Một số nguyên tắc trong quản lý chất thải y tế Nguyên tắc “Nhiệm vụ chăm sóc” quy định trách nhiệm đạo đức ở mức cao nhất của người tham gia quản lý hoặc xử lý chất thải độc hại và thiế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trần Mai Liên
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ CỦA CÔNG TY URENCO 13,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trần Mai Liên
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ CỦA CÔNG TY URENCO 13,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành:Khoa học môi trường
Mã số:8440301.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LƯU ĐỨC HẢI
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Đánh giá hoạt động xử lý chất thải rắn y tế của công ty Urenco 13, thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu của bản thân
với sự hướng dẫn của PGS.TS.Lưu Đức Hải Nội dung, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tác giả
Trần Mai Liên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự dạy bảo tận tình của các thầy cô, sự giúp đỡ của đồng nghiệp, sự động viên to lớn của gia đình và những người thân Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lưu Đức Hải cùng các thầy cô giáo trong khoa Môi trường
đã tận tâm trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ động viên tôi học tập, nghiên cứu khoa học
và thực hiện luận văn Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc công ty cổ phần vật
tư thiết bị môi trường 13 - Urenco 13, các đơn vị, phòng ban của công ty cùng các
cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Hà Nội đã tham gia phỏng vấn, tạo mọi điều kiện thuận lợi, đóng góp các ý kiến quí báu để giúp tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 12 năm 2018
Tác giả
Trần Mai Liên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1.Tổng quan về chất thải rắn y tế và quản lý chất thải rắn y tế 3
1.1.1 Một số khái niệm liên quan tới CTRYT 3
1.1.2 Phân loại CTRYT 3
1.1.3 Nguồn gốc phát sinh, khối lượng, thành phần CTRYT 4
1.1.4 Ảnh hưởng của chất thải y tế 5
1.1.5 Một số nguyên tắc trong quản lý chất thải y tế 7
1.2.Tổng quan về hiện trạng quản lý CTRYT trên thế giới và ở Việt Nam 8
1.2.1 Hiện trạng quản lý CTRYT trên thế giới 8
1.2.2 Hiện trạng quản lý CTRYT tại Việt Nam 8
1.2.3 Hiện trạng xử lý CTRYT tại Hà Nội 18
1.3.Tổng quan về công ty vật tư thiết bị môi trường 13 – Urenco 13 20
1.3.1 Thông tin chung 20
1.3.2 Lịch sử hình thành 20
1.3.3 Lĩnh vực kinh doanh, dịch vụ 21
1.3.4 Phương tiện, thiết bị của Urenco 13 22
1.3.5 An toàn lao động trong công tác thu gom, vận chuyển, xử lý CTRYT 26
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU27 2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.2 Phạm vi đề tài nghiên cứu 27
2.3 Nội dung nghiên cứu 27
2.4 Phương pháp nghiên cứu 27
2.4.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu, số liệu thứ cấp 27
2.4.2 Khảo sát thực địa 28
2.4.3 Phương pháp FMEA 29
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Hiện trạng giao nhận, vận chuyển, xử lý CTRYT của công ty Urenco 13 32
Trang 63.1.1 Hiện trạng giao nhận, vận chuyển CTRYT 33
3.1.2 Hiện trạng xử lý CTRYT 37
3.2 Đánh giá hiện trạng giao nhận, vận chuyển, xử lý CTRYT của công ty Urenco 13 42
3.2.1 Đánh giá vai trò, vị trí của công ty Urenco 13 trong thị trường xử lý CTRYT tại Hà Nội 42
3.2.2 Đánh giá hiện trạng giao nhận, vận chuyển CTRYT của Urenco 13 46
3.2.3 Đánh giá hiện trạng xử lý CTRYT của Urenco 13 48
3.2.4 Xác định các rủi ro trong hoạt động xử lý chất thải rắn y tế của Urenco 13 51
3.2.5 Đánh giá các yếu tố liên quan đến qui trình xử lý CTRYT 54
3.3 Đề xuất giải pháp 57
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
Kết luận 60
Kiến nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 64
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CTLN Chất thải lây nhiễm
CTRYT Chất thải rắn y tế
CTRYTNH Chất thải rắn y tế nguy hại
CTRYT LN Chất thải rắn y tế lây nhiễm
CTRYT KLN Chất thải rắn y tế không lây nhiễm CTYT Chất thải y tế
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Nguồn phát sinh CTRYT tại bệnh viện 5Bảng 1.2 Tổng số bệnh viện và giường bệnh giai đoạn 2011 - 2015 8Bảng 1.3 Khối lượng CTRYT của một số địa phương năm 2015 9Bảng 1.4 Phương tiện, thiết bị của Urenco 13 phục vụ trong công tác xử lý CTRYT 22
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ hợp đồng xử lý CTRYT theo chủ xử lý tại Hà Nội năm 2017 43
Biểu đồ 3.2: So sánh khối lƣợng CTRYT Urenco 13 và các đơn vị xử lý khác thu gom tại các bệnh viện công lập trực thuộc Sở y tế và Bộ y tế 43
Biểu đồ 3 3: Khối lƣợng CTRYTNH thu gom hàng tháng của Urenco 13 48
Biểu đồ 3.4: Tỉ lệ (%) CTRYT nguy hại thu gom bởi Urenco 13 49
Biểu đồ 3 5: Tỷ lệ xử lý CTRYT của công ty Urenco 13 50
Biểu đồ 3 6: Tỷ lệ CTRYT tại các CSYT là chủ nguồn thải của Urenco 13 62
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ bộ máy của công ty Urenco 13 21
Hình 1 2 Cấu tạo của lò hấp sấy chất thải y tế 23
Hình 1 3 Khu xử lý trung gian 26
Hình 3.1 Quy trình xử lý CTRYT của Urenco 13 32
Hình 3.2 Sơ đồ công nghệ hệ thống lò hấp chất thải y tế 39
Hình 3.3 Phương pháp thiêu đốt CTNHKLN tại lò đốt chất thải 41
Trang 11MỞ ĐẦU
Ngày nay, cùng với chiến tranh, bùng nổ dân số, biến đổi khí hậu,…nhân loại còn phải đối mặt với một vấn nạn vô cùng nghiêm trọng đó là ô nhiễm môi trường Ô nhiễm môi trường không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của con người hiện nay mà còn gây ra những tác động lâu dài cho nhiều thế hệ mai sau
Vì vậy, bảo vệ môi trường là nhiệm vụ cấp bách mà mỗi cư dân toàn cầu phải thực hiện Để đạt được mục tiêu này, loài người cần xây dựng các biện pháp, cơ chế hiệu quả để quản lý lượng rác thải khổng lồ thải ra hàng ngày, hàng giờ Một trong những loại chất thải cần đặc biệt quan tâm, xử lý là chất thải y tế, cụ thể hơn là chất thải rắn y tế (CTRYT) Chất thải rắn y tế có thể gây ra những tác động nghiêm trọng đến môi trường cũng như con người và sinh vật vì đặc tính nguy hại và lây nhiễm nếu như không có biện pháp quản lý phù hợp
Ở Việt Nam, chất lượng cuộc sống ngày càng nâng cao, nhu cầu vật chất và tinh thần của con người cũng ngày càng được chú trọng, đặc biệt là các vấn đề về sức khỏe Vì vậy, số lượng cơ sở khám chữa bệnh ngày một gia tăng kéo theo lượng rác thải y tế cũng ngày càng tăng nhanh Hiện cả nước có hơn 34.000 cơ sở y tế công lập và tư nhân, thải ra 47 tấn chất thải y tế nguy hại mỗi ngày (chiếm 15-20% tổng lượng CTRYT phát sinh hàng ngày) Tuy vậy, đại đa số CTRYT phát sinh từ các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh lại chưa được quản lý theo quy trình chặt chẽ hoặc xử lý chưa hiệu quả, biến CTRYT thành nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng, đặc biệt là các khu vực dân cư gần bệnh viện, hoặc gần các khu xử lý CTRYT
Hà Nội - thủ đô của Việt Nam, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, do đó số lượng bệnh viện tập trung ở mức độ cao với nhiều bệnh viện tuyến
TW, nhiều cơ sở khám chữa bệnh uy tín lượng bệnh nhân thăm khám luôn đạt tỉ lệ cao so với bình quân cả nước Song đi kèm với những thành quả to lớn trong công tác khám chữa bệnh thì lượng CTRYT phát sinh tại Hà Nội ngày một gia tăng nhưng chưa đồng bộ với hệ thống xử lý chất thải
Hiện nay, hầu hết các bệnh viện trên địa bàn thành phố Hà Nội chưa được đầu tư hệ thống xử lý chất thải nguy hại, hoặc có đầu tư nhưng quá trình xử lý đạt
Trang 12hiệu quả không cao Trước tình trạng đó, nhiều cơ sở xử lý CTRYT đã được thành lập tạo nên mắt xích quan trọng trong hệ thống quản lý CTRYT nhằm hoàn thiện hệ thống quản lý CTRYT, góp phần xử lý hiệu quả nguồn rác thải y tế
Công ty cổ phần vật tư thiết bị môi trường 13 – Urenco 13 trực thuộc Tổng công ty môi trường đô thị Hà Nội là một trong những đơn vị đi đầu trong công tác
xử lý CTRYT trên địa bàn thành phố Hà Nội Trong quá trình xử lý công ty đã đạt được những thành quả nhất định, đóng góp đáng kể trong công tác giảm thiểu tác hại của CTRYT tới môi trường và cộng đồng dân cư ở khu vực Hà Nội nói riêng, khu vực Đồng bằng Bắc Bộ nói chung Tuy nhiên trong hoạt động xử lý CTRYT, công ty cũng gặp không ít khó khăn Các chủ nguồn thải của công ty tương đối đa dạng bao gồm nhiều bệnh viện (cả TW, tuyến tỉnh), các TTYT, phòng khám đa khoa, phòng khám tư nhân, chiếm đại đa số các cơ sở y tế trên địa bàn thành phố
Hà Nội vì vậy hoạt động xử lý CTRYT của công ty Urenco 13 có ảnh hưởng rất lớn đến hệ thống quản lý CTRYT hiện nay ở Hà Nội Do vậy công tác đánh giá thực trạng xử lý CTRYT của công ty Urenco 13 là vô cùng cấp thiết Từ những phân tích trên, đề tài “Đánh giá hoạt động xử lý chất thải rắn y tế của công ty Urenco 13, thành phố Hà Nội” đã được thực hiện
Mục tiêu chính của luận văn:
Đánh giá hoạt động xử lý chất thải rắn y tế của công ty Urenco 13 trên địa bàn thành phố Hà Nội
Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý CTRYT của Urenco 13
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1.Tổng quan về chất thải rắn y tế và quản lý chất thải rắn y tế
1.1.1 Một số khái niệm liên quan tới CTRYT
Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y
tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và nước thải y tế Chất thải y tế tồn tại ở các thể rắn, lỏng và khí
Chất thải rắn y tế được định nghĩa bao gồm tất cả chất thải rắn thải ra từ cơ sở y tế Chất thải rắn y tế nguy hại là chất thải rắn y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc
có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm
Quản lý chất thải y tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu
giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện
Vận chuyển chất thải y tế là quá trình chuyên chở chất thải y tế từ nơi lưu
giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lý chất thải y tế cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung hoặc cơ sở
xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế
Xử lý và tiêu hủy chất thải: Là quá trình sử dụng các công nghệ làm mất khả
năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và môi trường [5]
1.1.2 Phân loại CTRYT
1.1.2.1 Chất thải lây nhiễm (CTLN)
Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắt hoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm, bơm liền kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, kim chọc dò, kim châm cứu, lưỡi dao mổ, đinh, cưa dùng trong phẫu thuật và các vật sắc nhọn khác;
Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: Chất thải thấm, dính, chứa máu hoặc dịch sinh học của cơ thể; các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly;
Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Mẫu bệnh phẩm, dụng cụ đựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ các phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III
Trang 14Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác động vật thí nghiệm [5]
1.1.2.2 Chất thải nguy hại không lây nhiễm (CTNHKLN)
Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại;
Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất;
Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và các kim loại nặng;
Chất hàn răng amalgam thải bỏ;
Chất thải nguy hại khác theo quy định tại thông tư 36/2015/TT- BTNMT [5]
1.1.2.3 Chất thải y tế thông thường
Chất thải y tế thông thường là chất thải có chứa thành phần và tính chất tương tự như chất thải sinh hoạt CTYT thông thường không chứa các chất độc hại, các tác nhân gây bệnh đối với con người và môi trường Bao gồm:
Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người
và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế;
Sản phẩm thải lỏng không nguy hại
Một phần CTYT thông thường có thể tái sử dụng hoặc tái chế và đem lại nguồn thu cho các cơ sở y tế Thực hiện triệt để đúng quy định trong công tác phân loại CTYT
sẽ góp phần giảm tải tác động của CTYT nói chung tới con người và môi trường [5]
1.1.3 Nguồn gốc phát sinh, khối lượng, thành phần CTRYT
Nguồn phát sinh CTRYT chủ yếu từ: bệnh viện, cơ sở y tế khác (phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu, trung tâm xét nghiệm, và nghiên cứu y sinh học, trung tâm vận chuyển cấp cứu,…) Các nguồn xả chủ yếu từ khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật, bào chế dược Hầu hết các CTRYT đều có tính độc hại và đặc thù với các loại chất thải rắn khác [3]
Trang 15Bảng 1.1: Nguồn phát sinh CTRYT tại bệnh viện
Chất thải sinh hoạt
Chất thải phát sinh từ khu hành chính, bếp ăn, khu sinh hoạt của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, y, bác sỹ… Chất thải chứa các vi trùng gây bệnh
Phế thải từ phẫu thuật, nội tạng sau
mổ, động vật sau quá trình xét nghiệm, bông gạc lẫn máu mủ bệnh nhân
Chất thải bị nhiễm bẩn Chất thải sau khi bệnh nhân sử dụng,
chất thải từ quá trình vệ sinh…
Chất thải đặc biệt Các khoa, khám chữa bệnh, hoạt động
thực nghiệm, khoa dược
Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, 2011[2]
Có thể thấy, tại các CSYT, CTRYT có thể phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, vì vậy tùy nguồn phát sinh mà CTRYT mang đặc trưng, tính chất riêng
1.1.4 Ảnh hưởng của chất thải y tế
1.1.4.1 Với sức khỏe
CTYT có thể gây ra nhiều tác động xấu tới sức khỏe con người thông qua cả
cơ chế trực tiếp lẫn gián tiếp, những người làm việc trong các cơ sở y tế, người vận chuyển chất thải y tế và cả cộng đồng đều có khả năng bị phơi nhiễm với chất thải nếu có sai sót trong quá trình quản lý chất thải
Ảnh hưởng của chất thải sắc nhọn: Chất thải sắc nhọn là loại chất thải nguy
hiểm, có nguy cơ gây tổn thưởng kép tới sức khỏe con người do vừa gây chấn thương do vết cắt, vết đâm và vừa thông qua vết chấn thương để gây bệnh truyền nhiễm nếu trong chất thải có các mầm bệnh viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) và virus HIV, Dạng phơi nhiễm phổ biến nhất bởi chất thải sắc nhọn là do các kim tiêm lây nhiễm [8]
Ảnh hưởng của chất thải lây nhiễm: CTYT lây nhiễm cơ thể chứa các vi
sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như: tụ cầu, HIV, viêm gan B,… xâm nhập vào cơ thể người thông qua các hình thức: qua da (vết trầy xước, vết đâm xuyên hoặc vết cắt trên da); qua các niêm mạc (màng nhầy); qua đường hô hấp (do xông, hít phải);
Trang 16qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải) Ở điều kiện thường, các vi khuẩn trong CTLN có thời gian tồn lưu nhất định ngoài môi trường Thời gian tồn lưu có giới hạn và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu là các yếu tố vật lý, hoá học, môi trường như nhiệt độ môi trường, tia cực tím, pH môi trường, oxi tự do Do vậy, quản lý CTYT lây nhiễm không đúng cách còn là nguyên nhân lây nhiễm bệnh cho con người thông qua môi trường trong bệnh viện [17]
Ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm: Mặc dù chiếm tỉ lệ nhỏ,
nhưng chất thải hóa học và dược phẩm có thể gây ra các nhiễm độc cấp tính, mãn tính, chấn thương và bỏng, Hóa chất độc hại và dược phẩm ở các dạng dung dịch, sương mù, hơi,… có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường da, hô hấp và tiêu hóa, gây bỏng, tổn thương da, mắt, màng nhầy đường hô hấp và các cơ quan trong cơ thể như: gan, thận,…
Ảnh hưởng của chất gây độc tế bào: Chất gây độc tế bào có thể xâm nhập
vào cơ thể con người bằng các con đường: hô hấp khi hít phải, qua da, qua đường tiêu hóa; hoặc tiếp xúc với chất thải dính thuốc gây độc tế bào; hoặc tiếp xúc với các chất tiết ra từ người bệnh đang được điều trị bằng hóa trị liệu Một số chất gây độc tế bào có thể gây hại trực tiếp tại nơi tiếp xúc, đặc biệt là da và mắt
Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ: Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ tùy
thuộc vào loại phóng xạ, cường độ và thời gian tiếp xúc Trong bệnh viện, các chất phóng xạ thường có chu kỳ bán rã ngắn (từ vài giờ, vài ngày cho đến vài tuần) [8]
1.1.4.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới môi trường
Chất thải rắn y tế có thể gây ra các tác động tiêu cực tới môi trường (đất, nước, không khí) Mặt khác, qui trình thu gom, phân loại CTRYT không tuân thủ đúng qui định có thể gây ra vấn đề lãng phí tài nguyên
❏ Đối với môi trường đất
Quản lý CTYT không đúng quy trình và việc tiêu hủy CTRYT tại các bãi chôn lấp không tuân thủ các quy định sẽ dẫn đến sự phát tán các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại,… gây nhiễm độc môi trường sinh thái, ô nhiễm đất, tầng nước ngầm,… hạn chế khả năng tái sử dụng bãi chôn lấp [6]
Trang 17❏ Đối với môi trường không khí
Chất thải y tế từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều có khả năng tác động xấu tới môi trường không khí Đặc biệt, trong quá trình xử lý, các lò đốt CTYT quy
mô nhỏ (không có thiết bị xử lý khí thải) có thể phát sinh ra các chất khí độc hại sau:
+Bụi : khi nhiệt độ đốt không đủ hoặc không tuân thủ đúng quy trình vận hành, lượng chất thải nạp vào lò quá lớn sẽ làm phát tán bụi, khói đen và các chất độc hại;
+ Các khí axit: Do trong CTYT có thể có chất thải làm bằng nhựa PVC, hoặc chất thải dược phẩm khi đốt có nguy cơ tạo ra hơi axit, đặc biệt là HCl và SO2
+ Dioxin và Furan: Trong quá trình đốt cháy chất thải có thành phần halogen (Cl, Br, F) ở nhiệt độ thấp có thể hình thành dioxin và furan là những chất rất độc
dù ở nồng độ nhỏ;
+ Kim loại nặng: kim loại nặng dễ bay hơi như thủy ngân có thể bị thiêu đốt trong các lò đốt rác do qúa trình phân loại rác thải không tốt Ngoài ra, một số phương pháp xử lý khác như chôn lấp có thể phát sinh các chất gây ô nhiễm cho môi trường không khí như: CH4, H2S, [6]
❏ Đối với môi trường nước:
CTRYT khi bị xả thải vào môi trường nước ngoài các nguy cơ gây ô nhiễm như chất thải sinh hoạt, còn tiềm ẩn nguy cơ phát tán nguồn bệnh vào nguồn nước, gây độc cho sinh vật thuỷ sinh, bùng phát các dịch bệnh như tiêu chảy, lỵ, tả, tác động nghiêm trọng đến đời sống cộng đồng [6]
1.1.5 Một số nguyên tắc trong quản lý chất thải y tế
Nguyên tắc “Nhiệm vụ chăm sóc” quy định trách nhiệm đạo đức ở mức cao nhất của người tham gia quản lý hoặc xử lý chất thải độc hại và thiết bị liên quan;
Nguyên tắc “Gần nhất” đảm bảo việc xử lý chất thải tại địa điểm gần nhất với nguồn phát sinh chất thải nhằm giảm thiểu tới mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thu gom, lưu giữ,vận chuyển chất thải;
Nguyên tắc “Phòng ngừa” được ưu tiên trong công tác quản lý CTYT Khi
mà quy mô của rủi ro chưa xác định được thì rủi ro đó phải được coi là đáng kể và phải có các biện pháp phòng ngừa và an toàn được triển khai nhằm ngăn ngừa các rủi ro xẩy ra;
Trang 18Nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” quy định rõ người làm phát sinh chất thải phải có trách nhiệm xử lý an toàn và thân thiện với môi trường tất cả chất thải họ tạo ra
1.2.Tổng quan về hiện trạng quản lý CTRYT trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Hiện trạng quản lý CTRYT trên thế giới
Chất thải nói chung và CTYT nói riêng là một trong những mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới bởi những nguy hại mà chúng có thể gây ra cho môi trường và cộng đồng Ngày nay việc phân loại CTYT ngay tại nguồn trở lên phổ biến và là qui định bắt buộc đối với tất cả các bệnh viện
Hiện nay trên thế giới đang áp dụng nhiều phương pháp trong việc xử lý CTRYT, trong đó thiêu đốt và khử khuẩn là hai phương pháp được sử dụng phổ biến nhất
Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể (kinh phí, công nghệ, quĩ đất, quan điểm và các qui định về bảo vệ môi trường…), mỗi quốc gia có thể lựa chọn biện pháp xử lý phù hợp
1.2.2 Hiện trạng quản lý CTRYT tại Việt Nam
Thời gian vừa qua, ngành y tế nước ta có bước phát triển đáng kể nhờ ứng dụng thành công nhiều thành tựu y học hiện đại, ngăn chặn thành công nhiều dịch bệnh nguy hiểm, củng cố mạng lưới y tế các tuyến, góp phần nâng cao an sinh xã hội và từng bước nâng cao chất lượng sức khỏe người dân nhưng cùng với sự phát triển và tăng nhanh về số lượng giường bệnh điều trị, khối lượng CTRYT phát sinh
từ các hoạt động y tế có chiều hướng ngày càng gia tăng
Bảng 1.2 Tổng số bệnh viện và giường bệnh giai đoạn 2011 - 2015
Giường bệnh bình quân trên
1 vạn dân
Tỷ lệ giường bệnh tăng so với năm trước (%)
Trang 19Theo thống kê năm 2016, cả nước có 13.674 cơ sở y tế; trong đó có 1.263 cơ
sở khám chữa bệnh, 1.037 cơ sở y tế dự phòng, 77 cơ sở đào tạo y dược, 180 cơ sở sản xuất thuốc và 11.104 trạm y tế xã, phường, thị trấn, hàng ngày thải ra 47 tấn chất thải y tế nguy hại (chiếm tỷ lệ khoảng 15 - 20% trong tổng lượng CTR y tế phát sinh), tổng lượng nước thải y tế phát sinh cần xử lý lên tới 125.000 m3/ngày Theo số liệu báo cáo của Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế) về tình hình quản
lý đối với CTRYT, mức tăng chất thải y tế hiện nay là 7,6%/năm, có khoảng hơn 90% bệnh viện thực hiện thu gom hàng ngày và có thực hiện phân loại chất thải từ nguồn Tuy nhiên, phương tiện thu gom còn thiếu và chưa đồng bộ Công nghệ xử
lý CTRYT chủ yếu bằng các lò đốt, nhiều bệnh viện được xây dựng từ rất lâu, không có hệ thống thu gom, xử lý chất thải; việc kiểm tra, giám sát công tác bảo vệ môi trường chưa được chú trọng đúng mức dẫn tới công tác quản lý chất thải y tế còn lỏng lẻo; đặc biệt một số các cơ sở y tế tư nhân còn trốn tránh nghĩa vụ xử lý các loại chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động; các cơ sở khám chữa bệnh ở vùng sâu, vùng xa không đảm bảo các thủ tục pháp lý về đăng ký đề án bảo vệ môi trường, các hồ sơ pháp lý về môi trường Những nguyên nhân này khiến cho thực trạng quản lý môi trường y tế còn gặp nhiều khó khăn, gây áp lực không nhỏ đối với môi trường[3]
Bảng 1.3 Khối lượng CTRYT của một số địa phương năm 2015
Trang 20Chỉ tính riêng trên địa bàn Hà Nội, qua khảo sát của Sở Y tế, lượng CTRYT
từ hoạt động khám chữa bệnh của các cơ sở y tế trên địa bàn thành phố trong năm
2017 là khoảng 3.000 tấn CTRYT bao gồm hai loại là chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại trong đó chất thải rắn thông thường chiếm khoảng 75 - 80% Ước tính năm 2018, lượng CTRYT phát sinh là 650 tấn/ngày và năm 2020 sẽ là 800 tấn/ngày
Tại các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sự quản lý của Bộ Y tế, phần lớn CTRYT phát sinh được thu gom và vận chuyển đến các khu vực lưu giữ tập trung sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt, hấp khử trùng nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển và xử lý đối với các cơ sở xử lý chất thải đã được cấp phép tại địa bàn cơ sở khám chữa bệnh đó Trên cả nước, trong khoảng hơn 500 tấn chất thải
y tế phát sinh mỗi ngày, chỉ có 40 – 50% số chất thải rắn được hấp bằng công nghệ khử trùng hoặc đốt bằng lò đốt hiện đại đảm bảo an toàn môi trường Hiện cả nước
có gần 200 lò đốt rác thải y tế chuyên dụng, trong đó có 1 xí nghiệp đốt rác tại Thành phố Hồ Chí Minh, lò đốt tập trung tại Hà Nội đã ngừng hoạt động và được thay thế bằng công nghệ hấp ướt, còn lại là các lò đốt rác cỡ trung bình và cỡ nhỏ
Số lò đốt rác thải y tế này mới chỉ phục vụ cho 453 bệnh viện và cơ sở y tế, chiếm khoảng 40% số bệnh viện Hơn nữa, các lò đốt rác chủ yếu tập trung ở các bệnh viện tỉnh trở lên và một số bệnh viện tuyến huyện thuộc các thị xã, thành phố Còn lại có tới 33% bệnh viện tuyến huyện và tỉnh không có hệ thống lò đốt chuyên dụng, phải xử lý chất thải y tế nguy hại bằng các lò đốt thủ công, chôn trong khuôn viên bệnh viện, hoặc thải trực tiếp ra bãi rác chung, nơi có đông dân cư sinh sống và không ít trong số đó được tuồn bán ra ngoài để tái chế Đây thực sự là những mối nguy đe dọa môi trường và cuộc sống của người dân Hiện nay, việc sử dụng công nghệ không đốt, thân thiện với môi trường trong xử lý chất thải y tế đã được khuyến khích và ưu tiến phát triển Điển hình là công nghệ xử lý chất thải y tế bằng phương pháp không đốt như khử khuẩn bằng lò hấp, lò vi sóng đem lại hiệu quả về mặt kinh
tế lẫn môi trường, do sử dụng ở nhiệt độ dưới 400oC nên không phát sinh khí thải đặc biệt dioxin/furan và giảm tiêu thụ năng lượng[1]
Trang 21Để hạn chế những tác động xấu từ chất thải y tế, nhiều nguồn lực đã được đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường y tế, tuy nhiên, công tác bảo vệ môi trường trong lĩnh vực y tế vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, tồn tại Để thực hiện được mục tiêu quản lý và xử lý chất thải y tế bảo đảm yêu cầu, đặc biệt là chất thải nguy hại một cách có hiệu quả, cần có sự nỗ lực của chính quyền, ngành y tế, các ban ngành
có liên quan với chi phí được đầu tư một cách phù hợp
Giai đoạn 2011 -2015, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án tổng thể xử
lý chất thải y tế và định hướng đến năm 2020 đảm bảo 100% các cơ sở y tế ở các tuyến từ Trung ương đến địa phương thực hiện xử lý chất thải y tế bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường: với chất thải rắn, 100% các cơ
sở y tế tuyến Trung ương và tuyến tỉnh, 70% các cơ sở y tế tuyến huyện và 100% các cơ sở y tế tư nhân thực hiện xử lý chất thải rắn bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia về môi trường
- Các quy định pháp lý về quản lý chất thải y tế tại Việt Nam
Ngay sau khi Luật BVMT năm 2014 được Quốc hội thông qua, Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 về quản lý chất thải và phế liệu, trong đó chất thải y tế được quy định là chất thải đặc thù với những quy định riêng, phù hợp với điều kiện thực tế Tiếp đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) đã ban hành Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 về quản lý chất thải nguy hại (CTNH), đồng thời Bộ TN&MT cũng phối hợp với Bộ Y tế ban hành Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 quy định
về quản lý chất thải y tế, trong đó quy định cụ thể việc phân loại, thu gom, phương tiện vận chuyển chất thải y tế nguy hại và các vấn đề pháp lý cho cơ sở y tế thực hiện việc xử lý, tự xử lý chất thải y tế nguy hại, sử dụng chứng từ CTNH (hoặc Sổ giao nhận), quản lý hồ sơ môi trường của cơ sở y tế [1]
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 49 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu, hiện có 3 hình thức xử lý chất thải y tế đang được áp dụng, gồm:
Xử lý tập trung: Tại các thành phố, khu đô thị lớn hoặc những nơi có các doanh nghiệp xử lý chất thải nguy hại, chất thải rắn y tế nguy hại được thu gom và
Trang 22xử lý tập trung tại cơ sở xử lý có đủ điều kiện, đảm bảo xử lý một cách triệt để, không gây ô nhiễm môi trường Đây là mô hình đang được nhiều địa phương triển khai và phát huy hiệu quả Với mô hình này, các doanh nghiệp xử lý chất thải nguy hại phải thực hiện thủ tục theo quy định tại Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT để được Bộ TN&MT xem xét, cấp phép xử lý CTNH trước khi đi vào hoạt động
Xử lý theo cụm: một cơ sở y tế ở trung tâm cụm thực hiện thu gom và xử lý chất thải y tế cho một số cơ sở y tế lân cận xung quanh Hình thức này đang được áp dụng rộng rãi tại nhiều địa phương, đặc biệt phù hợp cho việc xử lý chất thải y tế đối với các cơ sở y tế quy mô nhỏ và có khoảng cách gần nhau Mô hình xử lý này theo
đó sẽ không phải thực hiện các thủ tục để được cấp phép xử lý CTNH, tuy nhiên phải được UBND tỉnh phê duyệt tại kế hoạch thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải y tế nguy hại trên địa bàn
Xử lý tại chỗ: Đối với những nơi chưa có cơ sở xử lý tập trung hoặc xử lý theo cụm hoặc tại các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, điều kiện đi lại khó khăn, hiện đang áp dụng hình thức xử lý chất thải y tế tại chỗ bằng các phương pháp phù hợp với điều kiện của cơ sở Về mặt pháp lý, hình thức xử lý tại chỗ của cơ sở y tế phải được Sở TN&MT cho phép trong quá trình cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH
Để giải quyết những vướng mắc, khó khăn đặc thù của từng địa phương, Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT (Điều 23) và Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT (Điều 22) đã giao Sở TN&MT chủ trì, phối hợp với
Sở Y tế lập, trình UBND cấp tỉnh phê duyệt kế hoạch thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải y tế nguy hại trên địa bàn, bảo đảm phù hợp với điều kiện của địa phương
và quy định của pháp luật về BVMT Đến năm 2016, đã có 14/63 tỉnh, thành phố ban hành kế hoạch thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải y tế nguy hại, góp phần giải quyết những vướng mắc, bất cập trong việc quản lý chất thải y tế nguy hại tại mỗi địa phương
Ngoài các quy định chung nêu trên, hiện nay, một số các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia liên quan tới hoạt động quản lý chất thải y tế đã được ban hành như Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế QCVN 28:2010/BTNMT, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải rắn y tế QCVN 02:2012/BTNMT, Quy chuẩn kỹ
Trang 23thuật quốc gia về thiết bị hấp chất thải y tế lây nhiễm QCVN 55:2013/BTNMT góp phần chuẩn hóa công tác quản lý chất thải y tế tại Việt Nam
- Qui định về qui trình quản lý CTRT
➢ Phân loại, cô lập
Xác định các nhóm CTRYT; phân loại chất thải ngay sau khi phát sinh, thải
bỏ và cô lập vào dụng cụ thu gom phù hợp với từng loại chất thải theo quy định
➢ Vận chuyển, xử lý, tiêu hủy
+ CT tái chế quản lý để bán cho các cơ sở có chức năng tái chế theo quy định; + Khử khuẩn hộp kháng thủng, dụng cụ thu gom để tái sử dụng;
+ Chất thải phóng xạ sau khi chờ hết thời gian bán rã đƣợc xử lý nhƣ CT lây nhiễm; chất thải hóa chất độc hại;
Trang 24+ CTYT được phân loại, xử lý tại chỗ hoặc bàn giao cho đơn vị có chức năng
xử lý an toàn bằng các phương pháp phù hợp
+ CTR nguy hại và CTR thông thường phải lưu giữ trong các buồng riêng biệt Chất thải để tái sử dụng, tái chế phải được lưu giữ riêng;
+ Thời gian lưu giữ:
- Thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm trong các cơ sở y tế không quá 48 giờ Trường hợp lưu giữ chất thải trong thiết bị bảo quản lạnh từ 3-8oC : thời gian lưu giữ có thể đến 01 tuần;
- Chất thải giải phẫu phải chuyển đi chôn hoặc tiêu hủy hàng ngày; đối với các cơ sở y tế có lượng CTYT nguy hại phát sinh dưới 5 kg/ngày, thời gian thu gom tối thiểu hai lần trong một tuần; đối với các loại chất thải y tế nguy hại không thuộc loại chất thải lây nhiễm, thời gian lưu giữ là 6 tháng Nếu thời gian lưu giữ quá 06 tháng thì phải có văn bản báo cáo về lý do cho cơ quan QLMT có thẩm quyền liên quan tại địa phương
- Tình hình xử lý chất thải y tế nguy hại bên ngoài cơ sở y tế
Tính đến tháng 10/2017, Bộ TN&MT đã cấp Giấy phép xử lý CTNH cho
107 cơ sở trên cả nước, trong đó có 7 cơ sở thực hiện việc xử lý chất thải y tế nguy hại theo mô hình tập trung (chỉ xử lý riêng chất thải y tế) tại Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An, Quảng Nam, Bình Định, TP Hồ Chí Minh, An Giang Các cơ sở này đa phần chỉ thu gom, xử lý chất thải y tế phát sinh trong nội bộ tỉnh, thành phố và có công suất xử lý phổ biến ở mức từ 600 - 2.000 tấn/năm Ngoài ra, còn có các đơn vị
xử lý CTNH cũng thực hiện việc thu gom chất thải y tế phát sinh và xử lý tại lò đốt CTNH đã được cấp phép như tại các tỉnh Hải Dương, Quảng Ngãi, Nam Định… với công suất xử lý của lò đốt từ 100 kg/h đến 2.000 kg/h Trong năm 2016, các đơn vị
đã được Bộ TN&MT cấp phép đã xử lý hơn 11.600 tấn chất thải y tế nguy hại do các bệnh viện, cơ sở y tế chuyển giao Lượng chất thải y tế nguy hại còn lại được các cơ sở y tế xử lý tại chỗ hoặc xử lý theo mô hình cụm Hình thức này có ưu điểm
là xử lý chất thải y tế nguy hại ngay tại nơi phát sinh, giảm thiểu nguy cơ lan truyền
ô nhiễm trong quá trình thu gom, vận chuyển nhưng nhược điểm là nếu không được quản lý chặt chẽ thì sẽ phát sinh chất thải thứ cấp gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là các khu vực dân cư lân cận CSYT [12]
Trang 25- Các phương pháp xử lý CTRYT phổ biến ở Việt Nam:
Thiêu đốt
Để xử lý chất thải y tế nguy hại, công nghệ phổ biến nhất tại nước ta hiện nay thường áp dụng lò đốt hai cấp (sơ cấp và thứ cấp) áp dụng khi chất thải là chất độc sinh học, bền vững trong môi trường, một số chất không thể tái chế Phương pháp này tương đối hiệu quả để xử lý tính độc, thu hồi năng lượng, giảm khối lượng rác thải đi chôn lấp Tuy nhiên với công nghệ này cần đầu tư hệ thống xử lý khí thải nhằm hạn chế khả năng gây ô nhiễm môi trường không khí Là phương pháp sử dụng nhiệt độ cao trong các lò đốt chuyên dụng có nhiệt độ từ 800oC - 1200oC hoặc lớn hơn để đốt CTRYT Phương pháp đốt có ưu điểm là xử lý được đa số các loại CTRYT, giảm tối đa về mặt thể tích của chất thải Tuy vậy nhược điểm của phương pháp đốt là nếu chế độ vận hành không chuẩn và không có hệ thống xử lý khí thải sẽ làm phát sinh các chất độc hại như Dioxin, Furan gây ô nhiễm môi trường thứ cấp; chi phí vận hành, bảo dưỡng và giám sát môi trường cao
Khử trùng bằng hơi nóng ẩm (lò hấp):
Là phương pháp tạo ra môi trường hơi nước nóng ở áp suất cao để khử trùng dụng cụ và CTYT Các loại CTLN có thể xử lý được: CTLN, chất thải giải phẫu Phương pháp này có nhược điểm là chất thải y tế không được xử lý triệt để, chất thải rắn sau khi khử khuẩn vẫn cần tiếp tục được xử lý theo quy định về quản lý chất thải thông thường [9]
Khử trùng bằng hóa chất:
Phương pháp này thích hợp đối với chất thải lỏng như: nước tiểu, phân, máu, nước thải bệnh viện Tuy nhiên, hóa chất cũng có thể áp dụng để xử lý chất thải rắn, thậm chí cho cả chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao với một số lưu ý sau:
+ Một số loại chất thải phải cắt nghiền nhỏ trước khi khử trùng Ngoài ra còn
có nguy cơ phát tán yếu tố nguy hại, mầm bệnh trong quá trình nghiền cắt;
+ Bản thân hóa chất khử trùng là những chất độc hại, vì vậy những người sử dụng phải được đào tạo về quy trình sử dụng và được trang bị đầy đủ các trang thiết bị bảo hộ an toàn;
+ Hiệu quả khử trùng phụ thuộc vào điều kiện vận hành;
+ Khử trùng chỉ có hiệu quả với bề mặt của CTR
Trang 26+ Phải kiểm soát dư lượng hóa chất, nếu cách xử lý không đúng có thể làm phát sinh các vấn đề môi trường sau xử lý như nước thải, hơi hóa chất phát tán vào môi trường không khí trong quá trình xử lý
Phương pháp khử khuẩn bằng vi sóng:
Có hai phương pháp đó là sử dụng vi sóng thuần túy trong điều kiện áp suất thường (có hoặc không có bổ sung nước/hơi nước) và sử dụng vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa trong điều kiện nhiệt độ, áp suất cao Trong phương pháp này thường
đi kèm các thiết bị máy cắt, nghiền và máy ép để giảm thể tích chất thải Tương tự như phương pháp khử trùng bằng lò hấp, phương pháp khử khuẩn bằng lò vi sóng
có thể xử lý được: Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (có thấm máu, dịch sinh học
và chất thải từ buồng cách ly), chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao và chất thải giải phẫu CTR sau khi khử khuẩn, giảm thể tích đạt tiêu chuẩn có thể xử lý, tái chế, tiêu hủy như chất thải thông thường
Phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh:
Chỉ áp dụng tạm thời đối với các bệnh viện thuộc khu vực khó khăn chưa có cơ
sở xử lý chất thải y tế nguy hại đạt tiêu chuẩn tại địa phương, những nơi chưa được đầu
tư hệ thống xử lý bằng lò đốt, lò hấp Không chôn chất thải lây nhiễm lẫn với chất thải thông thường
Phương pháp đóng rắn (trơ hóa):
Chất thải cần đóng rắn được nghiền nhỏ, sau đó được đưa vào máy trộn theo từng mẻ Các chất phụ gia như xi măng, cát và polymer được bổ sung vào để thực hiện quá trình hòa trộn khô, sau đó tiếp tục bổ sung nước vào để thực hiện quá trình hòa trộn ướt Sau 28 ngày bảo dưỡng khối rắn, quá trình đóng rắn diễn ra làm cho các thành phần ô nhiễm trong chất thải hoàn toàn bị cô lập Khối rắn sẽ được kiểm tra cường độ chịu nén, khả năng rò rỉ và lưu giữ cẩn thận tại kho, sau đó vận chuyển đến bãi chôn lấp an toàn Phương pháp đóng rắn đơn giản, dễ thực hiện, chi phí thấp Tỷ lệ phổ biến cho hỗn hợp là 65% CTYT, 15% vôi, 15% xi măng, 5% nước
Bao gói:
Chất kết dính vô cơ thường dùng là ximăng, vôi, thạch cao, silicat Chất kết dính hữu cơ thường dùng là epoxy, polyester, nhựa asphalt, polyolefin, ure
Trang 27formaldehyt,… Chất thải thường là chất thải hóa chất hoặc dược phẩm được đưa vào 3/4 thể tích các thùng bằng polyethylene hoặc thùng kim loại Sau đó được điền đầy bằng các chất kết dính - để khô - dán niêm phong và đưa đi chôn lấp Phương pháp này bộc lộ nhiều hạn chế: thiếu diện tích chôn lấp, quá trình chôn lấp gây ô nhiễm đất, nước; CTRYT bị chôn lẫn cùng chất thải sinh hoạt tăng nguy cơ bùng phát mầm bệnh, vì vậy khuyến cáo hạn chế tối thiểu áp dụng phương pháp này tại các cơ sở y tế, chỉ nên áp dụng tạm thời với các CSYT khó khăn chưa đủ điều kiện
để tiến hành thu gom, vận chuyển, xử lý đúng qui định
Mặc dù công tác quản lý chất thải y tế đã được đẩy mạnh và đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong thời gian qua nhưng hiện vẫn còn một số khó khăn tồn tại, cụ thể:
- Việc quản lý chất thải rắn y tế thông thường, đặc biệt là quy định về sản phẩm có thể tái chế sau xử lý bằng thiết bị khử khuẩn đang còn nhiều lúng túng và không thống nhất ở các cơ sở y tế Ngoài ra, việc hướng dẫn về thủ tục pháp lý đối với xử lý chất thải theo mô hình cụm cần phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung hay không, thực hiện hồ sơ môi trường khi bổ sung, thêm mới các công trình bảo vệ môi trường phục vụ quá trình xử lý chất thải phát sinh của cơ sở y
tế hiện vẫn chưa rõ ràng
- Kinh phí chi cho đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải y tế còn thiếu trong khi nhu cầu đầu tư để xây dựng/cải tạo các hệ thống xử lý chất thải y tế là rất lớn Ngoài ra, kinh phí chi cho vận hành thường xuyên và bảo dưỡng hệ thống xử lý chất thải y tế của nhiều cơ sở y tế vẫn còn thiếu; chưa có cơ chế và định mức chi cho xử lý chất thải tại các cơ sở y tế và chưa được đưa vào quy định trong ngân sách chi thường xuyên của đơn vị
- Công tác quản lý, chỉ đạo về quản lý chất thải y tế còn gặp khó khăn do phạm vi quản lý rộng và đa dạng các loại hình cơ sở y tế Năng lực của cán bộ làm công tác quản lý chất thải y tế ở nhiều nơi còn mang tính kiêm nhiệm, chưa đáp ứng được yêu cầu Các quy định về quản lý chất thải y tế còn chưa đến được với đối tượng áp dụng do hạn chế trong hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật
Trang 28- Ý thức tham gia vệ sinh, thu gom chất thải y tế của người bệnh, người nhà người bệnh và một số cơ sở y tế còn chưa cao, trong một số trường hợp còn thải chung chất thải y tế nguy hại với chất thải y tế thông thường, một số cơ sở y tế còn chuyển giao chất thải y tế cho đơn vị không có chức năng xử lý
1.2.3 Hiện trạng xử lý CTRYT tại Hà Nội
Hà Nội là địa phương có tỷ lệ dịch vụ y tế lớn nhất cả nước, với số cơ sở y tế
và số giường bệnh phục vụ cao nhất Trên địa bàn thành phố có 32 cơ sở y tế do Bộ
Y tế quản lý với 6.680 giường bệnh (trong đó có 16 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa, 16 viện nghiên cứu và thực nghiệm y dược); có 09 bệnh viện và trung tâm khám chữa bệnh thuộc các Bộ, Ngành với tổng số 1.250 giường bệnh; 15 bệnh viện
và viện thuộc Bộ Công an và Bộ Quốc phòng với 3.830 giường bệnh; Các cơ sở y tế trực thuộc thành phố Hà Nội: Tuyến Thành phố hiện có 40 bệnh viện đa khoa, chuyên khoa với 8.025 giường bệnh; Tuyến quận, huyện, xã phường thị trấn có 29 trung tâm y tế quận, huyện, thị xã, 43 phòng khám đa khoa, 04 nhà hộ sinh, 577 trạm y tế xã, phường, thị trấn; Hà Nội có 23 bệnh viện tư nhân với 630 giường bệnh; 254 phòng khám Đa khoa, 1.630 phòng khám chuyên khoa, 1.744 nhà thuốc,
546 công ty dược và chi nhánh [12]
Theo số liệu của Sở Y tế Hà Nội, trung bình mỗi năm, tổng lượng rác thải y
tế thải ra trên địa bàn thành phố ước khoảng 595 tấn chất thải y tế nguy hại, 2971 tấn chất thải thông thường và khoảng 1.722.600 m3 nước thải Các chuyên gia y tế cho rằng, lượng rác thải y tế độc hại trên địa bàn sẽ còn tiếp tục tăng lên khi xã hội phát triển, công nghiệp hóa ngày càng cao Chính vì vậy, công tác quản lý các chất thải y tế phải được nghiêm túc thực hiện theo đúng quy định mới có thể đảm bảo an toàn
Tại các bệnh viện tuyến Trung ương: Theo số liệu thống kê của Cục Quản
lý Môi trường (Bộ Y tế), năm 2015, trên địa bàn thành phố có 22 bệnh viện tuyến Trung ương, trong đó có Bệnh viện nhiệt đới Trung ương và Bệnh viện Phổi Trung ương xử lý CTRNH y tế bằng thiết bị vi sóng kết hợp với hơi nước bão hòa; Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 xử lý bằng phương pháp đốt; còn lại hợp đồng thuê thu gom, xử lý với URENCO 10 [11] Đến giai đoạn 2016 - 2018, khi thị trường xử
lý CTNH ngày càng trở nên sôi động hơn, các phương pháp xử lý tại chỗ tỏ ra
Trang 29không hiệu quả, đồng thời các CSYT thực hiện phương thức xã hội hóa, tiến hành đấu thầu công khai, minh bạch để tìm kiếm chủ xử lý phù hợp, một số đơn vị, công
ty có đủ năng lực, giấy phép hành nghề vận chuyển, xử lý CTNH đã tham gia thu gom, vận chuyển, xử lý đã phá bỏ thế độc tôn trong thị trường xử lý CTRYT của Urenco 10 (đơn vị trước đây tiếp nhận xử lý toàn bộ CTRYT tại Hà Nội)
Tại các cơ sở y tế do Sở Y tế Hà Nội quản lý: Theo số liệu thống kê năm
2015 của Sở Y tế Hà Nội, tại các cơ sở do Sở Y tế Hà Nội quản lý, chất thải y tế nguy hại đang được xử lý theo 2 mô hình: xử lý tại chỗ và thuê vận chuyển, xử lý tập trung, ký hợp đồng với doanh nghiệp có tư cách pháp nhân trong việc vận chuyển
và xử lý CTRYT [7]
Nhằm mục tiêu kiểm soát chặt chẽ các yếu tố nguy hại đến sức khỏe con người và môi trường từ các chất thải phát sinh tại các cơ sở y tế nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng, cán bộ, nhân viên y tế và người bệnh, đẩy mạnh hiệu quả quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng quản lý và xử lý chất thải rắn: ngày 20/12/2017, UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 8796/QĐ-UBND phê duyệt đề cương đề án "Xử lý chất thải y tế nguy hại thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2025" Cụ thể, đến năm 2020, phấn đấu đảm bảo 100% các cơ sở y
tế ở các tuyến từ Trung ương đến tuyến huyện trên địa bàn Thành phố Hà Nội thực hiện việc lưu giữ, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải y tế bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường, cụ thể:
Mục tiêu cho các chủ nguồn thải chất thải y tế nguy hại: Các chủ nguồn thải phải có hệ thống phân loại, lưu giữ, thu gom, vận chuyển theo quy định; tất cả nhân viên được tập huấn phù hợp và có đủ phương tiện bảo hộ lao động Các chủ nguồn thải phải có cơ cấu tổ chức, cán bộ chuyên trách được đào tạo, có sổ tay quản lý chất thải y tế nguy hại và có chương trĩnh theo dõi giám sát Kiểm soát được các chất thải y tế nguy hại từ nguyên liệu, hóa chất, thiết bị, đầu vào cho đến chất thải phát sinh và phương án, kết quả thực hiện phân loại, lưu giữ, vận chuyển, xử lý; có nhân viên đã được đào tạo về vận hành và bảo dưỡng hệ thống xử lý chất thải và thu gom, vận chuyển chất thải theo đúng quy trình
Mục tiêu cho các cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại: Cơ sở xử lý chất thải y
tế nguy hại phải đáp ứng được các điều kiện quy định của Luật Bảo vệ môi trường
Trang 30năm 2014; phải có hệ thống xử lý với công suất phù hợp và công nghệ xử lý thân thiện với môi trường; phải có xe vận chuyển chất thải y tế nguy hại chuyên dụng, đạt tiêu chuẩn; có nhân viên đã được đào tạo về vận hành và bảo dưỡng hệ thống xử lý chất thải và thu gom, vận chuyển chất thải theo đúng quy trình đã được quy định; có hệ thống, thiết bị, biện pháp kỹ thuật kiểm soát ô nhiễm môi trường và bảo vệ môi trường tại cơ sở [14]
1.3.Tổng quan về công ty vật tư thiết bị môi trường 13 – Urenco 13
1.3.1 Thông tin chung
Tên gọi: Công ty cổ phần vật tư thiết bị môi trường 13 – Urenco 13
Tên viết tắt: Urenco 13 (U13)
Địa chỉ: Số 246, đường Tôn Đức Thắng, phường Hàng Bột, quận Đống Đa,
Hà Nội
- Cơ sở xử lý chất thải: Số 838, đường Phúc Diễn, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội Tổng diện tích: 6.43 ha Phía bắc giáp nhà máy chế biến phế thải Cầu Diễn (Urenco 7); Phía đông giáp đường đất rộng 3.5 m và sông Nhuệ; phía tây và nam giáp đất ruộng xã Tây Mỗ
1.3.2 Lịch sử hình thành
Công ty cổ phần vật tư thiết bị môi trường 13 – Urenco 13 tiền thân là Công
ty cổ phần vật tư thiết bị môi trường, được thành lập ngày 06 tháng 10 năm 2007 tại trụ sở Công ty TNHH Một thành viên Môi trường đô thị Hà Nội số 282 Kim Mã –
Ba Đình – Hà Nội Lĩnh vực ngành nghề kinh doanh của Công ty từ khi thành lập là kinh doanh, buôn bán vật tư, thiết bị ngành vệ sinh môi trường
Ngày 01/01/2017, theo chủ trương của Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị
Hà Nội; công ty mở rộng thêm kinh doanh dịch vụ vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại, được bàn giao nguyên trạng toàn bộ phương tiện, thiết bị, nhân lực thuộc cơ sở xử
lý chất thải nguy hại tại Cầu Diễn từ công ty cổ phần môi trường đô thị và công nghiệp
10 – Urenco 10 (là đơn vị thành viên thuộc Công ty TNHH Một thành viên Môi trường
đô thị Hà Nội)
Trang 311.3.3 Lĩnh vực kinh doanh, dịch vụ
Với định hướng chiến lược phấn đấu trở thành công ty chuyên nghiệp hàng đầu khu vực miền Bắc trong lĩnh vực xử lý chất thải y tế và cung cấp vật tư thiết bị môi trường Urenco 13 đã và đang tập trung năng lực chuyên môn và nguồn lực tài chính cho các lĩnh vực hoạt động sau:
- Dịch vụ vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại;
- Kinh doanh vật tư, thiết bị ngành vệ sinh môi trường
Hình 1.1 Sơ đồ bộ máy của công ty Urenco 13 Giấy phép xử lý CTYTNH của Urenco 13 được cấp phép ngày 19/5/2017 bao gồm các nội dung: cho phép thực hiện dịch vụ vận chuyển và xử lý các loại CTNH cho chủ nguồn thải trên địa bàn đồng bằng sông Hồng; được phép sử dụng, vận hành các phương tiện chuyên dụng bao gồm các xe tải có thùng đông lạnh, có bàn nâng hạ; xe tải có thùng rời; nhóm xe mô tô vận chuyển CTNH; được phép xử
lý rác thải phát sinh từ hoạt động khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế, cơ sở khám chữa thú y
Trong bộ máy hoạt động của công ty Urenco 13, xưởng sản xuất là đơn vị chính chịu trách nhiệm trong quá trình thu gom, vận chuyển và xử lý CTRYT Xưởng sản xuất bao gồm 3 đơn vị chức năng có vai trò, vị trí quan trọng trong hoạt động xử lý CTRYT Cụ thể, tổ vận chuyển chịu trách nhiệm trong khâu giao nhận
Trang 32trực tiếp CTRYT với các chủ nguồn thải, vận chuyển chất thải y tế từ các CSYT về khu xử lý, vận chuyển CTRYT sau xử lý đi chôn lấp tại bãi chôn lấp tập trung Tổ hấp sấy chịu trách nhiệm trong khâu xử lý CTRYT từ lúc CTRYT tập kết về nhà máy cho đến khi CTRYT được xử lý thành chất thải thông thường, vệ sinh thùng chứa CTRYT sau xử lý, vệ sinh phương tiện vận chuyển Bộ phận điều hành sản xuất chịu trách nhiệm giám sát toàn bộ qui trình vận chuyển, xử lý CTRYT, theo dõi khối lượng CTRYT được thu gom, xử lý hàng ngày
1.3.4 Phương tiện, thiết bị của Urenco 13
Bảng 1.4 Phương tiện, thiết bị của Urenco 13 phục vụ trong công tác xử lý
xé nguyên liệu, cửa nạp liệu Tình trạng kỹ thuật cả phần cơ và điện tốt
Nghiền nhỏ các phế liệu, phế thải rắn như thủy tinh, nhựa sau xử lý
Hấp sấy chất thải rắn y tế
- Cấu tạo: Nồi hấp khử trùng có cấu tạo bao gồm một buồng kim loại với phần nắp đậy chính là cửa nạp liệu và được bao quanh bởi một lớp đệm hơi Buồng kim loại
- Nguyên lý hoạt động: Hơi nước được đưa vào bên trong lớp đệm hơi và bên trong buồng khử trùng để đạt tới nhiệt độ khử trùng theo yêu cầu Sau khi CTLN cần xử lý được đưa vào buồng khử trùng thì nắp buồng khử trùng đóng chặt lại Trong thời gian của một quá trình khử trùng, hơi nước được bơm liên tục vào buồng khử trùng để duy trì chế độ áp suất và nhiệt độ như đã cài đặt để đảm bảo
Trang 33khử trùng toàn bộ phần CTLN Sau khi quá trình khử trùng kết thúc, nhiệt độ và áp suất sẽ dần giảm về ngưỡng an toàn cho việc mở nắp buồng khử trùng và đưa CTLN đã xử lý ra ngoài Sau qui trình khử trùng, chất thải rắn y tế lây nhiễm chuyển thành chất thải thông thường
- Khả năng tiêu diệt mầm bệnh: Các nghiên cứu đã chỉ ra khả năng tiêu diệt mầm bệnh của thiết bị trong trường hợp CTLN được khử trùng tại nhiệt độ 121O C, trong thời gian 30 phút có thể giảm được 106 nha bào Tuy nhiên, theo QCVN 55:2013/BTNMT, nếu thiết bị không có bộ phận tạo hút chân không, vận hành ở nhiệt độ hấp 121OC phải thực hiện trong thời gian 60 phút và ở nhiệt độ hấp 135OC phải thực hiện trong thời gian 45 phút [7]
- Yêu cầu: Xử lý triệt để chất thải y tế nguy hại, khí thải, nước thải sau khi
xử lý đạt theo tiêu chuẩn TCVN
Hình 1 2 Cấu tạo của lò hấp sấy chất thải y tế
+ Các chu trình hoạt động: lò hấp có thể được lập trình để chạy cả hai chu trình sau:
Chu trình trọng lực: khử khuẩn ở nhiệt độ từ 120oC đến 160oC, quá trình diến ra như sau: sử dụng hơi nước để đẩy không khí ra ngoài
Chu trình chân không: khử khuẩn ở nhiệt độ từ 120oC đến 160oC, trong môi trường chân không, quá trình thâm nhậm hơi nước nhiệt độ cao vào trong khối chất thải diễn ra nhanh và hiệu quả hơn Chính vì vậy sẽ tiết kiệm được thời gian xử lý Trong quá trình tạo chân không, không khí hút ra từ trong buồng hấp
Trang 34được xử lý qua một bộ lọc HEPA (Lớp H13 hoặc higherEN 1822, hiệu quả 99,97% trên hạt 0,3 micron, IEST-RPCC001), HEPA lọc than hoạt tính để ngăn chặn sự phát tán của các mầm bệnh trong quá trình khử khuẩn ra ngoài môi trường [9]
Ưu điểm công nghệ lò hấp tiệt trùng:
- Công nghệ đơn giản, dễ áp dụng, khả năng khử trùng CTRYTLN đạt hiệu quả tốt, đã được chứng nhận và chấp nhận như là công nghệ thay thế tại các quốc gia trên thế giới
- Đối với các chất thải lây nhiễm có nguồn gốc là nhựa, sau khi xử lý bằng thiết bị này có thể thu hồi, tái chế để phục vụ cho các mục đích khác;
- Giảm thiểu sức lao động cho công nhân, dễ thao tác, vận hành
- Phát sinh rất ít khí thải nếu tuân thủ nghiêm chỉnh việc phân loại CTRYT
- Chi phí đầu tư tương đối thấp so với các công nghệ không đốt khác
Nhược điểm công nghệ lò hấp tiệt trùng:
- Cần bổ sung thêm công đoạn nghiền, cắt để biến đổi hình dạng và giảm thể tích của CTRYT
- Các vật thể kim loại lẫn trong CTRYT sau xử lý có thể làm hư hỏng máy nghiền
- Không xử lý được các hóa chất độc hại (formaldehyde, phenol, thủy ngân…) lẫn trong phần CTRYT cần xử lý
- CTLN cần xử lý có thể bị hạn chế trong việc tiếp xúc trực tiếp với hơi nước, làm giảm sự truyền nhiệt và làm ảnh hưởng tới hiệu quả khử khuẩn của công nghệ, trong một số trường hợp như CTLN có kích thước quá to hoặc cồng kềnh, hay được đựng trong nhiều túi khác nhau
- Khí thải: Trong điều kiện thông gió không hiệu quả, khí thải là một trở ngại cho việc áp dụng công nghệ hấp ướt Trong trường hợp CTLN đem đi xử lý có lẫn các loại thuốc chống ung thư hoặc kim loại nặng, thì các hóa chất này sẽ bị phát tán vào không khí hoặc ngưng tụ lại trong phần CTLN sau khử trùng [7]
Khu xử lý trung gian
CTRYT tiếp nhận từ CSYT được thu gom tập trung về kho trước khi đưa vào xử lý Khu xử lý trung gian bao gồm:
Trang 35+ Khu vực chứa rác chờ đốt (Nhà bảo ôn): 70m2
+ Khu vực rửa thùng, xe và lưu trữ thùng sạch: 90m2
+ Có nhà bảo ôn chất thải
+ Có hệ thống thoát nước thải nước mưa
- Thiết bị phòng cháy chữa cháy (gồm có bình bọt chữa cháy, cát để dập lửa) theo hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền về phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật về phòng cháy chữa cháy
- Vật liệu hấp thụ (như cát khô hoặc mùn cưa) và xẻng để sử dụng trong trường hợp rò rỉ, rơi vãi, đổ tràn chất thải nguy hại ở thể lỏng
- Hộp sơ cứu vết thương; bình chứa dung dịch soda gia dụng để trung hoà khẩn cấp vết bỏng axít
- Thiết bị báo động (như còi, kẻng)
- Trong từng ô của khu vực lưu giữ tạm thời và trên từng thiết bị lưu chứa được dán dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa phù hợp với loại CTNH được lưu giữ theo TCVN 6707:2009 với kích thước 30cm mỗi chiều; vật liệu bằng giấy màu có lớp ni lon bao ngoài đảm bảo không bị mờ hoặc phai màu
- Sơ đồ thoát hiểm được bắn lên tường nhà xử lý trung gian, ký hiệu hướng dẫn thoát hiểm (ký hiệu chỉ lối thoát) đặt ở các cửa ra vào của lối đi Các đèn báo thoát hiểm
- Tại đây cũng bố trí hệ thống điện, nước các biển báo, hướng dẫn xe vào ra, các nội quy, quy định
Trang 36Hình 1 3 Khu xử lý trung gian
1.3.5 An toàn lao động trong công tác thu gom, vận chuyển, xử lý CTRYT
- Đảm bảo vận hành thiết bị theo quy trình, an toàn cho thiết bị và người lao động
- Trang bị đầy đủ các thiết bị phòng chống cháy nổ: Bình bọt, xô tôn, bao tải, phi đựng cát … nhằm ứng cứu kịp thời các trường hợp cháy nổ
- Lắp đặt các biển báo an toàn lao động, 100% các ô tô chuyên dụng có các cảnh báo nguy hại trên thành xe
- Với đặc thù nguy hại của CTRYT, đặc biệt là nhóm chất thải sắc nhọn hoặc nhóm dễ lây nhiễm, trong quá trình giao nhận, vận chuyển, xử lý CTRYT, công nhân được trang bị đầy đủ bảo hộ lao động gồm: Quần áo bảo hộ lao động dài tay, giầy đế cứng, mặt nạ phòng độc, găng tay da dài, kính, dụng cụ làm việc , các thiết bị
sơ cứu khi cần thiết và các kiến thức, qui tắc an toàn lao động, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ
- Tiến hành cho công nhân khám sức khỏe định kỳ 2 lần/ năm, đảm bảo công nhân có điều kiện sức khỏe tốt, đáp ứng yêu cầu công việc, đồng thời phát hiện bệnh lý để điều trị kịp thời
- Ngăn ngừa, tác động nguy hại đối với công nhân trong quá trình xử lý
Trang 37CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu gồm:
- CTRYT sau thu gom từ các cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Hà Nội có hợp đồng vận chuyển, xử lý CTRYT với công ty Urenco 13
- Trang thiết bị, phương tiện thu gom, vận chuyển, lưu trữ và hoạt động xử lý CTRYT của công ty Urenco 13, thành phố Hà Nội
2.2 Phạm vi đề tài nghiên cứu
- Về thời gian: từ tháng 5/2018 - tháng 9/2018
- Về không gian: các CSYT công lập và ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội có hợp đồng xử lý CTYRT với công ty Urenco 13 và khu xử lý CTRYT
- 838 Phúc Diễn, Tây Mỗ, Nam Từ Liêm, Hà Nội
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu về hiện trạng thu gom, vận chuyển, xử lý CTRYT trên địa bàn thành phố Hà Nội của công ty Urenco 13
- Đánh giá hiện trạng thu gom, vận chuyển, xử lý CTRYT của công ty Urenco13
- Đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả trong hoạt động xử lý CTRYT của Urenco13
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu, số liệu thứ cấp
- Thu thập, kế thừa các tài liệu đáng tin cậy để giảm nội dung điều tra, rút ngắn thời gian, kinh phí thực hiện
- Các số liệu thứ cấp được thu thập bao gồm: số liệu về số cơ sở y tế, khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh của các bệnh viện công lập và tư nhân, các đơn vị
xử lý CTRYT trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Thu thập thông tin, số liệu từ các báo cáo, tài liệu, số liệu của công ty Urenco 13
Trang 38Những số liệu thu thập được xử lý bằng phương pháp thống kê, liệt kê thành các bảng biểu theo hệ thống xác định nhằm chuyển đổi các thông tin, số liệu liên quan thành kết quả có ý nghĩa cho quá trình đánh giá hoạt động xử lý CTRYT của Urenco13
+ Phỏng vấn trực tiếp công nhân giao nhận, vận chuyển với nội dung: khối lượng thu gom hàng ngày, số nguồn thải thu gom trong ngày, thời gian thu gom trong ngày, tần suất thu gom của các nguồn thải… ;
+ Phỏng vấn công nhân vận hành hệ thống lò hấp CTRYT: khối lượng rác xử
lý hàng ngày, loại rác thải xử lý chủ yếu, …
+ Phỏng vấn chủ nguồn thải: mức độ tuân thủ thời gian, tần suất vận chuyển của Urenco13, thái độ làm việc, tuân thủ qui định an toàn lao động, phương tiện vận chuyển…
- Kỹ thuật chọn mẫu:
Trang 39- Cỡ mẫu
Phiếu điều tra số 1: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp 25 nhân viên thuộc bộ
phận vận chuyển và 17 nhân viên thuộc bộ phận hấp sấy của công ty Urenco 13
Phiếu điều tra số 2: Tiến hành phỏng vấn các nhân viên khoa kiểm soát
nhiễm khuẩn/ nhân viên y tế tại các bệnh viện, phòng khám Cụ thể, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn tại 76 CSYT, trong đó có nhân viên khoa kiểm soát nhiễm khuẩn tại 05 bệnh viện tuyến TW, 07 bệnh viện đa khoa trực thuộc sở y tế, 04 nhân viên giao nhận CTRYT tại 04 bệnh viện tuyến quận, huyện, 10 Trung tâm y tế và 50 phòng khám tư nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Tiêu chí chọn mẫu
Phiếu điều tra số 1: Các nhân viên tham gia trực tiếp vào quá trình giao
nhận, vận chuyển, xử lý CTRYT Đối tượng được phỏng vấn là những nhân viên có thời gian làm việc từ 6 tháng trở lên tại công ty Urenco 13
Phiếu điều tra số 2: Các nhân viên khoa kiểm soát nhiễm khuẩn, các nhân
viên y tế tại các phòng khám tham gia trực tiếp vào quá trình giao nhận CTRYT với
bộ phận vận chuyển của công ty Urenco 13
- Tiêu chí loại trừ: nhân viên thuộc bộ phận gián tiếp thuộc công ty Urenco 13; các nhân viên của các CSYT vắng mặt trong buổi khảo sát, người từ chối phỏng vấn
Thu thập số liệu:
- Thời gian thu thập: Từ tháng 5/2018 đến tháng 9/2018
- Phương pháp thu thập: Phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi/ gửi phiếu điều tra
- Quản lý dữ liệu: Phân loại kết quả phiếu điều tra theo từng nhóm đối tượng phỏng vấn Kiểm tra xác nhận các phiếu đạt yêu cầu, thống kê và tổng hợp kết quả điều tra được làm cơ sở đánh giá hoạt động xử lý CTRYT của công ty Urenco 13
Chi tiết mẫu phiếu điều tra và kết quả điều tra được thể hiện trong phụ lục
2.4.3 Phương pháp FMEA
FMEA là phương pháp thường được áp dụng trong hệ thống quản lý chất lượng, tập trung vào việc xác định các yếu tố rủi ro có ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất nhằm cải thiện sự an toàn, độ tin cậy, chất lượng sản phẩm và
Trang 40quá trình sản xuất ra sản phẩm FMEA xếp hạng các rủi ro tiềm ẩn bằng việc xác định hệ số ưu tiên rủi ro (RPN) để có các hoạt động hiệu chỉnh phù hợp Thang điểm cho các thành phần của RPN bao gồm: mức độ nghiêm trọng của rủi ro (SEV), tần suất xảy ra rủi ro (OCC), và khả năng phát hiện rủi ro (DET), điểm số của (SEV) và (OCC) càng cao thì mức độ nghiêm trọng càng cao và tần suất xảy ra của rủi ro càng lớn Tương tự, giá trị của (DET) càng cao thể hiện cho khả năng càng khó phát hiện ra các rủi ro Các rủi ro có chỉ số RPN càng lớn thì được xếp thứ tự
ưu tiên càng cao [16]
Công thức xác định RPN = DET * SEV * OCC
Thông thường, giá trị (SEV), (DET), (OCC) được xác định từ 1 đến 10 Tuy nhiên, để phù hợp với hoạt động sản xuất của công ty Urenco 13, nghiên cứu lựa chọn mức thang điểm đánh giá từ 1 - 5, nhằm thể hiện sự tập trung về điểm số đánh giá và đơn giản hóa trong xác định điểm cho các hệ số Thang điểm cụ thể của các yếu tố được qui định cụ thể trong phụ lục
Qui trình cụ thể thực hiện xác định rủi ro trong hoạt động xử lý CTRYT của Urenco13:
Bước 1: Lập nhóm FMEA gồm 10 thành viên bao gồm đại diện quản lý, kỹ
sư môi trường, trưởng các bộ phận vận chuyển, bộ phận hấp sấy tham gia vào qui trình đánh giá rủi ro Xác định tất cả các hoạt động trong qui trình xử lý CTRYT của công ty Urenco13; bao gồm cả hoạt động thường xuyên và không thường xuyên; hoạt động do đơn vị khác tác động vào công ty Nhóm FMEA cần xem xét lại toàn bộ qui trình xử lý CTRYT của công ty Urenco 13 thông qua các lưu đồ, sơ
đồ hệ thống xử lý
Bước 2: Căn cứ các hoạt động tại bước 1, nhóm FMEA tiến hành thảo luận, trao đổi để xác định rủi ro trong từng khâu của qui trình xử lý CTRYT Xây dựng thang điểm cụ thể cho từng yếu tố (SEV), (OCC), (DET)
- Xác định mức độ nghiêm trọng cho từng rủi ro (SEV): Ứng với mỗi rủi ro, nhóm FMEA xác đinh mức độ nghiêm trọng của chúng và cho điểm
- Xác định tần suất xảy ra rủi ro (OCC): Dựa vào dữ liệu thực tế hoặc dự đoán từ kinh nghiệm và kiến thức, nhóm FMEA xác định và cho điểm tần suất xảy ra rủi ro