động lập pháp và giám sát của Quốc hội trong thời kỳ đổi mới, việc xác định và đổi mới mối quan hộ giữa hoạt động iập pháp và hoạt động giám sát đê Quốc hội thực sự có thực quyền trong v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT ■
VĂN THỊ THANH THỦY
MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỨC NĂNG LẬP PHÁP
VÀ CHỨC NĂNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ LỊCH s ử NHÀ N ư ớ c VÀ PIIÁP LUẬT
Mã số: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC s ĩ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYÊN ĐẢNG DUNG
DA! HOC QUỐC Gí A HA NỘ»
TRUNG TĂM THÒNG TIN THƯ VIÊN
~ V - L _ 0 / Ị R O
HÀ NỘI - 2007
Trang 2M ỤC LỤC
Trang
Chương ỉ : s ự BIẾN THIÊN TỪ CHÚC NÃNG LẬP PHÁP SANG
1.1 Vị trí, vai trò của Quốc hội trong cơ chế tổ chức quyén lực Nhà
1.2 Lập p háp - chức năng cổ điển của Quốc hội 13 1.2.1 Lập pháp là chức năng đầu tiên của Nghị viện 13 1.2.2 Chức năng lập pháp và quy trình lập pháp của Quốc hội
1.2.2.1 Chức năng lập pháp của Quốc hội Việt Nam 17
1.2.2.2.Q uy trình lập pháp của Quốc hội Việt Nam 21 1.3 G iám sát từ một chức năng bảo đảm của lập pháp trở thành chức
1.3.1 G iám sát ra đời như là một chức năng bảo đảm của lập
1.3.2 Trong mối tương quan với chức năng lập pháp, giám sát
ngày càng trở thành chức năng chính yếu của Quốc hội 32 1.3.3 Chức nàng giám sát và quy trình giám sát đối với hoạt
1.3.3.1 Chức năng giám sát của Quốc hội Việt Nam 42 1.3.3.2 Q uy trình giám sát văn bản quy phạm pháp luật 46 Chương 2: THƯC TRANG M ố i QUAN HỆ GIỮẠ CHỨC, NĂNG
LẬP PHÁP VÀ CHỨC NĂNG GIÁM £ẰT CỦA Q u ố c HỘI
TRO N G C ơ CH Ê MỚI (TỪ N Ả M 1986 ĐEN NAY) 51 2.1 Thực trạng mối quan hộ giữa chức năng lập pháp và chức năng
2.1.2 Việc thay đổi nhận thức cũ: Giám sát là chức năng đi theo
2.1.3 Yêu cầu đặt ra đối với chức năng lập pháp và giám sát của
Trang 32.2 Mối quan hệ giữa chức năng lập pháp và chức năng giám sát của
Quốc hội trong cơ chê mới (Từ năm 1986 đến nay)
2.2.1 M ối quan hệ giữa chức nãng lập pháp và chức năng giám
sát của Q uốc hội k‘hoá VIII (1986-1992)
2.2.2 Mối quan hệ giữa chức năng lập pháp và chức nãng giám
sát của Q uốc hội khoá IX (1992-1997)
2.2.3 Mối quan hệ giữa chức năng lập pháp và chức năng giám
sát của Q uốc hội khoá X (1997-2002)
2.2.4 Mối quan hệ giữa chức năng lập pháp và giám sát của
Q uốc hội khòá XI (2003- 2007)
Chương3: GIẢI PH Á P TẢ N G CUỒNG HIỆU QUẢ M ố i QUAN HỆ
GIỮA CHỨC NÂNG LẬP PHÁP VÀ CHỨC NĂNG GIÁM SÁT
CỦ A Q U Ố C HỘI
3.1 N hận thức rõ vai trò của chức năng giám sát: Giám sát được nêu
lên như là m ột chức năng cơ bản của Quốc hội
3.2 Tiếp tục đổi mới mối quan hệ giữa chức năng lập pháp và chức
năng giám sát của Q uốc hội - yêu cầu cấp bách hiện nay
3.3 G iải pháp tăng cường hiệu quả mối quan hệ giữa chức năng lập
pháp và chức năng giám sát của Quốc hội
KẾT LUẬN
TÀ I LIỆU TH AM KHÁO
55 55 59 63 69
78 78 80
84 97 99
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Q uốc hội nước ta đã có hơn 60 năm hình thành và phát triển với trọn vẹn
11 khoá Q uốc hội và nay đang bước vào khoá thứ 12 Q uốc hội khoá XII hoạt động trong m ột bối cảnh hết sức đặc biệt: Khi th ế giới đang có sự chuyển đổi rõ rệt, xu hướng toàn cầu hoá có những tác động, những hệ quả không nhỏ đối với mỗi quốc gia, dân tộc Trong nước, với thắng lợi rực rỡ của Đại hội Đ ảng toàn quốc ỉần thứ X đã để ra những chủ trương, đường lối cụ thể cho việc đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, cải cách bộ máy nhà nước để đáp ứng yêu cầu của việc xây dựng và hoàn thiện N hà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của đân, do dân và vì dân Văn kiện đại hội Đ ảng X đã chỉ rõ: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ n g h ĩa H o àn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật X ây dựng, hoàn thiện cơ ch ế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp phán trong các hoạt động của các cơ quan công q u y ề n
“Đ ổi m ới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp và giám sát tối cao của
Q uốc hội với toàn bộ hoạt động của Nhà nước” , là một nhiệm vụ, một thách thức m à Q uốc hội đã và đang thực hiện với những bước tiến rõ rệt Tuy nhiên trên thực tế, m ặc dù hoạt động iập pháp và hoạt động giám sát đ ã không ngừng được đổi mới, số lượng các văn bản luật do Quốc hội ban hành đã nhảy vọt về sô' lượng và có sự cải thiện về chất lượng, song điều đó hoàn toàn còn chưa đủ, chưa đáp ứng được sự biến chuyển như vũ bão của đời sống kinh tế - xã hội của đất nước và sự m ong đợi của nhân dân cả nước Hiệu lực, hiệu quả của các văn bản Luật do Q uốc hội ban hành còn chưa cao, hoạt động giám sát của Q uốc hội còn “ lúng túng” , chưa thực hiện được hết những nhiệm vụ được Hiến pháp V'v' pháp luật trao cho Nhiều vấn đề đã được cử tri nêu lên gay gắt q u a nhiều kỳ họp vẫn chưa được giải quyết thoả đáng Đặc biệt, mối quan hệ hữu cơ giữa hai chức năng cơ bản của Quốc hội là chức năng lập pháp và chức năng giám sát chưa được thực hiện tốt Vai trò tất yếu và hết sức cơ bản của giám sát trong giai đoạn hiện nay chưa được nhìn nhận đúng mức Do vậy, việc tìm hiểu và làm rõ hoạt
1
Trang 5động lập pháp và giám sát của Quốc hội trong thời kỳ đổi mới, việc xác định và đổi mới mối quan hộ giữa hoạt động iập pháp và hoạt động giám sát đê Quốc hội thực sự có thực quyền trong việc thực hiện quyén lực của nhân dân và trong mối quan hệ vói các thiết chế quyền lực khác là một trong những mục tiêu cơ bản hiện nay khi nghiên cứu, tìm hiểu và hoàn thiện thiết ch ế Q uốc hội Vì thế, việc nghiên cứu một cách cơ bản, có biện chứng mối quan hệ này của Quốc hội
là thực sự cẩn thiết, có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn.
Với lý do đó, tôi quyết định chọn vấn đề: “Mới' quan hệ giữa chức năng
lập pháp và chức năng giám sát của Quốc hội” làm đề tài luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật của m ình.
2 T ình hình nghiên cứu
Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội đã và sẽ là đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình nghiên cứu, không chỉ ở Việt Nam, m à còn ở nhiều nước trên th ế giới, khi Quốc hội còn là một thành tố quan trọng trong cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước Tuy nhiên, cho dù đã là đối tượng của nhiều công trình nghiên cứu, nhưng trong đó lập pháp và giám sát chí là đối tượng nghiên cứu trong phạm vi tổng thể các nhiệm vụ, chức năng của Quốc hội hoặc quá độc lập riêng rẽ chứ chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên biệt, khai thác sâu
về vấn đề này.
Đ ã có một số đề tài nghiên cứu về chức năng lập pháp và chức năng giám sát của Q uốc hội song mới chỉ dime; lại ở việc phân tích, đánh giá riêng rẽ từng chức năng, chứ chưa đưa ra và phân tích mối quan hệ giữa chúng, như cuôn Đổi mới và hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội do GS, TS Trần Ngọc Đường chủ biên, hay cuốn Về quyền giám sát tối cao của Quốc hội của TS Nguyễn N gọc K ỳ C ác cuốn sách, đề tài trên mới dừng lại ở việc nghiên cứu, tìm hiểu các chức năng theo pháp luật thực định, có tính khuôn mẫu khi tìm hiểu
về chức năng lập pháp và chức năng giám sát theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Do vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu về mối quan hộ giữa chức năng lập pháp và chức năng giám sát của Quốc hội nhằm đặt chức năng giám sát đúng vị
2
Trang 6trí phải có từ đó giải quyết mối quan hệ hữu cơ giữa chức nãng lập pháp và chức nãng giám sát của Quốc hội có hiệu quả nhất, tạo hiệu lực, hiệu q u ả chung cho việc thực hiện các chức năng của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là hết sức cần thiết.
3 Phạm vi nghiên cứu
Chức năng lập pháp, giám sát của Quốc hội cũng như mối quan hệ giữa chúng là một vấn đề rộng lớn Trong khuôn khổ có giới hạn của luận văn thạc sĩ, luận vãn chỉ tìm hiểu và làm sáng tỏ mối quan hệ giữa chức năng lập pháp và chức năng giám sát của Quốc hội, nhu cầu cần có chức năng lập pháp và chức năng giám sát của Quốc hội trong cơ chế tổ chức quyển lực nhà nước Sự biến thiên từ chức năng lập pháp sang chức nàn? giám sát Làm rõ yêu cầu cần thay đổi nhận thức cũ cho rằng chức năng lập pháp chỉ đi theo chức năng giám sát và
đó chỉ là một chức năng thứ yếu Trình bày sự đổi mới từng bước mối quan hệ giữa chức năng lập pháp và giám sát của Quốc hội, đưa ra luận chứng các giải pháp hoàn thiện mối quan hệ giữa các chức năng qua việc xác định đúng vị trí pháp lý và nhu cầu thực tiễn đạt ra đối với từng chức năng và đối với mối quan
hệ này.
Thời gian nghiên cứu của đề tài được giới hạn từ những năm đổi mới đến nay, trong đó chủ yếu từ năm 1992, khi Hiến pháp 1992 - Hiến pháp của thời kv đổi mới được ban hành.
4 M ục đích và nhiệm vụ của luận văn
- M ục đích của luận văn là tìm ra tính tất yếu, khách quan của chức năng giám sát trong mối quan hệ giữa chức năng lập pháp và giám sát trong hoạt động của cơ quan lập pháp - Quốc hội Từ đó, nhìn nhận lại bản chất của hành
vi lập pháp phải là hành vi giám sát hành pháp chứ không chí giản đơn ờ chức năng giám sát việc thực hiện các văn bản pháp luật do Quốc hội ban hành như quy định trong Luật hoạt động giám sát của Quốc hội.
- Đ ể thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
+Tìm hiểu và làm sáng tỏ chức năng lập pháp, chức năng giám sát củ"
Q uốc hội Sự biến thiên từ chức năng ỉập pháp sang chức năng giám sát và vị trí
3
Trang 7mới cho chức năng giám sát phải thành chức năng chính yếu nhấl của Quốc hội.
+ Phân tích, đánh giá khái quát hoạt động lập pháp, giám sát của Quốc
hội Việt Nam và mối quan hệ giữa chúng trong cơ chế mới
+ Đề xuất phương hướng và giải pháp tăng cường hiệu quả mối quan hệ
giữa chức năng lập pháp và chức năng giám sát của Quốc hội theo hướng từng bước chuyên nghiệp hoá và giám sát trở thành chức năng hàng đầu của Quốc hội, góp phần nâng cao chất lượng lập pháp
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý iuận của chủ nghĩa Mác - Lê nin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng Cộrv sản Việt Nam về đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội nói chung và hoạt động lập pháp, giám sát của Quốc hội nói riêng
Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong luận văn là phương pháp luật học, lịch sử và lôgic, phân tích và tổng hợp Bên cạnh đó phương pháp thống kê,
đối chiếu, so sánh cũng được chú trọng để làm rõ quá trình phát triển của vấn
đề được nghiên cúm.
6 Điểm mói của luận văn
Luận văn nghiên cứu một cách tương đối toàn diện, có hệ thống về chức năng lập pháp, chức năng giám sát của Quốc hội qua cách tiếp cận mới: Đặt chức năng giám sát của Quốc hội trong mối tương quan với chức năng lập phái,,
để đưa ra sự nhìn nhận chính xác về địa vị pháp lý của chức năng giám sát của Quốc hội Vì vậy, luận văn có những đóng góp mới khoa học như sau:
- Luận giải về vị trí của lập pháp, giám sát và vai írò của chức năng giám
sát trong mối quan hệ với chức năng lập pháp trong cơ chế mới
- Trình bày yêu cầu đổi mới mối quan hệ giữa chức năng lập pháp và chức
năng giám sát của Quốc hội trong thời kỳ đổi mới
7 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận văn
Từ góc độ Luật nhà nước, luận văn mong muốn đóng góp m ột phần nhỏ
4
Trang 8bé vào việc tổng kết mối quan hệ giữa chức năng lập pháp và chức năng giám sát tối cao của Quốc hội, góp phần minh chứng sự biến thiên từ chức năng lập pháp sang chức năng giám sát - một chức năng cơ bản của tất cả các thiết che quyển lực nhà nước nói chung, đặc biệt là đối với Quốc hội Việt Nam: không những là cơ quan đại biêu cao nhất của nhân dân mà còn là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, cơ quan thực hiện chức năng lập hiến và lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước Do vậy, hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam cần thiết phải được đề cao, nhất là trong mối tương quan giữa chức năng lập pháp và chức năng giám sát, chỉ có qua hoạt động giám sát, qua
cơ chế phản biện và đồng thuận của hoạt động giám sát để thực hiện tốt chức năng lập pháp Khi đó, Quốc hội mới thực sự là Quốc hội lập pháp, không đơn thuần là chỉ thông qua luật do cơ quan hành pháp đã đề ra
8 Bô cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khao, luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chương ỉ: Sự biến thiôn từ chức năng lập pháp sang chức năng giám sát
cua Quốc hội
Chương 2: Thực trạng mối quan hệ giữa chức năng lập pháp và chức năng
giám sát của Quốc hội trong cơ chế mới (từ năm 1986 đến nay)
Chương 3: Giải pháp tăng cường hiệu quả mối quan hệ giữa chức năng
lập pháp và chức năng giám sát của Quốc hội
5
Trang 9sự bùng nổ của các cuộc cách mạng tư sản, vấn đề hạn chế quyền lực vô hạn của nhà Vua được giải quyết một cách íriệt để và bài bản hơn Tổ chức bộ máy nhà nước trong giai đoạn này bị ràng buộc bởi pháp luật Việc thành lập bộ máy nhà nước và những người đứng đổu bộ máy nhà nước phải tuân theo nguyên tắc bầu
cử Càng ngày, giới hạn quyền lực nhà nước càng trở nên gắn bó mật thiết với dân chủ Theo đó, quan niệm về nguồn gốc nhà nước được bắt nguồn từ nhân dân, từ những công dân - những người được sinh ra trên đất nước sở tại được thừa nhận và bảo hộ bởi pháp luật, được thụ hưởng các quyền lợi, đặc biệt là quyển chính trị, quyển được tham gia vào việc giải quyết các công việc của nhà nước Cơ quan của những người đại diện được nhân dân trực tiếp bầu ra, tuỳ theo từng nước có lên gọi khác nhau nhưng được gọi chung là Nghị viện
Song song với việc tiến hành các cuộc cách mạng tư sản để xây dựng nhà nước dân chủ và đảm bảo cho nhà nước này hình thành, phát triển trên thực tế, lịch sử các học thuyết chính trị trên thế giới đã ghi nhận đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ các tư tưởng, các luận thuyết về tổ chức quyền lực nhà nước Cho
dù có nhiều quan niệm khác nhau về cách thức tổ chức quyền lực nhà nước, nhưng tựu chung lại, có hai học thuyết được áp dụng phổ biến nhất là thuyết phân chia quyền lực với đại diện tiêu biểu là những nhà tư tưởng lớn của nhân
Trang 10loại là J.Locke (1632-1704) và Montesquieu! 1689-1755) và thuyết thống nhất quyền lực của J.J.Roussau ( 1712-1778).
Locke cho rằng “quyền lập pháp là quyén lực cao nhất trong nhà nước” [26, tr.88- 89] Theo học thuyết phân chia quyền lực thì điều cơ bản nhất là phải
tổ chức quyền lực nhà nước sao cho bảo đảm được các quyền tự do của con người khỏi sự chuyên chế, độc tài Muốn vậy, cần thiết phải phân chia quyền lực thành quyền lập pháp, quyển hành pháp và quyền tư pháp Trong đó, mỗi nhánh quyền lực còn phải được trao cho những thẩm quyền riêng biệt, để chúng có thể thực hiện việc kiềm chế và đối trọng lẫn nhau, sao cho “quyển lực này có thể
n g ă n c h ặ n q u y ề n lực k h á c ” [32, tr 1 0 0 ,1 01,105,106].
Cũng theo dòng tư tưởng phân quyển, Montesquieu đã triệt đê hơn khi ông chỉ ra phải phùn định rõ các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Quyền lập pháp về bán chất là sự thể hiện ý chí chung, dân chúng thực hiện quyên lập pháp của mình qua các đại biểu Dân chúng mỗi địa phương nên tự chọn lấy đại biểu của mình là người đủ năng lực iàm việc Cơ quan lập pháp nên chí thực hiện chức năng làm ra luật và xem xét người ta thực hiện luật như thế nào (giống như ngày nay chúng ta quan niệm về chức năng lập pháp và giám sát) Dùng quyền lực để hạn chế quyền lực - cơ chế kìm chế và đối trọng chính là công cụ
để cân bằng các nhánh quyền lực, thông qua việc giám sát gắt gao giữa các cơ quan để tránh sự lạm quyền
Khác với tư tường của học thuyết phân chia quyền lực, J.J.Roussau - chính trị gia người Pháp đã khẳng định tính bất phân của chủ quyền nhân dân, không thừa nhận thuyết phân chia quyền lực Để tránh tình trạng chuyên quyền
và vô pháp luật, chỉ cần giới hạn thẩm quyền của các cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp, áp đặt sự phục tùng của chính quyền hành pháp với chủ quyền nhân dân Chủ quyền nhân dân do đó trở thành sự bảo đảm cho tự do chính trị,
từ đó ông đặt nguyên tắc phân chia quyền lực đối lập với nguyên tắc giới hạn thẩm quyền của các cơ quan nhà nước
Để ngăn chặn sự tiếm quyền từ giới quan chức, J.J.Roussau đưa ra biện pháp triệu tập những cuộc đại hội nhân dân thường kỳ để bàn về vấn đề tín
Trang 11nhiệm Chính phủ và các thành viên Chính phủ Những cuộc đại hội như vậy có mục đích: “bảo vệ khế ước xã hội” [32].
Lấy hai học thuyết thống nhất quyền lực và phân chia quyền lực làm cơ
sở nền tảng, các quốc gia trên thế giới đã có sự lựa chọn hoặc tiếp thu những yếu
tố hợp lý đê xây dựng các mô hình chính thể phù hợp cho mình, với dấu hiệu đặc trưng để phân biệt ỉà mối tương quan giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp
Trên cơ sớ các luận thuyết về tổ chức quyền lực nhà nước, hiện nay, trcn thế giới, các hình thức chính thể được xây dựng phổ biến là: Chính thể đại nghị, chính thể cộng hoà tổng thống và chính thể hỗn hợp Trong đó, Nghị viện/ Quốc hội là một định chế không thể thiếu trong cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước của tất cả các nước trên thế giới Khi mới xuất hiện, Nghị viện thực sự có líu thế hơn hẳn so với các cơ quan nhà nước khác Mặc dù phải chia sẻ quyên lực nhà nước với giai cấp phong kiến nhưng Nghị viện - cơ quan quyền lực nhà nước do nhân dân trực tiếp báu ra vẫn có một ưu thế nhất định so với các cơ quan nhà nước khác
Sau khi thành lập các nhà nước tư sản, hoạt động của xã hội có Nghị viện
đã trở thành một chế độ đại nghị Đặc điểm cơ bản của chế độ đại nghị là chế độ
mà ở đó nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân chia quyền lực (quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp) như luận thuyết của Locke (1632-1704) và Montesquieu (1689-1755) Trong đó, quyền lực lập pháp của Nghị viện có ưu thế hơn hẳn và những thành viên của Nghị viện do nhân dân trực tiếp bầu ra có nhiều đặc quyén, đặc lợi nhưng không chịu trách nhiệm trước cử tri Trên lý thuyết, việc phân chia ra ba ngành: hành pháp, lập pháp và lư pháp có quyền lực ngang nhau, kìm chế và đối trọng nhau nhưng trong thực tế, ngành lập pháp là ngành đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân hơn các ngành còn lại
Từ thời đại của nền chuyên chế độc tài chuyển sang một nền dân chủ như hiện nay, nhà nước không tổ chức và quản lý xã hội theo mệnh lệnh, chỉ thị mang tính quan liêu buộc phải tuân thủ, mà phải theo một quy định rõ ràng được đ ạ t ra
từ trước Những quy định này không chỉ cần thể hiện ý chí của giai cấp cầm
Trang 12quyền mà còn thể hiện sự đồng thuận của nhân dân Đó là hoạt động lập pẵiáp của nhà nước Hoạt động này trong chế độ chính trị quân chủ chuyên chế thể hiện quyền lực chỉ của riêng nhà vua, nhưng khi chuyển sang chế độ dân chủ kể
cả dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa, hoạt động này được giao hẳn cho một cơ quan do nhân dân trực tiếp bầu ra hoặc đảm nhiệm Những cơ quan đó được gọi là Nghị viện hoặc Quốc hội như ngày nay
Nghị viện/ Quốc hội là thiết chế quan trọng trong cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước của hầu hết các nước hiện nay Thông qua việc nghiên cứu mô hình của các nhà nước tư sản, Lênin đã khẳng định sự tồn tại tất yếu của chế độ nghị viện do nhàn dân trực tiếp bầu ra, nhưng ở đó, bộ máy nhà nước không còn phân quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; và ở đó các nghị viện không còn những đặc quyển, đặc lợi nữa và phải chịu trách nhiệm trước cử tri bầu ra mình; một khi cử tri không tín nhiệm nữa thì sẽ bị cử tri bãi miễn Như vậy, nghị viện vẫn còn, nhưng không còn chế độ nghị viện [18, tr.53]
So với các cơ quan khác trong toàn bộ hệ thống các cơ quan nhà nước cua từng quốc gia, Nghị viện có những đặc điểm rất đặc thù Trước hết, trong bộ máy nhà nước của các chế độ tư bản và đang phát triển (hành lư bản, Nghị viện
là cơ quan duy nhất đại diện cho nhân dân với đủ các tầng lớp dân cư lập thành bởi phương pháp bầu cử Vì vậy, khác với các cơ quan nhà nước khác, Nghị viện
là cơ quan duy nhất có thành phần không thống nhất, chứa đựng trong mình các quan điểm và quyền lợi rất khác nhau, thậm chí còn đối lập nhau Nghị viện trở thành một thiết chế không thể thiếu được trong chế độ dân chủ và hoạt động, tổ chức của nó trở thành tiêu chí của dân chủ Thông qua Nghị viện, nhân dân thực hiện quyền lực của mình, kiểm tra các hoạt động của nhà nước, từ đó nhân dân
có thể tác động, làm thay đổi để cho nhà nước thực sự thuộc về nhân dân
Các nước dân chủ hoặc quân chủ lập hiến hiện nay đẻu tổ chức ra Quốc hội của mình Sự hiện diện của Quốc hội có tính chất khẳng định cho nền dân chủ của chế độ chính trị của mỗi quốc gia Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước trung ương- một trong ba cành quyền lực nhà nước, vị trí pháp lý của Nghị viện được quy định bằng các quy phạm chứa đựng trong văn bản có hiệu lực
Trang 13pháp lý tối cao - Hiến pháp Hiến pháp thường dành một chương riêng nói vé quyền lực của Nghị viện, hoặc dành một đạo luật riêng có hiệu lực như một phần của ngành luật hiến pháp để quy định việc tổ chức, thẩm quyền và cách thức hoạt động của Nghị viện Ví dụ như luật về quy chế Nghị viện Anh năm
1649, luật về Nghị viện Phần Lan 1928
ở nước ta, từ bản Hiến pháp năm 1946 đến nay, vị trí pháp lý của Quốc hội Việt Nam đều được quy định cụ thể trong các bản Hiến pháp Qua bốn bản Hiến pháp lịch sử (1946, 1959, 1980, 1992), vị trí pháp lý của Quốc hội càng thể hiện rõ hơn quan điểm, tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta là: ngày càng nâng cao hơn vị trí tối cao của Quốc hội trong hệ thống các cơ quan nhà nước Quốc hội là một trong những hình thức quan trọng nhất thể hiện quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Trong bản Hiến pháp năm 1946, Nghị viện nhân dân của Việt Nam mang nhiều đặc điểm của Nghị viện tư sản Điều dễ nhận thấy trong bản Hiến pháp này là dấu hiệu cua sự phân chia quyền lực nhà nước, của hệ thống kiềm chế đối trọng được áp dụng trong việc tổ chức quyền lực nhà nước Nghị viện không được quy định trong Hiến pháp là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao như các bản Hiến pháp sau này
Trong bản Hiến pháp năm 1959, vị trí pháp lý của cơ quan đại diện quyền lực nhà nước do nhân dân toàn quốc bầu ra có một số thay đổi rất đáng kể Bắt đầu từ bản Hiến pháp này, Nghị viện của Hiến pháp năm 1946 được đổi tên gọi Quốc hội Nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa theo các quy định của Hiến pháp năm 1959 được thể hiện rõ nét hơn Vị trí, hình thái của Ọuốc hội bắt đầu thể hiện nhiều nét là cơ quan đại diện quyền lực do nhân dân Irực tiếp bầu ra Lần đầu tiên trong Hiến pháp quy định Quốc hội là cơ quan quyén lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (Điều 43)
Khác với Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 và các bản hiến pháp sau này không quy định một sự giới hạn quyền lực nào đối với Quốc hội Việc
bỏ những quy định mang tính chất kiềm chế cùa người đứng đầu Nhà nước đối với hoạt động của Quốc hội càng cho phép nâng cao vị trí của Quốc hội trong hệ
Trang 14thống các cơ quan nhà nước Việt Nam.
Vị trí pháp lý của Quốc hội theo Hiến pháp năm 1980 về cơ bản phát huy những quy định về vị trí của Quốc hội trong Hiến pháp năm 1959 và được bổ sung nhiều quy định khác, góp phần làm rõ hơn nữa vị trí, hình thái của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất do nhân dân trực tiếp bầu ra
So với bản Hiến pháp năm 1980, vị trí pháp lý của Quốc hội theo Hiến pháp 1992 không thay đổi Theo quy định của Hiến pháp hiện hành - Hiến pháp
1992, Quốc hội Việt Nam có các chức năng chính như sau:
“Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp
Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động 'ủa Nhà nước” (Điều 83 Hiến pháp 1992)
Theo như quy định trên có thể thấy Quốc hội có ba chức năng cơ bản: Lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước Quốc hội
có địa vị pháp lý tối cao, thực hiện chủ quyền duy nhất thuộc về nhân dân sở dĩ Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất vì Quốc hội là cơ quan duy nhất do nhân dân toàn quốc bầu ra một cách trực tiếp Theo đó: tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực của mình bằng
cơ quan đại diện do nhân dân toàn quốc bầu ra Việc Hiến pháp khẳng định vị trí vai trò của Quốc hội, trong đó có chức năng lập hiến và lập pháp đã thể hiện
rõ bản chất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân theo quan điểm tư tưởng của chủ nghĩa Mác- Lênin về một nhà nước kiểu mới, khác với các hình thức Nhà nước trước đây Có thổ nói, đây là đặc điểm cơ bản, nói lên sự khác nhau giữa mô hình tổ chức Nhà nước ta - Nhà nước xã hội chủ nghĩa với các mô hình tổ chức nhà nước của chế độ tư bản chủ nghĩa
Trang 15Theo tinh thần của bản Hiến pháp năm ỉ 992, sửa đổi, bổ sung năm 2001, Quốc hội Việt Nam trong thời gian tới, sẽ tập trung hơn nữa vào chức năng làm luật đê khắc phục tình trạng vừa thiếu luật pháp, vừa có nhiều mâu thuẫn trong
hệ thống pháp luật Việt Nam Trong hoạt động của mình, Quốc hội không những phải làm tốt chức năng lập pháp mà còn cần phải nâng cao hơn nữa việc thực hiện chức năng giám sát đối với hoạt động của bộ máy nhà nước
Tuy nhiên, về bản chất của chức năng lập pháp cần được hiểu theo một nghĩa rộng, căn cứ vào tính chất hoạt động cơ bản của cơ quan thực hiện quyền lập pháp Theo đó, chức năng giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước cũng là một phần của chức năng lập pháp, là những yếu tố để xác định Quốc hội là cơ quan lập pháp Sự phân định các chức năng không thể là cơ
sở để tách hoạt động của Quốc hội ra thành các hoạt động độc lập, mà giữa chúng luôn có sự đan xen lần nhau, bổ trợ cho nhau và đê phục vụ nhau với sự thống nhất duy nhất là nhằm bảo đảm cho hoạt động lập pháp của Quốc hội đạt hiệu quả Tất cả các chức năng trên đểu được thực hiện trên cơ sở Hiến pháp, các đạo luật, các Nghị quyết do Quốc hội ban hành (nếu cụm từ “lập pháp” được hiểu theo nghĩa rộng [50, tr.27] Và tựu chung lại, hoạt động giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, cũng nhằm mục đích bảo đảm hiệu lực và hiệu quả của hoạt động lập pháp, là cơ sở để ban hành những quy phạm pháp luật điều chỉnh chính xác và kịp thời mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Tóm lại, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan đại diện của nhân dân, là một thiết chế không thể thiếu của một nền dân chủ, và là một thành
tố cơ bản để xây dựng nhà nước pháp quyền Quốc hội nước ta do nhân dân trực tiếp bầu ra đã chú trọng thực hiện các chức năng cơ bản của mình là lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước Trên cơ sở bốn bản Hiến pháp đã được ban hành, các chức năng trên có thể được thực hiện trên những mức độ khác biệt do điều kiện của từng giai đoạn cách mạng khác nhau, nhưng Quốc hội luôn thể hiện được tính chất là cơ quan đại diện của nhân dàn,
cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, xứng đáng với sự kỳ vọng của nhân dân
mà mình là người đại diện
Trang 161.2 L ập pháp - chức năng cổ điển của Quốc hội
1.2.1 Lập pháp là chức năng đầu tiên của Nghị viện
Nghị viện luôn là biểu tượng cho nền dân chủ của quốc gia và luôn thực hiện chức năng cơ bản là chức năng lập pháp Lập pháp là quyền hiến định được Hiến pháp hầu hết các quốc gia dân chủ trao cho Nghị viện Chức năng của Nghị viện gắn liền với nhiệm vụ lập pháp, tức là thông qua những dự án hay còn gọi là làm luật Làm luật là một chức năng của Nghị viện Vì vậy, nhiều thuật ngữ “lập pháp” với “Nghị viện” được dùng thay cho nhau Nói đến Nghị viện là nói đến lập pháp, ngược lại nói đến lập pháp tức là nói đến Nghị viện Nghị viện
là cơ quan lập pháp Trong nhiều trường hợp, Nghị viện còn làm cả chức năng lập hiến Hiến pháp, trước hết cũng là một đạo luật, luật cơ bản điều chỉnh các vấn đề quan trọng nhất của nhà nước Một số ít nước có Quốc hội lập hiến khác Quốc hội lập pháp, để tỏ rõ tính ưu thế của luật Hiến pháp
Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về quyền lập pháp, v ề ý nghĩa thuần tuý, có quan điểm cho rằng quyền lập pháp là quyền ban hành ra các đạo luật và Quốc hội có chức năng duy nhất là thảo luận và ban hành luật Bên cạnh đó lại có nhiều ý kiến cho rằng ngoài quyền lập pháp, Quốc hội có một số quyền không mang tính lập pháp mà mang tính hành pháp và tư pháp Ví
dụ như quyền của Quốc hội trong việc thành lập Chính phủ và bãi nhiệm các thành viên của Chính phủ Tuy nhiên, cả hai cách hiểu như trên về chức năng lập pháp của Quốc hội hoặc quá giản đơn, hoặc quá hẹp, bởi quyền lập pháp là một trong ba quyền: ỉập pháp, hành pháp và tư pháp, tạo nên hoạt động của một nhà nước dân chủ Điều này đã được nhiều nhà nước phát triển và dân chủ khác thừa nhận và trao cho cơ quan đại diện của nhân dân là Quốc hội/ Nghị viện thực hiện Do đó, quyền lập pháp “không chỉ giản đơn được hiểu là quyền ban hành các đạo luật, mà quyền này phải được hiểu rộng ra, bao gồm tất cả các hoạt động của Quốc hội, cả quyền thành lập ra các cơ quan nhà nước khác và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước này” [18, tr.196]
Cùng với vị thế ngày càng lớn mạnh của Nghị viện, ngoài quyền làm luật còn mở rộng phạm vi sang các lĩnh vực khác như: giám sát, thành lập chính phủ-
Trang 17hành pháp, bỏ phiếu tín nhiệm hành pháp, thậm chí còn là xét xử cả các quan chức cao cấp Tất cả những hành vi nói trên đều được hiểu trong phạm vi của quyển lập pháp- quyên của cơ quan được thành lập từ sự uỷ thác của cử tri, quyền này nghiêng ngửa và đối trọng với các quyền hành pháp và tư pháp.
Sở dĩ có thể nói Lập pháp là chức năng cổ điển của Quốc hội bởi xuất phát từ nguồn gốc lịch sử và quá trình phát triển của chức năng lập pháp Quyền lập pháp của Nghị viện/ Quốc hội thuở ban đầu được dùng để chỉ các hành vi thảo iuận và ban hành các văn bản chứa đựng các quy phạm pháp luật Quyền này còn được gọi là quyền làm luật Sự phát triển Nghị viện được trải qua cùng với các giai đoạn hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản Lịch sử ra đời và phát triển của thiết chế Nghị viện tại nước Anh - nơi được coi là quê hương của thiết chế Nghị viện đã chứng minh nguồn gốc ra đời chức năng lập pháp của Quốc hội Theo tài liệu lịch sử, Nghị viện Anh ra đời trước hết để giám sát nhà Vua, là sự mặc cả giữa nhà Vua với Nghị viện, nhằm thu tăng thuế, ngân sách cho hoàng gia Đổi lại, nhà Vua phải thực hiện một sô' điều kiện, quy định do Nghị viện đặt ra Đó là bước khởi đầu của hoạt động lập pháp của Nghị viện
Có thể nói, việc đứng ra thu tăng thuế cho ngân sách của Hoàng gia là những quy định có tính chất pháp luật, thì trong giai đoạn đầu tiên này, việc làm luật đã trở thành một chức năng duy nhất cơ bản của Nghị viện Anh Cùng với
sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, vai trò của Nghị viện Anh được nâng cao thì việc làm luật và thông qua những dự án luật trở thành chức năng chính yếu của Nghị viện Với chức năng này, Nghị viện Anh đã trở thành khuôn mẫu cho việc xác định chức năng, thẩm quyền của hầu hết các Nghị viện/ Quốc hội các nước
ra đời sau đó Như vậy, có thể thấy, chức năng lập pháp chính là chức năng cổ điển của Nghị viện/ Quốc hội, nếu xét theo suốt chiều dài lịch sử hoạt dô% và phát triển của Nghị viện/ Quốc hội Cho đến nay ở hầu hết các nước trên thế giới, Nghị viện đã được tổ chức với các tên gọi khác nhau và hoạt động theo những mỏ hình không đồng nhau Lịch sử ghi nhận Nghị viện đã trải qua bốn giai đoạn ứng với các giai đoạn hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản Trong mỗi giai đoạn, Quốc hội có những vị trí và vai trò cũng như các chức năng không giống nhau Cho dù có sự khác biệt về chính thể, hay mô hình Quốc
Trang 18hội, theo tài liệu thống kê trên thế giới có hơn 150 nước có Nghị viện với chức năng cơ bản là lập pháp gần như tương tự với chức năng truyền thống của Nghị viện Anh quốc khi chúng mới ra đời.
Quốc hội của các nước theo chính thể Tổng thống cộng hoà - đại diện là Quốc hội Mỹ lại phân định rạch ròi chức năng của Quốc hội Khác với mô hinh Quốc hội theo chính thể đại nghị như Quốc hội ở Anh, việc tổ chức Nhà nước của Hợp chúng Quốc Hoa Kỳ tuân theo nguyên tắc phân quyển: Lập pháp, hành pháp và tư pháp Quốc hội Mỹ là chủ thể của một irong ba cành quyền lực nói trên Trong Hiến pháp Mỹ, tại Điều 1, quy định về Quốc hội gồm 10 điều khoản
“Mọi quyền lập pháp do bản Hiến pháp này chấp thuận sẽ trao cho một Quốc hội của Hợp chúng quốc Mỹ châu, gồm có một Thượng viện và một Hạ viện”
Theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội Mỹ có thẩm quyền ban hành bất
kỳ một đạo luật nào, nếu như việc trình và thảo luận theo đúng quy trình làm luật được pháp luật Mỹ quy định Khác với quy định của nhiều nước theo chính thể đại nghị, sáng quyén lập pháp được Hiến pháp quy định cho các nghị sỹ, Tổng thống và những nhà hành pháp khác không được quyển trình dự án luật Tuy nhiên, thông qua các thông điệp hàng năm mà Tổng thống Mỹ đọc trước Quốc hội cũng chứa đựng các chương trình lập pháp của Quốc hội Mỹ Như vậy, ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Mỹ, chức năng cơ bản đầu tiên của Quốc hội: chức năng lập pháp - đã trở thành nguyên tắc hiến định Điểu này cũng dễ hiểu bởi nước Mỹ vừa kế thừa mô hình tổ chức quyền lực của Anh quốc vừa áp dụng nguyên tắc phân quyền với cơ chế kìm chế đối trọng triệt để, do vậy các nhà sáng lập ra Hiến pháp Mỹ đã trao quyền lập pháp cho Quốc hội, coi đó như là quyền năng đương nhiên thuộc về Nghị viện Mỹ
Dưới chế độ dân chủ tư bản, hầu hết các đạo luật được thông qua phải có
sự xem xét, phê chuẩn của Nghị viện, v ề mặt nguycn tắc, nghị viện tư sản có thể thông qua bất cứ một đạo luật nào, nếu cho rằng việc điều chỉnh mối quan
hệ xã hội đó bằng luật là cần thiết Đây là quan điểm của thời kỳ chủ nghĩa tư
Trang 19bàn tự do cạnh tranh Quan điểm này cho đến nay vẫn được thừa nhận ở Hiến pháp Anh (Hiến pháp không thành văn) và các nước Hy Lạp, Nhật Bán Nghị viện của các nước thường thồng qua những đạo luật quy định:
Các quyền công dân và những đảm báo cho các quyển công dânđược thực hiện; những nghĩa vụ của công dân phải thi hành để đảmbảo sự tồn tại của quốc gia
Vấn đề công nhận quốc tịch, chế độ hôn nhân, thừa kế;
Các hành vi phạm tội, các hình phạt kèm theo, thủ tục hình sự, dân
Sự tự trị của các địa phương;
Chế độ lao động, chế độ kinh doanh
Sự hạn chế quyền lập pháp của các nước này chỉ có ở những trường hợp nguyên thủ quốc gia quyết định dự án luật ra trưng cầu dân ý bằng việc bỏ phiếu, hoặc trong trường hợp đạo luật bị Toà án hiến pháp (Viện bảo hành) tuyên bố là vi hiến Một hạn chế khác mà cơ quan hành pháp thường dùng đó là quyền lập quy của chính phủ
Sang đến thời kỳ của chủ nghĩa tư bản lũng đoạn nhà nước và hiện nay, thì Nghị viện không còn được quyền thông qua bất cứ đạo luật nào mà Nghị viện muốn Nghị viện chỉ còn được thông qua những đạo luật, nếu như những đạo luật ấy không quá can thiệp sâu vào lĩnh vực hành pháp Việc hạn chế chức năng lập pháp này của Quốc hội xuất phát từ quan điểm cho rằng Nghị viện là
cơ quan quyền lực nhà nước tối cao nên cần phải tạp trung vào việc giải quyết những vấn đề có tính nguyên tắc Do vậy, nếu dự án luật nào không thuộc phạm
vi lập pháp của Nghị viện thì Chính phủ chỉ cần tuyên bố dự án không thuộc
Trang 20thẩm quyên lập pháp, việc thảo luận đó phải chấm dứt.
Hiến pháp năm 1958 của Pháp là một trong những bản Hiến pháp phàn định rõ phạm vi lập pháp của Quốc hội Tuy nhiên hiện nay, Nghị viện đã nhận thức đúng vị trí của mình, có sự điều chỉnh thích hợp, trở thành cơ quan góp phần hạn chế sự lập pháp một cách bừa bãi thiếu cẩn trọng do các dự án luật của Chính phủ đệ sang, góp phần làm cho các dự án luật được thông qua đáp ứng nguyện vọng, nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân và chuyển sang Ihực hiện việc kiểm tra giám sát hoạt động của cơ quan hành pháp và tư pháp để chúng ỉuôn hoạt động vì lợi ích của nhân dân
1.2.2 Chức năng lập pháp và quy trình lập pháp của Quốc hội Việt Nam
ỉ 2.2.1 Chức nâng lập pháp của Quốc hội Việt Nam
Việc tổ chức và hoạt động của các Quốc hội ở mỗi quốc gia rất đa dạng phong phú, tuỳ thuộc vào từng điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, văn hoá truyền thống của lừng quốc gia và các chức năng mà Quốc hội đảm nhiệm Nhưng điểm chung căn bản trong số các chức năng của Quốc hội là chức năng làm luật Làm luật là một trong ba chức năng cơ bản của nhà nước Như Locke nhận xét:
“quyền lập pháp không chỉ là quyền tối cao, mà nó còn thiêng liêng và không thể thay đổi dưới sự điều khiển của người dân đã tạo ra nó”
Quốc hội các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa như Liên Xô cũ và Việt Nam hiện nay được quy định là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao Trong
tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam, Quốc hội chiếm vị trí đặc biệt quan trọng Cũng như nhiều nước khác, vị trí pháp lý của Quốc hội Việt Nam được xác định trên cơ sở của Hiếp pháp Theo quy định của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, “Quốc hội là cơ quan duy nhấl có quyền lập hiến và lập pháp”
Quyền lực đầu tiên xuất phát từ vị trí cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất là quyền lập hiến của Quốc hội Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền iập hiến Điều này có nghĩa Quốc hội là cơ quan làm Hiến pháp Cơ sở lý thuyết của
Ị ĐAI HOC QUỐC GIA HÀ NỐI
Trang 21quyền lập hiến của Quốc hội là học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa Quyền lập hiến là quyền phân công quyền lực trong quốc gia Theo học thuyết tam quyền phân lập, nhân dân là chủ thể của quyền lập hiến và là người phân chia quyền lực Bằng quyền lập hiến, nhân dân phân chia bình đẳng quyền lực cho các ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp Ba ngành quyên lực này đều nhận quyền lực từ nhân dân, do nhân dân trao cho bằng quyền lập hiến của nhân dân.
Việc tổ chức quyền lực của Nhà nước ta không áp dụng học thuyết phân quyền như các nước tư bản mà theo học thuyết tập quyén xã hội chủ nghĩa Khác với học thuyết phân quyền, để đảm bảo sự thống nhất quyền lực nhà nước, nhân dân không phân chia quyền lực đều nhau cho các ngành quyền lực mà trao chủ quyền cho người đại diện tối cao của mình là Quốc hội Quốc hội là người nhận quyền lực từ nhân dân và đến ỉượt mình, Quốc hội mới là chủ thể tiến hành phân công quyền lực Quốc hội phân công quyền lực bằng hình thức lập hiến Như vậy, quyền lập hiến của Quốc hội thể hiện sự thống nhất quyền lực của Quốc hội, khẳng định Quốc hội là chủ thể phân công quyền lực [18]
Cùng với quyền lập hiến, Quốc hội cũng là cơ quan có quyền sửa đổi Hiến pháp Quyền sửa đổi Hiến pháp cũng xuất phát từ vị trí là cơ quan quyền lực tối cao của Quốc hội Việc sửa đổi Hiến pháp phải được 2/3 đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua Nhưng giới hạn khác đối với quyền sửa đổi Hiến pháp lại không được đặt ra, chẳng hạn Hiến pháp không quy định bắt buộc phải thành lập ban sửa đổi Hiến pháp, Hiến pháp sửa đổi phải được trưng cầu dân ý
Quyền tiếp theo của Quốc hội là quyền lập pháp Sau khi Điều 83 ghi nhận Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp, Điều 84 quy định về thẩm quyền của Quốc hội trong đó có thẩm quyền là: “Làm luật và sửa đổi luật” Như vậy, căn cứ theo Hiến pháp, chúng ta chỉ có thể hiểu quyền lập pháp chính là quyền làm luật và sửa đổi luật
Quốc hội là cơ quan duy nhất lập pháp cũng có nghĩa là Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền làm luật Tuy nhiên Hiến pháp lại không chỉ rõ phạm
vi, giới hạn những loại luật mà Hiến pháp được làm Thực tế cho thấy trong hoạt
động để x.ây dựng nên một đạo luật ở nước ta không chỉ có Quốc hội là cơ quan
Trang 22duy nhất làm luật Cũng như nhiều nước khác trên thế giới, hầu hết các luật do
Quốc hội ban hành là do ngành hành pháp đệ trình, ngoài ra ở nước ta còn có
Chính phủ, Toà án, Viện kiểm sát tham gia việc làm luật Điều này dường như
có vẻ trái với quy định của Hiến pháp, nhưng nó lại xuất phát từ những đòi hỏi 'Ị của thực tế Ngành hành pháp là ngành quan hệ một cách trực tiếp và thường
xuyên nhất với các chủ thể trong xã hội và việc thiết kế mô hình ứng xử cho xã ị
hội là nhu cầu của ngành hành pháp hiện nay Tuy nhiên, các giải pháp lập pháp
do hành pháp xây dựng phải được kiểm tra và thông qua bởi cơ quan đại diện dân cử - Quốc hội, nơi đại diện cho lợi ích tổng thể của xã hội
Hoạt động lập pháp của Quốc hội đứng từ giác độ này cho thấy thực chất
là hoạt động kiểm tra, giám sát sự tương hợp giữa các giải pháp lập pháp do Chính phủ thiết kế với lợi ích, nguyện vọng chung của xã hội Việc kiểm tra này dẫn đến kết quả là: thông qua hay không thông qua chính sách của Chính phủ Như vậy, lập pháp là quyền thông qua luật Quốc hội lập pháp, Quốc hội làm luật không có nghĩa là Quốc hội sẽ làm hết mọi công đoạn Vói cách hiểu này thì quyền lập pháp mới thực sự là quyền duy nhất của Quốc hội, vì Quốc hội là
cơ quan duy nhất có quyền thông qua hay không thông qua một đạo luật Chính điều này thể hiện tính tối cao của Quốc hội
Sản phẩm của quyền lập pháp là một đạo luật thể hiện ý chí chung của xã hội, của nhân dân Hiến pháp của nước ta trao cho Quốc hội là cơ quan duy nhất
có chức năng lập pháp, nhưng không liệt kê cụ thể loại luật Quốc hội được làm,
mà quy định tại Điều 83 như sau: “Quốc hội quyết định những chính sách cơ
bán vê đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh t ể xã hội của đất nước, quốc phòng,
an ninh của đất nước, những ngnvên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhả nước, vê quan hệ xã hội và hoạt động của công dân Theo Điều 20 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật quy định các vấn để cơ bản đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế- xã hội của đất nước, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động cuả bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân
Tuy nhiên, không thể hiểu một cách máy móc, cứng nhắc và có tính cơ
Trang 23học vé chức năng lập pháp chỉ là làm luật và sửa đổi luật Phái lhấy rằng, Quốc hội đóng vai trò quyết định trong việc thành lập Chính phủ, qua hoạt động bầu
và bãi miễn các chức danh cao cấp trong bộ máy Nhà nước Thông qua các đạo luật về tổ chức bộ máy Nhà nước, thông qua việc thực hiện quyền biểu quyết nhân sự của Chính phủ, thực tế Quốc hội đã kiến tạo ra các cơ quan quyền lực khác trong bộ máy Nhà nước Do vậy cũng chính ở đây, la có thể nhìn thấy giải pháp cho chính hoạt động lập pháp của Quốc hội: Đó là viộc Quốc hội lựa chọn chính xác được một Chính phủ theo như yêu cầu của Quốc hội, cũng là theo yêu cầu của nhân dân, vì nhân dân không trực tiếp bầu ra Chính phủ, mà thông qua quyết định sáng suốt khi “bấm nút” bầu ra thành phần Chính phủ của các đại biểu Quốc hội, những người thực hiện quyển dân chủ đại diện của nhân dân Đây cũng chính là ý nguyện của nhân dân đối với Quốc hội khoá XII, khi bầu ra nhân sự cho Chính phủ vừa qua
Nếu thực hiện tốt hoạt động này, chắc chắn chức năng lập pháp của Quốc hội sẽ được thực hiện tốt khi xây dựng, bởi vì các đạo luật do Chính phủ - Chính phủ mà Quốc hội xây dựng chắc chắn sẽ hiệu quả hơn Còn nếu không, lúc đó Quốc hội sẽ phải thực hiện chức năng giám sát của mình qua việc miễn nhiệm
và bãi nhiệm các vị trí, các chức danh không đạt yêu cầu
Như vậy, có thể nhận thấy rằng, phạm vi quyền lập pháp của Quốc hội là rất rộng, gần như không có giới hạn Thông thường, trong một chính thể đề cao Quốc hội, thì quyền lực của Quốc hội về lập pháp không có giới hạn Ví dụ, Anh quốc với chủ thuyết tối cao của Nghị viện, quyền lập pháp của nghị viện ỉà không có giới hạn Có the nói Hiến pháp của nước ta không hạn chế bất cứ vấn
để nào thuộc nội dung của văn bản do Quốc hội ban hành và không có bất cứ một trở ngại nào đối với việc thông qua những văn bản đó Việc 1T1Ở rộng phạm
vi quyền lập pháp ở nước ta có cơ sở từ nguyên tắc thống nhất quyên lực nhà nước, vì Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, là nơi thống nhất quyền lực nên quyền lập pháp của Quốc hội không bị giới hạn Tuy nhiên, khi nói Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp, không đồng nghĩa với việc Quốc hội phải tự mình ban hành tất cả các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội, mà trong khuôn khổ Hiến pháp, Quốc hội có thể uỷ quyền
Trang 24cho các cơ quan khác ban hành văn bản có chứa quy phạm pháp luật Trên thực
tế, Quốc hội uỷ quyén cho ư ỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh, nghị quyết để điẽu chính một số quan hệ xã hội Nhưng các văn bản do các cơ quan nhà nước khác ban hành không được trái với tinh thần và nội dung của Hiến pháp, luật
ỉ 2.2.2 Quy trình lập pháp của Quốc hội Việt Nam
Hoạt động lập pháp là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực do Quốc hội tiến hành, trên cơ sở hiến định nhằm bảo đảm tính tập trung thống nhất quyển lực nhà nước Quốc hội thông qua các cơ quan của mình, đặc biệt là Uỷ ban thường vụ Quốc hội, để chỉ đạo việc chuẩn bị Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh: tổ chức phân công các cơ quan soạn thảo, cơ quan trình và thẩm tra dự án luật, pháp lệnh Đặc biệt, Quốc hội là cơ quan quyển lực nhà nước cao nhất có quyền cao nhất trong việc quyết định những mối quan hệ xã hội nào phải do luật hoặc pháp lệnh điều chỉnh Điều này cho thấy, Quốc hội đóng vai trò quyết định trong toàn bộ quy trình lập pháp Mục đích mà hoạt động lập pháp hướng tới là kịp thời ban hành các văn bản luật, pháp lệnh một cách đồng bộ, thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng, ý chí và nguyện vọng của nhân dân, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động quản lý nhà nước
về mọi mặt của đời sống xã hội
Về mặt nội dung, hoạt động lập pháp là hoạt động bao gồm nhiều công đoạn mang tính liên tục, kế tiếp nhau từ việc tìm kiếm và phát hiện nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật các quan hệ xã hội đến việc soạn thảo và ban hành kịp thời các đạo luật, pháp lệnh theo một quy trình và thủ tục nhất định Theo đại từ điển Tiếng Việt, quy trình là: “các bước phải tuân theo khi tiến hành một công việc nào đó” Quy trình lập pháp gồm các bước khác nhau có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện sự phân công, phối hợp giữa các chủ thổ của hoạt động lập pháp trong quá trình soạn thảo, thẩm tra, thảo luận, thông qua và công bố lệnh, pháp lệnh Quy irình lập pháp mang tính khoa học và tính pháp lý, thể hiện ở chỗ nó bao gồm rất nhiéu công đoạn với sự tham gia của nhiều chủ thể, phạm vi trách nhiệm của mỗi chủ thể tham gia quy trình này được xác định một cách cụ
Trang 25thể Do đó, cần phải có sự liên kết giữa các công đoạn trong quỵ trình để bảo
đảm sự phối kết hợp và thống nhất với nhau
Văn bản đầu tiên đánh dấu bước phát triển của việc xây dựng quy trình
lập pháp của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Quy chế
xây dựng luật và pháp lệnh do Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 06 tháng 08
năm 1988 Tiếp đó, vào năm 1996, Quốc hội đã ban hành Luật ban hành văn
bản quy phạm pháp luật (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002), trong đó quy
định cụ thể quy trình soạn thảo, thẩm tra, lấy ý kiến, Ihông qua và công bố luật,
pháp lệnh của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và mối quan hệ giữa cơ
quan này với các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trong hoạt động lập pháp
Có thể phân chia quy định lập pháp hiện hành gồm quy trình, thủ tục lập hiến và
quy trình, thủ tục xây dựng luật, pháp lệnh
a) Quy trình thủ tục lập hiến
Trong hệ thống pháp luật nước ta, hiến pháp là đạo luật gốc, đạo luật cơ
bản của Nhà nước và có hiệu lực pháp lý cao nhất Các chế định của Hiến pháp
là cơ sở pháp lý cho việc ban hành mới, sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ quy định
của các ngành luật cụ thể khác Vì vậy, việc soạn thảo, lấy ý kiến, thông qua,
công bô' Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp và trình tự thủ tục giải thích Hiến pháp
phải tuân theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ Hiến pháp, do Quốc hội quy định
Tuy nhiên cho đến nay, Quốc hội chưa ban hành một văn bản cụ thể nào quy
định quy trình lập Hiến cũng như sửa đổi Hiến pháp Tính từ thời điểm xây
dựng Hiến pháp năm 1946 đến nay, thì nước ta đã trải qua hơn 60 năm lịch sử
lập hiến, với 7 lần tiến hành hoạt động lập hiến Do các quy định về quy trình
lập hiến chưa đẩy đủ, cụ thể, nên thực tiễn tiến hành hoạt động lập hiến chủ yếu
dựa trên điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, có sự sáng tạo trong từng thời kỳ Qua
thực tiễn tiến hành hoạt động lập hiến, quy trình lập hiến gồm các thủ tục sau
Trang 26phủ hoặc cơ quan của Quốc hội đề nghị Thông thường cơ quan, tổ chức có đề nghị về việc sửa đổi Hiến pháp sẽ trình Quốc hội dự án về việc sửa đổi, bổ sung hoặc Hiến pháp (Sửa đổi) thông qua Tờ trình Quốc hội Để việc trình dự án sửa đổi, bổ sung hoặc Hiến pháp (sửa đổi) ra Quốc hội có chất ỉượng, hiệu quả và đúng tiến độ, Ban hoặc Tiểu ban sẽ được đề nghị thành lập có trách nhiệm nghiên cứu những vấn đề thuộc phạm vi sửa đổi, bổ sung; b) Thủ tục quyết định việc sửa đổi Hiến pháp được Quốc hội thảo ỉuận, quyết định việc sửa đổi Hiến pháp dưới hình thức nghị quyết và phải được hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành; c)Thành lập Uỷ ban dự thảo sửa đổi, bổ sung hoặc Uỷ ban dự thảo Hiến pháp có nhiệm vụ soạn thảo dự án Hiến pháp hoặc dự thảo nghị quyết sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và trình Quốc hội xem xét thông qua.
- Soạn thảo dự án sửa đổi, bổ sung Hiến pháp hoặc soạn thảo Hiến pháp (sửa đổi) Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quy trình lập hiến Kết quả của việc soạn thảo là ra được một dự thảo Hiến pháp (sửa đổi) hoặc dự thảo sửa đổi,
bổ sung một số điều của Hiến pháp trình Quốc hội xem xét, thông qua Trình tự tiến hành như sau: a) Tổng kết thực tiễn thi hành Hiến pháp và pháp luật, nghiên cứu đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội thuộc phạm vi sửa đổi Hiến pháp; b) Lập đc cương, biên soạr dự thảo Hiến pháp
- Lấy ý kiến về dự thảo Hiến pháp Đây là công đoạn không thể thiếu trong hoạt động lập hiến Hoạt động này có thể diễn ra trước, trong hoặc sau hoạt động biên soạn dự thảo Hiến pháp hoặc có thể diễn ra tại tất cả các công đoạn của quy trình lập hiến với nhiều hình thức khác nhau, cả trực tiếp và gián tiếp Mục đích của việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân nhằm phát huy quyền làm chủ và trí tuệ của nhân dân, tạo điều kiện để toàn dân tham gia quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước Trên cơ sở ý kiến đóng góp của nhân dân, các cơ quan, tổ chức, cá nhân, Ưỷ ban dự thảo Hiến pháp phối hợp với các cơ quan tổ chức hữu quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến, chỉnh lý vào các điều khoản
cụ thể trong dự thảo Hiến pháp trình Quốc hội xem xét, thông qua
- Xem xét, thông qua dự thảo Hiến pháp Trong hệ thống văn bản quy
Trang 27phạm pháp luật của Nhà nước ta hiện nay chưa có quy định nào về quy trình soạn thảo, thông qua Hiến pháp Vì vậy, khi tiến hành xem xét thông qua Hiến pháp, Quốc hội thường vận dụng các quy định của việc xem xét, thông qua luật Hiến pháp là một dự án lớn, đặc biệt quan trọng nên Quốc hội thường xem xét, thông qua Hiến pháp tại hai kỳ họp Quy trình xem xét, thông qua Hiến pháp như sau: a) Thủ tục trình dự án Hiến pháp để Quốc hội xem xét, cho ý kiến; b) Tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, chỉnh lý dự thảo Hiến pháp; c) Trình Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo Hiến pháp.
- Công bố Hiến pháp Đây là giai đoạn cuối cùng của quy trình lập hiếnnhằm đưa nội dung Hiến pháp đến toàn xã hội Việc công bố Hiến pháp theo quy định của Hiến pháp hiện hành thì thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước và được ban hành dưới hình thức Lệnh của Chủ tịch nước Hiện nay chưa có vãn bản nào quy định cụ thể về cách thức và thời hạn công bố Hiến pháp, vì vậytrong quá trình áp dụng pháp luật, Chủ tịch nước vận đụng quy định về thời hạncông bố luật, nghị quyết của Quốc hội để công bố Hiến pháp
b) Quy trình, thủ tục trong hoạt động xây dựng pháp luật
- Lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh Lập chương trình xây dụtig
luật, pháp lệnh là một đặc điểm trong hoạt động lập pháp của Quốc hội nước ta, xuất phát từ điều kiện và hoàn cảnh thực tế ở Việt Nam Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được thực hiện trong từng thời gian cụ thể, có thể là cho cả nhiệm kỳ hoặc cho từng năm công tác, hoặc kỳ họp của Quốc hội
Bản chất của việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh là kế hoạch hoá công tác xây dựng luật, pháp lệnh của Nhà nước ta; góp phần làm cho chủ trương, đường lối của Đảng, ý chí và nguyện vọng của nhân dân được thể chế hoá thành pháp luật một cách có kế hoạch, khoa học và khả thi Đồng thời, việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh còn góp phần xác định thứ tự ưu tiên trong công tác chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh và qua đó bảo đảm tính chủ động hơn trong công tác xây dưng pháp luật
Tuy nhiên, cần lun ý rằng, từ mong muốn chủ quan ban hành nhiều luật
và pháp lệnh để điều chỉnh các quan hệ xã hội đa dạng của nền kinh tế thị
Trang 28trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nên Chương trình tuy đã được Quốc hội
thông qua vẫn phải điều chỉnh hàng năm và có tính khả thi chưa cao, nhất là
Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cho cả nhiệm kỳ của Quốc hội Do đó,
cần xác định thứ tự ưu tiên của việc ban hành văn bản; đồng thời, Chương trình
(kế hoạch) xây dựng luật, pháp lệnh phải được tính toán căn cứ vào những luận
cứ khoa học, có thông tin đầy đủ, khách quan
Hiện nay, việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đã được quy
định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo một quy trinh nhất
định gồm các bước như: a) để xuất kiến nghị; b) lập dự kiến chương trình; c)
thẩm tra dự kiến chương trình; d) lập dự án chương trình xây dựng luật, pháp
lệnh, e) quyết định chương trình xây dựng luật, pháp ỉệnh (Điều 22) cũng chính
là nhằm bảo đảm cho hoạt động này có hiệu quả và ổn định hơn
- Các bước của quy trình xây dựng văn bản luật, pháp lệnh Theo quy định của Luật ban hành văn bán quy phạm pháp luật hiện hành, các bước của quy
trình xây dựng luật, pháp lệnh bao gồm:
a) Chuẩn bị dự thảo;
b) Trình dự án luật, pháp lệnh;
c) Thảo luận và thông qua dự án;
d) Công bố luật, pháp lệnh
Như vậy, có thể thấy rằng quy trình xây dụng luật, pháp lệnh về mật hình
thức là cả một “dây chuyền công nghệ” của việc xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật bao gồm những hoạt động mang tính kế tiếp và bổ trợ cho nhau; thực
hiện tốt có chất lượng công đoạn trước tạo tiền đề, điều kiện thuận lợi để thực
hiện tiếp các công đoạn sau Quy trình lập pháp phải mang tính chất và đặc
trưng của hoạt động lập pháp và giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Có thể nói hoạt động lập pháp bao gồm cả quy trình tiến hằnh, tổ chức thực hiện
nhưng ở đây trọng tâm là thể hiện phạm vi, thẩm quyền của Quốc hội, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội theo một quy trình khoa học hợp lý nhằm phát huy cao nhất
vai trò của các chủ thể trong quá trình xây dựng luật, pháp lệnh, v ề phần mình,
Trang 29quy trình lập pháp góp phần làm cho hoạt động lập pháp được vận hành có hiệu quả, kịp thời theo những mục đích, yêu cầu mà hoạt động lập pháp phải hướne đến.
T ó m lại:
Lịch sử phát triển của Quốc hội rất đa dạng, mang nhiều dấu ấn của sự thăng trầm, thậm chí nhiều lúc Quốc hội bị lấn át, nhưng như một tất yếu, cuối cùng Quốc hội vẫn khẳng định chỗ đứng vững chắc trong bộ máy nhà nước dưới các chế độ chính trị khác nhau trên thế giới Mặc dù nghị viện đã tự nhận thấy thời kỳ “vàng son” được phép làm tất cả những gì mình muốn không còn nữa, nhưng càng ngày nghị viện càng nhận thức rõ và đúng đắn hơn vai trò người đại diện của minh Thông qua quyển lập pháp của mình, Nghị viện/ Quốc hội đảm bảo cho việc bảo vệ các quyén lợi khác nhau trong mọi tầng lớp xã hội, sau đó
là chức năng giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước mà trong bộ máy nhà nước hiện đại khồng một cơ quan tổ chức nào có thể thực hiện được Điểm quan trọng nhất là dù có tăng hay giảm vai trò, quyền lực của mình thì trước sau Quốc hội vẫn giữ vững chức năng lập pháp và thông qua ngân sách của mình Đó cũng
là một trong nhiều chức năng vốn có của Quốc hội, thể hiện tính chất đại diện của mình
Hiện nay, xảy dựng và hoàn thiện mô hình nhà pháp quyền đang trở thành một đòi hỏi cấp bách của các nước trên thế giới Có nhiều quan niệm khác nhau vé các yếu tố cấu thành nên nhà nước pháp quyển, song một trong những yếu tố cấu thành cơ bản là nhà nước pháp quyển cần phải có Quốc hội- cơ quan lập pháp Đày là một trong ba cành quyền lực: lập pháp, hành pháp, tư pháp cần phải phân quyền hoặc phân công phân nhiệm rõ ràng trong nhà nước pháp quyền Theo đó, cành quyền lực lập pháp không những bị kiểm soát, bị hạn chế như những cành quyền lực khác mà còn đòi hỏi tính cẩn trọng trong việc thi hành các chức năng lập pháp của mình Cụ thể là, chức năng lập pháp của Quốc hội cần phải cho nhà nước một hệ thống bao gồm những đạo luật có chất lượng cao, có khả năng bảo vộ quyển con người, tạo ra những giá trị tốt đẹp cho con người và xã hội Điều đó có nghĩa là, ngay trong nhà nước pháp quyền, chức
Trang 30năng lập pháp - chức nãng làm luật cổ điển của Quốc hội cũng vẫn đương nhiên
thuộc về Quốc hội mà không thuộc về cành quyền lực nào khác Bởi vì nhà nước
pháp quyền phải là một nhà nước dân chủ, nhà nước của dân, do dân và vì dân
Nhà nước đó phải được tổ chức trên nguyên tắc tất cá quyền lực nhà nước phải
thuộc về nhân dân Quốc hội là cơ quan đại diện của nhân dân thể hiện ý chí
nguyện vọng của loàn thể nhân dân, thông qua chức năng lập pháp được trao,
Quốc hội thực hiện quyền làm ra luật và thực hiện các chức năng khác để đảm
bảo sự thượng tôn của pháp luật trong cuộc sống
Trong nhà nước pháp quyền, Quốc hội là một định chế có vai trò quan
trọng trong việc thực hiện các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyển Hiến pháp
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, sửa đổi bổ sung năm
2001 lần đầu tiên khẳng định quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam Do vậy, Quốc hội Việt Nam chức năng lập pháp đã được
mở rộng hơn nữa để đáp ứng được các yêu cầu của nhà nước pháp quyền Điều
này hoàn trong toàn phù hợp với xu hướng phát triển của Quốc hội các nước trên
thế giới trong giai đoạn hiện nay, cần phải đảm trách chức năng lập pháp theo
nghĩa rộng
1 3 Giám sát từ một chức năng bảo đảm của lập pháp trở thành
ch ứ c n ă n g c h ín h yếu c ủ a Q u ố c Hội
1.3.1 Giám sát ra đời như là một chức năng bảo đảm của lập pháp
Trong tổ chức nhà nước, quyền lập pháp là một quyền cơ bản và có ưu thế
nhất định so với các quyền hành pháp và tư pháp do nó mang đậm tính dân chủ
Thuở ban đầu, quyền lập pháp được dùng để chỉ các hành vi thảo luận và ban
hành các văn bản chứa đựng các quy phạm pháp luật Nhưng cùng với thời gian,
đã có sự biến thiên, quyền lập pháp còn được mở rộng ra các lĩnh vực khác như
giám sát, thành lập Chính phủ - hành pháp, bỏ phiếu tín nhiệm hành pháp, thậm
chí còn xét xử các quan chức cao cấp , tất cả những hành vi nói trên đều được
hiểu trong phạm vi của quyển lập pháp [18, tr.54]
Như vậy, quyền lập pháp phải được nhìn nhận một cách tổng thê’ trong
các hoạt động của Quốc hội, bao gồm cả quyền giám sát Đe phục vụ hoạt động
Trang 31lập pháp phải có giám sát, và hoạt động giám sát chỉ được thực hiện tốt trên cơ
sở lập pháp Để hiểu được vai trò, vị trí của hoạt động giám sát trong cơ chế quyền lực nhà nước, trước hết phải hiểu được giám sát là gì, được áp dụng ra sao trong cơ chế đó
Giám sát được coi là một quyền lực trong các nghiên cứu của nhiều học thuyết Trong cơ chế quyền lực nhà nước không thể không có giám sát Nhiều quốc gia đã đưa giám sát vào trong những quy định chính thức của Hiến pháp nước mình, không những thế, có hiến pháp quy định giám sát không phụ thuộc bất cứ cơ quan nào, không bị chi phối bởi bất cứ nhánh quyền lực nào Qua các quy định về giám sát của các nước, có thể hiểu thuật ngữ giám sát từ các góc độ khác nhau:
- Giám sát là: “sự theo dõi, xem xét làm đúng hoặc sai những điểu đã quyđịnh”
- Giám sát là: “chức quan thời xưa trông nom một loại công việc nhất định” [43, tr.728]
- Giám sát là: “sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực đế' buộc
và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được những mục đích, hiệu quả xác định từ trước, bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh” [24, tr.174]
Như vậy, có thể thấy, giám sát là hoạt động có đối tượng và chủ thể không đồng nhất như hoạt động kiểm tra, do giám sát được thực hiện từ một chủ thể độc lập từ bên ngoài Giám sát phải: “thể hiện được quan hệ giữa chủ thể hoạt động giám sát và đối tượng chịu sự giám sát phải được tiến hành trên những căn cứ nhất định giám sát luôn là hoạt động có tính mục đích nlâằm đảm bảo cho những quy định của chủ thể có quyền giám sát được thực hiện đúng và đầy đủ” [27, tr.33]
Do vậy, giám sát là hoạt động tất yếu khách quan, là hoạt động phải có cho tất cả các công việc mà cần phải có sự theo dõi, quan sát, đốc thúc từ phía bên ngoài để báo đảm thực hiện tốt công việc
Trang 32Trong nội dung, phạm Irù của kiểm soát quyền lực, hoạt động giám sát chỉ là một trong nhiều hình thức khác nhau của kiểm soát Kiểm soát quyền lực nhà nước là phạm trù chung nhất, rộng nhất, bao gồm tất cả mọi hoạt động kiểm soát có chủ đích của nhà nước và xã hội như giám sát, kiểm sát, kiểm toán nhằm hạn chế nguy cơ sai phạm cũng như hành vi lộng quyén, chuyên quyền, độc đoán của cơ quan quyền lực nhà nước và của cán bộ công chức nhà nước, đảm bảo cho quyền lực nhà nước thực hiện đúng mục đích, hiệu lực và hiệu quả Trong các hình thức của kiểm soát quyền lực nhà nước, thanh tra và giám sát đều là những thiết chế quan trọng và cần thiết cho hoạt động cùa mỗi nhà nước Mục tiêu của thanh tra và giám sát, đều nhằm đảm bảo thi hành đúng pháp luật, đảm bảo thống nhất quyền lực, phân công và phối hợp giữa các nhánh quyền lực nhà nước, tránh sự lạm quyền.
Bên cạnh những nét tương đồng, hoạt động thanh tra và giám sát có nhiều điểm khác biệt rõ rệt về chủ thể, về đối tượng kiểm soát, về phạm vi và cơ cấu tổ chức, về nội dung hoạt động Hoạt động thanh tra là sự kiểm soát quyền lực từ bên trong nội bộ các nhánh quyền lực nhà nước, là công cụ hỗ trợ cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước - công cụ của hệ thống hành pháp, do vậy chủ thể thực hiện quyển thanh tra chỉ là một tổ chức bộ phận trong những bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước như cơ quan thanh tra của chính phủ hay là tổ chức thanh tra nhân dân Đối tượng của hoạt động thanh tra là các cơ quan, đơn vị, tổ chức các nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của các cơ quan hành chính hoặc hoạt động theo ngành, lĩnh vực quản lý của các bộ, ngành Hoạt động thanh tra được tiến hành với nội dung cơ bản là thanh tra việc chấp hành pháp luật, những quy định hành chính của ngành, lĩnh vực; thực hiện công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng và thanh tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân Trái lại, giám sát là một hoạt động kiểm soát quyén lực nhưng là sự kiểm soát từ bên ngoài đối với nhánh quyền lực nhà nước Đó là các cơ quan quyền lực đại diện (Quốc hội, hội đồng nhân dân) đối với các nhánh hành pháp và tư pháp, hoặc giám sát của nhân dân với toàn bộ hoạt động của nhà nước Do vậy, vị trí của các chủ thể giám sát đều có quyền lực cao như quyền giám sát tối cao của Quốc hội, của Hội đồng nhân dân và giám sát của nhân dân Hoạt động giám sát
Trang 33của Quốc hội theo quy định của Hiến pháp và pháp luật bao trùm toàn bộ hoại động của bộ máy nhà nước, thông qua hoạt động xem xét báo cáo; giám sát việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật; chất vấn đại biểu Quốc hội
Chức năng giám sát ra đời thuở ban đầu như là một chức năng đảm bảo của chức năng lập pháp của Nghị viện Trong thời kỳ cách mạng tư sản và thời
kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản, nhu cầu tăng cường quyền hạn cho Nghị viện trở thành một đòi hỏi dân chủ của mọi người dân Anh Sự phát triển quyền hành của Nghị viện là kết quả tất yếu khi Nghị viện Anh có quyền tu thảo các dự án gia tăng hay giảm thiểu các khoản chi tiêu Sự công nhận quyền hạn của Quốc Hội sau cuộc cách mạng đẫm máu năm 1688 của vua William đồng nghĩa với việc quyền lực của vương quyền chuyên chế Anh bị giới hạn bởi Nghị viện Theo đó, nhà Vua chỉ có ban hành đạo luật khi có sự chấp nhận của Quốc hội Trong giai đoạn này ở Anh, Nghị viện có quyền kiểm soát và biểu quyết luật đồng thời quyết định những vấn đề lớn của đất nước Tiếp đó là hành vi thành lập ra các cơ quan hành pháp và bãi miễn hành pháp Do vậy, quyén lập pháp ít nhất pnải tương đương với quyền hành pháp và tư pháp Nó không chỉ là hoạt động ban hành các văn bản quy phạm pháp luật như vẫn quan niệm, mà phải hiểu rộng ra bao gồm toàn bộ các hoạt động của Quốc hội Những hoạt động đó gắn liền với
sự đại diện quyền lực của nhân dân, đặt nền móng cho mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước khác qua các quy định về thành lập, về các nguyên tắc hoạt động, giám sát hoạt động của các cơ quan này khi ban hành các đạo luật, chương trình hoạt động do lập pháp thông qua [ 18, tr 196-197]
Việc hình thành Nghị viện Anh quốc - một mô hình cổ điển cho thấy: Từ chức năng giúp việc cho nhà Vua, quyết định việc thu tăng thuế, Nghị viện đã chuyển sang chức năng làm luật, cho đến việc thành lập chính phủ và cuối cung
là giám sát chính phủ như hiện nay Mọi hoạt động của Nghị viện đều gắn liền với chức năng lập pháp, vì vậy Nghị viện được gọi là cơ quan lập pháp - một trong những cành quyền lực quan trọng tạo thành cơ cấu tổ chức của nhà nước dân chủ hiện nay
Không chỉ Nghị viện Anh mở rộng và phát triển chức năng lập pháp của
Trang 34mình mà Nghị viện của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ ngày từ bản Hiến pháp đầu tiên, các nhà lập hiến đã trao cho Nghị viện quyển giám sát các cơ quan khác trong bộ máy quyền lực của nước Mỹ Điểu này một mặt khẳng định vị trí của Nghị viện Mỹ, mặt khác các nhà lập hiến muốn đam bảo cơ chế kìm chế đối trọng được thực hiện triệt để Theo đó, ngoài quyền làm luật với chức năng cổ điển vốn có, Nghị viện Mỹ còn có quyền giám sát một cách độc lập hoạt động của các quan chức trong bộ máy hành pháp Theo mô hình tổ chức của Mỹ thì giám sát được coi là hoạt động quan trọng nhưng không độc lập với lập pháp.
Tác phẩm “Các nguyên lý của nền lập pháp” của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ
đã nêu quan điểm về quyền lập pháp của Quốc hội Theo họ, quyền lập pháp là quyển của các đại diện được bổu lên trong một nền dân chủ, có chức năng chính
là soạn thảo, tranh luận và thông qua luật, song cơ quan lập pháp đó không phải
ỉà con dấu cao su để đóng lên những sản phẩm luật kém chất lượng hay chỉ biết thông qua những quyết định của một nhà lãnh đạo độc đoán Quyền lập pháp của Nghị viện còn nắm một số vai trò thiết yếu đối với việc vận hành một nền dân chủ vững mạnh như quyền giám sát, điều tra và chất vấn các quan chức
chính phủ; phê chuẩn ngân sách quốc gia, điều trần những vấn đề bức xúc xảy ra
trong xã hội
Quyển lập pháp cần phải được hiểu rộng ra, bao gồm tất cả các hoạt động của Quốc hội, cả quyền thành lập ra các cơ quan nhà nước khác và giám sát hoạt động của các cơ quan này Quyền lập pháp được mở rộng như vậy, bởi đó là những hoạt động gắn liền với sự đại diện quyền lực của nhân dân, có tính chất đặt nền móng cho mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước khác, từ việc thành lập cho đến việc quy định các nguyên tắc cho các cơ quan này hoạt động bằng các đạo luật Không chỉ dừng ở đó, Nghị viện còn phải giám sát việc hoạt động của các cơ quan nhà nước này theo các đạo luật, chương trình hoạt động đã được chính cơ quan lập pháp thông qua Tuy nhiên, những hoạt động này không mang tính chất điều hành và chấp hành như của hoạt động hành pháp của chính phủ
Trong cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước, nơi hơn bất kỳ chỗ nào, dễ có nguy cơ xuất hiện và phát triển của sự lạm dụng quyền hạn - thứ quyén hạn do
Trang 35chính nhân dân trao cho thông qua các quy định của Hiến pháp và pháp luật,
điểu tất yếu là phải thiết lập cơ chế giám sát hữu hiệu, được trao cho chính Quốc
hội - cơ quan đại diện của nhân dân thực hiện Quốc hội đóng vai trò quan trọng
trong quá trình giám sát, bởi lẽ Quốc hội là cơ quan do dân cử, ý chí của người
dân được thực hiện thông qua Quốc hội
Nghị viện/ Quốc hội là thiết chế quan trọng trong cơ ch ế tổ chức quyền
ỉực nhà nước của hầu hết các nước hiện nay Hiện nay, khi Nghị viện không còn
trong giai đoạn cực thịnh nữa, do hành pháp có xu hướng lấn quyền lập pháp,
sáng kiến pháp luật đã được “đá sang sân” của hành pháp, thì Nghị viện vẫn là
thiết chế không thể thiếu của mỗi chế độ dân chủ, bởi đã có sự biến thiên của
lập pháp sang giám sát, giám sát chủ yếu vẫn để phục vụ lập pháp và bảo đảm
lập pháp luôn ià chức năng chính của Nghị viện/ Quốc hội
Tuy nhiên, như trên đã phân tích về bản chất của chức năng lập pháp, theo
đó, chức nâng giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng cua đất nước
cũng là một phần của quyền lập pháp, là những yếu tố để xác định Quốc hội là
cơ quan lập pháp Sự phân định các chức năng không thể là cơ sở để tách hoạt
động của Quốc hội ra thành các hoạt động độc lập, mà giữa chúng luôn có sự
đan xen lản nhau, bổ trợ cho nhau và để phục vụ nhau, với sự thống nhất duy
nhất là nhằm bảo đảm cho quyền lập pháp của Quốc hội Tất cả các chức năng
trên đều được thực hiện trên cơ sở Hiến pháp, các đạo luật, các Nghị quyết do
Quốc hội ban hành (nếu cụm từ “lập pháp” được hiểu theo nghĩa rộng) [51,
tr.27] Và tựu chung lại, hoạt động giám sát và quyết định những vấn đề quan
trọng của đất nước, cũng nhằm mục đích bảo đám hiệu lực và hiệu quả của hoạt
động lập pháp, là cơ sở để ban hành những quy phạm pháp luật điều chỉnh chính
xác và kịp thời mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
1.3.2 Trong mối tương quan với chức năng lập pháp, giám sát n°ày càng trở thành chức năng chính yếu của Quốc hội
Lập pháp và giám sát là những chức năng cơ bản của các mô hình nghị
viện/ Quốc hội trên thế giới Trong nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước,
Quốc hội luôn có chức năng giám sát bên cạnh chức năng chủ yếu thường được
Trang 36mặc định là chức năng lập pháp Tuy nhiên, tuỳ theo cách thức tổ chức quyền lực nhà nước mà việc thể hiện chức năng lập pháp và giám sát có sự khác nhau.
Trong triết lý tổ chức quyền lực nhà nước, khi thiết lập thiết chế Nghị viện, điều đầu tiên các nhà lập pháp tư duy đến là trao quyền lập pháp cho Quốc hội Quốc hội được thành lập trưức hết và chủ yếu là để thực hiện chức năng lập pháp Quốc hội là cơ quan lập pháp, bên cạnh Chính phủ - cơ quan hành pháp và Toà án - cơ quan tư pháp, tạo thành bộ khung cơ bản nhất của hệ thống các cơ quan nhà nước trong mô hình tổ chức nhà nước của các nước trên thế giới, cho
dù chúng được tổ chức theo hình thức chính thể nào và áp dụng nguyên tắc thống nhất quyền lực hay phân chia quyền lực
Để bảo đảm cho chức năng lập pháp của Quốc hội được thực hiện tốt, để pháp luật do Quốc hội ban hành được thực hiện có hiệu lực, hiệu quả trên toàn
bộ lãnh thổ, và để chế ngự các nhánh quyền lực khác mà Quốc hội có chức nãng giám sát Như vậy, xét về mặt ý tưởng, có thể nói chức năng giám sát là chức năng “đi theo” chức năng lập pháp, nhằm bảo đảm cho chức năng lập pháp được thực hiện hoàn hảo Tuy nhiên, xét mối tương quan giữa chức năng lập pháp và chức năng giám sát, cả về lý luận lẫn trên thực tế, cần có sự nhìn nhận đúng về
vị trí và vai trò của chức năng giám sát của Quốc hội
Quốc hội - cơ quan đại diện của nhân dân nắm quyền lập pháp Trong cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước, Quốc hội là cơ quan lập pháp, còn tổ chức thực hiện pháp luật được trao cho Chính phủ - cơ quan hành pháp Tuy nhiên, do hoại động chấp hành và điều hành là hoạt động luôn gắn liền, luôn va chạm với thực
tế đời sống, do vậy, nó luôn tiềm ẩn nguy cơ tha hoá Để bảo đảm cho pháp luật
do mình ban hành được tuân thủ, và sâu xa hơn là bảo đảm cho ý chí, lợi ích, quyền lực của nhân dân mà mình đại diện, Quốc hội cần thiết phải có chức năng quan trọng thứ hai: Đó ỉà chức năng giám sát
Ở chính thể cộng hoà đại nghị hay chính thể quân chủ đại nghị, hành pháp phải chịu trách nhiệm trước nghị viện Điều này được quy định rõ ràng trong hiến pháp Chính phủ còn hoạt động khi vẫn còn sự tín nhiệm của Quốc hội Trong trường hợp Chính phủ mất tín nhiệm, Chính phủ bị lật đổ hoặc bị
Trang 37buộc phải thay đổi thành phần do ở cả hai loại chính thể này, Chính phủ được thành lập trên cơ sở của nghị viện Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước nghị viện là một đòi hỏi tiến bộ của nền dân chủ tư sản Chính phủ tư sán phải thừa nhận rằng cơ quan đại diện do cử tri trực tiếp bẩu ra là một trong nh ữ n g hình thức thực hiện chủ quyền nhún dân Điều đó có được tuyên bố hay không tuyên
bố trong hiến pháp, thì trong tiềm thức của nhốn dân, cơ quan lập pháp vẫn là cơ quan cao nhất trong bộ máy nhà nước, có quyền thông qua các văn bản luật, còn
Chính phủ chỉ là cơ quan thực hiện trước cơ quan lập pháp Chính những nguyên !
nhân trên đã tạo thành cơ sở cho cơ quan hành pháp buộc phải chịu sự giám sát của nghị viện Do đó, giám sát Chính phủ là một trong những chức năng quan trọng của nghị viện tư sản
Trong chế độ đại nghị, được đánh giá là hình thức phân quyền mềm dẻo,
áp dụng phổ biến hiện nay ở các nước tư sản, chức năng giám sát của nghị viện đối với các hoạt động của Chính phủ đươc quy định như sau: Chính phủ - hành pháp là trung tâm của bộ máy nhà nước tư sản được thành lập trên cơ sở thành phần nghị sĩ, nên Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước nghị viện Một trong những dấu hiệu tạo nên đặc điểm của chế độ đại nghị là Quốc hội có quyền giám sát Chính phủ Nếu Chính phủ không muốn bị đặt vấn đé tín nhiệm, thì Chính phủ
tự nêu lên vấn đề tín nhiệm của mình trước Quốc hội Sự đặt vấn để tín nhiệm này thường đặt ra khi Quốc hội không thông qua các đề án mà Chính phủ độ trình, nhất là các dự án ngân sách và dự án pháp luật Trong trường hợp Chính phủ không tự nhận thấy sự mất tín nhiệm của mình để rút lui, thì Quốc hội có quyền nêu vấn đẽ tín nhiệm Chính phủ bằng cách thông qua quyết định khiển trách Chính p h ủ Việc chấp nhận kiến nghị khiển trách đó sẽ d ẫ n đ ế n v iệ c làm cho Chính phủ đương nhiệm phải từ chức
Trong Hiến pháp của nhiều nước theo chính thể này, quy định Nghị viện cũng có quyển luận tội các quan chức có hàm bộ trưởng (Hiến pháp Đan Mạch, Hiến pháp Na Uy, Hiến pháp Bỉ ) theo thủ tục luận tội - Thủ tục đàn hạch Trong
đó, Hạ nghị viện sẽ đảm nhận phần luận tội, và Thượng nghị viện sẽ luận tội và kết tội Khi đó giám sát có hình thức như một phiên toà xét xử Trong chính thể quân chủ đại nghị, không chỉ có chế độ chịu trách nhiệm của từng bộ trưởng trước
Trang 38Nghị viện, mà còn là chế độ chịu trách nhiệm của loàn bộ Chính phủ Irước Nghị viện khi buộc các vị bộ irưởng và Thủ tướng phải lừ chức, do bị mất tín nhiệm trước lập pháp Chế định Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội ỉà một nội dung rất quan trọng của quyền giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ.
Nghị viện Anh, một điển hình cổ điển của nghị viện tư sản, trước tiên có mục đích tự thân là cơ quan lập pháp, và để chức năng này được thực hiện tốt trên thực tế, Nghị viện có chức năng cơ bản tiếp theo là chức năng giám sát việc thực hiện các văn bản luật do Nghị viện ban hành Tuy nhiên, cho dù đã có thời
kỳ (cách mạng tư sản và thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản), Nghị viện Anh có quyền lực gần như tuyệt đối, “có thể làm được tất cả, trừ việc biến đàn ông thành đàn bà”, thì nay, Nghị viên Anh nói chung và chế độ đại nghị tư sản nói riêng, đang lâm vào tình trạng khung hoảng Cho dù về nguyên tắc, Nghị viện Anh có thể thông qua bất cứ một đạo luật nào, nhưng trên thực tế, Nghị viện chỉ được thông qua các đạo luật, nếu như các đạo luật đó không can thiệp quá sâu vào hành pháp
Đối với chính thể cộng hoà tổng thống, nơi áp dụng triệt để nguyên tắc phân chia quyền lực trong việc tổ chức quyền lực nhà nước Tổng thống - người đứng đầu bộ máy hành pháp cũng do cử tri bầu ra, nên nghị viện không thể bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ và giải tán Chính phủ v ề nguyên tấc, Quốc hội không có quyển giám sát Chính phủ, trừ sự giám sát tự thân được sinh ra từ cơ chế kìm chế và đối trọng Tuy nhiên, trên thực tế để bảo đảm hoàn thành tốt chức năng lập pháp, thì vẫn phải kiểm tra mức độ thực thi luật của Chính phủ, Quốc hội vẫn thực hiện hoạt động giám sát đối với Chính phủ
Hợp chúng quốc Hoa Kỳ là Nhà nước điển hình của việc phân quyền cứng rắn, Chính phủ chịu trách nhiệm trực tiếp trước nhân dân Nếu như theo mô hình nhà nước Anh, Chính phủ chịu trách nhiệm trước nghị viện, thì ở mô hình nhà nước Mỹ, Chính phủ không chịu trách nhiệm trước nghị viện mà chịu trách nhiệm trước cử tri Vai trò của Tổng thống - người đứng đầu chính phủ hành pháp rất lớn, Tổng thống trong thực tế có quyền bãi nhiệm các quan chức của chính phủ hành pháp mà Quốc hội không có quyền can thiệp Tuy nhiên, vai trò
Trang 39của Quốc hội (trong việc thực hiện quyền giám sát) không vì thế mà trở nên hạn hẹp Tổng thống chỉ được quyền trực tiếp bãi nhiệm các quan chức của cơ quan hành pháp trực thuộc Tổng thống, còn các quan chức của các cơ quan hành pháp khác do Quốc hội thành lập, thì phải được sự đồng ý của Quốc hội Không những thế, theo Hiến pháp Mỹ, Tổng thống còn có khả năng bị truất quyền trong trường hợp bị luận tội Tổng thống sẽ bị khởi tố, khi có các hành vi phản bội tổ quốc, nhận hối lộ, và các trọng tội khác (khoản 4 điều 2, Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ) Việc khởi tố sẽ được tiến hành bằng việc xem xét, soạn thảo công ước buộc tội của Uỷ ban pháp luật của Hạ nghị viện Nếu Hạ nghị viện thông qua bằng đa số phiếu thuận, nó sẽ được chuyển sang cho Thượng nghị viện quyết định Sau khi quyết định buộc tội được Thượng nghị viện thông qua bằng cách bỏ phiếu kín và được sự tán thành của 2/3 số thành viên tham gia, Tổng thống sẽ bị truất quyền.
Để tăng cường hơn nữa hoạt động giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ, đến năm 1943, Quốc hội Mỹ đã thông qua Luật hoạt động giám sát đối với hành pháp Trong đó, luật quy định các quan chức cao cấp, các ihành viên chính phủ phải điểu trẩn trước các uỷ ban của Quốc hội Mỹ Không chỉ có vậy, thông qua chế độ đàn hạch (hình thức xét xử để đi đến bãi chức), Quốc hội Mỹ còn thực hiện hoạt động giám sát của mình khá thoải mái mà không sợ bị bãi nhiệm như trong chế độ nghị viện, nơi Quốc hội có khả năng bị giải tán khi can thiệp quá sâu đến hoạt động của Chính phủ Vai trò của Quốc hội ở Mỹ không được rộng lớn như vai trò của Quốc hội ở các nước theo chính thể đại nghị Nước Mỹ không có chế định giải thể Quốc hội, nhưng Tổng thống có thể phủ quyết các đạo ỉuật của Quốc hội Quốc hội không có quyền bãi nhiệm Tổng thống, mà chỉ
có quyền đưa ra quyết định truất quyển của Tổng thống qua hình thức đàn hạch (Impeachment) Trong chính thể cộng hoà tổng ihống:
sự kiểm tra, giám sát không chỉ được thể hiện giữa Quốc hội lập pháp với chính phủ hành pháp, mà còn bằng sự giám sát ngược lại của hành pháp đối với lập pháp Sự kiểm tra, giám sát này được hiến pháp thể hiện bằng hệ thống "kìm chế và đối trọng", không có cành quyền lực nào cao hơn cành quyền lực nào Mỗi cành quyền
Trang 40lực đêu có phương tiện riêng biệt, một quyền hạn đặc biệt để tự vệ khi có xung đột với cành quyền lực khác [14, tr 151, 53, I54J.
Bên cạnh hai hình thức chính thể trên, hiện nay có một số nước theo chính thể hỗn hợp, điển hình là Cộng hoà Pháp và Liên bang Nga Ở đó, Chính phủ chịu trách nhiệm tập thể trước Quốc hội như trong chế độ đại nghị nhưng Tổng thống cũng có những quyền hạn quan trọng gắn liền với hoạt động của nghị viện
Dù được tổ chức theo hình thức chính thể nào, thì trong việc tổ chức quyền lực nhà nước của các nước cũng đều đưa ra những cơ chế nhất định, nhằm bảo đảm có sự kiểm tra, giám sát lẫn nhau, chế ước nhau, sao cho giữa lập pháp
và hành pháp có mối tương quan, có sự gắn bó hữu cơ để hạn chế được sự ỉạm quyền làm suy yếu quyền lực nhà nước “Chính quyền luôn có xu hướng tha hoá nên sự kiểm tra, giám sát phải được quan tâm thường xuyên” [44, tr.306]
Một yếu tố có tính thực tiễn hiện nay, đòi hỏi Quốc hội phải thể hiện chức năng giám sát của mình là , cho d ù Quốc hôi luôn đươc c h ín h thức g h i nhận là c ơ \
quan lập pháp, nhưng trên thực tế, Chính phủ luôn là chủ thể của các dự án luật ! y
(sáng kiến pháp luật) Cho dù là ở chính thể đại nghị hay chính thể cộng hoà, thì
đó vẫn là một sự thật đang tồn tại Quốc hội thực tế chủ yếu chỉ thông qua luật,
từ đó mới hình thành câu nói chỉ thực trạng hoạt động lập pháp của Quốc hội:
“nghị gật” Do vậy, để hoạt động của Quốc hội không mang tính hình thức, Quốc hội cần tập trung vào việc kiểm tra, giám sát hoạt động lập pháp đã được
uỷ quyền cho các chủ thể khác, tức là thực hiện hành vi giám sát của cơ quan lập pháp Đó là việc thực hiện một cách hiệu quả việc thông qua luật Nên, có thể nói:
Quốc hội khoẻ, là Quốc hội biết “lắc”, chứ không phải là Quốc hội yếu, là Quốc hội chỉ biết “gật”, hay còn được gọi Quốc hội có chức năng “hãm làm luật”, chứ không phải là lập pháp, làm luật theo đúng tinh thần của học thuyết tam quyển phân lập đã được ghi nhận trong nhiều bản văn hiến pháp của các quốc gia Nhiều người muốn Nghị viện Anh quốc giống như Quốc hội Hoa Kỳ chứ khống phải