Tuy nhiên, đến nay công tác quản lý thuế xuất nhập khẩu mà cụ thể là trị giá hải quan vẫn còn nhiều bất cập như: việc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật về xác định trị giá, thuế xuấ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA - VŨNG TÀU
******************
NGUYỄN HỒNG QUÂN HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRỊ GIÁ HẢI QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.01.02
Bà Rịa Vũng Tàu, tháng 03 năm 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA - VŨNG TÀU
******************
NGUYỄN HỒNG QUÂN HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRỊ GIÁ HẢI QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian nghiên cứu và học tập tại Trường Đại học Bà Rịa Vũng Tàu, tôi đã có cơ hội được học tập, tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích
-để vận dụng vào công việc hiện tại
Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh “Hoàn thiện công tác quản lý trị giáhải quan tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” là kết quả của quá trìnhnghiên cứu trong thời gian vừa qua
Xin tr n trọng cảm ơn Thầy Ts Nguyễn Thành Long đã tận tình hướng dẫn,định hướng và giúp đỡ về mọi mặt để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn thạc sỹnày
Xin trân trọng cảm ơn Ban Lãnh đạo Cục Hải quan Tỉnh Bà Rịa – VũngTàu, Ban Lãnh đạo Phòng Thuế Xuất nhập khẩu, Ban lãnh đạo Chi cục Hải quancửa khẩu cảng Cái Mép, các Ông/BàTrưởng/phó các bộ phận phòng ban, Chicục đã tạo điều kiện về thời gian, công việc, các nguồn thông tin, tài liệu và sự
hỗ trợ nhiệt tình của người th n, đồng đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thờigian học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn
Xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể thầy giáo, cô giáo cùng các học viên Lớp Caohọc Quản trị kinh doanh CH15Q2 tại Trường Đại Học Bà Rịa -Vũng Tàu đã chia
sẻ, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tuy đã cố gắng nhưng với kinh nghiệm và thời gian hạn chế nên khó tránhkhỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quýthầy cô để luận văn hoàn thiện hơn Tôi xin ch n thành cám ơn
Học viên
Nguyễn Hồng Quân
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đ y là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kếtquả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳcông trình nào khác
T c giả
Nguyễn Hồng Quân
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN II LỜI CAM ĐOAN III DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VI
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRỊ GIÁ HẢI QUAN 1
1.1 NHƯNG VÂN ĐÊ LY LUÂN CHUNG VÊ TRI GIA HAI QUAN 1
1.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐINH TRI GIA HAI QUAN 4
1.3 HIÊP ĐINH XAC ĐINH TRI GIA TINH THUÊ HAI QUAN CUA WTO 6 1.4 SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUẢN LÝ TRỊ GIÁ HẢI QUAN 13
1.4.1 Gian lận thương mại qua trị giá hải quan 13
1.4.2 Sự cần thiết phải chống gian lận trị giá hải quan 14
1.5 LỊCH SỬ XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN Ở VIỆT NAM 18
1.6 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRỊ GIÁ HẢI QUAN 25
1.6.1 Số lượng tờ khai phải kiểm tra trị giá hải quan 26
1.6.2 Số lượng tờ khai tham vấn giá 27
1.6.3 Số tờ khai phải x c định lại trị giá tính thuế và ấn định thuế 27
1.7 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRỊ GIÁ HẢI QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU 28
1.7.1 Những nhân tố thuận lợi 28
1.7.2 Những nhân tố không thuận lợi 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRỊ GIÁ HẢI QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU 33
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CỤC HẢI QUAN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU 33
2.1.1 Lịch sử hình thành 33
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 34 2.1.3 Cơ cấu tổ chức 36
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRỊ GIÁ HẢI QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU 37
2.2.1 Quy trình kiểm tra trị giá hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 37
2.2.2 Tình hình thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2013 – 2017 44
Trang 62.2.3 Tình hình công tác quản lý nhà nước về trị giá hải quan tại Cục
Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 48
2.2.3.1 Công tác kiểm tra trị giá hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu 48
2.3 ĐÁNH GIÁTHỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRỊ GIÁ HẢI QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU 66
2.3.1 Những mặt đạt được 66
2.3.2 Những vấn đề còn tồn tại 70
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRỊ GIÁ HẢI QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU 80
3.1 MỤC TIÊU ĐẶT RA TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU 80
3.1.1 Mục tiêu chung 82
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 82
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRỊ GIÁ HẢI QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU 85
3.2.1 Rà soát, kiến nghị kiện toàn hệ thống văn bản pháp luật 85
3.2.2 Nâng cao chất lượng công tác tổ chức nhân sự 86
3.2.3 Tăng cường phối hợp trong nội bộ cũng như với c c cơ quan có liên quan 87
3.2.4 Xây dựng c c chương trình đào tạo nâng cao trình độ hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của cộng đồng doanh nghiệp 89
3.2.5 Kiến nghị đối với c c cơ quan Nhà nước 91
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
WCO : Tổ chức hải quan thế giới
ASEAN : Hiệp hội các nước Đông Nam Á
GATT : Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
C/O : Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa
TCHQ : Tổng cục hải quan
GTT22, GTT01 : Hệ thống cơ sở dữ liệu giá
KTSTQ : Kiểm tra sau thông quan
UBND : Ủy ban nh n d n
TNDN : Thu nhập doanh nghiệp
Trang 8DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức của Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 36
Sơ đồ 1.1 Quy trình kiểm tra trị giá hải quan hàng xuất khẩu 38
Sơ đồ 1.2 Quy trình kiểm tra trị giá hải quan hàng nhập khẩu 40
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả hoạt động của Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng 46
TàuBảng 3.2 Kết quả kiểm tra trị giá hải quan trong thông quan từ năm 50
2013 đến hết 31/12/2017Bảng 3.3 Thống kê đối tƣợng hàng hóa phải xác định lại trị giá 52Bảng 3.4 Thống kê chủ thể có dấu hiệu gian lận về trị giá hải quan 54
(từ ngày 01/01/2013 đến ngày 31/12/2017)
Bảng 3.5 Kết quả KTSTQ từ 01/01/2013 đến 31/12/2017 57
Trang 9GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Ngày 11/01/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Việc gia nhập “sân chơi quốc tế” này đã đưa đến cho Việt Nam nhiều cơ hội cũng như thách thức.
Các thành viên của WTO phải thực hiện các cam kết quốc tế nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước trong đó có hoạt động quản lý thuế xuất nhập khẩu, cụ thể là từng bước giảm thuế suất tiến đến gỡ bỏ hàng rào thuế quan Việt Nam đã có nhiều có gắng trong việc cải thiện hoạt động quản lý trị giá và thuế xuất nhập khẩu phù hợp với các cam kết quốc tế Tuy nhiên, đến nay công tác quản lý thuế xuất nhập khẩu mà cụ thể là trị giá hải quan vẫn còn nhiều bất cập như: việc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật về xác định trị giá, thuế xuất nhập khẩu thay đổi thường xuyên, tình trạng gian lận thương mại đối với trị giá hải quan vẫn còn xảy ra khá phố biến trong lúc nhà nước chưa có biện pháp nào tỏ ra thực sự hiệu quả để giải quyết vấn các đề này
Xuất phát từ những lý do đó, việc đi sâu nghiên cứu những vấn đề liên quan đến trị giá hải quan, đánh giá tình hình quản lý trị giá hải quan tại Cục hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong thời gian qua từ đó đề ra giải pháp đồng bộ, mang tính chiến lược cho hoạt động quản lý trị giá hải quan đang là một đòi hỏi khách quan Hy vọng rằng, đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý trị giá hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa
- Vũng Tàu” sẽ góp phần vào việc giải quyết những vấn đề thực tiễn nói trên.
2 Mục tiêu nghiên cứu.
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và văn bản pháp lý về quản lý trị giá hải quan
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý trị giá hải quan tại Cục Hải quan tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý trị giá hải quan hàng nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
3 Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động quản lý nhà nước về trị giá hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Trang 104 Phạm vi nghiên cứu.
Phạm vị không gian: tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa – Vũn g Tàu Phạm vi thời gian: giai đoạn từ năm 2013 cho đến năm 2017.
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng sử dụng chủ yếu là phương pháp nghiên cứu định tính như thảo luận, tham khảo ý kiến chuyên gia, phân tích, thống kê mô tả từ các số liệu thứ cấp được thu thập từ Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và một số nguồn thông tin khác.
6 Bố cục của đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý trị giá hải quan.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý trị giá hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý trị giá hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Trang 11CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRỊ GIÁ HẢI QUAN 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỊ GIÁ HẢI QUAN.
Thuế Hải quan đã ra đời và tồn tại khi những hình thái Nhà nước đầu tiênxuất hiện Tại các lãnh địa thời Trung cổ, các thương nh n đã than phiền vớinhau về yếu tố “vô lý” mà họ phải trả cho các Lãnh chúa khi họ mang hàng hóa
ra vào những khu vực do các Lãnh chúa đó quản lý Theo ghi nhận của Tổ chứcHải quan Thế giới, các điều khoản đầu tiên về thuế Hải quan xuất hiện vào cuốithể kỷ XIX, đầu thế kỷ XX tại Mỹ và Ch u Âu Khi đó, người ta quy định phảithu một khoản thuế Hải quan nhất định đối với một số loại hàng hóa trongthương mại quốc tế
Thuế Hải quan (hay thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu) là một khoản tiềnđược tính dựa trên các căn cứ nhất định do đối tượng nộp thuế phải nộp vào Ng
n sách Nhà nước khi tiến hành xuất khẩu hoặc nhập khẩu loại hàng hóa là đốitượng chịu thuế Hải quan qua biên giới quốc gia
Thuế Hải quan ngày càng phát triển và có vai trò hết sức quan trọng trongquá trình phát triển của mỗi quốc gia Đặc biệt là những nước đang phát triển,
do nhu cầu cần nguồn lực tài chính phục vụ các dịch vụ công và nhu cầu bảo hộsản xuất trong nước, thuế suất thuế Hải quan thường cao và đánh vào hầu hếtcác mặt hàng nhập khẩu, theo đó Thuế Hải quan chiếm tỷ lệ khá cao trong tổngthu ng n sách, chẳng hạn, ở Pakistran, Thuế Hải quan chiếm từ 30 – 40% tổngthu ngân sách, ở Việt Nam trong những năm trước đ y Thuế Hải quan chiếm 25– 30% tổng thu ng n sách…
Trong xu thế hội nhập và giao lưu thương mại toàn cầu, những yếu tố cơbản của hệ thống Thuế Hải quan như biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu, trị giá hảiquan, xuất xứ hàng hóa đã trở thành những nội dung quan trọng trong thỏa thuậnthuế quan và thương mại giữa các quốc gia với nhau Vì vậy, ngày nay từ đầuthế kỷ XX, các nước kinh tế phát triển Ch u Âu đã nỗ lực tìm kiếm một hệ thốngcác phương pháp xác định trị giá hải quan áp dụng thống nhất trên phạm vi quốctế
Trang 12Khái niệm trị giá hải quan (trị giá tính thuế hàng hóa) đã được hình thànhkhi người ta bắt đầu chuyển dần đánh thuế cụ thể theo lượng hàng hóa sangđánh thuế theo trị giá hàng hóa Càng ngày, việc tính thuế dựa trên trị giá củahàng hóa càng phát triển, do vậy việc xác định trị giá hàng hóa một cách tùy tiệnkhông còn phù hợp nữa, ở các khu vực lãnh thổ, các nước tìm cách x y dựng cáccách tính toán giá trị của hàng hóa để tính thuế Mặc dù vậy, nhưng đến nay khinói đến trị giá hải quan vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau,chẳng hạn:
- Trị giá hải quan là trị giá của hàng hóa dùng để tính thuế Hải quan theogiá trị
- Trị giá hải quan là trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu
- Trị giá hải quan là giá thực tế của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
- Trị giá hải quan là trị giá của hàng hóa để đánh thuế Hải quan theo giá trị của hàng hóa đó
- Trị giá hải quan là trị giá phục vụ cho mục đích tính thuế Hải quan và thống kê Hải quan
- Theo các chuyên gia Hải quan Nhật Bản thì trị giá hải quan là chỉ số thểhiện giá trị của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới, ra hoặc vào lãnhthổ Hải quan, để phục vụ mục đích quản lý nhà nước về Hải quan theo từng thờikỳ
Qua các ý kiến, quan điểm trên, có thể hiểu thống nhất về trị giá hải quan
như sau: Trị giá hải quan là trị giá của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu dùng cho mục đích quản lý Nhà nước về Hải quan.
Trị giá hải quan bao gồm trị giá hải quan của hàng hóa xuất khẩu và trị giáhải quan của hàng hóa nhập khẩu Các nước gia nhập Hiệp định trị giá GATT, trịgiá hải quan của hàng hóa xuất khẩu là giá bán hàng hóa tại cửa khẩu xuất, theohợp đồng mua bán, không bao gồm các chi phí vận chuyển (F) và bảo hiểm (I)quốc tế Còn trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu là giá thực tế phải trả đếncửa khẩu nhập đầu tiên và được xác định bằng cách áp dụng tuần tự 6
Trang 13phương pháp xác định trị giá theo Hiệp định trị giá GATT/WTO và dừng lạingay ở phương pháp đã xác định được trị giá Trị giá hải quan được xác địnhcho tất cả các loại hàng hóa do các tổ chức, cá nh n xuất khẩu, nhập khẩu không
ph n biệt có hợp đồng hay không có hợp đồng, nhằm mục đích thương mại haykhông nhằm mục đích thương mại, hoạt động kinh doanh đầu tư hay sản xuấtxuất khẩu
Trị giá hải quan được sử dụng chủ yếu vào nhiều mục đích khác nhau,nhưng chủ yếu sử dụng vào các mục đích sau:
- Mục đích tính thuế: khởi thủy đầu tiên của việc xác định trị giá hải quanlàn nhằm mục đích tính thuế, vì lẽ đó khi nói đến trị giá hải quan người tathường đồng nhất với trị giá tính thuế
- Mục đích thống kê: Ngoài mục đích tính thuế, trị giá hải quan còn được
sử dụng cho mục đích thống kê, gồm thống kê kim ngạch xuất khẩu và thống kêHải quan Qua hoạt động thống kê mà cụ thể là căn cứ vào các số liệu thống kêNhà nước có cơ sở để thực hiện điều chỉnh chính sách quản lý các hoạt độngthương mại, chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và chính sáchquản lý Nhà nước về Hải quan cũng như chích sách thuế, qua đó thực hiện cácmục tiêu quản lý của Nhà nước
- Mục đích quản lý hạn ngạch: Để thực hiện chính sách quản lý mặt hàng
và chính sách thuế đối với một số mặt hàng trong từng giai đoạn phát triển nhấtđịnh, cơ quan quản lý Nhà nước chuyển ngành sử dụng hình thức cấp hạnngạch, theo đó thông qua việc xác định trị giá hải quan Nhà nước thực hiệnđược mục đích quản lý hạn ngạch
- Mục đích xử phạt vi phạm các quy định về Hải quan: Trong quá trìnhthực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thường xảy ra việc vi phạmcác quy định về Hải quan như vi phạm các quy định về thủ tục Hải quan, vềkiểm tra, giám sát Hải quan, về chính sách quản lý mặt hàng…, và xét về mặtnguyên tắc các hành vi vi phạm đó đều phải xử phạt theo quy định của pháp luậthiện hành, trong đó trị giá hải quan cũng là một trong những căn cứ để cơ quan
Trang 14Nhà nước có thẩm quyền quyết định hình thức và mức độ xử phạt đối với các hành vi vi phạm về Hải quan.
- V.v…
Ở Việt Nam hiện nay, trị giá hải quan được sử dụng phục vụ cho mụcđích tính thuế và mục đích thống kê là chủ yếu Đ y là một nội dung mới so vớicác quy định về trị giá của Việt Nam trước đ y và bắt đầu áp dụng từ01/01/2006 Trước đó, khi đề cập đến trị giá hải quan, người ta chỉ đề cập đếntrị giá phục vụ mục đích tính thuế (trị giá tính thuế) mà không có quy định cụthuế về cách thức xác định trị giá hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu sử dụng tronglĩnh vực thống kê hải quan
1.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN.
Trên thế giới đã tồn tại rất nhiều hệ thống (phương pháp) xác định trị giáHải quan, chẳng hạn:
- Giá thị trường trong các nước hiện hành, đ y là phương pháp do Anhđưa ra vào đầu Thế kỷ XX và được coi là bảo hộ hàng hóa được sản xuất tạiAnh và bán tại các nước thuộc địa Trị giá tính thuế dựa trên giá bán buôn tại thịtrường nước xuất khẩu Hệ thống xác định trị giá này được các nước thuộc “đếquốc Anh” áp dụng, gồm Canada, c, Nam Phi và Newzeland cũng áp dụngphương pháp này đến ngày 01/07/1982, trước khi Hiệp định Trị giáGATT/WTO được áp dụng
- Giá thị trường hợp lý, phương pháp này tương tự giá trị thị trườngtrong nước hiện hành nhưng nó mang tính linh hoạt hơn trong việc xác định giánào được coi là giá thị trường hợp lý và quy định về việc tính trị giá trong cơquan Hải quan có thẩm quyền đáng kể Phương pháp này chủ yếu được áp dụng
ở khu vực Thái Bình Dương mà điển hình là Philippin
- Hệ thống giá bán của Mỹ, đ y là một phương pháp xác định trị giá được
áp dụng đối với số lượng hạn chế các loại hàng hóa nhập khẩu Trị giá Hải quandựa trên sản phẩm cạnh tranh tại Mỹ Nhà sản xuất trong nước gián tiếp kiểmsoát trị giá được áp dụng cho hàng hóa của đối thủ cạnh tranh của mình
Trang 15- Định nghĩa Brussels về trị giá, đ y là một phương pháp xác định trị giáđược x y dựng và áp dụng bởi khoảng 30 nước vào những năm 1950 chủ yếu ở
ch u Âu trước khi có Hiệp định GATT/WTO Định nghĩa Brussels quy định trịgiá Hải quan là giá thông thường của hàng hóa đang xác định trị giá Giá thôngthường này phải được xem xét trong điều kiện cạnh tranh đầy đủ, và có xét đếnthời gian bán hàng, địa điểm bán hàng và số lượng, cấp độ thương mại của giaodịch bán hàng
- Phương pháp dùng giá tối thiểu, theo phương pháp này cơ quan Hải quanđưa ra giá tối thiểu cho tất cả các loại hàng hóa nhập khẩu mà không phản ánh giáthực tế của hàng hóa đó Phương pháp này được áp dụng rất phổ biến ở các nướckém phát triển vì phương pháp này dễ thực hiện và thu được nhiều thuế Cơ sở để
ấn định giá tối thiểu thiếu tính khoa học do vậy tao ra những hành
vi ứng xử không tốt của cơ quan Hải quan và nhà nhập khẩu
- Phương pháp xác định trị giá theo “Giá thực tế”, phương pháp này được
áp dụng ở một số nước kém phát triển ở ch u Á Trị giá Hải quan được dựa trên giábán buôn của hàng hóa nhập khẩu khi được bán ở nước nhập khẩu trừ đi 15%.Điều này có nghĩa là thuế được tính theo trị giá được xác lập tại nước nhập khẩusau khi hàng hóa đã được nhập khẩu Điều này g y khó khăn cho cơ quan Hải quan,khi một bộ hồ sơ về những giá được chấp nhận trước đó đang được lưu giữ chophép nhà nhập khẩu khai báo “Giá thực tế” Thuế Hải quan được tính trên trị giá đãbao gồm cả các khoản phí Hải quan và được tính vào giá bán buôn Giống nhưphương pháp dùng giá tối thiểu, phương pháp này cũng tạo ra những hành vi ứng
xử không tốt của cơ quan Hải quan và nhà nhập khẩu
- Phương pháp xác định trị giá Hải quan theo giá CIF đối với hàng nhậpkhẩu {giá CIF Chi phí mua hàng (C) Bảo hiểm (I) Cước phí (F) và giá FOB đối với hàng xuất khẩu {giá FOB chính là chi phí mua hàng (C)
- Xác định trị giá theo GATT (theo trị giá giao dịch) là giá thực tế đãthanh toán hoặc sẽ phải thanh toán cho lô hàng nhập khẩu
Trang 161.3 HIỆP ĐỊNH XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ T NH THUẾ HẢI QUAN CỦA WTO.
Đến đầu những năm 70 của thế kỷ XX, người ta bắt đầu nhận thức r rànghơn những nhược điểm của các hệ thống xác định trị giá Từ những năm 1973đến 1979, các nước trên thế giới bắt đầu một loạt các cuộc đàm phán mới nhằmđạt được những thuận lợi trong mở rộng và tự do hóa thương mại quốc tế Vấn
đề xác định trị giá Hải quan được đặt ra như một trở ngại quan trọng của tiếntrình này Vòng đàm phán này được gọi là Vòng đàm pháp Tokyo, mà kết quảcủa nó là một Hiệp định mới về xác định trị giá Hải quan ra đời vào năm 1981
Năm 1994, Vòng đàm phán Uruguay kết thúc với kết quả là Hiệp địnhthành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Đi k m với việc thành lập Tổchức thương mại thế giới là một loạt các Hiệp định chung về nhiều lĩnh vựcnhư thủ tục Hải quan, quản lý xuất xứ hàng hóa, ph n loại và xác định mã sốhàng hóa, trị giá Hải quan của hàng hóa, v.v… ra đời
Hiệp định về trị giá Hải quan của hàng hóa có tên đầy đủ là Hiệp định vềthực hiện Điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và thương mạiGATT/WTO 1994, hay còn gọi là Hiệp định trị giá Hải quan GATT/WTO Đốivới các nước thành viên Tổ chức thương mại thế giới, Hiệp định trị giá Hảiquan GATT/WTO buộc phải được áp dụng Đối với những nước muốn trởthành thành viên thì Hiệp định trở thành một trong những điều kiện tiên quyếtđưa ra trong các cuộc đàm phán đa phương
Kết cấu và nội dung cơ bản của Hiệp định trị gi GATT WTO:
Kết cấu của Hiệp định gồm có 24 điều, được chia làm 4 phần, ngoài raHiệp định còn k m theo 3 Phụ lục và 1 Nghị định thư, cũng được công nhận làphần gắn liền với Hiệp định Cụ thể:
h n th nhất Các quy tắc xác định trị giá, từ Điều 1 đến Điều 17 Phần này
nêu lên 6 phương pháp xác định trị giá Hải quan, được xếp theo trật tự ưu tiên:
- Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu
Trang 17- Phương pháp trị giá giao dịch của hàng giống hệt nhập khẩu
- Phương pháp trị giá giao dịch của hàng tương tự nhập khẩu
- Phương pháp trị giá khấu trừ
- Phương pháp trị giá tính toán
- Phương pháp dự phòng
h n th hai phần thực hiện Hiệp định, bao gồm cả tư vấn và giải quyết
tranh chấp, từ Điều 18 đến Điều 19
Hiệp định có hai Ủy ban: Ủy ban xác định trị giá Hải quan và Ủy ban kỹthuật xác định trị giá Hải quan
Ủy ban trị giá Hải quan (gọi tắt là Ủy ban) hoạt động dưới sự bảo trợ củaWTO, bao gồm các đại diện của các nước thành viên tham gia Hiệp định, trụ sởcủa Hội đồng đóng tại Geneve (Thụy Sỹ) Ủy ban bầu ra Chủ tịch từng nhiệm kỳ
và tổ chức các cuộc họp dưới sự bảo trợ của WTO nhằm tạo ra những cơ hộigiúp đỡ các nước thành viên về những vấn đề liên quan đến công việc xác địnhtrị giá Hải quan của mỗi nước, nhằm bảo vệ và khuyến khích chính sách thươngmại quốc tế phát triển Mặt khác, Ủy ban này có thể tác động tới quá trình thamgia thực hiện Hiệp định cũng như có thể biết được thời điểm ấn định để thamgia của các thành viên
Tại kỳ họp thứ nhất vào tháng 01/1981, Ủy ban Trị giá đã chấp thuận vịtrí quan sát viên thường trực của Hội đồng Hợp tác Hải quan (nay là Tổ chứcHải quan Thế giới) và chức năng, nhiệm vụ đặc biệt của Hội đồng Hợp tác Hảiquan do Hiệp định quy định
Ủy ban Kỹ thuật xác định Trị giá Hải quan (gọi tắt là Ủy ban kỹ thuật) dưới
sự bảo trợ của WCO, có trụ sở đóng tại Brussels (Bỉ) Ủy ban Kỹ thuật xác định trịgiá Hải quan này bao gồm đại diện Hải quan của các nước đã tham gia ký kết Hiệpđịnh cũng như của các nước đã tham gia ký kết Hiệp định cũng như của các quansát viên và các Tổ chức thương mại Liên Chính phủ Tại Phụ lục II của Hiệp định
đã nêu r Ủy ban Kỹ thuật này được thành lập nhằm đạt được sự
Trang 18đồng nhất trong việc hướng dẫn, giải thích và áp dụng Hiệp định về mặt kỹthuật xác định trị giá.
Nhiệm vụ của Ủy ban K thuật gồm:
Kiểm tra các vấn đề kỹ thuật đặc biệt nảy sinh hàng ngày trong việc quản
lý hệ thống xác định trị giá Hải quan ở các nước thành viên
Tham vấn, nêu ra những giải pháp thích hợp đối với từng vấn đề vưỡngmắc được nêu ra
Nghiên cứu các văn bản pháp luật về trị giá, các phương pháp, thủ tục xácđịnh trị giá trong thực tế để làm kết quả báo cáo, phát hành hàng năm
Cung cấp các tham vấn về những vấn đề liên quan đến xác định trị giá đốivới hàng hóa nhập khẩu khi có bất kỳ một nước thành viên nào yêu cầu Cácthông tin cung cấp như thế có thể dưới dạng văn bản bình luận hoặc giải thích
Tạo điều kiện thuận lợi để giúp đỡ về kỹ thuật xác định trị giá đối với cácnước thành viên Đồng thời thực hiện những nhiệm vụ khác do Hội đồng Hợptác giao cho
h n th a Các xử lý đặc biệt.
Phần II của Hiệp định chỉ có 1 điều (Điều 20) với mục đích cải tiến cácphương pháp xác định trị giá hòa hợp với việc xử lý hàng hóa nhập khẩu côngbằng, bảo vệ lợi ích thương mại cho các nước đang phát triển Với quy định củaHiệp định về việc “xử lý khác biệt và xử lý đặc biệt” đối với các nước đang pháttriển khi tham gia Hiệp định thì có thể được tạm hoãn áp dụng các điều khoảncủa Hiệp định trong vòng 5 năm và hoãn thực hiện một số quy tắc đặc biệt thêmkhoảng 3 năm nữa (ví dụ có thể chậm áp dụng đoạn 2(b)(iv) của Điều 1 và Điều6)
Đồng thời Hiệp định cũng nhất trí rằng các nước đang phát triển có thểnhận trợ giúp về kỹ thuật trên các mặt:
- Đào tạo cán bộ;
- Trợ giúp các mặt trong quá trình tham gia;
- Trợ giúp thông tin;
Trang 19- Tư vấn về việc áp dụng các điều khoản của Hiệp định v.v
h n th tư Các điều khoản cuối cùng.
Phần này gồm các điều từ Điều 21 đến Điều 24, quy định các khoản vềbảo lưu, luật pháp quốc gia, kiểm tra lại và Ban thư ký của Hiêp định
ác hụ lục và Nghị định thư
hụ lục Các chú giải từng điều khoản trong Hiệp định.
hụ lục Quy định hoạt động của Ủy ban kỹ thuật về xác định Trị giá Hải
quan
hụ lục Quy định về quyền bảo lưu
Nghị định thư: Quy định các điều khoản có liên quan đến các vấn đề đặcbiệt và những yêu cầu đặc biệt đối với các nước đang phát triển Bởi vì để triểnkhai thực hiện Hiệp định, nếu chỉ để một văn bản duy nhất về Điều VII củaGATT thì các nước đang phát triển sẽ gặp một số khó khăn Do vậy, cần phải cómột Nghị định thư đưa ra một số điều khoản đặc biệt để tạo điều kiện cho cácnước đang phát triển như:
- Bỏ điều khoản về trị giá kiểm tra trước
- Có thể mở rộng phạm vi 5 năm bảo lưu áp dụng Hiệp định
- Có thể sử dụng bảng giá tối thiểu trên cơ sở hạn chế theo một số điều kiện nhất định
- Có thể đảo lộn trình tự áp dụng Điều 4
- Có thể bảo lưu sử dụng phương pháp khấu trừ
- Nghiên cứu các vấn đề đại lý bán hàng duy nhất, đại lý ph n phối và các đại lý chuyển nhượng
- Các quyền hạn của cơ quan Hải quan
- Các giải thích về giá thực tế đã thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán
Nghị định thư đã được các bên ký kết quy định rằng: Khi Hiệp định cóhiệu lực thì các điều khoản của Nghị định thư sẽ được coi như là bộ phận củaHiệp định
Trang 20- Loại trừ việc sử dụng trị giá Hải quan tùy tiện áp đặt.
- Xúc tiến các mục tiêu của Hiệp định chung về thuế và thương mại
- Xóa bỏ việc coi trị giá Hải quan là công cụ để điều tiết xuất nhập khẩu
Nguy n tắc của Hiệp định hi x c định Trị gi Hải quan.
- Hệ thống xác định trị giá của hàng hóa nhập khẩu theo mục đích Hảiquan phải hợp lý, thống nhất và độc lập, hệ thống đó phải loại bỏ việc sử dụngtrị giá Hải quan áp đặt hay hư cấu Điều này cũng có nghĩa là quy trình xác địnhtrị giá không được sử dụng để làm hàng rào phi thuế quan đối với thương mại.Một trong những mục tiêu có tính nguyên tắc của WTO là loại bỏ các biện phápnày
- Cơ sở để xác định trị giá của hàng hóa nhập khẩu theo mục đích Hảiquan phải là trị giá giao dịch, với nghĩa rộng nhất trong chừng mực có thể Nóimột cách đơn giản nhất, trị giá giao dịch được định nghĩa là giá thực tế đã thanhtoán hay sẽ phải thanh toán cho hàng nhập khẩu cộng thêm với các khoản điềuchỉnh Trị giá giao dịch được coi là phương pháp chủ yếu để xác định trị giátheo Hiệp định này Trị giá giao dịch cho phép các doanh nghiệp dự đoán chínhxác số thuế phải nộp đối với hàng nhập khẩu của họ Hơn nữa, trị giá giao dịchcòn đảm bảo một mức độ chắc chắn cho các doanh nghiệp, bởi vì trị giá Hảiquan của hàng nhập khẩu trước hết sẽ dựa trên giá thỏa thuận giữa người mua
và người bán
Trị giá Hải quan phải được xác định dựa trên những tiêu chí đơn giản bìnhđẳng và nhất quán với các thông lệ thương mại Mặt khác, thủ tục áp dụng trị giá
Trang 21cần được áp dụng chung không ph n biệt nguồn cung cấp Việc áp dụng mộttrong sáu phương pháp đã nêu phải phù hợp với các thông lệ thương mại Việc
áp dụng Hiệp định này được thực hiện đối với tất cả các nước không ph n biệtnước xuất khẩu có phải là bên ký kết của Hiệp định hay không Không có bất cứ
sự ph n biệt nào giữa những người xuất khẩu hay giữa các sản phẩm Thông quaviệc áp dụng các nguyên tắc này, Hiệp định trị giá được kỳ vọng là sẽ tạo thuậnlợi cho thương mại quốc tế
- Thủ tục xác định trị giá không được sử dụng để chống phá giá Biệnpháp chống phá giá đúng đắn phải áp dụng luật về chống phá giá Việc tùy ý n
ng trị giá tính thuế lên để tăng nguồn thu thuế nhập khẩu theo Hiệp định này làkhông được phép Không được từ chối giá thỏa thuận giữa người mua vớingười bán chỉ vì lý do đơn giản: giá đó được coi là “quá thấp”
- Theo Hiệp định này, trị giá Hải quan cần được xác định căn cứ vào các
dữ liệu và thông lệ thương mại xung quanh việc bán hàng/giao dịch đó Mọithông tin liên quan đễn xác định trị giá hàng nhập khẩu cần được tuyển chọnhoặc thu thập thông qua phản ánh của các thông lệ thương mại Cùng với việctham khảo Chú giải tổng quát của Hiệp định, Hải quan của mỗi nước tham giaHiệp định sẽ sử dụng các thông tin được chuẩn bị một cách nhất quán với cácnguyên tắc kế toán phổ biến đã được chấp nhận (GAAP) Những thông tin sẽđược sử dụng, chẳng hạn như để xác định các khoản điều chỉnh theo trị giá giaodịch (các khoản trợ giúp), xác định lợi nhuận thường xuyên và khoản chi phíchung theo phương pháp trị giá suy diễn và xác định các chi phí nguyên vật liệu,bán thành phẩm, lợi nhuận và chi phí chung theo phương pháp trị giá tính toán.Những thông tin này phải được chuẩn bị dựa trên hệ thống chuẩn mực kế toán
Trang 22Điều 8.3 của Hiệp định quy định rằng các khoản cộng thêm vào giá thực
tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán được thực hiện theo Điều 8 phải căn cứvào các dữ liệu khách quan và có thể định lượng được Điều này có nghĩa làkhoản cộng thêm phải hoàn toàn căn cứ vào các yếu tố cụ thể, không có sự suydiễn các nh n, các yếu tố đó phải được xác định bằng các con số thực tế Các sốliệu đó không được dựa trên những phán đoán ước lượng hay kinh nghiệm cá
nh n Quy định này nhằm đảm bảo việc áp dụng thống nhất Hiệp định và loại bỏviệc áp dụng tùy tiện của Hải quan trước đ y Trong trường hợp thiếu những dữliệu đó thì các khoản chi phí cộng thêm sẽ không được tính đến
C c phương ph p x c định trị giá hải quan của Hiệp định GATT/WTO.
Hiệp định quy định có 6 phương pháp xác định trị giá Hải quan:
- Phương pháp 1: Trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu (Transaction
- Phương pháp 2: Trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt nhập khẩu
- Phương pháp 3: Trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự nhập khẩu
- Phương pháp 4: Trị giá khấu trừ (Deductive Method)
- Phương pháp 5: Trị giá tính toán (Computer Method)
- Phương pháp 6: Phương pháp suy diễn, hay gọi là phương pháp dự phòng (Fall-back Method)
Các phương pháp này được áp dụng theo trình tự bắt buộc từ phương phápthứ nhất đến phương pháp thứ sau Nếu không thể xác định trị giá tính thuế theophương pháp thứ nhất thì phải áp dụng phương pháp thứ hai; Nếu không thể xácđịnh trị giá tính thuế theo phương pháp thé hai thì phải áp dụng phương pháp thứ
ba, và cứ như vậy, cho đến phương pháp cuối cùng Tuy nhiên, cũng có một ngoại
lệ trong trình tự áp dụng, đó là phương phá thứ tư Trị giá khấu trừ (DeductiveMethod) và phương pháp thứ Năm Trị giá tính toán (Computer
Trang 23Method) có thể hoán đổi vị trí cho nhau Sở dĩ có thể hoán đổi, bởi việc tínhtoán, xác định trị giá tính thuế theo hai phương pháp này hầu hết dựa vào các tàiliệu, số liệu, bằng chứng của doanh nghiệp Khi đó, chính doanh nghiệp làngười biết r nhất có thể xác định trị giá theo phương pháp nào trong số haiphương pháp đó, để đề nghị cơ quan Hải quan áp dụng phương pháp thích hợp.
1.4 SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUẢN LÝ TRỊ GIÁ HẢI QUAN.
1.4.1 Gian lận thương mại qua trị gi hải quan.
Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, cùng với xu hướng hộinhập kinh tế thế giới, gian lận trị giá hải quan ngày càng phát triển cả về sốlượng và chất lượng Đ y được coi là một điểm yếu của hệ thống quản lý Hảiquan ở các nước đang phát triển nói chung, và ở Việt Nam nói riêng
Gian lận trị giá hải quan là việc doanh nghiệp khai báo không chính xáctrị giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán của hàng hóa xuất khẩu, nhậpkhẩu để được hưởng những lợi ích không chính đáng
Gian lận qua trị giá hải quan được chia thành hai dạng:
- Khai báo trị giá hải quan thấp hơn trị giá thực của hàng hóa để trốn thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
- Khai báo trị giá hải quan cao hơn trị giá thực của hàng hóa (thường làhàng hóa nhập khẩu) để làm tăng vốn đầu tư, từ đó chuyển “lậu” lợi nhuận đầu
tư ra nước ngoài
Cùng với sự đa dạng của các hình thức kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩuhàng hóa, các hình thức gian lận thương mại qua trị giá hải quan cũng ngàycàng phong phú Tuy nhiên, có thể tạm ph n chia các hình thức gian lận thươngmại qua trị giá hải quan như sau:
- Ngụy tạo chứng từ liên quan đến xác định trị giá:
Doanh nghiệp có hai bộ chứng từ cho một đối tượng hàng hóa Trong đó,một bộ chứng từ thể hiện chính xác trị giá thực của lô hàng, và bộ chứng từ cònlại thể hiện trị giá “giả mạo” của hàng hóa Ví dụ như lô hàng có hai hóa đơn(Invoice), hai vận đơn (Bill of lading - B/L), hai phiếu đóng gói (Packing list)…
Trang 24Cũng có trường hợp, doanh nghiệp chỉ có một bộ chứng từ của hàng hóanhưng thực chất các chứng từ đó chỉ thể hiện một trị giá không thực Còn trị giáthực của lô hàng không được lập thành chứng từ cụ thể Tình huống này thườngchỉ xảy ra khi giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu đã có sự cấu kết, hỗ trợlẫn nhau, đặc biệt là khi giữa hai bên có mối quan hệ đặc biệt.
- Thủ tiêu hoặc từ chối cung cấp các chứng từ liên quan đến xác định trịgiá:
Chứng từ là những bằng chứng quan trọng xác lập trị giá thực tế của lôhàng nhập khẩu Tuy nhiên, có nhiều trường hợp khi xác định trị giá hải quan,người nhập khẩu không xuất trình, thậm chí thủ tiêu các chứng từ cần thiết để
cơ quan Hải quan không thể kiểm tra hay xác định đúng trị giá của hàng hóa Ví
dụ trường hợp xác định trị giá bằng phương pháp khấu trừ, người nhập khẩukhông xuất trình hóa đơn bán lại lô hàng tại thị trường trong nước
- Sử dụng các chứng từ “Dành riêng cho Hải quan” (For Customs purposeonly):
Chứng từ “Dành riêng cho Hải quan” thường xuất hiện trong các trườnghợp nhập khẩu mà người nhập khẩu và người xuất khẩu có quan hệ đặc biệt vớinhau, giữa công ty mẹ và công ty con Tức là công ty mẹ gửi hàng cho công tycon, không xảy ra giao dịch mua hàng Về nguyên tắc, đối với những trườnghợp như vậy thì không được sử dụng phương pháp trị giá giao dịch Nhưng để
“tận dụng cơ hội”, công ty mẹ có thể xuất một hóa đơn “dành riêng cho khai Hảiquan” Công ty con sử dụng chính hóa đơn đó để làm thủ tục và khai báo trị giáhải quan của lô hàng
Sự gia tăng cả về số lượng lẫn tính phức tạp của các hành vi gian lận trịgiá Hải quan đã g y ra những ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế, đến sự ổnđịnh của xã hội cũng như chính trị
1.4.2 Sự cần thiết phải chống gian lận trị gi hải quan.
Để nhận thức r sự cần thiết phải chống sự gian lận trị giá hải quan, trướchết ta cần phải làm r những ảnh hưởng tiêu cực của gian lận trị giá hải quan
Trang 25đến nền kinh tế, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội và hiệu quả quản lýkinh tế xã hội Từ đó, chứng minh sự cần thiết và cấp bách phải chống gian lậntrị giá hải quan trong giai đoạn hiện nay.
Hàng hoá nhập khẩu bị gian lận về trị giá dẫn đến gian lận về thuế, sẽ làmmất tính c n bằng trong cạnh tranh thương mại giữa hàng nội và hàng ngoại,đồng thời làm thất thu thuế xuất, nhập khẩu và các sắc thuế khác khác g y ảnhhưởng đến quá trình c n đối thu - chi ng n sách của Nhà nước, làm thất thoátngoại tệ mạnh ra ngoài biên giới Thuế quan đánh trên hàng hoá xuất, nhậpkhẩu, nhằm mục đích làm tăng giá của hàng nhập khẩu, bảo vệ và kích thích sảnxuất nội địa Vì vậy, hàng nhập gian lận trị giá (gian lận thuế, trốn thuế) đã phá
vỡ cạnh tranh lành mạnh giữa hàng nội và hàng ngoại nhập
1.4.2.2 Ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.
Những hậu quả do gian lận trị giá hải quan g y ra đối với nền kinh tế vàđối với nền văn hoá xã hội đã dẫn đến những tác hại về mặt chính trị, gây khókhăn cho sự quản lý Nhà nước Hàng gian lận thuế làm cho thị trường hỗn loạn,đời sống kinh tế của một bộ phận nhân dân gặp khó khăn, tệ nạn xã hội pháttriển; công bằng, văn minh xã hội không được thiết lập; nhà nước thất thu thuếnên không c n đối được thu - chi ngân sách, một số quỹ phúc lợi bảo hiểm xãhội bị giảm sút…
Gian lận trị giá hải quan vì những khoản lợi nhuận khổng lồ từ việc trốnthuế đã bất chấp pháp luật, bất chấp chủ trương, đường lối của Đảng và Nhànước với những thủ đoạn tinh vi để thu lợi nhuận bất chính Những khoản lợinhuận này tạo cho bọn buôn lậu giàu có và ăn chơi sa đoạ, phung phí, trong khi
Trang 26đại bộ phận nh n d n làm ăn ch n chính thì sống khó khăn và ngh o khổ Chính
sự bất công đó đã làm nảy sinh t m lý coi thường pháp luật, coi thường Nhànước, kèm theo khủng hoảng cả hệ thống lập pháp, hành pháp và tư pháp
Một trong những hậu quả nữa của buôn lậu gây ra về mặt chính trị là táchại của nó đối với chủ quyền và an ninh quốc gia Ngày nay, hoà bình, hợp tác
để phát triển đang trở thành xu hướng của thời đại, sức mạnh quân sự đangđược thay thế bằng sức mạnh kinh tế Với ưu thế về kinh tế khoa học, kỹ thuật,các nước tư bản phát triển đã và đang thực hiện chiến lược “biên giới mềm”đẩy thế giới vào cuộc chiến tranh không có khói lửa - chiến tranh kinh tế Kinh
tế thị trường là giải pháp hữu hiệu để tăng trưởng kinh tế, nên các nước chậmphát triển đều có xu hướng phát triển kinh tế thị trường, mở rộng quan hệ vớinước ngoài để thu hút vốn và khoa học kỹ thuật tiên tiến Với chính sách mởcửa thì cuộc chiến tranh giành thị trường nổ ra không kém phần gay go so vớicác hình thức chiến tranh khác
Chủ quyền lãnh thổ bị đe dọa với hình thức x m lăng mới, đó là “diễn biếnhoà bình” và “chiến tranh biên giới mềm”, hàng hoá đến đ u là biên giới đến đó -dần dần các nước chậm phát triển từng bước phụ thuộc vào kinh tế và cuối cùngphải phụ thuộc vào chính trị Trên thực tế, biên giới nhiều quốc gia vẫn cònnguyên vẹn, bộ máy nhà nước vẫn do những cán bộ trong nước điều hành,nhưng thực chất độc lập, chủ quyền lãnh thổ bị mất Vì vậy, bảo vệ an ninh biêngiới không chỉ là việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, mà thực chất là bảo vệ cáctiềm năng - yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế Bảo vệ an ninh quốc gia gópphần bảo vệ vững chắc nguồn nhân lực, vật lực, tài lực là phục vụ cho sự pháttriển của nền kinh tế và sự vững chắc của chế độ chính trị
1.4.2.3 Ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý kinh tế xã hội.
Hơn thế nữa, gian lận trị giá hải quan còn gây ra những hậu quả nghiêmtrọng đối nền kinh tế, văn hoá xã hội, chính trị, đ y là những hậu quả trực tiếp dễnhìn nhận Một hậu quả khác không kém phần nguy hại là hậu quả của gian lậntrị giá hải quan và gian lận thương mại nói chung dưới góc độ cả về vĩ mô và
Trang 27vi mô Nó làm cho cơ quan quản lý nhà nước không kiểm soát được tình hìnhxuất nhập khẩu và liên doanh đầu tư với ngoài; công tác điều hành của cơ quanchức năng gặp nhiều khó khăn và hoạt động kém hiệu quả.
Xét về góc độ quản lý vĩ mô, gian lận thương mại là một trong nhữngnguyên nhân làm hàng hoá nội địa bị đình trệ trong khâu phân phối và tiêu dùng,sản xuất trong nước bị đình đốn Nhiều doanh nghiệp sản xuất ra hàng hóakhông cạnh tranh nổi trên thị trường, nợ nần chồng chất dẫn đến phá sản, kéotheo sự gia tăng của đội quân thất nghiệp Gian lận thương mại còn là nguyênnhân trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn đến dẫn đến các tệ nạn xã hội, đó là thamnhũng, tha hoá, rượu chè, cờ bạc, trộm cắp… Do đó, nó làm cho công tác quản
lý của Nhà nước thêm khó khăn, phức tạp Mặt khác, gian lận thương mại trựctiếp dẫn đến thất thu về thuế xuất, nhập khẩu và các sắc thuế khác, đ y là khoảnthu lớn của ng n sách nhà nước Điều này ảnh hưởng đến các kế hoạch về kinh
tế, tài chính khiến nhà nước mất c n đối về thu - chi ngân sách Gian lận thươngmại còn phá vỡ sự bình ổn của thị trường, tạo nên cơn sốt về hàng hoá và giá cảlàm cho nhà nước không quản lý được hoạt động xuất nhập khẩu; việc hoạchđịnh chính sách, xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bị sai lệch…
Những hậu quả của gian lận thương mại đối với quản lý vĩ mô đã trựctiếp và gián tiếp ảnh hưởng đến quản lý vi mô Hệ thống pháp luật của ta vềquản lý hoạt động xuất nhập khẩu còn chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, nếu khôngnói là chồng chéo, mâu thuẫn nhau Chính vì thế, những chủ thể gian lận thươngmại đã lợi dụng kẽ hở, những quy định thiếu chặt chẽ của Nhà nước để thựchiện hành vi gian lận trốn thuế Từ đó việc quản lý của cơ quan nhà nước ở cơ
sở gặp nhiều khó khăn do sự lũng đoạn thị trường của hàng ngoại Giải phápđấu tranh chống gian lận thương mại, tăng cường hiệu lực kiểm tra, kiểm soátcủa các ngành chức năng vẫn chưa được giải quyết tận gốc
Cũng dưới góc độ quản lý, trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá, hàng ngoạinhập với lợi thế về giá rẻ hơn hàng nội do trốn được thuế, chất lượng tốt, mẫu
mã đẹp nên được tiêu thụ mạnh, tạo nên t m lý ưa dùng hàng ngoại (như hàng
Trang 28điện tử, gia dụng…) trong nh n d n Nhưng do nguồn cung hàng hóa, giá cảkhông ổn định nên gian lận trị giá hải quan cũng là một trong những nguyênnhân gây nên những cơn sốt về giá cả hàng hoá làm cho thị trường nội địakhông thiết lập, lưu thông hàng hoá bị rối loạn và gây ách tắc cho sản xuất vàtiêu dùng trong nước.
Tóm lại, những ảnh hưởng tiêu cực của gian lận trị giá hải quan: Làm mất
ổn định giá cả thị trường, kìm hãm sản xuất trong nước, ảnh hưởng đến môitrường đầu tư, g y thất thu cho ng n sách cho Nhà nước, tạo nên sự cạnh tranhkhông bình đẳng giữa hàng nội và hàng ngoại, là nguyên nh n phát sinh các tiêucực trong xã hội Vì vậy, việc phòng chống gian lận trị giá hải quan phải đượcgiải quyết triệt để và là một trong những nhiệm vụ xung yếu của ngành Hải quanhiện nay
1.5 LỊCH SỬ XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN Ở VIỆT NAM.
Từ năm 1987 trở về trước, hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu làhàng viện trợ và hàng đối lưu trong khối SEV, không có thuế nhập khẩu Vì vậy,thời kỳ này chưa tồn tại nhu cầu xác định giá tính thuế cho hàng nhập khẩu
Từ năm 1987, Việt Nam bắt đầu có sự giao lưu thương mại quốc tế nênyêu cầu về việc tính thuế nhập khẩu cho hàng hóa bắt đầu xuất hiện, thể hiện ởviệc Quốc hội ban hành Luật Thuế xuất nhập khẩu mậu dịch, Biểu thuế cho hànghóa xuất nhập khẩu trong khối SEV
Ban đầu, hàng hóa xuất nhập khẩu mậu dịch ít, chủ yếu chỉ là những loạihàng hóa do những người đi học tập, công tác ở nước ngoài mang về Khi đó,
Bộ Tài chính đã tiến hành x y dựng một bảng giá chung, trong đó có những mặthàng thường gặp, làm cơ sở cho việc tính thuế Bảng giá đầu tiên do Bộ Tàichính và Bộ Công thương (lúc đó có tên là Bộ Thương mại và Du lịch ban hành
sử dụng trong giai đoạn năm 1990-1991)
Năm 1991, do nhu cầu phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, LuậtThuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu lần đầu tiên chính thức ra đời, có hiệu lực thihành từ tháng 4/1992, đánh dấu một bước ngoặt mới trong việc đánh thuế hàng
Trang 29hóa xuất nhập khẩu nói chung, và hoạt động quản lý giá nói riêng Đồng thời, tạithời điểm năm 1991, Danh mục Biểu thuế theo Công ước HS cũng được thựchiện do ngày 06/03/1998, Chủ tich nước đã ký Quyết định số 49/QĐ/CTN công
bố Việt Nam chính thức tham gia Công ước HS
Tại khoản 2, Điều 7, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1991 quyđịnh:
1 Đối với hàng xuất khẩu, là giá bán tại cửa khẩu xuất, theo hợp đồng
2 Đối với hàng nhập khẩu, là giá mua tại cửa khẩu nhập, kể cả chi phí vận tải, phí bảo hiểm, theo hợp đồng
Trong trường hợp hàng xuất khẩu, nhập khẩu theo phương thức kháchoặc giá bán ghi trên hợp đồng quá thấp so với giá mua, bán thực tế tại cửa khẩuthì giá tính thuế là giá do Hội đồng bộ trưởng quy định
Từ quy định trên, các bảng giá tối thiểu lần lượt được x y dựng, là Bảnggiá 719 (năm 1993), Bảng giá 624 (năm 1994), Bảng giá 353 (Năm 1994 – Dànhriêng cho hàng phi mậu dịch), Bảng giá 1187/TC/TCT (ngày 18/12/1995), Bảnggiá 975/QĐ/TC/TCT (ngày 29/10/1996), Bảng giá 918/QĐ/TC/TCT (ngày11/11/1997), Bảng giá 590A/QĐ/TC/TCT (ngày 29/04/1998), Bảng giá68/1998/TC/TCT (ngày 01/07/2000), Bảng giá 164/2000/TC/TCT (ngày10/10/2000) và Bảng giá 164/2002/TC/TCHQ (ngày 27/12/2002) Bảng giá164/2002/TC/TCHQ là bảng giá tối thiểu cuối cùng, chính thức chấm dứt hiệulực thi hành ngày 31/08/2004, khi Thông tư 87/2004/TT/BTC ra đời, quy định
hệ thống xác định trị giá mới cho hàng hóa nhập khẩu dựa trên hai phương pháp
cơ bản như hiện nay
Về xác định trị giá tính thuế theo giá tối thiểu, ban đầu, nó chỉ được quyđịnh dưới dạng các quyết định ban hành bảng giá (Quyết định 1187/TC/TCT,Quyết định 975/1998/TC/TCT) Theo các quyết định này, giá tính thuế cho hànghóa nhập khẩu sẽ được xác định theo giá hợp đồng nếu giá hợp đồng cao hơn giátối thiểu trong bảng giá Trường hợp giá hợp đồng thấp hơn bảng giá thì giá tínhthuế là giá tối thiểu Trường hợp hàng nhập khẩu không có trong bảng giá nhưng
Trang 30thuộc nhóm hàng được nêu trong danh mục mặt hàng Nhà nước quản lý giá tínhthuế thì vẫn áp dụng giá hợp đồng Đối với các lô hàng khác, Hải quan địaphương căn cứ thực tế x y dựng và ra các quyết định x y dựng giá để bổ sungvào bảng giá.
Kể từ ngày 11/11/1997, sau khi ban hành Thông tư 82/1997/TT/TCT thìcách xác định trị giá tính thuế mới được đưa lên thành văn bản pháp quy lớnhơn là các Thông tư Thông tư 82 được thay thế bởi Thông tư 08/2000/TT-BTCvào năm 2000 Trong Thông tư 08 đã đưa vào một số khái niệm mới dựa trênHiệp định Trị giá Hải quan WTO như “Giá thực phải trả”, “Các khoản điềuchỉnh cộng”… nhưng thực chất đó vẫn là phương pháp xác định trị giá tính thuếtheo giá tối thiểu
Theo đánh giá của các chuyên gia thì trong bối cảnh thương mại chưa mởrộng, xác định giá tính thuế theo giá tối thiểu là một công cụ quan trọng để ngănngừa và chống gian lận giá, cũng như bảo đảm số thu ổn định cho ng n sách.Khi dòng hàng hóa lưu chuyển ngày càng tăng lên thì giá tối thiểu mới bộc lộhết những nhược điểm lớn, như: không linh hoạt, nhanh chóng lạc hậu do giá cảthị trường luôn luôn biến động, là “bình phong” che chắn cho hành vi gian lậngiá của một bộ phận doanh nghiệp làm ăn gian dối, v.v…
Việc nghiên cứu về Hiệp định trị giá Hải quan của Việt Nam bắt đầu từnăm 1994 khi trở thành thành viên của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) Hàngnăm Việt Nam tham gia các phiên họp thường niên của Ủy ban kỹ thuật về xácđịnh trị giá Hải quan tại Bỉ Năm 1998, Việt Nam bắt đầu x y dựng lộ trình thựchiện Hiệp định trị giá Hải quan để phục vụ mục tiêu gia nhập WTO
Có thể nói, việc soạn thảo các văn bản pháp quy nhằm thực thi Hiệp định
là công việc khó khăn và quan trọng nhất Bởi tại Điều 22, Hiệp định trị giáGATT 1994 quy định “Luật pháp, quy chế, các quyết định pháp lý và các quyđịnh hành chính về áp dụng nói chung có quan hệ đến Hiệp định này do cácnước nhập khẩu có liên quan ban hành thì phải phù hợp với Điều 10 của GATT1994” Từ những năm 1999 công tác x y dựng Nghị định về thực hiện trị giá
Trang 31tính thuế Hải quan được bắt đầu và đến năm 2002 Chính phủ đã ban hành Nghịđịnh 60/2002/NĐ-CP ngày 06/06/2002 Quy định về việc xác định trị giá tínhthuế đối với hàng hóa nhập khẩu theo nguyên tắc của Hiệp định thực hiện ĐiềuVII Hiệp định chung về thuế quan và thương mại Đ y là văn bản pháp lý quyđịnh các nguyên tắc xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhậpkhẩu theo tinh thần cơ bản của Hiệp định trị giá GATT/WTO Nghị định đã quyđịnh quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan Hải quan và quyền lợi, nghĩa vụ củađối tượng nộp thuế; đưa ra các phương pháp xác định trị giá tính thuế đượcphép áp dụng một cách minh bạch, nhất quán, tạo thuận lợi cho thương mại;thông qua việc giao cho cơ quan Hải quan quyền xác định, quyền kiểm tra trị giátính thuế sẽ bảo vệ nguồn thu cho ng n sách, chông gian lận thương mại Nghịđịnh quy định chi tiết nội dung cũng như cách xác định trị giá tính thuế theotừng phương pháp và đặc biệt là các tình huống kỹ thuật xảy ra trong thực tế Bộtài chính đã ban hành Thông tư 118/2003/TT-BTC ngày 08/12/2003 hướng dẫnNghị định 60/2002/NĐ-CP ngày 06/06/2002 của Chính phụ Quy định về việcxác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu theo nguyên tắc của Hiệpđịnh thực hiện Điều VII Hiệp định chung về thuế quan và thương mại Đ y làvăn bản hướng dẫn cấp Bộ bao quát toàn bộ nội dung của Nghị định Nội dungtrong Thông tư khá đồng bộ, chi tiết, đặc biệt rất có nhiều ví dụ minh họa nên dễhiểu và dễ thực hiện Một trong những nội dung quan trọng của Thông tư là làm
r nội dung các phương pháp xác định trị giá tính thuế mới, tránh xảy ra những tranh chấp khiếu kiện không cần thiết
Tuy nhiên, theo Nghị định 60 và Thông tư 118, đối tượng áp dụng Hiệpđịnh trị giá còn hẹp, cụ thể chỉ áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có hợp đồngthương mại, gồm:
(1) Hàng hóa nhập khẩu của các doanh nghiệp, các bên hợp doanh thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;
(2) Hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ các nước, vùng lãnh thổ, khối liênminh quốc gia mà Việt Nam đã ký kết thực hiện xác định trị giá tính thuế theo
Trang 32nguyên tắc của Hiệp định thực hiện Điều VII Hiệp định chung về thuế quan vàthương mại (do Bộ Tài chính thông báo); và các hàng hóa nhập khẩu khác theoquyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Ngoài ra, Điều 13 của Hiệp định trị giá Hải quan GATT/WTO quy địnhkhi cần kéo dài thủ tục Hải quan do thiếu thông tin cần thiết để khai báo trị giá,người nhập khẩu có thể nhận hàng bằng cách thanh toán thuế hoặc cung cấpchứng từ bảo đảm cho việc thanh toán theo đúng quyết định cuối cùng Đ y làmột trong những điều kiện góp phần giải phóng hàng kịp thời, vừa hạn chế nguy
cơ rủi ro không thu đủ thuế Điều này chưa được thể hiện trong Nghị định số60/2002/NĐ-CP cũng như Thông tư 118/TT-BTC
Vì vậy, để n ng cao hiệu quả công tác quản lý trị giá Hải quan cần phảihoàn thiện các văn bản pháp luật về trị giá Hải quan, n ng cao tính công khai,minh bạch của các văn bản pháp luật này Theo đó, Nghị định số 155/2005/NĐ-
CP ngày 15 tháng 12 năm 2005 đã ra đời thay thế Nghị định 60/2002/NĐ-CP.Nghị định này quy định việc xác định trị giá Hải quan nhằm mục đích tính thuế
và thống kê đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và áp dụng đối với tất cảhàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Các nội dung trong Nghị định được hướng dẫnthực hiện cụ thể tại Thông tư số 113/2005/TT-BTC ngày 15 tháng 12 năm 2005của Bộ Tài chính về hướng dẫn thi hành thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Qua so sánh, đối chiếu Nghị định 155/2006/NĐ-CP ngày 15 tháng 12 năm
2006 của Chính phủ quy định việc xác định trị giá Hải quan đối với hàng hóaxuất khẩu, nhập khẩu với Hiệp định trị giá WTO, cho thấy Nghị định155/2006/NĐ-CP và Thông tư 113/2005/TT-BTC đã chuyển tải một cách cănbản và khá đầy đủ các nội dung của Hiệp định trị giá GATT/WTO Chỉ còn một
số ít vấn đề được đề cập trong Hiệp định nhưng chưa được thể chế hóa vàopháp luật Việt Nam, do điều kiện năng lực thực tế cũng như khả năng thực hiệncủa Việt Nam ở thời điểm hiện tại Nhưng theo yêu cầu trong đàm phán, WTO
đề nghị Việt Nam cần có một số bổ sung, chỉnh sửa để chuyển thể nguyên bản
về đầy đủ nhất nội dung Hiệp định vào văn bản pháp quy Theo đó, Thủ tướng
Trang 33Chính phủ có Công văn số 1791/TTg-QHQT ngày 06 tháng 11 năm 2006 vềviệc giao Bộ Tài chính sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật về trị giá Hảiquan, theo nội dung và thời hạn đã cam kết với WTO, trước ngày 01 tháng 01năm 2007 Và kết quả là Nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày 16 tháng 03 năm
2007 của Chính phủ quy định việc xác định trị giá Hải quan đối với hàng hóaxuất khẩu, nhập khẩu đã ra đời, thay thế Nghị định 155/2006/NĐ-CP Để thựchiện Nghị định, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 40/2008/TT-BTC ngày 21tháng 05 năm 2008 hướng dẫn việc xác định trị giá Hải quan đối với hàng hóaxuất khẩu, nhập khẩu Tuy nhiên, đến ngày 15 tháng 12 năm 2010 ban hànhThông tư 205/2010/TT-BTC hướng dẫn Nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày 16tháng 3 năm 2007 của Chính phủ quy định về việc xác định trị giá hải quan đốivới hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, theo đó thay thế Thông tư 40/2008/TT-BTC Như vậy, cùng là hướng dẫn thực hiện Nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày
16 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ nhưng trong mỗi thời kỳ, Bộ Tài chính lạiđưa ra cách hiểu và thực hiện khác nhau trong việc xác định trị giá Hải quan đốivới hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Quán triệt và tôn trọng triệt để nguyên tắc kế thừa và phát huy những quyđịnh cũ, chỉ bổ sung làm r một số điểm theo đũng tinh thần của Hiệp định vàtrong phạm vi lớn nhất không làm xáo trộn công tác quản lý, xác định trị giáhiện hành Vì vậy, Nghị định 40 đã sửa đổi, bổ sung một số nội dung cụ thể,gồm:
- Tách khái niệm “Trị giá giao dịch” thành hai khái niệm: “Trị giá giaodịch” và khái niệm “Giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán” Vì WTOcho rằng khái niệm “Giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán” là mộtkhái niệm cơ bản của Hiệp định cần quy định cụ thể trong văn bản của ViệtNam
- Bổ sung khái niệm “Tham vấn” làm cơ sở cho việc đưa các quy định vềtham vấn; Khái niệm “Tổng số lượng bán ra lớn nhất” được sử dụng trongphương pháp khấu trừ; Khái niệm “Ngày sớm nhất ngay sau khi nhập khẩu”,
Trang 34“Hàng hóa cùng phẩm cấp hay cùng chủng loại” để đảm bảo tính logic của quy định và tu n thủ theo đúng Hiệp định.
- Đối với mối quan hệ đặc biệt, để phù hợp với quy định tại Hiệp định,Nghị định đã bổ sung hai cách chứng minh mối quan hệ đặc biệt không ảnhhưởng đến trị giá khai báo, đó là: chứng minh trị giá giao dịch xấp xỉ với giákiểm tra và chứng minh bằng cách chỉ ra giao dịch mua bán đó mặc dù có tồn tạimối quan hệ đặc biệt giữa người mua và người bán, nhưng đã được tiến hànhnhư các giao dịch khác giữa cùng người xuất khẩu với những người mua không
có mối quan hệ đặc biệt
- Đối với phương pháp khấu trừ, bổ sung quy định “Số liệu phục vụ chotính toán khấu trừ được xác định trên cơ sở thông tin do người nhập khẩu hayđại diện cho người nhập khẩu cung cấp trừ phi những số liệu này không nhấtquán với các số liệu thu thập được từ các giao dịch bán hàng nhập khẩu củngphẩm cấp hay cùng chủng loại tại Việt Nam Trường hợp số liệu của người nhậpkhẩu không nhất quán với số liệu thu thập được giao từ những người bán hàngnhập khẩu cùng phẩm cấp hay cùng chủng loại tại Việt Nam, thì khoản lợi nhuận
và chi phí chung được phép khấu trừ sẽ được xác định dựa trên các thông
tin liên quan khác ngoài thông tin do người nhập khẩu hay đại diện của người nhập khẩu cung cấp”
- Đối với phương pháp trị giá tính toán, bổ sung quy định “cơ quan Hảiquan nước nhập khẩu không được tiến hành các hoạt động kiểm tra ngoài nướcnhập khẩu trừ trường hợp được sự hỗ trợ của cơ quan có thẩm quyền ở nước cầntiến hành kiểm tra”; Bổ sung quy định “Trị giá tính toán bao gồm cả các khoản trợgiúp, chi phí đóng gói quy định tại đoạn 3 chú giải của Điều 5 Hiệp định”
Sửa lại quy định “Việc xác định trị giá tính toán phải dựa trên các số liệu củanhà sản xuất cung cấp trừ khi các số liệu này không phù hợp với số liệu thù thậpđược tại Việt Nam” để sát với quy định của Hiệp định
- Về các khoản điều chỉnh: Bổ sung quy định “Các hoạt động do ngườimua thực hiện vì lợi ích của người mua sẽ không phải cộng vào trị giá Hải quan;
Trang 35Khoản lãi suất theo thỏa thuận tài chính của người mua và có liên quan đến việcmua hàng hóa nhập khẩu sẽ không bao gồm trong trị giá Hải quan nếu thỏa mãnmột số điều kiện”.
- Về quyền và nghĩa vụ của người khai Hải quan, bổ sung quy định cơquan Hải quan có trách nhiệm “tổ chức tham vấn” và người khai Hải quan cónghĩa vụ tham gia “tham vấn” trong trường hợp cơ quan Hải quan có nghi ngờ
về tính trung thực, chính xác của trị giá khai báo; Bổ sung quy định “Nộp khoảnđảm bảo theo yêu cầu của cơ quan Hải quan theo quy định”; Bổ sung nghĩa vụcủa người khai Hải quan phải nộp thuế theo số thuế cơ quan Hải quan xác địnhlại để làm rõ và nâng cao trách nhiệm của người khai Hải quan trong việc thựchiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước; Bổ sung quy định: Thông quan hàng hóa
và yêu cầu người khai Hải quan nộp khoản bảo đảm đủ để trả cho tiền thuế của
lô hàng trong trường hợp cơ quan Hải quan có căn cứ nghi ngờ trị giá khai báo
- Nội luật hóa nguyên bản quy định tại Điều 13 của Hiệp định để đảm bảotính tuân thủ triệt để Nghị định và làm cơ sở pháp lý quy định yêu cầu ngườinhập khẩu nộp bảo lãnh để thông quan hàng hóa trong trường hợp cơ quan Hảiquan nghi ngờ trị giá khai báo
- Về xử lý đối với đối tượng nộp thuế: Bổ sung quy định “Đối tượng nộpthuế có trách nhiệm nộp thuế truy thu khi cơ quan Hải quan hoặc cơ quan cóthẩm quyền khác kiểm tra phát hiện có sự giam lận, trốn thuế, trong thời hạn 5năm tính từ ngày kiểm tra, phát hiện thấy việc gian lận, trốn thuế, kể cả trườnghợp trị giá tính thuế đã được cơ quan Hải quan chấp nhận hoặc xác định trướcđó”
1.6 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRỊ GIÁ HẢI QUAN.
Hiệu quả là tiêu chí đánh giá mọi hoạt động nói chung và hoạt động quản
lý trị giá hải quan nói riêng Đánh giá hiệu quả công tác quản lý trị giá hải quan
là công việc khó khăn và phức tạp, bởi lẽ, hoạt động này là hoạt động quản lýNhà nước đặc thù Hoạt động quản lý trị giá hải quan không trực tiếp tạo ra giá
Trang 36trị vật chất, tuy nhiên lại ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan Hải quan cũngnhư hoạt động sản xuất, kinh doanh của Doanh nghiệp Chính vì thế, kết quảcủa hoạt động này được đánh giá không chỉ dựa trên các tiêu chí định lượng màcòn dựa trên các tiêu chí mang tính chất định tính.
Cũng như bất kỳ sự đánh giá một sự vật, hiện tượng nào đó, việc đánhgiá hiệu quả quản lý trị giá hải quan cũng cần có những tiêu chí nhất định Việcxác định hệ thống tiêu chí là luận cứ khoa học để đảm bảo cho việc đánh giáđược khách quan và đúng đắn X y dựng một hệ thống các tiêu chí đánh giá hiệuquả quản lý trị giá hải quan là công việc chưa có tiền lệ Hơn nữa, bản th n hoạtđộng quản lý trị giá hải quan phụ thuộc vào đặc thù của hoạt động xuất nhậpkhẩu tại từng địa phương nên đòi hỏi các tiêu chí đánh giá không thể giốngnhau Tuy nhiên, tác giả bước đầu phác thảo một số tiêu chí đánh giá hiệu quảcông tác quản lý trị giá hải quan như sau:
1.6.1 Số lượng tờ hai phải iểm tra trị gi hải quan.
Theo quy định tại Thông tư 163/2009/TT-BTC, doanh nghiệp không phải
kê khai trị giá hải quan đối với một số trường hợp sau:
- Hàng hóa xuất khẩu;
- Hàng hóa nhập khẩu không có hợp đồng mua bán;
- Hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng miễn thuế, xét miễn thuế theo các quy định hiện hành;
- Hàng hóa nhập khẩu theo loại hình nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu;
- Hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế;
- Hàng hóa nhập khẩu thuộc loại hình tạm nhập, tái xuất
Công chức Hải quan được ph n công tiến hành kiểm tra trị giá hải quan dựa trên các thông tin trong bộ hồ sơ Hải quan với thông tin trên tờ khai trị giá
Công chức Hải quan không phải kiểm tra trị giá hải quan đối với các trường hợp không phải kê khai trị giá
Trang 37Việc xác định số lượng tờ khai phải kiểm tra trị giá là cơ sở để xác địnhcác công việc mà cơ quan Hải quan phải thực hiện trong quy trình kiểm tra trịgiá hải quan Từ đó đánh giá được hiệu quả công tác quản lý trị giá hải quan của
cơ quan Hải quan
1.6.2 Số lượng tờ hai tham vấn gi
Trong quá trình kiểm tra trị giá hải quan, nếu có nghi vấn giá khai báo củadoanh nghiệp, cơ quan Hải quan thông báo để doanh nghiệp biết cơ sở, căn cứ nghivấn mức giá khai báo, phương pháp, mức giá do cơ quan hải quan xác định
Nếu doanh nghiệp đồng ý với mức giá và phương pháp do cơ quan Hảiquan xác định thì cơ quan Hải quan ra thông báo xác định trị giá và thực hiện ấnđịnh thuế theo giá đã xác định
Nếu không đồng ý với mức giá và phương pháp do cơ quan Hải quan xácđịnh thì doanh nghiệp được quyền yêu cầu cơ quan Hải quan tổ chức tham vấn
để giải trình về cơ sở, phương pháp khai báo trị giá hải quan của mình
Trong quá trình tham vấn, nếu doanh nghiệp giải trình được về các cơ sơ,phương pháp khai báo trị giá hải quan của mình, cơ quan Hải quan chấp nhậngiá khai báo của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp không đưa ra được các lý do,căn cứ chứng minh trị giá khai báo là trung thực, cơ quan Hải quan sẽ xác địnhtrị giá
Tuy việc tổ chức tham vấn hay xác định trị giá hải quan chỉ là một bướctrong quy trình kiểm tra trị giá, nhưng đ y là những công việc hết sức phức tạp,đòi hỏi cơ quan Hải quan phải chuẩn bị các thông tin kỹ lưỡng làm cơ sở kiểmchứng các thông tin mà doanh nghiệp đưa ra khi tham vấn, đồng thời làm căn cứkhi xác định trị giá khai báo của doanh nghiệp (nếu có)
Hiện nay, Tổng cục Hải quan dựa trên số liệu tham vấn giá là một trongcác chỉ tiêu đánh giá chất lượng công tác quản lý trị giá hải quan
1.6.3 Số tờ hai phải x c định lại trị gi t nh thuế và ấn định thuế.
Xác định lại trị giá tính thuế là việc công chức kiểm tra trị giá tiến hànhsau khi bác bỏ trị giá khai báo trong trường hợp phát hiện có một trong những
Trang 38m u thuẫn về thủ tục, hồ sơ; về nguyên tắc và trình tự áp dụng các phương phápxác định trị giá tính thuế hoặc thông qua tham vấn giá mà doanh nghiệp không
có đủ căn cứ giải trình các nghi vấn của cơ quan hải quan đưa ra
Khi xác định lại trị giá, cơ quan hải quan “x y dựng” mức giá phù hợp làm căn cứ tính toán, ấn định số thuế phải nộp của doanh nghiệp
Như vậy, xác định lại trị giá khai báo và ấn định thuế được coi như việc phát hiện và “bắt giữ” các trường hợp gian lận về trị giá hải quan
Bằng việc đánh giá chỉ tiêu số lượng tờ khai phải xác định lại trị giá và sốthuế ấn định chúng ta sẽ đánh giá được sơ bộ về tình trạng gian lận trị giá bị cơquan hải quan phát hiện
1.7 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRỊ GIÁ HẢI QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU.
1.7.1 Những nhân tố thuận lợi.
Từ Cục Hải quan Tỉnh đến các Chi cục hải quan đã triển khai được một
hệ thống quản lý công tác giá tính thuế tuân thủ nội dung Hiệp định trị giáGATT phù hợp với quản lý hiện đại, đang phát triển đúng hướng phù hợp vớiyêu cầu phát triển thương mại, hội nhập và hiện đại hóa hải quan
Các văn bản pháp quy về công tác giá tính thuế, các văn bản hướng dẫnchỉ đạo công tác giá tính thuế của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan được triểnkhai kịp thời, công tác giá ngày càng hoàn thiện
Hơn nữa, có thể thấy sau khi áp dụng nguyên tắc kiểm tra giá là quản lýrủi ro về giá căn cứ vào Danh mục quản lý rủi ro hàng nhập khẩu về giá cấpTổng cục và Danh mục quản lý rủi ro hàng xuất khẩu, nhập khẩu về giá cấp Cụccũng đảm bảo việc quản lý giá thông thoáng mà vẫn chặt chẽ Bên cạnh đó, việctriển khai các văn bản hướng dẫn thực hiện công tác giá từ Cục đến Chi cụcthông suốt, kịp thời và r ràng hơn Các Chi cục cũng đã chú trọng hơn đến việchướng dẫn, giải đáp những khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp liên quanđến những quy định mới về công tác giá Do đó, việc chấp hành của doanhnghiệp trong khai báo cũng nghiêm túc hơn, sát với trị giá giao dịch hơn
Trang 39Cục Hải quan tỉnh BR-VT đã rất chú trọng đến công tác đào tạo nhằmnâng cao nhận thức cho đội ngũ làm công tác giá ngay từ khi bắt đầu thực hiệnThông tư số 205/2010/TT-BTC, hiện nay là Thông tư số 39/2015/TT-BTC CụcHải quan tỉnh đã nghiêm túc chọn lựa, xây dựng nên một đội ngũ cán bộ có trình
độ, có kinh nghiệm, được đào tạo đúng chuyên môn làm công tác giá tại Chicục, và ra quyết định công khai danh sách các công chức chuyên trách làm côngtác giá Mỗi khi có sự điều động luân chuyển giữa các đơn vị trong Cục thì cáccông chức mới chuyển đến vẫn được đơn vị tiếp nhận phân công tiếp tục thựchiện nhiệm vụ làm công tác giá Với việc xây dựng đội ngũ cán bộ theo hướngchuyên s u như vậy, công tác giá đã thật sự đạt được những kết quả nhất định,
có sự thống nhất từ trên xuống dưới, tránh được tình trạng mỗi đơn vị thực hiệnmột kiểu như trước đ y
Tại Hải quan tỉnh BR-VT, hệ thống máy móc đang được tăng cường, cácphần mềm nghiệp vụ đang được nghiên cứu điều chỉnh Hải quan tỉnh BR-VTkết hợp với các chuyên gia thế giới đang xác lập lộ trình đánh giá lại các cơ sởtriển khai phương pháp trị giá hải quan Các chương trình nghiên cứu, đánh giábao gồm: đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến trị giá hảiquan, đánh giá khả năng hiện đại hóa của Hải quan tỉnh BR-VT, đánh giá vềnhân sự cũng như hệ thống tổ chức quản lý của Hải quan tỉnh BR-VT Sự đầu tưnày sẽ mang lại hiệu quả trong thời gian tới
Công tác tuyên truyền về trị giá hải quan đang được triển khai mạnh mẽthông qua truyền hình, báo Hải quan, website của Cục Hải quan tỉnh BR-VT,công khai các văn bản điều hành cho các cá nhân, doanh nghiệp tiếp cận, thamkhảo để biết và thực hiện
Hệ thống kiểm tra sau thông quan – một lĩnh vực cực kỳ quan trọng, làhậu phương vững chắc cho áp dụng phương pháp trị giá hải quan đang đượcđầu tư phát triển mạnh
1.7.2 Những nhân tố hông thuận lợi.
1.7.2.1 Từ phía cơ quan hải quan.
Trang 40Theo báo cáo của Phòng Thuế xuất nhập khẩu - Hải quan tỉnh BR-VTtrong thời gian qua, công tác quản lý trị giá hải quan còn gặp một số khó khăn,vướng mắc là:
+ Công tác quản lý trị giá hải quan tại một số Chi cục chưa được quantâm đúng mức nên vẫn còn tình trạng nhiều sai sót lặp đi lặp lại Bên cạnh đó,các Chi cục bố trí cán bộ làm công tác giá chưa theo hướng chuyên sâu nên còn
có hiện tượng cán bộ làm công tác giá bị phân công làm công tác khác
+Cán bộ làm công tác quản lý trị giá hải quan ở Chi cục chưa chủ động tựđào tạo, còn phụ thuộc vào chương trình đào tạo của Cục Hải quan tỉnh Khiđược đào tạo thì tinh thần, thái độ học tập còn chưa nghiêm túc Kỹ năng thamvấn, cập nhật các thông tin mới về biến động giá cả trên thị trường quốc tế củamột số cán bộ, công chức tại đơn vị còn bị hạn chế
+ Việc sử dụng thông tin giá chủ yếu căn cứ vào Hệ thống tra cứu dữ liệugiá của Tổng cục Hải quan (chương trình GTT01) một phần là do cán bộ côngchức chưa chủ động thu thập thông tin từ nguồn khác một phần là do các thôngtin hỗ trợ công tác giá còn nghèo nàn
Chương trình GTT01 đang trong quá trình hoàn thiện, dẫn tới hay xảy
ra lỗi trong khi chạy, làm ảnh hưởng tới công tác nghiệp vụ Hệ thống thông tin
dữ liệu tuy đã được nâng cấp, cập nhật kịp thời và đầy đủ hơn trước đ y, nhưngmột số trường hợp vẫn còn thiếu thông tin chi tiết để có thể lựa chọn làm lôhàng giống hệt hoặc tương tự ảnh hưởng đến việc sử dụng làm căn cứ xác địnhtrị giá tính thuế
Các văn bản liên quan đến công tác giá còn chậm, chưa kịp thời, haythay đổi, một số nội dung còn chồng chéo, không r ràng g y khó khăn cho cán bộthực hiện Còn xảy ra tình trạng cùng một Nghị định của Chính phủ mà Bộ Tàichính hướng dẫn thực hiện bằng hai Thông tư khác nhau trong từng giai đoạn
Hội nhập quốc tế cũng phát sinh một số loại hình xuất nhập khẩu mớitrong khi hệ thống quy định của pháp luật còn đang trong quá trình x y dựng vàhoàn thiện, thường xuyên thay đổi cho phù hợp với thực tiễn và hội nhập kinh tếquốc tế Tất cả những thực tế đó khiến cho công tác kiểm tra, giám sát, quản lýcủa Cục Hải quan tỉnh BR-VT đối mặt với không ít khó khăn, phức tạp
Thêm vào đó, sự phối hợp của các đơn vị trong ngành còn chưa thốngnhất: Kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực giá nói riêng cần phải tiến hành