1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổ chức bản của người nùng phàn slình ở huyện đồng hỷ, tỉnh thái nguyên

214 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 214
Dung lượng 4,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Chỉ rõ nguồn gốc tộc người, lịch sử cư trú của người Nùng Phàn Slình, những đặc điểm kinh tế - văn hóa - xã hội và khái quát địa bàn nghiên cứu.- Nghiên cứu hình thức cư trú, cấu trúc

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐÀM THỊ TẤM

TỔ CHỨC BẢN CỦA NGƯỜI NÙNG PHÀN SLÌNH

Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

Hà Nội, 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC

THANH PGS.TS LÂM BÁ NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những tư liệu và số liệu trong luận án làtrung thực do tôi thực hiện Đề tài nghiên cứu và các kết luận chưa được ai công bố

Tác giả luận án

Đàm Thị Tấm

Trang 4

Khoa Dân tộc học/Nhân học thuộc Học viện Khoa học Xã hội đã giúp tôitrong quá trình học tập và hoàn thành các thủ tục của khóa đào tạo.

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới UBND huyện Đồng Hỷ và UBND các xã(Hòa Bình, Tân Long, Văn Hán và Văn Lăng), cán bộ và nhân dân các bản thuộccác xã khảo sát của luận án, đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tận tình cho tôi trongsuốt thời gian điền dã để lấy tư liệu viết luận án từ năm 2013 đến hết 2019

Cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã khích lệ, động viên, tạo điều kiệntốt nhất cho tôi khi thực hiện luận án

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn NgọcThanh và PGS.TS Lâm Bá Nam, đã tận tình chỉ bảo tôi trong việc định hướngnghiên cứu, tiếp cận lý thuyết và phương pháp nghiên cứu, thu thập tư liệu và hiệnthực hóa các ý tưởng khoa học, để tôi hoàn thành luận án này./

Xin trân trọng cám ơn!

Tác giả luận án

Đàm Thị Tấm

Trang 5

UBTVQH Uỷ ban thường vụ Quốc hội

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỘC NGƯỜI NGHIÊN CỨU 8

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8

1.2 Cơ sở lý thuyết 16

1.3 Khái quát về huyện Đồng Hỷ và người Nùng Phàn Slình 24

1.4 Khái quát về các điểm nghiên cứu 39

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM, CẤU TRÖC BẢN CỦA NGƯỜI NÙNG PHÀN SLÌNH 44

2.1 Một số tiêu chí phân loại bản 44

2.2 Tên gọi của bản 45

2.3 Nguyên tắc lập bản 48

2.4 Tổ chức không gian của bản 50

2.5 Thành phần dân cư trong bản 58

Chương 3: CÁC THIẾT CHẾ VÀ QUAN HỆ XÃ HỘI TRONG BẢN 73

3.1 Sở hữu và sử dụng đất đai 73

3.2 Hình thức quản lý bản 84

3.3 Quan hệ cộng đồng trong bản 105

3.4 Mối quan hệ giữa bản người Nùng Phàn Slình với bản của dân tộc khác 112

Chương 4: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG, XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI CỦA BẢN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 116

4.1 Những yếu tố tác động đến biến đổi bản 116

4.2 Xu hướng biến đổi 128

4.3 Một số vấn đề đặt ra trong giai đoạn hiện nay 135

4.4 Một số khuyến nghị và giải pháp 143

KẾT LUẬN 148

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Số lượng nhà sàn ở các điểm nghiên cứu năm 2018 57Bảng 2.2 Số hộ, số người và quy mô gia đình ở 11 bản người Nùng Phàn

Slình năm 2018 60Bảng 3.1: Tình hình địa chủ và phú nông các dân tộc thiểu số các huyện Đại

Từ, Định Hóa, Phú Lương, Đồng Hỷ và Võ Nhai 76Bảng 3.2: Diện tích ruộng đất thuộc quyền sử dụng của một số hộ người Nùng

Phàn Slình ở bản Cầu Mai, xã Văn Hán năm 1993 80Bảng 3.3: Diện tích ruộng đất thuộc quyền sử dụng của một số hộ người Nùng

Phàn Slình ở bản La Đùm, xã Văn Hán năm 1993 81Bảng 3.4: Diện tích ruộng đất thuộc quyền sử dụng của một số hộ người Nùng

Phàn Slình ở bản Ba Đình xã Tân Long năm 1993 82Bảng 3.5 Diện tích ruộng đất thuộc quyền sử dụng của một số hộ người Nùng

Phàn Slình ở bản Đồng Mẫu, xã Tân Long năm 1993 82Bảng 3.6: Diện tích ruộng đất thuộc quyền sử dụng của một số hộ người Nùng

Phàn Slình ở bản Làng Mới, xã Tân Long năm 1993 83

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Tỉ lệ % các dòng họ ở bản Tân Đô 67

Biểu đồ 2.2: Tỉ lệ % các dòng họ ở bản Đồng Vung 67

Biểu đồ 2.3: Tỉ lệ % các dòng họ ở bản Ba Đình 68

Biểu đồ 2.4: Tỉ lệ % các dòng họ ở bản Đồng Mẫu 68

Biểu đồ 2.5: Tỉ lệ % các dòng họ ở bản Đồng Mây 69

Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ % các dòng họ ở bản Làng Mới 69

Biểu đồ 2.7: Tỉ lệ % các dòng họ ở bản La Đùm 70

Biểu đồ 2.8: Tỉ lệ % các dòng họ ở bản Khe Quân 70

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tổ chức bản (làng) đóng một vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa - xãhội của các tộc người thiểu số ở trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam Đó làchiếc nôi mà mỗi con người được sinh ra, lớn lên và hòa nhập cùng cộng đồng; nơi

họ được bao bọc, chở che, nuôi dưỡng và gắn bó qua bao năm tháng cuộc đời Bảnthể hiện tính cộng đồng và tính tự quản, hàm chứa các giá trị nhân văn sâu sắc, gópphần gìn giữ những nét văn hóa truyền thống đặc trưng của tộc người thông quaviệc duy trì phong tục tập quán, hương ước, quy ước và những quy định bất thànhvăn Bản có vai trò gắn kết các thành viên trong cộng đồng lại với nhau thành mộtkhối thống nhất, bền chặt trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển; là khônggian văn hóa chứa đựng tinh thần cộng cảm, cộng mệnh giữa con người với nhau.Nhà nối tiếp nhà, bản nối tiếp bản tạo thành một tổng thể không gian hài hòa giữathiên nhiên - đất trời - con người

Trải qua một quá trình lịch sử và văn hóa lâu dài, tổ chức bản của các tộcngười thiểu số nhìn chung đã trải qua nhiều thay đổi, đặc biệt là trong thế kỷ XX -thời đại của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước, và thế kỷ XXI

- thời đại của toàn cầu hóa, hội nhập và phát triển Trong bối cảnh giao lưu, giaothoa, tiếp biến văn hóa được đẩy mạnh, cùng với sự tác động của các chủ trương,chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, tổ chức bản đang ngày càng chuyểndịch theo hướng hiện đại, từ tên gọi, quy mô, cấu trúc cho đến các quan hệ xã hội,phong tục tập quán xoay quanh nó Những thay đổi này phần nào đã phù hợp với sựvận động tất yếu của lịch sử, với yêu cầu của công cuộc Đổi mới; mặt khác cũngtiềm ẩn nhiều vấn đề cần phải suy nghĩ về quản trị xã hội và công tác văn hóa

Tỉnh Thái Nguyên có nhiều nhóm Nùng có nguồn gốc từ các tỉnh lân cận nhưLạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang Riêng nhóm Nùng Phàn Slình chủ yếu cónguồn gốc từ vùng Bình Gia, Văn Quan, Cao Lộc (Lạng Sơn), hiện nay cư trú ở VõNhai, Đồng Hỷ và Đại Từ [105, tr.527 - 528] Theo Kết quả sơ bộ của cuộc Tổngđiều tra dân số và nhà ở tháng 7/2019, dân số toàn tỉnh Thái Nguyên là 1.286.751

Trang 10

người, các dân tộc khác là 384.379 người Dân số toàn huyện Đồng Hỷ là 90.709người, trong đó dân tộc Nùng có 17.178 người chiếm 18,93% dân số.

Trước những thuận lợi và khó khăn của thời cuộc, bản của người Nùng PhànSlình ở Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên cũng có những vấn đề cần phải xem xét trong

xu thế phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội hiện nay của đất nước Bản truyền thốngkhông đơn thuần chỉ chứa những yếu tố cũ, lạc hậu, mà còn có những yếu tố vănhóa tích cực góp phần quan trọng vào việc xây dựng nông thôn mới ở địa phương.Làm thế nào để đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào phát triển đi lên mà vẫn giữđược những nét văn hóa mang đậm bản sắc văn hóa riêng vốn có của dân tộc mình

là một điều rất cấp thiết trong thời điểm hiện nay Chính vì vậy, nghiên cứu về bảncủa người Nùng, cụ thể là bản của người Nùng Phàn Slình ở huyện Đồng Hỷ tỉnhThái Nguyên là việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Bên cạnh đó, tính cho đến thời điểm này, vấn đề bản của người Nùng PhànSlình ở Đồng Hỷ, Thái Nguyên vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào,các công trình nghiên cứu về người Nùng trước đó chủ yếu về các lĩnh vực: nhà cửa,trang phục, ẩm thực, tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội… Việc đi sâu tìm hiểu tổ chức bảncủa người Nùng Phàn Slình sẽ góp phần bổ sung khoảng trống học thuật đó

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Chỉ ra những yếu tố tác động đến sự biến đổi của tổ chức bản truyền

thống của người Nùng Phàn Slình ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Giới thiệu tổng quan tình hình nghiên cứu của các tác giả ngoài nước vàtrong nước về làng/bản; vận dụng một số lý thuyết và các khái niệm liên quan đếnnội dung luận án

Trang 11

- Chỉ rõ nguồn gốc tộc người, lịch sử cư trú của người Nùng Phàn Slình, những đặc điểm kinh tế - văn hóa - xã hội và khái quát địa bàn nghiên cứu.

- Nghiên cứu hình thức cư trú, cấu trúc và các mối quan hệ xã hội của bản truyền thống và biến đổi

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là tổ chức bản của người Nùng PhànSlình, bao gồm các nội dung: đặc điểm cư trú, cấu trúc bản và các mối quan hệ xãhội truyền thống và biến đổi

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: luận án tập trung nghiên cứu sâu tại các xã Hòa Bình,

Tân Long, Văn Hán và Văn Lăng, đây là những địa phương có nhiều người NùngPhàn Slình sinh sống trên địa bàn huyện Đồng Hỷ Sau khi di cư đến Thái Nguyên,

về cơ bản họ đã định cư ổn định ở những nơi này, không có nhiều sự dịch chuyểndân cư đáng chú ý

Phạm vi thời gian: Trước năm 1945 và từ sau năm 1945 đến nay (2019).

NCS chọn mốc thời điểm này để xem xét sự biến đổi của bản người Nùng Phàn

Slình Bởi vì sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủCộng hòa (sau này là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đã xóa bỏ hệ thốngquản lý hành chính của Nhà nước phong kiến Việt Nam và của chính quyền thựcdân Pháp, từng bước thay thế bằng hệ thống quản lý hành chính và dân cư mới,đồng thời đặt tổ chức bản - theo một cách nửa chính thức - dưới sự quản lý của hệthống đó cùng với những tên gọi và phương thức tự quản mới

Thực ra thì tổ chức bản cũng chứng kiến sự thay đổi khá lớn qua một số mốclịch sử của đất nước Nhìn chung, thời điểm năm 1945 tổ chức bản chịu sự chi phốirất lớn của các tổ chức chính trị - xã hội như Đảng, chính quyền, mặt trận Bản trởnên mờ nhạt trong thời kỳ tổ chức hợp tác xã bậc cao và mở rộng hợp tác xã trênphạm vi cả nước (1960 - 1986) Từ Đổi mới đến nay, đặc biệt là từ năm 1995, tính

tự quản của bản lại được đề cao với sự nổi lên của vai trò trưởng xóm thay thế chochủ nhiệm hợp tác xã

Trang 12

Hơn nữa, trong các tài liệu lịch sử và dân tộc học, bản của người Nùng (vàthiết chế làng bản của các tộc người ở Việt Nam nói chung) thường được mô tả dướigóc nhìn truyền thống Điều này ít nhiều tạo sự thuận tiện cho NCS khi liên hệ sosánh giữa bản truyền thống với bản hiện đại.

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

Luận án được trình bày và biện giải theo quan điểm duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin trong khảo tả, phân tích về vấn đề cấutrúc bản, tổ chức xã hội của bản

Bên cạnh đó, Luận án còn dựa trên những quan điểm của Đảng và Nhà nướcthể hiện qua việc xây dựng thiết chế mới, trên cơ sở kế thừa những giá trị trong thời

kì cách mạng và xây dựng nông thôn mới

Ngoài ra, luận án còn kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các nhà dântộc học trên thế giới và của Việt Nam về nghiên cứu làng, bản của các dân tộc thiểu

số nói chung và người Nùng nói riêng

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, NCS vận dụng một sốphương pháp nghiên cứu chuyên ngành như: phương pháp điền dã Dân tộc học,phương pháp so sánh, phương pháp biểu đồ, phương pháp thu thập, tổng hợp vàkhai thác tài liệu thứ cấp Trong đó, phương pháp điền dã Dân tộc học là chủ yếuvới các hình thức sau:

- Quan sát, quan sát tham dự: NCS đã quan sát trực tiếp nguồn tài nguyên, nguồn nước, khu vực sản xuất, nơi chăn thả gia súc, nghĩa địa, rừng ma Đồngthời tham gia vào các hoạt động của người dân ở địa bàn nghiên cứu như: lễ tết,hội hè, đám cưới, sinh nhật, tang ma, họp bản, họp phường…

-Phỏng vấn sâu: NCS cũng thực hiện phỏng vấn sâu các đối tượng là cán bộ

cấp xã, thầy cúng, già làng, trưởng bản, nghệ nhân, cán bộ hưu trí và người dân vềcác mối quan hệ gia đình, gia tộc và liên bản Tuỳ từng đối tượng mà NCS phỏngvấn những chủ đề liên quan đến luận án Với những người già, cán bộ hưu trí, NCS

Trang 13

này sinh sống; các quy ước trong bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, an ninh trậttự; sử dụng nước và bảo vệ rừng đầu nguồn; tên bản, cách đặt tên cho bản, ranh giớibản, liên bản; Những vấn đề nảy sinh sau khi người Nùng Phàn Slình đến lậpnghiệp Ngoài ra, nguồn gốc về ruộng đất, sở hữu ruộng đất và một số vấn đề kháccũng được NCS tham khảo ý kiến của những đối tượng này.

Để tìm hiểu về các Chương trình, Dự án đã và đang được thực hiện tại địabàn nghiên cứu, NCS phỏng vấn cán bộ các cấp và người dân địa phương với nhiềucâu hỏi mở Trong đó, Chương trình xây dựng nông thôn mới được NCS tập trunghỏi kỹ hơn, vì đây là chính sách có tác động trực tiếp đến đời sống của người dân,làm cho bản hoàn toàn thay đổi so với truyền thống Mỗi cuộc phỏng vấn sâuthường kéo dài khoảng một giờ

- Thảo luận nhóm: trong quá trình điền dã một số buổi thảo luận nhóm đã

được NCS thực hiện Để có được thông tin đa chiều, NCS chia đối tượng phỏng vấnthành 4 nhóm khác nhau: nhóm nam giới; nhóm phụ nữ; nhóm hỗn hợp nam, nữ;nhóm cán bộ các cấp, mỗi nhóm có từ 6 đến 8 người Nội dung thảo luận nhómhướng vào từng chủ đề cụ thể liên quan đến lịch sử cư trú, hình thức quản lý bản,quy ước bản, tổ chức hàng phường, sự biến đổi của bản và những vấn đề đặt ra Mỗi cuộc thảo luận nhóm thường kéo dài khoảng hai giờ Qua trao đổi, nhiều ý kiếncủa người dân đã gợi mở để NCS đưa ra các đánh giá, đề xuất biện pháp nhằm pháthuy các yếu tố tích cực cũng như hạn chế các yếu tố tiêu cực trong tổ chức bản củangười Nùng Phàn Slình ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

- Phương pháp biểu đồ: NCS sử dụng biểu đồ dạng hình cột nhằm biểu thị tỉ

lệ để thấy được sự khác nhau giữa các dòng họ ở các điểm nghiên cứu

- Phương pháp thu thập, tổng hợp và khai thác tài liệu thứ cấp: NCS thu

thập số liệu, tài liệu thứ cấp ở UBND các xã, UBND huyện Đồng Hỷ, Trung tâmlưu trữ, Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,Tỉnh uỷ, tỉnh Thái Nguyên và Trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên… Nhờnhững nguồn tài liệu này, NCS có được sự nhìn nhận và đánh giá về bức tranh đờisống kinh tế - văn hóa - xã hội qua từng năm, từng thời kì lịch sử

Trang 14

Bên cạnh đó, tác giả cũng có tham khảo ý kiến của các chuyên gia trongngành Nhân học nhằm bổ sung, hoàn thiện các kiến thức còn thiếu trong quá trìnhhoàn thiện luận án.

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án có những đóng góp chủ yếu sau:

- Trên cơ sở nghiên cứu về bản của người Nùng Phàn Slình, luận án trình bàymột cách toàn diện về tổ chức bản truyền thống và hiện đại ở một huyện miền núicủa tỉnh Thái Nguyên trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới hiện nay

- Góp phần làm rõ cấu trúc, vai trò và chức năng của tổ chức bản trong cộngđồng người Nùng Phàn Slình và mối quan hệ của họ với một số dân tộc khác sốngtrên cùng một địa bàn cư trú

- Chỉ ra một số yếu tố tác động và xu hướng biến đổi trong tổ chức bản củangười Nùng Phàn Slình, huyện Đồng Hỷ, góp phần gìn giữ, phát huy bản sắc vănhóa dân tộc trong quá trình xây dựng nông thôn mới hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Cung cấp các luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc hoạch định những chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần bảo tồn và phát huy những yếu

tố văn hóa tích cực của bản trong quá trình phát triển kinh tế - văn hóa - xã

hội ở địa phương

Trang 15

Chương 2: Đặc điểm, cấu trúc bản của người Nùng Phàn Slình

Chương 3: Các thiết chế và quan hệ xã hội trong bản

Chương 4: Những yếu tố tác động, xu hướng biến đổi của bản và một số vấn đề đặt ra

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỘC NGƯỜI NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước

Nghiên cứu về làng/bản là vấn đề được quan tâm của giới khoa học từ rấtsớm, trong đó có sự tham gia của các nhà khoa học Dân tộc học/Nhân học, Xã hộihọc, Chính trị học, Sử học… Từ thế kỷ XVII, XVIII đề tài làng ở Việt Nam đã đượccác học giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu, trong các kho tư liệu của công tyĐông Ấn, Anh, Hà Lan, Pháp còn lưu giữ khá nhiều tư liệu về làng ở Việt Nam do

các thương nhân phương Tây biên soạn như Mô tả vương quốc Đàng ngoài của S.Baron [85], Lịch sử Đàng ngoài của Richard [41], Vương quốc Đàng ngoài, hành

trình và truyền giáo của A.de Rhodes [1], Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ của

Pierre Gourou [73] Nhìn chung, các cuốn sách này mới chỉ tập trung ghi chép một

số vấn đề về làng xã Việt Nam

Với chủ đề làng/bản hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở nước

ngoài như Katherine D Blair có Four Villages: Architecture in Nepal (Kiến trúc ở

Nepal, nghiên cứu đời sống của 4 làng) với 67 trang, tác giả đã giới thiệu về địa lí,

khí hậu, các hình thức định cư, sự đa dạng dân tộc và các chủ đề liên quan [128]

Tìm hiểu về đời sống của những người dân trong làng có công trình Studies

of Okinawan Village Life (Nghiên cứu về đời sống làng Okinawan) của Clarence J.

Glacken Trong đó, tác giả đã mô tả, phân tích sâu về làng ở Okinawa với nhiều tưliệu sinh động giúp cho người đọc có được những thông tin hữu ích về đời sống củanhững người dân địa phương Clarence đã giới thiệu ba loại hình cư trú đại diện cholàng Okinawan là: cư trú theo cụm, mật tập và cư trú rải rác Hàng loạt các chủ đềđược tác giả giới thiệu: công nghệ, hệ thống gia đình, các ảnh hưởng thời chiếntranh, các hoạt động trợ cấp, vòng đời và tôn giáo [131]

Cũng hướng nghiên cứu trên, năm 1973, Lemoine Jacques xuất bản Một làng

Hmông Xanh ở Thượng Lào Tác phẩm này đã mô tả chi tiết và cụ thể tổ chức xã

Trang 17

hội của người Hmông Xanh Theo đó, các nóc nhà được coi là tế bào kinh tế, việctrao đổi buôn bán, tích lũy vốn và phân hóa xã hội, cho vay và nợ nần thông quađồng Kíp - đồng tiền Lào hiện hành được phân tích rõ ràng, cụ thể Vai trò xã hộicủa các thành viên trong gia đình, dòng họ được nghiên cứu một cách sâu sắc [42].

Về không gian làng/bản, trong Không gian xã hội vùng Đông Nam Á, năm 1997,

Georges Condominas đã mô tả từng chi tiết nhỏ nhất của làng Sar Luk, từ sản xuất chođến sinh hoạt tín ngưỡng được mô tả như một chu kì khép kín, tuần tự Nghiên cứu củaông mang cả chiều cạnh không gian và thời gian Tuỳ thuộc vào đặc điểm lịch sử, đặcđiểm kinh tế và xã hội mà nó có những biên độ khác nhau [32]

Nghiên cứu về xu hướng phát triển của làng có Developing village India: Studies in

village problems (Làng đang phát triển ở Ấn Độ: Nghiên cứu các vấn đề về làng xã) của

Mohinder Singh Randhawa Theo tác giả, hai lĩnh vực kinh tế và văn hóa có sự tác động hỗtrợ nhau trong quá trình phát triển của làng Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu khá rộng,mang tính khái quát, không đi sâu cụ thể từng làng riêng biệt [133]

Ngoài ra, còn có The Village Concept in the Transformation of Rural

Southeast Asia (Khái niệm làng trong quá trình chuyển đổi ở vùng nông thôn Đông Nam Á) do Christer Gunnarsson và Mason C Hoadley đồng tác giả trình bày sự

phát triển nhanh chóng của làng tại các nước Indonesia, Malaysia và Thái Lan, gồm

4 phần: Phần một, tác giả cho rằng, làng là một sự sáng tạo của nhà nước thuộc địa.Phần hai, chỉ ra nguyên nhân làm suy yếu các ngôi làng và giải pháp khắc phục.Phần ba, tập trung nghiên cứu các ngôi làng ở Thái Lan và phần cuối đề cập cácchính sách của nhà nước tác động tới đời sống của những người dân sống trongnhững ngôi làng ấy [129]

Nhìn chung, các công trình kể trên đều nghiên cứu về làng với cách tiếp cận Sửhọc, Dân tộc học/Nhân học Nét nổi bật là sự đa dạng về hình thức tổ chức, không gian

xã hội và sự phát triển của mỗi làng phụ thuộc vào điều kiện địa lý, hoàn cảnh lịch sử,văn hóa, xã hội của mỗi đất nước Qua đó, cũng thấy được những đặc trưng văn hóariêng của mỗi dân tộc ở mỗi quốc gia Điều này góp phần định hướng cho NCS tìmhiểu về tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

Trang 18

1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước

1.2.2.1 Các công trình nghiên cứu về làng người Việt và làng/ bản ở các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc

Nghiên cứu về làng Việt xuất hiện từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, đó là các

công trình của Phan Kế Bính với Việt Nam phong tục [14]; Ngô Tất Tố với Việc

làng [106]; các bài báo của Hoàng Đạo đăng trong tập Bùn lầy nước đọng trên tạp

chí Phong hóa [25] Trong khoảng vài chục năm trở lại đây, hàng loạt các tác phẩm

của các học giả Việt Nam nghiên cứu tổng quan về làng xã đã được công bố, tiêu

biểu là các cuốn sách: Xã thôn Việt Nam của Nguyễn Hồng Phon[74], các bộ Nông

thôn Việt Nam trong lịch sử (1977, 1978) [121], Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại do Viện Sử học biên soạn (1990, 1991) [122], Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ của Trần Từ [110], cùng rất nhiều sách, bài, tạp chí theo

các chuyên đề, như Hương ước và quản lý làng xã của Bùi Xuân Đính [28], Làng

Việt Nam, một số vấn đề kinh tế, xã hội và văn hoá của Phan Đại Doãn (1992, 2000)

[20], Một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỉ XVII – XIX của Nguyễn Quang Ngọc, [64], Hành trình về làng Việt cổ [29], Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai -

truyền thống và biến đổi của Bùi Xuân Đính [30]; Phan Đại Doãn, Làng Việt Nam

đa nguyên và chặt [21]; Diệp Đình Hoa, Nguyễn Văn Bàng, Nguyễn Quang Nghị,

Nguyễn Cao Sơn, Làng Nguyễn: Tìm hiểu làng Việt [35]; Nguyễn Quang Ngọc,

Một số vấn đề làng xã Việt Nam [65].

Nghiên cứu về bản của các dân tộc thiểu số, có thể đề cập tới một số côngtrình sau đây:

Năm 1993, Cầm Trọng và Nguyễn Ngọc Thanh giới thiệu Làng bản của các

dân tộc thiểu số miền núi miền Bắc Việt Nam trên Tạp chí Dân tộc học số 2 Các tác

giả cho rằng, làng bản là một khái niệm mới biểu thị nhận thức của người Việt Nam

về đất nước và con người Đồng thời đưa ra cách phân loại làng bản theo vùng địa lí

cư dân và loại hình kinh tế - xã hội truyền thống [94]

Bàn về sự hình thành và điều kiện thành lập bản có Báo cáo điền dã dân tộc

học Bản Tày của Phương Bằng Trong nghiên cứu này, tác giả đưa ra điều kiện cần

Trang 19

và đủ để đi đến kết định thành lập bản, đất ruộng và nước tưới là điều kiện tiênquyết Chính điều kiện cư trú và canh tác là nguyên nhân tạo ra những bản Tày có

cá tính riêng, như: nền kinh tế nhỏ mang nặng tính tự cấp tự túc và quan hệ giữa cácbản và hệ thống chợ tạo nên sự trao đổi mua bán giữa các cư dân trong vùng [9]

Nghiên cứu về bản và các thiết chế xã hội của các dân tộc thiểu số ở miền núiphía Bắc, tác giả Nguyễn Ngọc Thanh đã có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí

chuyên ngành như: Làng bản và nghi lễ của người Dao Đỏ ở một xã miền núi [80];

Làng của người Hmông ở Việt Nam [96]; Làng bản của người Dao Quần Chẹt ở Phú Thọ [97]; Một số đặc điểm về thiết chế làng bản của người Hà Nhì ở miền núi phía Bắc Việt Nam [98]; Một số đặc điểm làng bản của người Cao Lan ở Vĩnh Phúc

[99]; Thiết chế bản của người Dao [101] Nhìn chung, các bài viết này đã chỉ ra một

số đặc điểm cơ bản của tổ chức bản truyền thống trên các khía cạnh: ý nghĩa của tênbản, không gian sinh tồn, bộ máy tự quản, quy ước… Tuy nhiên, những yếu tố tácđộng và nguyên nhân biến đổi còn chưa được tác giả quan tâm đúng mức

Nghiên cứu về đặc điểm làng bản, Hoàng Bé và Hoàng Minh Lợi có bài

Làng bản của người Tày đăng trên Tạp chí Dân tộc học số 4 đề cập tới nhà cửa, việc

thờ cúng thần Cốc bản và Thổ công, tổ chức gia đình, tổ chức xã hội, sinh hoạt lễnghi, và các quan hệ đạo đức xã hội, đồng thời nêu ra những vấn đề cấp bách cầnđược giải quyết trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, xây dựng nông thôn mới đốivới các làng bản người Tày ở Bắc Kạn [12]

Cũng theo hướng nghiên cứu trên, trong cuốn Hôn nhân và gia đình các dân

tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam, Đỗ Thúy Bình cho rằng bản người Tày, Nùng,

Thái đều nằm dưới các chân núi, sườn đồi Số lượng nhà cửa trong một bản khá lớn,đôi khi đạt và vượt quá trăm nóc Người Tày, Thái sống ở nhà sàn, còn người Nùngtùy từng nơi vừa sống ở nhà sàn, vừa sống ở nhà nền đất Tuy nhiên, tác giả chưa đisâu phân tích chi tiết đặc điểm bản của tộc người nghiên cứu [13]

Nghiên cứu về không gian cư trú làng bản có thể đề cập đến hai luận văn

thạc sĩ lịch sử của Trần Văn Quyền Làng bản cổ truyền của dân tộc Tày ở huyện Võ

Nhai Thái Nguyên [97] và Triệu Quỳnh Châu Làng bản của người Tày ở huyện

Trang 20

Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng [16] Ở cả hai công trình đã tập trung giới thiệu không

gian sinh tồn, cơ cấu tổ chức, những đặc trưng và vai trò của bản trong lịch sử,những thay đổi của làng/bản người Tày từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945

Bàn về sự biến đổi của làng/bản cũng có một số bài viết như Làng Dao ở Ba

Bể Cao Bằng [87]; Thôn làng người Dao ở nước ta hiện nay: những biến đổi và vấn

đề đặt ra [88] của Lý Hành Sơn Hai bài viết này bước đầu chỉ rõ đặc trưng văn hóa

của thôn làng người Dao, đại diện cho hình thức cư trú vùng rẻo cao

Nhìn chung, nghiên cứu về tổ chức bản của các dân tộc thiểu số ở miền núiphía Bắc từ sau Đổi mới 1986 đến nay đã có một số công trình được công bố, nhưngtập trung chủ yếu ở các dân tộc Tày, Thái, Mường, Dao, Hà Nhì Bên cạnh những

ưu điểm, các công trình nêu trên bộc lộ một số hạn chế sau:

- Chủ yếu trình bày truyền thống, ít chú ý đến quá trình biến đổi bản và sựthay đổi của mô hình quản lý bản qua từng giai đoạn lịch sử, nhất là từ sau Đổi mới(1986) đến nay

- Chưa chú ý đến vai trò, vị trí của bản trong công cuộc xây dựng nông thôn mới ở vùng miền núi, dân tộc thiểu số

1.2.2.2 Các công trình nghiên cứu về người Nùng và người Nùng Phàn Slình

Cho đến nay đã có rất nhiều công trình về người Nùng: Lã Văn Lô, Đặng

Nghiêm Vạn, Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam [48]; Viện Dân tộc học, Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc) [120];

Lã Văn Lô, Hà Văn Thư, Văn hóa Tày, Nùng [49]; Hoàng Hoa Toàn, Nguồn gốc

lịch sử các tộc người Tày, Nùng ở Việt Nam, Tạp chí Dân tộc học số 2 [93].

Từ năm 1986 đến nay, đất nước có nhiều biến đổi về lĩnh vực kinh tế - xãhội, đã làm cho nhiều yếu tố văn hóa truyền thống dần mất đi thay vào đó xuất hiệnnhiều yếu tố văn hóa mới tác động đến cuộc sống đồng bào dân tộc thiểu số trên

khắp cả nước Năm 1992, Viện Dân tộc học xuất bản công trình Các dân tộc Tày,

Nùng ở Việt Nam, trong đó các lĩnh vực kinh tế, văn hóa vật chất, tổ chức xã hội, tín

ngưỡng - tôn giáo, ngôn ngữ và văn học dân gian của hai dân tộc Tày, Nùng đượctrình bày tỉ mỉ, cụ thể [117]

Trang 21

Cùng thời gian trên, sách Dân tộc Nùng ở Việt Nam của Hoàng Nam được

xuất bản Đây là chuyên khảo đầu tiên mô tả về hoạt động kinh tế, vật chất, sinh

hoạt tinh thần và tập quán của người Nùng Bàn về bản, tác giả nhấn mạnh bản là một đơn vị xã hội cơ sở Bao trùm các mối quan hệ của bản là quan hệ địa vực,

quan hệ dân tộc, quan hệ kinh tế, quan hệ văn hoá [59]

Tìm hiểu về đặc trưng của làng bản, Đàm Thị Uyên có bài Văn hóa dân tộc

Nùng ở Cao Bằng Tác giả cho rằng: “Làng bản thường được lập trên những nơi đất

chạy quanh chân đồi, chân núi, ven sông suối, trên những gò đất hay mô đất thấp

ở những nơi quang đãng dựa vào lưng núi vào đồi, đằng trước là bồn địa đất đaimàu mỡ từ lâu và được khai khẩn thành ruộng đồng” [111, tr.94] Với nhận xét này,NCS cũng có thêm được nguồn tư liệu để so sánh trong quá trình thực hiện đề tài

Nghiên cứu về nhà ở, Hoàng Minh Lợi với Nhà cửa và trang phục của người

Tày và Nùng ở Cao Bằng, Lạng Sơn [46], Một số phong tục - tập quán liên quan đến nhà cửa của người Tày, Nùng trên Tạp chí Dân tộc học số 3, giới thiệu về nét

văn hóa đặc trưng nhưng chủ yếu viết về người Tày, những đặc điểm văn hóa củaNùng không được thể hiện rõ nét trong bài nghiên cứu này [47] Cũng vẫn chủ đề

trên, Phan Đình Thuận có luận văn Nhà của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ - tỉnh

Thái Nguyên từ 1945 đến nay Đề tài giới thiệu hình ảnh ngôi nhà, kỹ thuật làm nhà

của người Nùng ở ba xã Hòa Bình, Quang Sơn và Tân Long, huyện Đồng Hỷ [104]

Về chủ đề trang phục, Lê Văn Bé với Trang phục cổ truyền của người Nùng

ở Đông Bắc Việt Nam, luận án tiến sĩ Lịch sử chuyên ngành Dân tộc học, giới thiệu

về các loại hình y phục và trang sức của các nhóm Nùng; nêu lên những đặc trưngtrang phục và xu hướng phát triển của trang phục Nùng trước đây và hiện nay Côngtrình này góp phần khẳng định bản sắc văn hóa của tộc người Nùng ở vùng ĐôngBắc Việt Nam [11]

Phong tục tập quán cũng là một đề tài có rất nhiều các công trình nổi bật Hai

tác giả Vương Xuân Tình và Nguyễn Ngọc Thanh có Tập quán bảo vệ rừng và

nguồn tài nguyên của các dân tộc Tày, Nùng, Kinh ở 2 tỉnh Lạng Sơn và Hà Bắc (nay là Bắc Ninh, Bắc Giang) [91] Năm 2000, Vương Xuân Tình tiếp tục công bố:

Trang 22

Luật tục của các dân tộc Tày, Nùng với vấn đề quản lý xã hội và nguồn tài nguyên,

in trong sách “Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam” Đây là

những nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và tương đối đầy đủ về luật tục của dântộc Tày, Nùng ở các địa phương được nghiên cứu [92]

Năm 1999, công trình Các dân tộc Tày, Nùng với tiến bộ kỹ thuật trong nông

nghiệp của Trần Văn Hà là một nghiên cứu thuộc lĩnh vực xã hội học - tộc người đi

sâu tìm hiểu về quá trình phổ biến và tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật cũng như biểu hiệncủa sắc thái văn hóa sản xuất của hai dân tộc Tày, Nùng trong giai đoạn đổi mới kể

từ sau Khoán 10 (1989 - 1995) Theo quan điểm bản là cộng đồng hạt nhân nhỏ nhất

ở nông thôn vùng Tày, Nùng Nó ít bị thay đổi nhất qua từng thời kì lịch sử Tuynhiên, vai trò của bản cũng chịu không ít biến động Đến nay vị trí đó đã được xácđịnh đúng đắn hơn Không chỉ ở vùng Tày, Nùng mà ở các bản chức danh trưởngbản có vai trò rất quan trọng trong việc điều tiết các quan hệ xã hội của cộng đồng.Trong công trình này tác giả chỉ đưa ra một số đặc điểm cơ bản của cộng đồng thôn,bản chung của hai dân tộc Tày, Nùng [33]

Nghiên cứu về dân tộc Tày, Nùng, nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Yên đã công bố

một số bài: Văn hóa làng nghề người Nùng [124]; Tín ngưỡng dân gian Tày, Nùng [125], Sự biến đổi của người thầy cúng ở người Tày và người Nùng ở Việt Nam trên

Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 2 [126] Trong các công trình này, tác giả chủ yếutrình bày sự hình thành và biến đổi của tín ngưỡng và vai trò của nó trong đời sốngcủa hai tộc người Tày, Nùng nói chung

Trong những năm trở lại đây, các nhóm Nùng cư trú ở vùng Đông Bắc được

quan tâm nghiên cứu nhiều như Phong tục tập quán của người Nùng Dín ở Tùng

Lâu [18]; Phong tục và tín ngưỡng, tôn giáo của người Nùng huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên [116]; Nghi lễ vòng đời của người Nùng An ở Cao Bằng [53]; Nghi lễ cưới xin của người Nùng Giang ở tỉnh Cao Bằng truyền thống và biến đổi [57]; Người Nùng Vẻn ở bản Cja Tjeng, xã Nội Thôn, huyện Hà Quảng, Cao Bằng - Nét tương đồng và sự khác biệt với người Tày và các nhóm Nùng khác [123]; Lễ cầu tự của người Nùng Phàn Slình ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên [4]; Văn hóa truyền

Trang 23

thống của người Nùng Khen Lài ở Cao Bằng [56], Tang lễ của người Nùng Giang ở Cao Bằng [57]; Người Nùng An ở Cao Bằng [69] Nhìn chung, các công trình kể

trên đã làm nổi bật văn hóa phi vật thể mang sắc thái văn hóa địa phương rõ nét

Tiếp cận theo hướng Nhân học, Nguyễn Anh Tuấn có bài “Sổ nợ đời” - Vốn

xã hội: Định đề giới hạn và trao đổi xã hội hay những mối liên hệ liên chủ thể

[109] Thông qua nghi lễ tang ma tác giả đã cho thấy các mối quan hệ xã hội củangười Nùng Phàn Slình ở xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên Đâycũng là một nguồn tài liệu để NCS tham khảo trong quá trình thực hiện luận án

Cũng tiếp cận theo hướng trên, luận án tiến sĩ Tang ma của người Nùng

Phàn Slình ở tỉnh Thái Nguyên của Nguyễn Thị Ngân đã nêu các vấn đề bất cập và

các giải pháp khắc phục, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa tộc người Trong luận

án có giới thiệu về tổ chức hàng phường là một tổ chức phi quan phương nằm trongbản của người Nùng Phàn Slình, thể hiện tính tương trợ cộng đồng gắn kết, bềnchặt Nghiên cứu này là một phần tham khảo cho NCS trong việc tìm hiểu về cáchthức tổ chức hoạt động của bản truyền thống [63]

Luận án Quan hệ dòng họ của người Nùng Phàn Slình (nghiên cứu ở huyện

Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn) của tác giả Lê Minh Anh cũng đã đưa ra nhận xét đặc điểm

chung nhất của người Nùng Phàn Slình là cư trú riêng biệt, ít có sự đan xen với cáctộc người khác Mỗi bản thường có vài dòng họ cùng tụ cư, trong đó, thường có mộtdòng họ có dân số lớn và đến đầu tiên Sự tương trợ cộng đồng được tác giả đề cậpchi tiết trong đám cưới và tang ma Cùng với đó mạng lưới quan hệ các cá nhândòng tộc của người Nùng Phàn Slình chủ yếu vẫn chưa vượt ra ngoài ranh giới củacộng đồng bản [3]

Nhìn chung lại, những công trình nghiên cứu về người Nùng và người NùngPhàn Slình tập trung chủ yếu ở một số chủ đề như nguồn gốc lịch sử, văn hóa vậtchất, nghi lễ trong chu kỳ đời người, thiết chế xã hội (dòng họ) Địa bàn nghiên cứuchủ yếu tập trung ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, ít công trình nghiên cứu

về người Nùng Phàn Slình ở Thái Nguyên Đến nay, chưa có nghiên cứu nào về tổchức bản của người Nùng Phàn Slình ở một địa phương cụ thể Do vậy, NCS lựa

Trang 24

chọn chủ đề tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình ở Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyênlàm đề tài luận án của mình.

1.2 Cơ sở lý thuyết

1.2.1 Một số khái niệm

Bản: là một thuật ngữ gần gũi đối với các tộc người thiểu số ở vùng trung du

và miền núi phía Bắc Khác với làng là từ thuần Việt, song ý nghĩa cũng tương tự

nhau, bản là một cách gọi mang tính phổ thông mà các tộc người thiểu số dùng để gọi chính quê hương mình Cụ thể, người Việt có từ làng, người Mường gọi là quêl, người Thái, người Tày, người Nùng gọi là bản, các dân tộc thiểu số Trường Sơn - Tây Nguyên gọi là bon, buôn hay theo tiếng gọi Chăm là plây, plê, palây, blê, hlây

tùy theo cách phát âm của từng địa phương [115, tr.543 - 544]

Tổ chức xã hội (Social organization) Nhìn chung, nghiên cứu về tổ chức xã

hội là nghiên cứu các khế ước kết nối các cá thể lại với nhau thành nhóm xã hội.Trong các xã hội đơn giản, các kết nối này bao gồm hậu duệ, tình dục, tuổi tác, tôngiáo, trao đổi kinh tế và liên kết hôn nhân; trong các xã hội phân tầng, các mối liênkết này liên quan đến nghề nghiệp, nhóm tộc người, chủng tộc và giai cấp Dù tất cảcác yếu tố này ngụ ý trong một nghiên cứu về tổ chức xã hội, trong thực tế các nhànhân học đã tập trung vào nhiều vai trò của thuật ngữ thân tộc, dòng họ và cấu trúc

bộ lạc, cư trú sau hôn nhân và hôn nhân giữa anh em với nhau trong cấu trúc cácmối quan hệ xã hội [7, tr.780]

Tổ chức hội (association) bao gồm sự nhận diện, tương tác và sự thừa nhận

những cái chung giữa con người, những sự vật và những tư tưởng; hoặc một tổ chứcdựa trên các nguyên tắc như vậy Con người kết giao với con người và đồng thờivới những bản thể phi con người và phi thực tế như các thánh, các thần và các biểutượng tô tem Những mối liên kết giữa con người chồng chéo lên nhau theo nhữngcách rất phức tạp và hầu hết con người đều đồng thời thuộc về các loại khác nhau

Những quan niệm về các hội biến thể nhiều theo các văn hoá, nhưng cách sửdụng nhân học thường chú trọng tới ba loại hình:

1 Nhóm: một nhóm người có giới hạn, thường có tên gọi mà các thành viên

Trang 25

của nó đều ý thức cùng thuộc về nhóm và có thể thừa nhận một người lãnh đạo haymột người tổ chức thống nhất Ví dụ như các hộ gia đình, các dòng họ, các nhà thờ,các hội đồng, các công ty, các liên đoàn, các câu lạc bộ và các nhà nước - dân tộc.

2 Mạng lưới: Một loạt hay một mạng các mối liên hệ giữa các cá nhânkhông thống nhất thiết bị giới hạn hay phải có tên mà mỗi thành viên có thể liên hệtrực tiếp chỉ với một hoặc hai thành viên khác ngoài ra không biết hoặc không liên

hệ tiếp xúc với các thành viên khác hoặc chia sẻ bất cứ tình cảm nào về mối quan hệthành viên chung Ví dụ như các mạng lưới bạn bè, người quen kết hợp với các loạimối liên hệ khác nhau như vậy

3 Loại: Mọi nhóm người (giới hạn hay không giới hạn) với một hoặc nhiềuhơn những đặc điểm chung, mối quan tâm chung hoặc những mục đích chung; ví dụgồm giới phụ nữ, những người lĩnh canh, giới những người sưu tập tem, nhữngngười di cư và những trẻ em nam theo đạo Bà la môn

Các nhóm, các mạng lưới và các loại có thể nổi lên và chồng chéo và các thuật ngữ đầu và thứ ba đôi khi có thể chuyển hoán [8, tr.70 - 71]

Truyền thống: là những thói quen hay có tính chất quen thuộc đã được hình

thành từ lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ được truyền từ thế hệ này sang thế hệkhác [108, tr 135]

Biến đổi: là thay đổi thành khác trước Đây là một khái niệm rất rộng, trong

luận án chỉ bàn về vấn đề biến đổi văn hóa tộc người cụ thể ở đây là biến đổi của tổchức bản [60, tr.61]

Biến đổi xã hội (social change): nhiều nhà nhân học có thể cho rằng các tình

huống của đời sống xã hội và chính trị thường xuyên thay đổi và ý nghĩa văn hoámới tiếp tục được tạo ra Marx Gluckham, một nhà nhân học chức năng - cấu trúcluận đã bị ảnh hưởng nhiều bởi các tiếp cận Marxist và tiếp cận lịch sử khác nhaucho rằng biến đổi là một thói quen và không khó hiểu hơn khả năng các hệ thốngvăn hoá và xã hội để duy trì các sắp xếp thể chế trong các giai đoạn lịch sử tươngđối dài Gluckham phân biệt các biến đổi lặp lại hay các biến đổi trong một hệ thốngvới các biến đổi cách mạng hoặc biến đổi của một hệ thống Trong tình huống

Trang 26

đầu, các động năng của hệ thống có xu hướng tái sản xuất sắp xếp thể chế giốngnhau; trong phần sau, biến đổi được đánh dấu bởi một sự tái tạo toàn bộ của trật tựvăn hoá và xã hội [7, tr.771 - 772].

Sở hữu tập thể: làng là chủ sở hữu tập thể đối với toàn bộ lãnh thổ của mình.

Về nguyên tắc, địa vực ấy và tất cả mọi sản vật trên đó, dù tự nhiên sẵn có hay docon người tạo lập ra, đều thuộc dân làng sở tại: đất đai nói chung, rừng rú, đồi gò,sông suối, nhà cửa, kho lẫm, chuồng trại, muông thú cỏ cây Việc xác lập quyền sởhữu mang giá trị pháp lý ổn định Trong làng, tất cả những gì không thuộc riêng cánhân hay nhóm thành viên, đều của chung dân làng [30, tr.90]

Theo Điều 208, Luật Dân sự năm 2005 cho rằng, sở hữu tập thể là sở hữucủa hợp tác xã hoặc các hình thức kinh tế ổn định khác do các nhân hộ gia đìnhcùng góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện mục đíchchung quy định trong điều lệ, theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ, cùngquản lý và cùng hưởng lợi [62, 208]

Sở hữu cá nhân: được hiểu là là hình thức sở hữu của từng cá nhân về tư liệu

sinh hoạt, tiêu dùng và tư liệu sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thầncủa công dân [62, Điều 211]

Sở hữu đất đai: từ trước đến nay luôn là một khái niệm phức tạp trong bất kỳ

một hệ thống pháp lý nào Tuy nhiên, hiểu một cách nôm na, có thể coi quyền sởhữu đất đai gồm 3 bộ phận: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạtđất đai

Luật Đất đai của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ thừa nhận một

quyền sở hữu đất đai duy nhất là chế độ sở hữu toàn dân: “Đất đai thuộc sở hữu toàn

dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật” [64, Điều 4].

Sự chiếm hữu đất đai (Land tenure) chỉ mối quan hệ giữa con người và đất đai,

hoặc các quyền và nghĩa vụ của con người đối với nhau liên quan đến đất đai Bản thânthuật ngữ này có nhiều nghĩa: vật chất trên mặt đất, không gian được đánh dấu trên bản

đồ, một cơ sở quyền lực, một nguồn lực để khai thác, một khía cạnh thần

Trang 27

thánh, hay một cơ sở bản sắc xã hội Các khái niệm đất đai và sự chiếm hữu đất đai

ít khi ít khi được dịch thuật một cách đầy đủ từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác

Sự chiếm hữu đất đai luôn phức tạp hơn những sự phân biệt đơn giản giữa tài sảncông hoặc tư hàm ý, vì ở mọi nơi đều thấy có những sự kết hợp kiểm soát đất đaicủa cá nhận và của nhóm Các quyền đối với đất đai có thể chia làm ba loại:

1 Quyền sử dụng: quyền vào ở, đi qua, săn bắn, hái lượm, chăn thả súc vật,làm nông nghiệp, thu gom khoáng vật, hoặc xây dựng: việc bỏ quyền sử dụng đấtđai có thể cũng quan trọng

2 Quyền chuyển nhượng: chuyển quyền sở hữu hay chiếm hữu thông quathừa kế, quà tặng, cho mượn, trao đổi, thế chấp, cầm cố, mua bán hoặc các chuyểnnhượng khác

3 Quyền quản trị: quyền lực hay chức trách cấp đất hoặc thu hồi đất sử dụng,trọng tài phân xử tranh chấp, điều chỉnh các chuyển nhượng, quản lý đất để sử dụngvào mục đích công, đánh thuế đất hoặc thu thập đồ cống nạp, tiếp quản đất đai dođối phương vắng mặt hoặc thu hồi đất đai [7, tr.524]

Sở hữu chung của cộng đồng: là sở hữu của dòng họ, thôn, ấp, bản, làng, buôn,

phum, sóc, cộng đồng tôn giáo và cộng đồng dân cư khác đối với tài sản được hình thànhtheo tập quán, tài sản do các thành viên của cộng đồng cùng nhau đóng góp, quyên góp,được tặng cho chung hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật nhằmmục đích thoả mãn lợi ích chung hợp pháp của cộng đồng [63, Điều 211]

Hương ước, quy ước: là các quy phạm xã hội phản ánh quy chuẩn phong tục

tập quán, ý chí nguyện vọng của tập thể cộng đồng dân cư trong việc quản lý điềuhành các mặt đời sống xã hội, bảo vệ trật tự trị an, các quan hệ mang tính nội bộ.Các nội dung của hương ước, quy ước phải tạo ra sự cưỡng chế cộng đồng, kiểmsoát định hướng hành vi của các thành viên ở nhiều mức độ khác nhau trên cơ sởquy chuẩn phong tục tập quán, ý chí chung của cộng đồng [95, tr 213]

Thiết chế tự quản: Theo nghĩa chung nhất là “tự mình trông coi, quản lý công

việc, không cần có ai điều khiển”, hoặc “là một phương thức quản lý mở rộng dân chủtrên những mức độ khác nhau Ở một cộng đồng lãnh thổ, chế độ tự quản thể hiện ở

Trang 28

chỗ chính quyền địa phương tự quyết định công việc của địa phương’’ [13, tr 229].

Gia đình: có rất nhiều khái niệm khác nhau về gia đình, nhưng có thể hiểu

đơn giản đó là một thiết chế xã hội, dựa trên cơ sở sự kết hợp những thành viênkhác giới, thông qua hôn nhân, để thực hiện các chức năng sinh học, kinh tế, vănhóa, tín ngưỡng Ðây là một nhóm xã hội hình thành từ sự kết hợp của một đôi nam

nữ không cùng huyết thống và sau đó có những quan hệ huyết thống nảy sinh từquan hệ hôn nhân của họ, có thể bao gồm một số người không có quan hệ huyếtthống nhưng có quan hệ dưỡng dục [88, tr 9]

1.2.2 Lý thuyết nghiên cứu

1.2.2.1 Lý thuyết không gian xã hội

Không gian hay không gian xã hội là một khái niệm quan trọng trong khoahọc xã hội nói chung, Dân tộc học/Nhân học nói riêng Nó đã được bàn đến bởinhiều tên tuổi lớn như Emile Durkheim, Claudi Levis - Strauss, E E Prichard,Marcel Mauss và được một số nhà khoa học khác phát triển thành một lý thuyếtthực thụ Vào nửa sau thế kỷ XX, trên cơ sở chủ nghĩa duy vật Mác xít, học giảngười Pháp Lefebvre đã trình bày một số ý tưởng về lý thuyết không gian xã hội.Theo Lefebvre, không gian bao gồm hai loại: không gian tự nhiên do thiên nhiênsản sinh; không gian xã hội do con người sản xuất, sáng tạo bằng các lực lượng sảnxuất, bằng các phương tiện sản xuất và thông qua các phương thức sản xuất Haynói cách khác, không gian xã hội “là một sản phẩm xã hội” [113, tr 1] Tuy có khảnăng tái sản xuất, có tính lặp lại, nhưng không gian xã hội không phải là giống nhauđối với mọi nơi trên thế giới Mỗi xã hội, mỗi khu vực, mỗi địa phương có mộtkhông gian riêng biệt Chúng khác nhau là bởi vì được cấu thành bởi những yếu tốquan trọng khác nhau như các quan hệ xã hội, quan hệ sản xuất, các quan hệ sảnxuất, các lực lượng sản xuất [113, tr.86]

Đi sâu vào không gian xã hội, Lefebvre sử dụng ba khái niệm cơ bản: (i) hoạtđộng không gian - bao gồm cả quá trình sản xuất và sinh sản, và những vị trí cùngtính chất đặc biệt của mỗi tập hợp xã hội; (ii) các thể hiện của không gian - liênquan tới các mối quan hệ sản xuất và trật tự mà các quan hệ này quy định; và

Trang 29

(iii) các không gian thể hiện với hệ thống biểu tượng phức tạp.

Năm 1977, nhà khoa học người Pháp Georges Condominas - một tên tuổi lớntrong các nhà Dân tộc học phương Tây nghiên cứu về châu Á - đã công bố côngtrình “Không gian xã hội”, trong đó đã kế thừa và phát triển khái niệm không gian

xã hội lên một tầm vóc mới Condominas định nghĩa không gian xã hội (L’espacesocial) “là không gian được xác định bởi tập hợp các hệ thống quan hệ đặc trưngcho một nhóm người nào đó” [24, tr.16]

Giống như Lefebvre, Georges Condominas cũng cho rằng không có cái gọi làmột không gian xã hội thuần nhất, giống nhau ở mọi trường hợp Ngoài chiều cạnh

cơ sở vốn có là không gian và thời gian, không gian xã hội còn mang tính lịch sử vàtính tộc người Cụ thể hơn, biên độ của nó thay đổi tùy thuộc vào điều kiện lịch sử,đặc điểm kinh tế, xã hội của một cộng đồng Các mạng lưới quan hệ đa tầng là thứđược ẩn chứa trong mỗi không gian này Vì lẽ đó, khi đề cập đến thế giới quan củangười Mnông Gar, ông cho rằng quan niệm của họ về không gian xã hội là không hềgiống với quan niệm của người Ê-đê, người Kinh, và cũng có nhiều điểm bất nhấtvới cách phân loại của các nhà khoa học

Georges Condominas xác định một số khía cạnh đặc trưng của không gian xãhội bao gồm: (i) những mối liên hệ với không gian và thời gian; (ii) những mối quan

hệ với môi trường; (iii) những mối quan hệ trao đổi của cải; (iv) những mối quan hệgiao tiếp; (v) những mối quan hệ họ hàng và xóm giềng Trong đó, quan hệ giữa conngười với hệ sinh thái là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của khônggian xã hội Không gian sinh thái cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống

và bản thân sự tồn tại của nhóm người, thời gian sinh thái thì thúc đẩy đời sống theonhịp điệu các mùa [24, tr 22 - 54] Bởi vì những khía cạnh này thiên về yếu tố vănhóa, cho nên thực chất không gian xã hội theo cách diễn giải của ông chính là khônggian văn hóa - xã hội Trong giới nghiên cứu văn hóa, quan điểm này đưa đến/ củng

cố một phương pháp gọi là Khu vực học, tức là lấy không gian xã hội - văn hóa, baogồm các lĩnh vực hoạt động của con người và quan hệ tương tác giữa con người vàđiều kiện tự nhiên làm đối tượng nghiên cứu

Trang 30

Vận dụng lý thuyết trên, NCS sẽ tiếp cận nghiên cứu tổ chức bản của ngườiNùng Phàn Slình như một không gian xã hội có ý nghĩa sinh tồn, nơi cộng đồngthông qua nó để thiết lập và duy trì các mối quan hệ với môi trường, các mối quan

hệ kinh tế, và các quan hệ xã hội như láng giềng, dòng họ, hôn nhân - gia đình, giaolưu văn hóa và ngôn ngữ Hệ thống này luôn mở rộng, lan truyền, tiến bộ khôngngừng chứ không đứng im làm biến đổi không gian xã hội là bản Không gian xãhội luôn chứa đựng các quan hệ xã hội, các vấn đề và những thực hành của các xãhội tộc người rộng lớn hơn cả không gian địa lý cư trú đơn thuần, cho nên nghiêncứu về tổ chức bản không chỉ giới hạn ở những thành tố nội tại bên trong nó, màphải có mối liên hệ với các quan hệ rộng lớn hơn bao trùm lên nó

1.2.2.2 Lý thuyết biến đổi xã hội

Biến đổi xã hội là một vấn đề đã được các nhà khoa học xã hội, trong đó cóDân tộc học/Nhân học quan tâm và nghiên cứu Từ thế kỷ XIX, hai tên tuổi lớn củangành là L.H Morgan (Mỹ) và E.B Taylor (Anh) đã đặt nền tảng cho lý thuyết biếnđổi xã hội khi cho rằng biến đổi xã hội và văn hóa theo quá trình tiến hóa, tức là sắpxếp các nền văn hóa trên thế giới theo một trật tự từ thấp đến cao trên cột thước đo

từ xã hội nguyên thủy đến xã hội văn minh và mọi sự khác biệt về văn hóa chỉ là sựchênh lệch trên bậc thang tiến hóa đó Thuyết này coi xã hội phương Tây là đỉnhcao của mọi nền văn hóa, các xã hội nằm ngoài phương Tây bị xem là sơ khai Dướiquan điểm hiện đại, chủ nghĩa tiến hóa văn hóa kiểu này là đối tượng của nhiều sựchỉ trích cả về học thuật và chính trị

Bên cạnh thuyết tiến hóa, có nhiều lý thuyết khác cũng có thể xếp vào nhóm

lý thuyết về biến đổi xã hội, ví dụ như lý thuyết xung đột, và những quan điểm hiệnđại về biến đổi xã hội - thứ sẽ không đề cao một khuôn mẫu chung duy nhất mànhấn mạnh vào sự tương tác phức tạp của nhiều yếu tố cả bên trong và bên ngoàitạo nên sự biến đổi Các lý thuyết hiện đại hóa, lý thuyết hệ thống thế giới, lý thuyếtphụ thuộc là những tiếp cận mới trong quan điểm hiện đại về biến đổi xã hội Ở đó,các nhà khoa học đã đưa ra những cách lý giải đa diện hơn trong bối cảnh hiện đạihóa, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

Trang 31

Trong Từ điển nhân học của Thomas Barfield, biến đổi xã hội được địnhnghĩa là “các tình huống của đời sống xã hội và chính trị đang thay đổi liên tục vànhững ý nghĩa văn hóa mới được sáng tạo theo’’ [7, tr.428] cũng có thể hiểu biếnđổi xã hội là “một quá trình qua đó các khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan

hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội được thay đổi theothời gian” [68, tr 24] Theo nghĩa này, biến đổi văn hóa là một phần của biến đổi xãhội, bởi vì văn hóa cũng là một bộ phận của đời sống xã hội, cũng tự không ngừngbiến đổi

Ngay từ ban đầu, ý tưởng về sự biến đổi xã hội có một sự tương đồng khálớn với nguyên lý phát triển của chủ nghĩa Mác xít khi cho rằng mọi sự vật, hiệntượng đều nằm trong quá trình vận động và phát triển, cho nên mọi sự biến đổi đều

là tất yếu Cũng như giới tự nhiên, mọi xã hội, mọi nền văn hóa đều không ngừngbiến đổi Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định tương đối, còn thực tế, nó khôngngừng thay đổi từ bên trong bản thân nó Thực tế là trong các khoa học xã hội vềphát triển, phát triển thường được xem là một hình thức của biến đổi xã hội

Tuy là hiện tượng phổ biến, biến đổi xã hội có thể diễn ra với những conđường rất khác nhau về phạm vi, thời gian và hệ quả Biến đổi xã hội có thể hiểutheo hai nghĩa: biến đổi vĩ mô là những thay đổi diễn ra và xuất hiện trên phạm virộng lớn và trong khoảng thời gian dài Biến đổi vi mô là những biến đổi nhỏ, diễn

ra trong thời gian ngắn, được tạo ra từ một lĩnh vực nào đó của đời sống

Khuynh hướng tiếp cận chủ yếu của Dân tộc học/Nhân học trong các lýthuyết về biến đổi xã hội là xem một phần hoặc toàn bộ sự biến đổi văn hóa, biếnđổi kinh tế, biến đổi môi trường là hệ quả của biến đổi xã hội dưới tác động củathời gian và các nhân tố tác động lẫn nhau Biến đổi xã hội là một quá trình thay đổiqua thời gian, với các điểm thời gian xác định nơi chứng kiến sự chuyển dịch củacác sự kiện, mô thức hành vi, hệ thống xã hội truyền thống

Các học giả như Peter Dwyer và Monica Minnegal tiếp cận biến đổi xã hộinhư một quá trình thích nghi và chuyển đổi Biến đổi được xem là “thích nghi” khibản chất của hiện tượng không thay thế hoàn toàn bởi hiện tượng khác trong bối

Trang 32

cảnh mới; còn biến đổi được xem là “chuyển đổi” khi hiện tượng được thay thếbằng cái khác mới hơn Biến đổi xã hội có thể nhận diện qua cả những biến đổi bềmặt và biến đổi theo chiều sâu Biến đổi xã hội không phải lúc nào cũng mang tínhchất nội tại, tự phát, đặc biệt là nếu nó chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn.Nhìn chung, trong bối cảnh hiện đại, nhân tố ảnh hưởng đến sự biến đổi xã hộithường bắt nguồn từ việc can thiệp từ bên ngoài có chủ đích vào bối cảnh của cácmối quan hệ trong hệ thống hiện tại [111].

Với luận án này, NCS tập trung xem xét sự biến đổi xã hội ở người NùngPhàn Slình dưới góc độ biến đổi tổ chức bản, do những tác động của đường lối,chính sách của Đảng và Nhà nước dành cho đồng bào dân tộc thiểu số; chính sáchđổi mới, chương trình xây dựng nông thôn mới được thực hiện trong những nămgần đây Trong quá trình vận dụng các chính sách này ở cấp cơ sở, tổ chức bản củangười Nùng Phàn Slình đã có nhiều biến đổi về không gian, hình thức cư trú cho tớiđời sống kinh tế - văn hóa - xã hội cho phù hợp với công cuộc xây dựng và pháttriển chung của đất nước trong giai đoạn xây dựng đời sống văn hóa mới

1.3 Khái quát về huyện Đồng Hỷ và người Nùng Phàn Slình

1.3.1 Khái quát về huyện Đồng Hỷ

Trải qua các thời điểm lịch sử, phạm vi địa giới huyện Đồng Hỷ đã có nhiều

thay đổi Theo sách Đại Nam nhất thống chí, vào thời Hồng Đức (nhà Lê sơ), huyện

Đồng Hỷ nằm trong phủ Phú Bình, xứ Thái Nguyên, do phiên thần họ Ma nối đờicai trị Đời Nguyễn Gia Long vẫn giữ nguyên, lỵ sở đặt tại xã Nhẫm Quang Đếnnăm Minh Mệnh thứ 16 (1835), triều Nguyễn định ra chế độ lưu quan, lỵ sở chuyển

về xã Huống Thượng Vào thời điểm ấy, huyện Đồng Hỷ gồm 9 tổng, 33 xã Phíađông đến tận địa giới huyện Tư Nông, phía tây đến địa giới huyện Phú Lương, phíanam đến địa giới huyện Phổ Yên, phía bắc đến địa giới huyện Võ Nhai

Cho đến trước năm 1962, Đồng Hỷ bao gồm 29 xã (trong đó có xã Hợp Tiếncủa huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang) Từ năm 1985, huyện Đồng Hỷ bao gồm 17

xã, 3 thị trấn (Chùa Hang, Trại Cau và Sông Cầu)

Địa phận huyện Đồng Hỷ ngày nay trải dài trên tọa độ địa lý từ 21032’ đến

Trang 33

21051’ vĩ độ Bắc, từ 105046’ đến 106004’ kinh độ Đông Phía bắc giáp huyện VõNhai và tỉnh Bắc Kạn, phía nam giáp huyện Phú Bình và thành phố Thái Nguyên,phía đông giáp tỉnh Bắc Giang, phía tây giáp huyện Phú Lương và thành phố TháiNguyên Địa giới tự nhiên phân cách Đồng Hỷ và thành phố Thái Nguyên là dòngsông Cầu uốn lợn quanh co từ xã Cao Ngạn theo hướng bắc - nam xuống đến đậpThác Huống (xem Phụ lục bản đồ hành chính 9, huyện Đồng Hỷ).

Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 520.59km2 Trong đó, đất lâm nghiệpchiếm 50,8%, đất nông nghiệp 16,4%, đất thổ cư 3,96%, đất cho các công trìnhcông cộng 3,2% và đất chưa sử dụng chiếm 25,7% Nền địa hình có độ cao trungbình dưới 200m cách mực nước biển, dốc thoai thoải từ đông bắc xuống tây nam.Phía bắc và đông bắc thuộc dãy núi đá vôi Bắc Sơn hùng vĩ Các xã phía bắc vàđông bắc thuộc vùng núi cao, độ cao trung bình là 120m so với mực nước biển,nhiều khe suối đi lại khó khăn nhưng có thế mạnh phát triển thủy điện, lâm nghiệp,chăn nuôi đại gia súc Các dãy núi đá lớn là vùng núi thấp nhiều đồi hình bát úp, độcao từ 50 - 60m, có khả năng phát triển cây công nghiệp (chè, mía, lạc ) Các xãnằm phía hạ lưu sông Cầu độ cao trung bình 20m so với mực nước biển, có nhữngcánh đồng bằng phẳng thuận lợi cho việc phát triển lúa nước và cây thực phẩm

Đồng Hỷ nằm ở vùng bắc chí tuyến, trong vành đai nhiệt đới bắc bán cầu,nên khí hậu ở đây mang tính chất nhiệt đới nóng, ẩm, gió mùa Mùa nóng từ tháng 4tháng 10; mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, ít mưa Nhiệt độ trung bình là

220C, nhiệt độ cao nhất trung bình nhiều năm là 27,20C, nhiệt độ thấp nhất trungbình trong năm là 20,20C Tháng 7 là tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất, tháng 1

là tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất Số giờ nắng trong năm là 1.628 giờ.Lượng mưa trung bình từ 1.800 - 2.000mm/năm, tập trung từ tháng 2 đến tháng 10,chiếm 90,6% tổng lượng mưa cả năm Tháng 7 có lượng mưa lớn nhất, trung bình

từ 401 420mm; trái lại, tháng 12 và tháng 1 có lượng mưa thấp nhất, khoảng 24 25mm Mỗi năm có khoảng 21 - 22 đợt gió mùa đông bắc tràn qua trong khoảngthời gian từ tháng 9 đến tháng 5 năm sau

-Mật độ sông, suối bình quân 0,2km/km2, tất cả đều bắt nguồn từ khu vực núi

Trang 34

cao phía bắc, đông bắc và đều chảy vào sông Cầu Sông Cầu chảy theo hướng Bắc Nam là biên giới phía tây của huyện với độ dài 47km, là nguồn cấp nước chính, cótiềm năng khai thác vận tải thủy và cát phục vụ nhu cầu xây dựng của người dântrong tỉnh Đồng Hỷ cũng nổi tiếng là vùng đất giàu khoáng sản, trong đó có cảnhững khoáng sản quý được đánh giá là có tầm quan trọng đối với nền kinh tế quốcdân như mỏ quặng sắt lộ thiên ở Trại Cau, mỏ kẽm chì làng Hích ở xã Tân Long.

-Huyện Đồng Hỷ trước đây có thế mạnh về tài nguyên rừng Tuy nhiên, rừngtrên địa bàn huyện ngày nay chỉ còn một ít gỗ quý, trừ phía bắc huyện (Văn Lăng,Tân Long) còn một số rừng nguyên sinh trên núi đá vôi, trong đó có nhiều gỗ trai,nghiến, lát [5, tr.10 - 12]

Chính điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái đã ảnh hưởng đến việc bố tríbản và tập quán cư trú của người Nùng Phàn Slình truyền thống và hiện tại

1.3.2 Khái quát về người Nùng Phàn Slình ở Đồng Hỷ

1.3.2.1 Tên gọi

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, Việt Nam có 968.800 ngườiNùng với nhiều nhóm khác nhau, cư trú chủ yếu ở: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn,

Hà Giang, Quảng Ninh, Thái Nguyên

Trong Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn có ghi: “Giống người Nùng đều là

người 12 thổ châu ở Tiểu Trấn Yên, Quy Thuận, Long Châu, Điền Châu, Phủ Châu, Thái Bình, Lôi Tử Thành và Hướng Vũ thuộc Trung Quốc làm nghề cày cấy, trồng trọt, cùng chịu thuế khóa lao dịch, mặc áo vằn vải xanh, cắt tóc, trắng răng, có người trú ngự đã đến vài ba đời, đổi theo tập tục người Nam, quan bản thổ thường cấp cho họ một số ruộng làm người phần, bắt họ chịu binh xuất Các xứ Lạng Sơn, Cao Bằng và Thái Nguyên đều có giống người này” [23, tr.334] Lê Quý Đôn còn

nói đến người Tạo ở các phủ Quảng Nam, Khai Hóa, Châu Phú: người Ngô Ngàn ởĐiền Châu, Quảng Tây chắc chắn chỉ là người Nùng

Căn cứ vào gia phả một số nhóm Nùng, có thể thấy rằng tộc người này đều

có nguồn gốc từ Trung Quốc; do nhiều nguyên nhân khác nhau đã di cư đến ViệtNam, cụ thể như sau:

Trang 35

- Nùng Xuồng hay Nùng Tùng Xìn từ Sùng Thiện;

- Nùng Phàn Slình từ châu Vạn Thừa;

- Nùng Inh từ Long Anh;

- Nùng Cháo từ Long Châu;

- Nùng Khen Lài từ Châu An Bình;

- Nùng Gửi từ Châu Trấn An;

Đại bộ phận người Nùng ở Việt Nam là những người di cư từ Quảng Tây(Trung Quốc) Họ di cư theo từng nhóm nhỏ Có thể kể ra khá nhiều nguyên nhâncủa những cuộc thiên di, nhưng chủ yếu là do bị áp bức bóc lột nặng nề, bị chèn ép,nhất là bị đàn áp, tàn sát đẫm máu sau các cuộc khởi nghĩa không thành công Loạnlạc, cướp bóc cùng với nạn thiếu ruộng đất cũng thúc đẩy họ đi tìm nơi sinh sống dễchịu hơn Những tên gọi của các nhóm địa phương của người Nùng có thể gộpthành hai nhóm chính như sau:

Thứ nhất, những tên gọi theo đặc điểm trang phục Những tên gọi này

thường không phải tên tự gọi của mỗi nhóm, mà là do dân tộc lân cận hoặc các

Trang 36

nhóm khác của người Nùng đặt ra, ví dụ: Nùng Khen Lài (ống tay áo đáp vải khácmàu), Nùng Hu Lài (đội khăn chàm có những đốm trắng), Nùng Slử Tỉn (mặc áongắn chỉ chấm ngang mông)

Thứ hai, những tên gọi theo địa danh, nơi mà từ đó người Nùng di cư tới Việt

Nam, ví dụ: Nùng An (châu An Kết), Nùng Inh (châu Long Anh), Nùng Phàn Slình(châu Vạn Thành), Nùng Cháo (Long Châu), Nùng Quý Rịn (châu Quy Thuận)…Ngoài ra, còn có các nhóm mà xuất xứ tên gọi ta chưa thể xác định được, như NùngDín, Nùng Xuồng, Nùng Tùng Xìn, Nùng Viển, Nùng Chủ… [103, tr.279 - 280]

1.3.2.2 Lịch sử cư trú

Thái Nguyên là vùng đất có khá đông người Nùng cư trú với 63.816 ngườichiếm 5,7% dân số toàn tỉnh Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 5 nhóm địa phương củadân tộc Nùng: Nùng Phàn Slình, Nùng Cháo, Nùng Inh, Nùng An và Nùng Giang.Nhóm Nùng Cháo cư trú lâu đời nhất, tiếng nói của họ gần giống như người Tày, cưtrú ở huyện Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ Nhóm Nùng Phàn Slình, có nguồn gốc di

cư từ Bình Gia, Văn Quan, Cao Lộc (Lạng Sơn) cư trú ở Võ Nhai, Đồng Hỷ, Đại

Từ Nhóm Nùng An, Nùng Inh, Nùng Giang có nguồn gốc từ Cao Bằng hiện cư trú

ở huyện Phú Lương, Võ Nhai, Phú Bình [90, tr.527 - 528]

Qua các cứ liệu trên có thể khẳng định, người Nùng Phàn Slình ở Đồng Hỷ, tỉnhThái Nguyên có nguồn gốc di cư từ Lạng Sơn xuống và xa hơn về lịch sử là họ di cư từTrung Quốc sang cách đây trên 300 năm Tên gọi Nùng Phàn Slình là do gắn với địaphương Vạn Thành Châu (Trung Quốc) - đây là quê hương cũ của người Nùng trướcđây Từ Phàn Slình là do chuyển âm từ Vạn Thành châu sang tiếng Việt mà thành.Nguyên nhân chuyển cư chính là do thiếu ruộng nước canh tác, đói kém xảy ra cùngvới sự gia tăng dân số nên họ đã phải di chuyển xuống phía nam để tìm mảnh đất sinh

cơ lập nghiệp Những cuộc di cư đó vào những năm đầu của thế kỷ XX, dồn dập vàokhoảng 1920 - 1930 và kéo dài, rải rác cho tới tận những năm 1970 Ngoài ra còn một

số lý do chủ quan khác, như: mâu thuẫn nội tộc, anh em không thể ở với nhau nên một

số người đã quyết định rời quê hương mang theo vợ con đi tìm mảnh đất khác để sinhsống (họ Triệu xã Vân Mộng huyện Văn Quan di cư xuống bản Tân

Trang 37

Đô, xã Hòa Bình) [PVS: ông Hoàng Văn Ph, bản Tân Đô, xã Hòa Bình].

Mặt khác, do các thành viên trong cộng đồng không nhất trí với cách giảiquyết của chính quyền thời bấy giờ về vấn đề ruộng đất cho người dân (họ Hoàng ởhuyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn di cư xuống bản La Đùm, xã Văn Hán); có dòng

họ bị cho là có “ma gà” nên không được cộng đồng chấp nhận lại phải quay lạiLạng Sơn hoặc buộc phải chuyển đi vùng đất khác sinh sống [PVS: ông Hoàng Văn

Trong gia phả dòng họ chỉ ghi con cháu của hai người: Tăng Dèn và TăngHào Tăng Dèn sinh ra con cháu ở Tình Cam, chi cũ của Lăng Văn Mai, Lăng VănKhát và Lăng Văn Giáp ở Đồng Mẫu xã Tân Long Tăng Hào sinh ra con cháu hiệnnay ở Bản Duộc, Ba Biển, một số đông di cư về Đồng Mẫu, Bắc Thái (nay là tỉnhThái Nguyên) Đến năm 1924 có mấy người di cư đến địa danh Đồng Mẫu (xã TânLong) khai hoang làm ăn: Tình Slen (Pét), Quý (Kim Sài), Hoàng, Phủ (Kim Nè),Cầm (Kim Hồng) Từ đó, họ lập gia đình và sinh con đẻ cái đến nay đã được 5 đời

Theo gia phả dòng họ Lâm (slình Lằm) ở bản Ba Đình, bản Làng Mới (xãTân Long) và bản Tân Đô (xã Hòa Bình) có ghi chép lại: bà Tổ dòng họ là Lý XìPhùng (vợ ông Xì Phùng) di cư từ Quảng Tây (Trung Quốc) vào Việt Nam năm

1743 ngụ tại bản Tình Cam, xã Quang Trung, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn Sau

đó sinh con đẻ cái rồi các thế hệ tiếp theo cũng di cư xuống huyện Đồng Hỷ, tỉnhThái Nguyên sinh cơ lập nghiệp

Trang 38

Mảnh đất Văn Hán xưa kia vốn là vùng đất rậm rạp, hoang sơ không có ngườisinh sống Năm 1947, dòng họ Hoàng từ xã Hòa Bình, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơnxuống do mâu thuẫn về vấn đề hợp tác xã với chính quyền thời đó Người đầu tiên làHoàng Văn H đã ôm theo ống hương của tổ tiên xuôi về phía nam Khi đến, ông thấyđây là mảnh đất hội tụ các điều kiện tự nhiên và xã hội thuận lợi có thể định cư làm ănlâu dài Sau đó cũng có nhiều dòng họ khác ở các huyện như Bình Gia, Cao Lộc, VănQuan xuống theo [PVS: Ông Hoàng Văn H bản La Đùm, xã Văn Hán].

Qua thực tế điều tra cho thấy, hầu hết người Nùng Phàn Slình ở các xã HòaBình, Tân Long và Văn Lăng của huyện Đồng Hỷ đều từ các huyện Bình Gia, VănQuan và Cao Lộc (Lạng Sơn), trong đó huyện Bình Gia là đông nhất Một bộ phậnngười Nùng Phàn Slình ở xã Văn Hán từ huyện Hữu Lũng cũng sang Thái Nguyên

do gần về khoảng cách địa lí Đặc biệt có một số ít dòng họ có nguồn gốc trực tiếp

từ Trung Quốc sang (họ Vương ở bản Ba Đình, xã Tân Long)

Ngoài ra còn một nguyên nhân cần phải đề cập đến là sau khởi nghĩa Bắc Sơn

1940, để tránh sự tàn sát của các phần tử phản cách mạng săn đuổi nên một số ngườiNùng Phàn Slình cũng đã phải bỏ trốn khỏi mảnh đất Bình Gia (Lạng Sơn) xuống Đồng

Hỷ (Thái Nguyên) Đã có khoảng gần chục người đã phải rời quê hương xuống huyệnĐồng Hỷ lánh nạn để định cư làm ăn lâu dài Tuy nhiên vì những lý do như trên nên tất

cả con cháu họ đều giấu thân phận của thế hệ cha ông mình

Tính cho đến nay, sự hiện diện của người Nùng Phàn Slình trên mảnh đấtĐồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên đã trên trăm năm Trải qua những thăng trầm của lịch

sử, tộc người này luôn phát huy truyền thống cố kết cộng đồng và bảo lưu nhữngnét văn hóa đặc sắc

Trang 39

hoạch lúa, máy phụt đã xuất hiện rất nhiều Nhờ vậy sức lao động của con người

đã được thay thế, năng suất cao, thời gian tham gia hoạt động sản xuất ít hơn xưa.Chính vì thế, người Nùng Phàn Slình còn có thể tham gia vào nhiều hoạt động kinh

tế khác như: chăn nuôi và kinh doanh buôn bán nhỏ lẻ để tăng nguồn thu nhập

Chăn nuôi của người Nùng Phàn Slình là một hoạt động kinh tế mang tính hỗtrợ cho trồng trọt Vật nuôi chủ yếu nuôi trâu và dê, còn bò và ngựa rất ít Đặc biệt,lợn, gà, vịt được nuôi nhiều hơn cả Ngày nay, ở người Nùng Phàn Slình đã xuấthiện khá nhiều trang trại nuôi lợn, gà và đặc biệt là nuôi dê cũng là một xu thế kháphát triển trong cộng đồng

Nghề thủ công gia đình của người Nùng Phàn Slình so với một vài chục nămtrước đã có những thay đổi Một số nghề có cơ hội nên phát triển như nghề mộc,làm ngói, gạch, làm chè song cũng có nhiều nghề đã mai một do nhiều nguyênnhân như trồng bông dệt vải, làm đường phên, đan lát Nhìn chung, đến nay nghềthủ công truyền thống của người Nùng Phàn Slình vẫn chỉ mang tính hỗ trợ, tựcung, tự cấp cho sinh hoạt gia đình và hoàn toàn mang tính mùa vụ

1.3.2.4 Đặc trưng văn hóa - xã hội

Người Nùng Phàn Slình ở Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên hầu hết đều ở nhà sànbốn mái, lợp ngói

Các gia đình sống quây quần với nhau thành từng bản nhỏ dựa vào lưngchừng đồi, ở giữa là cánh đồng, tạo thành từng không gian khép kín riêng (xem Phụlục hình ảnh 10.1) Ranh giới giữa các bản có thể là con đường, cánh đồng, quả đồi,núi, con suối… được quy định bằng hình thức truyền miệng từ các thế hệ trước

Nhà sàn có vách bằng ván xẻ, lợp lá cọ, hoặc ngói máng và chỉ có một cầuthang lên xuống Sàn nhà phổ biến dát bằng cây mai đập dập, song những gia đìnhkhá giả lát sàn nhà bằng gỗ xẻ Sàn nhà thường cách mặt đất khoảng 1,5 - 1,6m

Người Nùng Phàn Slình bố trí mặt bằng sinh hoạt trong ngôi nhà sàn theo

kiểu trên - dưới, trong - ngoài Phần trên (nả nưa) và bên ngoài dành cho khách và nam giới, phần dưới (nả tẩư) và phía trong dành cho phụ nữ Ở gian giữa là bàn thờ

tổ tiên, phía ngoài cửa buồng của đôi vợ chồng đặt bàn thờ Bà Mụ (Mẻ Joọc), trước

Trang 40

cửa chính có bàn thờ ma cửa (phí pạc tu), ngoài sàn có thờ ma sàn (phí tháng sàn

hoặc phi an phủ) Nhà sàn bố trí 2 bếp: bếp trong dùng để nấu ăn, bếp ngoài dùng

để đun nước và cho khách sưởi đến chơi nhà vào mùa đông và một bếp ở dưới gầmsàn để nấu cám cho lợn gà

Hiện nay, số lượng nhà sàn của người Nùng Phàn Slình được còn khá nhiều

và chủ yếu tập trung ở bản Làng Mới, Đồng Mây, Đồng Luông và Ba Đình của xãTân Long, bản Tân Đô của xã Hòa Bình, ở xã Văn Hán có bản Cầu Mai và La Đùm,

xã Văn Lăng có bản Khe Moong, Khe Quân Những ngôi nhà cũ lâu năm đã đượcsửa sang lại hoặc dựng lại đẹp và khang trang hơn so với truyền thống Hệ thốngchuồng trại đã được di chuyển ra phía xa nhà cho vệ sinh được khô thoáng

Xung quanh nhà người Nùng Phàn Slình thường trồng các loại cây để lấy bóngmát và cho quả như: chanh, chuối hột, mít, mác mật, nhãn, ổi, vải Bên cạnh nhàthường là vườn trồng các loại rau theo mùa, như: rau cải, rau muống, rau xà lách, bắpcải, hành, tỏi Ao cá cũng là một trong những nguồn cung cấp thức ăn thường ngàycho gia đình và nơi dự trữ nước khi hạn hán (xem Phụ lục hình ảnh 10.2)

Hàng ngày, người Nùng Phàn Slình ăn cơm tẻ là chính Gạo nếp được sử

dụng vào các dịp lễ tết, hội hè như: xôi ba màu (khảu nua đăm đeng) vào dịp tết Thanh minh (xem Phụ lục hình ảnh 10.3), làm bánh dậm (xì tải) vào tết Đoan ngọ, Rằm tháng bảy (slíp slí) và gói bánh chưng (pẻng tỏm) vào Tết Nguyên đán Tết Nguyên tiêu (đắp nọi) họ gói bánh chưng lại một lần nữa Bánh tro (pẻng đằng)

cũng được làm trong dịp này Trong các dịp lễ tết đồng bào còn làm thêm bún

(phẳn) chan canh thịt gà, thịt vịt.

Về trang phục, phụ nữ Nùng Phàn Slình thường vấn tóc (cuổn thú), trùm khăn vuông ra bên ngoài, đội nón lá (nghê mảo), mặc áo năm thân (ăn slửa) dài quá mông, mặc quần chân què (khòa), thắt lưng (slai lăng), đệm vai (tạp bá), đi giày vải (củ hài) hoặc guốc bằng gỗ, tre (kíp); đeo các đồ trang sức như: hoa tai (cù viền), dây chuyền

(slai tải), vòng cổ (kiềm hồ), vòng tay (kiềm mừ), nhẫn (chóp mừ) bằng bạc Chiếc xà tích bằng bạc được họ đeo vào ngày cưới, lễ tết Trước đây, phụ nữ Nùng Phàn Slình

nào cũng thích bịt một chiếc răng vàng làm bằng đồng thau ở hàm trên bên trái để

Ngày đăng: 07/03/2020, 10:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w