1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phòng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ hậu cần ở cấp trung đoàn quân đội nhân dân việt nam hiện nay

198 141 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 198
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp chủ yếu phòng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ hậu cần ở cấp trung đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay 126 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ...

Trang 1

trình nghiên cứu độc lập của riêng tác giả Các tài liệu, số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, chính xác và

có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Trọng Tiến

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

1.3. Khái quát kết quả chủ yếu các công trình nghiên cứu đã công

bố và những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục giải quyết 26

NGHĨA CÁ NHÂN TRONG CÁN BỘ HẬU CẦN Ở CẤP

2.1 Quan niệm về chủ nghĩa cá nhân và tác hại của chủ nghĩa cá nhân

trong cán bộ hậu cần ở cấp trung đoàn Quân đội nhân dân Viêt Nam 31 2.2 Quan niệm, đặc điểm và một số yếu tố tác động đến phòng,

chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ hậu cần ở cấp trung đoàn

Chương 3 PHÒNG, CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN TRONG CÁN

BỘ HẬU CẦN Ở CẤP TRUNG ĐOÀN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG, NGUYÊN

3.1 Thực trạng phòng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ hậu cần ở

cấp trung đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay 72 3.2 Nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra đối với phòng, chống chủ

nghĩa cá nhân trong cán bộ hậu cần ở cấp trung đoàn Quân đội

Chương 4 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÒNG, CHỐNG CHỦ

NGHĨA CÁ NHÂN TRONG CÁN BỘ HẬU CẦN Ở CẤP TRUNG ĐOÀN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY 116

4.1 Yêu cầu phòng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ hậu cần

ở cấp trung đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay 116 4.2 Một số giải pháp chủ yếu phòng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán

bộ hậu cần ở cấp trung đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay 126

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ

Trang 3

STT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôncoi CNCN là căn bệnh “mẹ” đẻ ra hàng trăm căn bệnh khác, làm tổn hại đến sựnghiệp cách mạng Bởi CNCN là kẻ thù không lộ nguyên hình, nó ẩn nấp trong tưtưởng, suy nghĩ và hành vi của mỗi cá nhân, ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranhcho sự nghiệp cách mạng Vô luận trong hoàn cảnh nào người cách mạng cũngphải quyết tâm đấu tranh chống lại và tiêu diệt mọi biểu hiện, tác hại của CNCN

Vì vậy, đấu tranh phòng, chống CNCN là nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên nhằmnâng cao ĐĐCM trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng

Thực tiễn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và tu dưỡng, rèn luyệnđảng viên, thời gian qua vẫn còn những hạn chế nhất định dẫn tới một bộ phậnkhông nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ cao cấp có những biểu hiệnsuy thoái, mà nguồn gốc chính là từ CNCN Đảng ta chỉ rõ: “Mọi thứ xấu xa,

hư hỏng đều sinh ra từ căn bệnh này Nếu không đánh bại, không quét sạchCNCN thì Đảng ta không thể trong sạch, vững mạnh được, không thể là mộtĐảng cách mạng chân chính hết lòng vì nước, vì dân được” [45] Mặt khác,việc phát triển nền KTTT định hướng XHCN, xu thế toàn cầu hoá, hội nhậpquốc tế ngày càng sâu rộng đã tác động tính cực đến mọi lĩnh vực của đời sống

xã hội và cuộc sống của nhân dân Bên cạnh đó, những tác động tiêu cực củanền KTTT đã tạo ra “mảnh đất” cho CNCN nảy sinh, phát triển và gây hạitrong đời sống xã hội; những khuynh hướng chạy theo lợi ích vật chất, lợi ích

cá nhân, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống do sa vào CNCNtrong một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng vẫn tồn tại Do đó, vấn đềcấp thiết đặt ra phải đấu tranh phòng, chống mọi biểu hiện, tác hại của CNCNtrong cán bộ, đảng viên của Đảng hiện nay

Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ

Tổ quốc Việt Nam XHCN Trong quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành củaquân đội, công tác bảo đảm hậu cần là một mặt công tác rất quan trọng Hậu cầnvững mạnh, bảo đảm đầy đủ, kịp thời là yếu tố cơ bản để quân đội hoàn thành tốt

Trang 5

mọi nhiệm vụ, trong mọi hoàn cảnh, tình huống Trong cơ cấu, tổ chức củaQĐNDVN, cấp trung đoàn là đơn vị cơ sở, là cấp chiến thuật cơ bản; công tác hậucần ở cấp trung đoàn là bộ phận nền tảng hợp thành công tác hậu cần cấp chiến

dịch, chiến lược Trong đó, cán bộ hậu cần là “cái gốc” của công tác hậu cần.

CBHC ở cấp trung đoàn có vị trí, vai trò là người chỉ đạo trực tiếp việc tổ chức tạonguồn bảo đảm và quản lý, điều hành công tác bảo đảm hậu cần phục vụ tốt đờisống của bộ đội và bảo đảm hậu cần trong các nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàngchiến đấu và chiến đấu của trung đoàn Với tính chất công việc đặc thù, CBHC ởcấp trung đoàn thường xuyên quản lý trực tiếp và tiến hành việc bảo quản, sửdụng tài chính, cơ sở vật chất, trang bị của quân đội Đây là môi trường dễ nảysinh tiêu cực trước những cám dỗ về lợi ích vật chất, là “mảnh đất” cho CNCN có

cơ hội nảy sinh, phát triển và gây hại Do đó, phòng, chống CNCN trong CBHC ởcấp trung đoàn phải thực sự chủ động và tiến hành thường xuyên

Trong những năm qua, công tác phòng, chống CNCN trong CBHC đãđược sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng,Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần Lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị đã thườngxuyên tuyên truyền, giáo dục, quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát công tác bảođảm hậu cần ở cấp trung đoàn Công tác phòng, chống CNCN ở CBHC ở cấptrung đoàn đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, những biểu hiện, táchại của CNCN vẫn còn trong một bộ phận CBHC ở cấp trung đoàn như: thiếu tudưỡng, rèn luyện ĐĐCM; không giữ vững phẩm chất “Cần, Kiệm, Liêm,Chính” của người CBHC quân đội, từng bước rơi vào cơ hội, thực dụng, tham ô,lãng phí; tuỳ tiện trong chấp hành các nguyên tắc, quy định của Điều lệ Công táchậu cần quân đội, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thu vén cá nhân dẫn tới viphạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội với nhiều hình thức khác nhau; thiếuchủ động, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm trong tham mưu, đề xuất các chủtrương, biện pháp thực hiện công tác bảo đảm hậu cần trung đoàn; lợi dụng cơhội để tham mưu, đề xuất theo hướng có lợi cho nhóm lợi ích

Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinhnhuệ, từng bước hiện đại; sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; xây

Trang 6

dựng ngành Hậu cần quân đội vững mạnh toàn diện, làm theo lời Bác Hồ dạyđang đặt ra những yêu cầu mới, cao hơn, khó khăn hơn cho công tác bảo đảmhậu cần và đòi hỏi CBHC ở cấp trung đoàn phải có đủ phẩm chất, năng lựcđáp ứng yêu cầu công tác bảo đảm hậu cần trung đoàn trong mọi tình huống.

Vì vậy, đề tài “Phòng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ hậu cần ở

cấp trung đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” mà tác giả lựa chọn là

vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phòng, chốngCNCN trong CBHC ở cấp trung đoàn QĐNDVN, luận án đề xuất những yêucầu và giải pháp chủ yếu tiếp tục phòng, chống CNCN trong CBHC ở cấptrung đoàn QĐNDVN hiện nay

Nhiệm vụ nghiên cứu

Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, khái quátnhững kết quả chủ yếu và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết

Luận giải một số vấn đề lý luận về CNCN và phòng, chống CNCN trongCBHC ở cấp trung đoàn QĐNDVN

Đánh giá thực trạng phòng, chống CNCN trong CBHC ở cấp trung đoànQĐNDVN hiện nay, chỉ rõ nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra cần giải quyết

Đề xuất yêu cầu và giải pháp chủ yếu phòng, chống CNCN trongCBHC ở cấp trung đoàn QĐNDVN hiện nay

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu: Phòng, chống CNCN trong CBHC ở cấp trung

đoàn QĐNDVN

Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung: Nghiên cứu về CNCN và phòng, chống CNCN trong

CBHC ở cấp trung đoàn QĐNDVN

Về không gian: Tập trung nghiên cứu, điều tra, khảo sát thực tế hoạt

động phòng, chống CNCN trong CBHC ở cấp trung đoàn bộ binh đủ quân, làm

Trang 7

nhiệm vụ huấn huyện và sẵn sàng chiến đấu (CBHC ở cấp trung đoàn đượcbiên chế đầy đủ) thuộc các đơn vị đóng quân ở miền Bắc như: Sư đoàn 3 (Quânkhu 1), Sư đoàn 316 (Quân khu 2), Sư đoàn 395, (Quân khu 3), Sư đoàn 312(Quân đoàn 1), Sư đoàn 325 (Quân đoàn 2) và học viên đào tạo CBHC cấptrung, sư đoàn ở Học viện Hậu cần là những người đã, đang và sẽ trở thànhCBHC ở cấp trung đoàn.

Về thời gian: Các tư liệu, số liệu sử dụng nghiên cứu, khảo sát chủ yếu

giới hạn từ năm 2011 đến nay

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án

Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên cơ sở hệ thống quan điểm của chủ nghĩa

Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội cách mạng, xâydựng đội ngũ cán bộ quân đội, phát huy nhân tố con người, nâng cao ĐĐCM,chống CNCN ; đường lối, quan điểm, chỉ thị, nghị quyết của Đảng Cộng sảnViệt Nam và của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng đội ngũcán bộ QĐNDVN, xây dựng đội ngũ cán bộ ngành Hậu cần quân đội nói riênggiai đoạn 2013 - 2020 và những năm tiếp theo

Cơ sở thực tiễn: Luận án dựa vào thực tiễn hoạt động phòng, chống

CNCN trong CBHC ở cấp trung đoàn QĐNDVN những năm qua, được thểhiện ở các báo cáo sơ kết, tổng kết, số liệu thống kê của cơ quan chức năng,đơn vị cơ sở; kế thừa chọn lọc kết quả nghiên cứu của một số công trình khoahọc có liên quan đến đề tài và kết quả điều tra, khảo sát thực tế, thu thập sốliệu, tài liệu của tác giả ở một số đơn vị trong quá trình thực hiện luận án

Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa

duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận án sử dụng tổng hợp cácphương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích và tổng hợp, hệ thống -cấu trúc, lôgíc - lịch sử, so sánh, điều tra xã hội học, thống kê và phương phápchuyên gia để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

5 Những đóng góp mới của luận án

Làm rõ quan niệm, đặc điểm phòng, chống CNCN trong CBHC ở cấptrung đoàn QĐNDVN

Đánh giá những thành tựu, hạn chế phòng, chống CNCN trong CBHC ở cấptrung đoàn QĐNDVN và một số vấn đề đặt ra hiện nay cần tập trung giải quyết

Trang 8

Đề xuất những giải pháp chủ yếu phòng, chống CNCN trong CBHC ởcấp trung đoàn QĐNDVN hiện nay.

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung, làm

rõ một số vấn đề lý luận về CNCN và phòng, chống CNCN trong CBHC ởcấp trung đoàn QĐNDVN hiện nay

Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp

thêm luận cứ khoa học, tư liệu, số liệu để các cơ quan, đơn vị quân đội nghiêncứu, vận dụng trong lãnh đạo, tổ chức, quản lý, giáo dục ĐĐCM, phòng,chống CNCN trong CBHC ở cấp trung đoàn Đồng thời, luận án có thể sửdụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy những nội dung cóliên quan ở các học viện, nhà trường, các đơn vị cơ sở trong quân đội

7 Kết cấu của luận án

Luận án gồm: Mở đầu; 4 chương (9 tiết), kết luận, danh mục các côngtrình khoa học của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án, danhmục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 9

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Các công trình nghiên cứu tiêu biểu của tác giả nước ngoài liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa cá nhân

Tác giả Tôn Dật Thanh, Tăng Tập Tam trong cuốn sách“Làm đồ đệ

của chủ nghĩa cá nhân hay làm chiến sĩ trung thành của chủ nghĩa tập thể” [116] đã đưa ra quan niệm CNCN là gì? Nói vắn tắt là tất cả vì cá

nhân, lợi ích cá nhân cao hơn hết thảy Khi phần tử cá nhân chủ nghĩa xemxét, giải quyết vấn đề đều coi tôi là tâm O, danh lợi cá nhân là bán kính.CNCN còn gọi là “chủ nghĩa vì tôi”, “chủ nghĩa lợi kỷ” nữa Chỉ ra nhữngbiểu hiện của CNCN (tư tưởng cá nhân) như: giải quyết vấn đề học tập,sinh hoạt, công tác của cá nhân mình không xuất phát từ lợi ích chung củanhân dân và Tổ quốc mà xuất phát từ lợi ích cá nhân bé nhỏ, chật hẹp; có

tư tưởng cá nhân trong đầu óc dễ đi theo chủ nghĩa hưởng lạc, rất thèm lốisống xa xỉ, theo đuổi mục đích hưởng thụ vật chất, mất hẳn ý chí cáchmạng, không thấy được tiền đồ rộng lớn, ngày nọ ngày kia chỉ biết say sưatrong lạc thú thấp hèn và ti tiện; có tư tưởng cá nhân tư sản trong đầu óc là

đi theo chủ nghĩa anh hùng cá nhân Những người mang nặng tư tưởng nàythường có lối nhìn lộn ngược trong so sánh vai trò của cá nhân với vai tròcủa quần chúng; tư tưởng cá nhân là của giai cấp tư sản còn biểu hiện trênmối quan hệ giữa cá nhân với tổ chức và tập thể, cá nhân với cá nhân Tưtưởng này thường diễn ra theo hai chiều hướng, chiều hướng xem thường

tổ chức và tập thể hoặc công việc của tổ chức và tập thể tùy thuộc vào việc

có lợi hay không có lợi với bản thân họ mà quyết định

Trang 10

Trong đời sống xã hội có người thừa nhận có tư tưởng cá nhân nhưnglại không chịu khắc phục sửa chữa, còn mơ ước làm “phần tử CNCN trong

xã hội xã hội chủ nghĩa” Khẳng định tư tưởng cá nhân và tư tưởng tập thể

là hai tư tưởng đối địch nhau Chúng ta đề xướng CNTT không phải là phủđịnh cá tính và cá tính ủng hộ cộng tính thì cá tính mới phát triển phongphú, lành mạnh Khắc phục tư tưởng cá nhân là một quá trình lâu dài, giankhổ Con đường trọng yếu để khắc phục tư tưởng CNCN là đi sâu vào quầnchúng, lăn mình vào lao động, là xông vào cuộc đấu tranh nước sôi lửa bỏng,

đó chính là điều kiện rèn luyện và cải tạo mình, gần gũi quần chúng Từ đó,tác giả rút ra, “quét sạch tư tưởng CNCN của giai cấp tư sản, vun xới tư tưởngtập thể của giai cấp công nhân trong đầu óc mỗi cá nhân… là một nhiệm vụcách mạng cực kỳ lớn lao”[116, tr.12]

Tác giả Kiều Mạnh Sơn trong cuốn sách“Đâu là tiền đồ của chủ nghĩa

cá nhân”[111] đã nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề CNCN như: Nguồn

gốc nảy sinh CNCN; những biểu hiện của CNCN; tính chất nguy hại củaCNCN; nếu mắc phải CNCN phải có phương hướng tu dưỡng, rèn luyện đúngđắn khắc phục CNCN, một tư tưởng cần phê phán kịch liệt dưới chế độ XHCN

Trong đó chỉ rõ: Một là, mấy loại biểu hiện chính của CNCN Thứ nhất, cần

hiểu CNCN là gì? CNCN nói vắn tắt là “ đặt lợi ích lên hàng đầu, mọi vấn đềđều xuất phát từ cá nhân, làm việc gì, đối xử với ai đều đặt “ta” lên đầu Thứhai, CNCN có những biều hiện chính như: tự kiêu, tự mãn, anh hùng cá nhân;

tự do chủ nghĩa vô nguyên tắc; hai thái độ khác nhau với của công và củariêng; nguồn gốc của CNCN là nhân sinh quan và đạo đức của giai cấp bóc lột;chế độ tư hữu tư liệu sản xuất là nguồn gốc của CNCN; chế độ sở hữu tư bản

chủ nghĩa đã đưa CNCN phát triển tới cực điểm Hai là, tính chất nguy hại của

CNCN ảnh hưởng tới sự nghiệp xây dựng xã hội XHCN; CNCN làm nhụt chíkhí cách mạng của con người; CNCN càng phát triển tất nhiên sẽ dẫn tới trụylạc, hủ hóa; CNCN dễ bị bọn phản cách mạng lợi dụng; CNCN phát triển tới

cực điểm, tất sẽ chống lại Đảng, chống lại nhân dân Ba là, CNCN không có

Trang 11

tiền đồ, bởi CNCN là đối tượng của cách mạng XHCN Đẩy lùi, xóa bỏ CNCN

đó là quy luật tất nhiên của sự phát triển xã hội XHCN Bốn là, CNTT có tiền

đồ nhất, nó trái hẳn với CNCN, CNTT là tất cả vì tập thể, phục tùng lợi ích tậpthể Vì lợi ích tập thể, người ta có thể tự giác hy sinh hết thảy mọi cái của cá

nhân mình; tư tưởng tập thể là nguồn sinh ra mọi phẩm chất cao quý Năm là,

gột rửa CNCN làm cho mọi người theo CNTT, cần nhận thức đúng đắn quan

hệ giữa cá nhân với lợi ích tập thể; nâng cao cảnh giác, ngăn ngừa CNCN xâmnhập vào mỗi con người; đi vào lao động và đấu tranh, chịu sự giám sát củaĐảng và quần chúng; nỗ lực học tập chủ nghĩa Mác - Lênin

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về phòng, chống chủ nghĩa cá nhân

Tác giả Xunicốp trong cuốn sách “Đạo đức của giai cấp tư sản và đạo

đức chủ nghĩa cộng sản” [141] cho rằng: Đạo đức đồi bại trụy lạc của giai cấp

tư sản hoàn toàn trái ngược với đạo đức cộng sản Đạo đức cộng sản là đạo đứcbình đẳng, tương trợ, chống lại mọi tư tưởng áp bức, bóc lột trong xã hội; độngviên toàn thể quần chúng lao động đấu tranh lật đổ giai cấp thống trị, xây dựng

xã hội mới - xã hội cộng sản chủ nghĩa Cơ sở kinh tế của đạo đức cộng sản làchế độ công hữu của xã hội về tư liệu sản xuất và lao động của mỗi người đềunhằm phục vụ lợi ích chung Đạo đức cộng sản là sự phát triển cao độ đạo đứccủa giai cấp vô sản Nó hình thành và phát triển trong cuộc đấu tranh chốngchủ nghĩa tư bản Phẩm chất đạo đức của giai cấp vô sản thể hiện lòng trungthành với quyền lợi của nhân dân, tinh thần đấu tranh chống bọn bóc lột củagiai cấp vô sản Tuy nhiên, giai cấp tư sản ra sức đầu độc xã hội bằng tâm lýích kỷ, tham lam cá nhân, cổ súy tự do cá nhân, đề cao CNCN Vì vậy, trên conđường xây dựng đạo đức cộng sản, cần cảnh giác đấu tranh, ngăn ngừa vớinhững thứ “đạo đức” do giai cấp tư sản đề xướng

Tác giả A.Skrưlnich trong công trình “Phong cách sống tích cực,

mục đích và phương tiện giáo dục đạo đức” [110], đã bàn về mục đích,

yêu cầu và phương pháp của giáo dục đạo đức cộng sản Theo tác giả,mục đích của giáo dục đạo đức là xây dựng phong cách sống tích cực và

Trang 12

do đó, nội dung, bản chất của nó là tạo cho con người có những phẩm chấtđạo đức cao đẹp, thái độ trung thực đối với việc thực hiện chức trách củamình Vì vậy, trên quan điểm đạo đức, mỗi người chỉ huy phải nhìn thấytrong mỗi con người cấp dưới của mình những ưu điểm và thiếu sót,những mặt mạnh và yếu, dựa vào đó để xây dựng một không khí đạo đứccần thiết trong tập thể, phòng, chống CNCN Có được không khí đó, cầnnắm và hiểu các nguyên tắc đạo đức công sản, trên cơ sở đó xây dựng nênphong cách sống tích cực.

Tác giả V.I.Đôbrưnina trong công trình “Lối sống Xô viết, hôm nay và

ngày mai” [49], đã đi sâu phân tích các vấn đề: “Hai thế giới - hai lối sống”,

“Tính chất dân chủ của lối sống xã hội chủ nghĩa”, “Lao động và lối sống”, “Vănhóa và lối sống” để làm rõ các vấn đề lý luận, thực tiễn về lối sống XHCN; từ đókhẳng định việc xây dựng lối sống XHCN có ý nghĩa cấp bách và quan hệ chặtchẽ với các nhiệm vụ xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, xây dựng các quan hệ

xã hội và xây dựng con người mới của CNCS Đây là nội dung quan trọng củacuộc đấu tranh giai cấp nhằm phê phán những quan điểm, tư tưởng chống cộng

và cơ hội - xét lại đang xuyên tạc, bôi nhọ chính sách của các đảng cộng sản, đềcao tự do cá nhân và tôn thờ CNCN; đồng thời tuyên truyền những thành tựu củaCNXH hiện thực trong nhân dân

Tác giả Hồng Vĩ trong cuốn sách “Các biện pháp chống tham nhũng ở

Trung Quốc”[134], cho rằng ở Trung Quốc từ khi cải cách, mở cửa, nạn tham

nhũng đã phát triển mạnh mẽ và trở thành điểm nóng được Đảng và Nhà nước

Trung Quốc hết sức quan tâm Tác giả tập trung làm rõ bốn vấn đề: Một là, tình trạng tham nhũng ở Trung Quốc thời kỳ cải cách mở cửa; Hai là, các dạng tham nhũng; Ba là, nguyên nhân của tình trạng tham nhũng; Bốn là, các

biện pháp chống tham nhũng Đồng thời chỉ rõ nguyên nhân nảy sinh tham

nhũng ở Trung Quốc trong quá trình hiện đại hóa đó là: Thứ nhất, hiện đại

hóa liên quan đến sự thay đổi giá trị quan cơ bản của xã hội Sự xung đột giữa

Trang 13

chuẩn mực cũ và mới đã tạo cơ hội cho cá nhân hoạt động theo phương thứcchưa được chấp nhận theo cả hai chuẩn mực, dẫn đến hiện tượng những ham

muốn cá nhân trỗi dậy; Thứ hai, hiện đại hóa đã mở ra nguồn tài chính và quyền lực mới, từ đó trợ giúp cho hành vi tham nhũng phát triển; Thứ ba, cải

cách thể chế chính trị trong quá trình hiện đại hóa làm tăng thêm tính nghiêmtrọng của vấn đề tham nhũng Quá trình chuyển đổi ở xã hội Trung Quốc từthể chế cũ bằng thể chế mới, vòng quay và lỗ hổng trong quá trình chuyểngiao là nguyên nhân tham nhũng phát triển nhiều [134, tr.309]

Cuốn sách chuyên khảo “Tham nhũng và biện pháp phòng chống

tham nhũng ở Trung Quốc” [109], đã nêu ba vấn đề lớn: Một là, phác họa

các dạng tham nhũng hết sức đa dạng; Hai là, phân tích nguyên nhân tham

nhũng, trong đó chỉ ra, nguyên nhân của mọi nguyên nhân là do CNCN gây

ra; Ba là, chống tham nhũng ở các địa phương, ban ngành phải được tiến

hành với những giải pháp cơ bản nhằm chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi mọibiểu hiện của CNCN Cuốn sách khẳng định tham nhũng là vấn nạn củamọi quốc gia trên thế giới Trung Quốc trong thời kỳ mở cửa phát triểnkinh tế, cùng với đó nạn tham nhũng cũng gia tăng Vì vậy, biện phápphòng, chống tham nhũng ở Trung Quốc phải kiên định bốn nguyên tắc

lớn Nguyên tắc thứ nhất, đấu tranh chống tham nhũng phải xoay quanh nhiệm vụ trọng tâm xây dựng kinh tế Nguyên tắc thứ hai, duy trì sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng Nguyên tắc thứ ba,

trừng trị tham nhũng phải đi vào chế độ hóa, pháp chế hóa, có cơ chế để

quần chúng tham gia vào phòng, chống tham nhũng Nguyên tắc thứ tư, đấu

tranh chống tham nhũng phải liên hệ chặt chẽ với quần chúng, phục vụ lợiích của quần chúng [109, tr.237]

Như vậy, các công trình khoa học nêu trên đều khẳng định việcphòng, chống CNCN với xây dựng đạo đức ĐĐCM, lối sống XHCN là haimặt của một vấn đề, có ý nghĩa cấp bách và quan hệ chặt chẽ với nhau.Phòng, chống CNCN hiệu quả sẽ xây dựng ĐĐCM, lối sống XHCN trong

Trang 14

mỗi người và toàn xã hội Đồng thời, mặt khác, xây dựng ĐĐCM, lốisống XHCN lại là nội dung, phương thức hiệu quả nhất để phòng, chốngCNCN; đây vừa là cuộc chiến đấu lâu dài, vừa là vấn đề có ý nghĩa cấpthiết trong tình hình hiện nay.

1.2 Các công trình nghiên cứu tiêu biểu của tác giả trong nước liên quan đến đề tài luận án

1.2.1 Các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa cá nhân và phòng, chống chủ nghĩa cá nhân

* Nghiên cứu về chủ nghĩa cá nhân:

Tác giả Phạm Ngọc Anh trong chuyên đề “ Hồ Chí Minh với vấn đề chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng - Nhìn từ góc độ văn hóa ” [2], đã tiếp

cận vấn đề chống CNCN dưới góc nhìn văn hóa trong Đảng và nêu ba vấn đề:

Một là, đạo đức cách mạng - một bộ phận hợp thành của văn hóa Đảng Hai

là, CNCN - một biểu hiện của sự tha hóa văn hóa Tác giả chỉ rõ, thực chất

CNCN dù xem xét dưới góc độ nào cũng đề cao, tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân,làm gì cũng nghĩ tới lợi ích của mình trước hết CNCN là tôn thờ “cái tôi”, coinhẹ cái “của chúng ta” Xét về bản chất, CNCN làm hủy hoại các quan hệmang tính nhân bản vốn là một biểu hiện đặc trưng nội tại của bất kỳ nền vănhóa chân chính nào Hình thức biểu hiện của CNCN làm tha hóa các quan hệ

cơ bản nhất của một con người Hậu quả của CNCN gây tác hại xấu về mọi

mặt Ba là, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch CNCN - phương thức xây

dựng, bảo vệ và phát triển văn hóa Đảng

Tác giả Nguyễn Thị Hồng Hoa trong công trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh

về chống chủ nghĩa cá nhân với cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay”[57], đã trình bày nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về chống CNCN

và thực trạng cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng; trên cơ sở đó, đề xuấtcác giải pháp góp phần đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện

nay Trong đó, tập trung làm rõ: Một là, phân tích những điều kiện, tiền đề hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về chống CNCN Hai là, phân tích nội dung tư

tưởng Hồ Chí Minh về CNCN, bao gồm khái niệm CNCN, các quan điểm vềbản chất, nguồn gốc, biểu hiện và tác hại của CNCN; những nguyên tắc và biện

Trang 15

pháp phòng, chống CNCN Ba là, phân tích thực trạng cuộc đấu tranh phòng,

chống tham nhũng ở nước ta hiện nay và đề xuất những giải pháp vận dụng tưtưởng Hồ Chí Minh về chống CNCN vào quá trình đấu tranh chống thamnhũng ở Việt Nam hiện nay

Tác giả Phạm Thị Thúy Vân trong công trình “Chống chủ nghĩa cá

nhân trong cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh”[133], đã trình bày một cách có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về

CNCN và chống CNCN, từ đó vận dụng tư tưởng này vào việc đánh giá thựctrạng và rút ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chống CNCN trong cán bộ,

đảng viên ở nước ta hiện nay Trong đó, tập trung làm rõ: Một là, phân tích

những cơ sở hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chống CNCN

Hai là, phân tích và làm rõ những nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh

về CNCN, chống CNCN và làm rõ đặc điểm, hình thức biểu hiện, tác hại của

CNCN trong cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay Ba là, đánh giá thực trạng

chống CNCN trong cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay; chỉ rõ nguyên nhân

của những thành công và hạn chế trong cuộc đấu tranh này Bốn là, bước đầu

đề xuất một số giải pháp chống CNCN theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong cán

bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay

* Nghiên cứu về phòng, chống chủ nghĩa cá nhân:

Tác giả Nguyễn Ngọc Hà trong cuốn sách, “Đặc điểm tư duy và lối sống

của con người Việt Nam hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [52],

khẳng định thành tựu của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởixướng, lãnh đạo là một tất yếu lịch sử Trong chặng đường đó, đất nước đã cónhững bước phát triển vượt bậc trên mọi lĩnh vực, đời sống của cán bộ, đảngviên và nhân dân được nâng lên cả về vật chất và tinh thần Thành tựu đó phảnánh sự thay đổi to lớn theo chiều hướng tiến bộ trong tư duy và lối sống của conngười Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay Tuy nhiên,bên cạnh đó vẫn còn tồn tại không ít những biểu hiện tiêu cực do quá khứ để lại,hoặc do tiếp thu thiếu chọn lọc tư duy và lối sống từ bên ngoài, đề cao tự do cá

Trang 16

nhân Những biểu hiện tiêu cực ấy đang là một cản trở đáng kể trước yêu cầu đổimới, hội nhập quốc tế.

Tác giả Nguyễn Bá Dương trong cuốn sách “Phòng, chống suy thoái tư

tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đảng viên” [21], khẳng định đấu tranh

phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống là vấn đề cótính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng, bảo đảm cho Đảng luôn trong

sạch vững mạnh, đồng thời là nội dung cơ bản để thực hiện mục tiêu “Xây

dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức” Ngay từ khi ra đời và khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng ta luôn chăm

lo xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức vàđạo đức, kiên quyết đấu tranh khắc phục mọi biểu hiện mơ hồ, dao động vềmục tiêu, lý tưởng cách mạng, sợ gian khổ, hy sinh, thoái thác nhiệm vụ vàquan liêu, xa dân, sa ngã về đạo đức, lối sống, tham ô, lãng phí Trong điềukiện hiện nay, Đảng ta càng nhận thức sâu sắc tính chất gay go, quyết liệt,phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên CNXH và sựcần thiết phải tăng cường công tác xây dựng Đảng, chủ động ngăn chặn, đẩylùi mọi biểu hiện của CNCN, cũng như mọi thoái hóa, biến chất về tư tưởngchính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên bắt nguồn từCNCN Đây là khâu then chốt, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng công tácxây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, thật sự là đạo đức, là văn minh

Trong cuốn sách “Phát triển đảng viên nâng cao bản lĩnh chính trị, rèn

luyện tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay” [100], tập hợp nhiều bài viết khẳng định vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng

Cộng sản Viêt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là độitiên phong của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam Để xứng đáng với vịtrí, vai trò đó, Đảng xác định vấn đề hàng đầu trong việc đổi mới, chỉnh đốnĐảng là xây dựng và nâng cao chất lượng của đội ngũ đảng viên Trong tìnhhình hiện nay, rèn luyện và nâng cao bản lĩnh chính trị, ĐĐCM, lối sốngXHCN, phòng, chống CNCN trong mỗi cán bộ, đảng viên là một nhiệm vụ

Trang 17

đặc biệt quan trọng Trong tình hình hiện nay phải nhận rõ và kiên quyết ngănchặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Tác giả Vũ Văn Phúc và Ngô Văn Thạo trong cuốn sách “Những giải

pháp và điều kiện thực hiện phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên” [104] Hai tác giả tập trung làm rõ

thực trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở Việt Nam vàchỉ ra một số kinh nghiệm, những bài học từ sự sụp đổ của Liên Xô từ gócnhìn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viêncộng sản; kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong phòng, chốngtham nhũng, suy thoái về đạo đức, lối sống, xây dựng xã hội hài hòa trong cảicách, mở cửa; kinh nghiệm trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở HànQuốc, Xingapo; phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lốisống ở Cuba Tác giả xác định mục tiêu, quan điểm, làm rõ bốn giải pháp cơbản và các điều kiện đảm bảo nhằm phòng, chống CNCN, chống suy thoái về

tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên có hiệu quả

Trong cuốn sách “Nhận diện và đấu tranh chống suy thoái tư tưởng

chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên hiện nay” [137] của

Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự đã tập hợp những bài viết của cáccán bộ lãnh đạo, quản lý, nhà giáo, nhà khoa học ở Học viện Chính trị - BộQuốc phòng Trong đó, các tác giả đã tập trung làm rõ sự cần thiết, tầmquan trọng của việc ngăn chặn, đẩy lùi CNCN, suy thoái về tư tưởng chínhtrị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay; bản chất,căn nguyên của sự suy thoái, cách nhận diện sự suy thoái; những thuận lợi,khó khăn trong đấu tranh ngăn chặn sự suy thoái Đồng thời, các tác giảcũng đặt ra yêu cầu phải thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, là cơ sở quantrọng để chủ động đấu tranh, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị,đạo đức, lối sống một cách hiệu quả

Trong cuốn sách “Bàn về giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái tư

tưởng chính trị, đạo đức, lối sống hiện nay” [8], các nhà lý luận đã đưa ra

khái niệm tệ quan liêu, đó là hiện tượng xã hội tiêu cực, mang tính lịch sử - cụ

Trang 18

thể, gắn liền với bộ máy lãnh đạo, quản lý xã hội, thể hiện ở hình thức,phương thức, phong cách lãnh đạo, quản lý bị biến dạng, biến chất, gây ra hậuquả nguy hiểm trên nhiều phương diện: kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng, tổchức, tâm lý, đạo đức, lối sống… sự lãnh đạo, quản lý và phát triển xã hội [8,tr.390] Từ khái niệm này, các tác giả đã rút ra bản chất của tệ quan liêu đượcthể hiện trên ba phương diện là: phương diện chính trị - xã hội; phương diện

kỹ thuật - tổ chức; phương diện pháp lý

Xét ở phương diện chính trị - xã hội, bản chất của tệ quan liêu biểu

hiện: Một là, sự độc đoán, chuyên quyền và sự đối lập với chế độ dân chủ;

Hai là, sự cách biệt của bộ máy lãnh đạo, quản lý với xã hội, với nhân dân

để đứng trên xã hội, đứng trên nhân dân; Ba là, những cán bộ, công chức

của bộ máy lãnh đạo, quản lý lạm dụng các quyền năng mang tính quyền lực

mà pháp luật dành cho họ để khẳng định, bảo đảm, bảo vệ những lợi íchnhóm và cá nhân của riêng mình Như vậy, bản chất chính trị - xã hội của tệquan liêu biểu hiện ở sự độc đoán, lạm quyền và sự đối lập với dân chủ; ở sựtha hóa bộ máy lãnh đạo, quản lý, sự cách biệt của bộ máy đó với xã hội, vớinhân dân để đứng trên xã hội, đứng trên nhân dân; ở việc những cán bộ,công chức của bộ máy lãnh đạo, quản lý lạm dụng các quyền lực mà phápluật dành cho họ để thực hành chủ nghĩa quan liêu, vị kỷ và bảo vệ lợi íchnhóm và lợi ích cá nhân

Tác giả Phan Xuân Sơn và Phạm Thế Lực trong cuốn sách “Nhận diện

tham nhũng và các giải pháp phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay” [112], đã tập trung chỉ rõ một số nguyên nhân sâu xa thể hiện nguồn gốc

và bản chất của tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, đó là: Nguyên nhân thứ

nhất từ bên trong hệ thống tổ chức và thi hành quyền lực nhà nước Nguyên nhân thứ hai là do thói vụ lợi, tham lam ích kỷ,… như Hồ Chí Minh đã nói:

“Do chủ nghĩa cá nhân mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa,lãng phí, xa hoa…” CNCN biểu hiện trong đời sống xã hội rất đa dạng, tinh

vi, khó nhận diện Nó thường xuyên tìm các kẽ hở của hệ thống, của pháp

Trang 19

luật, của cơ chế, chính sách để trục lợi Nó thích ứng rất nhanh với mọi thayđổi, mọi hoàn cảnh, mọi loại cán bộ; thậm chí chúng còn nặn ra các loại cơchế, chính sách và cán bộ theo lợi ích của chúng [112, tr.48].

Tác giả Vũ Văn Phúc trong cuốn sách, “Phòng, chống “tự diễn biến”

“tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay” [106], đã tổng hợp 48 bài

tham luận tiêu biểu, kết cấu thành ba phần lớn: Phần thứ nhất, về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” Phần thứ hai, thực tiễn phòng, chống “tự diễn biến”,

“tự chuyển hóa” và những vấn đề đặt ra Phần thứ ba, yêu cầu, nhiệm vụ mới

trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” Cuốn sách là tài liệu thamkhảo hữu ích khi làm rõ những biểu hiện của CNCN trong đời sống xã hội

Các công trình khoa học nêu trên đều tập trung luận giải biểu hiện, táchại của CNCN, biện pháp phòng, chống CNCN trong đội ngũ cán bộ, đảngviên của Đảng, và khẳng định phòng, chống CNCN trong bất cứ giai đoạnlịch sử nào cũng đều là vấn đề bức thiết của Đảng và sự nghiệp cách mạng.Đồng thời thống nhất khẳng định, việc phòng, chống CNCN hiệu quả gópphần nâng cao bản lĩnh chính trị, tích cực tu dưỡng, rèn luyện ĐĐCM; xâydựng lối sống XHCN; ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí, làm thất bạichiến lược “DBHB” của các thế lực thù địch

1.2.2 Các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa cá nhân và phòng, chống chủ nghĩa cá nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam

* Nghiên cứu về chủ nghĩa cá nhân:

Bài nói“Chống chủ nghĩa cá nhân” [115], ngày 12 tháng 5 năm 1957

tại Hội nghị chỉnh huấn cán bộ cao và trung cấp quân đội, đồng chí NguyễnChí Thanh đã vạch rõ nguồn gốc hoàn cánh phát sinh CNCN trong Đảng vàtrong quân đội, những biểu hiện của CNCN, đề xuất một số phương hướng,giải pháp đấu tranh khắc phục CNCN, cần nắm chắc ba vấn đề sau:

Một là, chỉ rõ nguồn gốc và hoàn cảnh phát sinh của CNCN, nêu lên những

biểu hiện, hình thái và sự phát triển của nó, phân rõ CNCN và CNTT, chỉ ra rằngcuộc đấu tranh giữa CNCN và CNTT diễn ra gay gắt hằng ngày, hằng giờ

Trang 20

Hai là, nêu ra những biểu hiện xấu của người CNCN “Người cá nhân chủ

nghĩa thì ngồi không yên, đứng không yên, như bị kiến đốt Thấy cấp trên được

đề bạt cũng buồn Khi chưa được đề bạt thì mong sao được đề bạt, lúc được đềbạt rồi lại chóng chán, muốn làm sao được “đổi ngôi” mau hơn nữa Thấy đồngchí có gì hơn mình cũng không vui, kém người cái gì đêm nằm đã phải giở mìnhluôn” Trong kháng chiến chống xâm lược, CNCN biểu hiện trước hết là tưtưởng công thần, kèn cựa, địa vị Trong hòa bình xây dựng đất nước, những biểuhiện của CNCN không những vẫn còn tồn tại mà phát triển ở mức tinh vi, đặcbiệt trong lĩnh vực kinh tế, không phân biệt được đúng sai, chỉ thấy lóa mắt bởiđồng tiền, choáng ngợp trước sức mạnh của vật chất, một bộ phận cán bộ vì thế

bị thoái hóa biến chất, hành động phi pháp, tham nhũng”

Ba là, phương hướng khắc phục CNCN là phải phát huy CNTT cho cán

bộ và nhân dân ta Bởi vì, CNCN là một vật chướng ngại, cản bước tiến củaCNXH, thậm chí có nơi, có lúc tự giác hoặc không tự giác, nó phá hoại từng

bộ phận của sự nghiệp CNXH

Tại lớp chỉnh huấn chính trị của QĐNDVN với bài nói“Phát huy chủ

nghĩa tập thể, tiếp tục chống chủ nghĩa cá nhân” [114] đăng trên Báo Quân

đội nhân dân, số 595, ngày 19 tháng 6 năm 1959, đồng chí Nguyễn Chí Thanh

tiếp tục phân tích và nêu nhận xét: Người cá nhân chủ nghĩa vừa là kẻ đê tiệnnhất, vừa là người không sung sướng nhất Nói theo dân gian ta, họ là kẻ “gieogió”- gây hại cho những người xung quanh và cho xã hội, ắt họ phải “gặp bão”-phải gánh lấy hậu hoạ do chính mình gây ra Đồng thời đưa ra những luận cứ

để khẳng định các vấn đề như: CNCN đã hết thời; ranh giới giữa CNCN vàCNTT; cần có đầy đủ dũng khí chống CNCN Để chống CNCN những việc

cần làm đó là: Trước hết, là vấn đề tu dưỡng lập trường Hai là, tiến lên, chiếm lấy đỉnh cao huy hoàng và tráng lệ Ba là, toàn bộ nội dung của tác phẩm đã chỉ

rõ đặc điểm, biểu hiện, tác hại của CNCN đối với đội ngũ cán bộ quân đội vàtrong tiến trình xây dựng xã hội XHCN ở Việt Nam

Thư viện Quân đội,“Tăng cường bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách

mạng, triệt để chống chủ nghĩa cá nhân” [121] trích các tác phẩm kinh điển và

Trang 21

các tác phẩm của các lãnh đạo Đảng, Quân đội đều thống nhất khẳng định phải

kiên quyết chống CNCN dành thắng lợi cho CNTT đã chỉ rõ: Một là, những biểu

hiện của CNCN đó là: Công thần, địa vị, đòi hỏi hưởng thụ, đãi ngộ, thay lợi íchtập thể cho cá nhân mình; quan liêu, tham ô, lãng phí; tự do chủ nghĩa, không

phục tùng tổ chức, không chấp hành kỷ luật Hai là, nguồn gốc và điều kiện tồn tại của CNCN trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên Ba là, CNCN là một kẻ địch

hung ác, cuộc đấu tranh giữa CNTT và CNCN là một trong những động lựcquan trọng thúc đẩy cách mạng XHCN phát triển

Tác giả Vũ Công Toàn trong công trình “Ảnh hưởng của chủ nghĩa cá

nhân trong đội ngũ cán bộ ở các doanh nghiệp Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay - thực trạng và giải pháp ngăn chặn, khắc phục” [124] đã chỉ rõ

CNCN là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên sự thoái hóa, biếnchất về tư tưởng, đạo đức, lối sống, đào sâu sự đối lập giữa cá nhân với cộngđồng, xã hội; ảnh hưởng của CNCN trong đội ngũ cán bộ doanh nghiệp quânđội là sự tác động, chi phối của CNCN, gây nên sự biến đổi nhất định về cácphương diện chính trị - tư tưởng, đạo đức, lối sống trong quá trình thực hiệnnhiệm vụ làm kinh tế của đội ngũ cán bộ này Về thực chất, đây là sự tácđộng của một loại hình tư tưởng xấu độc, làm mê hoặc và kéo theo sự lâynhiễm tâm lý - quan điểm tư tưởng, động cơ, nguyên tắc sống chỉ vì mìnhtrong một bộ phận cán bộ doanh nghiệp quân đội; phương thức ảnh hưởngcủa CNCN rất đa dạng, chủ yếu là phương thức ảnh hưởng trực tiếp, giántiếp và sự kết hợp đan xen giữa hai phương thức đó; kết hợp giữa phươngthức ảnh hưởng của CNCN với các âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược

“DBHB” của các thế lực thù địch dẫn tới một bộ phận cán bộ doanh nghiệpquân đội tỏ ra bị động lúng túng và ở các cấp độ khác nhau biểu hiện sự daođộng, chuyển hoá về tâm lý, tư tưởng, sa sút thoái bộ về chính trị, đạo đức,lối sống, vi phạm kỷ luật quân đội, pháp luật của Nhà nước

Do vậy, CNCN là nguồn gốc làm nảy sinh những biến đổi phức tạp vềtâm lý, tư tưởng, hành vi của đội ngũ cán bộ ở các doanh nghiệp quân đội

Trang 22

trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao Dự báo hai khả năng xuhướng ảnh hưởng của CNCN có thể xảy ra trong đội ngũ cán bộ doanhnghiệp quân đội Đó là ảnh hưởng của CNCN theo chiều hướng giảm dần vàtừng bước được khắc phục trong đội ngũ cán bộ doanh nghiệp quân đội.Đồng thời, bên cạnh đó không loại trừ xu hướng ảnh hưởng mang tính cục

bộ của CNCN có thể tăng lên trong đội ngũ cán bộ doanh nghiệp quân đội,với những giả định, những yếu kém của mỗi chủ thể không được giải quyết,những tiêu cực trong môi trường hoạt động kinh tế - xã hội không được khắcphục Trên cơ sở đó, bước đầu luận án đề xuất một số phương hướng, giảipháp có tính khả thi nhằm ngăn chặn, khắc phục ảnh hưởng của CNCN trongđội ngũ cán bộ doanh nghiệp quân đội

* Nghiên cứu về phòng, chống chủ nghĩa cá nhân:

Bàn dưới góc độ giáo dục, rèn luyện, nâng cao ĐĐCM: Tác giả Phạm

Văn Vinh, “Nâng cao đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ chủ trì ở đơn vị

cơ sở binh chủng hợp thành Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, luận án

Tiến sĩ Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị Quân sự, Hà Nội [140]; Đặng

Nam Điền, “Nâng cao đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ chính trị Quân

đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới”, Nxb QĐND, Hà Nội [47]; Nguyễn

Tiến Bình, “Tự giác hoá quá trình hình thành phát triển đạo đức cộng sản trong

Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, luận án Phó tiến sĩ Khoa học quân sự,

Học viện Chính trị Quân sự, Hà Nội [14]; Phạm Văn Nhuận, “Giáo dục, rèn

luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong quân đội hiện nay”, Nxb QĐND, Hà Nội [102]; Đặng Sỹ Lộc, “Bồi dưỡng rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ doanh nghiệp quân đội trong giai đoạn hiện nay”, Nxb CTQG, Hà Nội [75];

Đặng Đức Thắng,“Vận dụng tư tưởng Mác - Ăngghen, Lênin về đạo đức trong

xây dựng đạo đức quân nhân hiện nay”, Nxb QĐND, Hà Nội [117]; Nguyễn Văn

Thế, “Tăng cường thực hiện những nguyên tắc xây dựng đạo đức cách mạng của

cán bộ, đảng viên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh”[120]

Trang 23

Nhìn chung, các công trình này đã đi sâu phân tích tầm quan trọng nângcao ĐĐCM với phòng, chống CNCN trong đội ngũ cán bộ quân đội Đồngthời, xác định những chuẩn mực đạo đức cơ bản gắn với đặc điểm hoạt động,chức trách, nhiệm vụ cụ thể của mỗi đối tượng cán bộ quân đội; chỉ rõ nhữngđặc điểm tác động và một số vấn đề có tính nguyên tắc trong quá trình nângcao ĐĐCM với phòng, chống CNCN cho đội ngũ cán bộ quân đội Từ đó, đềxuất phương hướng, giải pháp cụ thể, có tính khả thi cao, phù hợp, hiệu quả.

Bàn dưới góc độ xây dựng lối sống XHCN: Tác giả Lê Văn Làm, “Bồi dưỡng ý thức kỷ luật quân sự của học viên đào tạo sĩ quan ở các nhà trường quân đội hiện nay”, luận án Tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị

Quân sự, Hà Nội [68]; Vũ Văn Thường, “Bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho học

viên đào tạo sĩ quan ở các nhà trường quân đội trong giai đoạn hiện nay”, luận

án Tiến sĩ Chính trị học, Học viện Chính trị, Hà Nội [122]; Phạm Xuân Hảo,

“Bồi dưỡng lối sống xã hội chủ nghĩa cho đội ngũ sĩ quan trẻ Quân đội nhân

dân Việt Nam hiện nay”, Nxb QĐND, Hà Nội [56]; Vũ Đình Đắc, “Xây dựng lối sống có văn hóa của học viên ở các trường đào tạo sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị, Hà Nội

[46]

Nghiên cứu về lối sống trong môi trường quân sự là vấn đề tương đốiriêng biệt, vì hoạt động của con người bên cạnh tác động của những quy luậtchung còn bị chi phối bởi các quy luật đặc thù của tổ chức quân sự Mặc dùvới đối tượng và thời điểm nghiên cứu khác nhau và sự đánh giá khách quan,toàn diện, lịch sử, cụ thể, phát triển, các tác giả đã phân tích rõ đặc điểm củađối tượng nghiên cứu; đánh giá đúng thực trạng, xác định các yêu cầu và giảipháp cơ bản nhằm giáo dục, bồi dưỡng lối sống XHCN đi đôi với phòng,chống CNCN có hiệu quả, cho từng loại đối tượng cụ thể

Các công trình tiếp cận phòng, chống CNCN dưới các góc độ khácnhau nhưng đều thống nhất khẳng định muốn khắc phục ảnh hưởng củaCNCN, nâng cao ĐĐCM, lối sống XHCN phải phòng, chống mọi biểu hiện,tác hại của CNCN trong cán bộ quân đội Xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội

Trang 24

có phẩm chất đạo đức tốt, năng lực chuyên môn giỏi, sẵn sàng nhận và hoànthành mọi nhiệm vụ được giao Đây là cơ sở dữ liệu có giá trị tham khảo thiếtthực để tác giả luận án nghiên cứu, thực hiện đề tài.

* Nghiên cứu về phòng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ hậu cần Quân đội:

Tác giả Hà Nguyên Cát trong công trình “Vấn đề đạo đức cách mạng

của người cán bộ hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” [17] đã

trình bày những nét đặc thù và đặc điểm cơ bản hình thành và phát triểnĐĐCM của CBHC trong giai đoạn hiện nay Theo tác giả, đặc thù ĐĐCM củangười CBHC được biểu hiện tập trung ở đức “liêm”, đức “kiệm” là đặc trưngnổi bật Ngoài ra, nó còn bao hàm sắc thái riêng của đạo đức người cán bộlàm nhiệm vụ phục vụ về mặt vật chất bảo đảm cho đời sống và hoạt độngcủa bộ đội Đó là: tinh thần chiến đấu hy sinh, khắc phục khó khăn như ngườichiến sĩ cầm súng trước mặt trận; sự tuân thủ nghiêm ngặt về kỷ luật nghiệp

vụ hậu cần; lòng nhân ái, yêu thương bộ đội Trên cơ sở luận giải những căn

cứ khoa học về lý luận đã chỉ rõ thực trạng, nguyên nhân hạn chế sự phát triểnĐĐCM của người CBHC; chỉ ra những nhân tố tác động, những đặc điểmmang tính quy luật của quá trình hình thành và phát triển ĐĐCM của ngườiCBHC, tác giả luận án đã đưa ra một số giải pháp cơ bản để xây dựng ĐĐCM

đi đôi với phòng, chống CNCN cho CBHC đáp ứng yêu cầu xây dựngQĐNDVN giai đoạn hiện nay Trong các giải pháp, tác giả luôn nhấn mạnh:

“Việc xây dựng đạo đức cách mạng phải đi đôi với tăng cường pháp luật, kỷluật và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ huy, quản lý thống nhấtcủa các cấp trong Quân đội và ngành Hậu cần” [17, tr.170]

Tác giả Trần Như Chủ trong công trình “Đặc điểm phát triển đạo đức

cách mạng của người cán bộ hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam - Lịch sử

và lôgic” [19] đã phân tích những biểu hiện cụ thể về phẩm chất chính trị, đạo

đức của CBHC đó là: “Nêu cao tinh thần trách nhiệm, tận tâm với nghề nghiệp,không phân biệt sang hèn; hết lòng yêu thương bộ đội và quên mình vì bộ đội;thực sự tiêu biểu về cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, hết lòng, hết sức

Trang 25

phục vụ bộ đội, tận tụy với công việc, nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ đượcgiao” [19, tr.38] Đồng thời, xác định 3 nhóm giải pháp: chủ động xây dựngmôi trường đạo đức lành mạnh trong các đơn vị hậu cần, trong đó gắn kết chặtchẽ công tác tư tưởng, tổ chức với chính sách cán bộ để củng cố và phát triểnnhững phẩm chất ĐĐCM tốt đẹp gắn liền với đẩy lùi mọi ảnh hưởng củaCNCN; đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục, tự giáo dục ở nhà trường và đơn

vị, làm cho ĐĐCM của người CBHC phát triển một cách tự giác, trong đó, tựgiáo dục, rèn luyện phấn đấu của mỗi CBHC là nhân tố quyết định; nâng caovai trò định hướng giá trị đạo đức, quản lý kiểm tra hoạt động của ngườiCBHC là một giải pháp vừa hướng dẫn lựa chọn những giá trị đạo đức và điềukhiển, điều chỉnh quá trình thực hiện nhiệm vụ, tu dưỡng rèn luyện đạo đức

Tác giả Nguyễn Ngọc Ba trong công trình“Ảnh hưởng của chủ nghĩa

thực dụng đến nhân cách người cán bộ hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam”

[4] đã tập trung luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa thựcdụng Đặc biệt, tác giả đã đi sâu lý giải về bản chất, nguồn gốc chủ nghĩa thựcdụng; chỉ ra sự ảnh hưởng tiêu cực của nó, làm sai lệch những chuẩn mực đạođức, lối sống, lẽ sống và làm suy giảm tinh thần sẵn sàng nhận, hoàn thànhnhiệm vụ của họ; khẳng định CNCN là nguyên nhân hình thành chủ nghĩathực dụng, cơ hội, bè phái trong đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ quân độinói riêng Trên cơ sở đánh giá thực trạng, dự báo xu hướng ảnh hưởng củachủ nghĩa thực dụng đến nhân cách người cán bộ quân đội và CBHC, tác giả

dã đề xuất một số giải pháp cơ bản, có tính khả thi, phù hợp với đặc thù củahoạt động hậu cần trong tình hình mới nhằm khắc phục ảnh hưởng của chủnghĩa thực dụng đến nhân cách người CBHC trong QĐNDVN

Như vậy, các công trình khoa học nghiên cứu về xây dựng phẩm chất,ĐĐCM của đội ngũ CBHC quân đội nhấn mạnh việc xây dựng đội ngũ CBHCcác cấp trong quân đội có đủ phẩm chất, năng lực, vừa hồng vừa chuyên, trong

đó việc bồi dưỡng, phát triển bản lĩnh chính trị vững vàng, ĐĐCM, lối sốngXHCN phải gắn liền với phòng, chống CNCN Đó là những giá trị khoa học để

Trang 26

tác giả kế thừa có chọn lọc trong xây dựng hệ thống quan niệm công cụ vềCBHC, CBHC ở cấp trung đoàn và CNCN trong CBHC ở cấp trung đoàn Từ

đó, đưa ra quan niệm trung tâm của đề tài luận án

1.3 Khái quát kết quả chủ yếu các công trình nghiên cứu đã công bố

và những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục giải quyết

1.3.1 Khái quát kết quả chủ yếu các công trình khoa học đã công bố liên quan đến đề tài luận án

Việc tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liênquan đến đề tài luận án trên đây đã phân tích, đề cập khá nhiều khía cạnh khácnhau liên quan trực tiếp đến nội dung mà luận án nghiên cứu như: quan niệm,bản chất, nguồn gốc, biểu hiện và tác hại của CNCN nói chung và CNCN trongđội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng; sự cần thiết đấu tranh phòng, chống CNCNtrong tiến trình cách mạng XHCN Tác giả có thể khái quát một số kết quả chủyếu của các công trình đã tổng quan trên một số nội dung sau:

Một là, từ những góc độ tiếp cận khác nhau, các công trình nghiên cứu

trên đã đề cập khá toàn diện về CNCN và phòng, chống CNCN nói chung, vàtrong đội ngũ cán bộ, đảng viên công tác trong các ngành, các lĩnh vực nói riêng.Những kết quả này giúp nghiên cứu sinh có cái nhìn tổng quát về CNCN vàphòng, chống CNCN, tạo thuận lợi trong tiếp cận và giải quyết những vấn đề lýluận về CNCN phòng, chống CNCN trong đội ngũ cán bộ làm công tác bảo đảmvật chất hậu cần của quân đội mà đề tài nghiên cứu

Tuy nhiên, vấn đề phòng, chống CNCN trong cán bộ quân đội nóichung và cán bộ ngành Hậu cần quân đội chưa được đề cập một cách có tính

hệ thống, toàn diện và sâu sắc, đặc biệt chưa có công trình nào chỉ rõ vấn đềCNCN và phòng, chống CNCN trong CBHC quân đội ở đơn vị cơ sở

Hai là, những công trình khoa học công bố trên đây đã đề cập, luận giải

dưới những góc độ, cấp độ tiếp cận khác nhau, từ trực tiếp nghiên cứu vềCNCN của một chủ thể xác định, chỉ rõ biểu hiện, tác hại của CNCN, từ đóthấy rõ việc đấu tranh phòng, chống CNCN là vấn đề cấp thiết Cùng với đó,

Trang 27

các công trình nghiên cứu về CBHC cũng được luận bàn một cách hệ thống từkhi Chỉ thị số 214-CT/BQP ngày 14/3/1995 về phát động phong trào thi đua

“Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”, nhất là luận giải CBHCdưới góc độ bồi dưỡng, xây dựng, nâng cao ĐĐCM cho CBHC quân đội, thấyđược tính đa dạng và tính đặc thù của CBHC trong công việc và sự cần thiếtphải bồi dưỡng, xây dựng, nâng cao ĐĐCM gắn với phòng, chống CNCNtheo chức trách, nhiệm vụ của CBHC

Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống

về phòng, chống CNCN trong CBHC ở cấp trung đoàn Do đó, CNCN vàphòng, chống CNCN trong CBHC ở cấp trung đoàn đang là vấn đề còn bỏ ngỏ,cần nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống, góp phần cung cấp cơ sở lý luận choviệc phòng, chống CNCN trong CBHC ở cấp trung đoàn hiệu quả và bồi dưỡng,nâng cao ĐĐCM cho CBHC ở cấp trung đoàn

Ba là, các công trình khoa học, dưới các góc độ, cấp độ tiếp cận khác nhau

đã tiến hành khảo sát đánh giá thực trạng nhận diện những biểu hiện, tác hại củaCNCN, thực trạng phòng, chống CNCN cũng như năng lực phòng, chống CNCNcủa các chủ thể, trên cơ sở đó, chỉ ra những nguyên nhân của thực trạng đó

Tuy nhiên, việc khảo sát và đánh giá thực trạng đó chỉ dừng lại ở mức

độ khái quát về một hình thức, một nội dung cụ thể trong phòng, chốngCNCN trong đội ngũ CBHC; chưa mang tính tổng thể, đồng bộ và thống nhất

Do đó, cần nghiên cứu, khảo sát đánh giá toàn diện thực trạng về phòng,chống CNCN trong CBHC ở cấp trung đoàn QĐNDVN hiện nay nhằm cungcấp cơ sở thực tiễn cho việc giữ vững truyền thống người CBHC và nâng caophẩm chất, năng lực người CBHC quân đội trong tình hình mới Đây là điều

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Bốn là, các công trình khoa học trên đây đã nghiên cứu đề ra các giải pháp

nâng cao chất lượng, hiệu quả phòng, chống CNCN nói chung, trong đội ngũ cán

bộ, đảng viên cả trong và ngoài quân đội; giải pháp phòng, chống CNCN nhằmnâng cao ĐĐCM, xây dựng lối sống XHCN, chống suy thoái, chống “tự diễn

Trang 28

biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ… của đội ngũ cán bộ, đảng viên trên một sốlĩnh vực công tác Những giải pháp góp phần cung cấp luận cứ khoa học quantrọng để Đảng, Quân đội lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức bồi dưỡng nâng cao hiệuquả phòng, chống CNCN trong cán bộ quân đội nói chung và CBHC nói riêng.

Nhìn tổng thể, kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã tổng

quan có liên quan đến luận án đề cập khá toàn diện về CNCN và phòng, chốngCNCN là nguồn tư liệu để tác giả luận án tiếp thu, kế thừa có chọn lọc và tìm ra

“khoảng trống” khoa học và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết

1.3.2 Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết

Qua tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận

án trên cho thấy, đề tài luận án bàn về CNCN và phòng, chống CNCN luônnhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và thể hiện khá hệ thống, toàndiện Trên cơ sở khái quát kết quả các công trình khoa học đã công bố, tác giảluận án đi sâu nghiên cứu phòng, chống CNCN trong CBHC ở cấp trung đoànQĐNDVN dưới góc độ chuyên ngành CNXH khoa học Trong đó, những vấn

đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ đó là:

Thứ nhất, khái quát những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về CNCN,luận án tập trung phân tích nguồn gốc, bản chất, biểu hiện, tác hại của CNCNtrong đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung và cán bộ quân đội nói riêng Xácđịnh rõ những đặc điểm của CBHC quân đội, CBHC ở cấp trung đoàn vàCNCN trong CBHC ở cấp trung đoàn

Thứ hai, dưới góc độ triết học, chính trị - xã hội, luận án tập trung làm rõ

một cách có hệ thống các quan niệm công cụ về CNCN và CNCN trongCBHC ở cấp trung đoàn Từ đó, luận án đưa ra quan niệm trung tâm phòng,chống CNCN trong CBHC ở cấp trung đoàn QĐNDVN; phân tích làm rõ nộihàm quan niệm trung tâm, chỉ rõ mục tiêu, nội dung, phương thức phòng,chống; đặc điểm, một số yếu tố tác động đến phòng, chống CNCN trongCBHC ở cấp trung đoàn QĐNDVN hiện nay

Trang 29

Thứ ba, trên cơ sở phân tích, làm rõ quan niệm trung tâm đó là khung lý

thuyết cơ bản, đồng thời kết hợp với các tài liệu, báo cáo của các cơ quan chứcnăng và kết quả điều tra, khảo sát thực tế ở các đơn vị để đánh giá thực trạng

phòng, chống CNCN trong CBHC ở cấp trung đoàn QĐNDVN hiện nay Chỉ rõnguyên nhân của thực trạng và một số vấn đề đặt ra cần giải quyết trong quá trìnhphòng, chống CNCN trong CBHC ở cấp trung đoàn QĐNDVN thời gian tới

Thứ tư, xác định yêu cầu và đề xuất giải pháp chủ yếu, đồng bộ, phù

hợp có tính đột phá nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống CNCN trongCBHC ở cấp trung đoàn QĐNDVN hiện nay

Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; dướigóc độ chuyên ngành CNXH khoa học, luận án nghiên cứu một cách cơ bản về

“Phòng, chống CNCN trong CBHC ở cấp trung đoàn QĐNDVN hiện nay”.

Kết luận chương 1

Tổng quan các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án là cầnthiết và có ý nghĩa quan trọng Thông qua các công trình đã tổng quan có liênquan đến đề tài luận án với nhiều thể loại khác nhau như: Sách chuyên khảo,sách tham khảo, đề tài, luận án tiến sĩ và các bài báo khoa học sẽ giúp tác giảthấy được những kết quả của các công trình đó Đồng thời, tác giả cũng đãkhái quát kết quả chủ yếu của các công trình đã công bố và xác định rõ đượcnhững vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục giải quyết

Từ việc tổng quan các công trình khoa học trong và ngoài nước đã công

bố liên quan đến đề tài “Phòng, chống CNCN trong CBHC ở cấp trung đoàn

QĐNDVN hiện nay”, tác giả nhận thấy các công trình khoa học đó đã đi sâu

nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về CNCN; về đấu tranhphòng, chống CNCN trong Đảng, tổ chức Đảng và các ngành cụ thể; vềCNCN và phòng, chống CNCN trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng nóichung và cán bộ quân đội nói riêng

Trang 30

Vì vậy, giá trị của tổng quan các công trình tiêu biểu có liên quan đến

đề tài luận án giúp tác giả luận án tìm ra “khoảng trống” của các công trìnhtrước đó, xác định các vấn đề đặt ra cần tập trung giải quyết trong luận ántheo đúng góc độ chính trị - xã hội và phù hợp với tính chất của đề tài luận ántiến sĩ Triết học, chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, không trùng lặpvới bất cứ một công trình khoa học nào đã được nghiệm thu, công bố

Trang 31

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG, CHỐNG

CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN TRONG CÁN BỘ HẬU CẦN

Ở CẤP TRUNG ĐOÀN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

2.1 Quan niệm về chủ nghĩa cá nhân và tác hại của chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ hậu cần ở cấp trung đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam

2.1.1 Quan niệm về chủ nghĩa cá nhân

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa cá nhân

Bàn về CNCN, trước tiên cần bắt đầu từ phạm trù cá nhân và xem xét

nó trong mối tương quan giữa các cá nhân, cá nhân với cộng đồng, xã hội Cá

nhân và xã hội có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, là tiền đề tồn tại của

nhau Quan hệ này phát triển không ngừng trong thể thống nhất và đối lậpgiữa cá nhân và xã hội Ngay từ đầu, cá nhân và xã hội luôn tồn tại khăng khítvới nhau, không thể có xã hội mà không có cá nhân và ngược lại Nghiên cứu

về mối quan hệ cá nhân - xã hội cũng có nghĩa là phải nghiên cứu vị trí vai tròcủa chủ thể và khách thể trong mối quan hệ ấy và sự tác động lẫn nhau giữa

cá nhân, tập thể, xã hội.

Phạm trù cá nhân được xem xét trong hai loại quan hệ khác nhau, quan

hệ với loài - loài người và quan hệ với xã hội - hình thái tổ chức mà bản thân

cá nhân tồn tại và sinh sống Cá nhân trong quan hệ thứ nhất, chỉ sự tồn tại

của những con người riêng lẻ như những thực thể xã hội - sinh học Cá nhân ởquan hệ thứ hai, quan hệ với xã hội, là chủ thể của xã hội, có sự thống nhấtgiữa đặc điểm riêng với chức năng xã hội mà theo Mác, không phải là tinhthần trừu tượng, mà là một thực tại cụ thể Cá nhân, trước hết là con người vàquan trọng nhất là một thành viên trong quan hệ đối với xã hội Đã là thànhviên của xã hội thì cá nhân phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đối với xã hội và

Trang 32

ngược lại, xã hội cũng phải đảm bảo đối với mỗi cá nhân được thực hiệnquyền lợi và nghĩa vụ của mình.

Cá nhân là chủ thể tích cực, năng động của sự phát triển xã hội C.Mác

và Ph Ăngghen cho rằng, lịch sử không làm gì hết, nó không có tính phongphú vô cùng tận nào cả, mà chính con người mới là chủ thể sáng tạo ra lịch

sử Đó là sự thống nhất giữa chức năng cá nhân và chức năng xã hội Cá nhân

- cá thể người với tư cách là sản phẩm của sự phát triển xã hội, là chủ thể củalao động, của quan hệ xã hội và của nhận thức Cá nhân là một con ngườihoàn chỉnh trong sự thống nhất giữa khả năng riêng có của người đó với chứcnăng xã hội do người đó thực hiện Còn khi xem xét cá nhân trong mối quan

hệ vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của các hoạt động xã hội thì cá nhân là cáthể người với tính cách là sản phẩm của sự phát triển xã hội, là chủ thể củalao động, của mọi quan hệ xã hội và của nhận thức do những điều kiện lịch sử

cụ thể của đời sống xã hội quy định Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội là lợiích, đó là cái khách quan cần thiết thoả mãn nhu cầu của con người, quyếtđịnh phương thức thích hợp của ý chí và hành động của con người Tuynhiên, không được tuyệt đối hóa yếu tố nào trong mối quan hệ này

Như vậy, cá nhân là cá thể người, song không phải cá thể người nàocũng đều là cá nhân Để có đủ tư cách cá nhân, con người trước hết phải sốngtrong một xã hội nhất định và sự phát triển của cá nhân phụ thuộc vào sự pháttriển xã hội, vào những điều kiện xã hội quy định, cá nhân là sản phẩm của xãhội Mặt khác, cá nhân không chỉ là những sản phẩm thụ động của xã hội màquan trọng hơn, cá nhân còn là chủ thể của các hoạt động xã hội, chính cánhân là người sáng tạo ra xã hội, cải tạo xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu sốngcủa bản thân cá nhân Chính vì thế mà C Mác cho rằng: “Bản thân xã hội sảnsinh ra con người với tính cách là con người như thế nào thì con người cũngsản sinh ra xã hội như vậy” [77, tr.130]

Trang 33

Ở đây, cá nhân cần phải được xem xét trong các mối quan hệ: Thứ nhất:

Cá nhân là sự tồn tại cảm tính, cụ thể của giống loài, là phần tử đơn nhất tạo

thành xã hội, đồng thời là thành viên của xã hội Thứ hai: Cá nhân được hình

thành và phát triển chỉ trong quan hệ với xã hội, cho nên nó là sản phẩm của xãhội; xã hội thay đổi theo tiến trình lịch sử, nên cá nhân là một hiện tượng có tínhlịch sử Mỗi thời đại sinh ra một kiểu cá nhân đặc trưng, do điều kiện lịch sử - cụ

thể của đời sống xã hội quy định Thứ ba: Cá nhân là chủ thể của hoạt động thực

tiễn, tức là chủ thể của các quá trình hoạt động sáng tạo nhằm cải tạo tự nhiên và

xã hội; do đó, cá nhân cũng là chủ thể của mọi quan hệ xã hội Thứ tư: Cá nhân

là sự thống nhất của những yếu tố và đặc điểm riêng biệt với các chức năng

và chuẩn mực xã hội chung, được biểu hiện sinh động và cảm tính qua từng

cá thể, trong sự chế ước của điều kiện và hoàn cảnh lịch sử - xã hội

Như vậy, có thể quan niệm: Cá nhân là một phạm trù dùng để chỉ cá

thể người với tư cách là thành viên của xã hội, là sản phẩm đồng thời là chủ thể hoạt động của xã hội, của mọi quan hệ xã hội trong những điều kiện lịch

sử cụ thể nhất định.

Trải qua các thời đại lịch sử, vị trí của cá nhân, ý thức về cá nhân cũngnhư sự phát triển của cá nhân không phải bao giờ cũng giống nhau Cá nhân vàcác mối quan hệ của nó không phải là một cái gì bất biến, xét trên cả bình diệnsinh học và xã hội Không thể có những cá nhân chung chung, trừu tượng, philịch sử Chỉ có những cá nhân cụ thể thuộc về một thời đại, một dân tộc, mộtgiai cấp, tầng lớp xã hội với ý thức và hành vi sống nhất định mà thôi

Vậy, CNCN là gì? Để làm rõ nội hàm khái niệm này, trước hết cần có

sự thống nhất về mặt nhận thức quan niệm chủ nghĩa: 1 - Chủ nghĩa biểu hiệnmột cách chung nhất là học thuyết - hệ thống những quan điểm, ý thức, tưtưởng làm thành cơ sở lý thuyết chi phối, hướng dẫn hoạt động của con ngườitheo định hướng nào đó (ví dụ: chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa Mác

- Lênin ); 2 - Chủ nghĩa còn là một trào lưu, một khuynh hướng xã hội hiệnthực được dẫn dắt theo một hệ thống lý luận nào đó (ví dụ: chủ nghĩa tư bản,

Trang 34

chủ nghĩa xã hội ); 3 - Chủ nghĩa còn là một yếu tố ghép sau cấu tạo thànhmột tính từ chỉ tính chất của một thực thể nào đó như: tư bản chủ nghĩa, cánhân chủ nghĩa Trong luận án, khái niệm CNCN được xem xét ở cả ba hìnhthức biểu hiện trên, nhưng khi đặt CNCN trong mối quan hệ gắn với chủ thể

xã hội xác định là CBHC ở cấp trung đoàn, CNCN chủ yếu được xem xéttheo hướng là một khuynh hướng, một trào lưu xã hội hiện thực với ý thức vàhành vi, hành động bị dẫn dắt và quy định cho một quan điểm, quan niệm nào

đó CNCN xuất hiện không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên thoát ly các điềukiện kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng của một chế độ xã hội cụ thể Ngaykhi xuất hiện chế độ tư hữu, thì mối tương quan giữa các cá nhân, cá nhân vớicộng đồng, xã hội có sự thay đổi cơ bản CNCN nảy sinh trong điều kiện xã hộiphân chia giai cấp gắn liền với quan niệm muốn giải quyết các mối tương quan

đó theo hướng ngày càng đề cao quá mức vị trí, vai trò và lợi ích cá nhân, hạthấp, xem nhẹ vai trò và lợi ích cộng đồng, xã hội Ngay từ khi chế độ tư hữumới ra đời, cái “bản năng” cộng đồng trong con người dần dần bị mai một hoặc

bị phủ định, thay vào đó là khuynh hướng quan niệm chỉ coi trọng cái cá nhân.Khuynh hướng đó ngày càng lớn dần, dẫn đến hình thành CNCN và nó khôngngừng sinh sôi, nảy nở cùng với sự phân hoá giai cấp sâu sắc

Với tính cách là một khuynh hướng, trào lưu xã hội hiện thực CNCNphản ánh một hiện tượng xã hội, một khuynh hướng phát triển đặc thù trongđời sống tinh thần và hoạt động của cá nhân hay một bộ phận cá nhân trongcộng đồng, xã hội theo hướng đề cao, tuyệt đối hóa cá nhân và lợi ích cánhân Mối quan hệ cũng như sự khác biệt của hai phạm trù này chính là ởchỗ: sự tồn tại của xã hội không thể không bao gồm những cá nhân, sự xuấthiện CNCN không thể không bắt đầu từ nơi có những cá nhân con người đangsống và hoạt động Nhưng không phải bất cứ cá nhân nào cũng đều mangtrong mình CNCN, biến thành những con người cá nhân chủ nghĩa Vì thế,những nhận thức của con người về CNCN không phải là giống nhau và khôngphải ngay từ đầu đã được khái quát thành khái niệm đầy đủ

Trang 35

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đặt cơ sở phươngpháp luận cho việc nghiên cứu CNCN, với tư cách là một phạm trù triết học -đạo đức học thuộc hình thái ý thức xã hội, phản ánh một tồn tại xã hội tươngứng Lúc đầu CNCN chỉ mới xuất hiện trong một số cá nhân, nó là mặt xấu, làcái núp trong mỗi con người, chủ yếu là những người có của, giai cấp bóc lột.Khi CNCN khu trú ở một nhóm người, thì nó được nhân lên và dần trở thànhmột khuynh hướng có tính xã hội Đó là khuynh hướng cá nhân cực đoan,luôn tách rời, tuyệt đối hoá lợi ích cá nhân trong mối quan hệ biện chứng vớilợi ích tập thể, cộng đồng, xã hội Sự nhấn mạnh một chiều lợi ích cá nhân đó

đã từng bước phá vỡ mối quan hệ khách quan giữa cá nhân với các chủ thểquan hệ khác và làm biến dạng bộ mặt nhân cách con người và đời sống xãhội Đi liền với khuynh hướng đó là các loại: chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩaphường hội, bè phái, cục bộ, phe cánh, nhóm lợi ích Do đó, ở một chừngmực nhất định có thể xem các loại chủ nghĩa đó là những biểu hiện đặc thùcủa CNCN Bởi vì, nói như C.Mác trong tác phẩm “Vấn đề Do thái” rằng:

“Đằng sau hoạt động sinh sống nhất định và hoàn cảnh sinh sống nhất định,thì chỉ có ý nghĩa cá nhân là được thừa nhận” [76, tr 555]

Trong tác phẩm “Gia đình thần thánh”, C.Mác đề cập tới con người vị

kỷ với tư cách là những thành viên của xã hội, những họ lại là những cá nhânkhép kín, mọi suy nghĩ và hành động của họ đều hướng nội - vào cái tôi củamình, vì lợi ích riêng của mình, đồng thời họ đòi hỏi xã hội và người kháchành động đáp ứng thoả mãn nhu cầu cá nhân của họ Vì thế, họ là những conngười tách khỏi cái tổng thể của xã hội

Ph.Ăngghen trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tưhữu và của nhà nước” đã vạch rõ: “chính những lợi ích thấp hèn nhất - tínhtham lam tầm thường, lòng khao khát hưởng lạc thô bạo, tính bủn xỉn bẩnthỉu, nguyện vọng ích kỉ muốn ăn cắp của công - báo hiệu sự ra đời của xã hộivăn minh mới, xã hội có giai cấp; chính những thủ đoạn bỉ ổi nhất - trộm cắp,bạo lực, tính giảo quyệt, sự phản bội - đã làm suy yếu xã hội thị tộc không cógiai cấp và đã đưa xã hội đó đến chỗ diệt vong” [3, tr.150] Trong suốt tiến

Trang 36

trình lịch sử tồn tại của chế độ tư hữu, bản thân xã hội đó vẫn đem lại lợi ích,thoả mãn nhu cầu của thiểu số chiếm hữu tư liệu sản xuất trên mồ hôi nướcmắt và xương máu của tuyệt đại đa số những người bị áp bức, bóc lột.

Tại Đại hội III toàn Nga của Đoàn Thanh niên Cộng sản Nga ngày2.10.1920 ở Mátxcơva, khi nói về nhiệm vụ của Đoàn Thanh niên, V.I.Lêninchỉ ra xã hội cũ xây dựng trên nguyên tắc cướp đoạt, do đó, những người đượcđào tạo ở trong xã hội đó, ngay từ khi còn bú mẹ đã nhiễm phải một tâm lý,một tập quán là chỉ lo nghĩ về của riêng mình chứ không quan tâm đến ngườikhác Trong tác phẩm “Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản”, V.I.Lênin cảnh báo nguy cơ giai cấp vô sản bị tiêm nhiễm, hủ hoá bởi: “Họ baoquanh giai cấp vô sản về mọi phía bằng một bầu không khí tiểu tư sản, làm chogiai cấp vô sản bị tiêm nhiễm, bị hủ hóa bởi bầu không khí đó, luôn luôn làmcho giai cấp vô sản tái phạm những tính xấu cố hữu của giai cấp tiểu tư sảnnhư: tính nhu nhược, tính tản mạn, chủ nghĩa cá nhân ” [72, tr.33 - 34]

Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin luận giải CNCN nảy sinh trong điềukiện xã hội phân chia giai cấp gắn liền với quan niệm muốn giải quyết cácmối tương quan đó theo hướng ngày càng đề cao quá mức vị trí, vai trò vàlợi ích cá nhân, hạ thấp, xem nhẹ vai trò và lợi ích cộng đồng, xã hội

Kế thừa những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ ChíMinh khẳng định “chủ nghĩa cá nhân là một loại giá trị và nguyên tắc đạo đức, là

hệ thống lý luận chính trị, kinh tế và đạo đức của giai cấp tư sản” [135, tr.318].Người khái quát về CNCN trên những vấn đề cơ bản như:

Một là, quan niệm về CNCN được bàn luận lần đầu tiên trong tác phẩm

“Sửa đổi lối làm việc” (1947) cùng với quá trình lãnh đạo cách mạng, quanniệm về CNCN dần dần được bổ sung Người quan niệm, “Chủ nghĩa cá nhân

là đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi íchchung của dân tộc”[89, tr.156]; hay “Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ locho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể

“Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”” [91, tr.90] Có thể thấy, “chủ nghĩa cánhân” được dùng để chỉ những người tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, khát vọng

Trang 37

cá nhân, tất cả mọi suy nghĩ, việc làm của họ đều vì quyền và lợi ích cá nhâncủa riêng mình, gia đình mình, nhóm lợi ích mình; đặt lợi ích của cá nhân lêntrên, lên trước lợi ích của tập thể, cách mạng, dân tộc.

Theo Người, cái gì không phải CNXH là CNCN; CNCN là kẻ thù củacách mạng, nó là nguồn gốc của những “căn bệnh” làm hư hỏng đội ngũ cán

bộ, đảng viên, làm tha hóa Đảng, làm cho Đảng mất dần tính cách mạng, tínhtrí tuệ, tính đạo đức và uy tín trước nhân dân… Chừng nào còn CNCN thìcách mạng còn gặp rất nhiều khó khăn Do vậy, phải thường xuyên tu dưỡng,rèn luyện và thực hành ĐĐCM, chống sa vào CNCN

Hai là, bản chất của CNCN được thể hiện thông qua việc giải quyết các

mối quan hệ trên thực tế của cá nhân như: Thứ nhất, đối với lợi ích cách mạng,

lợi ích dân tộc và lợi ích nhân dân, CNCN đặt lợi ích riêng của mình, của gia

đình mình lên trên, lên trước, trái ngược với lợi ích cách mạng, lợi ích chungcủa dân tộc và nhân dân, “cái gì cũng chỉ biết có mình và gia đình mình chứ ít

khi nghĩ đến cái gia đình lớn là dân tộc”[87, tr.54] Thứ hai, đối với nhiệm vụ

cách mạng, CNCN là sợ khó, sợ khổ; tự do chủ nghĩa, “vô tổ chức, tham địa vị,

tham danh vọng, bè phái, tham ô, lãng phí, quan liêu”[88, tr.100] Thứ ba, đối

với mình: tự tư, tự lợi, tự kiêu, tự mãn, tranh công đổ lỗi, công thần; đòi hưởng

thụ, đãi ngộ, tham lam, lười biếng, hiếu danh, hẹp hòi, thực dụng Như vậy, bản

chất CNCN đó là sự tham lam về lợi ích kinh tế và địa vị chính trị của mỗi cá

nhân và theo đuổi lợi ích cá nhân đó bằng mọi cách, bất chấp nguyên tắc của

Đảng, pháp luật của Nhà nước và luân thường, đạo lý

Ba là, nguồn gốc hình thành CNCN Về khách quan, theo Hồ Chí Minh,

CNCN nảy sinh và tồn tại trong con người cán bộ, đảng viên và nhân dân bắtnguồn từ điều kiện, hoàn cảnh xã hội của đất nước ta vốn là nước thuộc địa,nửa phong kiến, kinh tế - xã hội chậm phát triển, lối suy nghĩ tiểu nông vẫncòn hằn sâu Những vết tích của xã hội cũ đẻ ra “lối sống ích kỷ, chỉ biết córiêng mình, chỉ thấy công lao của mình mà quên mất công lao của ngườikhác”[15, tr.256] Do thoát thai từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến,

Trang 38

nhiều tàn dư của văn hóa nô dịch thực dân vẫn còn ăn sâu bám rễ trong xã hội

mới cũng là nguyên nhân tồn tại của CNCN trong xã hội Về chủ quan, sự

hình thành CNCN trong cán bộ, đảng viên do yếu tố chủ quan là chính và đây

là yếu tố chủ yếu Đó là, do cá nhân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rènluyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng,trước nhân dân, đồng thời các cơ quan quản lý chưa thực hiện tốt các quyđịnh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, duy trì kỷ luật không nghiêm, buông lỏngphê bình, tự phê bình, nể nang, xuề xòa, né tránh trong đấu tranh với những viphạm, bao che, dung dưỡng cho tính không trung thực, hình thành thói xấu tạo điều kiện cho lòng tham, ích kỷ, vụ lợi của CNCN nảy nở

Bốn là, nội dung, hình thức biểu hiện của CNCN được Hồ Chí Minh chỉ ra

là rất đa dạng và biến hóa “muôn hình vạn trạng”, “chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trămthứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãngphí… Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳviệc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ

không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”[90, tr.611] Từ đó, dẫn đến

nhiều hậu quả và sai lầm nghiêm trọng, trở thành nguy cơ của Đảng cầm quyền

Năm là, tác hại của CNCN, Người cho rằng, chừng nào còn CNCN nó

sẽ “ngăn trở” người cán bộ, đảng viên phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng củaĐảng, của dân tộc, làm mất lòng tin cậy của dân với Đảng “Một dân tộc, mộtĐảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, khôngnhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếulòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”[92, tr.672]

Biểu hiện cụ thể là: Về tư tưởng chính trị, CNCN làm ảnh hưởng xấu đến vai

trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, làm ruỗng nát bộ máyĐảng, Nhà nước từ bên trong Dẫn tới hệ quả tất yếu là làm suy giảm lòngtin của nhân dân đối với Đảng và chế độ - một trong những nguy cơ đe dọa

sự ổn định về chính trị và sự tồn vong của Đảng và chế độ XHCN Về kinh

tế, CNCN trong cán bộ, đảng viên sẽ gây thất thoát, thiệt hại tài sản của Nhà

Trang 39

nước, của tập thể và của nhân dân Bởi tiền bạc của Nhà nước, của nhân dânkhông chỉ bị biến thành tài sản riêng của cá nhân mà thậm chí còn bị lãngphí và thất thoát một lượng lớn Về điều này, Người từng nhấn mạnh: “Hiệnnay có những cuộc khai hội, những lễ kỉ niệm, những đám yến tiệc tốn hàngvạn, hàng chục vạn… Trong lúc công nghiệp cần phải xây dựng, đồng bàođang bị thiếu thốn, chúng ta không thể tha thứ những việc phô trương, lãng

phí như vậy” [84, tr.367] Về đạo đức, lối sống, CNCN làm tha hoá đội ngũ

cán bộ, đảng viên, làm thay đổi, đảo lộn, phá vỡ những chuẩn mực đạo đức

xã hội Vì lợi ích cá nhân, khi sa vào CNCN, người cán bộ, đảng viên sẽ sẵnsàng bẻ cong, chà đạp hoặc phá vỡ các quy tắc, yêu cầu của các chuẩn mựcđạo đức xã hội, càng làm cho CNCN có cơ hội nảy sinh, phát triển

Tác hại của CNCN là nguyên nhân sâu xa, xét đến cùng dẫn tới sự suythoái, biến chất, làm giảm sức chiến đấu của Đảng “Do cá nhân chủ nghĩa màmất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, khôngchấp hành đúng chính sách của Đảng và Nhà nước, làm hại đến lợi ích củacách mạng, của nhân dân”[93, tr.547], “ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô,

hủ hóa, lãng phí, xa hoa Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành Họ tựcao, tự đại coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền

Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh Họ không

có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ”[93, tr.547],người cách mạng phải kiên quyết đấu tranh loại bỏ

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa cá nhân

Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh và từ thực tiễn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và quá trình quản lýNhà nước, nhận thức của Đảng về CNCN ngày càng toàn diện, sâu sắc

Một là, nguyên nhân nảy sinh CNCN, Đảng đã chỉ rõ CNCN nảy sinh và

tồn tại trong cán bộ, đảng viên và nhân dân bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân,

có khách quan và chủ quan

Về khách quan cho thấy những tác động của mặt trái, mặt tiêu cực của

nền KTTT định hướng XHCN, sự phân tầng xã hội, phân hoá giàu nghèo, sự

Trang 40

chênh lệch về thu nhập và đời sống trong xã hội ngày càng tăng là nguyên nhântrực tiếp, là mảnh đất để cho CNCN có cơ hội nảy sinh, phát triển Cùng với đó

là sự tác động từ mặt trái của xu thế toàn cầu hoá, mở cửa, hội nhập ngày càngsâu rộng, làm gia tăng tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, lối sống chạy theo đồngtiền, vị kỷ, hẹp hòi; đề cao lợi ích vật chất, lợi ích cá nhân Mặt khác, thông quachiến lược “DBHB”, bạo loạn lật đổ, các thế lực thù địch tìm mọi thủ đoạn tácđộng, tuyên truyền các giá trị tư sản, đề cao cá nhân vị kỷ… hòng làm suythoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên,quần chúng Chúng ra sức tuyên truyền, kích động lối sống tư sản, thực dụng,chạy theo đồng tiền; tạo tâm lý kiếm tiền bằng mọi giá trong một bộ phận cán

bộ, đảng viên, quần chúng, làm cho CNCN ngày nay (so với những thập kỷtrước đây) “có bộ mặt gớm ghiếc hơn, cực đoan hơn, có sức phá hoại nền tảngtinh thần đạo đức của xã hội hơn”[130, tr.82]

Về chủ quan, trước hết, là do thiếu sự tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ,

đảng viên Đảng đã chỉ rõ: “bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tudưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, daođộng trước những tác động từ bên ngoài đã sa vào CNCN ích kỷ, hẹp hòi, bịcám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận củamình trước Đảng, trước dân” và con đường “Từ suy thoái về tư tưởng chínhtrị, đạo đức, lối sống dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là mộtbước ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết vớicác thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng củaĐảng và dân tộc”[45, tr.28] Đồng thời, CNCN tồn tại, nảy sinh trong cán

bộ, đảng viên là do sự yếu kém, bất cập của công tác xây dựng, chỉnh đốnĐảng, công tác quản lý Nhà nước; việc quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ,đảng viên của tổ chức Đảng và việc thi hành pháp luật Nhà nước và quyềngiám sát của nhân dân chưa nghiêm Vì vậy, làm cho CNCN không đượcngăn chặn kịp thời, vẫn có “đất” để nảy sinh, tồn tại trong xã hội Dẫn tới

“một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện bản

Ngày đăng: 07/03/2020, 10:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w