LỜI CAM ĐOANLuận văn: Tổ chức dạy học một số kiến thức về “Các Định luật bảo toàn” gắn với giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh lớp 10 THPT.. Một số biện pháp dạy học môn vật lí gắn v
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN MINH TÂN
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn: Tổ chức dạy học một số kiến thức về “Các Định luật bảo toàn” gắn với giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh lớp 10 THPT Được
thực hiện từ tháng 5 năm 2018 đến tháng 8 năm 2019
Tôi xin cam đoan:
Luận văn được sử dụng các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, cácthông tin đó đã được chọn lọc, phân tích, tổng hợp, xử lí và đưa vào luận vănđúng quy định
Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quảnghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố,
sử dụng trong bất kì công trình nghiên cứu của tác giả nào khác
Thái nguyên, tháng 10 năm 2019
Tác giả luận văn
Mai Thị Hồng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc nhất tới thầy giáo
hướng dẫn khoa học TS Nguyễn Minh Tân, người đã hướng dẫn tôi thực hiện
và hoàn thành luận văn bằng tất cả sự tận tâm, tận tình và trách nhiệm
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu, phòng tào tạo Sau đại học, khoa Vật lí, các thầy cô giáocủa trường ĐHSP - ĐH Thái Nguyên, đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn vàđóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứukhoa học và làm luận văn
Ban giám hiệu, các đồng chí trong tổ Toán - Lí, cán bộ giáo viên và họcsinh của trường THPT Dương Tự Minh, giáo viên và học sinh của trườngTHPT Định Hóa đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực nghiệm vàhoàn thành luận văn
Tập thể lớp cao học LL&PP dạy học bộ môn Vật lí K25, những ngườithân, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, giúp đỡ và tiếp thêm độnglực để tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù có nhiều cố gắng, xong do thời gian và năng lực bản thân cònnhiều hạn chế trong kinh nghiệm nghiên cứu, nên luận văn sẽ không tránh khỏinhững thiếu sót
Tôi rất mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp, chỉ bảo của quýthầy cô và bạn bè đồng nghiệp, để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn, có thểlàm tài liệu tham khảo cho đồng nghiệp của mình
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thái nguyên, tháng 10 năm 2019
Tác giả
Mai Thị Hồng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC .iii
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Giả thuyết khoa học 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Đóng góp của luận văn 3
8 Cấu trúc của luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC VẬT LÍ GẮN VỚI GD BVMT 4
1.1 Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Vai trò của môi trường và sự cần thiết phải bảo vệ môi trường 4
1.1.2 Nhận thức chung về GD BVMT 5
1.1.3 Vấn đề GDMT gắn với dạy học môn Vật lí nói chung, và gắn với chương “Các Định luật bảo toàn” nói riêng 7
1.2 Sự cần thiết phải đưa GDMT vào nội dung giảng dạy nói chung và giảng dạy môn Vật lí nói riêng 8
1.2.1 Một số kiến thức vật lí gắn với môi trường 8
1.2.2 Chuyển hoá năng lượng và bảo toàn 10
Trang 61.3 Một số biện pháp dạy học môn vật lí gắn với giáo dục bảo vệ môi
trường nhằm phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh .11
1.3.1 Quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm, phát huy tính tích cực của HS trong hoạt động học tập .11
1.3.2 Các biểu hiện của tính tích cực trong học tập của HS 11
1.3.3 Dạy học vật lí theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh 12
1.3.4 Các hình thức dạy học vật lý gắn với GDMT 13
1.3.5 Gắn các nội dung bảo vệ môi trường trong dạy học các kiến thức vật lí ở trường PT 13
1.3.6 Khảo sát thực trạng giáo dục bảo vệ môi trường theo quan điểm dạy học Vật lí gắn với giáo dục bảo vệ môi trường 15
Kết luận chương 1 20
Chương 2 TỔ CHỨC DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC VỀ CHƯƠNG “CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” GẮN VỚI GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH LỚP 10 THPT 21
2.1 Phân tích nội dung kiến thức chương “Các Định luật bảo toàn” (Vật lí 10) theo quan điểm gắn với giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh 21
2.1.1 Theo chương trình SGK hiện hành 21
2.1.2 Theo chương trình môn Vật lí mới ban hành 24
2.2 Tổ chức dạy học một số kiến thức về “Các Định luật bảo toàn” gắn với giáo dục bảo vệ môi trường 27
2.2.1 Xây dựng tiến trình dạy học kiến thức vật lí gắn với GD BVMT theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh 27
2.2.2 Tổ chức dạy học kiến thức mới về “Các Định luật bảo toàn” gắn với giáo dục bảo vệ môi trường 30
Kết luận chương 2 50
Trang 7Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 51
3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 51
3.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 51
3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 51
3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 51
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 51
3.2.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 52
3.3 Tiến trình thực nghiệm sư phạm 52
3.3.1 Công tác chuẩn bị thực nghiệm sư phạm 52
3.3.2 Lập kế hoạch thực nghiệm sư phạm 53
3.3.3 Tiến hành thực nghiệm theo kế hoạch 53
3.3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm .54
3.4 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 55
3.4.1 Các bài thực nghiệm 55
3.4.2 Giáo viên cộng tác 55
3.4.3 Diễn biến tiến trình dạy học 55
3.5 Kết quả và xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm 57
3.5.1 Yêu cầu 57
3.5.2 Đánh giá kết quả 58
3.6 Đánh giá chung về thực nghiệm sư phạm 61
Kết luận chương 3 63
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
19 PHGQVĐ Phát hiện giải quyết vấn đề
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Số liệu về chất lượng học tập môn vật lí của hs lớp TN và ĐC 52
Bảng 3.2: Lịch giảng dạy ở các lớp thực nghiệm sư phạm các lớp đã chọn 53
Bảng 3.3 Kết quả điểm kiểm tra 58
Bảng 3.4 Xếp loại điểm kiểm tra 58
Bảng 3.5: Bảng phân phối tần suất điểm kiểm tra 59
Bảng 3.6: Bảng phân phối tần suất tích lũy kết quả bài kiểm tra 60
Bảng 3.7: Bảng tổng hợp các tham số thống kê 60
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Sơ đồ cấu trúc nội dung chương 22
Hình 2.2: Ảnh lũ quét tại Lai Châu 30
Hình 2.3: Ảnh lũ quét tại Hà Giang 30
Hình 2.4 Tạo ra điện năng nhờ sức gió 36
Hình 2.5 Tạo ra điện năng nhờ sức nước 37
Hình 2.6: Một số hình ảnh minh họa cho bài học 39
Đồ thị 3.1: Đồ thị biểu diễn chất lượng học tập của lớp TN và lớp ĐC trước TNSP 53
Đồ thị 3.2: Xếp loại điểm kiểm tra 59
Đồ thị 3.3: Phân phối tần suất điểm kiểm tra 59
Đồ thị 3.4: Phân phối tần suất tích lũy kết quả bài kiểm tra 60
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thế giới đang đứng trước 5 cuộc khủng hoảng lớn là: Dân số, lươngthực, năng lượng, tài nguyên và sinh thái 5 cuộc khủng hoảng này đều liênquan chặt chẽ với môi trường và làm cho chất lượng cuộc sống của con người
có nguy cơ suy giảm Nguyên nhân gây nên các cuộc khủng hoảng là do sựbùng nổ dân số và các yếu tố phát sinh từ sự gia tăng dân số
Do đó, việc bảo vệ môi trường là vô cùng cấp thiết, vì môi trường có tầmquan trọng rất lớn đối với đời sống của con người Khái niệm môi trường: Môitrường có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.Môi trường vừa là không gian sống của con người vừa là nguồn cung cấp tàinguyên thiên nhiên để con người khai thác sử dụng, bên cạnh đó môi trườngcòn bảo vệ con người và sinh vật khỏi những tác động từ bên ngoài (ví dụ nhưtầng Ozon trong khí quyển có nhiệm vụ hấp thụ và phản xạ trở lại các tia cựctím từ năng lượng mặt trời) Sự nâng cao chất lượng môi trường hay suy thoáichất lượng môi trường có ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống con người [12]
Môn Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm, gắn liền với đời sống củacon người, môn Vật lí còn giúp cho chúng ta có thể giải thích được rất nhiều cáchiện tượng tự nhiên như: Lũ lụt, sói mòn, sự cạn kiệt nguồn tài nguyên nănglượng… Do đó, bảo vệ môi trường cần được lồng ghép vào các bài học Vật lí ởTHPT, nhất là kiến thức về chương “Các Định luật bảo toàn” trong Vật lí 10THPT
Cũng theo dự thảo chương trình GDPT môn Vật lí (19/1/2018) Bộ GD
đã đưa phần kiến thức “Vật lí với giáo dục bảo vệ môi trường” vào chươngtrình Vật lí lớp 10 Đã chứng tỏ rằng vấn đề BVMT là vô cùng quan trọng vàrất cấp thiết, nó mang tính toàn cầu Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam ghi
rõ trong Điều 6: "Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân Tổ chức, cánhân phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo vệ môitrường, có quyền và có trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật
về bảo vệ môi trường" [2]
Trang 12Cho đến nay cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến kiến thức
về chương “Các Định luật bảo toàn” như: Nguyễn Thị Mai - Tổ chức dạy học
dự án một số kiến thức chương “Các Định luật bảo toàn” - Vật lí lớp 10 cơ bản
(Luận văn thạc sĩ - ĐHSPTN - Năm 2011), Nguyễn Xuân Thái - Tổ chức dạy
học chương “Các Định luật bảo toàn” ( Vật lí 10) Với sự hỗ trợ của phần mềndạy học và bản đồ tư duy theo hướng phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
(Luận văn thạc sĩ - ĐHSPTN - Năm 2014), Nguyễn Thanh Mai - Vận dụng
một số kĩ thuật dạy học tích cực trong thiết kế tiến trình dạy học phát hiện vàgiải quyết vấn đề chương “Các định luật bảo toàn” (Vật lí 10) nhằm phát huytính tích cực của người học (Luận văn thạc sĩ - ĐHSPTN - Năm 2015)… Cáccông trình nghiên cứu trên đã có những thành công nhất định trong việc pháttriển năng lực cho học sinh Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về
vấn đề Tổ chức dạy học một số kiến thức về “Các Định luật bảo toàn” gắn với
giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh lớp 10 THPT.
Xuất phát từ thực tế trên, đã thôi thúc tôi đi vào nghiên cứu đề tài: Tổ
chức dạy học một số kiến thức về “Các Định luật bảo toàn” gắn với giáo dục
bảo vệ môi trường cho học sinh lớp 10 THPT
2 Mục đích nghiên cứu
Tổ chức dạy học chương “Các Định luật bảo toàn” gắn với các vấn đềthực tế về môi trường, nhằm phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh
3 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được tiến trình dạy học kiến thức vật lí gắn với giáo dụcbảo vệ môi trường, và tổ chức tốt hoạt động dạy học theo tiến trình này thì sựhứng thú và tính tích cực trong học tập của học sinh tăng lên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nội dung, chương trình chương “Các Định luật bảo toàn” vật lí 10THPT- trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 135 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
- Thiết kế phương án dạy học một số kiến thức về “Các Định luật bảotoàn” gắn với giáo dục bảo vệ môi trường
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi của cácphương án dạy học đã thiết kế
- Kết luận: Đánh giá hiệu quả tích cực của phương án dạy học
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các kiến thức về môi trường và Bảo vệ môi trường
- Nghiên cứu các biện pháp BVMT
- Nghiên cứu chương trình GDPT môn Vật lí mới và các kiến thức về
“Các Định luật bảo toàn” gắn với giáo dục bảo vệ môi trường
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
7 Đóng góp của luận văn
- Xây dựng được một số tiến trình dạy học kiến thức vật lí gắn với giáodục bảo vệ môi trường, các tiến trình này có thể làm tài liệu tham khảo cho giáoviên dạy môn Vật lí nói riêng và các môn học khác trong chương trình THPT
- Đề xuất một số biện pháp giáo dục BVMT khi dạy học môn Vật lí ởtrường THPT
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo, phần nộidung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Tổ chức dạy học một số kiến thức về “Các Định luật bảotoàn” gắn với GD BVMT cho HS lớp 10 THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC VẬT LÍ
GẮN VỚI GD BVMT 1.1 Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Vai trò của môi trường và sự cần thiết phải bảo vệ môi trường
* Tầm quan trọng của môi trường
- Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật
- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạtđộng sản xuất của con người
- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ratrong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình
- Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới conngười và sinh vật trên trái đất
- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người Conngười luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lương thực vàtái tạo môi trường Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết chomình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại khônggian khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước
* Những vấn đề về môi trường
Ngày nay, vấn đề ô nhiễm môi trường, phá vỡ cân bằng sinh thái đã làvấn đề quan tâm chung của toàn nhân loại Do đó, người ta coi vấn đề môitrường là một trong các “vấn đề toàn cầu”
Nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường đã được xác định chủ yếu là docác hoạt động của con người như: Phá rừng, sản xuất công, nông nghiệp, giaothông vận tải, sinh hoạt, dân số tăng nhanh…
Sự ô nhiễm môi trường có thể gây ra những hậu quả to lớn đến chấtlượng môi trường sống của chúng ta, làm suy giảm tài nguyên thiên nhiên, gây
ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt, làm biến đổi khí hậu…
Trang 15Sự tăng nhiệt độ trái đất đáng kể trong những năm vừa qua đang làm chothế giới không an tâm Biến đổi khí hậu trên thế giới dẫn đến thiên tai, độngđất, sóng thần, lũ lụt ngày càng xuất hiện với mật độ nhiều và nặng hơn.
Thiên nhiên ban tặng cho con người nhiều thứ, vậy mà ta không biết giữgìn và bảo vệ nó Để giờ đây, khi môi trường đang dần bị xuống cấp, xuất hiệnnhiều loại “bệnh lạ” hơn, con người mới nhận thấy được tầm quan trọng củamôi trường [7]
1.1.2 Nhận thức chung về GD BVMT
* Giáo dục BVMT trên thế giới
Từ đầu những năm 1960, những dấu hiệu cho thấy sự phát triển ngàycàng tăng của nạn suy thoái môi trường sống ngày càng được thể hiện rõ rànghơn, con người đã bắt đầu ý thức được về những ảnh hưởng có hại của mình đốivới môi trường sống Kể từ đó nhiều hội nghị cấp cao của Liên Hợp quốc vềgiáo dục BVMT đã diễn ra Điển hình là: Hội nghị của Liên Hợp quốc về Conngười và Môi trường tổ chức tại thủ đô Stockholm của Thuỵ Điển từ ngày 5 -6/6/1972 là kết quả của những nhận thức mới này, là hành động đầu tiên đánhdấu sự nỗ lực chung của toàn thể nhân loại nhằm giải quyết các vấn đề về môitrường
Năm 1987, tại Hội nghị về môi trường ở Moscow do UNEP vàUNESCO đồng tổ chức, đã đưa ra kết luận về tầm quan trọng của giáo dục môi
trường: “Nếu không nâng cao được sự hiểu biết của công chúng về những mối quan hệ mật thiết giữa chất lượng môi trường với quá trình cung ứng liên tục
Trang 16các nhu cầu ngày càng tăng của họ, thì sau này sẽ khó làm giảm bớt được những mối nguy cơ về môi trường ở các địa phương cũng như trên toàn thế giới Bởi vì, hành động của con người tùy thuộc vào động cơ của họ và động cơ này lại tùy thuộc vào chính nhận thức và trình độ hiểu biết của họ Do đó, giáo dục môi trường là một phương tiện không thể thiếu để giúp mọi người hiểu biết về môi trường”.[10]
Tháng 6/ 1992, tại Brazin LHQ đã đã tổ chức hội nghị thượng đỉnh Tráiđất về MT và phát triển với sự tham gia đông đảo của hơn 1000 đại biểu của
178 quốc gia, có 116 nguyên thủ các quốc gia Hội nghị đã thảo luận trên phạm
vi rộng các vấn đề về MT Hội nghị đã nhất trí cao nội dung sự phát triển, giáodục và môi trường phải là một bộ phận thống nhất của quá trình học tập ở cảhai dạng chính thức và không chính thức Và một dự kiến được đưa ra là mọichính phủ phải nỗ lực phấn đấu để cập nhật hóa hoặc chuẩn bị các chiến lượcnhằm mục đích kết hợp môi trường và phát triển thành vấn đề trung tâm để đưavào tất cả các cấp giáo dục
* Giáo dục BVMT ở Việt Nam:
Theo dự thảo chương trình GDPT môn Vật lí (19/1/2018) Bộ GD đã đưaphần kiến thức “Vật lí với GD bảo vệ môi trường” vào chương trình Vật lí lớp
10 Đã chứng tỏ rằng vấn đề BVMT là vô cùng quan trọng và rất cấp thiết
Vì đó mà hàng loạt các Nghị định, Quyết định, luật BVMT đã ra đời như:Nghị quyết số 41/NQ-TƯ ngày 15/11/2004 của bộ chính trị về tăngcường công tác BVMT trong thời kì đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước
Quyết định 1363/QĐ - TTg ngày 17/10/2001 của thủ tướng chính phủ vềviệc phê duyệt đề án “Đưa các nội dung BVMT vào hệ thống giáo dục quốcdân”
Quyết định số 256/2003/QĐ - TTg ngày 02/12/2003 của thủ tướng chínhphủ về việc phê duyệt chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định hướngđến năm 2020
Luật BVMT số 52/2005/QH11 Hà Nội
Trang 17Như vậy, việc GD BVMT cần được triển khai sâu rộng tới từng cấp học,
bậc học, tới từng đối tượng học sinh, giáo viên trong tất cả các nhà trường.Cũng như trong tất cả các cơ sở GD và mọi tầng lớp nhân dân trong đời sống
xã hội của chúng ta Nhằm mục đích nâng cao nhận thức về tầm quan trọng củamôi trường và có ý thức trong vấn đề bảo vệ môi trường
1.1.3 Vấn đề GDMT gắn với dạy học môn Vật lí nói chung, và gắn với chương “Các Định luật bảo toàn” nói riêng
Vấn đề GD BVMT trong dạy học vật lí đã có không ít những công trìnhnghiên cứu của các tác giả ở nhiều góc độ khác nhau:
- Bộ GD & ĐT với cuốn “Giáo dục BVMT trong môn vật lí THPT” Nhàxuất bản Hà Nội - 2012
- Lê Thông, Nguyễn Hữu Dũng trong cuốn “Dân số, môi trường và tàinguyên” Nhà xuất bản GD - 2000
- Tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Phi Hạnh, Đặng Văn Đức trongcuốn “GDMT qua môn vật lí ở trường phổ thông” Nhà xuất bản Hà Nội - 2003
- Tác giả Nguyễn Đình Khoa trong cuốn “Môi trường sống và conngười” Nhà xuất bản Hà Nội - 1987
Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên là hết sức to lớn, được đề cập ởphạm vi rộng và bao quát Những vấn đề đó HS chưa thể hiểu và nhận thứchết được những ảnh hưởng nghiêm trọng và nặng nề của vấn nạn môi trườnghiện nay
Từ những phân tích nêu trên và căn cứ vào kinh nghiệm giảng dạytrực tiếp môn vật lí ở trường PT, tôi nhận thấy phải cần thiết phải trang bịcho HS các kiến thức cơ bản về môi trường như: Vai trò của MT đối vớiđời sống con người, những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng MT sống vàbiến đổi khí hậu, việc khai thác, sử dụng nguồn năng lượng hợp lí, tái tạonguồn năng lượng…
Trang 18- Đối với môn vật lí nói riêng, việc đưa kiến thức GB BVMT lồng ghépvào trong các tiết dạy, bài dạy là vô cùng hữu ích và mang tính hiệu quả caotrong hoạt động giáo dục học sinh Các em không chỉ được học kiến thức mônvật lí mà còn được giáo dục kiến thức về lĩnh vực khác Tất cả các hiện tượngdiễn ra trong tự nhiên đều liên quan đến vật lí Do vậy, tùy vào nội dung củabài học mà người giáo viên có thể vận dụng linh hoạt việc tích hợp với GDBVMT sao cho phù hợp, đem lại hiệu quả cao.
- Giáo dục BVMT còn là biện pháp trang bị cho người học:
+ Ý thức trách nhiệm sâu sắc với sự phát triển bền vững của trái đất.+ Khả năng cảm thụ, có đạo lí môi trường
+ Hình thành nhân cách trên đạo lí môi trường
+ Có hiểu biết cơ bản về môi trường và có cách giải quyết các vấn đề vềmôi trường
1.2.1 Một số kiến thức vật lí gắn với môi trường
1.2.1.1 Một số khái niệm môi trường gắn với kiến thức vật lí
+) "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạoquan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống,sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên." [18]
+) Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học, kinh tế xãhội, tác động lên từng cá thể hay cả cộng đồng [16]
Trang 191.2.1.2 Năng lượng, các dạng năng lượng
* Năng lượng là gì?
- Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Năng lượng là độ đo định lượng
chung cho mọi dạng vận động khác nhau của vật chất”
- Theo Từ điển tiếng Việt và Từ điển vật lý phổ thông: “Năng lượng là
đại lượng vật lý đặc trưng cho khả năng sinh công của một vật”
* Các dạng năng lượng.
- Năng lượng có ở khắp nơi, biến đổi từ dạng này sang dạng khác khichịu tác động Cuộc sống của chúng ta phụ thuộc vào rất nhiều dạng biến đổinăng lượng
- Có nhiều dạng năng lượng như: động năng, nhiệt năng, thế năng, cơnăng… nhưng tất cả chúng chỉ thuộc 2 loại chính:
+ Năng lượng dự trữ (thế năng): Bao gồm năng lượng hóa học, nănglượng trọng trường, cơ năng, điện năng và năng lượng hạt nhân
+ Năng lượng hoạt động (động năng): Bao gồm quang năng, điện năng,
âm năng, nhiệt năng, và năng lượng chuyển động.[11]
+) Năng lượng tái tạo là gì?
Năng lượng tái tạo hay năng lượng tái sinh về cơ bản được hiểu là loạinăng lượng có nguồn lực liên tục, có thể tái sử dụng vô hạn lần theo chuẩnmực hiện tại như năng lượng mặt trời, gió, mưa, thủy triều, sóng, nhiên liệusinh học,
Hiện nay, có khoảng 16% lượng điện tiêu thụ trên toàn cầu có nguồngốc từ các nguồn năng lượng tái tạo, trong đó có 10% từ các nguồn sinh khốitruyền thống, 3,4% từ thủy điện, 3% từ các nguồn năng lượng tái tạo mớinhưng gió, mặt trời, địa nhiệt, nhiên liệu sinh học, Con số này đang pháttriển nhanh chóng và ngày một tăng cao hơn Cụ thể, trên thế giới có 30quốc gia trên thế giới đã sử dụng năng lượng tái tạo và cung cấp hơn 20%nhu cầu năng lượng cho họ
Trang 20+) Các nguồn năng lượng tái tạo ở Việt Nam (Bỏ hình 1.1 )
Nhờ điều kiện địa lý khá thuận lợi nên việc phát triển các nguồn nănglượng tái tạo ở Việt Nam là khá tiềm năng Cụ thể, hiện tại nước ta đã khai thác
và nhận diện được nhiều nguồn năng lượng tái tạo như:
- Thủy điện: Với hệ thống sông ngòi dày đặc, nước ta có tiềm năng về
thủy điện khá lớn Tuy nhiên do lưu lượng sông nhỏ nên ngành năng lượng táitạo phát triển chủ yếu là dạng thủy điện nhỏ Đây cũng là dạng năng lượngđược đánh giá là khả thi nhất về mặt kinh tế - tài chính Ở nước ta hiện nay cóhơn 1000 điểm được xác định có tiềm năng phát triển thủy điện nhỏ, quy mô từ
100 kW tới 30MW
- Năng lượng gió: Là một trong những quốc gia được đánh giá là có
tiềm năng phát triển năng lượng gió, nhưng hiện tại số liệu về tình trạng khaithác năng lượng gió của Việt Nam vẫn khá thấp
- Năng lượng sinh khối: Phát triển mạnh trong vài năm trở lại đây, năng
lượng sinh khối là một trong những nguồn năng lượng tái tạo đa dạng với nhiềudạng như: Viên nén gỗ, các sản phẩm phụ của ngành lâm nghiệp như mùn cưa,chất thải nông nghiệp như rơm, bã cây, Trung bình hàng năm tại Việt Nam,nguồn năng lượng này tương đương với khoảng 43-46 triệu TOE
- Năng lượng mặt trời: Sở hữu vị trí địa lý thuận lợi, Việt Nam nằm
trong khoảng 80 - 230 vĩ độ Bắc thuộc khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa với
số giờ nắng trung bình khoảng 2000 đến 2500 giờ/năm, tổng năng lượng bức xạmặt trời trung bình khoảng 150 Kcal/cm2/năm, tiềm năng lý thuyết được đánhgiá khoảng 43.9 tỷ TOE/năm [14]
1.2.2 Chuyển hoá năng lượng và bảo toàn
Trong tự nhiên, mọi vật đều mang năng lượng, chúng có thể được tồn tạidưới dạng năng lượng dự trữ hay năng lượng hoạt động Khi các vật tương tácvới nhau thì giữa chúng có thể có sự trao đổi và chuyến hóa năng lượng
Trang 21Một số ví dụ chứng minh cho sự chuyển hóa của năng lượng:
- Nếu thả một hòn bi từ trên cao xuống một cái chén thì năng lượng củahòn bi là t h ế n ă n g hấp dẫn, rơi vào chén và chuyển động quanh thành chén
là độ n g n ă n g , đồng thời phát ra tiếng động là âm n ă n g Ngoài ra bi còn ma sátvới thành chén tạo ra n h i ệ t n ă n g , vậy ta có thể thấy từ một dạng năng lượng làthế năng đã bị chuyển hóa thành ba dạng năng lượng như đã nêu ở trên
- Ta thấy rằng khi đun một ấm nước thì nh i ệt n ă n g của cái bếp đã chuyểnhóa thành đ ộn g n ă n g cho các ph â n t ử n ước bố c h ơ i l ên b ề m ặt c h ất l ỏ n g
- Một số biện pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả:
+ Các biện pháp về quản lí
+ Các biện pháp về tuyên truyền giáo dục
+ Các biện pháp về công nghệ và kĩ thuật [13]
1.3 Một số biện pháp dạy học môn vật lí gắn với giáo dục bảo vệ môi trường nhằm phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh.
1.3.1 Quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm, phát huy tính tích cực của HS trong hoạt động học tập.
Quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm là một quan điểm DH chiphối cả mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và đánh giáhiệu quả DH Việc xác định người học làm trung tâm ở đây phải được hiểu
là dạy học hướng vào người học, tập trung mọi điều kiện tốt nhất cho ngườihọc được học, được phát triển Do vậy, mọi nỗ lực của người dạy là vìngười học, cho người học, việc chuẩn bị điều kiện DH tốt nhất cũng chongười học có điều kiện nhật thức tốt nhất có thể
1.3.2 Các biểu hiện của tính tích cực trong học tập của HS
Tính tích cực trong học tập của HS được biểu hiện ở sự nỗ lực củahoạt động nhận thức, nhằm đạt được mục đích đặt ra ở mức độ cao
Trang 22GV muốn phát hiện được HS có tích cực học tập không, cần dựa vàonhững biểu hiện sau đây:
+ Có chú ý học tập không
+ Có hăng hái tham gia các hoạt động học tập không
+ Có hoàn thành nhiệm vụ được giao không
+ Có ghi nhớ tốt những điều đã được học không
+ Có hiểu bài học không
+ Có vận dụng được các kiến thức đã học vào thực tế không
+ Có hứng thú trong học tập không
+ Có ý chí, quyết tâm vượt khó trong học tập không…
1.3.3 Dạy học vật lí theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh
Dạy học vật lí theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh có thểcoi là phương pháp DH lấy HS làm trung tâm, là việc HS học tập thông quatrải nghiệm, tương tác và rút kinh nghiệm GV tạo cơ hội cho HS thực hành,trao đổi, thảo luận và suy nghĩ để học tập một cách có hiệu quả HS cùngnhau làm việc, cùng nhau học tập là một đặc điểm quan trọng của DH lấy
HS làm trung tâm
* Những hoạt động DH phát huy tính tích cực của hs:
+) Đàm thoại khi giảng bài
+) Đặt ra những câu hỏi gợi mở, góp ý nhằm khuyến khích HS suy nghĩtích cực trong học tập
+) Thực hành
+) Hoạt động nhóm, thảo luận
* Vai trò của GV khi tổ chức DH phát huy tính tích cực của HS
- Trước đây: GV là người truyền đạt kiến thức cho HS, đó là nguồnthông tin chủ yếu đến với HS
- Ngày nay: GV ngoài việc truyền thụ kiến thức cho HS, còn là người tổchức, hướng dẫn cho HS thu nhận thông tin và tích cực tiếp thu kiến thức
Trang 23N hư v ậ y : DH phát huy tính tích cực của HS là phù hợp với bản chất
1.3.4.1 Hình thức 1:Thông qua dạy học các bộ môn ở trường phổ thông.
Dạng 1: (Hình thức lồng ghép) Nội dung chủ yếu của bài học, hoặc có
nội dung trùng hợp với nội dung môi trường
Dạng 2: (Hình thức liên hệ) Một số nội dung của bài học có liên quan
đến nội dung GDMT song không nêu rõ trong SGK
1.3.4.2 Hình thức 2: GDMT được triển khai như một hoạt động độc lập.
Theo tác giả NguyễnVăn Khải: Các hoạt động độc lập này hoàn toàn phùhợp với các hình thức tổ chức dạy học bộ môn: tham quan, ngoại khóa… Nộidung của các hoạt động này chủ yếu là nội dung môn học, các nội dung GDMT
sẽ được tích hợp vào các hoạt động chung Tuy nhiên, vì đây là các hoạt độngngoài giờ lên lớp, gắn với thực tế môi trường sống, môi trường lao động sảnxuất nên có nhiều điều kiện tích hợp sâu sắc với các nội dung GDMT Song, dothực tế kế hoạch dạy học hiện nay còn rất chặt chẽ, nên GV phải nghiên cứulựa chọn chủ đề phù hợp và có kế hoạch sớm để nhà trường tạo điều kiện triểnkhai thực hiện [8]
1.3.5 Gắn các nội dung bảo vệ môi trường trong dạy học các kiến thức vật lí
ở trường PT
Ở bậc THPT, mỗi môn học có vị trí, vai trò khác nhau trong vấn đềGDMT Nhiều môn học có những thuận lợi do đối tượng là bộ môn liên quannhiều đến kiến thức về môi trường sinh thái như: Hóa học, sinh học, địa lí,
Trang 24công nghệ, GDCD…Tuy nhiên, một số bài học môn Vật lí cũng có thể đưakiến thức về GD BVMT vào nội dung bài học Để làm được, GV phải chuẩn bịnhững hiểu biết về MT, hiểu sâu kiến thức bộ môn
1.3.5.1 Gắn GDMT vào bộ môn Vật lí
A Mục tiêu:
- Kiến thức: Có hiểu biết cơ bản về MT và các vấn đề liên quan
- Kĩ năng: Xác định và giải quyết các vấn đề về MT
- Thái độ: Nhận thức được giá trị của MT, có ý thức quan tâm, có động
cơ tham gia bảo vệ và cải thiện MT
- Định hướng phát triển năng lực cho học sinh: Năng lực giải quyết vấn
đề, năng lực hợp tác nhóm, năng lực tư duy sáng tạo
B Một số định hướng nội dung GDMT khi dạy học vật lí ở trường THPT.
- Khai thác từ nội dung môn học
- Gắn kết nội dung của các môn học khác
C Để định hướng cho việc gắn kiến thức vật lý với GD BVMT sao cho phù hợp, có thể nêu lên một số vấn đề về MT đang được quan tâm hiện nay có liên quan trực tiếp tới các quá trình vật lí.
- Tài nguyên rừng bị suy giảm:
* Vai trò của rừng đối với đời sống con người:
+ Rừng đa dạng động thực vật
+ Cung cấp lâm sản thô
+ Điều hòa lượng nước trên mặt đất
+ Rừng là “lá phổi xanh”
+ Rừng chống sói mòn đất
Dưới góc độ khoa học Vật lí, có thể nêu lên quá trình vật lí như sau:Hiện tượng mao dẫn của nước, quá trình quang hợp, thế năng, động năng củadòng chảy của nước tạo ra sự sói mòn đất
Trang 25- Suy thoái và ô nhiễm đất
- Các giải pháp bảo vệ rừng, phát triển rừng nhìn từ góc độ vật lí
- Ô nhiễm nước: Vai trò của nước, các quá trình lí hóa khi nước bị ônhiễm, các biện pháp bảo vệ nước
- Ô nhiễm không khí: Khí quyển, tầng ô zôn, chất phóng xạ, hóa chất
- Ô nhiễm tiếng ồn: Các nguồn gây ô nhiễm là tiếng máy bay, xe cộkaraoke quá giới hạn cho phép (L≥ 80 dB).[6]
1.3.5.2 Xây dựng tiến trình dạy học gắn kiến thức vật lí với BVMT
Gồm các bức cơ bản sau:
Bước 1: Xác định mục tiêu dạy học
Nghiên cứu chương trình, SGK để xây dựng mục tiêu dạy học, từ đóhình thành các năng lực cho HS
Bước 2: Nghiên cứu nội dung dạy học để xác định các nội dung cần gắnkết Bước 3: Lập tiến trình xây dựng kiến thức có gắn với thực tiễnGDMT Bước 4: Xây dựng tiến trình dạy học cụ thể (Lập kế hoạch dạyhọc)
1.3.6 Khảo sát thực trạng giáo dục bảo vệ môi trường theo quan điểm dạy học Vật lí gắn với giáo dục bảo vệ môi trường
Trong quá trình dạy học vật lí, tôi chắc rằng các giáo viên đã đề cậpđến các biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường Tuy nhiên việc làm này cònchưa thường xuyên, đôi khi còn mang tính sách vở, thiếu sự gần gũi với đờisống thực tế học sinh Trong khi đó, Vật lí là môn khoa học mang tính thựctiễn cao, chúng ta hoàn toàn có thể vừa đưa ra các biện pháp giáo dục bảo vệmôi trường liên quan đến từng nội dung trong các bài học cụ thể lại vừa gầngũi với sự hiểu biết của học sinh Chính điều này sẽ có tác dụng kích thích
óc tò mò, sáng tạo, hứng thú học tập, mở rộng sự hiểu biết của học sinh, đặcbiệt là hướng sự quan tâm của các em tới môi trường để từ đó biết cách bảo
vệ môi trường
Trang 26- Phương pháp điều tra (Sử dụng phiếu điều tra đối với GV và HS)
- Phương pháp thống kê (Thống kê kết quả thu được từ GV và HS)
1.3.6.3 Đối tượng khảo sát
GV dạy Vật lí, học sinh lớp 10 của trường THPT Dương Tự Minh,THPT Định Hóa - Tỉnh Thái Nguyên
- Số phiếu điều tra giáo viên: 10 (Phụ lục 1)
-Số phiếu điều tra học sinh: 40 (Phụ lục 2)
Kết quả thống kê từ phiếu điều tra.
Đối với giáo viên:
Trang 271.Theo quý thầy/cô kết quả học tập
chương “Các định luật bảo toàn”
của học sinh như thế nào?
2 Theo quý thầy/cô, mức độ vận
dụng kiến thức của chương “Các
định luật bảo toàn” vào thực tiễn
cuộc sống như thế nào?
Trang 283 Khi dạy học chương “Các định luật bảo toàn” quý thầy/cô sử dụng phương pháp nào dưới đây để nângcao chất lượng dạy học?
Giải quyết vấn đề: 70%
Tích hợp liên môn: 10%
Liên hệ thực tế: 20%
Trang 294 Khi dạy học chương “Các
định luật bảo toàn” quý thầy/cô
có lồng ghép việc GD bảo vệ
môi trường cho học sinh để rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến
Trang 30Câu 1
Rất hứng thú Hứng thú Bình thường Không hứng thú
Đối với học sinh:
1 Các em có thấy hứng thú khi
được học chương “Các định luật
bảo toàn” không?
Rất hứng thú: 5%
Hứng thú: 10%
Bình thường: 22%
Không hứng thú: 63%
Trang 312 Em hãy nêu tên ít nhất một ứng
Nêu được Không nêu được
3 Khi học chương “Các định luật
bảo toàn” các em có được thầy/cô
giới thiệu các ứng dụng kiến thức
của chương gắn với GD bảo vệ môi
Trang 324 Khi học chương “Các định luật
bảo toàn” các em được thầy/cô sử
dụng các phương tiện hỗ trợ dạy
học nào dưới đây?
Tra nh ả nh Video Internet Không dùng
Từ kết quả điều tra trên, chúng tôi nhận thấy việc tích hợp các kiến thứcvật lí gắn với giáo dục BVMT là rất cần thiết, góp phần nâng cao chất lượngdạy học vật lí ở THPT Việc GD BVMT là rất cấp thiết và có tính khả thi, từ đógiáo dục cho HS có ý thức và trách nhiệm với vấn đề bảo vệ môi trường là mộttrong những nhiệm vụ cần được quan tâm đúng mức
Trang 332 Sự cần thiết của dạy học các kiến thức vật lí gắn với GD BVMT: Dưới
sự phát triển của khoa học, kĩ thuật và công nghệ như hiện nay, nhà trường cầnphải trang bị cho HS kiến thức, kĩ năng cần thiết để nâng cao hiểu biết và đápứng kịp với sự phát triển của xã hội, cũng như ứng phó kịp thời với những biếnđổi khó kiểm soát của khí hậu nước ta hiện nay
3 Tăng cường liên hệ kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống trong mônvật lí và các môn học khác
4 Thực tế việc tổ chức dạy học một số kiến thức về “Các Định luật bảotoàn” gắn với giáo dục bảo vệ môi trường - VL 10 THPT ở nhiều trường THPThiện nay cũng chưa được chú trọng
Từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi có thể khẳng định nếu DH các kiếnthức vật lí gắn với GD BVMT thì chất lượng dạy học sẽ được nâng cao Đây sẽ
là cơ sở để chúng tôi xây dựng tiến trình dạy học ở chương 2
Trang 34Chương 2
TỔ CHỨC DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC VỀ CHƯƠNG
“CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” GẮN VỚI GIÁO DỤC BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH LỚP 10 THPT 2.1 Phân tích nội dung kiến thức chương “Các Định luật bảo toàn” (Vật lí 10) theo quan điểm gắn với giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh
2.1.1 Theo chương trình SGK hiện hành
2.1.1.1 Vị trí, vai trò kiến thức chương “Các Định luật bảo toàn”
Hệ thống kiến thức chương “Các Định luật bảo toàn” nằm ở cuối phần
cơ học vật lí 10 Chương này đề cập tới một số định luật tổng quát và một sốkiến thức mới Các định luật bảo toàn đề cập trong chương này là cơ sở củanhững tính toán quan trọng trong vật lí, sử dụng kiến thức của các chươngtrước để tính toán giúp học sinh củng cố lại kiến thức đã học
Chương “Các Định luật bảo toàn” gồm 5 bài với 10 tiết dạy ( 8 tiết líthuyết, 2 tiết bài tập):
Bài 23: Động lượng ĐLBT động lượng
Bài 24: Công và công suất
Bài 25: Động năng
Bài 26: Thế năng
Bài 27: Cơ năng
Khái niệm động lượng được hình thành trong quá trình nghiên cứu về sựtương tác giữa hai vật trong một hệ cô lập, khi hai vật tương tác có sự trao đổiđộng lượng giữa các vật, sự trao đổi này phụ thuộc vào khối lượng, vận tốc củacác vật trong hệ cô lập, do đó nó tuân theo quy luật là định luật bảo toàn độnglượng
Năng lượng được coi là thước đo của tất cả các dạng chuyển động củavật chất Định luật bảo toàn năng lượng là định luật quan trọng nhất, tổng quátnhất, mọi quá trình trong tự nhiên đều tuân theo định luật này Và các định luậtvật lí đều phù hợp với định luật này Tuy nhiên để xây dựng được nội dung củađịnh luật bảo toàn năng lượng thì một số khái niệm như công, động năng, thếnăng và cơ năng phải được trình bày trước
Trang 35Xung lượng
của lực Định luật IINiuton
Khái niệm về “công” xuất hiện đầy đủ và chính xác nhất khi có sựchuyển hóa năng lượng từ dạng này sang dạng khác hay truyền từ vật này sangvật khác Công không phải là một dạng năng lượng mà là hình thức của sựchuyển hóa năng lượng Do đó độ lớn của công chính là phần năng lượng đượcchuyển hóa
Các khái niệm về động năng, thế năng, cơ năng được trình bày một cáchkhoa học, hợp lí và logic Định luật bảo toàn cơ năng được xây dựng cho haitrường hợp là vật chuyển động trong trọng trường và vật chịu tác dụng của lựcđàn hồi Chỉ khi nào hiểu được chính xác các khái niệm này thì mới hiểu đượcđầy đủ định luật bảo toàn năng lượng
Trong tất cả các nội dung kiến thức đã trình bày ở trên thì không có phầnkiến thức nào nói đến vấn đề môi trường và GD BVMT, mà qua các bài học,tiết học, giáo viên phải tự lồng ghép việc GD BVMT cho học sinh một cáchkhoa học, hợp lí mà không tuân theo tiêu chuẩn cũng như quy định nào
2.1.1.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung của chương
Công Công suất
Động năng Thế năng
Trang 36Động lượng
Cơ năngĐLBT
Vật chuyểnđộng dưới tácdụng của lựchấp dẫn
Vật chuyểnđộng dưới tácdụng của lựcđàn hồi
Hình 2.1: Sơ đồ cấu trúc nội dung chương
Trang 372.1.1.3 Chuẩn kiến thức, kĩ năng, tư duy và thái độ.
* Kiến thức:
- Viết được công thức tính động lượng, nêu được đơn vị đo động lượng
- Phát biểu và viết được biểu thức của ĐLBT động lượng đối với hệ 2 vật
- Nêu được nguyên tắc chuyển động bằng phản lực
- Phát biểu được định nghĩa và viết được công thức tính công
- Phát biểu được định nghĩa và viết được công thức tính động năng Nêuđược đơn vị đo động năng
- Phát biểu được định nghĩa và viết được công thức tính thế năng trọngtrường Nêu được đơn vị đo thế năng
- Viết được công thức tính thế năng đàn hồi
- Phát biểu được định nghĩa và viết được công thức tính cơ năng
- Phát biểu được định luật Bảo toàn cơ năng và viết được biểu thức củađịnh luật này
* Kĩ năng:
- Biết làm việc theo nhóm
- Biết vận dụng kiến thức: Động năng, thế năng, gắn với GD BVMT, vàgiải thích được một số hiện tượng thực tế gắn với bảo vệ môi trường và tái tạonăng lượng
- Biết tìm kiếm, khai thác thông tin từ các nguồn khác nhau, đặc biệt làqua mạng Internet
- Rèn luyện kĩ năng giao tiếp và trình bày vấn đề
* Tư duy và thái độ:
- Có hứng thú với môn vật lí nói chung và chương “Các định luật bảotoàn” nói riêng
- Yêu thích, tìm tòi khám phá khoa học
- Có thái độ khách quan, trung thực, nghiêm túc, ham học hỏi, nhiệt tình,hợp tác tốt trong công việc
- Có ý thức vận dụng kiến thức của chương “Các định luật bảo toàn” gắnvới GD BVMT vào cuộc sống [2]
Trang 382.1.2 Theo chương trình môn Vật lí mới ban hành
(Ban hành kèm theo Thông tư số 32/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm
2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Vật lí là ngành khoa học nghiên cứu các dạng vận động đơn giản, tổngquát nhất của vật chất và tương tác giữa chúng
Chương trình môn vật lí coi trọng việc rèn luyện khả năng vận dụng kiếnthức, kĩ năng đã học để tìm hiểu và giải quyết ở mức độ nhất định một vấn đềthực tiễn, đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống; vừa đảm bảo phát triển năng lực vật lí
- biểu hiện của năng lực khoa học tự nhiên; vừa đáp ứng định hướng nghềnghiệp của học sinh
Thông qua Chương trình môn Vật lí, học sinh hình thành và phát triểnđược thế giới quan khoa học; rèn luyện được sự tự tin, trung thực, khách quan;cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên; yêu thiên nhiên, tự hào về thiên nhiêncủa quê hương, đất nước; tôn trọng các quy luật của thiên nhiên, trân trọng, giữgìn và bảo vệ thiên nhiên, ứng xử với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triểnbền vững.[8]
2.1.2.2 Một số quan điểm xây dựng chương trình
- Chương trình môn Vật lí một mặt kế thừa và phát huy ưu điểm củachương trình hiện hành và mặt khác, tiếp thu kinh nghiệm xây dựng chươngtrình môn học của các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, đồng thờitiếp cận những thành tựu của khoa học giáo dục và khoa học vật lí phù hợp vớitrình độ nhận thức và tâm, sinh lí lứa tuổi của học sinh, có tính đến điều kiệnkinh tế và xã hội Việt Nam
- Chương trình môn Vật lí chú trọng bản chất, ý nghĩa vật lí của các đốitượng, đề cao tính thực tiễn; tránh khuynh hướng thiên về toán học; tạo điềukiện để giáo viên giúp học sinh phát triển tư duy khoa học dưới góc độ vật lí,khơi gợi sự ham thích ở học sinh, tăng cường khả năng vận dụng kiến thức, kĩnăng vật lí trong thực tiễn Các chủ đề được thiết kế, sắp xếp từ trực quan đếntrừu tượng, từ đơn giản đến phức tạp, từ hệ được xem như một hạt đến nhiều
Trang 39hạt; bước đầu tiếp cận với một số nội dung hiện đại mang tính thiết thực, cốt lõi.[1]
Trang 402.1.2.3 Mục tiêu chương trình
+ Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác, giúp học sinh hìnhthành, phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung được quy định trongChương trình tổng thể
+ Giúp học sinh hình thành, phát triển năng lực vật lí, với các biểu hiện sau:
- Có được những kiến thức, kĩ năng phổ thông cốt lõi về: mô hình hệ vậtlí; năng lượng và sóng; lực và trường;
- Vận dụng được một số kĩ năng tiến trình khoa học để khám phá, giảiquyết vấn đề dưới góc độ vật lí;
- Vận dụng được một số kiến thức, kĩ năng trong thực tiễn, ứng xử vớithiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững xã hội và bảo vệ môitrường;
- Nhận biết được năng lực, sở trường của bản thân, định hướng đượcnghề nghiệp và có kế hoạch học tập, rèn luyện đáp ứng yêu cầu của định hướngnghề nghiệp [1]
2.1.2.4 Vị trí, nội dung và yêu cầu cần đạt ở lớp 10
Vị trí phần kiến thức “Công, năng lượng, công suất” nằm sau phần kiếnthức “Động lực học” và trước phần kiến thức “Động lượng” của chương trìnhVật lí lớp 10- SGK mới Nội dung và yêu cầu cần đạt được như sau:
Công, năng lượng, công suất
Công và năng lượng - Chế tạo mô hình đơn giản minh hoạ được định luật
bảo toàn năng lượng, liên quan đến một số dạng nănglượng khác nhau
- Trình bày được ví dụ chứng tỏ có thể truyền nănglượng từ vật này sang vật khác bằng cách thực hiệncông
- Nêu được biểu thức tính công bằng tích của lực tácdụng và độ dịch chuyển theo phương của lực, nêu đượcđơn vị đo công là đơn vị đo năng lượng (với 1 J = 1Nm); Tính được công trong một số trường hợp đơn giản