi đưa dẫn chứng vàobài cần lưu ý yếu tố cần và đủ, không thiếu dẫn chứng nhưng cũng không cóquá nhiều dẫn chứng Việc đưa dẫn chứng tùy thuộc vào việc có bao nhiêu vấn
đề được nêu ra trong luận điểm Thông thường, với mỗi một lí lẽ, người viếtcần đưa ra ít nhất một dẫn chứng đi kèm
1.2.2 Dẫn chứng phải chính xác, tiêu biểu, phù hợp với vấn đề nghị luận
- Yêu cầu đề bài: Những dẫn chứng nào sẽ làm bật lên được các vấn đề
mà đề yêu cầu bàn luận?
- Kết cấu tác phẩm: Những dẫn chứng nào sẽ làm bật lên được nét đặc
sắc, những vấn đề trọng tâm, đặc trưng của từng tác phẩm?
=> Dẫn chứng tốt là dẫn chứng đảm bảo được cả hai yêu cầu trên
Nhưng với dạng bài lí luận văn học dành cho học sinh giỏi, việc phântích dẫn chứng không phải để làm bật lên cái hay, cái đẹp của tác phẩm, màquan trọng hơn là phải làm rõ được vấn đề đề bài yêu cầu Cho nên, trong suốtquá trình chọn dẫn chứng và triển khai dẫn chứng, yêu cầu đề bài luôn phải
Trang 24được đặt lên hàng đầu, bởi đó chính là kim chỉ nam, là cái đích cuối cùng màbài viết hướng đến.
Ví dụ: Nhà văn Pautôpxki quan niệm: “Sáng tác của nhà văn là để cho
cái đẹp của trái đất, cho lời kêu gọi đấu tranh vì hạnh phúc, cho niềm vui và tự
do, cho cái cao rộng của tâm hồn, cho sức mạnh của trí tuệ sẽ chiến thắng bóng tối, để chúng vĩnh viễn rực rỡ như một mặt trời không bao giờ tắt”.
(trích Bông hồng vàng và bình minh mưa, Nxb Văn học, 2010)
Anh/chị hiểu như thế nào về quan niệm trên? Hãy làm sáng tỏ qua mộtvài tác phẩm tiêu biểu trong chương trình Ngữ văn 11 THPT
Với đề này, học sinh cần xác định được nội dung yêu cầu của đề liên quanđến vấn đề lí luận văn học Toàn bộ dẫn chứng phải làm sáng tỏ vấn đề lí luận:
Chức năng, giá trị của văn học đối với con người và xã hội trong đó có chức
năng thẩm mĩ và nhận thức, giáo dục Từ đó có cơ sở để chọn dẫn chứng: Vănhọc dân gian( ca dao), Văn học viết( truyện , thơ), văn học nước ngoài
Bên cạnh đó, người viết cũng cần nắm tổng thể từng tác phẩm để có thểchọn dẫn chứng cho phù hợp nhất Để làm rõ vấn đề nghị luận, thì ta sẽ chọntác phẩm nào, chi tiết nào trong tác phẩm, và sẽ triển khai dẫn chứng như thếnào? Những câu hỏi như vậy cần được cân nhắc đến trong quá trình chọn dẫnchứng Để giải quyết được những câu hỏi này, nhất thiết chúng ta phải nắmđược kết cấu tác phẩm, với mỗi tác phẩm phải biết được dẫn chứng nào là cụthể, tiêu biểu, dẫn chứng nào là quan trọng có thể làm toát lên được những giátrị cốt lõi của tác phẩm
Ví dụ với tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu,
không khó để nhận ra yếu tố trọng tâm của tác phẩm chính là nhân vật ngườiđàn bà hàng chài và nhân vật Phùng Với nhân vật người đàn bà hàng chài, có
Trang 25hai nội dung cơ bản: số phận đau khổ, bất hạnh và vẻ đẹp khuất lấp Vì vậy khichọn nhân vật làm dẫn chứng cần khai thác được những chi tiết đắt giá, đặcsắc, giàu sức gợi, nói được nhiều điều về nhân vật và tác phẩm, nhưng vẫn phảigắn với vấn đề cần nghị luận…
Một ví dụ khác, bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử Ta có thể dễdàng nhận ra mạch cảm xúc của bài thơ chia lìa, đứt đoạn, phi logic – một đặctrưng của Thơ điên về mạch liên kết Khổ 1: cảnh bình minh thôn vĩ tươi đẹp,thoáng chút dự cảm chia lìa Khổ 2: cảnh sông nước tan tác, chia lìa Khổ 3:Cảnh cõi mộng hư ảo; tức đi từ quá khứ tươi đẹp mộng mơ đến thực tại phiêután chia lìa, và dừng lại ở tương lai bất định với đầy những câu hỏi hoài nghi,tuyệt vọng Nắm được cấu trúc đó, ta sẽ dễ dàng hơn để chọn dẫn chứng phântích tác phẩm Nếu muốn làm bật lên tình yêu cuộc sống thiết tha đến khắckhoải của thi nhân, ta chọn khổ 1 Nếu muốn làm bật lên dự cảm phiêu tán,chia lìa, ta chọn khổ 2 Còn nếu muốn làm bật lên đặc trưng trường Thơ loạn,thì khổ 3 là thích hợp nhất Cũng tương tự như vậy, ở mỗi khổ ta phải biếttrọng tâm của khổ thơ rơi vào hình ảnh nào, từ ngữ nào, biện pháp nghệ thuậtnào, để từ những “hạt bụi vàng” ấy mà ta khái quát lên tinh thần, giá trị củatoàn bộ tác phẩm, từ đó có một sơ sở vững chắc để củng cố lập luận của mình
Việc nắm được những yếu tố nổi bật, những nội dung trọng tâm của từngtác phẩm sẽ giúp chúng ta chủ động và linh hoạt hơn trong việc chọn dẫnchứng Để làm được điều đó, ta cần trước hết đọc toàn văn tác phẩm (chứkhông phải chỉ là đoạn trích như sách giáo khoa) Kế đến, ta cần đặt tác phẩmtrong mối liên hệ với các tác phẩm khác có mối liên hệ chặt chẽ với nó (cùngchủ đề, cùng đề tài, cùng thời kì văn học, cùng tác giả, cùng nhóm tácphẩm…) Ví dụ khi phân tích bài thơ “Thu điếu” (Nguyễn Khuyến) thì cần đặt
vào trong tổng thể ba bài thơ thu (Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm) để thấy được sự
tương đồng trong cách miêu tả cảnh thu và tình thu, từ đó thấy được hồn thutrong thơ Nguyễn Khuyến và bầu tâm sự thầm kín của thi nhân trước thời cuộc
Trang 26Như vậy, việc chúng ta cần làm là đọc lại một lượt tất cả các tác phẩmtrong chương trình thi, và làm thao tác thống kê Với mỗi tác phẩm, những nộidung nào là trọng tâm? Với nội dung trọng tâm đó, chi tiết nào là tiêu biểunhất? Với mỗi chi tiết, ta sẽ khai thác thế nào cho đặc sắc? Sau khi có một bảnthống kê, ta đã có vốn liếng kha khá để ứng biến, xoay chuyển linh hoạt chocác đề bài khác nhau Riêng với học sinh giỏi, luôn khuyến khích những gócnhìn riêng, sáng tạo, độc đáo
1.2.3 Lựa chọn dẫn chứng dựa theo hiểu biết và sở trường của bản thân người viết.
Sau khi đã liệt kê tất cả các dẫn chứng đảm bảo tất cả các yêu cầu vềhình thức, nội dung, yêu cầu nghị luận, học sinh nên lựa chọn những ngữ liệudựa theo năng lực văn chương của bản thân Lựa chọn các tác phẩm, các tácgiả, các vấn đề mà mình hiểu biết nhất, tâm đắc nhất, mới mẻ nhất điều đó giúphọc sinh thể hiện hết hiểu biết, khả năng cảm thụ và tạo được sự sáng tạo nhất
1.2.4 Lựa chọn dẫn chứng mới mẻ phát huy tính sáng tạo.
Với đối tượng học sinh giỏi, trong bài nghị luận văn học cần chọn những
dẫn chứng mới mẻ, độc đáo để tạo nên sức hấp dẫn, ấn tượng cho bài viết.
Đứng trước một luận điểm, tâm lí chung của học sinh là thường chọn nhữngdẫn chứng quen thuộc để chứng minh Với học sinh giỏi cần phát huy cao độ
sự độc đáo, sáng tạo Vì vậy để bài văn nghị luận vừa có sức thuyết phục, vừagây ấn tượng, thu hút với người đọc, người nghe cần biết chọn những dẫnchứng mới mẻ, không có trong chương trình sách giáo khoa Bằng trải nghiệmvăn học của mình, người viết cần biết chọn dẫn chứng lạ, mới nhưng vẫn phỉaphù hợp với luận điểm cần chứng minh Như vậy dẫn chứng mới có ý nghĩa
Ví dụ: “Rồi đây, có thể xuất hiện những cỗ máy biết viết văn, làm thơ Lúc đó, sáng tạo văn học có còn là độc quyền của con người"?
Trang 27Bằng trải nghiệm văn học, anh/chị hãy trình bày quan điểm của mình.Với đề văn này, ngoài những dẫn chứng quen thuộc trong chương trình, họcsinh nên chọn những dẫn chứng mới mẻ ngoài chương trình để bài viết sinhđộng, hấp dẫn
Ví dụ: Khi chọn dẫn chứng cho đề văn “Tinh thần nhân văn qua một số
tác phẩm tự sự dân gian”, ngoài những tác phẩm tự sự quen thuộc trong sách
giáo khoa, học sinh biết chọn thêm truyện cổ tích Trương Chi : “Gã đàn ông
xấu xí “ma chê quỷ hờn” suốt cuộc đời đơn độc, thui thủi với một thuyền, mộtlưới, một dòng sông ấy có ngày đã biết yêu Trong giây phút gặp gỡ giữaTrương Chi và Mị Nương, nếu tình yêu vụt tắt trong lòng Mỵ Nương vì sự đổ
vỡ thì bỗng cháy lên niềm khát khao tình yêu trong lòng Trương Chi Câuchuyện vì thế giàu giá trị nhân văn ở chỗ đòi quyền yêu và được yêu cho conngười, nhất là những con người xấu xí, dị hình, thuộc tầng lớp dưới đáy xã hội
Nó làm người đọc liên tưởng đên nhân vật Quasimodo trong Nhà thờ Đức Bà Pari một kẻ dị hình, dị dạng Chính vẻ đẹp và tấm lòng của Esmeranđa đã làm
thức tỉnh trái tim cô đơn, hoen rỉ, tội nghiệp của hắn Quasimodo bắt đầu yêu,
một tình yêu bất diệt không cần đền đáp” (Bài làm của học sinh )
2 Sắp xếp dẫn chứng
Việc đưa dẫn chứng vào bài nghị luận văn học phải đảm bảo tính logic
và hệ thống Nghĩa là các dẫn chứng phải được sắp xếp theo một trình tự, quyluật nhất định Tính hệ thống sẽ giúp cho người viết tránh được tình trạng đưadẫn chứng một cách tràn lan và mất kiểm soát
- Sắp xếp dẫn chứng theo trục thời gian tuyến tính (từ lịch sử, quá khứ đến
thời điểm hiện tại)
- Sắp xếp dẫn chứng theo chiều không gian (từ rộng đến hẹp, từ xa đến
gần,… hoặc ngược lại)
- Sắp xếp dẫn chứng theo từng khía cạnh của luận điểm, của vấn đề cần
nghị luận
Trang 28- Sắp xếp dẫn chứng theo tâm lí người tiếp nhận (dẫn chứng dễ - khó ;
dẫn chứng quan trọng ít – dẫn chứng quan trọng nhiều…)
3 Các hình thức nêu dẫn chứng
Thông thường có 2 cách nêu dẫn chứng:
3.1 Nêu nguyên văn cả câu, cả đoạn hay cả một văn bản ngắn
Theo cách này dẫn chứng phải dẫn chứng tác riêng thành một hay nhiềudòng và tất cả dẫn chứng phải dẫn chứng để trong dấu ngoặc kép Dưới dẫnchứng phải nêu xuất xứ của dẫn chứng và phải để trong dấu ngoặc đơn (Xuất
xứ thường gồm tên tác giả, tên tác phẩm dẫn chứng trích dẫn Trong trườnghợp chỉ nghị luận về một tác giả, các dẫn chứng sử dụng đều thuộc về tác giả
ấy thì chỉ cần nêu tên tác phẩm Ngoài ra xuất xứ của dẫn chứng cũng có thểnêu trước trong phần giới thiệu)
Ví dụ:
…Trên đường chuyển lao, thân thể bị gông cùm, xiềng xích nhưng Bácnào có quan tâm đến nỗi khổ ấy của mình, Bác để lòng cảm thông, trân trọngnỗi vất vả của người “Phu làm đường”:
Dãi gió, dầm mưa chẳng nghỉ ngơi, Phu đường vất vả lắm ai ơi!
Ngựa xe, hành khách thường qua lại Biết cảm ơn anh được mấy người?
Bác vui với niềm vui được mùa của người dân Trung Quốc:
Khắp chốn nông dân cười hớn hở Đồng quê vang dậy tiếng ca vui
(Cảnh ngoài đồng)
3.2 Tóm lược nội dung chính, nêu một số từ hoặc ngữ tiêu biểu
Hình thức nêu dẫn chứng này thường dẫn chứng áp dụng trong nhữngtrường hợp sau:
- Khi chỉ cần trích một số từ ngữ tiêu biểu hoặc tóm lược ý là đã đủ đểminh họa Ví dụ: “Chỉ vài nét cũng đủ khiến cả cái xã hội ghê tởm đó sống nhô
Trang 29nhúc dưới ngòi bút Nguyễn Du với cái màu da nhờn nhợt của Tú Bà, cái bộ mặt mày râu nhẵn nhụi của Mã Giám Sinh, cái vẻ chải chuốt dịu dàng của Sở
Khanh, cái miệng thề xoen xoét của Bạc Bà, Bạc Hạnh (Hoài Thanh)
- Khi dẫn chứng quá dài (ví dụ cả tác phẩm hay một đoạn chừng vài trangtrở lên), dẫn ra sẽ làm cho bài văn cồng kềnh và người đọc khó theo dõi lậpluận
- Khi dẫn chứng có nội dung không lành mạnh, dẫn nguyên văn có thểkhiếm nhã hoặc bất lợi
- Khi dẫn chứng có nội dung không phù hợp với trình độ nhận thức củangười đọc (ví dụ một đoạn miêu tả không phù hợp với lứa tuổi học sinh, mộtđoạn chứa nhiều thuật ngữ chuyên môn xa lạ với người đọc bình thường), dẫnnguyên văn không tiện hoặc làm cho người đọc khó tiếp thu
Thông thường, nếu dẫn chứng chỉ là một vài từ ngữ tiêu biểu thì dẫnchứng ấy dẫn chứng hòa vào lời văn nghị luận của người viết
Ví dụ:
“Say mê tài sắc và cảm mộ tâm tính của Kiều Từ Hải đã chuộc nàng rakhỏi thanh lâu và cưới nàng làm vợ Nhưng người anh hùng “râu hùm hàm énmày ngài” “giang hồ quen thói vẫy vùng” ấy, sau “nửa năm hương lửa đươngnồng”, lại “động lòng bốn phương” và đã “dứt áo ra đi”…” (Bài làm của họcsinh)
4 Cách trình bày dẫn chứng
Dẫn chứng đưa vào bài văn bao giờ cũng có lời người giới thiệu, phân tíchbình giảng dẫn chứng ấy Vậy giữa dẫn chứng và lời người viết phải được trìnhbày như thế nào? Thông thường có ba cách:
4.1 Người viết giới thiệu, phân tích – bình giảng làm rõ giá trị, ý nghĩa của dẫn chứng một cách đầy đủ rồi cuối cùng nêu dẫn chứng ra để khẳng định.
Ví dụ: Nét đặc sắc đầu tiên của thiên nhiên miền Tây trong kí ức củaQuang Dũng chính là màn sương rừng mờ ảo: sương phủ dày ở Sài Khao,
Trang 30sương bồng bềnh ở Mường Lát Cái nhìn hiện thực đã giúp nhà thơ miêu tảchân thực sự khắc nghiệt của thiên nhiên miền Tây qua hình ảnh đoàn quân dãidầu, mỏi mệt trong làn sương rừng buốt giá Nhưng hiện thực khắc nghiệt ấy
đã được thi vị hóa bởi cảm hứng lãng mạn của Quang Dũng: đêm sương thành
đêm hơi bồng bềnh hư ảo “hoa về trong đêm hơi” Sau những chặng đường
hành quân mệt mỏi, dãi dầu ng lính Tây Tiến được đắm chìm tâm hồn trong vẻđẹp thơ mộng, thi vị của thiên nhiên miền Tây Những thanh bằng nhẹ bỗngtrong câu thơ không chỉ làm đậm thêm sắc thái hư ảo của màn sương rừng, sựhuyền hoặc của thiên nhiên miền Tây mà còn như tái hiện sự mơ mộng, baybổng trong tâm hồn chiến sĩ Sự khắc nghiệt của thiên nhiên đã được cảm nhận
1 cách thật thi vị bởi những tâm hồn lãng mạn, hào hoa:
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi” (Bài làm của học sinh)
4.2 Người viết giới thiệu, nêu dẫn chứng rồi sau đó phân tích – bình giảng dẫn chứng để nêu bật giá trị, ý nghĩa cũng như cái hay, cái dẹp của dẫn chứng.
Ví dụ:
Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rìNày đây lá của cành tơ phơ phấtCủa yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng miMỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửaTháng giêng ngon như một cặp môi gần”
(Vội vàng)Người ta gọi thơ Xuân Diệu là “nguồn sống dào dạt chưa từng có ở chốnnước non lặng lẽ này” phải chăng bởi nhà thơ đã đốt cháy xúc cảm say mêmãnh liệt với cuộc đời Cuộc sống muôn đời vẫn vậy Thế nhưng những cảnhsắc của cuộc sống đi qua tâm hồn nồng nàn tình yêu cuộc đời của Xuân Diệu
Trang 31lại ánh lên những màu sắc diệu kì, lại ngân lên những thanh âm du dương Thếgiới, qua cặp mắt “xanh non biếc rờn” của thi sĩ họ Ngô là khu vườn tình ái,nơi ong bướm đang trong “tuần trăng mật”, nơi chim muôn ca lên “khúc tìnhsi”, nơi tạo hóa đắm chìm trong “cặp môi gần” của tháng giêng Đó còn là bữatiệc thịnh soạn, phong phú của cuộc sống “nở hoa dâng tặng người muốn hái”.Đẹp làm sao! Làm sao Xuân Diệu có những cảm nhận tinh tế, diệu kì ấy nếunhà thơ dửng dưng, vô cảm với cuộc đời Chính niềm khao khát giao cảm vớicuộc đời, chính niềm yêu sống đến cuồng si, mãnh liệt đã giúp thi sĩ phát hiện
ra vẻ đẹp của cuộc sống (Bài làm của học sinh)
4.3 Người viết giới thiệu, làm rõ ý nghĩa nội dung của dẫn chứng rồi nêu dẫn chứng sau đó lại tiếp tục phân tích – bình giảng làm rõ thêm nhằm khắc sâu chủ đề cần chứng minh.
Ví dụ:
“Thường thì thiên nhiên qua cái nhìn của Nguyễn Du rất gắn bó với những vui buồn lo lắng của người trong truyện Kiều không biết mấy lần nhìn trăng nhưng mỗi lần một khác Sau khi đi chơi Thanh minh và gặp Kim Trọng
về thì:
Gương nga chênh chếch dòm song Vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân Hải đường lả ngọn đông lân Giọt sương gieo nặng cành xuân la đà.
Cái đêm sang tình tự với Kim Trọng thì:
Vầng trăng vằng vặc giữa trời Đinh ninh hai mặt một lời song song.
Cái đêm lìa nhà đi với Mã Giám Sinh:
Dặm khuya ngất tạnh mù khơi
Trang 32Thấy trăng mà thẹn những lời non sông
Khi một mình ở lầu Ngưng Bích:
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.
Cái đêm đi trốn với Sở Khanh:
Đêm thu khắc lậu canh tàn Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm sương Lối mòn cỏ nhợt mùi sương…
Trong khi chờ đợi Thúc Sinh về nhà thu xếp với Hoạn Thư:
Đêm thu gió lọt song đào Nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời.
Và còn nhiều lần nữa
Cùng một cảnh trăng mà khi rạo rực yêu đương, khi gần gũi âu yếm, rồilại bát ngát bao la, khi ám ảnh như một lời trách móc, khi cô đơn, khi tàn tạ,
khi mong manh Có thể nói thiên nhiên trong Truyện Kiều cũng là một nhân
vật thường vẫn kín đáo, lặng lẽ không mấy khi không có mặt và luôn luônthấm đượm tình người.” (Hoài Thanh)
Tóm lại trong bài văn của mình, người viết phải thật linh hoạt trong việcxác định dẫn chứng cũng như cách đưa dẫn chứng, cách trình bày dẫn chứng…
Có thể trình bày dẫn chứng theo một trong ba cách trên Tuy nhiên nên trìnhbày xen kẽ các cách ấy phù hợp với sự phát triển của bài văn để tạo cho ngườiđọc cảm giác, ấn tượng bài văn của mình như một dòng chảy liên tục khôngđơn điệu, trùng lặp, nhàm chán…
5 Phân tích dẫn chứng