1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính Sách Dân Tộc Của Nhà Nước Việt Nam Đối Với Vùng Tây Bắc

278 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 278
Dung lượng 3,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng vì thế mà nghiên cứu về chính sách dân tộc ở vùng Tây Bắc là một nhu cầu khoa học cấp thiết cả về lý thuyết và thực tiễn bởi mấy lý do: Thứ nhất, đây là một vùng đa tộc người, là đị

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Giáo viên hướng dẫn 1: PGS.TS Đoàn Minh Huấn

Giáo viên hướng dẫn 2: TS Thào Xuân Sùng

HÀ NỘI – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Đoàn Minh Huấn và TS Thào Xuân Sùng Các thông tin, số liệu, tài liệu được sử dụng, trình bày trong luận án là trung thực, khách quan, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận án

Phạm Minh Thế

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận án này, tác giả đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ

từ nhiều tổ chức và cá nhân, nhân đây tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các tổ chức và cá nhân đã tạo điều kiện và giúp đỡ cho tác giả luận án

Trước hết, em xin được cảm ơn hai Thầy giáo hướng dẫn: PGS TS Đoàn Minh Huấn và TS Thào Xuân Sùng Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và viết luận án, em đã nhận được sự quan tâm, hướng dẫn và chỉ bảo tận tình, nghiêm túc và khoa học của hai Thầy Sự chỉ bảo, giúp đỡ của hai Thầy là động lực lớn để

em hoàn thành luận án này

Thứ nữa, em xin được cảm ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện của hai cơ quan công tác của em, đó là: Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội Trong quá trình học tập, cả hai cơ quan đều đã tạo những điều kiện hết sức thuận lợi để em có thể hoàn thành chương trình đào tạo cũng như là hoàn thành luận án Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện luận án, em cũng nhận được sự giúp đỡ, cộng tác từ nhiều cơ quan ở cả trung ương và các địa phương, nhận đây em xin được chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó

Em cũng xin được cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ từ nhiều Thầy, Cô và anh, chị em đồng nghiệp của cả hai cơ quan, đặc biệt là các Thầy, Cô và anh, chị, em đồng nghiệp của Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - nơi em đang công tác hiện nay Nếu không có được sự quan tâm, giúp đỡ từ các Thầy, Cô, anh, chị, em ở cả hai cơ quan, chắc có lẽ em đã không thể hoàn thành luận án này

Tác giả cũng xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã luôn sát cánh, động viên, giúp đỡ cả về mặt tinh thần và vật chất đối với NCS trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Trang 5

BẢNG DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Trang 6

MỤC LỤC

Mở đầu……… 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN……… 8

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án……… 8

1.1.1 Các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài……… 8

1.1.2 Các công trình nghiên cứu của các học giả trong nước……… 14

1.2 Kết quả nghiên cứu của các công trình đã được công bố và những vấn đề luận án cần nghiên cứu, giải quyết 26

1.2.1 Một số nhận xét, đánh giá về các công trình nghiên cứu có liên quan 26

1.2.2 Một số vấn đề đặt ra mà luận án cần nghiên cứu, giải quyết………… 27

1.2.3 Một số khái niệm có liên quan được sử dụng trong luận án………… 28

Chương 2: CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA NHÀ NƯỚC Ở VÙNG TÂY BẮC TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005……… 32

2.1 Khái quát về đặc điểm kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc……… 32

2.1.1 Về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên……… 33

2.1.2 Các đặc điểm cơ bản về dân cư, kinh tế, văn hóa, xã hội……… 35

2.1.3 Khái lược về chính sách dân tộc của Nhà nước ở vùng Tây Bắc trước năm 2001……… 38

2.2 Nội dung các chính sách dân tộc của Nhà nước ở vùng Tây Bắc từ năm 2001 đến năm 2005……… 42

2.2.1 Nguyên tắc, mục tiêu, nhiệm vụ của chính sách dân tộc……… 42

2.2.2 Những nội dung cụ thể của chính sách dân tộc……… 48

2.3 Quá trình thực hiện, kết quả cơ bản và những vấn đề còn tồn đọng…… 62

2.3.1 Quá trình tổ chức thực hiện chính sách……… 62

2.3.2 Một số kết quả cơ bản của chính sách……… 67

2.3.3 Một số vấn đề còn tồn đọng……… 74

Chương 3: QUÁ TRÌNH BỔ SUNG CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA NHÀ NƯỚC Ở VÙNG TÂY BẮC TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2011……… 77

3.1 Cơ hội và thách thức mới đối với sự phát triển của các dân tộc Tây Bắc 77 3.1.1 Những cơ hội mới cho sự phát triển của các dân tộc Tây Bắc 77

Trang 7

3.1.2 Một số thách thức cơ bản đối với các dân tộc Tây Bắc 79

3.2 Nội dung các chính sách dân tộc của Nhà nước ở vùng Tây Bắc từ năm 2006 đến năm 2011……… 82

3.2.1 Nguyên tắc, nhiệm vụ và mục tiêu của chính sách……… 82

3.2.2 Những nội dung cụ thể và cơ bản của chính sách……… 87

3.3 Quá trình thực hiện, kết quả cơ bản và những vấn đề tồn đọng……… 102

3.3.1 Quá trình tổ chức thực hiện chính sách……… 102

3.3.2 Một số kết quả cơ bản của chính sách……… 106

3.3.3 Những vấn đề còn tồn đọng của chính sách……… 114

Chương 4: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM……… 116

4.1 Ưu điểm của chính sách……… 116

4.2 Một số hạn chế và nguyên nhân……… 130

4.2.1 Hạn chế của chính sách dân tộc……… 130

4.2.2 Nguyên nhân dẫn đến hạn chế của chính sách……… 139

4.3 Một số kinh nghiệm chủ yếu 142

4.3.1 Kinh nghiệm về hoạch định chính sách……… 142

4.4.2 Kinh nghiệm về tổ chức thực hiện chính sách……… 144

KẾT LUẬN……… 147

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ……… 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 153

PHỤ LỤC……….…… 173

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Phân bố một số tộc người thiểu số chủ yếu ở Tây Bắc năm 2009 36 Bảng 2.2 Thống kê số lượng và tỉ lệ các văn bản chính sách dân tộc do Nhà nước ban hành và thực thi ở Tây Bắc (2001-2005) ……… 43 Bảng 2.3: Thống kê chỉ số phát triển GDP toàn vùng theo giá so sánh năm

Bảng 2.8: Thống kê số lượng cơ sở khám, chữa bệnh trực thuộc sở y tế phân theo địa phương năm 2005 ở Tây Bắc……… 71 Bảng 2.9: Thống kê số giường bệnh trực thuộc sở Y tế phân theo địa phương của Tây Bắc các năm 2002 và 2005……… 71 Bảng 2.10: Thống kê số lượng nhân lực ngành Y trực thuộc sở Y tế phân theo địa phương ở Tây Bắc giai đoạn 2002-2005……… 72 Bảng 2.11: Tỉ lệ sử dụng các nguồn nước của các hộ gia đình Tây Bắc các

Bảng 2.12: Tỷ lệ hộ dùng điện sinh hoạt……… 73 Bảng 2.13: Tổng số lao động trong các doanh nghiệp tại thời điểm 31/12 hàng năm ở các tỉnh Tây Bắc……… 73 Bảng 3.1: Thống kê số lượng và tỉ lệ văn bản chính sách dân tộc Nhà nước

đã ban hành được áp dụng ở Tây Bắc giai đoạn 2006-2011 theo nội dung 83 Bảng 3.2: Thống kê số lượng cơ sở y tế ở Tây Bắc năm 2006 và 2011…… 108 Bảng 3.3: Thống kê so sánh tỉ lệ cán bộ dân tộc thiểu số trong đội ngũ cán

bộ cấp tỉnh với tỉ lệ dân tộc thiểu số trong dân cư các tỉnh Tây Bắc……… 110 Bảng 3.4: Thống kê số lượng thư viện và sách trong thư viện các tỉnh Tây Bắc 2006 và 2010……… 111 Bảng 3.5: Tỷ lệ hộ gia đình dùng điện ở các tỉnh trong vùng Tây Bắc 2006-2010……… 112 Bảng 4.1: Tỉ lệ hộ nghèo vùng Tây Bắc 2006 - 2010……… 131 Bảng 4.2: Thống kê số lượng học sinh phổ thông các dân tộc ít người vùng Tây Bắc năm 2004 và 2011……… 131

Trang 10

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cho đến nay, hầu hết các tài liệu lịch sử đều đã cho thấy, ngay từ thời dựng nước, Việt Nam đã là quốc gia đa dân tộc/tộc người Sự cố kết cộng đồng, cùng chung sức, chung lòng, đồng thuận trong việc xử lý, giải quyết các vấn đề, công việc chung về đối nội, đối ngoại đã hun đúc nên quốc gia dân tộc Việt Nam Xuất phát từ đặc điểm đó, trong quá trình dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã thực thi nhiều biện pháp, chính sách nhằm giải quyết vấn đề dân tộc trước yêu cầu phát triển của quốc gia Tiếp nối những di sản đó, trong quá trình lãnh đạo xây dựng và phát triển đất nước Đảng và Nhà nước Việt Nam đã luôn coi vấn đề dân tộc là một vấn

đề cốt lõi của cách mạng Đây cũng là lý do để bước sang thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước đã ban hành và thực thi nhiều chính sách dân tộc, nhằm đưa cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới

Tây Bắc là một trong những vùng đất địa đầu của Tổ quốc Việt Nam, là địa bàn tụ

cư và sinh sống của trên 50 dân tộc với tổng số dân khoảng trên 3,5 triệu người, diện tích toàn vùng chiếm gần 1/3 diện tích cả nước Là vùng đất địa đầu của Tổ quốc, nơi sinh tụ góp phần hình thành nên văn hóa Việt Nam với sự cộng cư đa tộc người, có điều kiện để phát triển kinh tế cửa khẩu, lại có nhiều tiềm năng, lợi thế về, tài nguyên khoáng sản và

du lịch cho nên cả trong lịch sử lẫn hiện tại, Tây Bắc luôn giữ một vị trí quan trọng đối với Việt Nam về các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và

đặc biệt là vấn đề dân tộc Cũng vì thế mà nghiên cứu về chính sách dân tộc ở vùng Tây Bắc là một nhu cầu khoa học cấp thiết cả về lý thuyết và thực tiễn bởi mấy lý do: Thứ nhất, đây là một vùng đa tộc người, là địa bàn sinh tụ, cư trú của hơn 50 dân tộc trong

cộng đồng các dân tộc Việt Nam, do đó cũng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp về quan hệ tộc người nội vùng và với cả nước, đòi hỏi phải có hệ thống chính sách dân tộc hợp lý để

giải quyết Thứ hai, Tây Bắc là vùng giáp biên, vì thế mà vấn đề chính sách dân tộc càng trở nên quan trọng hơn do sự tác động của các nước láng giềng, lân cận Thứ ba, Tây Bắc

là vùng đang nổi lên các điểm nóng bức xúc như truyền đạo trái phép, di dân tự do, buôn

bán và sử dụng ma tuý, mâu thuẫn và xung đột tộc người, tàn phá rừng đầu nguồn,… nếu không được giải quyết dứt điểm thì từ “điểm” có nguy cơ bùng phát thành “diện”, từ tính

chất đơn giản chuyển thành phức tạp Thứ tư, là một vùng địa đầu của Tổ quốc với vị trí,

vị thế quan về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và bang giao quốc tế, vì thế mà Tây Bắc

Trang 11

2

luôn là vùng được Đảng và Nhà nước quan tâm, giành cho nhiều chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng song Tây Bắc vẫn là một trong những vùng nghèo của cả nước Đây là một trong nhiều nguyên nhân khiến cho vấn đề dân tộc ở vùng Tây Bắc trở nên căng thẳng

Những lý do trên đây đều cho thấy, việc nghiên cứu về hệ thống các chính sách dân tộc đã ban hành và thực thi ở vùng Tây Bắc từ năm 2001 đến nay là việc làm vừa mang tính khoa học, lại vừa mang tính thực tiễn cao Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có một công trình độc lập nào nghiên cứu và trình bày về các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở vùng Tây Bắc một cách toàn diện và có hệ thống Do

đó, nghiên cứu sinh đã lựa chọn vấn đề: “Chính sách dân tộc Nhà nước đối với vùng

Tây Bắc từ năm 2001 đến năm 2011” làm đề tài để nghiên cứu và viết luận án tiến sĩ

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, nghiên cứu sinh nhằm mục đích hệ thống hóa lại các chính sách dân tộc của Nhà nước đã được thực thi ở vùng Tây Bắc từ năm 2001 đến năm 2011, bao gồm cả những chính sách dân tộc nói chung và chính sách dành riêng cho vùng Tây Bắc Từ đó nhận xét, đánh giá về ưu điểm, hạn chế của hệ thống chính sách dân tộc của Nhà nước đã triển khai thực hiện ở vùng Tây Bắc từ năm

2001 đến năm 2011, rút ra một vài kinh nghiệm về hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc đối với vùng Tây Bắc trong những năm tiếp theo

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Một là, hệ thống hóa các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án Chỉ

ra những điểm ưu điểm, hạn chế của các công trình đó và những vấn đề mà luận án cần giải quyết

- Hai là, khái quát lại một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế và xã hội của vùng

Tây Bắc và những vấn đề đặt ra về chính sách dân tộc

- Ba là, tập hợp tư liệu, mô tả và hệ thống hóa lại hệ thống các chính sách dân

tộc của Nhà nước đã ban hành và được thực thi ở vùng Tây Bắc từ năm 2001 đến năm 2011, quá trình thực hiện và kết quả cơ bản của chính sách dân tộc

- Bốn là, rút ra những đánh giá, nhận xét về ưu điểm, hạn chế và kinh nghiệm

đối với việc ban hành và triển khai thực thi hệ thống các chính sách dân tộc của Nhà nước ở vùng Tây Bắc từ năm 2001 đến năm 2011

Trang 12

3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Tên đề tài luận án là “Chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam đối với vùng Tây Bắc từ năm 2001 đến năm 2011” vì thế đối tượng nghiên cứu của luận án này là hệ thống các chính sách dân tộc nói chung (bao gồm những chính sách chung cho cộng đồng các dân tộc, chính sách đối với cộng đồng các dân tộc thiểu số và chính sách đối với các dân tộc vùng đặc biệt khó khăn…) được áp dụng, thực hiện ở vùng Tây Bắc và những chính sách riêng mà Nhà nước dành cho cộng đồng các dân tộc Tây Bắc từ năm 2001 đến năm 2011

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Chính sách dân tộc của Nhà nước bao gồm trong đó rất nhiều

vấn đề, bao gồm những chính sách cho cộng đồng các dân tộc nói chung, chính sách dành cho cộng đồng các dân tộc thiểu số, chính sách dành cho cộng đồng các dân tộc vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới,… trên địa bàn cả nước Nội dung của chính sách lại hướng đến giải quyết nhiều vấn đề như: kinh tế, chính trị, quan hệ tộc người, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, giáo dục, an ninh - quốc phòng,… Tuy nhiên, do khuôn khổ có hạn nên trong luận án này, tác giả chỉ tiếp cận nghiên cứu về hệ thống các chính sách dân tộc của Nhà nước đã ban hành và thực hiện ở vùng Tây Bắc từ năm 2001 đến năm 2011, bao gồm cả những chính sách chung và riêng, dưới góc nhìn hệ thống, chứ không đi sâu vào việc mô tả, phân tích, đánh giá từng chính sách được áp dụng cho từng đối tượng riêng lẻ

Mặt khác, Tây Bắc là hợp thể của nhiều tỉnh, song do khuôn khổ luận án, nghiên cứu sinh chưa có điều kiện đi sâu vào việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá việc triển khai thực hiện chính sách dân tộc cụ thể ở từng mà chỉ tiếp cận nghiên cứu một cách khái quát nhất về hệ thống các chính sách dân tộc trên địa bàn toàn vùng Theo đó, nội dung của luận án tập trung vào mấy vấn đề chính là: Bối cảnh lịch

sử và những yêu cầu về chính sách dân tộc đối với vùng Tây Bắc; Hệ thống các chính sách dân tộc đã được triển khai ở vùng Tây Bắc như: Nguyên tắc, mục tiêu, nhiệm vụ vủa chính sách dân tộc; Các nội dung cơ bản của chính sách dân tộc; Quá trình thực thi, hiệu quả và một số nhận xét, đánh giá, các kinh nghiệm về hoạch định và thực thi chính sách dân tộc trong những năm tiếp theo Những vấn đề khác, nghiên cứu sinh xin được tiếp tục nghiên cứu và trình bày trong những nghiên cứu sau

Trang 13

4

- Về mặt không gian: Đề tài chỉ nghiên cứu, trình bày về các chính sách dân

tộc của Nhà nước đã ban hành và thực thi ở vùng Tây Bắc, bao gồm địa giới hành chính của các tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình, từ năm 2001 đến năm 2011

- Về mặt thời gian: Đề tài chỉ nghiên cứu hệ thống các chính sách dân tộc của

Đảng và Nhà nước được thực hiện ở vùng Tây Bắc trong khoảng thời gian từ năm

2001 đến năm 2011 Lý do tác giả lựa chọn mốc thời gian này là vì, thứ nhất, đây là

10 năm đầu tiêu của Thế kỷ XXI với nhiều sự biến chuyển của tình hình thế giới và trong nước có liên quan đến việc ban hành và thực thi chính sách dân tộc ở vùng Tây Bắc Và năm 2001 là năm khởi đầu của quá trình 10 năm này, được bắt đầu bằng Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX của Đảng với nhiều định hướng mới cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và các vùng, trong đó có vấn đề chính sách dân tộc Do

đó mà NCS chọn năm 2001 là mốc khởi đầu của diễn trình 10 năm nghiên cứu các

chính sách của Nhà nước đối với vùng Tây Bắc đầu thế kỷ XXI Thứ hai, đây là giai

đoạn đất nước bước vào giai đoạn chủ động và tích cực hội nhập quốc tế mà Tây Bắc

là một vùng đất địa đầu, mậu biên nên chịu những ảnh hưởng nhất định từ hội nhập

Thứ ba, đây là giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với sự lựa

chọn, điều chỉnh mô hình phát triển kinh tế vùng diễn ra khá mạnh mẽ cho nên nó có

sự tác động nhất định đến Tây Bắc Và thứ tư, đây cũng là giai đoạn mà nảy sinh

nhiều vấn đề phức tạp về dân tộc và do đó, chính sách dân tộc cũng có những sự thay đổi điều chỉnh Vì vậy, nghiên cứu sinh đã lựa chọn mốc thời gian từ 2001 đến 2011 để nghiên cứu Để làm rõ những nội dung của hệ thống chính sách dân tộc của Nhà nước được triển khai ở vùng Tây Bắc trong 10 năm 2001 - 2011, tác giả luận án chia thành hai gian đoạn chính: Giai đoạn thứ nhất là từ năm 2001 đến năm 2005 và giai đoạn thứ hai là từ năm 2006 đến năm 2011 Lý do mà NCS phân kỳ lịch sử như vậy là vì chính sách dân tộc của Nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo, định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam Ở mỗi nhiệm kỳ Đại hội, Đảng đều có những tổng kết, đánh giá, điều chỉnh, bổ sung định hướng về chính sách dân tộc, Nhà nước sau đó sẽ căn cứ vào những điều chỉnh, bổ sung định hướng của Đảng để tiến hành việc điều chỉnh, bổ sung nội dung chính sách dân tộc Do đó, thời gian nhiệm kỳ các Đại hội Đảng là căn cứ để NCS tiến hành phân kỳ nội dung luận án thành hai giai đoạn, qua đó nghiên cứu, xem xét quá trình phát triển, thay đổi chính sách dân tộc của Nhà nước đối với vùng Tây Bắc giữa

Trang 14

5

các giai đoạn là như thế nào và nó đã tác động đến thực tiễn vùng Tây Bắc ra sao Đồng thời, đây cũng chính là lý do mà tác giả chọn năm 2011 làm mốc kết thúc, bởi đây cũng là thời điểm kết thúc của quá trình 10 năm thực hiện chính sách dân tộc của Nhà nước ở vùng Tây Bắc đầu thế kỷ XXI với hai nhiệm kỳ đại hội Đảng

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.2 Về phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

- Về phương pháp nghiên cứu: Ngoài việc sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch

sử và phương pháp logic là những phương pháp nghiên cứu chính, luận án cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu bổ trợ mang tính liên ngành, đa ngành như: nhân học, văn hóa học, khu vực học, xã hội học, chính trị học, để thu thập tư liệu, mô tả, phân tích và đánh giá các vấn đề liên quan đến luận án Trong đó, phương pháp lịch sử được sử dụng để phân kỳ lịch sử và nhận diện, mô tả và diễn giải các vấn đề trong bối cảnh lịch sử cụ thể với cả hai lát cắt dọc và ngang Các phương pháp nhân học, xã hội học, văn hóa học sẽ được sử dụng trong việc điền dã thu thập và xử lý tư liệu, phương pháp khu vực học được sử dụng để nghiên cứu nhận dạng về các đặc điểm đặc trưng của vùng Tây Bắc, phương pháp chính trị học sẽ được sử dụng để nghiên cứu và diễn giải các vấn đề liên quan về chính sách và quản lý chính sách dân tộc

- Về nguồn tư liệu: Để thực hiện luận án này NCS dựa vào những nguồn tư

liệu cơ bản sau đây:

+ Nguồn tư liệu thứ nhất, đó là các tư liệu trực tiếp như: các văn kiện của

Đảng và Nhà nước đã ban hành chứa đựng nội dung chính sách dân tộc đã thực thi

ở vùng Tây Bắc Nguồn này bao gồm cả các tư liệu thành văn, bất thành văn, tư liệu hiện vật như các công trình được xây dựng từ kết quả của chính sách dân tộc

+ Nguồn tư liệu thứ hai, bao gồm các tư liệu thứ cấp Nguồn này rất đa dạng, bao gồm: Một là các bài nghiên cứu được đăng tải trên các phương tiện báo, tạp chí, hội thảo khoa học, ; Hai là các công trình nghiên cứu dưới dạng các đề tài nghiên

Trang 15

6

cứu khoa học các cấp, khoá luận, luận văn, luận án, ;

+ Thứ ba là nguồn sách báo của các học giả ở cả trong và ngoài nước đã công

bố có liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận án này;

+ Nguồn tư liệu thứ tư là tư liệu phỏng vấn, điền dã điều tra khảo sát của tác giả

luận án và các cộng sự trong quá trình nghiên cứu thu thập được Trên đây là các nguồn

tư liệu chính mà tác giả luận án sử dụng để luận giải các vấn đề có liên qua đến đề tài

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Một là, cung cấp một cái nhìn có hệ thống và toàn diện hơn về hệ thống

chính sách dân tộc của Nhà nước đã ban hành và thực thi ở vùng Tây Bắc từ năm

2001 đến năm 2011

- Hai là, chỉ ra một số ưu điểm, hạn chế của việc thực thi chính sách cũng như hiệu

quả của chính sách dân tộc của Nhà nước ở vùng Tây Bắc từ năm 2001 đến năm 2011

- Ba là, rút ra một số kinh nghiệm về chính sách dân tộc nói chung và chính

sách dân tộc cho vùng Tây Bắc nói riêng cho giai đoạn sau

- Bốn là, kết quả của luận án sẽ là tại liệu tham khảo cho những ai quan tâm

đến vấn đề này

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận án đã hệ thống hoá lại các lý thuyết cơ bản đã được các nhà khoa học ở

cả trong và ngoài nước sử dụng để tiếp cận nghiên cứu, phân tích và đánh giá về chính sách dân tộc Trên cơ sở đó, tác giả luận án đã đưa ra khái niệm của mình về chính sách dân tộc, dùng nó là cơ sở để tiếp cận nghiên cứu, phân tích và đánh giá chính sách dân tộc của Nhà nước được thực hiện ở vùng Tây Bắc từ năm 2001 đến năm 2011 Như vậy, có thể nói kết quả của luận án đã góp phần bổ sung và củng cố thêm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, đánh giá về chính sách dân tộc nói chung

và chính sách dân tộc của Nhà nước được thực thi ở vùng Tây Bắc nói riêng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận án đã rà soát lại hệ thống các chính sách dân tộc của Nhà nước được thực thi ở vùng Tây Bắc, quá trình thực hiện cũng như là hiệu quả của chính sách Từ đó, rút ra những nhận xét về ưu điểm, hạn chế của các chính sách dân tộc nói chung và chính sách dân tộc được thực thi ở vùng Tây Bắc nói riêng Bên cạnh đó, luận án cũng rút ra một số kinh nghiệm về chính sách dân tộc nói chung và chính sách dân

Trang 16

7

tộc đối với vùng Tây Bắc trong những năm tiếp theo Những kết quả nghiên cứu, đánh giá này sẽ cũng cấp thêm luận cứ để các cơ quan ban hành, tổ chức thực hiện chính sách có thể sử dụng để đổi mới việc hoạch định, tổ chức thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam nói chung và Tây Bắc nói riêng trong những năm tiếp theo

7 Kết cấu chính của luận án

Để làm rõ được nội dung của vấn đề nghiên cứu, ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được kết cấu thành 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án

Chương 2: Chính sách dân tộc của Nhà nước ở vùng Tây Bắc từ năm 2001 đến

Trang 17

8

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1.1 Các công trình nghiên cứu đã được công bố có liên quan đến luận án

1.1.1 Các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài

Nghiên cứu của các học giả nước ngoài về các dân tộc Việt Nam nói chung và cộng đồng các dân tộc Việt Nam sinh sống ở vùng Tây Bắc nói riêng có liên quan đến luận án tương đối phong phú và đa dạng với nhiều cách tiếp cận từ nhiều ngành khoa học khác nhau Từ góc độ tiếp cận, có thể chia thành mấy nhóm nhỏ như sau:

- Nhóm các công trình về khung lý thuyết và phương pháp nghiên cứu:

Nói đến chính sách dân tộc, không thể không nhắc đến các công trình tiếp cận nghiên cứu về chính trị học, nhất là các nghiên cứu về chính sách công, bởi chính sách

dân tộc là một loại hình của chính sách công Có thể kể đến các công trình như: Nhận thức về chính sách công (Understanding public policy) của Thomas R.Dye năm 1972; Phân tích chính sách dưới góc nhìn tổ chức và chính trị (Policy analysis: A political and Organizational perspective) của William L Jenkins năm 1978; Giới thiệu về xây dựng chính sách công (Public policy making: An introduction) của James E Anderson

năm 1984 Các công trình này đã đưa ra các quan điểm, khái niệm về chính sách và chính sách công đồng thời cung cấp hệ thống các phương pháp nghiên cứu về chính sách nói chung trong nghiên cứu về khoa học chính sách [195, tr 17]

Bên cạnh các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu chính trị học, các khung lý thuyết và phương pháp nghiên cứu nhân học cũng thường được tiếp cận để nghiên cứu

về chính sách dân tộc Cuốn sách Các phương pháp nghiên cứu trong nhân học tiếp cận định tính và định lượng của H Russel Bernard, do Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ

Chí Minh xuất bản năm 2009, gồm 20 chương, trình bày về lý thuyết và phương pháp nghiên cứu nhân học đã dành khá nhiều thời lượng để nói về các vấn đề phương pháp nghiên cứu, triển khai các đề tài dự án có liên quan đến chính sách dân tộc như: Nhân học văn hoá và khoa học xã hội; Nhân học và thiết kế nghiên cứu; Chọn mẫu; Chọn các vấn đề nghiên cứu, địa bàn và phương pháp; Nghiên cứu tài liệu; Quan sát tham dự; Thông tín viên; Ghi chép điền dã: cách ghi, mã hoá và quản lý; Phỏng vấn phi cấu trúc và bán cấu trúc; Phỏng vấn cấu trúc; Bảng hỏi và nghiên cứu điều tra; Thang đo và

đo lường; Quan sát trực tiếp và có phản ứng; Quan sát kín đáo; Phân tích dữ liệu định tính; Mã hoá và bảng mã hoá cho dữ liệu định lượng; Thống kê đơn biến: miêu tả từng biến; Phân tích hai biến: Kiểm định và các mối liên hệ; Phân tích đa biến Có thể nói,

Trang 18

Từ thuyết tương đối văn hoá đến khoa học nhận thức; Thuyết cấu trúc, từ ngôn ngữ học đến nhân học; Hậu cấu trúc, thuyết nữ quyền và các tư tưởng độc lập khác; Phương pháp tiếp cận diễn dịch và tiếp cận hậu hiện đại;… Như vậy, có thể thấy, nội dung của cuốn sách như chính sác tác giả nói "là một tóm tắt về "nội dung" của

lý thuyết nhân học"[1], đây là điều hết sức cần thiết cho tác giả luận án, đặc biệt là các lý thuyết về khuếch tán văn hoá và văn hoá - vùng, bởi Tây Bắc là một vùng tộc người và vùng văn hoá tộc người có sự đa dạng và đặc thù riêng biệt

Gần đây, năm 2016, Nxb Tri thức đã xuất bản cuốn Nhân học chính trị của

Georges Balander Cuốn sách này đã nêu ra các quan niệm về nhân học chính trị, cơ

sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và xu hướng nghiên cứu nhân học chính trị trên thế giới Đồng thời cuốn sách cũng đề cập đến các vấn đề như: Lĩnh vực chính trị; quan hệ thân tộc và quyền lực; Phân tầng xã hội và quyền lực; Tôn giáo và quyền lực; Những khía cạnh của nhà nước và truyền thống; Truyền thống và hiện tại… Và như lời giới thiệu của cuốn sách thì, mục đích của tác giả là để: “… giới thiệu mang tính phê phán các lí thuyết, phương pháp và các kết quả của chuyên ngành này” [134, tr 7] Cuốn sách có một phần trình bày về thể chế chính trị, quyền lực chính trị, bản chất của nhà nước trong mối quan hệ với các cộng đồng tộc người

và nhóm người trong xã hội Các hình thức phân tầng của xã hội và tác động của thể chế chính trị đến phân tầng xã hội Có thể nói, cuốn sách đã hệ thống hóa lại, phê phán các lý thuyết về nhân học chính trị và cung cấp những nhận thức mới về nhân học chính trị, trong đó có vấn đề chính sách dân tộc của các quốc gia trên thế giới

- Các nghiên cứu cụ thể về dân tộc và chính sách dân tộc ở Việt Nam và vùng Tây Bắc:

Trước năm 1945, các nghiên cứu về dân tộc và chính sách dân tộc ở Việt Nam

chủ yếu được các học giả người Pháp tiến hành Cuốn sách Người nông dân châu thổ

Trang 19

10

Bắc Kỳ” của Pierre Gourou, do Nxb Trẻ, Viện Viễn Đông bác cổ Pháp và Tạp chí

Xưa & Nay xuất bản năm 2014 là công trình đầu tiên của người Pháp nghiên cứu về nông dân, nông nghiệp, nông thôn Việt Nam Đào Thế Tuấn cho rằng, đây là “một tác phẩm đặc sắc nghiên cứu về địa lý nhân văn” bởi “đây là một công trình nghiên cứu đầu tiên về nông dân học, về nông nghiệp gia đình và về hệ thống nông nghiệp, phân tích cặn kẽ về đất và người Bắc Bộ như địa hình, khí hậu châu thổ, lịch sử di dân và sự vận động của dân số, nông nghiệp, công nghiệp làng xã…”[166, tr 5-6] Theo NCS thì đây là lần đầu tiên phương pháp nghiên cứu liên ngành được ứng dụng trong nghiên cứu về khoa học xã hội ở Việt Nam, bởi trong cuốn sách này không chỉ có các lý thuyết, phương pháp về địa - văn hóa, nhân văn mà còn có cả sự hiện diện của phương pháp nghiên cứu lịch sử, khu vực học, nhân chủng học, xã hội học, được ứng dụng hết sức nhuần nhuyễn Do đó, cuốn sách đã cung cấp một hệ thống các phương pháp nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau, đồng thời cung cấp những nguồn tư liệu quý về bối cảnh Việt Nam và vùng châu thổ Bắc Kỳ những năm đầu thế kỷ XX

Tiếp cận bằng phương pháp lịch sử, dân tộc học và địa lý nhân văn, cuốn Địa nhân văn - xã hội dân tộc Mường (Le Muong Geographic humaine et Sociologie) của

J Cuisinier xuất bản ở Paris năm 1946 đã trình bày một cách có hệ thống về người Mường ở Việt Nam từ địa vực cư trú, nguồn gốc, quá trình phát triển, các đặc trưng

về văn hóa, xã hội… Tác giả cuốn sách cho rằng: “Hai dân tộc Mường và Việt cùng chung một nguồn gốc: cả về mặt văn hóa vật chất lẫn về mặt văn hóa tinh thần, giữa hai tộc Mường và Việt không có sự cách biệt nào lớn Sự khác nhau trong sinh hoạt chỉ là tiểu tiết” Và công trình nghiên cứu của J Cuisinier cũng đã cung cấp cho độc giả cả cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu sử học, dân tộc học, nhân học cũng như là những tư liệu, thông tin về người Mường ở Việt Nam, trong đó có mối quan hệ giữa người Mường với các chính quyền quân chủ ở Việt Nam và chính sách của các chính quyền quân chủ với người Mường trong lịch sử Cùng cách tiếp cận

này, năm 1952 P Guileminet đã công bố nghiên cứu Tập quán của các dân tộc Bana, Sơ đăng và Giarai ở Kom Tum (Coutumier de la tribu Bahnar, des Sedang et des Jrai de la provine de Kom Tum) Cũng giống như cuốn sách của J.Cuisinier, đây

là một chuyên khảo của P Guileminet về phong tục, tập quán của các dân tộc Bana,

Sơ đăng và Giarai ở Kom Tum Với cách tiếp cận dân tộc học, ông đã trình bày một cách khá chi tiết về địa vực cư trú, nguồn gốc, quá trình phát triển và các đặc điểm văn hóa, xã hội của các dân tộc Bana, Sơ đăng và Giarai ở Kom Tum

Trang 20

11

Tiếp cận sâu hơn về vấn đề chính sách dân tộc, luận án Chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam của Furuta Moto năm 1989 đã trình bày một cách khá

toàn diện và có hệ thống các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam

về chính sách dân tộc từ khi ra đời cho đến trước thời kỳ đổi mới ở Việt Nam Luận

án đã trình bày các cơ sở lý thuyết, phương pháp tiếp cận khi nghiên cứu về chính sách dân tộc nói chung và chính sách dân tộc ở Việt Nam nói riêng Đồng thời, tác giả cũng đã trình bày khá rõ cơ sở lý thuyết, quan điểm và nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách dân tộc, quá trình ban hành những quan điểm, chủ trương về chính sách dân tộc, từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá về chính sách dân tộc tộc của Đảng Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu trực tiếp đầu tiên của người nước ngoài về chính sách dân tộc ở Việt Nam

Tiếp cận ở từng khía cạnh của chính sách dân tộc, trong Báo cáo tư vấn của Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Châu Á năm 2000, tác giả Neil Jamieson trong bài viết

“Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội khu vực miền núi phía Bắc và dự án xóa đói giảm nghèo ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam” đã khuyến nghị chính phủ Việt Nam cần lưu tâm đến việc chăm lo những đối tượng chịu nhiều thiệt thòi trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế - xã hội, đặc biệt là vùng miền núi phía Bắc Tác giả cho rằng, ở vùng này đồng bào dân tộc thiểu số cần được quan tâm đặc biệt bởi họ là những cộng đồng có trình độ học vấn thấp, ít được hưởng lợi từ những chính sánh ưu tiên của nhà nước bởi chính sách thường là sự áp đặt ý chí của nhà nước đối với người dân, do đó cần chú ý đến yêu cầu phát sinh năng lực nội sinh của bản thân các dân tộc thiểu số nhằm đảm bảo những ưu tiên đầu tư có hiệu quả lâu dài và bền vững Cùng

chủ đề này, Koos Neefjes trong công trình Xóa đói giảm nghèo cho đồng bào thiểu số vùng cao Việt Nam (2001) đã nghiên cứu, đánh giá một số chương trình, chính sách

quan trọng của Chính phủ Việt Nam được áp dụng ở vùng cao Dưới góc nhìn của khoa học phát triển, tác giả đã chỉ ra một số thách thức về mục tiêu đối với thể chế, chính sách, những bất cập trong việc triển khai như tổ chức thực hiện, điều phối, giám sát và tiếng nói của người trong cuộc khi tiếp nhận chính sách và từ đó kiến nghị một

số vấn đề về giải pháp chính sách giảm nghèo bền vững Tiếp đó, năm 2007 Yukio

cũng đã công bố công trình Chính sách xóa đói giảm nghèo và người dân tộc thiểu số ở Việt Nam (Poverty Alleviation Policies and Ethnic Minority People in Viet Nam),

Institute of Oriental Culturel, University of Tokyo Cuốn sách đã trình bày một cách

Trang 21

12

khái quát và tương đối có hệ thống về chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam Với cách tiếp cận nhân học phát triển, Yukio đã trình bày một loạt các cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu về chính sách dân tộc và chính sách xóa đói giảm nghèo trên thế giới và ở Việt Nam Từ đó, tác giả đã mô tả lại quá trình ban hành chính sách và thực thi chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam trước và trong quá trình đổi mới đất nước, những hiệu quả và hạn chế của hệ thống chính sách này trong thực tiễn, tác động của chính sách đối với cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam và những hệ lụy đặt ra

Gần đây, cuốn sách Nhân học phát triển lịch sử, lý thuyết và công cụ thực hành

do Nguyễn Văn Sửu tuyển chọn và xuất bản năm 2016 cũng đã giới thiệu một loạt nghiên cứu của các học giả nước ngoài có liên quan đến phương pháp nghiên cứu, đánh giá tác động của chính sách dân tộc đến sự phát triển của các cộng đồng dân tộc thiểu

số Bài viết "Vai trò của mô tả dân tộc học trong đánh giá dự án" của Johan Pottier hay

"Nhân học và phát triển: Các khung phê phán" của Thomas Yarrow và Soumhya Venkatesan đã chỉ ra vai trò của các lý thuyết, phương pháp nghiên cứu dân tộc học/nhân học đối với việc hoạch định chính sách, dự án từ việc thu thập căn cứ dữ liệu đầu vào, quá trình thực thi, kết quả và các tác động để đưa ra các giải pháp điều chỉnh chính sách,

dự án [159, tr 197-247] John Western và Mark Lynch trong bài viết "Tổng quan về quy trình đánh giá tác động xã hội" đã chỉ ra rằng: "Yêu cầu cần phải đánh giá tác động xã hội bắt nguồn từ chỗ thừa nhận một số hệ quả không thể lường trước trong các chiến lược phát triển có thể làm giảm các lợi ích do phát triển đem lại" [159, tr 269] và “Các đánh giá tác động xã hội (SIAs) là một phần của các chiến lược tổng thể vốn có thể bao gồm các nghiên cứu khả thi và các nghiên cứu đánh giá" [159, tr 269, 270] Theo tác giả, các nghiên cứu đánh giá có đặc tính tập trung vào việc đánh giá một chương trình can thiệp để quyết định xem liệu các kết quả thu được có phải như thiết kế và dự tính hay không, hay thay vào đó là các kết quả không thể đoán định được và ngoài dự tính Bài viết cũng đã nêu ra cơ sở lý thuyết, các phương pháp, cách thức tổ chức đánh giá tác động xã hội của hệ thống các chính sách, đây là điều cần thiết đối với NCS khi nghiên cứu về chính sách dân tộc của Nhà nước ở vùng Tây Bắc giai đoạn 2001-2011

Bên cạnh các công trình trên đây, xuất phát từ cách tiếp cận nghiên cứu về văn hóa học Georges Condominas trong bài viết "Vấn đề truyền khẩu và đạo lý trong nghiên cứu luật tục"[119, tr 37-41] đã phê phán quan điểm coi thường, "miệt thị" của giới nghiên cứu đối với các dân tộc không có chữ viết, trong đó có trường hợp Việt

Trang 22

13

Nam Với tinh thần đó, ông chỉ ra vai trò và tầm quan trọng của việc nghiên cứu văn học truyền miệng và luật tục của cộng đồng các dân tộc không có chữ viết đối với việc tái hiện lịch sử các quốc gia dân tộc Tiếp cận dưới góc nhìn phát triển bền vững dưới tác động của sức ép dân số và sự can thiệp của chính sách đến cảnh quan môi trường tự nhiên, Stéphane Lagrée trong bài viết "Tác động dân số và các chính sách nông nghiệp: Những hậu quả đối với cảnh quan miền núi (trường hợp của dãy núi Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc)" [120, tr 481-493] đã mô tả lại những bất cập trong việc triển khai các mô hình phát triển kinh tế nông nghiệp như: tập thể hoá, lâm trường quốc doanh, kinh tế cá thể hộ gia đình đã gây sức ép cả về dân số và tài nguyên môi trường đối với vùng Tam Đảo - Vĩnh Phúc, dẫn đến hệ luỹ là mất cân bằng sinh thái, cạn kiệt tài nguyên không chỉ ở vùng này mà còn cả những vùng xung quanh

Đề cập trực tiếp đến các tộc người Tây Bắc Việt Nam, bài viết "Sinh kế nơi biên cương: Sự thích ứng của người H'mông ở vùng biên giới Việt - Trung" của Sarah Turner và Jean Michaud đã cho chúng ta một bức tranh về sinh kế của đồng bào Mông

ở vùng biên giới Việt - Trung nói riêng và về sinh kế của cộng đồng các dân tộc vùng biên giới Việt - Trung nói chung [193, tr 315-334] Bài viết đã mô tả sự biến đổi về bối cảnh sinh tồn và sự thích ứng, chuyển đổi sinh kế của đồng bào H'mông ở vùng biên giới giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc Có thể nói, dù chỉ khoanh vùng nghiên cứu sinh kế của đồng bào Mông ở vùng biên giới, song các phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu này là hết sức quý báu, nó cung cấp cái nhìn khá mới về vấn đề sinh tế tộc người, đặc biệt là những tộc người vùng biên viễn

Tiếp đó, cuốn sách Thời kỳ mở cửa những chuyển đổi kinh tế - xã hội ở vùng cao Việt Nam của Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường - Đại học Quốc gia Hà

Nội, Nxb Khoa học và Kỹ thuật xuất bản năm 2008 đã giới thiệu một loạt các báo cáo của các nhà nghiên cứu nước ngoài về những chuyển đổi kinh tế - xã hội ở vùng cao của Việt Nam thời kỳ mở cửa, hội nhập như: "Lựa chọn và thành quả phát triển: những chuyển đổi ở vùng cao Việt Nam" của Jeff Romm và Jennifer Sowerwine, Nghiêm Phương Tuyến và Thomas Sikor; "Một góc nhìn từ vùng cao: Phần lịch sử quan trọng về mối quan hệ giữa đồng bằng và miền núi Việt Nam" của Oscar Salemink; "Nhà nước biến đổi và các quy luật của thị trường: Biến đổi ruộng đất và nền kinh tế thị trường duy tình ở vùng núi Ba Vì, Việt Nam" của Jennifer Sowerwine; ""Mở rộng sinh kế": Mối liên

hệ kinh tế - xã hội giữa đồng bằng sông Hồng và Tây Nguyên" của Alexandra Winkels;

"Quá trình phát triển mạng lưới thị trường tại một huyện vùng núi phía Bắc Việt Nam"

Trang 23

14

của Nghiêm Phương Tuyến và Masayuki Yanagisama; "Ai sẽ quản lý rừng? Thay đổi cơ chế sở hữu đất ở miền Trung Việt Nam" của Pamela McElwee; "Chiến lược toàn diện hay niềm tin sắt đá: Công cuộc xoá đói giảm nghèo ở miền núi Việt Nam" của Bent D Jorgensen và bài viết "Giao đất ở vùng cao Việt Nam: Vấn đề điều chỉnh quyền hưởng dụng và thẩm quyền" của Thomas Sikor Những công trình nghiên cứu này đã đề cập đến nhiều vấn đề như cơ sở lý thuyết, phương pháp tiếp cận vấn đề, sự tác động của hệ thống chính sách đến sự biến đổi đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào vùng cao

Như vậy, các nghiên cứu của các học giả nước ngoài về lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử, diễn biến phát triển của các tộc người ở Việt Nam trong đó có vùng Tây Bắc là hết sức đa dạng, phong phú được tiếp cận dưới nhiều góc nhìn khác nhau Các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài cũng mang tính liên ngành rất cao, việc phê phán, đánh giá các lý thuyết, phương pháp nghiên cứu cũng như các nguồn

sử liệu được các học giả tiến hành một cách rất kỹ lưỡng

1.1.2 Các công trình nghiên cứu của các học giả trong nước

Có thể nói, các nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài luận án là hết sức phong phú, đa dạng được tiếp cận dưới nhiều hình thức, phương pháp và lĩnh vực nghiên cứu khác nhau Căn cứ vào loại hình và lĩnh vực nghiên cứu, NCS chia thành mấy nhóm chính như sau:

- Một là, các nghiên cứu về tính chất vùng và cấu trúc vùng của Việt Nam trong đó có Tây Bắc, được tiếp cận dưới hai góc nhìn chính là vùng văn hóa và vùng kinh tế Tiếp cận bằng phương pháp dân tộc học và sử học, cuốn sách Cơ cấu

tổ chức của làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc bộ của Trần Từ, Nxb Khoa học

Xã hội xuất bản năm 1984 có thể coi là một công trình tiêu biểu Cuốn sách tuy miêu tả về các tổ chức xã hội cổ truyền của các làng xã ở đồng bằng Bắc bộ và vai trò của nó đối với các làng xã trong diễn trình phát triển, song lại được viết trong cái nhìn so sánh với cơ cấu tổ chức xã hội của người Mường ở Hoà Bình, một địa bàn

mà tác giả đã đeo đuổi nghiên cứu có thể nói là cả cuộc đời Cuốn sách này có thể là một mẫu mực về áp dụng phương pháp nghiên cứu điền dã dân tộc học, phương pháp hồi cố với các phương pháp nghiên cứu lịch sử để phục dựng lại một bức tranh

về cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc bộ

Tiếp cận dưới góc nhìn địa - văn hóa, cuốn sách Việt Nam cái nhìn địa - văn hóa của Trần Quốc Vượng, Nxb Văn hoá dân tộc và Tạp chí Văn hoá nghệ thuật

xuất bản năm 1998, trình bày về đặc trưng của văn hoá các vùng, miền dưới cái nhìn

Trang 24

15

tổng thể góp chung vào văn hoá Việt Nam Quan trọng hơn, ông đã đặt văn hoá của

từng vùng, miền dưới cái nhìn Địa-Văn hoá để lý giải những đặc thù, riêng có của

văn hoá vùng và vai trò của nó trong việc tham góp vào dòng chảy chung của văn hoá dân tộc để tạo ra các mẫu số chung của văn hoá Việt Nam Dù là tập hợp các bài viết, song cuốn sách lại mang tính chất gợi mở về một lý thuyết nghiên cứu mới trong nghiên cứu văn hoá và lịch sử văn hoá - "Địa-Văn hoá" - có tính chất soi đường cho các thế hệ đi sau khi tiếp cận, nghiên cứu về văn hoá và lịch sử văn hoá Việt Nam

Cũng theo hướng này, cuốn sách“Văn hoá và phân vùng văn hoá Việt Nam” của Ngô Đức Thịnh, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh xuất bản năm 2003 đã trình bày các

lý thuyết và khuynh hướng nghiên cứu về văn hóa và phân vùng văn hóa Ông cũng

đã trình bày các phương pháp nghiên cứu về văn hoá vùng và phân vùng văn hoá trên thế giới và Việt Nam, đồng thời dựa vào đó ông đã đưa ra cách phân vùng văn hóa Việt Nam, mô tả những đặc điểm văn hóa của từng vùng trong tổng thể nền văn hóa Việt Nam Có thể nói, đây là cuốn sách cung cấp cho người đọc cả về phương diện lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và tư liệu thực địa về vấn đề phân vùng văn hoá và đặc trưng của văn hoá vùng

Tiếp cận theo hướng nghiên cứu dân tộc học và sử học, Đặng Nghiêm Vạn

trong cuốn Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam đa tộc người, xuất bản năm 2009

đã trình bày một loạt các hệ thống lý thuyết về dân tộc học như dân tộc là gì? Tộc người là gì? Đồng thời trình bày khái quát quá trình hình thành quốc gia dân tộc Việt Nam, đặc điểm của cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam và đặc điểm của các nhóm tộc người ở Việt Nam Có thể nói, đây là một công trình có sự khái quát cao

cả về lý thuyết, phương pháp nghiên cứu cũng như là về quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam trong lịch sử, các đặc trưng của vùng tộc người trên lãnh thổ quốc gia dân tộc Việt Nam

Bên cạnh các cuốn sách này, còn có thể kể đến một số công trình nghiên cứu

tiêu biểu khác nữa như: Phan Hữu Dật, Ngô Văn Thịnh, Lê Ngọc Thắng với cuốn Sắc thái văn hoá địa phương và tộc người trong chiến lược phát triển đất nước, xuất bản năm 1999; Ngô Ngọc Thắng với cuốn Văn hoá bản làng của các dân tộc Thái, Mông

ở một số tỉnh miền núi Tây Bắc và việc phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong điều kiện hiện nay, xuất bản năm 2001; của Trần Văn Bính (cb) với cuốn Văn hoá các dân tộc Tây Bắc - Thực trạng và những vấn đề đặt ra, xuất bản năm 2005; đặc biệt là

Trang 25

16

cuốn "Văn hoá các dân tộc Tây Bắc Việt Nam" của Hoàng Lương xuất bản năm

2005 Cuốn sách được chia thành 5 chương, trình bày một cách tổng thể và khái quát nhất về văn hoá của cộng đồng các dân tộc Tây Bắc trong lịch sử và hiện tại Trong

đó, chương 1 tác giả trình bày về môi trường tự nhiên và bức tranh tộc người vùng Tây Bắc; chương 2 tác giả trình bày về các dạng thức văn hoá vật thể của các dân tộc Tây Bắc; chương 3 tác giả trình bày về tục lệ vòng đời của các dân tộc Tây Bắc, chương 4 là các dạng thức văn hoá phi vật thể của các dân tộc vùng Tây bắc và chương 5, tác giả trình bày về xu hướng phát triển văn hoá các dân tộc Tây Bắc Như vậy, dù là hết sức khái quát song cuốn sách này đã cung cấp cho người đọc một cái nhìn toàn diện về văn hoá của cộng đồng các dân tộc Tây Bắc được phục dựng lại bằng các phương pháp lịch sử, dân tộc học, dân tộc học văn hoá (hay nhân học văn hoá) Một lần nữa, công trình này lại cho thấy được vai trò của nghiên cứu liên ngành

và đa ngành trong việc tiếp cận, nghiên cứu và miêu tả diễn trình lịch sử xã hội tộc người và lịch sử xã hội quốc gia, đặc biệt là quốc gia đa dân tộc như Việt Nam

Nghiên cứu dưới góc độ kinh tế vùng gắn với quy hoạch phát triển các vùng lãnh thổ có thể kể đến hai công trình do Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Viện Chiến lược Phát triển

tổ chức thực hiện là Một số vấn đề về lý luận, phương pháp luận, phương pháp xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế Việt Nam, xuất bản năm 2002 và Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, xuất bản năm

2004 Các cuốn sách này đã để cập cả cơ sở lý luận, phương pháp tiếp cận nghiên cứu xây dựng chiến lược và quy hoạt phát triển kinh tế và các vùng kinh tế Việt Nam, đặc biệt là trong quá trình đổi mới đất nước Đồng thời, chỉ ra các mô hình phát triển kinh

tế - xã hội ở Việt Nam, thực tiễn triển khai, các kết quả đạt được, những hạn chế, tồn đọng và các giải pháp để điều chỉnh các chiến lược, quy hoạch nhằm đạt được hiệu quả

cao hơn Cuốn sách Phát triển kinh tế vùng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Nguyễn Xuân Thu - Nguyễn Văn Phú (đcb), xuất bản năm 2006 đã chỉ ra quá

trình phân vùng, quy hoạch các vùng kinh tế từ luận cứ đến thực tiễn triển khai, các kết quả đạt được và các vấn đề tồn đọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Các tác giả cũng đã chỉ ra các mô hình phát triển kinh tế vùng được ứng dụng ở Việt Nam trong quá trình đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đồng thời chỉ ra những bất cập của từng mô hình và giải pháp khắc phục Năm 2011, Viện Việt Nam

học và Khoa học phát triển - ĐHQGHN tổ chức Hội thảo Cơ sở khoa học cho phát

Trang 26

17

triển vùng trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam, và kỷ yếu được xuất bản

thành sách Cuốn sách tập hợp các bài viết của nhiều học giả ở cả trong và ngoài nước về

cơ sở lý thuyết, phương pháp tiếp cận nghiên cứu về khoa học vùng và quy hoạch phát triển vùng của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế Các bài viết trong cuốn này đã chỉ ra những thành tựu cũng như những bất cập trong việc hoạch định, quy hoạch các vùng kinh tế của Việt Nam, chỉ ra lợi thế và khó khăn của một số vùng và đề xuất các giải pháp phát triển vùng trong giai đoạn sau Đặc biệt, trong nhóm này phải kể đến các

công trình của học giả Ngô Doãn Vịnh như: Một số vấn đề về quan hệ liên vùng và ảnh hưởng của nó đến việc phát triển vùng, xuất bản năm 1983; Vùng - Một số vấn đề lý luận

và thực tiễn, xuất bản năm 1998; Nghiên cứu chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế -

xã hội ở Việt Nam: học hỏi và sáng tạo, xuất bản năm 2003; Hướng tới sự phát triển của đất nước: Một số vấn đề lý thuyết và ứng dụng, xuất bản năm 2006; Chiến lược phát triển, bàn về tư duy và hành động có tính chiến lược, xuất bản năm 2007,… Trong các

công trình này, tác giả đã tập trung trình bày về các vấn đề như: cơ sở lý thuyết phân vùng, phát triển kinh tế vùng; lý thuyết về tính liên kết liên vùng trong quá trình phát triển; hệ thống các khái niệm “vùng”, “lãnh thổ”, “vùng kinh tế”, “vùng kinh tế trọng điểm” theo các cách tiếp cận và góc nhìn của cả các học giả trong nước và nước ngoài Bên cạnh đó, có những nghiên cứu đã làm rõ kinh nghiệm phát triển vùng của một số nước, với yêu cầu gắn chính sách phát triển kinh tế với chính sách phát triển

xã hội như Bùi Nhật Quang với Chính sách phát triển vùng của Italia, xuất bản năm

2006 hay Phạm Sĩ Thành với Trung Quốc tăng trưởng và chuyển đổi kinh tế (1949 - 2009), xuất bản năm 2011 Trong công trình của Phạm Sĩ Thành, tác giả đã trình bày

một cách cụ thể các lựa chọn của Trung Quốc về lý thuyết phát triển và các mô hình kinh tế qua các thời kỳ lịch sử cũng như là kết quả của các lựa chọn ấy Và để làm được điều đó, tác giả đã dựa vào hệ thống lý thuyết kinh tế học phương Tây đồng thời xây dựng một khung lý thuyết riêng mang tính đặc thù để nghiên cứu và lý giải về sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc trong giai đoạn từ năm 1949 đến năm 2009

Cũng nằm trong nhóm này, gần đây cuốn Phát triển bền vững khu vực biên giới Vân Nam (Trung Quốc) - Lào Cai (Việt Nam) trong bối cảnh mới do Nguyễn Đình Liêm

(cb), xuất bản năm 2019 đã cung cấp một hệ thống các khung lý thuyết, phương pháp nghiên cứu về phát triển bền vững vùng biên giới hai nước Việt Nam và Trung Quốc Đồng thời chỉ ra những yếu tố có tác động đến sự phát triển bền vững của vùng này

Trang 27

18

như lợi thế tự nhiên - xã hội; lợi thế về kết nối của hai khu vực; sự ổn định trong quan

hệ bang giao Việt - Trung, trong đó tác giả coi sự ổn định trong quan hệ bang giao giữa hai nước là cơ sở nền tảng cho sự phát triển bền vững Cuốn sách đã mô tả lại quá trình hợp tác phát triển của hai nước ở khu vực này trong lịch sử, đồng thời chỉ ra những yếu tố đảm bảo cho sự phát triển bền vững, những yếu tố trở ngại cho vấn đề này và khuyến nghị các giải pháp để khắc phục nhằm hướng đến một sự phát triển bền vững lâu dài Có thể nói, đây cũng là công trình mà phương pháp nghiên cứu liên ngành được sử dụng khá triệt để để dẫn giải và giải quyết các câu hỏi nghiên cứu

- Hai là, các công trình nghiên cứu về chính sách xã hội nói chung, trong đó có

đề cập đến chính sách phát triển xã hội đối với vùng dân tộc thiểu số Cuốn Vai trò của chính sách xã hội trong công cuộc đổi mới của Lê Phương Thảo xuất bản năm 2000, đã

chỉ những đặc điểm, phạm vi và nội dung của chính sách xã hội Đồng thời, tác giả đã làm rõ vai trò của chính sách xã hội trong quá trình đổi mới đất nước từ quan điểm, chủ trương đến việc triển khai trong thực tiễn, chỉ ra những thành tựu và hạn chế cũng như

là giải pháp đổi mới chính sách xã hội Cuốn Đổi mới chính sách xã hội - Luận cứ và giải pháp do Phạm Xuân Nam (cb),xuất bản năm 1997 đã chỉ ra những thay đổi trong triết lý về chính sách xã hội và các quan điểm, chủ trương của Đảng về chính sách xã hội Đồng thời, cuốn sách đã nêu ra những giải pháp triển khai hệ thống chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước trong quá trình đổi mới, nêu rõ những thành tựu và hạn chế

về giải quyết các vấn đề xã hội Cuốn Bình đẳng giới trong phát triển vùng đa dân tộc miền núi của Lê Thị Quý xuất bản năm 2005 đã đưa ra hệ thống lý thuyết và các

phương pháp tiếp cận nghiên cứu về bình đẳng giới ở nước ngoài và Việt Nam, trên cơ

sở đó mô tả lại hiện trạng bình đẳng giới trong phát triển vùng đa dân tộc miền núi ở Việt Nam từ quan điểm, chủ trương đến thực tiễn, đồng thời đánh giá những thành tựu

và hạn chế, chỉ ra những nguyên nhân của hạn chế và giải pháp để khắc phục

- Thứ ba là nhóm các công trình nghiên cứu về các thiết chế quản lý xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Việt Nam nói chung và Tây Bắc nói riêng, trong

đó có nêu lên tính tộc người, tính địa phương trong quản lý phát triển xã hội Thiết

chế quản lý phi quan phương được quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu, nhất là kết cấu buôn/làng/phum/sóc Đáng chú ý là các nghiên cứu của Doãn Hùng (chủ

nhiệm) với đề tài Đặc điểm truyền thống dân tộc Mường tỉnh Hoà Bình và dân tộc Thái tỉnh Sơn La ảnh hưởng tới việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở năm 2001;

Trang 28

19

Lê Ngọc Thắng (chủ biên), Lâm Bá Nam với cuốn Thiết chế xã hội cổ truyền các dân tộc thiểu số Việt Nam, xuất bản năm 1990; của Nguyễn Quốc Phẩm với cuốn Luật tục và ý thức pháp luật trong quản lý xã hội các dân tộc thiểu số, xuất bản năm

2002; Các nghiên cứu này bước đầu đã cho thấy những tác động trực tiếp và gián tiếp của thiết chế xã hội truyền thống đối với sự phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở từng vùng, tiểu vùng và từng cộng đồng tộc người Các tác giả Tô

Huy Rứa, Nguyễn Cúc, Trần Khắc Việt với cuốn Giải pháp đổi mới hoạt động của

hệ thống chính trị ở các tỉnh miền núi nước ta hiện nay, xuất bản năm 2004 đã mô

tả lại một cách có hệ thống các quam điểm, chủ trương cơ bản của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị ở các tỉnh miền núi, đồng thời cũng mô tả lại hiện trạng xây dựng hệ thống chính trị ở vùng này, chỉ ra những thành tựu đã đạt được và những vấn đề còn tồn đọng, khó khăn, thách thức, các yếu tố tác động và giải pháp đổi mới hoạt động xây dựng hệ thống chính trị ở miền núi Cùng chủ đề này Nguyễn Cúc,

Ngô Ngọc Thắng, Đoàn Minh Huấn (đcb) với cuốn Đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị ở các tỉnh miền núi phía Bắc - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn,

xuất bản năm 2005 đã chỉ ra mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị ở các tỉnh miền núi phía bắc từ lý luận đến thực tiễn, các quan điểm, chủ trương về đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị ở vùng này cũng như là quá trình triển khai trong thực tiễn và thành tựu, hạn chế Năm 2010, Khoa Chính trị học

thuộc Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I, đã xuất bản cuốn Chính trị học một số vấn đề lý luận và thực tiễn, mang tính chất như là một cuốn giáo trình, trong

đó có đề cập đến các vấn đề lý luận về ngành chính trị học và thực tiễn phát triển ngành chính trị học ở Việt Nam Cuốn sách này đã có một phần đề cập đến chính sách dân tộc cả về hệ thống lý thuyết lẫn phương pháp nghiên cứu

Đi vào các vấn đề cụ thể, Vũ Đình Hòe và Đoàn Minh Huấn trong cuốn Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên hiện nay, xuất bản năm 2008 đã nêu rõ các quan điểm, chủ trương của Đảng

về chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên Cuốn sách đã mô tả lại quá trình thực hiện, chỉ ra những thành tựu đã đạt được, đồng thời nói rõ những vẫn đề hạn chế và bất cập Các tác giả cũng đã đề xuất, kiến nghị các giải pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số trong các giai đoạn sau Hoàng Chí Bảo (cb) trong

Trang 29

tổng hợp lại hệ thống các lý thuyết và phương pháp tiếp cận nghiên cứu về tộc người

và chính sách phát triển tộc người của cả các học giả trong và ngoài nước Phê phán các hệ thống lý thuyết và phương pháp nghiên cứu mà các học giả đã áp dụng để nghiên cứu, xây dựng các mô hình phát triển tộc người Từ đó, chiêm nghiệm và đánh giá hệ thống chính sách của Nhà nước Việt Nam đối với các tộc người nói chung và với các tộc người ở vùng Tây Bắc nói riêng

- Thứ tư là nhóm các nghiên cứu về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nguồn nhân lực vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong đó có Tây Bắc Đề tài khoa

học “Xây dựng đội ngũ trí thức khoa học công nghệ ở tỉnh miền núi phía Bắc nước ta trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” do Doãn Hùng chủ nhiệm nghiệm thu năm 2004 đã chỉ rõ vai trò của việc xây dựng đội ngũ trí thức khoa học công nghệ và thực tiễn việc xây dựng đội ngũ trí thức khoa học công nghệ ở các tỉnh miền núi phía Bắc trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nêu rõ các quan điểm, chủ trương, chính sách cơ bản của Đảng và Nhà nước về xây dựng đội ngũ trí thức khoa học công nghệ ở vùng này, thực tiễn triển khai, các kết quả đạt được và những vấn đề hạn

chế, bất cập, đề xuất các giải pháp, khuyến nghị khắc phục Đề tài khoa học Phát huy vai trò già làng, trưởng bản người dân tộc thiểu số trong thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

do Nguyễn Ngọc Hà làm chủ nhiệm, nghiệm thu năm 2005 cũng đã chỉ ra vai trò của già làng, trưởng bản người dân tộc thiểu số trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở Trên cơ sở khảo sát thực tiễn ở một số địa phương trong cả nước, đề tài đã đánh giá hiệu quả của việc phát huy vai trò của già làng, trường bản trong việc thực hiện quy chế dân

chủ cũng như là chỉ ra những hạn chế của nó Trịnh Quang Cảnh với cuốn Phát huy vai

Trang 30

21

trò đội ngũ trí thức các dân tộc thiểu số nước ta trong sự nghiệp cách mạng hiện nay,

xuất bản năm 2005 cũng đã chỉ ra tính tích cực của việc phát huy vai trò của đội ngũ trí thức các dân tộc thiểu số ở nước ta trong việc xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới, đặc biệt là trong việc quản lý, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Cuốn sách Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá - luận cứ và giải pháp do Lê Phương Thảo,

Nguyễn Cúc và Doãn Hùng (đcb), xuất bản năm 2005 đã chỉ ra những ưu điểm, thành tựu và hạn chế, bất cập trong việc đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

và hội nhập quốc tế, trong đó, có những hạn chế, bất cập bắt nguồn từ chính sách cán

bộ của Nhà nước Có thể nói, đây là công trình hết sức quan trọng bởi nó cung cấp cho luận án những luận cứ, minh chứng cụ thể về một mảng của chính sách dân tộc

Cũng tiếp cận theo hướng này, cuốn Phát triển con người vùng Tây Bắc nước ta do

Phạm Thành Nghị (cb), xuất bản năm 2010, đã trình bày một cách khá toàn diện cả

về bối cảnh, điều kiện tự nhiên, xã hội và cư dân Tây Bắc, các cơ sở lý thuyết và phương pháp tiếp cận nghiên cứu về con người Tây Bắc, bối cảnh phát triển của con người vùng Tây Bắc, nhưng vấn đề cơ bản trong phát triển con người vùng Tây Bắc

và những giải pháp phát triển con người vùng Tây Bắc Cùng chủ đề này, năm 2012,

tác giả Nguyễn Đăng Thành đã xuất bản cuốn sách Phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Công trình này đã trình bày các chính sách và sự vận động của chính sách, tác

động của các điều kiện hiện tồn và di tồn, nội di và ngoại lai, nội lực và ngoại lực đối với nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số ở nước ta Từ đó, tác giả đưa ra các đề xuất về giải pháp phát triển nguồn nhân lực ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Cùng liên quan đến vấn đề giải pháp phát triển vùng dân tộc thiểu số phía Bắc, năm 2004, Uỷ ban Dân tộc, Viện Dân tộc

và Ngân hàng thế giới đã tổ xuất bản cuốn Xoá đói giảm nghèo vấn đề và giải pháp ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam Các bài viết trong cuốn sách đã đề cập đến các

vấn đề về cơ sở lý thuyết hình thành các quan điểm, chủ trương về chính sách xoá đói, giảm nghèo ở Việt Nam, nội dung của các chính sách, cơ chế, giải pháp thực hiện, những thành tựu và hạn chế đồng thời đề xuất một số giải pháp khắc phục cho giai đoạn sau Bên cạnh các công trình trên đây, trong nhóm này còn có các công trình nghiên cứu về tình trạng di cư, về vấn đề tôn giáo và tác động của các chính sách

Trang 31

pháp tiếp cận nghiên cứu về vấn đề di cư của cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến tình trạng di cư, diễn biến của quá trình di cư

vè hệ quả của nó Đặc biệt là trường hợp cụ thể của đồng bào Mông trong quá trình đổi mới đất nước, trong đó có vấn đề tác động của các chính sách dân tộc Về vấn

đề tôn giáo, tín ngưỡng, cuốn sách Giá trị và chức năng của Tin lành trong vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay do Vũ Thị Thu Hà (cb) xuất bản năm 2018 đã

chỉ ra các giá trị của đạo Tin lành, từ giá trị chân lý đến giá trị ý thức hệ, chức năng của đạo Tin lành và thực trạng tác động của các giá trị Tin lành đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay trên một số địa bàn cơ bản là Tây Bắc và Tây Nguyên Đồng thời, các tác giả cũng đã chỉ ra cả những tác động tiêu cực từ đạo Tin lành đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, từ đó đề xuất các giải pháp để khắc phục

và phát huy vai trò của Tin lành trong đời sống của đồng bào

Doãn Hùng (chủ nhiệm) với đề tài “Bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số ở vùng tái định cư thuộc dự án thủy điện Sơn La - Thực trạng và giải pháp”, công bố năm 2006 đã chỉ rõ thực trạng công tác di rời, tái định cư và những ảnh hưởng đến vấn đề văn hoá truyền thống và vấn đề bảo tồn văn hoá truyền thống cho cộng đồng các nhóm cư dân phải di rời, tái định cư cũng như là nhóm cư dân bản địa tiếp nhận Cùng chủ đề này, Phạm Văn Lợi và các cộng sự trong báo cáo tổng hợp đề

tài Nghiên cứu những biến đổi về đời sống kinh tế, đề xuất giải pháp phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội cư dân tái định cư thủy điện Sơn La năm 2014 cũng đã chỉ những biến

đổi về kinh tế, văn hoá, xã hội của nhóm cư dân di dân, tái định cư hồ thuỷ điện Sơn La dưới tác động của các chính sách di dân, tái định cư - một mảng của chính sách dân tộc

Bên cạnh đó, Nguyễn Quốc Phẩm (cb) với cuốn Công bằng và bình đẳng xã hội trong quan hệ tộc người ở các quốc gia đa tộc người, xuất bản năm 2006 đã mô

tả lại các quan điểm về công bằng và bình đẳng xã hội của một số quốc gia đa tộc

Trang 32

23

người và thực tiễn vấn đề thực hiện công bằng và bình đẳng xã hội ở các quốc gia này Các tác giả cũng đã chỉ ra những thành công cũng như là hạn chế của các quốc gia trong việc thực hiện bình đẳng và công bằng xã hội, từ đó rút ra một số kinh nghiệm và khuyến nghị cho Việt Nam Ngoài ra, còn có thể kể đến công trình khác

nữa như: Đỗ Quang Hưng với cuốn Một số vấn đề lịch sử Công giáo ở Việt Nam, xuất bản năm 1991 và cuốn Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam, xuất bản năm 2005, tái bản các năm 2007, 2009; Hà Quốc với Tình hình an ninh quốc phòng, tôn giáo ở vùng dân tộc ít người, ở vùng núi trong thời kỳ đổi mới - thực trạng và giải pháp, xuất bản năm 2002; Trương Minh Dục với cuốn Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên, xuất bản năm 2005;… Bên

cạnh đó, vấn đề di dân, đói nghèo, dân trí, thể chất con người, tàn phá rừng đầu nguồn cũng nhận được sự quan tâm sâu sắc của giới nghiên cứu với công trình của

Trần Văn Chử với Di dân với quá trình phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường ở nước ta hiện nay, công bố năm 2000; Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia với công trình Một số vấn đề phát triển kinh tế - xã hội buôn làng các dân tộc Tây Nguyên, công bố năm 2002; của Đặng Nguyên Anh với công trình Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh miền núi công bố năm 2006; Nguyễn Duy Thiệu (cb) với cuốn Di cư và chuyển đổi lối sống trường hợp cộng đồng người Việt ở Lào, xuất băn năm 2008; Cuốn Toàn cầu hoá văn hoá địa phương và phát triển cách tiếp cận nhân học của nhiều tác giả, xuất bản năm 2014; Cuốn Di cư của người dân tộc thiểu số đến Tây Nguyên từ năm 1975 đến năm 2015

của Nguyễn Duy Thuỵ, xuất bản năm 2016; các công trình này, dù tiếp cận dưới nhiều góc nhìn khác nhau song đều cố gắng thu thập dữ liệu thực địa để phân tích về vai trò của các vùng, của kinh tế vùng, đặc thù vùng kinh tế và vùng xã hội, sự bất cập trong chính sách phát triển vùng với cả hai ý nghĩa vùng kinh tế và vùng xã hội, cư dân Qua đó đưa ra những nhận định về xu hướng, điểm nóng và giải pháp để khắc phục

- Thứ năm là, nhóm các công trình nghiên cứu về chính sách dân tộc và tác động của chính sách dân tộc đến sự phát triển cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong đó có đề cập trực tiếp đến việc thực hiện chính sách dân tộc của Nhà nước ở vùng Tây Bắc Năm 2001, Phan Hữu Dật và Lâm Bá Nam đã xuất bản cuốn Chính sách dân tộc của các chính quyền nhà nước phong kiến Việt Nam (X-XIX), cuốn sách

đã chỉ ra được hệ thống các chính sách dân tộc của các vương triều phong kiến ở Việt Nam đối với cộng đồng quốc gia dân tộc nói chung và cộng đồng các dân tộc thiểu số

Trang 33

24

nói riêng Đồng thời chỉ ra mục tiêu, nguyên tắc và cách thức tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của các vương triều phong kiến từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX, cũng như là những hạn chế của các chính sách này Cũng trong năm 2001, Phan Hữu Dật và các

cộng sự đã xuất bản cuốn sách "Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay" gồm có 4 chương, trình bày cả cơ sở lý thuyết và

các phương pháp, nguyên tắc tiếp cận nghiên cứu về chính sách dân tộc và vấn đề dân tộc ở Việt Nam Cuốn sách này cũng đã chỉ ra những bất cập trong nghiên cứu về chính sách dân tộc và vấn đề dân tộc cũng như là những hạn chế của bản thân hệ thống chính sách dân tộc và các biện pháp giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam trong lịch sử cũng như hiện tại Đây là điều hết sức cần thiết cho tác giả luận án khi tiếp cận nghiên cứu về chính sách dân tộc ở vùng Tây Bắc

Cùng nằm trong chủ đề này, Đàm Thị Uyên năm 2007 đã cho tái bản lần thứ 2

cuốn Chính sách dân tộc của các triều đại phong kiến Việt Nam (Từ thế kỷ XI đến giữa thế kỷ XIX) Trong cuốn sách này, bằng phương pháp lịch sử tác giả đã mô tả lại hệ thống

các chính sách dân tộc của các vương triều phong kiến ở Việt Nam đối với các dân tộc thiểu số Tác giả cho rằng, chính sách dân tộc của các vương triều phong kiến gồm hai hệ thống: nhu viễn và cương bạo Đồng thời, tác giả mô tả lại các hình thức nhu viễn và cương bạo của chính sách dân tộc qua các giai đoạn lịch sử và ở các vương triều cụ thể

Tiếp đó, năm 2011 Lê Ngọc Thắng và các cộng sự cũng đã xuất bản cuốn "Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách dân tộc ở Việt Nam" Trong cuốn sách này, các tác giả đã

trình bày một cách khá rõ ràng, chi tiết các quan niệm về dân tộc, tộc người, tộc người thiểu số, tộc người đa số, chính sách dân tộc trong cách nhìn so sánh với các chính sách khác, về thực trạng hệ thống chính sách dân tộc ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó chỉ ra những hạn chế và phương hướng, giải pháp xây dựng, đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính sách dân tộc ở Việt Nam giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến 2020 Có thể nói, đây là cuốn sách cung cấp một cái nhìn khá toàn diện về các cơ sở lý thuyết và phương pháp tiếp cận nghiên cứu về chính sách dân tộc, đồng thời cuốn sách này cũng áp dụng nhiều nhất các phương pháp nghiên cứu để đánh giá về thực trạng của chính sách dân tộc

để từ đó rút ra những giải pháp đổi mới xây dựng hệ thống chính sách dân tộc

Đề cập trực tiếp đến vấn đề chính sách dân tộc ở vùng Tây Bắc có thể kể đến

cuốn Đảng bộ và nhân dân các tỉnh Tây Bắc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng

của Thào Xuân Sùng năm 1998 Cuốn sách trình bày về chính sách dân tộc của Đảng trong giai đoạn cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội; Đảng bộ và nhân dân các tỉnh

Trang 34

25

Tây Bắc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng; Những giải pháp cơ bản về vấn đề dân tộc ở Tây Bắc nước ta trước đổi mới và những năm đầu đổi mới; Những thành tựu và hạn chế, tồn đọng, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp đổi mới thực hiện chính

sách dân tộc ở Tây Bắc Gần đây, luận án tiến sĩ Chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam của Nguyễn Lâm Thành, bảo vệ năm 2014 đã hệ thống

hoá lại và trình bày nội dung hệ thống các chính sách phát triển vùng DTTS của Nhà nước được thực thi ở các tỉnh phía Bắc, quy trình ban hành cũng như là hiệu quả của chính sách Trên cơ sở đó, rút ra những ưu điểm, hạn chế và các đề xuất khuyến nghị

về đổi mới chính sách phát triển cho vùng các DTTS ở Việt Nam Có thể nói, luận án này đã cung cấp cho NCS một cái nhìn tổng thể về các chính sách phát triển vùng DTTS của Nhà nước ở miền núi phía Bắc

Một công trình khác, đó là cuốn luận án tiến sĩ Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc ở một số tỉnh Tây Bắc từ năm 1996 đến năm 2006 của Trần

Thị Mỹ Hường năm 2012 đã hệ thống hoá lại các công trình nghiên cứu về quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc, những quan điểm, chủ trương chung của Đảng về chính sách dân tộc, nguyên tắc của chính sách dân tộc Đặc biệt là trong công trình bày, tác giả đã hệ thống hoá được toàn bộ các quan điểm, chủ trương cơ bản của Đảng về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc đối với cùng Tây Bắc, quá trình chỉ đạo thực hiện và các kết quả đạt được Từ đó rút ra những nhận xét đánh giá về ưu điểm, hạn chế của việc định hướng chính sách dân tộc của Đảng đối với vùng Tây Bắc Cũng tiếp

cận dưới góc nhìn Lịch sử Đảng có thể kể đến luận án tiến sĩ Đảng bộ tỉnh Sơn La lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc (1991 - 2010) của Phạm Xuân Thu, bảo vệ năm

2018 Luận án này nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Sơn La vận dụng chủ trương, quan điểm của Đảng (trong thời gian từ năm 1991 đến năm 2010) về việc lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc vào điều kiện thực tiễn của địa phương

Ngoài những công trình trên đây có thể kể đến một số công trình khác có nghiên cứu trực tiếp về các chính sách cụ thể trên từng lĩnh vực ở vùng Tây Bắc như: Phạm

Trung Lương (chủ biên) với cuốn Du lịch sinh thái những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam, xuất bản năm 2002; Lương Thị Thu Hằng với cuốn Quản lý cộng đồng về đất đai của người Thái ở vùng Tây Bắc Việt Nam, xuất bản năm 2015;

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam với

cuốn Xây dựng cơ chế chính sách đặc thù về du lịch khu vực Tây Bắc, xuất bản năm 2016; Nguyễn Văn Khánh (cb) với cuốn Phát triển bền vững vùng Tây Bắc: Từ chính

Trang 35

26

sách đến thực tiễn, xuất bản năm 2016; Ban Chỉ đạo Tây Bắc, Bộ Khoa học và Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội, UBND tỉnh Hoà Bình (2016): Kỷ yếu Hội thảo Khoa học và công nghệ thúc đẩy liên kết và phát triển vùng Tây Bắc; Uỷ ban Dân tộc với cuốn Kết quả điều tra thực trạng kinh tế - xã hội 53 dân tộc thiểu số năm 2015, xuất

bản năm 2016; Ban Dân vận Trung ương Đảng, Thào Xuân Sùng chủ biên với cuốn

Xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận người dân tộc thiểu số trong thời kỳ mới, xuất bản

năm 2016;… Các công trình này đã tiếp cận, nghiên cứu và đánh giá về việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói chung và những chính sách cụ thể đối với từng lĩnh vực, trong đó có chính sách dân tộc của Nhà nước ở vùng Tây Bắc

1.2 Kết quả nghiên cứu của các công trình đã được công bố và những vấn

đề luận án cần nghiên cứu, giải quyết

1.2.1 Một số nhận xét, đánh giá về các công trình nghiên cứu có liên quan

Từ tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài của luận án mà chúng tôi đã đề cập trên đây có thể rút ra một vài nhận xét như sau:

Thứ nhất, các công trình của các nhóm nghiên cứu về cộng đồng các dân tộc

Việt Nam nói chung và cộng đồng các dân tộc ở Tây Bắc nói riêng ở cả trong nước

và nước ngoài là hết sức đa dạng và phong phú về hướng tiếp cận Điều này không chỉ thể hiện ở sự dày đặc của các công trình mà còn thể hiện ở tính khu biệt, cụ thể

về đối tượng, lĩnh vực nghiên cứu của từng chuyên ngành chuyên sâu Điều đó cho thấy tính hấp dẫn và quan trọng của đối tượng nghiên cứu, đặc biệt là đối với cộng đồng các dân tộc các dân tộc Tây Bắc Việt Nam

Thứ hai, tổng quan nghiên cứu cũng cho thấy, bên cạnh sự đa dạng về hướng

tiếp cận thì còn có sự đa dạng về lý thuyết và phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong các công trình Theo đó, hướng tiếp cận nghiên cứu liên ngành và đa ngành ngày càng trở nên quan trọng và được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về cộng đồng các dân tộc Việt Nam nói chung và cộng đồng các dân tộc Tây Bắc nói riêng

Thứ ba, việc nghiên cứu về chính sách dân tộc cũng được tiếp cận dưới nhiều

góc nhìn của nhiều chuyên ngành, lĩnh vực chuyên sâu khác nhau, bao gồm trong

đó cả lịch sử, chính trị học, kinh tế học, văn hoá học, dân tộc học và nhân học, xã hội học,… Có những công trình chỉ thuần tuý mô tả lại chính sách dân tộc, có những công trình nghiên cứu, đánh giá về tác động của chính sách dân tộc đến đời sống của một tộc người hoặc một nhóm tộc người, có những công trình lại tiếp cận nghiên cứu về chính sách dân tộc dưới góc nhìn của chính sách phát triển vùng trong sự phát triển tổng thể của quốc gia, có những công trình lại thiên về cơ sở,

Trang 36

27

triết lý hình thành chính sách dân tộc Điều này đã tạo ra sự đa dạng và phong phú

về số lượng, cách thức tiếp cận, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu về chính sách dân tộc Đồng thời cũng cung cấp những nguồn tư liệu hết sức phong phú về thực tiễn triển khai và hệ quả mà chính sách mang lại

Thứ tư, hầu hết việc trình bày về chính sách dân tộc của Nhà nước được triển

khai ở vùng Tây Bắc trong giai đoạn 2001 - 2011 thường được trình bày lồng ghép trong nội dung của các công trình Trong một số công trình, chính sách dân tộc được trình bày thành một mục riêng, song với dung lượng khá ngắn do đó nó chưa thể hiện hết tính toàn diện và hệ thống của vấn đề Ngoài ra, cũng có những công trình lại tiếp cận nghiên cứu từng mảng riêng của chính sách dân tộc như xoá đói, giảm nghèo, phát triển nguồn nhân lực hoặc hỗ trợ phát triển kinh tế hay là chính sách phát triển văn hoá tộc người Điều này cho phép các công trình trình bày được một cách kỹ lưỡng về một vấn đề song lại thiếu tính tổng thể, hệ thống cần có để có thể hình dung toàn bộ các nội dung của chính sách dân tộc cũng như vai trò, tác động của nó đối với cộng đồng các dân tộc Tây Bắc trong giai đoạn 2001 - 2011

1.2.2 Một số vấn đề đặt ra mà luận án cần nghiên cứu, giải quyết

Từ tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án có thể thấy, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở Việt Nam trong đó có vùng Tây Bắc Các kết quả nghiên cứu của các công trình này là đáng tin cậy và có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn, song nó cũng cho thấy còn một số vấn đề cần phải tiếp tục giải quyết, đó là:

Thứ nhất, cho đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có một công trình nào nghiên

cứu độc lập và có hệ thống về chính sách dân tộc của Nhà nước đối với vùng Tây Bắc, bao gồm cả những chính sách chung cho cộng đồng các dân tộc được áp dụng

ở vùng Tây Bắc và những chính sách riêng cho vùng Tây Bắc trong 10 năm từ 2001 đến năm 2011 Do đó việc nghiên cứu, hệ thống hóa lại các chính sách dân tộc của Nhà nước ở vùng Tây Bắc trong 10 năm đầu thế kỷ XXI là một mục tiêu mà luận án này muốn hướng đến để giải quyết

Hai là, chính sách dân tộc của Nhà nước luôn luôn có sự bổ sung và điều

chỉnh, song các công trình trên đây mới chỉ trình bày được những chính sách cơ bản

mà chưa cho thấy được diễn trình phát triển của chính sách cũng như những tác động của nó đến cộng đồng các dân tộc Tây Bắc, nhất là trong giai đoạn 2001 -

2011 Đây cũng là một vấn đề mà luận án này sẽ cố gắng tiếp cận để giải quyết

Trang 37

28

Ba là, luận án này sẽ cố gắng nhận diện, trình bày một cách có hệ thống các

hợp phần của chính sách dân tộc của Nhà nước ở vùng Tây Bắc từ năm 2001 đến năm 2011, quá trình thực hiện trong thực tiễn để từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá một cách toàn diện về hệ thống chính sách này

Bốn là, dưới góc nhìn lịch sử của vấn đề, việc nghiên cứu toàn diện và có hệ

thống chính sách dân tộc của Nhà nước đối với vùng Tây Bắc từ năm 2001 đến năm

2011 sẽ có thể đúc rút được những kinh nghiệm cho việc ban hành và thực thi chính sách dân tộc ở vùng này trong những năm tiếp theo Đây cũng là một vấn đề mà trong khuôn khổ nhất định, luận án sẽ cố gắng giải quyết

1.2.3 Một số khái niệm có liên quan được sử dụng trong luận án

- Khái niệm “dân tộc”: Theo các tác giả cuốn Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay thì: "Dân tộc

hay quốc gia - dân tộc (Nation) là một cộng đồng chính trị - xã hội, được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, có tên gọi, một ngôn ngữ hành chính (trừ trường hợp cá biệt), một sinh hoạt kinh tế chung, với những biểu tượng văn hoá chung,

tạo nên tính cách dân tộc"[15, tr 34] Còn các tác giả cuốn Từ điển bách khoa Việt Nam

cùng cho rằng: "1- Dân tộc (nation) hay quốc gia - dân tộc là một cộng đồng chính trị -

xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiếp lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên mình bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người (ethnie) của bộ phận tộc người Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau,…; 2- Dân tộc (ethnie) còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người… Cộng đồng này có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc (nation) sinh sống ở nhiều quốc gia - dân tộc khác nhau được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hoá và nhất là ý thức tộc người”[225, tr 655] Với cách hiểu này dân tộc Việt Nam (Etat Ethnic/Nation) bao gồm nhiều tộc người khác nhau liên kết lại, hay nói cho đúng hơn, dân tộc Việt Nam là khối cộng đồng quốc gia dân tộc bao gồm nhiều dân tộc/tộc người (Minority Ethnic groupe) hợp lại Dân tộc (nation) có quan hệ mật thiết với tộc người (ethnic) nhưng không đồng nhất Dân tộc (hay dân tộc - quốc gia) là một cộng đồng chính trị-xã hội, được thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, được quản lý bởi một nhà nước, cùng có chung một vận mệnh lịch sử, dùng chung một tiếng nói/ngôn ngữ hành chính (trừ trường hợp cá biệt), có chung một sinh hoạt kinh tế hay một thị trường và có chung một tính cách dân tộc thể hiện trong lối sống và những biểu tượng văn hóa chung, tạo nên một đặc tính dân tộc

Trang 38

29

- Khái niệm dân tộc với nghĩa “tộc người” - Ethnie: Thuật ngữ tộc người xuất

hiện vào khoảng cuối thế kỷ XIX, ban đầu nó được dùng để chỉ các nhóm tộc người (groupe ethnie), hay đơn vị tộc người (unité Ethnie) Trong dân tộc học, khi đó Ethnie tương ứng như: ethnic, ethnos, ethikum, ethnea,… Cho đến khoảng những năm 60 của thế kỷ XX, thuật ngữ Ethnie mới được sử dụng rộng rãi, kể cả ở Liên Xô (Hiến pháp Liên Xô 1977 dùng Ethnos thay cho bộ tộc, bộ lạc,…) Mặc dù các trường phái dân tộc học có nhiều quan điểm khác nhau về tộc người, xong tất cả đều thống nhất: Tộc người chỉ các cộng đồng mang tính tộc người bất kỳ, kể cả các cộng đồng tộc người chủ thể của các quốc gia, và các cộng đồng tộc người thiểu số trong các quốc gia, vùng miền, không phân biệt đó là cộng đồng tộc người tiến bộ, hay cộng đồng tộc người còn đang trong quá tình phát triển Theo đó, “Tộc người hay dân tộc (theo thuật ngữ thường dùng) ethnie - là một cộng đồng mang tính tộc người, có chung một tên gọi, một ngôn ngữ (trừ trường hợp cá biết), được liên kết với nhau bằng những giá trị sinh hoạt văn hoá tạo thành một tính cách tộc người, có chung một ý thức tự giác tộc người, tức là có chung một khát vọng cùng chung sống, có chung một số phận lịch sử thể hiện ở những

ký ức lịch sử (truyền thống, lịch sử, huyền thoại, kiêng cữ)"[15, tr 35]

- Về quan niệm dân tộc đa số và dân tộc thiểu số

Dân tộc đa số là dân tộc có số người đông nhất trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tức là dân tộc Kinh (Việt), dùng thuật ngữ này là nói trên phạm vi cả nước chứ không là nói trên địa bàn vùng hoặc địa phương nào đó

Thuật ngữ dân tộc thiểu số là chỉ những dân tộc có số người ít hơn so với dân tộc

đa số Cùng quan điểm này, Nguyễn Đăng Thành cho rằng "Gọi tộc người thiểu số là

để phân biệt với tộc người đa số mà tiêu chí phổ dụng là xem xét tỉ lệ dân số tộc người trong tổng dân số quốc gia" [194, tr 19] Theo các cách hiểu đó, “Dân tộc thiểu số” được dùng trong trường hợp của luận án này chính là “tộc người thiểu số” (ethnic minorities) Việc gọi là “dân tộc” hay “tộc người” chỉ theo thói quen hoặc ngữ cảnh Một tộc người chỉ được xem là thiểu số khi đặt dân số tộc người đó với tổng dân số cả nước chứ không xem xét ở phạm vi vùng hay địa phương

- Khái niệm chính sách: Hiểu một cách giản đơn chính sách là chương trình

hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào

đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình Theo James Anderson thì "Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm"[153, tr 45] Còn theo William Jenkin:

Trang 39

30

“Chính sách cũng là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các

giải pháp để đạt được mục tiêu đó”[153, tr 45]

Ở Việt Nam, Từ điển Bách khoa Việt Nam cho rằng: “Chính sách là những chuẩn

tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh

tế, văn hóa ”[224, tr 475] Các tác giả cuốn Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách dân tộc ở Việt Nam cho rằng, chính sách “là những sách lược và kế hoạch cụ thể

nhằm đạt một mục đích nhất định dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực

tế mà đề ra”[17, tr 20] Ở một góc tiếp cận khác, các tác giả cuốn Kỹ năng phân tích và hoạch định chính sách cho rằng: "Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế

hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội" [192, tr 11] Có thể nói, ở Việt Nam hiện nay khái niệm này được coi trường quy và sử dụng phổ thông, vì thế luận án cũng sử dụng cách định nghĩa này làm công cụ để nhận dạng và phân loại chính sách dân tộc

- Khái niệm chính sách dân tộc: Theo nghĩa chung nhất thì chính sách dân tộc

được hiểu là “tập hợp những quan điểm, đường lối, chính sách và những giải pháp thực hiện của nhà nước, tác động trực tiếp đến các dân tộc và mối quan hệ dân tộc

đang tồn tại” [17, tr 20] Cụ thể hơn, các tác giả của cuốn sách Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách dân tộc ở Việt Nam cho rằng: “Chính sách dân tộc là sách

lược và kế hoạch cụ thể của Đảng và Nhà nước ta về các lĩnh vực chính trị, kinh tế,

xã hội, văn hóa… tác động đến các dân tộc và mối quan hệ giữa các dân tộc, tương ứng với từng giai đoạn cách mạng dựa trên nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các dân tộc, xây dựng một nước Việt Nam phát triển, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công

bằng, văn minh” [17, tr 22] Từ một góc nhìn khác, các tác giả cuốn Về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta cho rằng: "Chính sách dân tộc được hiểu là hệ

thống những quyết sách của Đảng, Nhà nước được thực thi thông qua bộ máy hành pháp nhằm quản lý và phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội đối với các dân tộc và vùng đồng bào dân tộc nhằm thiết lập sự bình đẳng và hoà nhập phát triển, củng cố, tăng cường sự đoàn kết thống nhất của cộng đồng các dân tộc Việt Nam"

Trang 40

31

[226, tr 34] Tuy nhiên, theo tác giả luận án thì thực tiễn đã cho thấy mỗi một cộng đồng tộc người đều thuộc về một quốc gia nhất định và đều chịu sự quản lý của hệ

thống chính trị quốc gia đó Do vậy, theo tác giả luận án thì: Chính sách dân tộc là

hệ thống các sách lược, kế hoạch và quyết định của chủ thể quản lý cộng đồng dân tộc - hệ thống chính trị - về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa… tác động đến các dân tộc và mối quan hệ giữa các dân tộc, được thiết lập dựa trên cơ

sở nhận thức lý luận và thực tiễn của quốc gia dân tộc ở các giai đoạn phát triển nhất định, nhằm mục đích quản lý và phát triển bền vững cộng đồng dân tộc một cách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau từ đó thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững của quốc gia dân tộc Công cụ để thực thi chính sách dân tộc là

bộ máy hành pháp của chính quyền Nhà nước

Tiểu kết chương 1

Có thể thấy, với đặc trưng là một quốc gia đa dân tộc, một vùng đa tộc người thì Việt Nam nói chung cũng như Tây Bắc nói riêng luôn là một đối tượng nghiên cứu hấp dẫn đối với các học giả ở cả trong và ngoài nước với nhiều góc tiếp cận khác nhau, trong đó có vấn đề chính sách dân tộc của Nhà nước ở vùng Tây Bắc Việc tiếp cận nghiên cứu dưới nhiều góc độ như vậy đã tạo nên tính đa dạng, phong phú của các công trình nghiên cứu ở cả trong và ngoài nước Tuy nhiên, tổng quan các công trình nghiên cứu cũng cho thấy việc nghiên cứu về chính sách dân tộc ở vùng Tây Bắc thường được tiếp cận ở từng mảng chính sách đơn lẻ như: chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách phát triển kinh tế, chính sách phát triển văn hóa, chính sách

an sinh xã hội, chính sách phát triển nguồn nhân lực, chính sách cán bộ,… để từ đó rút ra những nhận định, đánh giá về thành công cũng như hạn chế của từng chính sách và đề xuất các giải pháp khắc phục Do đó, cho đến thời điểm hiện tại vẫn chưa

có công trình độc lập nào nghiên cứu về hệ thống chính sách dân tộc của Nhà nước đối với vùng Tây Bắc giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2011 một cách toàn diện và thấu đáo trong khi đây là giai đoạn có nhiều diễn biến phức tạp về vấn đề dân tộc và

có nhiều chính sách dân tộc được ban hành để giải quyết những vấn đề nảy sinh Điều này đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu để có được cái nhìn hệ thống, toàn diện về hệ thống chính sách dân tộc của Nhà nước đối với vùng Tây Bắc giai đoạn này, đánh giá được những ưu điểm và hạn chế, đồng thời rút ra một số kinh nghiệm cho giai đoạn sau Đây vừa là lý do, vừa là mục tiêu cơ bản của luận án này và chắc chắn rằng, các nghiên cứu của các học giả đi trước sẽ được NCS kế thừa để thực hiện luận án

Ngày đăng: 07/03/2020, 23:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w