Dạy học chủ đề tích phân và ứng dụng theo hướng phát triển năng lực học sinh (Luận văn thạc sĩ)Dạy học chủ đề tích phân và ứng dụng theo hướng phát triển năng lực học sinh (Luận văn thạc sĩ)Dạy học chủ đề tích phân và ứng dụng theo hướng phát triển năng lực học sinh (Luận văn thạc sĩ)Dạy học chủ đề tích phân và ứng dụng theo hướng phát triển năng lực học sinh (Luận văn thạc sĩ)Dạy học chủ đề tích phân và ứng dụng theo hướng phát triển năng lực học sinh (Luận văn thạc sĩ)Dạy học chủ đề tích phân và ứng dụng theo hướng phát triển năng lực học sinh (Luận văn thạc sĩ)Dạy học chủ đề tích phân và ứng dụng theo hướng phát triển năng lực học sinh (Luận văn thạc sĩ)Dạy học chủ đề tích phân và ứng dụng theo hướng phát triển năng lực học sinh (Luận văn thạc sĩ)Dạy học chủ đề tích phân và ứng dụng theo hướng phát triển năng lực học sinh (Luận văn thạc sĩ)Dạy học chủ đề tích phân và ứng dụng theo hướng phát triển năng lực học sinh (Luận văn thạc sĩ)Dạy học chủ đề tích phân và ứng dụng theo hướng phát triển năng lực học sinh (Luận văn thạc sĩ)Dạy học chủ đề tích phân và ứng dụng theo hướng phát triển năng lực học sinh (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN CHÍ TOẢN
DẠY HỌC CHỦ ĐỀ TÍCH PHÂN VÀ ỨNG DỤNG THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn
Mã số: 8.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS PHẠM ĐỨC QUANG
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới
sự hướng dẫn của PGS.TS PHẠM ĐỨC QUANG Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn hoàn toàn trung thực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Học viên
NGUYỄN CHÍ TOẢN
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân là sự giúp đỡ của Khoa, Trường, các thầy cô bạn bè và gia đình Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới người hướng dẫn khoa học là PGS.TS Phạm Đức Quang, đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Lời cảm ơn cuối cùng, tôi xin gửi tới các em Học sinh trường THPT Ngô Quyền, Thái Nguyên nơi đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài
Xin được trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2019 Tác giả
NGUYỄN CHÍ TOẢN
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ và cụm từ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể , đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Dự kiến đóng góp của luận văn 4
7 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Dạy học theo hướng phát triển năng lực người học 5
1.1.1 Quan niệm về năng lực 6
1.1.2 Quan niệm về dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh 12
1.1.3 Một số đặc điểm cơ bản của dạy học theo hướng phát triển NL người học 17
1.1.4 Những đặc điểm đặc trưng của bài học theo hướng phát triển NL của người học 19
1.1.5 Những chuẩn bị cần thiết để dạy học theo hướng phát triển NL người học : 21
1.1.6 Các bước thiết kế bài học theo hướng phát triển NL người học 22
1.2 Nội dung “Tích phân” trong chương trình môn Toán ở trường phổ thông 23
1.3 Thực trạng việc thiết kế dạy học chủ đề tích phân và ứng dụng ở một số trường THPT 25
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Kết luận chương 1 30
Chương 2: BIỆN PHÁP SƯ PHẠM DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “TÍCH PHÂN” THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HS 31
2.1 Nguyên tắc chung 31
2.2 Các biện pháp sư phạm dạy học chủ đề “Tích phân” ở THPT theo hướng phát triển năng lực HS 32
2.2.1 Biện pháp 1: Làm sáng tỏ các đặc trưng và cơ hội dạy học theo hướng phát triển năng lực HS với chủ đề “Tích phân” 32
2.2.2 Biện pháp 2: Biết thiết kế và tổ chức bài học theo hướng phát triển năng lực HS với chủ đề “Tích phân và ứng dụng” 36
2.2.3 Biện pháp 3: Biết đánh giá kết quả bài học theo hướng đánh giá NL người học, với chủ đề “Tích phân” 42
Kết luận chương 2 46
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 48
3.1 Mục đích thực nghiệm 48
3.2 Nội dung thực nghiệm 48
3.3 Địa điểm và đối tượng thực nghiệm 48
3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 48
3.5 Thời gian nghiệm sư phạm 48
3.6 Tiến trình thực nghiệm sư phạm 48
3.6.1 Giúp GV hiểu về DH theo hướng phát triển NL người học 49
3.6.2 Thực nghiệm dạy học “Tích phân” theo hướng phát triển năng lực người học 49
3.6.3 Thực nghiệm dạy học “Bài tập tích phân” theo hướng phát triển năng lực người học 54
3.6.3.1 Công tác tổ chức 54
3.7 Đánh giá về kết quả thực nghiệm 59
3.7.1 Đánh giá hoạt động của GV 59
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
3.7.2 Đánh giá hoạt động của HS 60
Kết luận chương 3 61
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 63 PHỤ LỤC
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Nhận thức của GV về dạy học theo định hướng phát triển năng
lực người học 26 Bảng 1.2: Kết quả điều tra việc thiết kế bài giảng môn Toán của GV 26 Bảng 1.3: Nhận thức của GV về vai trò của nội dung tích phân và ứng dụng
trong chương trình học và ứng dụng thực tiễn 27 Bảng 1.4: Những khó khăn GV thường gặp trong quá trình dạy nội dung
tích phân và ứng dụng 27 Bảng 1.5: Khảo sát về mức độ hứng thú của HS khi học nội dung Tích phân 28
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển tri thức, tích cực chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng hơn để đến năm 2020 nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại đặt ra cho nền giáo dục nước ta những yêu cầu, nhiệm vụ, thách thức mới Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế tri thức đang là áp lực của ngành giáo dục nói riêng và của toàn Đảng toàn dân nói chung Điều này đòi hỏi phải có định hướng phát triển, có tầm nhìn chiến lược ổn định, lâu dài cùng những phương pháp, hình thức tổ chức quản lý giáo dục và đạo tạo cho phù hợp
Để thực hiện thành công đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo Nhà nước ta cần phải thực hiện nhiều giải pháp trong đó có giải pháp đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học theo định hướng “coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học của HS” ở tất cả các lớp từ lớp 1 đến lớp 12, GV cần làm cho HS thấy được tầm quan trọng của Toán học trong cuộc sống để HS có lòng đam
mê, hứng thú, tích cực học tập
Dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh là một hướng dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với xu hướng đổi mới mục tiêu, phù hợp với yêu cầu đổi mới của nền giáo dục nước ta
Qua quá trình nghiên cứu chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, tôi nhận thấy trong các môn học nói chung và môn Toán nói riêng, việc thiết kế và
tổ chức dạy học chưa thật sự chú trọng đến phát triển năng lực của từng cá nhân người học Phương pháp dạy học truyền thống vẫn tập trung chủ yếu vào
“ứng thí”, chú trọng vào nội dung, nhằm truyền thụ kiến thức và việc thực hành các kĩ năng đó, ít coi trọng khả năng đạt được, hay nói cách khác là chưa thật
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
sự chú trọng đến những năng lực cần thiết để họ có thể thành công trong học tập cũng như trong cuộc sống Do đó, gần đây có rất nhiều đề tài nghiên cứu về thiết kế và tổ chức dạy học theo hướng phát triển năng lực chung nào đó (như năng lực giải quyết vấn đề,…) của người học, nhưng nhìn chung đều chưa đề cập đến đặc trưng cơ bản của dạy học theo hướng phát triển năng lực người học, nhất là khâu thiết kế và tổ chức dạy học
“Tích phân” được xem là một mạch kiến thức có cả trong chương trình hiện hành (2006) và cả trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành mới (tháng 12/2018) Đây là một trong các chủ đề giàu tiềm năng cung cấp cho HS những hiểu biết về mối liên hệ giữa toán học và các lĩnh vực khoa học khác trong cuộc sống, do đó tiềm ẩn cơ hội để hình thành và phát triển một số năng lực chung, cốt lõi cần đạt ở HS như: năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tính toán,… Tuy nhiên, trong thực tế nội dung Tích phân luôn được đánh giá là nội dung khó trong chương trình Toán phổ thông Sách giáo khoa (năm 2006) trình bày phần kiến thức này đầy đủ, dễ hiểu song học sinh khi làm bài tập lại không đạt kết quả cao, các em thường áp dụng rất máy móc, nếu gặp bài toán lạ là không biết cách xử lí mà đôi khi bằng ngôn ngữ GV khó có thể diễn đạt để HS hiểu cặn kẽ vấn đề Vì vậy kết quả học tập của các em chưa cao
Từ những lí do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Dạy học chủ đề Tích
phân và ứng dụng theo hướng phát triển năng lực học sinh
2 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ thêm về dạy học theo hướng phát triển năng lực người học xem như căn cứ để đề xuất một số biện pháp dạy học chủ đề “Tích phân và ứng dụng” theo hướng phát triển năng lực cho học sinh ở trường trung học phổ thông
3 Khách thể , đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Dạy học chủ đề Tích phân và ứng dụng theo hướng phát triển năng lực HS
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực HS thông qua chủ đề Tích phân và ứng dụng
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Chủ đề Tích phân và ứng dụng ở Lớp 12 trường THPT
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh
- Nghiên cứu cơ hội hình thành và phát triển năng lực cho học sinh thông qua chủ đề “Tích phân và ứng dụng”
- Nghiên cứu thực tiễn, phân tích một vài khó khăn, sai lầm thường mắc phải của học sinh khi học chủ đề này
- Đề xuất được một số biện pháp dạy học chủ đề Tích phân và ứng dụng theo hướng phát triển năng lực cho học sinh
- Vận dụng lí luận để thiết kế và tổ chức dạy học chủ đề “Tích phân và ứng dụng”
- Tiến hành thử nghiệm sư phạm để bước đầu kiểm nghiệm tính khả thi của một số biện pháp được đề xuất
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Làm sáng tỏ cơ sở khoa học về dạy học theo hướng phát triển năng
lực HS
- Nghiên cứu chương trình, giáo trình, tài liệu hướng dẫn về chủ đề Tích phân và ứng dụng, các sách tham khảo có liên quan để xác định mức độ nội
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
dung và yêu cầu về mặt kiến thức, kĩ năng giải bài tập mà HS cần nắm vững, làm rõ cơ hội hình thành và phát triển năng lực cho học sinh
5.2 Phương pháp điều tra - quan sát
Nghiên cứu sơ bộ thực trạng dạy và học chủ đề Tích phân và ứng dụng tại một vài trường THPT qua các hình thức sử dụng phiếu điều tra, quan sát, phỏng vấn trực tiếp giáo viên ở trường THPT
5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tổ chức thực nghiệm tại trường THPT để xem xét bước đầu tính khả thi
và hiệu quả của phương án đã được đề xuất
6 Dự kiến đóng góp của luận văn
6.1 Những đóng góp về mặt lý luận
- Làm sáng tỏ thêm một số vấn đề chung về dạy học theo hướng phát triển năng lực HS và vận dụng để thiết kế dạy học một chủ đề Tích phân trong môn Toán ở THPT
6.2 Những đóng góp về mặt thực tiễn
- Đề xuất được một số biện pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực
HS đối với chủ đề Tích phân và ứng dụng
- Kết quả luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên
và HS trong quá trình giảng dạy và học tập ở trường THPT
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần “Mở đầu”, “Kết luận” và “Danh mục tài liệu tham khảo”, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2 Biện pháp dạy học chủ đề Tích phân và ứng dụng theo hướng phát triển năng lực HS
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Dạy học theo hướng phát triển năng lực người học
Đến nay đã có rất nhiều tác giả cả trong nước lẫn quốc tế nghiên cứu
và viết về phương pháp dạy học truyền thống, tôi xin được trích dịch [18] như sau:
Phương pháp dạy học truyền thống dựa trên tư duy cũ, đó là tập trung vào điểm số của học sinh Hệ thống giáo dục truyền thống tập trung nhiều hơn vào việc xếp hạng và sắp xếp học sinh, xác định ai sẽ có thể đi học đại học
Hệ thống giáo dục truyền thống dựa trên thời gian học của học sinh, theo niên chế, tức là học sinh tiến lên lớp tiếp theo sau một năm đi học bất kể họ thực sự học được những gì Do
đó, học sinh có càng nhiều gánh nặng với những lỗ hổng tích lũy về kỹ năng và kiến thức khiến việc này trở nên khó khăn hơn trong việc học tập để tốt nghiệp
Các lớp học truyền thống chủ yếu đánh giá dựa trên điểm số, điều này chỉ tạo hứng thú đối với những học sinh có điểm số cao, suất sắc trong lớp, số còn lại thì không Nó làm mất đi sự hứng thú trong học tập cũng như hứng thú tham gia các hoạt động tập thể với những em có kết quả học tập chưa cao
Trong các trường học, có sự khác biệt về phương pháp dạy học giữa các giáo viên, mỗi người thường theo cách riêng mà bản thân thành thạo
Cách thức để giáo viên đánh giá chủ yếu thông qua chấm điểm,
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
khi học, làm bài tập và bài kiểm tra
Trong các trường học truyền thống, học sinh được hướng dẫn thực hiện đúng theo một quy trình học tập đã được định sẵn dập khuân : đi học đúng giờ , ngồi học nghiêm túc, làm đúng theo những gì giáo viên nói Hầu như tất cả mọi học sinh vào lớp học, ngồi đúng vị trí, im lặng cho đến khi chuông reo hết giờ, làm đúng như giáo viên nói trong giờ học, cố gắng tập trung trong suốt thời gian của bài giảng, cố gắng ghi nhớ những dạng bài tập , câu hỏi quan trọng sẽ có trong nội dung kiểm tra cuối kỳ Trong hoạt động học tập là một hoạt động không có thứ tự nhất định nào, mỗi học sinh có cách hiểu, thái
độ, cách học tập khác nhau
1.1.1 Quan niệm về năng lực
Đến nay, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về năng lực, chẳng hạn
Theo tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế thế giới (OECD) quan niệm
NL là “Khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể.” [2, tr22]
Chương trình Giáo dục Trung học bang Quesbec, Canada năm 2004 xem
NL “là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực.” [2, tr22]
Denyse Tremblay cho rằng NL là “khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả và tổng hợp các nguồn lực
để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống.” [2, tr.22]
Theo cách của Weinert (2001): “Năng lực thể hiện khả năng nhận thức
và kĩ năng vốn có, hoặc học được, của cá nhân, nhằm giải quyết các vấn đề xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, ý chí, ý thức xã hội và khả năng vận
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
dụng nhằm giải quyết vấn đề trong những tình huống thay đổi một cách thành công và có trách nhiệm.”[8]
Theo P.A Rudich, “năng lực là tính chất tâm sinh lí của con người chi phối các quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định”.[11]
Gerard và Roegiers (1993) đã coi năng lực là một tích hợp những kĩ năng cho phép nhận biết một tình huống và đáp ứng với tình huống đó một cách tích hợp và một cách tự nhiên.[10]
De Ketele (1995) cho rằng năng lực là một tập hợp trật tự các kĩ năng (các hoạt động) tác động lên một nội dung trong một loại tình huống cho trước
để giải quyết các vấn đề do tình huống này đặt ra.[11]
Xavier Roegiers (1996) quan niệm năng lực là một vấn đề tích hợp ở chỗ
nó bao hàm cả những nội dung, những hoạt động cần thực hiện và những tình huống trong đó diễn ra các hoạt động.[10]
Theo John Erpenbeck, năng lực được tri thức làm cơ sở, được sử dụng như khả năng, được quy định bởi giá trị, được tãng cường qua kinh nghiệm và được hiện thực hóa qua chủ định.[3]
Một số nước lại hiểu năng lực theo Nach Klieme (2003): Năng lực thể hiện qua khả năng thực hiện thành công các nhiệm vụ, giải quyết các vấn đề, hay các tình huống nảy sinh, trên cơ sở vận dụng các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí khác như động cơ, ý chí, quan niệm giá trị, suy nghĩ thấu đáo và sự sẵn sàng hành động Theo đó, kiến thức và kĩ năng là nền tảng của năng lực
Cách hiểu của Đặng Thành Hưng: “NL là thuộc tính cá nhân cho phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.”[2, tr22]
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Cách hiểu của Trần Trọng Thủy và Nguyên Quang Uẩn: “NL là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt nhất trong lĩnh vực hoạt động ấy.”[2,tr22]
Qua tham khảo một số tài liệu chúng tôi thấy: Đến nay vẫn còn có những cách hiểu chưa giống nhau về năng lực, nguyên nhân chính là do có nhiều cách tiếp cận khác nhau Chẳng hạn, tiếp cận từ bình diện của tâm lí học, hay tiếp cận từ bình diện giáo dục nghề nghiệp, Chẳng hạn:
- Năng lực xem như mục tiêu của dạy học, giáo dục Theo cách hiểu này mục tiêu dạy học (mục tiêu bài học) phải hướng vào hình thành và phát triển được một số năng lực chung, cốt lõi, hay một số năng lực đặc thù môn học; các năng lực chung cùng với các năng lực đặc thù tạo thành nền tảng chung cho công việc giáo dục và dạy học
- Đề cập cấu trúc chung của năng lực Theo đó: Năng lực được xem là tổ hợp của kiến thức, kĩ năng, thái độ, sự quyết tâm,
- Tìm kiếm liên hệ giữa năng lực và nội dung dạy học Theo cách hiểu này trong mỗi môn học đều tiềm ẩn các cơ hội hình thành và phát triển năng lực cho người học Vì thế, nếu khéo khai thác những nội dung và hoạt động học tập
cơ bản, được liên kết với nhau nhằm hướng vào hình thành các năng lực chung, cốt lõi cần đạt
- Đề cập tới bình diện phát triển năng lực Minh chứng cho mức độ phát triển năng lực có thể được mô tả qua các chuẩn thành tích Theo đó, đến một thời điểm nhất định, học sinh có thể cần phải đạt được những gì? theo tiêu chí nào?
- Đề cập tới bình diện phương pháp dạy học và đánh giá kết quả giáo dục Theo
đó, mục tiêu hình thành và phát triển được một số năng lực chung, cốt lõi sẽ định hướng cho việc: lựa chọn, đánh giá mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nội dung, hoạt động dạy học, đánh giá mức độ tiến triển về năng lực của người học theo đường phát triển đã định
- Đề cập tới bình diện thực hành, ứng dụng, gắn với thực tiễn, liên môn Theo
đó, năng lực được thể hiện thông qua giải quyết những vấn đề nảy sinh, hay đòi hỏi vận dụng kiến thức trong các tình huống liên quan, gắn với thực tiễn, liên môn như: ước lượng, tính toán (khoảng cách, dung tích, ), vẽ hình biểu diễn, tìm phương án tối ưu,
Ta biết rằng, để con người thực hiện tốt nhiệm vụ đòi hỏi phải có sự kết hợp của tư duy, cảm xúc, thái độ, kĩ năng,… Vì thế, có thể xem năng lực của một cá nhân như là tổ hợp của các khả năng giúp người đó hoàn thành công việc, trong những tình huống cụ thể, nảy sinh từ cuộc sống, hay học tập Từ đó,
có thể xem năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và sự đam mê để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống
Năng lực cốt lõi đề cập đến những năng lực được coi là nền tảng, nhờ chúng người ta có thể thực hiện được yêu cầu công việc đặt ra, hay hoàn thành nhiệm vụ học tập, trong các bối cảnh và tình huống khác nhau
Điểm qua như trên cho thấy năng lực có tính phức hợp hơn kĩ năng và mức độ thành thạo của một kĩ năng cũng có thể xem như thể hiện một phần mức độ cao hay thấp của năng lực tương ứng Với mỗi ngành hoặc chuyên ngành cụ thể năng lực lại được định nghĩa ở phạm vi hẹp hơn phù hợp với đặc thù
Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của CHLB Đức, để áp dụng vào dạy học, bên cạnh việc hiểu những thuộc tính chung của năng lực thì cần nhất là phải xác định được năng lực đặc trưng của học sinh, bởi nếu xác định sai thì không tài gì có thể triển khai được
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Ở nước ta, các nhà tâm lí học cho rằng năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao Họ cũng chia năng lực thành năng lực chung, cốt lõi và năng lực chuyên môn, trong đó, năng lực chung, cốt lõi là cần thiết, làm nền tảng để phát triển năng lực chuyên môn, còn năng lực chuyên môn đặc trưng ở những lĩnh vực nhất định, ví dụ: năng lực toán học, năng lực ngôn ngữ, Tuy nhiên, theo cách hiểu này năng lực chung cốt lõi và năng lực chuyên môn không tách rời mà có quan hệ chặt chẽ với nhau
Như vậy, cho dù là khó để có được định nghĩa thống nhất về năng lực, nhưng các nhà nghiên cứu của Việt Nam và thế giới cũng đã chỉ ra được những điểm chung, thống nhất rằng: Năng lực được coi là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chất, thái độ của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện một nhiệm
vụ có hiệu quả
Qua tham khảo một số tài liệu, theo cách hiểu thông thường, ở trường phổ thông thì: năng lực người học là sự kết hợp của kiến thức, kĩ năng và thái độ có sẵn, hoặc ở dạng tiềm năng, để có thể học hỏi hoặc tổ chức, thực hiện thành công nhiệm vụ đặt ra
Theo những gì vừa nêu trên cho thấy, cho dù tiếp cận theo cách này hay cách khác thì các nhà giáo dục trên thế giới đều thống nhất ở chỗ:
Nói đến năng lực là nói đến khả năng có thể để thực hiện, hoàn thành nhiệm vụ của từng người và có tính cá nhân Vì thế, không nên so sánh năng lực của người này với năng lực của người kia, mặc dù có thể thấy được mức độ thấp nhất và mức độ cao nhất của từng năng lực đề cập
Năng lực thường biểu hiện ra bên ngoài, thông qua từng mảng hoạt động, nhiệm vụ và ta có thể quan sát được, đánh giá được Theo đó, xem như ta có
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
thể mô tả được cấu trúc của năng lực đề cập, theo những tiêu chuẩn, tiêu chí chất lượng và có thể tìm được minh chứng cho mức độ thể hiện này Từ đó, với những năng lực mà ta đề cập và mô tả được đều có thể hình thành và phát triển Tuy nhiên, sự phát triển cao hay thấp, nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào từng
cá nhân và thời gian đủ để phát triển năng lực đó
Theo cách hiểu này, năng lực (là cái tiềm ẩn bên trong con người, không trực tiếp nhìn thấy được) có thể mô tả tương đương thành các biểu hiện bên ngoài (thông qua các nhiệm vụ, hoạt động) thành các thành tố (hay năng lực thành phần) mà ta có thể quan sát được, đánh giá được Hơn nữa, ta có thể tìm được minh chứng cho mức độ cao hay thấp của năng lực, thông qua nội dung, nhiệm vụ Vì thế, có thể đồng nhất mức độ phát triển năng lực với kết quả thực hiện công việc, nhiệm vụ hay hoạt động đề cập
Theo đó, ở trường phổ thông để dạy học theo hướng hình thành và phát triển năng lực người học, trước hết chúng ta cần xác định và mô tả mỗi năng lực đề cập theo các tiêu chuẩn, hay tiêu chí chất lượng Tiếp theo, lựa chọn các minh chứng là các kết quả hoạt động (hay kết quả thực hiện nhiệm vụ), tương thích với các tiêu chuẩn, tiêu chí đề cập đó Dựa vào đó, chọn lựa các nội dung, kiến thức tương thích với các hoạt động được cho là tương ứng với mức độ thành tích về năng lực đề ra Nội dung được chọn để dạy học có thể là những kiến thức đơn lẻ, mà cũng có thể là những kiến thức liên môn, tích hợp Theo
đó, dạy học theo hướng hình thành và phát triển năng lực người học về cơ bản vẫn là dạy học trên các nội dung, kiến thức đã chọn nhưng chú trọng hơn đến đầu ra, kết quả học tập của người học, không chỉ dừng ở các kiến thức, kĩ năng tiềm ẩn qua mỗi nội dung, mà phải hướng đến người học có thể ứng dụng được kiến thức trong thực tiễn, giải quyết được tình huống đặt ra từ thực tiễn, hay từ cuộc sống,
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Theo cách hiểu này, muốn dạy học theo hướng hình thành và phát triển năng lực người học, ta cần xác định và mô tả các năng lực đề cập theo các tiêu chuẩn, hay tiêu chí chất lượng Từ đó ta dựa vào để chọn lựa nội dung, thiết kế bài học theo chuỗi các hoạt động, hay nhiệm vụ học tập sao cho khi thực hiện từng hoạt động, hay nhiệm vụ đó thì sản phẩm của người học hiển thị (hay có thể nhận thấy được, quan sát được), minh chứng cho mức độ năng lực mà người học đạt được, qua mỗi nội dung, chủ đề đề cập Điều quan trọng sau khi thiết kế bài học là tổ chức để người học có thể chủ động thực hiện nhiệm vụ học tập, sao cho có thể khám phá, phát hiện rồi chiếm lĩnh kiến thức, vận dụng được những gì đã học trong thực tiễn Người dạy chỉ nên là nhà đạo diễn, và cùng học với học sinh, thông qua hướng dẫn, gợi ý để người học có thể vượt qua khó khăn, phát minh lại kiến thức mới cho chính mình Sao cho với mỗi bài học, mỗi đơn vị kiến thức đề cập, học sinh không chỉ được học mà còn học được, biết cách học, chủ động và hứng thú học tập Điều này đòi hỏi người dạy bên cạnh việc am hiểu về chuyên môn, kiến thức môn học cần phải rất thành thục về việc phối kết hợp các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, nhất là cách dạy học tích hợp, liên môn
Chúng tôi vận dụng cách hiểu trên khi triển khai nghiên cứu luận văn này
1.1.2 Quan niệm về dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh
Nếu DH truyền thống được xem là chủ yếu tập trung vào dạy nội dung, nhằm truyền thụ kiến thức, nhấn mạnh tới các kĩ năng và việc thực hành các kĩ năng đó, việc đánh giá kết quả học tập cũng chỉ tập trung đánh giá mức độ đạt được kiến thức thông qua các bài thi viết và nói thì DH theo hướng phát triển
NL người học được xem là tập trung vào phát triển các NL cần thiết để họ có
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
thể thành công trong cuộc sống cũng như trong học tập Theo đó, đánh giá kết quả học tập cũng hướng tới việc đánh giá xem học sinh vận dụng một cách hệ thống các kiến thức và NL đạt được, thông qua nhiều công cụ và hình thức đánh giá khác nhau, trong đó có cả quan sát và thực hành trong các tình huống, bối cảnh nhất định
Đến nay, các nghiên cứu cho thấy DH theo hướng phát triển NL người học tập trung vào đầu ra, chú trọng vào người học đạt được những NL nào sau khi kết thúc chương trình học tập Từ đó, để GD có hiệu quả, trước hết chúng ta cần xác định và mô tả mỗi năng lực đề cập theo các tiêu chuẩn, hay tiêu chí chất lượng Tiếp theo, lựa chọn các minh chứng, là các kết quả hoạt động (hay kết quả thực hiện nhiệm vụ), tương thích với các tiêu chuẩn, tiêu chí đề cập đó Dựa vào đó, chọn lựa các nội dung, kiến thức, tương thích với các hoạt động được cho là tương ứng với mức độ thành tích về năng lực đề ra Nội dung được chọn để dạy học có thể là những kiến thức đơn lẻ, mà cũng có thể là những kiến thức liên môn, tích hợp Theo đó, dạy học theo hướng hình thành và phát triển năng lực người học về cơ bản vẫn là dạy học trên các nội dung, kiến thức
đã chọn, nhưng chú trọng hơn đến đầu ra, kết quả học tập của người học, không chỉ dừng ở các kiến thức, kĩ năng tiềm ẩn qua mỗi nội dung, mà phải hướng đến người học có thể ứng dụng được kiến thức trong thực tiễn, giải quyết được tình huống đặt ra từ thực tiễn, hay từ cuộc sống,
Bên cạnh đó, DH theo NL cần có phương tiện giảng dạy, các tài liệu, tư liệu, dụng cụ DH phải đầy đủ và đa dạng, đáp ứng được yêu cầu; HS phải được biết trước về các NL cần đạt và có những biểu hiện cho thấy rõ sự hình thành các NL đó
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Như vậy, thay cho lối dạy học truyền thống lấy giáo viên làm trung tâm dạy theo hướng phát triển NL chú trọng lấy HS làm trung tâm còn GV chỉ như người hướng dẫn, giúp các em chủ động hơn trong việc đạt được NL theo yêu cầu đặt ra, phù hợp với đặc điểm cá nhân
Tác giả Chris Sturgis đã nghiên cứu và đưa ra một bảng so sánh giữa hệ thống giáo dục truyền thống và hệ thống giáo dục theo năng lực CBE, xin được trích dịch [19]
Hệ thống giáo duc truyền thống
Đặc điểm nổi bật của CBE
Lớp học của CBE
Kết quả Tập trung vào một tập
hợp hẹp kết quả học tập, nhấn mạnh các kỹ năng học tập, ghi nhớ
và hiểu nội dung
Không khó để nhận ra rằng thành công của học sinh phụ thuộc vào một phạm vi đầy đủ của kỹ năng nền tảng, bao gồm kỹ năng cảm xúc xã hội và việc áp dụng các kỹ năng
Tập trung một cách rộng rãi và toàn diện kết quả học tập thành công của học sinh, bao gồm sự hiểu biết sâu sắc về kiến thức các kỹ năng chứng minh qua ứng dụng
Bao gồm năng lực của học sinh chuẩn bị cho vào đại học, cho nghề nghiệp và việc học tập lâu dài
Công nhận học sinh là tài sản sở hữu của trung tâm và khuyến khích học sinh
để phát triển sở thích và tài năng, trong khi xây dựng kiến thức,
kỹ năng và năng lực
Tư duy
Quan niệm về khả năng của mọi người là bẩm sinh và bất biến
Phân loại và sắp xếp học sinh tạo ra "ngươi
Xây dựng dựa trên tư duy phát triển: đó là học tập và năng lực
có thể cải thiện thông qua nỗ lực
Đảm bảo những khoảng trống trong kiến thức
và kỹ năng là được giải quyết
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Hệ thống giáo duc truyền thống
Đặc điểm nổi bật của CBE
Lớp học của CBE
thắng và kẻ thua"
tạo ra sự bất bình đẳng giữa các học sinh
khi đó học sinh
đã chuẩn bị đủ cho việc học tập
và nghiên cứu ở mức độ cao hơn Văn hóa Nhấn mạnh sự kỷ luật
và trật tự trong văn hóa học đường
Dựa vào một hệ thống phân cấp duy trì chuẩn mực văn hóa truyền thống
Trao cho người học quyền làm chủ lựa chọn hệ thống giáo dục văn hóa an toàn phù hợp
Đa dạng văn hóa đáp ứng ở tất cả các vùng miền liên quan đến học sinh trong trường học
Sự tin cậy Cho phép mức độ biến
đổi cao trong cách giáo dục ở trường học và khu vực theo mức độ thành thạo Học sinh được tổ chức theo các tiêu chuẩn khác nhau trong các khóa học, trường học và khu vực
Nắm vững kiến thức
và kỹ năng
Xây dựng giáo dục để đánh giá năng lực các học sinh có cùng trình
độ cao
Thiết lập mạng lưới cùng quy trình chuẩn giữa các trường và trên khắp khu vực nhằm giảm thiểu sự khác nhau về tiêu chuẩn đánh giá cho người học khác nhau trong trường và khu vực
Cơ sở hạ Cung cấp ít thông tin Cung cấp thông tin và Trao quyền và
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Hệ thống giáo duc truyền thống
Đặc điểm nổi bật của CBE
Lớp học của CBE
tầng học
tập
không đầy đủ và mục tiêu học tập chưa rõ nét cho người học
đặt ra các mục tiêu rõ ràng cho học sinh
thúc đẩy học sinh bằng cách tạo cơ hội để học sinh đưa ra ý kiến và thể hiện năng lực học tập Chấm
điểm
Kết quả học tập, những hành vi, hoàn thành nhiệm vụ, được thông báo vào cuối khóa học khiến việc đánh giá có thể bị sai lệch và không chính xác
Kết quả đánh giá được phản hồi ngay trong quá trình học tập của học sinh
Theo dõi chặt chẽ sự phát triển và tiến bộ của học sinh dựa trên quá trình học tập, không chỉ ở lớp mà còn ở các cấp học
Truyền đạt cho học sinh theo phương pháp mới để đảm bảo tất cả
học sinh nâng cao
trình độ một cách tốt nhất việc thông báo kết quả của học sinh được giáo viên thực hiện chuyên nghiệp
Sự tiến bộ Dựa trên thời gian Tất
cả học sinh bằng tuổi được đào tạo cùng nội dung và các khóa học như nhau Sau một năm học, học sinh đều được lên lớp bất chấp học sinh có học được
gì hay không
Học sinh được hỗ trợ dựa trên nguyện vọng học tập (làm chủ) thông qua việc người học được cá nhân hóa
lộ trình học tập Cung cấp đầy đủ các khái niệm, kỹ năng để người học có thể học
Việc thiết kế lộ trình học tập có thể không theo một con đường nhất định, mà phụ thuộc vào năng lực và sự tiến bộ của từng học sinh
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Hệ thống giáo duc truyền thống
Đặc điểm nổi bật của CBE
Lớp học của CBE
tập vượt cấp
Sự hỗ trợ Mục tiêu hỗ trợ cho
người học khi học tập dựa trên năng khiếu
Sự hỗ trợ tới từng học sinh là khác biệt phụ thuộc vào từng cá nhân, hỗ trợ học sinh
cả trước và sau khóa học
Giáo dục Chương trình giáo dục
được thiết kế duy nhất
và theo từng độ tuổi, được truyền lại qua các năm
Chương trình giáo dục được nghiên cứu thông qua các bài học cho cả học sinh lẫn giáo viên
Đánh giá Đánh giá chỉ nhằm vào
người học biết cái gì
và tạo ra một chuẩn mực chung trong đánh giá cho tất cả học sinh
Đánh giá theo cá nhân và theo quá trình học tập, làm rõ nhu cầu của học sinh chỉ ra phương hướng tiếp theo cho học sinh dựa trên hệ thống chuyên nghiệp
Tạo ra môi trường học tập
kỹ năng, kiến thức trong suốt quá trình học tập lâu dài
1.1.3 Một số đặc điểm cơ bản của dạy học theo hướng phát triển NL người học
Không chỉ trong nước mà trên thế giới các nhà nghiên cứu giáo dục đã và đang nghiên cứu về phương pháp dạy học phát triển năng lực, có rất nhiều quan điểm về đặc tính cơ bản của phương pháp này Xin được trích dịch [19]:
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Học sinh tiến bộ khi được làm chủ Bằng chủ động tìm tòi kiến thức thông qua các hoạt động thực tế thay vì ngồi trong lớp, giáo viên có thể chú ý đến những học sinh cần
Được cung cấp kiến thức kịp thời dựa trên nhu cầu học tập
và năng lực của từng học sinh
Đánh giá kết quả dựa trên những năng lực học sinh đạt được, giáo viên theo dõi từng cá nhân và đánh giá theo năng lực của mỗi em
Qua tham khảo một số tài liệu (như đã nêu ở phần tài liệu tham khảo) chúng tôi nhận thấy: Dạy học theo năng lực trước hết vẫn là dạy học thông thường, nhưng có thêm một số điểm khác biệt, đó là:
- GV chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ để HS tự lực, tích cực lĩnh hội tri thức Chú trọng hơn đến năng lực quyết vấn đề khả năng giao tiếp, trao đổi, chia sẻ, hợp tác,
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Để có thể đạt được GV phải xác định rõ mục tiêu, mô tả chi tiết, thậm chí tới mức có thể quan sát, đánh giá được mức độ đạt được cũng như mức độ tiến bộ cùa người học
- Trên cơ sở đó, lựa chọn nội dung tương thích, tạo ra những tình huống học tập, mà chúng có thể xem như bối cảnh để HS trải nghiệm, tìm kiếm, khám phá tri thức Từ đó, tạo đà cho việc hình thành và phát triển năng lực
- Bên cạnh việc chọn lựa phương pháp dạy học thích hợp GV còn phải chỉ
ra được các tiêu chí rõ ràng nhằm đánh giá và có được thông tin phản hồi xác đáng về năng lực người học qua mỗi nội dung, chủ đề dạy học (chú trọng hơn đến đánh giá quá trình)
Theo đó, để Dạy học theo năng lực hiệu quả trong lớp học GV cần định hướng, thúc đẩy việc học tập cũng như quyền tự chủ của HS, bằng cách chỉ ra các nguồn tài nguyên (học liệu), khuyến khích HS tự đánh giá, chấp nhận chiến lược quyết vấn đề của bạn hay của nhóm học tập, tạo điều kiện để HS lựa chọn được cách giải quyết vấn đề tốt nhất cho công việc của họ Khuyến khích HS thiết lập mục tiêu, lập kế hoạch, chọn lựa phương pháp tiếp cận và giám sát công việc của mình, sao cho có thể chuyển sang và tương thích nhiệm vụ học tập tiếp theo mà không cần sự kiểm tra, giám sát hay can thiệp nhiều của GV Chúng tôi vận dụng cách hiểu trên khi triển khai nghiên cứu luận văn này
1.1.4 Những đặc điểm đặc trưng của bài học theo hướng phát triển NL của người học
1.1.4.1 Đặc điểm của bài học theo hướng phát triển NL của người học
Qua tham khảo một số tài liệu (như đã ghi ở phần tài liệu tham khảo) chúng tôi nhận thấy bài học theo hướng phát triển NL người học có một số đặc điểm sau:
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Mục tiêu của bài học chỉ rõ cơ hội để phát triển những năng lực chung, cốt lõi
- Sản phẩm của HS sau khi học phải đạt được mục tiêu bài học đã đề ra, hướng vào phát triển những thành tố của từng năng lực đề cập
- Sử dụng nhiều phương pháp dạy học, phương án đánh giá kết quả học tập phù hợp mục tiêu để hỗ trợ HS học tập hiệu quả
1.1.4.2 Đặc trưng của bài học theo hướng phát triển NL của người học
Qua tham khảo một số tài liệu (như đã ghi ở phần tài liệu tham khảo) chúng tôi nhận thấy Do phải đáp ứng mục tiêu phát triển NL người học nên bài học theo hướng phát triển NL có những đặc trưng như:
- Tăng cường tích hợp, liên môn : Mục tiêu của bài học phải đáp ứng vừa phát triển những NL chuyên môn, vừa phát triển những NL chung; nội dung của bài học tích hợp được phối hợp từ nhiều khoa học, môn học (liên kết các nội dung trong một ngành hoặc nhiều ngành khoa học, liên kết các tri thức và ứng dụng tri thức vào thực tiễn….)
- Tích cực hóa chủ thể: HS học chủ động theo lôgic nhận thức của người học, theo nhu cầu và khả năng, thông qua những loại hoạt động như: trải nghiệm, khám phá cái mới, thực hành để hiểu rõ hơn cái mới trong tình huống quen thuộc, vận dụng cái mới vào giải quyết vấn đề trong tình huống mới; thông qua những hình thức học tập như: học cá nhân, học hợp tác, học ở trường, học ở trong bối cảnh thực của đời sống; thông qua những hoạt động tư duy như tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, thể hiện khả năng tư duy độc lập của
cá nhân
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Tăng cường hoạt động học tập và thực hành ứng dụng: Giúp HS giải quyết được vấn đề liên quan trong mỗi bài học, đáp ứng với yêu cầu làm được
gì sau khi học
- Sử dụng hiệu quả các phương tiện, thiết bị DH: HS được chỉ dẫn chuẩn
bị, sử dụng các phương tiện, thiết bị để thực hiện những hoạt động học tập như:
kế hoạch thực hiện các nhiệm vụ, những câu hỏi, bài tập, các nguồn tài liệu (SGK, tài liệu tham khảo dạng in, dạng kĩ thuật số trên internet), các mô hình, bảng biểu, dụng cụ thí nghiệm,…
- Tăng cường đánh giá trong suốt quá trình dạy học: GV cần sử dụng nhiều hình thức, công cụ đánh giá để hỗ trợ việc học, giúp HS biết được đã đạt được những kết quả gì và làm thế nào để đạt được những điều còn thiếu
1.1.5 Những chuẩn bị cần thiết để dạy học theo hướng phát triển NL
người học :
Dạy học theo hướng phát triển năng lực:
- Người học có thể chủ động thực hiện nhiệm vụ học tập, khám phá, phát hiện rồi chiếm lĩnh kiến thức, vận dụng được những gì đã học trong thực tiễn
- Chú trọng vào kết quả đầu ra mà không quá chú trọng vào kiến thức, ghi nhớ máy móc
- Tạo ra những cách thức riêng: Linh hoạt, phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh của cá nhân nhằm đạt tới những kết quả đầu ra
- Tạo khả năng cho việc xác định rõ ràng những điều cần đạt và những tiêu chuẩn cho việc đo lường kết quả
Từ đó, để làm tốt được các vấn đề này, GV cần tập trung vào các yếu tố như: Cách thiết kế và tổ chức hoạt động nhằm thúc đẩy học tập tích cực, chủ động của HS, tạo một môi trường hỗ trợ học tập (gắn với bối cảnh thực), khuyến khích HS phản án tư tưởng và hành động, khuyến khích giao tiếp, tăng
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
cường trách nhiệm trong học tập, tạo điều kiện thuận lợi cho học tập, chia sẻ, trao đổi, tranh luận… Kết nối để học tập, giảng dạy như quá trình tìm tòi, cung cấp đầy đủ cơ hội để HS tìm tòi, khám phá, sáng tạo
Trong bất kì hoàn cảnh nào, với sự hỗ trợ nào cũng đòi hỏi GV hiểu tác động của việc giảng dạy tới HS của mình ra sao Mối quan hệ GV – HS trong dạy học phải được quán triệt như là một quá trình, theo chu kì, diễn ra ngày qua ngày Trong quá trình này, GV cần biết :
- Điều gì là quan trọng cho HS của mình (do đó, đầu tư thời gian thích đáng)
- Chiến lược nào (hay bằng cách nào) có nhiều khả năng để giúp HS của mình học?
- Kết quả học tập ra sao và tác động tới giảng dạy trong tương lai thế nào?
1.1.6 Các bước thiết kế bài học theo hướng phát triển NL người học
Dựa vào những căn cứ trên, theo tôi việc thiết kế bài học thường gồm những bước chính sau:
Bước 1: Lựa chọn vấn đề và xác định mục tiêu bài học theo yêu cầu phát
triển NL
Căn cứ vào yêu cầu, nội dung chương trình, SGK của môn học và những ứng dụng trong thực tiễn để xác định các nội dung kiến thức liên quan, xây dựng thành một vấn đề chung, tạo thành bài học Trong trường hợp có những nội dung kiến thức liên quan đến nhiều môn học có thể thiết kế thành bài học hay chủ đề tích hợp, liên môn
Bước 2: Lựa chọn nội dung dạy học cốt lõi nhằm hướng vào phát triển NL
Nếu coi NL là đầu ra thì nội dung được coi là đầu vào của bài học Để đáp ứng mục tiêu phát triển NL của người học ta cần rà soát, sắp xếp sao cho các hoạt động học tập của HS theo trình tự :
- Khởi động quá trình nhận thức (thông qua những trải nghiệm)
- Khám phá, phát hiện, chiếm lĩnh kiến thức, hay quy trình, thao tác mới
- Luyện tập, củng cố kiến thức, KN vừa học
- Vận dụng kiến thức, giải quyết vấn đề nảy sinh trong tình huống quen thuộc
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Tìm tòi, mở rộng, sáng tạo, giải quyết vấn đề mới
Bước 3: Thiết kế các hoạt động học tập nhằm chiếm lĩnh các đơn vị kiến
thức nền tảng, nội dung cốt lõi (ở lớp, ở nhà) và hướng vào phát triển được các
NL đề cập
Bài học theo định hướng phát triển NL cần bắt đầu từ hoạt động chuẩn bị bài của HS và kết thúc bằng hoạt động vận dụng vào giải quyết tình huống nảy sinh từ thực tiễn Do vậy, các hoạt động học mà GV đặt ra và yêu cầu HS thực hiện phải trải theo thời gian từ trước khi học trên lớp, trong khi học trên lớp và sau khi học trên lớp; trong không gian ngoài lớp học và trong lớp học
Bước 4: Thiết kế những câu hỏi, bài tập tương thích với yêu cầu cần đạt về
năng lực ở từng mức độ, thiết kế công cụ đánh giá kết quả học tập theo quá trình Việc đánh giá kết quả học tập của HS trong mỗi bài học có ý nghĩa rất quan trọng, có thể do GV thực hiện nhưng cũng có thể do HS thực hiện (tự đánh giá) Công cụ đánh giá dùng cho GV có thể là: bảng điểm, phản hồi của
GV (bằng lời nhận xét tích cực), phiếu quan sát sản phẩm của HS, phương án giải quyết vấn đề đặt ra,…
Bước 5 : Điều chỉnh bài học sau khi dạy học
Thực hiện bài học thường gắn với bối cảnh, với những nhóm HS có đặc điểm tâm lý, có hoàn cảnh sống, trình độ nhận thức cụ thể Do đó, sau mỗi lần triển khai bài học ở một lớp, GV cần rút kinh nghiệm, tìm ra những điều cần chú ý khi thực hiện bài học cho lớp học khác GV cần trả lời: Bài học đó nên được điều chỉnh thế nào? Bổ sung hay lược bỏ nội dung? Thay đổi bài tập, câu hỏi nào? cho phù hợp với yêu cầu phát triển NL của từng đối tượng
1.2 Nội dung “Tích phân” trong chương trình môn Toán ở trường phổ thông
1 Nội dung Tích phân trong SGK Giải tích 12 hiện hành
Chương Nguyên hàm - Tích phân và ứng dụng Giải tích 12 bản cơ bản:
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
-Vận dụng thành thạo các tính chất của tích phân
- Nắm được ý nghĩa hình học của tích phân
- Sử dụng thành thạo các phương pháp tính tích phân: đổi biến số, tích phân từng phần
- Nắm được cách tính thể tích khối tròn xoay
Kiến thức Tích phân có nguồn gốc ra đời từ thực tiễn nghiên cứu khoa học
và thực tiễn đo đạc các đại lượng hình học, cơ học Nhiều vấn đề thực tiễn sản xuất, kinh tế và khoa học được giải quyết nhờ tích phân Hơn nữa, trong bộ môn Vật lí , nhiều đại lượng liên quan đến yếu tố “biến đổi” nào đó (chẳng hạn như bài toán tìm quãng đường đi được khi vận tốc thay đổi, công của lực biến đổi,…) Chính vì thế chủ đề tích phân ở trường phổ thông chứa đựng nhiều tiềm năng để giáo dục cho học sinh cả về phương diện ý thức lẫn năng lực thực hiện việc ứng dụng môn Toán vào giải quyết các vấn đề thực tiễn đời sống và các môn học khác
Qua chủ đề này, có nhiều cơ hội hình thành và phát triển một số NL sau: NL
mô hình hóa toán học; NL lập luận và tư duy toán học; NL giải quyết vấn đề toán học; NL giao tiếp toán học; NL sử dụng phương tiện và công cụ học toán
Ví dụ: [17] Một ô tô đang chạy với vận tốc 10km/h thì tài xế đạp phanh;
từ thời điểm đó, ô tô chuyển động chậm dần đều với vận tốc v = -5t +10 (m/s) Trong đó t là khoảng thời gian tính bằng giây, kể từ lúc đạp phanh Hỏi từ lúc đạp phanh đến khi xe dừng hẳn, ô tô di chuyển được bao nhiêu mét?
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tư duy, phân tích giải quyết vấn đề, ngôn ngữ
Viết công thức tính
S(t)?
1
0 ( ) ( )
t t t
S v t dt Tư duy, ngôn ngữ toán học
v(t) = -5t +10 = 0
=> t1= 2
Giải quyết vấn đề, tính toán
Tính quãng đường S(t)? 2
( ) 0
( ) 10
t
S v t dt m Tư duy, giải quyết vấn đề, tính toán
1.3 Thực trạng việc thiết kế dạy học chủ đề tích phân và ứng dụng ở một
số trường THPT
Để hiểu hơn về thiết kế dạy học chủ đề tích phân và ứng dụng, tôi tiến hành điều tra việc dạy và học chủ đề Tích phân và ứng dụng của GV và HS ở một số trường THPT trong địa bàn TP Thái Nguyên
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tôi sử dụng một số phương pháp như quan sát, phỏng vấn, phát phiếu trả lời trắc nghiệm
Nội dung điều tra:
a) Đối với GV: Để tìm hiểu thực trạng dạy học nội dung tích phân và ứng dụng lớp 12, chúng tôi tiến hành phỏng vấn, phát phiếu điều tra xin ý kiến Cụ thể:
Bảng 1.1: Nhận thức của GV về dạy học theo định hướng phát triển NL
Bảng 1.2: Kết quả điều tra việc thiết kế bài giảng môn Toán của GV
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Bảng 1.3: Nhận thức của GV về vai trò của nội dung tích phân và ứng
dụng trong chương trình học và ứng dụng thực tiễn
Bảng 1.4: Những khó khăn GV thường gặp trong quá trình dạy nội dung
tích phân và ứng dụng
lượng
Tỉ lệ (%)
Học sinh không hứng thú vì thấy nội dung khó 24/30 80 Khả năng nhận thức của HS không đồng đều 15/30 50 Khả năng mô hình hóa toán học của HS còn hạn chế 24/30 80
HS chưa nắm rõ bản chất và chưa phân biệt được các kiến
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Qua Bảng 1.4 cho thấy: Khó khăn chủ yếu mà GV gặp phải trong quá trình giảng dạy nội dung tích phân và ứng dụng là: HS không hứng thú vì thấy nội dung này khó; HS chưa nắm rõ được bản chất và chưa phân biệt được các kiến thức diện tích hình phẳng và thể tích vật thể; Khả năng mô hình hóa toán học của HS còn hạn chế
b) Đối với HS
Chúng tôi đã tìm hiểu hoạt động học tập nội dung Tích phân của HS trường THPT Ngô Quyền, TP Thái Nguyên Các số liệu thu được từ HS của lớp học, thông qua trao đổi, dự giờ, phiếu thăm dò, qua các dấu hiệu: thái độ hứng thú, nhận thức vai trò của nội dung tích phân trong chương trình, khả năng hiểu và ghi nhớ kiến thức, khả năng vận dụng vào bài toán cụ thế, tính tích cực chủ động sáng tạo của HS, khả năng mô hình hóa và nhận thấy đa số học sinh chưa thực sự hứng thú với nội dung đang học, là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc học tập nội dung tích phân không đạt kết quả tốt Cụ thể như sau:
Bảng 1.5: Khảo sát về mức độ hứng thú của HS khi học nội dung Tích phân
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
năng lực cho học sinh, song hiện nay các giáo viên vẫn còn soạn bài giảng theo lối cũ, truyền đạt tri thức cho học sinh theo hướng áp đặt khiến bài giảng kém hấp dẫn và đôi khi không phù hợp với nhiều HS
- Đối với HS: Trong quá trình học tập bộ môn Toán nói chung, tích phân nói riêng, do đặc thù là phần tương đối khó, bài giảng lại khiến HS thụ động tiếp thu tri thức khiến cho dễ nhàm chán, hiểu biết chưa sâu và nhanh quên
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Kết luận chương 1
Ở chương 1 chúng tôi tập trung trình bày một số vấn đề về dạy học theo hướng phát triển năng lực, giúp trả lời được các câu hỏi: Năng lực nên được hiểu như thế nào? Dạy học theo hướng phát triển năng lực nên được hiểu như thế nào? Dạy học theo hướng phát triển năng lực có đặc điểm chính và yêu cầu gì? Thiết kế dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh có đặc điểm chính
là gì?
Vận dụng lí luận chung dạy học theo hướng phát triển năng lực làm rõ cơ hội phát triển một số năng lực chung, cốt lõi thông qua nội dung Tích phân trong chương trình Giải tích 12 ở THPT Đề xuất các bước thiết kế bài học theo hướng phát triển năng lực để thiết kế ba giáo án mẫu cho bài tích phân theo phương pháp mới ở chương sau
Luận văn còn tìm hiểu sơ bộ về thực trạng việc thiết kế dạy học chủ đề tích phân và ứng dụng ở một số trường THPT và thấy rằng hầu hết giáo viên chưa hình dung được về cách thiết kế giáo án theo hướng phát triển năng lực người học
Những kết quả nghiên cứu đó có thể xem như cơ sở lí luận và thực tiễn để xuất các biện pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực người học, giúp tăng cường hiệu quả học tập và hứng thú cho học sinh đối với nội dung tích phân
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 2 BIỆN PHÁP SƯ PHẠM DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “TÍCH PHÂN” THEO
HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HS
Trong Chương 1, Luận văn đã trình bày một số vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn, khẳng định vai trò quan trọng của việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học trong dạy học Toán ở trường phổ thông Thực trạng dạy học chủ đề “Tích phân và ứng dụng” theo định hướng phát triển năng lực người học sẽ là cơ sở quan trọng trong việc xây dựng các biện pháp sư phạm vận dụng cho chủ đề “Tích phân” ở THPT sẽ được trình bày trong Chương này
2.1 Nguyên tắc chung
Trong mục này, Luận văn sẽ đưa ra những nguyên tắc chung cho việc xây dựng các biện pháp sư phạm trong giảng dạy chủ đề “Tích phân” ở trường THPT với chủ ý làm đậm nét hơn nữa định hướng phát triển năng lực người học Những nguyên tắc Luận văn đưa ra sẽ nhằm vào tính mục đích, tính khả thi, tính hiệu quả của việc xây dựng các biện pháp sư phạm trong giảng dạy chủ
đề “Tích phân” ở trường Trung học phổ thông
- Mục đích của xây dựng các biện pháp sư phạm trong giảng dạy chủ đề
“Tích phân” được xác định dựa trên cơ sở những mục đích chung của giáo dục Toán học, có chú ý đến những đặc điểm cụ thể của Dạy học theo định hướng phát triển năng lưc người học Mục đích của việc xây dựng các biện pháp sư phạm trong giảng dạy chủ đề “Tích phân” liên quan chặt chẽ, phụ thuộc và phục vụ cho việc thực hiện các mục đích dạy học Toán ở nhà trường Mục đích của xây dựng các biện pháp sư phạm trong giảng dạy chủ đề “Tích phân” với ý nghĩa rõ ràng, thông qua quá trình học phát triển cho học sinh những khả năng vốn có của bản thân, ý thức sẵn sàng ứng dụng Toán học vào thực tiễn, đồng thời góp phần tích cực để thực hiện tốt và toàn diện các nhiệm vụ dạy học Toán
ở trường THPT
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Tính khả thi của xây dựng và sử dụng các biện pháp sư phạm trong giảng dạy chủ đề “Tích phân” được hiểu là khả năng thực hiện được (xây dựng được, sử dụng được) các biện pháp sư phạm này trong thực tế dạy học chủ đề
“Tích phân” ở trường THPT Việt Nam hiện nay Tính khả thi của việc xây dựng và sử dụng các biện pháp sư phạm trong giảng dạy chủ đề “Tích phân” phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: Chương trình, sách giáo khoa, kế hoạch dạy học
và quỹ thời gian thực hiện, trình độ nhận thức chung của học sinh, khả năng và trình độ thực hiện của giáo viên, Một giải pháp khả thi là giải pháp thoả mãn một cách đầy đủ và hài hoà các yếu tố trên
- Tính hiệu quả của việc xây dựng các biện pháp sư phạm trong giảng dạy chủ đề “Tích phân” trong dạy học Toán được hiểu là sự phát triển năng lực toán học một cách vững chắc của học sinh, hình thành và phát triển ở họ thói quen và hứng thú vận dụng kiến thức Toán học vào các tình huống trong học tập, lao động sản xuất và trong đời sống Tính hiệu quả phụ thuộc vào các biện pháp sư phạm (làm rõ đặc trưng và cơ hội, làm rõ cách thiết kế và tổ chức bài học, làm rõ cách kiểm tra và đánh giá ) cũng như việc sử dụng các biện pháp
sư phạm này trong thực tế giảng dạy ở trường THPT
Tính mục đích, tính khả thi và tính hiệu quả của việc xây dựng và sử dụng các biện pháp sư phạm trong dạy học chủ đề “Tích phân” có liên quan và gắn bó mật thiết với nhau, phối hợp, phụ thuộc và ảnh hưởng lẫn nhau một cách biện chứng
2.2 Các biện pháp sư phạm dạy học chủ đề “Tích phân” ở THPT theo hướng phát triển năng lực HS
2.2.1 Biện pháp 1: Làm sáng tỏ các đặc trưng và cơ hội dạy học theo hướng phát triển năng lực HS với chủ đề “Tích phân”
Trong Chương trình và sách giáo khoa Toán hiện hành, nhất là trong Chương trình Đại số và Giải tích THPT, có nhiều Chủ đề có nhiều lợi thế trong