1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hệ thống hóa các bài tập nhằm phát triển sức mạnh tốc độ thực hiện kỹ thuật ném rổ từ xa đối với vận động viên nữ bóng rổ đội tuyển quảng ninh

201 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 201
Dung lượng 5,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐINH ĐẮC THI HỆ THỐNG HÓA CÁC BÀI TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN SỨC MẠNH TỐC ĐỘ THỰC HIỆN KỸ THUẬT NÉM RỔ TỪ XA ĐỐI VỚI VẬN ĐỘNG VIÊN NỮ BÓNG RỔ ĐỘI TUYỂN QUẢNG NINH LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC H

Trang 1

ĐINH ĐẮC THI

HỆ THỐNG HÓA CÁC BÀI TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN SỨC MẠNH TỐC ĐỘ THỰC HIỆN KỸ THUẬT NÉM RỔ

TỪ XA ĐỐI VỚI VẬN ĐỘNG VIÊN NỮ BÓNG RỔ ĐỘI

TUYỂN QUẢNG NINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

HÀ NỘI – 2020

Trang 2

ĐINH ĐẮC THI

HỆ THỐNG HÓA CÁC BÀI TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN SỨC MẠNH TỐC ĐỘ THỰC HIỆN KỸ THUẬT NÉM RỔ

TỪ XA ĐỐI VỚI VẬN ĐỘNG VIÊN NỮ BÓNG RỔ ĐỘI

TUYỂN QUẢNG NINH

Trang 3

riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực

và chưa tác giả nào công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận án

Đinh Đắc Thi

Trang 4

Trang bìa

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các bảng biểu, biểu đồ

Danh mục các từ viết tắt

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Quá trình hình thành và phát triển môn bóng rổ 4

1.1.1 Lịch sử phát triển bóng rổ thế giới 4

1.1.2 Sự phát triển của bóng rổ Việt Nam 5

1.2 Đặc điểm và xu thế phát triển bóng rổ 7

1.2.1 Đặc điểm chung môn bóng rổ 7

1.2.2 Những xu hướng của bóng rổ hiện đại 12

1.3 Cơ sở lý luận huấn luyện sức mạnh tốc độ bóng rổ 14

1.4 Cơ sở lý luận về kỹ thuật thể thao 18

1.4.1 Dạy học kỹ thuật thể thao 18

1.4.2 Đặc điểm huấn luyện thể thao thanh thiếu niên 26

1.5 Đặc điểm phát triển về hình thái, chức năng tâm - sinh lý của vận động viên nữ 27

1.6 Các công trình nghiên cứu liên quan 30

1.6.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 30

1.6.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 32

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 37 2.1 Đối tượng nghiên cứ u 37

2.1.1 Đối tượng chủ thể nghiên cứu 37

2.1.2 Đối tượng khách thể nghiên cứu 37

2.2 Phương pháp nghiên cứu 37

2.2.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu 37

2.2.2 Phương pháp phỏng vấn 38

2.2.3 Phương pháp quan trắc video 38

2.2.4 Phương pháp kiểm tra y sinh 39

2.2.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm 43

2.2.6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 50

Trang 5

2.3.1 Phạm vi nghiên cứu 54

2.3.2 Kế hoạch nghiên cứu 54

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 56

3.1 Nghiên cứu thực trạng trình độ tập luyện (sức mạnh tốc độ) làm cơ sở nâng cao năng lực ném rổ từ xa 56

3.1.1 Lựa chọn các chỉ tiêu, test đánh giá sức mạnh tốc độ cho nữ vận động viên Đội tuyển bóng rổ Quảng Ninh 56

3.1.2 Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá sức mạnh tốc độ của vận động viên Đội tuyển nữ bóng rổ Quảng Ninh 68

3.1.3 Đánh giá thực trạng sức mạnh tốc độ của vận động viên Đội tuyển bóng rổ nữ Quảng Ninh 74

3.1.4 Bàn luận 83

3.2 Nghiên cứu kỹ thuật ném rổ từ xa và một số yếu tố có liên quan 87

3.2.1 Phân tích kỹ thuật 87

3.2.2 Xác định các điểm cần quan sát trong kỹ thuật 93

3.2.3 Đánh giá kỹ thuật ném rổ từ xa của nữ VĐV đội tuyển bóng rổ Quảng Ninh với VĐV đội tuyển quốc gia 97

3.2.4 Bàn luận 100

3.3 Hệ thống hoá và ứng dụng các bài tập nhằm phát triển kỹ thuật ném rổ từ xa trong kế hoạch huấn luyện của Đội tuyển bóng rổ nữ Quảng Ninh 102

3.3.1 Hệ thống hoá các bài tập phát triển kỹ thuật ném rổ từ xa trong kế hoạch huấn luyện của vận động viên nữ đội tuyển Quảng Ninh 102

3.3.2 Đánh giá hiệu quả hệ thống bài tập ném rổ từ xa đối với phát triển trình độ và hiệu suất ghi điểm từ xa của Đội tuyển bóng rổ nữ Quảng Ninh 112 3.3.3 Bàn luận 146

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 152

A Kết luận 152

B Kiến nghị 153

TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

PHỤ LỤC

Trang 6

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Trang 7

2.1 Tiêu chuẩn đánh giá test Cooper của các lứa tuổi 463.1 Tổng hợp các chỉ tiêu, test làm cơ sở xây dựng tiêu chuẩn 62

đánh giá sức mạnh tốc độ của VĐV đội tuyển bóng rổ nữ

Quảng Ninh (U19)

3.2 Lựa chọn các chỉ tiêu, test (y sinh, sư phạm) đánh giá sức Sau trang

mạnh tốc độ của VĐV đội tuyển bóng rổ nữ Quảng Ninh 64(U19) qua phỏng vấn

3.3 Đánh giá độ tin cậy các test đánh giá sức mạnh tốc độ của 67

VĐV bóng rổ nữ Quảng Ninh (n=9)

3.4 Kiểm định phân phối chuẩn Shapyro - Winky về tố chất thể 69

lực VĐV bóng rổ nữ Quảng Ninh (n=9)

3.5 Tiêu chuẩn phân loại các chỉ tiêu đánh giá về tố chất thể lực 71

chuyên môn VĐV bóng rổ nữ Quảng Ninh

3.6 Bảng điểm đánh giá tố chất thể lực chuyên môn VĐV bóng rổ 73

3.11 Kết quả phỏng vấn việc ứng dụng công nghệ trong phân tích 94

các chuyển động của kỹ thuật thể thao và ném rổ từ xa (n=23)

3.12 Lựa chọn các thông số cần quan sát khi phân tích kỹ thuật 953.13 So sánh các thông số kỹ thuật ném rổ từ xa của nữ VĐV Đội 98

Trang 8

rổ 3 điểm) cho vận động viên đội tuyển bóng rổ nữ Quảng 105Ninh

3.15 Kết quả kiểm chứng hệ thống bài tập ném rổ từ xa thông qua Sau trang

3.16 Phân bổ các bài tập ném rổ từ xa trong giai đoạn I/2016 115(Tháng 1 - 3/2016)

3.17 Phân bổ các bài tập ném rổ từ xa trong giai đoạn II/2016 116(Tháng 4 - 6/2016)

3.18 Kết quả kiểm tra trình độ tập luyện qua các giai đoạn của vận 117động viên Đội tuyển nữ bóng rổ Quảng Ninh (n=9)

3.19 Kết quả phân tích phương sai ANOVA của test Lực bóp tay 126thuận (Kg)

3.20 Kết quả phân tích phương sai ANOVA của test Bật cao tại 127chỗ (cm)

3.21 Kết quả phân tích phương sai ANOVA của test Cơ lưng 128(lần/20s)

3.22 Kết quả phân tích phương sai ANOVA của test Chạy 20m 130XPC (s)

3.23 Kết quả phân tích phương sai ANOVA của test Chạy con thoi 1314x10m (s)

3.24 Kết quả phân tích phương sai ANOVA của test Cooper (m) 1323.25 Kết quả phân tích phương sai ANOVA test Chạy chữ T (s 1343.26 Kết quả phân tích phương sai ANOVA của test Dẫn bóng tốc 135

Trang 9

lên rổ 5 lần (s)

3.30 Kết quả phân tích phương sai ANOVA test Sucides Drill (s) 1403.31 Kết quả phân tích phương sai ANOVA của test Tại chỗ ném 3 141

điểm, 10x3 (quả vào)

3.32 Kết quả kiểm tra trình độ tập luyện qua các giai đoạn của vận 143

động viên Đội tuyển nữ bóng rổ Quảng Ninh (n=9)

3.33 So sánh kết quả xếp loại trình độ tập luyện giữa các giai đoạn 144

của vận động viên Đội tuyển nữ bóng rổ Quảng Ninh (n=9)

3.34 Hiệu quả ném rổ từ xa (ném rổ 3 điểm) thi đấu các giải toàn 145

quốc năm 2016 của Đội tuyển bóng rổ nữ Quảng Ninh (U19)

Danh mục các biểu đồ

3.1 Đối tượng phỏng vấn lựa chọn chỉ tiêu, test đánh giá sức 64

mạnh tốc độ cho VĐV Đội tuyển bóng rổ nữ Quảng Ninh

3.2 Kết quả phỏng vấn việc ứng dụng công nghệ trong phân tích 94

các chuyển động của kỹ thuật thể thao và ném rổ từ xa

3.3 Ý kiến chuyên gia về hệ thống bài tập nâng cao hiệu quả ném 111

rổ từ xa cho đội tuyển bóng rổ nữ Quảng Ninh

3.4 Diễn biến thành tích Lực bóp tay thuận (Kg) qua 3 giai đoạn 1193.5 Diễn biến thành tích Bật cao tại chỗ (cm) qua 3 giai đoạn 1193.6 Diễn biến thành tích Cơ lưng (lần/20s) qua 3 giai đoạn 1203.7 Diễn biến thành tích Chạy 20m XPC (s) qua 3 giai đoạn 1203.8 Diễn biến thành tích Chạy con thoi 4x10m (s) qua 3 giai đoạn 1213.9 Diễn biến thành tích Test Cooper (m) qua 3 giai đoạn 1213.10 Diễn biến thành tích Chạy chữ T (s) qua 3 giai đoạn 1223.11 Diễn biến thành tích Dẫn bóng tốc độ 20m (s) qua 3 giai đoạn 1223.12 Diễn biến thành tích Dẫn bóng luồn 5 cọc (s) qua 3 giai đoạn 1233.13 Diễn biến thành tích Di chuyển chuyền bóng 30s (điểm) qua 3 123

Trang 11

3.29 Sự khác biệt về giá trị trung bình giữa các giai đoạn trong 142

khoảng tin cậy 95% của test Tại chỗ ném 3 điểm, 10x3 (quả

3.3 Vị trí các điểm sáng cần quan sát khi VĐV thực hiện kỹ thuật 97

ném rổ từ xa

Trang 12

Chiến thuật tấn công phát triển theo xu thế tổng hợp các loại chiến thuật

và đấu pháp: Tận dụng cơ hội phản công nhanh khi có thể; Tấn công dồn dập,chiếm lĩnh vị trí và tấn công trận địa đối phương liên tục, tạo mắt xích liênhoàn giữa các đợt tấn công; Trong ngoài kết hợp, các trung phong cao, mạnhhoạt động gây áp lực lớn dưới rổ nhằm thu hút phòng thủ, tạo khoảng trốngcho vòng ngoài ném rổ Các trung phong đôi khi kéo ra ngoài cho đồng đội dễxâm nhập và kết thúc ở khu vực cận rổ Vòng ngoài luôn gây áp lực bằngnhững pha ném rổ hiệu quả nhằm kéo giãn đội hình phòng thủ, giúp trungphong có nhiều khoảng trống dưới rổ hơn [11], [17], [48]

Bóng rổ là môn thể thao của những người khổng lồ, thể hiện ở cường độvận động cao, hoạt động thi đấu rất căng thẳng, đòi hỏi VĐV phải huy độngđến cực hạn khả năng chức phận của cơ thể và các tố chất nhanh - mạnh tối

đa Mặc dù hoạt động thi đấu không liên tục song mật độ hoạt động ở cường

độ cao là rất lớn

Để có được thành tích bóng rổ như hiện tại và đào tạo được những VĐVxuất sắc, các đội bóng rổ đã chú trọng cải tiến, nâng cao kỹ thuật và phươngpháp huấn luyện, tuyển chọn Trong đó kỹ thuật ném rổ xa đạt 3 điểm rất hiệuquả, nhiều ưu thế ghi điểm, đặc biệt phù hợp với tầm vóc cơ thể hạn chế Tuyvậy, VĐV phải thành thục các loại kỹ thuật cơ bản trong bóng rổ và

Trang 13

phải được HLV lựa chọn để huấn luyện riêng trong số ít VĐV của toàn độibóng [13], [18], [45].

Ném rổ từ xa (ném rổ 3 điểm) là một trong những kỹ thuật được sửdụng tương đối nhiều trong bóng rổ chuyên nghiệp ngày nay, đặc biệt là ởGiải bóng rổ nhà nghề Mỹ (NBA) khi lối chơi tản rộng đang thịnh hành Tuynhiên để ném 3 điểm được thì người ném phải thông thạo kỹ thuật cũng nhưtập luyện lâu dài để thành thục khi vào trận Một thực tế, không có một cáchném 3 điểm nào là tuyệt đối [52], [54] Mỗi người chơi phải tự tìm ra mộtcách ném cho mình cũng như học hỏi kinh nghiệm của người chơi khác, vàrèn luyện tư thế ném cũng như phối hợp được lực toàn thân để ném rổ đạthiệu quả cao nhất

Đối với bất kỳ môn thể thao nào, quan hệ giữa tố chất thể lực và kỹthuật của VĐV đều rất chặt chẽ Đối với kỹ thuật ném rổ từ xa (được 3 điểm),

kỹ thuật này quan hệ rất lớn đối với sức mạnh, đặc biệt là sức mạnh tốc độ.Thi đấu bóng rổ còn cần nhiều loại kỹ thuật khác như giữ bóng, dẫn bóng,chuyền bóng Hiệu quả thi đấu môn thể thao còn phụ thuộc vào các tố chất thểlực khác như: sức nhanh, sức bền, mềm dẻo và khéo léo, tuy nhiên yếu tố sứcmạnh tốc độ có vai trò đặc biệt quan trọng trong huấn luyện kỹ thuật thể thaonói chung và huấn luyện kỹ, chiến thuật bóng rổ nói riêng Cơ sở lý luận vềhuấn luyện sức mạnh và kỹ thuật thể thao rõ ràng rất cần thiết để tiếp cận cácbài tập phát triển sức mạnh tốc độ liên quan đến kỹ thuật ném rổ từ xa [22],

[23], [56] Đây là lý do tôi lựa đề tài luận án:

“Hệ thống hóa các bài tập nhằm phát triển sức mạnh tốc độ thực hiện kỹ thuật ném rổ từ xa đối với vận động viên nữ bóng rổ Đội tuyển Quảng

Ninh”.

Trang 14

Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, cũng như thực trạng trình độ tậpluyện (dưới góc độ sức mạnh tốc độ) nhằm lựa chọn và hệ thống hóa các bàitập nhằm nâng cao sức mạnh tốc độ kết hợp với kỹ thuật ném bóng rổ xa cho

nữ vận động viên bóng rổ (dẫn chứng đội tuyển bóng rổ nữ Quảng Ninh)

Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu 1: Nghiên cứu thực trạng trình độ tập luyện (sức mạnh tốc

độ) làm cơ sở nâng cao năng lực ném bóng rổ từ xa

Mục tiêu 2: Nghiên cứu kỹ thuật ném rổ từ xa và một số yếu tố có liên

quan

Mục tiêu 3: Hệ thống hóa và sắp xếp các bài tập phát triển kỹ thuật

ném rổ từ xa trong kế hoạch huấn luyện của vận động viên nữ đội tuyểnQuảng Ninh

Giả thuyết khoa học:

Hiệu quả công tác huấn luyện VĐV bóng rổ nữ phụ thuộc vào rất nhiềuyếu tố, trong đó có trình độ tập luyện (chủ yếu trình độ thể lực, mà đặc biệt làtrình độ sức mạnh tốc độ) tốt để đảm bảo kỹ thuật ném rổ từ xa (ném rổ 3điểm) nhằm nâng cao hiệu suất thi đấu là vấn đề được đặt lên hàng đầu Nếunhững vấn đề then chốt này được giải quyết và đạt hiệu quả tốt, thì chắc chắntrình độ thi đấu của đội tuyển nữ bóng rổ Quảng Ninh sẽ được nâng lên

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Quá trình hình thành và phát triển môn bóng rổ

1.1.1 Lịch sử phát triển bóng rổ thế giới

Môn bóng rổ được sáng lập tại Hoa Kỳ vào tháng 12 năm 1891 doDr.James Naismith (sinh năm 1861), giáo viên giáo dục thể chất của Trườnghuấn luyện Springphild tại bang Massachusets (Mỹ), ông đã dựa theo nhữngtrò chơi với bóng được phát triển trước đây trong lịch sử như: trò chơi Pok -Tapok - ném bóng vào một vòng tròn bằng đá được đính theo chiều thẳngđứng trên tường; trò chơi Ollamalituli - ném bóng cao su vào chiếc vòng làmbằng đá để sáng tạo ra một trò chơi mới cho học sinh của mình tập luyện Do

có những nét mới lạ, sinh động và hấp dẫn chỉ sau một thời gian ngắn trò chơinày đã được công nhận, lan rộng trong toàn nước Mỹ và ngày nay đã pháttriển thành một môn thể thao hấp dẫn hàng chục triệu người trên cả hành tinh

- môn bóng rổ

Tháng 12 năm 1981 G Nâyssmit đã soạn thảo những điều luật thi đấuđầu tiên cho môn bóng rổ và dùng nó để tổ chức trận đấu Năm 1892 ông đãcho xuất bản “Sách luật chơi bóng rổ” gồm 15 điều mà phần lớn những điều

ấy dưới hình thức này hay hình thức khác vẫn được tiếp tục sử dụng cho đếnngày nay

Năm 1894, sau khi Luật bóng rổ được chính thức ban hành Giai đoạnnày bóng rổ đã phát triển sang các nước phương Đông như Nhật, Trung Quốc,Philippin rồi sang Châu Âu và Nam Mỹ Tại thế vận hội Olympic lần thứ 3năm 1904 bóng rổ được tổ chức thi đấu biểu diễn

Từ năm 1919 - 1931 hiệp hội bóng rổ của các nước được thành lập vàbắt đầu có các cuộc thi đấu giao hữu quốc tế Năm 1923 các cuộc thi đấubóng rổ quốc tế đầu tiên của nữ đã được tổ chức ở Pháp giữa đội Ý, Pháp, vàTiệp Khắc

Trang 16

Sự kiện đáng ghi nhớ trong lịch sử Bóng rổ là việc thành lập liên đoànBóng rổ Quốc tế (FIBA) vào ngày 18 tháng 6 năm 1932 Các nhà lãnh đạocủa liên đoàn 8 nước: Ý, Achentina, Hy Lạp, Latvia, Bồ Đào Nha, Rumani,Thụy Sĩ và Tiệp Khắc đã tham dự cuộc họp quốc tế đầu tiên, đưa ra những ýkiến thống nhất chung về việc thành lập Liên đoàn bóng rổ Quốc tế và thôngqua những điều luật thi đấu Năm 1935 Ủy ban Olympic Quốc tế đã đưa raquyết định công nhận môn bóng rổ là môn thể thao Olympic, năm 1936 bóng

rổ lần đầu tiên được đưa vào Thế vận hội lầ thứ 11 tổ chức tại Beclin với 21nước tham dự và đội tuyển Mỹ đã vô địch Năm 1938 giải vô địch bóng rổđầu tiên của nữ Châu Âu được tổ chức tại Rome (Y), đội nữ của Ý đã vô địch

Năm 1948 HLV người Mỹ T.Arter lần đầu tiên đưa ra môn Bóng rổmini Trò chơi này được áp dụng dành cho trẻ em ở lứa tuổi 8 - 12 và được tổchức theo các điều luật đơn giản hơn: Kích thước của bóng nhỏ hơn (Chu vi

từ 68 - 73cm; Trọng lượng từ 450 – 500g) chiều cao của rổ là 2,60m khoảngcách từ bảng rổ đến vạch phạt là 4m Kích thước của sân thi đấu: dài 28m,chiều rộng 15m và không có vòng 3 điểm, mặt bảng có chiều ngang là 1,20m,chiều thẳng đứng là 0,9m Bóng thì được ném vào rổ nên trò chơi này có tên

là “ Basketball ” (Basket-Rổ, Ball-Bóng) Trải qua hơn một thế kỷ khôngngừng phát triển đã trở thành một trong những môn thể thao quần chúng trênthế giới ưa thích nhất, với những đặc điểm là: không gian cao, tốc độ nhanh,sức mạnh lớn, kỹ năng kỹ xảo phức tạp hơn nhiều [54], [73]

1.1.2 Sự phát triển của bóng rổ Việt Nam

Cùng với sự xâm lược của thực dân Pháp, vào đầu thế kỷ XX các mônthể thao hiện đại trong đó có bóng rổ cũng theo chân đội quân viễn chinh dunhập vào Việt Nam Thời kỳ đầu bóng rổ chỉ phát triển trong phạm vi hẹptrong một số trường học, công sở và trong hàng ngũ binh lính Pháp và cũngchỉ bó hẹp ở một số thành phố lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, Huế cácmôn thể thao nói chung và bóng rổ nói riêng trong thời gian này nhìn chung

Trang 17

chỉ phục vụ riêng cho giai cấp thống trị, kỹ chiến thuật thì non kém, tư tưởngthi đấu thì cay cú ăn thua.

Cách mạng tháng 8 thành công, phong trào thể dục thể thao nói chung

và môn bóng rổ nói riêng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đãbước đầu được quan tâm phát triển đúng mức Song cuộc kháng chiến chốngPháp lại nổ ra, nền phong trào tạm lắng xuống để tập trung cho kháng chiếngiành thắng lợi Sau hòa bình lặp lại, năm 1954, ở miền bắc phong trào bóng

rổ được phát triển rộng khắp với các trung tâm: Hà Nội, Hải Phòng, QuảngNinh, Cao Bằng, Lạng Sơn, các ngành và trong lực lượng vũ trang Hàng nămđều tổ chức các giải vô địch miền Bắc: Giải hạng A, hạng B nam nữ, giải vôđịch các đội mạnh, giải thanh thiếu niên

Năm 1975, từ sau ngày đất nước thống nhất, phong trào tập luyện bóng

rổ ngày càng phát triển mạnh mẽ và có sức thu hút đông đảo thanh niên họcsinh tham gia tập luyện Chúng ta mở rộng quan hệ giao lưu với toàn thế giới.Bóng rổ đã trở thành một môn thi đấu trong hệ thống Quốc gia từ năm 1985đến nay, trải dài từ Bắc tới Nam như các đội Bắc Ninh, Yên Bái, Quảng Ninh,Phòng Không Không Quân…Khu vực miền Trung Nam bộ có các đội như:Ninh Thuận, Bình Thuận… Khu vực miền Nam có Tp Hồ Chí Minh, SócTrăng, Cần Thơ… [31]

Bóng rổ Việt Nam những năm gần đây mặc dù có sự phát triển tươngđối tốt, song một thời gian dài bóng rổ Việt Nam tiến bộ chậm, chỉ mấy nămnay, bóng rổ nước ta đã dần dần hồi phục và phát triển qua giải bóng rổ cácđội mạnh toàn quốc Năm 1996 có 7 đội nam và 6 đội nữ tham gia, trong sốcác đội đó ta thấy chỉ có 2 đội nữ có các VĐV có độ tuổi trung bình là dưới

20, còn phần đông các VĐV nam đã quá tuổi và xuống thể lực Chiều cao củacác VĐV bóng rổ nước ta nói chung rất thấp, hiệu quả thi đấu không cao,chưa có nhiều trận đấu tỉ số vượt quá 100 điểm

Trang 18

Đến nay bóng rổ thường xuyên được giao lưu và thi đấu quốc tế, cácgiải khu vực (SeaGames) và chúng ta đã mời các chuyên gia Trung Quốc, Úc,Philippin sang Việt Nam tham gia giảng dạy, huấn luyện.

Từ năm 2016 đã có Giải bóng rổ chuyên nghiệp Việt Nam (Vietnam Basketball Association), được viết tắt VBA.

1.2 Đặc điểm và xu thế phát triển bóng rổ

1.2.1 Đặc điểm chung môn bóng rổ

Bóng rổ là môn thể thao tập thể; Là môn thể thao Olympic thế giới vàthi đấu chính thức trong các kỳ đại hội thể thao Châu Á, Đông nam Á (SeaGames) Trận đấu được tổ chức thi đấu đối kháng trực tiếp trên sân kích thước28m x 15m giữa hai đội, mỗi đội 5 người trong thời gian 40 phút Mục đíchcủa thi đấu bóng rổ là hạn chế tối đa đối phương ném bóng vào rổ của mình

và cố gắng tối đa để đưa bóng vào rổ đối phương Kết quả cuối cùng của thiđấu bóng rổ rất đặc biệt: Điểm số rất cao (trung bình từ 80 - 85 điểm/trậnđấu); Tần số thay đổi các kết quả trung gian lớn (trung bình cứ 30s thay đổi tỉ

số 1 lần); Không có tỷ số hoà, tức không có tính chất thoả hiệp về trận đấu

Để đạt được mục đích trên, cả đội bóng cần có sự phối hợp thống nhất hànhđộng của các thành viên nhằm thực hiện một nhiệm vụ chung

Mỗi trận thi đấu bóng rổ diễn ra trong 4 hiệp, mỗi hiệp 10 phút khôngtính thời gian bóng chết Thời gian nghỉ giữa hiệp 1 – 2 và giữa hiệp 3 – 4 là 2phút, giữa hiệp 2 – 3 là 15 phút Mỗi đội được quyền hội ý 2 lần (1 phút/lần)trong hiệp 1-2, 3 lần trong hiệp 3-4, được sử dụng tối đa 2 lần hội ý ở 2 phútcuối của hiệp 4 và 1 lần trong từng hiệp phụ (mỗi hiệp phụ kéo dài 5 phút)[77], [81], [90], [91]

Các hành động của mỗi VĐV trên sân có định hướng cụ thể tương ứngvới các vị trí, các HLV, chuyên gia đã chia vị trí thi đấu của các cầu thủ là:Trung phong, tiền phong và hậu vệ Trung phong là các VĐV thường có chiềucao nhất trong đội, có thể lực tốt và sức bật tốt Tiền phong là các

Trang 19

VĐV có chiều cao, nhanh nhẹn và sức bật tốt, cảm giác không gian và thờigian tốt, ném rổ tốt, biết đánh giá tình huống và tấn công kiên quyết, dũngcảm Hậu vệ là các VĐV có sức mạnh, linh hoạt và bền tối đa, khôn ngoan vàthận trọng.

Sân thi đấu bóng rổ được chia ra làm 3 khu vực gồm vùng bên ngoàivạch 3 điểm 6m75 (guards), khu vực nằm giữa vòng 3 điểm tới khu vực hìnhchữ nhật (forward) và khu vực trung tâm bên trong hình chữ nhật (center).Mỗi vị trí tương ứng với khu vực hoạt động chủ yếu của mỗi cầu thủ [34]

Hậu vệ ném xa (Shooting Guard) là cầu thủ có tố chất nhanh nhẹn đểcản phá hiệu quả tiền phong đối phương, là cầu thủ chuyền bóng xa tốt nhất

và thường thực hiện ném rổ chuẩn xác ở cự ly ghi 3 điểm nhiều nhất Ngườichơi ở vị trí này cũng có thể chơi tốt ở vị trí tiền đạo phụ (small forward),người chơi cùng lúc 2 vị trí trong trận đấu được gọi là “Swingmen” [34]

Hậu vệ điều phối bóng (Point Guard): Cầu thủ ở vị trí này được coi lànhạc trưởng khi phòng thủ và phát động tấn công nên cầu thủ này phải có tốchất, kỹ thuật chuyền bóng, dẫn bóng, giữ bóng và quan sát nhạy bén tốt nhấttrong đội, người chơi ở vị trí này thường cầm bóng nhiều nhất trong đội từphần sân của mình sang sân đối phương và điều khiển hướng tấn công củađội Cầu thủ ở này có thể hình nhỏ hơn các vị trí khác nhưng ngược lại họ rấtnhanh nhẹn và xử lý bóng sắc sảo [34]

Tiền phong phụ (Small Forward): Cầu thủ chơi ở vị trí này chiếm phầnquan trọng như hậu vệ điều phối bóng trong đội bóng, chạy chỗ tạo khoảngtrống rất linh hoạt Ném bóng tốt là khả năng cần có của vị trí này Đối vớiphòng thủ, vị trí này được xem là điểm chủ chốt Tiền phong phụ là ngườichơi 1 đấu 1 hay nhất trong đội bóng và ném ở cự ly xa hay hơn người chơi vịtrí tiền đạo chính nên cầu thủ chơi ở vị trí này bắt buộc phải cao to [34]

Tiền phong chính (Power Forward) là người mạnh mẽ nhất trong tranhbóng và phòng thủ của trận đấu, chơi ở những vị trí cố định được HLV xác

Trang 20

định theo đúng chiến thuật đặt ra Phần lớn là ghi điểm cận rổ hay tranh bónggần rổ, nhiệm vụ người chơi ở vị trí này là ghi càng nhiều điểm càng tốt, vàngười chơi vị trí này thường là người chơi gần nhất với trung phong [34].

Trung phong (Center) là cầu thủ cao to nhất đội, có chức năng chơi gầntương tự như tiền phong chính, nhưng tầm hoạt động và di chuyển thì hẹphơn, với yêu cầu là tranh bóng tốt, khả năng ghi điểm ở vị trí cận rổ khi tấncông, cản phá các pha ném bóng gần rổ khi phòng thủ và phong tỏa vị trí gần

rổ không để đối phương tranh bóng ở phần sân nhà Ai chơi ở vị trí này đượcgọi là Bigman vì thể hình họ vừa cao và vừa to, ngược lại không cần đòi hỏi

tố chất nhanh nhẹn và kỹ thuật chơi bóng điêu luyện như các vị trí khác [34]

Hoạt động trong thi đấu bóng rổ rất đa dạng và thay đổi liên tục:

Trong thi đấu bóng rổ, tiến trình tấn công và phòng thủ được chuyển đổi liêntục Các VĐV khi thì lấy bóng bật bảng, khi thì ném rổ, chuyền bóng, dẫnbóng, đột phá, kèm người…Riêng về hoạt động di chuyển, nghiên cứu củaMclnnes (1995) đầu tiên đã phân thành 8 loại (Chạy: tăng tốc, giảm tốc,chuyển hướng và dừng nhanh; trượt phòng thủ: tiến về trước, lùi và sangngang; bật nhảy) và thống kê tỷ lệ thời gian thực hiện các hoạt động đó trongthi đấu bóng rổ đỉnh cao Theo quan sát, di động bước trượt phòng thủ chiếm34,6%; chạy chiếm 31,2% và bật nhảy chiếm 4.6%; ngược lại hoạt động đứng

và đi bộ chiếm 29.6% thời gian thi đấu Tần số thay đổi các hoạt động trongthi đấu bóng rổ là 997 ±183 (khoảng 2s thì có một thay đổi) [81], [85]

Điều này cho thấy các hoạt động trong thi đấu bóng rổ rất đa dạng vàbiến hóa liên tục, ngay trong một khoảng thời gian ngắn đã có nhiều chuyểnđổi qua lại giữa các dạng hoạt động, chạy tốc độ – trượt phòng thủ nhanh –

Trang 21

phút/lần) và 22,25 ± 11,8 lần dừng ngẫu nhiên khác do bóng ra biên, cầu thủphạm lỗi, ném phạt, hội ý của trọng tài …Thời gian một lần dừng ngẫu nhiên

25 – 40s Trong một hiệp tỷ lệ giữa hoạt động và nghỉ ngơi của VĐV thi đấu

là 1:1 hay ít hơn Nếu xem xét toàn trận đấu, tỷ lệ này khác biệt hơn nữa (1:1tới 1:3) Giá trị trung bình hoạt động nỗ lực cường độ cao trong một trận đấu

là 134,5 ± 32,4 lần, cường độ dưới tối đa là 150,3 ± 40,6 lần, một đợt hoạtđộng cường độ cao kéo dài từ 1,5 tới 35s; mật độ giữa hoạt động cường độcao và cường độ dưới tối đa là 1:1,12 Điều này có nghĩa là khoảng thời giandài gần 1:30 giờ thi đấu bóng rổ (tính cả thời gian nghỉ và thời gian bóngchết) được chia thành nhiều đoạn ngắn hơn kế tiếp nhau giữa hoạt động cường

độ cao và cường độ dưới tối đa hay tạm nghỉ [21], [31].

Nguồn cung cấp năng lượng trong thi đấu bóng rổ: Hoạt động thi đấu

bóng rổ rất đa dạng nên có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến nguồn cung cấp nănglượng như [9], [24], [25], [26]

Hệ cung cấp năng lượng ATP - CP: Cung cấp cho các hoạt động mangtính bột phát cao như: ném rổ, bật nhảy, xuất phát nhanh, chạy ngắn, chạychuyển hướng quãng ngắn, đột phá và trong những giây đầu tiên của một đợt

nỗ lực với cường độ cao (B)

Hệ cung cấp năng lượng ôxy hóa, cung cấp chính trong thời gian nghỉ(A) như khi tạm ngưng (1 phút), nghỉ giữa hiệp 1 - 2 và 3 - 4 (2 phút) Nghỉgiữa hiệp 3 - 4 (15 phút) và những lần nghỉ ngẫu nhiên khác như bóng ra biên,

có cầu thủ phạm lỗi hay được thay thế…

Các đợt hoạt động cường độ cao với thời gian tương đối dài (10 – 180s)(C) thì hệ thống cung cấp năng lượng đường phân yếm khí đóng vai trò chính

Hệ cung cấp năng lượng ưa và yếm khí (kết hợp):

Chủ động: Khi nhịp độ trận đấu không cao (D), cường độ từng đợt nỗ lực

hoạt động chỉ đạt khoảng 85% khả năng tối đa Khi năng lực thể chất cả haiđội đều yếu như nhau nên họ đều chủ động giảm nhịp độ trận đấu (D)

Trang 22

Bị động: Khi 1 trong 2 đội có thể lực tốt hơn Họ chủ động tăng nhịp độ

trận đấu và tới một thời điểm nào đó, khả năng cung cấp năng lượng yếm khí.Qua phân tích trên cho thấy hệ cung cấp năng lượng đóng vai trò vôcùng quan trọng trong hoạt động thi đấu bóng rổ VĐV nào khi hoạt động vớicường độ cao mà năng lực yếm khí lactic kém sẽ giảm tốc độ di chuyển,không còn khả năng đeo bám và kèm chặt đối phương

Hệ cung cấp năng lượng ôxy hóa: Cấu trúc của một trận thi đấu bóng rổđược tạo thành nhiều đợt tấn công với cường độ cao Vì vậy hệ thống cungcấp năng lượng trong thời điểm này phụ thuộc vào năng lượng yếm khí, VĐVnào có năng lực yếm khí tốt thì hệ đường phân yếm khí sẽ đóng góp nănglượng chính trong thời gian dài hơn, ngược lại VĐV nào năng lực yếm khílactic kém hơn thì hệ thống cung cấp năng lượng ôxy hóa sẽ sớm đóng vai tròchính để đảm bảo năng lượng cho hoạt động của cơ bắp Diễn biến về sinh lýkhi hoạt động cường độ cao trong thời gian dài cho thấy cùng với việc cơ chấtsinh năng lượng yếm khí giảm dần; nồng độ axit lactic tăng cao dẫn tới ức chếhoạt tính các men xúc tác tiến trình đường phân yếm khí, ngăn cản sự hìnhthành cầu nối actin và myosin do đó công suất sinh năng lượng của hệ thốngđường phân giảm và để đảm bảo duy trì hoạt động cho cơ thể, hệ thống cungcấp năng lượng ôxy hóa sẽ đóng vai trò chính Tuy nhiên, tốc độ sản sinhnăng lượng của hệ ôxy hóa chỉ bằng ½ công suất hệ đường phân yếm khí vàhoạt động cơ bắp bị ức chế do nồng độ acid lactic tăng cao dẫn tới công suấthoạt động suy giảm nghiêm trọng [61], [62], [89]

Diễn biến về sinh lý khi hoạt động cường độ cao trong thời gian dài chothấy cùng với việc cơ chất sinh năng lượng yếm khí giảm dần; nồng độ axitlactic tăng cao dẫn tới ức chế hoạt tính các men xúc tác tiến trình đường phânyếm khí, ngăn cản sự hình thành cầu nối actin và myosin do đó công suất sinhnăng lượng của hệ thống đường phân giảm và để đảm bảo duy trì hoạt độngcho cơ thể, hệ thống cung cấp năng lượng ôxy hóa sẽ đóng vai trò chính Tuy

Trang 23

nhiên, tốc độ sản sinh năng lượng của hệ ôxy hóa chỉ bằng ½ công suất hệđường phân yếm khí và hoạt động cơ bắp bị ức chế do nồng độ acid lactictăng cao dẫn tới công suất hoạt động suy giảm nghiêm trọng [26], [41], [58],[82].

1.2.2 Những xu hướng của bóng rổ hiện đại

Về xu thế bóng rổ hiện đại đã được nhiều tác giả tổng kết khá chặt chẽ

và đầy đủ Kết quả cho thấy, bóng rổ hiện đại phát triển theo 4 xu thế: (1)Ngày càng cao hơn (nhằm chiếm lĩnh không gian); (2) ngày càng nhanh hơn(nhằm tăng cường ghi điểm từ tấn công nhanh và có khả năng khống chế toàn

bộ các vị trí trọng yếu trên sân); (3) ngày càng chuẩn xác hơn (nhằm đạt mụcđích thi đấu) và (4) tinh thông kỹ chiến thuật (kỹ thuật điêu luyện nhằm thíchứng với mọi chiến thuật; chiến thuật đa dạng, biến hoá nhằm tăng áp lực tâm

lý, không cho đối phương kịp thích nghi nhằm dành thế chủ động trong thiđấu) cụ thể là [42], [43], [55], [92]

Nắm vững và tinh thông kỹ chiến thuật:

Kỹ thuật là cơ sở của chiến thuật, nhưng chiến thuật phải nhằm vậndụng và phát huy kỹ thuật có hiệu quả Về chiến thuật tấn công: Phát triểntheo xu thế tổng hợp các loại chiến thuật và đấu pháp:

Tận dụng cơ hội phản công nhanh khi có thể

Tấn công dồn dập, chiếm lĩnh vị trí và tấn công trận địa đối phươngliên tục, tạo mắt xích liên hoàn giữa các đợt tấn công

Trong ngoài kết hợp, các Trung phong cao, mạnh hoạt động gây áp lựclớn dưới rổ nhằm thu hút phòng thủ, tạo khoảng trống cho vòng ngoài ném rổ.Các trung phong đôi khi kéo ra ngoài cho đồng đội dễ xâm nhập và kết thúc ởkhu vực cận rổ Vòng ngoài thì luôn gây áp lực bằng những pha ném rổ hiệuquả nhằm kéo giãn đội hình phòng thủ, giúp trung phong có nhiều khoảngtrống dưới rổ hơn

Trang 24

Liên tục chạy xiết: Các VĐV liên tục chạy xiết, đổi cánh gây rối loạn

đội hình phòng thủ và làm cho đối phương mắc sai lầm tạo cơ hội cho độimình kết thúc rổ hiệu quả

Về chiến thuật phòng thủ: Theo xu thế nâng cao tính công kích và

giành quyền chủ động thi đấu:

Lấy bóng làm trung tâm, tổ chức “Bóng - Người - Rổ - Khu vực” thànhmột thể thống nhất khi phòng thủ Luôn gây áp lực lên người cầm bóng, dângcao đội hình, chia cắt đội hình đối phương

Tăng cường tính tổng hợp: Thể hiện qua việc kết hợp các thế mạnh củahai chiến thuật phòng thủ 1- 1 và phòng thủ liên phòng

Nâng cao tính biến hóa chiến thuật: Trong một trận đấu cần có nhiều

chiến thuật làm cho đối phương không kịp phản ứng, tạo áp lực tâm lý căngthẳng cho đối phương

Tăng cường sự phối hợp: Cần phải có sự nhạy cảm, tinh tế và hiểu rõ

nhau trong việc kết hợp phòng thủ

Nâng cao tính co duỗi trong phòng thủ: Gây áp lực lên toàn sân, nhưng

khi bị xuyên một cánh hay bị đột kích thì nhanh chóng thu gọn đội hình đểphòng thủ

Ngày càng nhanh hơn: Phát huy được tốc độ chính là giành được quyền

chủ động trong thi đấu Bóng rổ nói riêng và hoạt động thể thao nói chung

Tăng độ chuẩn xác: Dù kỹ - chiến thuật có tốt đến đâu mà không có độ

chuẩn xác thì đội bóng cũng sẽ không đạt được kết quả như mong đợi mà cókhi còn bị áp lực tâm lý dẫn đến thất bại

Chiếm ưu thế trên không: Trong thi đấu bóng rổ hiện đại thì việc chiếm

ưu thế trên không là hết sức quan trọng Vì thế bên cạnh việc phát triển chiềucao và cân nặng, cần phải tăng cường phát triển khả năng bật nhảy Do đó, cácVĐV có sức bật tốt sẽ mở rộng thêm ưu thế khống chế về không gian, khảnăng kết thúc rổ nhanh và hiệu quả, gây bất ngờ cho đối phương

Trang 25

Để có được thành tích bóng rổ như hiện tại và đào tạo được nhữngVĐV xuất sắc, các đội bóng rổ đã chú trọng cải tiến, nâng cao kỹ thuật vàphương pháp huấn luyện, đặc biệt chú trọng công tác tuyển chọn [6], [8], [16],[86].

Saiđơn (HLV người Mỹ) cho rằng việc nâng cao trình độ bóng rổ là kếtquả của sự phát triển rộng rãi môn bóng rổ trong quần chúng cộng với sựkhoa học hóa trong tuyển chọn và huấn luyện [16] Huấn luyện viên bóng rổgiàu kinh nghiệm người Mỹ, Bob Knight cho rằng: bóng rổ là môn thể thao cónhiều khả năng huấn luyện nhất và cũng có sự biến hoá đa dạng nhất [80].Tổng hợp các kỹ thuật, chiến thuật được chuẩn hoá để ứng dụng trong giảngdạy - huấn luyện cũng cho thấy mức độ phức tạp của môn thể thao này [10],[14], [16], [28], [38]

1.3 Cơ sở lý luận huấn luyện sức mạnh tốc độ bóng rổ

Khái niệm về sức mạnh tốc độ và các quan điểm về sức mạnh tốc độ cónhiều, rất đa dạng, có một số quan điểm cơ bản sau:

Theo Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn: Sức mạnh tốc độ là sức mạnhđược sinh ra trong các động tác nhanh [67]

Theo D Harre: Sức mạnh tốc độ là khả năng khắc phục lực cản với tốc

độ co cơ cao của VĐV [15]

Theo William J.Kraemer, Steven J Fleck (1993): Sức mạnh tốc độ lànăng lực biểu hiện trị số sức mạnh lớn trong một thời gian ngắn nhất [95]

Theo Nguyễn Thế Truyền và cộng sự (2002): sức mạnh tốc độ là sứcmạnh động lực tính theo đơn vị thời gian [72]

Theo Lê Bửu, Nguyễn Thế truyền (1991): Sức mạnh tốc độ là năng lựcgắng sức lớn nhất của bắp thịt thực hiện các động tác trong khoảng thời gianngắn nhất với biên độ nhất định [4]

Hoạt động thi đấu bóng rổ đỉnh cao diễn ra nhanh và liên tục, thời gian

1 trận thi đấu bóng rổ kéo dài hơn 1 giờ nên nhiều chuyên gia cho rằng nguồn

Trang 26

cung cấp năng lượng hỗn hợp ưa – yếm khí đóng vai trò chính trong hoạtđộng thi đấu bóng rổ Do đó các bài tập sức mạnh tốc độ được các HLV bóng

rổ Việt Nam huấn luyện với cường độ cao trong thời gian dài… Việc này gâymệt mỏi quá sức cho VĐV, đồng thời ảnh hưởng đến chất lượng chuyên môncũng như chất lượng buổi tập kế tiếp Do đó, các VĐV bóng rổ Việt Namthường có biểu hiện hụt hơi, rối loạn khi đối phương đẩy cao nhịp độ thi đấutrong các giải quốc tế Vậy để có cơ sở, phương tiện và biện pháp khoa họchữu hiệu cải thiện sức mạnh tốc độ, đảm bảo thể lực cho VĐV đội tuyển bóng

rổ Việt Nam trong các giải đỉnh cao [83]

Môn bóng rổ hiện đại có yêu cầu cao về sức mạnh của VĐV, biểu hiện

ở mức độ đáng kể, ở độ cao các cú nhảy, sức nhanh thực hiện với các độngtác khác nhau về tốc độ di chuyển và có ý nghĩa lớn đối với việc biểu hiện sứcbền và sự khéo léo

Trong hoạt động thi đấu tố chất thể lực sức mạnh biểu hiện phối hợpvới sức nhanh của chuyển động trong một phạm vi một kỹ xảo vận động nhấtđịnh tương đối với một kỹ thuật thi đấu đúng trong bóng rổ Theo tính chất vàmức độ biểu hiện cơ bắp, người ta thường phân biệt các năng lực sức mạnhđơn thuần theo chế độ tĩnh và vận động chậm Còn năng lực sức mạnh tốc độđóng vai trò chủ yếu trong Bóng rổ [3], [20], [21]

Theo các tài liệu khoa học, trong bóng rổ hơn 70% động tác mang tínhchất sức mạnh tốc độ Vì vậy, huấn luyện sức mạnh tốc độ là cần thiết Nănglực sức mạnh tốc độ là khả năng khắc phục các lực cản với tốc độ co cơ caocủa VĐV Sức mạnh tốc độ là một tố chất của con người mà trong quá trìnhhoạt động thể hiện ở 2 mặt là sức mạnh và tốc độ [35], [40], [69]

Trong các môn thể thao, vai trò chủ yếu sức mạnh tốc độ chiếm vị trírất quan trọng, nó được biểu hiện rõ ở các môn thể thao như: các môn ném,đẩy, chạy, nhảy…đối với từng môn khác nhau thì tố chất này đòi hỏi khácnhau

Trang 27

Thông thường để phát huy tốc độ cao nhất con người cần khắc phục lựccản khá lớn Trong trường hợp đó tốc độ đạt được phụ thuộc vào sức mạnh cơbắp mối quan hệ giữa lực và tốc độ trong các hoạt động khác nhau, về trọnglượng được biểu hiện bằng hàm số Hympebol (P + a).(P + b) = const.

Trong đó P: là lực do còn người phát huy; a, b là hằng số

Căn cứ vào logic nhất định mà phân các động tác khác nhau thành cácloại Mục đích chính của việc này là nhận thức bản chất tầng hệ và đặc điểmcủa môn thể thao để từ đó có thể tìm chọn sử dụng động tác tốt hơn Việc nàyđòi hỏi có tính khoa học, thực tế rõ ràng để tiện dụng Thông thường người taphân loại theo các kỹ năng hoạt động cơ bản đó là các kỹ năng chạy, nhảy, leotrèo, trườn, bò, mang vác…Ngoài ra, người ta còn phân loại theo các tố chấtthể lực phát triển tốc độ chính như chạy cự ly ngắn, phát triển sức mạnh như

cử tạ, …tất nhiên trong thực tế có ít những loại chỉ dựa vào phát triển một tốchất thể lực nào đó mà là kết hợp một số tố chất thể lực ưu thế [75], [97], [98]

Sự phát triển sức mạnh tốc độ không ngừng nâng cao tốc độ co cơ màcòn nâng cao sức mạnh tối đa của vận động, tốc độ vận động cao thì phải phùhợp với huấn luyện sức mạnh tối đa và sức mạnh nhanh với nhau Đó là mộtphương pháp huấn luyện rất quan trọng Việc huấn luyện này phải đảm bảomột cách tốt nhất về năng lực sức mạnh tối đa thành năng lực sức mạnh tốc

độ Vì vậy mà huấn luyện sức mạnh tốc độ yêu cầu phải chính xác về tất cảcác kỹ thuật động tác Nó là điều kiện quan trọng nhất cho việc sử dụng sứcmạnh tốc độ có hiệu quả cao và tránh sự tiêu phí năng lượng cho các hoạtđộng thừa, không hợp lý [37], [63]

Trong bóng rổ các động tác như: bật nhảy, ném rổ, phòng thủ, phảncông nhanh, đột phá đều sử dụng đến sức mạnh tốc độ, sức mạnh tối đa ở cáctình huống vào thời điểm thuận lợi tạo điều kiện dứt điểm

Trang 28

Trên thực tế để có hiệu quả trong thi đấu thì vận động viên cần phải tạo

ra những lực nhanh mạnh và bất ngờ để tạo ra một tổng hợp lực cực kỳ lớnvới tốc độ nhanh Nhưng cũng phải tính đến một khả năng là đơn vị sợi cơ vàcác nhóm cơ tham gia vào hoạt động đó, khả năng tạo nên những hưng phấn,kích thích cao và hợp lý là một yếu tố có lợi cho vận động viên khi thi đấu

Động tác nhanh và mạnh tức là đòi hỏi hiệu suất của động tác phải tối

ưu Ở đây, nhân tố lực và tốc độ tạo được bởi công suất lớn nhất mà không cóyếu tố nào có giới hạn cản trở

Trong thi đấu Bóng rổ còn phải kể đến một loại sức mạnh tốc độ nữa đó

là sức mạnh bột phát: sức mạnh bột phát phát huy một lực lớn trong khoảngthời gian ngắn nhất Để đánh giá sức mạnh bột phát người ta thường dùng chỉ

số sức mạnh tốc độ [53]:

I = Fmax ÷ tmaxTrong đó I là chỉ số sức mạnh tốc độ

Fmax: là trị số sức mạnh tối đa

tmax: là thời gian đạt được sức mạnh tối đa

Sức mạnh bột phát xuất hiện thường xuyên khi thi đấu Bóng rổ là lúcvận động viên nhảy ném, nhảy tranh cướp bóng, trong các động tác cố gắnghết mình những tình huống tưởng chừng như thất bại đó là sự co rút nhanh vàphụ thuộc vào 2 yếu tố đó là sức mạnh và tốc độ

Thực tế cho thấy đặc trưng của sức mạnh tốc độ được thể hiện ở:

Cường độ hoạt động cao

Thời gian hoạt động cho mỗi lần thực hiện

Khối lượng nhỏ, số lần lặp lại ít

Quãng nghỉ ngắn

Muốn hệ thống hóa các bài tập nhằm phát triển sức mạnh tốc độ đểthực hiện kỹ thuật ném rổ từ xa, trước tiên ta cần nghiên cứu khái quát vềhuấn luyện sức mạnh và kỹ thuật trong thể thao thành tích cao

Trang 29

Đối với bất kỳ môn thể thao nào, quan hệ giữa tố chất thể lực và kỹthuật của VĐV đều rất chặt chẽ Đối với kỹ thuật ném rổ từ xa (được 3 điểm),

kỹ thuật này quan hệ rất lớn đối với sức mạnh, đặc biệt là sức mạnh tốc độ.Tất nhiên hiệu quả thi đấu bóng rổ còn phụ thuộc vào tố chất thể lực khácnhư: sức nhanh, sức bền, mềm dẻo và khéo léo

Thi đấu bóng rổ còn cần nhiều loại kỹ thuật khác như giữ bóng, dẫn bóng,chuyền bóng [54], [93]

Như vậy, tố chất sức mạnh rất quan trọng đối với kỹ thuật ném rổ từ xa,

vì có quan hệ với sức mạnh chi dưới, lưng, tay…Nhưng muốn tìm được hay

hệ thống hóa được các bài tập phát triển sức mạnh, ta cần nắm vững lý luậnhuấn luyện sức mạnh nói chung, gồm khái niệm có liên quan, các yếu tố ảnhhưởng tới sức mạnh, các phương pháp huấn luyện sức mạnh…

Lý luận về huấn luyện kỹ thuật thể thao nói chung cũng cần được tìmhiểu như: khái niệm kỹ thuật, các phương pháp huấn luyện kỹ thuật, cácphương pháp đánh giá kỹ thuật thể thao [28], [51], [55], [56]

Cơ sở lý luận về huấn luyện sức mạnh và kỹ thuật thể thao rõ ràng rấtcần thiết để tiếp cận các bài tập phát triển sức mạnh tốc độ liên quan đến kỹthuật ném rổ từ xa (ném rổ 3 điểm)

1.4 Cơ sở lý luận về kỹ thuật thể thao

1.4.1 Dạy học kỹ thuật thể thao

Trong những năm 90 của thế kỷ trước, ở nước ta đã có một số sách lýluận về phương pháp giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao, bắt đầu đề cậptới lý luận dạy kỹ thuật thể thao Trước tiên các tác giả xác định nhiệm vụ vàđặc điểm của dạy học động tác kỹ thuật thể thao [4], [39], [67]

Trong quá trình dạy học các động tác, người ta thường phải giải quyếtcác nhiệm vụ sau:

Tạo một “vốn vận động ban đầu” làm cơ sở cho các hoạt động tiếptheo, cao hơn

Trang 30

Dùng làm các bài tập “dẫn dắt” hoặc như các phương tiện để tác động

có chủ đích đến sự phát triển các năng lực thể chất riêng

Hình thành và đạt đến một mức độ hoàn thiện cần thiết các kỹ năng và

kỹ xảo vận động cơ bản cần có trong cuộc sống hàng ngày, lao động, thể thao

và theo mức độ gắng sức; thứ ba, bởi các năng lực phối hợp vận động ở mỗigiai đoạn hay ở toàn động tác… bởi tính đơn giản hay phức tạp trong cấu trúcnhịp điệu của động tác; thứ tự, bởi mức tham gia của các cơ chế tự động bẩmsinh hay vừa tiếp thu được

Độ phức tạp về cấu trúc động tác còn phụ thuộc không nhỏ vào sự lựachọn phương pháp chủ đạo trong dạy học động tác Ví dụ, người ta chọn cáchhọc nguyên vẹn các động tác tương đối đơn giản, còn động tác phức tạp thìthường học theo từng phần rồi ghép dần chúng thành động tác hoàn chỉnh.Các đặc điểm về mối liên quan giữa các giai đoạn chuẩn bị, cơ bản và kết thúccủa động tác cũng có ý nghĩa Trong một số trường hợp, có thể bắt đầu học từphần cơ bản (ví dụ: giậm bật trong nhảy cao); trong các trường hợp khác – từphần chuẩn bị (ví dụ: bắt đầu tăng đà và chuyển thành chống gập thân khi dạyđộng tác lên gập duỗi từ tư thế chống trên xà kép) Đôi khi, lại học giai đoạnkết thúc trước (ví dụ: rơi xuống nhẹ nhàng khi dạy cho trẻ nhỏ tập nhảy) [67]

Trang 31

Đặc điểm dạy học động tác cũng phụ thuộc nhiều vào đặc điểm biểuhiện, mức độ của các tố chất thể lực khi thực hiện chúng Với các động táckhông đòi hỏi cao về các tố chất thể lực (như một số động tác cơ bản), thìkhông cần thiết phải sử dụng các bài tập chuẩn bị phát triển sơ bộ các tố chấtthể lực cần thiết Ở đây cũng nên dùng các phương pháp tập luyện ổn định lặplại Nhưng với các động tác đòi hỏi cao về sức mạnh, sức nhanh… (chạy trên

cự ly trong thời gian ngắn nhất, nhảy cao tối đa…) thì việc dạy học các độngtác càng phải gắn với giáo dục các tố chất thể lực tương ứng Tức là cần phải

có một hệ thống các bài tập chuẩn bị thể lực trước Lúc này, các kỹ xảo vậnđộng được hình thành, hoàn thiện và biến dạng căn cứ vào mức độ phát triểncác tố chất thể lực và ở những giai đoạn nhất định còn cần được đổi mới về kỹthuật (ví dụ: thay đổi kiểu nhảy cao khi đã đạt được một mức độ cần thiết vàphát triển các năng lực sức mạnh, tốc độ)

Cũng có những động tác đòi hỏi phải có tính biến dạng cao trong dạy họcnhư các môn bóng và các môn đối kháng cá nhân (vật, quyền anh, đấu kiếm) Ởđây việc dạy học động tác nhằm bảo đảm được những mối liên hệ tối ưu giữa cácyếu tố làm cho các kỹ xảo vận động củng cố và các yếu tố làm tăng tính biến đổihợp lý trong các điều kiện, tình huống thay đổi không ngừng [67]

Cơ chế và các quy luật hình thành kỹ năng và kỹ xảo vận động là cơ sởxác định các giai đoạn của quá trình dạy học động tác

Quá trình dạy học các động tác:

Giai đoạn dạy học ban đầu

Giai đoạn dạy học đi sâu

Giai đoạn củng cố và tiếp tục hoàn thiện

Trong những năm gần đây, lý luận dạy học kỹ năng vận động đã đượcnhiều tác giả hoàn thiện và bổ sung Trước tiên, các tác giả hoàn thiện về mụcđích, nhiệm vụ và căn cứ dạy học kỹ năng vận động

Trang 32

Mục đích dạy học kỹ năng là “truyền thụ kỹ năng vận động và giáo dục conngười”, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện.

Các nhiệm vụ của dạy học kỹ năng vận động là:

Nắm vững tri thức cơ bản của thi đấu, kỹ thuật cơ bản và kỹ năng cơbản (3 thứ cơ bản)

Nắm vững phương pháp thi đấu (giáo dục, huấn luyện, thi đấu, hồiphục và đánh giá), bồi dưỡng năng lực thi đấu (tự học, huấn luyện, thi đấu, tựhồi phục, tự đánh giá)

Sửa chữa động tác sai, cải tiến động tác, cố gắng nâng cao tính hiệu quả

và tính kinh tế của động tác

Dưới tiền đề sáng tạo, nâng cao trình độ kỹ thuật và chiến thuật

Tiến hành giáo dục sức khỏe và giáo dục nhân văn cho VĐV

Trong dạy học kỹ năng cho VĐV, ngày nay đặc biệt chú ý phát huy tính

tự giác và sáng tạo của vận đông viên

Những căn cứ dạy học kỹ năng vận động:

Những căn cứ sinh học [2], [10], [61], [88]:

Quá trình hình thành kỹ năng vận động Đây là một hệ thống của quátrình hình thành phản xạ có điều kiện theo các giai đoạn: nhận thức, phân loại,củng cố và tự động hóa

Quy luật chuyển dịch kỹ năng vận động: chuyển dịch kỹ năng vận động

là sau khi học một kỹ năng, tiếp tục học kỹ năng vận động khác có thể gâynên tác động ảnh hưởng tiêu cực hoặc tích cự Trong trường hợp này, HLVphải có cách tận dụng sự chuyển dịch ảnh hưởng có lợi cho kỹ thuật mới hoặcphát triển tố chất thể lực mới

Những căn cứ tâm lý học:

Xây dựng động cơ học kỹ năng vận động chính xác

Gây hứng thú, thỏa mãn nhu cầu dạy và học, chú ý tích lũy tri thức.Tạo các phản xạ có điều kiện

Trang 33

Những căn cứ xã hội học:

Tích cực cải thiện quan hệ giữa dạy và học: cải thiện quan hệ cộng tác;hài hòa giữa người và người; hợp lý hóa mối quan hệ tổ chức

Thỏa mãn nhu cầu của xã hội

Nhấn mạnh tinh thần phối hợp nhóm

Nguyên tắc dạy học là những phép tắc cơ bản của các quy luật đặt ratrong quá trình dạy học căn cứ vào mục đích dạy học và kỹ năng vận động.Giá trị chủ yếu của nguyên tắc dạy học là giúp HLV có căn cứ chủ yếu để chỉđạo công tác giảng dạy Các nguyên tắc dạy học kỹ năng vận động chủ yếubao gồm:

Nguyên tắc tư duy kết hợp với thao tác Đây là nguyên tắc khác biệt vớicác phương pháp giảng dạy nói chung Khi dạy và học kỹ năng vận động,VĐV không chỉ thao tác kỹ thuật động tác mà còn được HLV hướng dẫn tưduy và giải thích những vấn đề có liên quan về sinh cơ, sinh lý, sinh hóa vàđặc điểm cá nhân, đặc điểm môn thể thao

Nguyên tắc trực quan: là nguyên tắc tận dụng triệt để phương phápgiảng dạy trực quan để tăng tính tư duy và thực tiễn tích cực của VĐV Đây lànguyên tắc quán triệt từ khi bắt đầu giảng dạy động tác tới khi hoàn thiện vànâng cao chất lượng, thực hiện động tác mang tính sáng tạo

Nguyên tắc kết hợp thích ứng lượng vận động với thực tế cá thể VĐV.Đây là nguyên tắc dạy kỹ năng vận động kết hợp sắp xếp lượng vận độngthích hợp với cá thể VĐV về trí lực, thể lực, tâm lý để nâng cao chất lượng kỹthuật vận động Nguyên tắc này cũng được ứng dụng vào thực tế ngay từ khíbắt đầu dạy kỹ năng vận động tới khi VĐV có thể thực hiên kỹ năng vận độngmột cách sáng tạo

Nguyên tắc kết hợp nắm vững kết cấu với bồi dưỡng năng lực: đây lànguyên tắc giúp cho VĐV nắm vững tri thức và kỹ năng của kết cấu động tác

Trang 34

cơ bản, đồng thời chú trọng bồi dưỡng những năng lực đột xuất cá biệt củaVĐV.

Nguyên tắc sáng tạo: đây là nguyên tắc dạy học kỹ năng vận độngkhuyến khích sự sáng tạo của VĐV và tư duy nhận thức về kỹ năng động tácnhằm hoàn thiện ở mức độ cao nhất về chất lượng động tác kỹ thuật kết hợpvới chiến thuật

Nguyên tắc thực sự cầu thị: đây là nguyên tắc trên cơ sở nắm vữngđộng tác nhất định, tiếp tục cầu thị gia cố thêm để kỹ thuật động tác trở nên ổnđịnh ở trình độ cao Trong khi thực hiện nguyên tắc này chú trọng đòi hỏi tínhchính xác cao và hoàn thiện từng chi tiết kỹ thuật động tác, ứng dụng tốt trongthực tiễn thi đấu

Sự lựa chọn phương pháp dạy học phụ thuộc vào đối tượng và nộidung, nhưng cũng có thể có những phương pháp dạy học chung giống nhưnhững quy luật của dạy học

Dưới đây xin trình bày phương pháp dạy học kỹ năng vân động chungcần vận dụng thích hợp với từng đối tượng, từng nội dung dạy học khác nhau

Có thể định nghĩa về phương pháp dạy học kỹ năng vận động nói chung

là, phương pháp hoạt động về nhận thức và thực tiễn của HLV và VĐV cầnthực hiện đề hoàn thành nhiệm vụ dạy học vận động chung Giá trị củaphương pháp dạy học kỹ năng vận động bao gồm: thực hiện mục tiêu dạy học,bồi dưỡng năng lực Các phương pháp dạy học kỹ năng vận động nói chungbao gồm những phương pháp chủ yếu dưới đây [51], [67], [89]:

Phương pháp dạy học vận động (phương pháp hướng dẫn dạy học vậnđộng) Đây là phương pháp do HLV chỉ dạy cho VĐV học kỹ thuật, chiếnthuật bao gồm: Phương pháp ngôn ngữ (phương pháp giảng giải, phươngpháp bình luận giá trị từng ngôn ngữ); phương pháp trực quan (phương phápthị phạm động tác, phương pháp thị phạm so sánh, phương pháp giáo cụ trựcquan như xem hình vẽ, kết cấu…); phương pháp hiệu chỉnh (hiệu chỉnh

Trang 35

nguyên nhân cơ bản dẫn đến động tác sai, hiệu chỉnh cụ thể về mục đích, mức

độ trực quan, tăng cường bảo hộ, cải thiện hoàn cải môi trường tập luyện);phương pháp dẫn chứng (dẫn chứng điển hình, có trọng điểm…); phươngpháp quan trắc video hoặc mô hình hóa bằng phần mềm vi tính [7], [35], [58]

Phương pháp học vận động: Phương pháp học vận động là phươngpháp học tập và tự học của VĐV dưới sự chỉ đạo của HLV Bao gồm [60]:

Phương pháp tập luyện tưởng tượng Đây là phương pháp trước khiVĐV thực hiện động tác kỹ thuật cần hồi tưởng lại những lời giảng giải, nhữngchi tiết động tác kỹ thuật, sự phối hợp kỹ thuật hoặc chiến thuật đã được HLVchỉ dạy để đảm bảo tốt hiệu quả

Phương pháp hoàn chỉnh và phương pháp phân giải: phương pháp hoànchỉnh là phương pháp tập luyện của VĐV không gián đoạn từ đầu đến kếtthúc kỹ thuật Phương pháp phân giải là phân tích kỹ thuật hoàn chỉnh ra làmnhiều khâu, nhiều chi tiết kỹ thuật để tập Ngay cả khi đã hoàn thiện kỹ thuật,nếu cần vẫn phải tập nâng cao chất lượng của một khâu hay một kỹ thuật đơn

lẻ nào đó trong toàn bộ kỹ thuật hoàn chỉnh

Phương pháp tự đọc: đây là phương pháp tự VĐV tìm tư liệu để tự đọc,tìm hiểu thêm nguyên lý kỹ thuật

Phương pháp quan sát: đây là phương pháp quan sát các kỹ thuật mẫumực của VĐV trình độ cao khác để ứng dụng thích hợp cho mình

Phương pháp sáng tạo: đây là phương pháp do VĐV căn cứ quy luật,nhiệm vụ và đặc điểm của mình để tập luyện mang tính sáng tạo, đặc biệt khiứng dụng kỹ - chiến thuật vào thực tiễn thi đấu

Khi dạy học kỹ thuật vận động, HLV và VĐV phải đặc biệt chú trọngtới ý tưởng giáo dục con người: giáo dục lý tính, ý chí; giáo dục sự đam mêbằng những phương pháp như thảo luận, hỗ trợ, chú trọng hành vi….Giáo dụccon người có quan hệ chặt chẽ với nâng cao trình độ văn hóa thể thao thànhtích cao [30]

Trang 36

Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng vận động có rấtnhiều, ở đây chỉ trình bày khái quá một số nhân tố chính [78], [79], [84]:

Tính chủ động học tập: đây là mức độ ảnh hưởng về trình độ nhận thức

và trạng thái tâm lý của VĐV Vận động viên có động cơ học tập tốt, có ý chíhọc tập ngoan cường dễ có tính chủ động học tập Quá trình học tập có tínhchủ động cao sẽ đem lại hiệu quả tốt

Tham số sinh vật học: Tham số sinh vật học đối với VĐV bao gồm thứ

nhất; kỹ năng vận động nếu có tức là mức độ tồn tại của các tham số kỹ năngtrong hệ thống thần kinh trung ương của VĐV; thứ hai, tố chất di truyền trong

đó có năng lực học tập, cũng liên quan tới năng lực tổ chức của hệ thống thầnkinh trung ương Năng lực tổ chức của hệ thống thần kinh trung ương quyếtđịnh sự thích ứng của VĐV đối với môi trường học tập

Tính nhạy cảm đối với điều kiện học tập ban đầu: ngay từ đầu nếu thiếu

tính nhạy cảm, không nhìn nhận chính xác đối với các điều kiện, hành vi,nhận thức, sẽ ảnh hưởng lớn tới tư duy của cả quá trình học tập

Quan hệ giữa lượng và chất: cũng như quy luật trong triết học, quá

trình học tập kỹ năng vận động cũng là quá trình tích lũy về lượng, luyện tậpnhiều loại hình động tác, lặp đi lặp lại nhiều lần, kiên trì luyện tập, cuối cùngmới có thể đảm bảo thực hiện kỹ năng vận động với chất lượng tốt

Nhạy cảm của lứa tuổi và cơ cấu thần kinh: Hubel và Wiesel cho rằng.

Học tập có thể phát sinh sự đột biến, nhưng ở động vật chỉ thường thấy sự độtbiến nhạy cảm nhất ở thời kỳ sau khi sinh không lâu Do vậy huấn luyện sớm,khi hệ thần kinh trung ương đang hoàn thiện, rất có lợi cho học tập kỹ năngvận động Nhưng đối với từng môn thể thao, thời điểm huấn luyện chuyênmôn hóa sớm vẫn còn là vấn đề cần thảo luận thêm

Tất nhiên còn nhiều nhân tố khác ảnh hưởng tới quá trình học tập kỹnăng vận động như nhiệt độ, trạng thái kích thích, biến đổi nhịp sinh họctrong ngày, tháng, năm…

Trang 37

1.4.2 Đặc điểm huấn luyện thể thao thanh thiếu niên

Khách thể nghiên cứu của đề tài là đội tuyển bóng rổ trẻ nữ QuảngNinh, đều đang là học sinh trung học phổ thông, vì vậy khi huấn luyện phảidựa trên cơ sở sinh lý của các VĐV Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, đặc điểmquan trọng của công việc huấn luyện thể thao cho thanh thiếu niên là quá trìnhhuấn luyện diễn ra trên một cơ thể còn đang trưởng thành và phát triển Tronghuấn luyện thể thao đối với thanh thiếu niên thường tồn tại khái niệm tâm -sinh lý lứa tuổi Đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi được xem xét một cách hữu

cơ trong toàn bộ quá trình huấn luyện, nhất là huấn luyện thể thao cho thanhthiếu niên [3], [15], [51]

Trong huấn luyện thể thao thanh thiếu niên cần phải đặc biệt lưu ý đến

sự phù hợp giữa lượng vận động tập luyện và thi đấu với mức độ phát triểntâm - sinh lý của các em Cơ thể thanh thiếu niên, nếu tập luyện nóng vội, rútngắn giai đoạn, sử dụng các bài tập chuyên môn hạn hẹp cũng có thể gây ranhững ảnh hưởng xấu Vì vậy những bài tập phát triển toàn diện, với lượngvận động tối ưu phải được ưu tiên sử dụng trong các kế hoạch huấn luyện thểthao thanh thiếu niên [51]

Khả năng vận động của cơ thể thanh thiếu niên cũng tuân theo nhữngđặc điểm lứa tuổi Quá trình mệt mỏi của VĐV thanh thiếu niên cũng phụthuộc vào đặc điểm lứa tuổi được thể hiện ở hai mặt Thứ nhất, trong giaiđoạn mỏi mệt khả năng vận động nói chung cũng như những chỉ số riêng nhưtần số động tác, sức mạnh, độ chuẩn giảm rõ nếu so với người lớn Thứ hai

là, mệt mỏi ở thanh thiếu niên xuất hiện ngay cả khi môi trường bên trong của

cơ thể mới chỉ có những biến đổi tương đối nhỏ

Lứa tuổi còn ảnh hưởng tới cả tính chất của quá trình hồi phục sau vậnđộng Sau tập các bài yếm khí thời gian ngắn thì phục hồi khả năng vận động,các chức năng sinh lý và dinh dưỡng ở trẻ em xảy ra nhanh hơn so với người

Trang 38

lớn Nhưng sau các bài tập kéo dài như phát triển sức bền, các VĐV thanhthiếu niên lại hồi phục chậm hơn so với người lớn [71]

Đặc điểm quan trọng của công tác huấn luyện thể thao cho VĐV trẻ làquá trình huấn luyện diễn ra trên cơ thể trẻ còn đang trong quá trình trưởngthành và phát triển, nên điều đó làm cho công tác huấn luyện càng trở nên khókhăn và phức tạp Vì thế, để huấn luyện đạt được thành tích đòi hỏi HLV phảinắm vững các đặc điểm lứa tuổi cũng như áp dụng chúng phù hợp với mụctiêu và nội dung huấn luyện

Trong huấn luyện thể thao cho VĐV trẻ không chỉ cần chú ý tới đặcđiểm sinh lý mà còn phải quan tâm tới yếu tố tâm lý Sự kết hợp hoàn hảo tâm– sinh lý lứa tuổi với lượng vận động phù hợp sẽ góp phần thúc đẩy quá trìnhsinh trưởng, phát triển của các em diễn ra tốt hơn, đồng thời cũng là yếu tốquan trong quyết định thành tích tập luyện và thi đấu của các em

Với cơ thể thanh thiếu niên, tập luyện nóng vội, “đốt cháy giai đoạn”không những không đạt được thành tích thể thao mà còn gây ra những ảnhhưởng xấu tới sự phát triển bình thường của các em Vì thế những bài tập pháttriển toàn diện, với lượng vận động tối ưu phải được ưu tiên sử dụng trong kếhoạch huấn luyện cho VĐV trẻ

1.5 Đặc điểm phát triển về hình thái, chức năng tâm - sinh lý của vận động viên nữ

Cơ thể phụ nữ so với nam giới có hàng loạt những đặc điểm riêng vềhình thái cũng như về chức năng Khi so sánh những chỉ tiêu về hình thái, cóthể nhận thấy chiều cao đứng và cân nặng trung bình của cơ thể phụ nữ thấphơn của nam Các số liệu theo dõi của nhiều tác giả đều cho rằng, ở mọi dântộc, nữ thường thấp hơn nam giới khoảng 10% Do đó, sự khác biệt chiều caonhư vậy, nên hầu như tất cả các chỉ số hình thái khác cũng có sự khác nhautương tự Chiều dài các bộ phận cơ thể, chiều dài các chi của phụ nữ đều ngắnhơn nam giới theo tỷ lệ 1/1,1 Tuy nhiên trong các chỉ số dài – rộng thì chiều

Trang 39

rộng vai của phụ nữ nhỏ hơn của nam giới rõ rệt (lớn hơn 1/1,1) trong khirộng hông lại lớn hơn tỷ lệ bình thường Các chỉ số vòng đùi, vòng cánh tay,vòng ngực cũng như các số đo các vòng khác, như đường kính cơ, mạch máu,diện tích bề mặt cơ thể, bề mặt phổi… của phụ nữ đều nhỏ hơn của nam giới:

về lý thuyết sự khác biệt đó theo tỷ lệ 1/1,21 Các chỉ số về thể tích, như thểtích phổi, thể tích các buồng tim, thể tích máu lưu thông… của phụ nữ thấphơn của nam giới theo tỷ lệ 1/1,33 Trọng lượng cơ thể phụ nữ trong nhữngđiều kiện tương tự cũng thấp hơn của nam giới khoảng 1,33 lần [2], [10], [25]

Ngoài những khác biệt chung về bản chất do sự khác nhau về chiều cao

cơ thể quyết định đã nêu trên, cơ thể phụ nữ còn có một số đặc điểm riêng cầnlưu ý Sự khác biệt giới tính thể hiện rất rõ ở cấu tạo cột sống Tỷ lệ của đốtsống ngực so với toàn bộ cột sống ngắn hơn ở nam giới, trong khi các đốtsống cổ và thắt lưng lại dài hơn Do vậy, cột sống của phụ nữ linh hoạt hơn sovới nam giới Độ linh hoạt của cột sống còn được tăng cường thêm do dâychằng và đĩa sụn chêm ở cột sống của phụ nữ có độ đàn hồi tốt hơn [2], [25]

Trọng lượng tổ chức mỡ của phụ nữ chiếm khoảng 25% trọng lượng cơthể, trong khi ở nam giới mỡ chỉ chiếm khoảng 15% Ngược lại, phụ nữ có tỷ

lệ cơ nhỏ hơn nam giới, ở phụ nữ trọng lượng cơ thể chiếm khoảng 30% trọnglượng cơ thể trong khi ở nam giới là 40%, ở nữ VĐV tỷ lệ này ít hơn rất nhiều

so với phụ nữ không tập luyện thể thao Do mỡ hầu như không chứa nước nênlượng nước trong cơ thể phụ nữ thấp hơn của nam giới rõ ở phụ nữ lượngnước chỉ chiếm 55%, trong khi ở nam giới là 70% trọng lượng cơ thể

Bộ xương phụ nữ phát triển kém hơn của nam Một số xương nhỏ hơn,thành xương mảnh và mềm hơn, bề mặt xương nhẵn Những đặc điểm cấu tạoxương như vậy làm khả năng chịu trọng tải của phụ nữ kém hơn Cùng vớinhững hạn chế về mức độ phát triển cơ, dây chằng… phụ nữ dễ bị chấnthương hơn khi mang vác, va chạm trong tập luyện và thi đấu thể thao

Trang 40

Hô hấp ở phụ nữ mau hơn (20-24 lần/phút), độ sâu hô hấp, không khíphổi và dung tích sống thấp hơn so với nam [25] Lượng hồng cầu,Hêmôglôbin trong máu ít hơn, nhưng tốc độ lắng máu cao hơn so với nam.Kích thước tim ở 48% nữ VĐV không thay đổi về hình thái, sự phì đại củatâm thất trái thấy ở 42% và phì đại của cả hai thất là 10% Tần số co bóp củatim có thể giảm 42-48l/ph (10-12 l/ph thấp hơn so với nữ không tập thể thao).Huyết áp động mạch tối đa giảm trung bình từ 8-10 mlHg, huyết áp tối thiểu5-10mlHg ở các nữ VĐV phản ứng mạch và huyết áp tới thử nghiệm chứcnăng ít biểu hiện hơn so với những người không tập và thời kỳ hồi phục sautest thử nghiệm ngắn hơn Do ảnh hưởng của tập luyện, tần số hô hấp giảm từ6-8 l/ph, dung tích sống tăng từ 1000 - 1500ml, thậm chí ở một số nữ VĐVdung tích sống đạt tới 5000ml [60].

Để xác định nội dung và phương pháp tập luyện, đặc biệt trong cácVĐV nữ đỉnh cao, nhất thiết phải tính đến đặc điểm của cơ thể phụ nữ trongthời kỳ kinh nguyệt Thường kinh nguyệt bắt đầu ở lứa tuổi 12 - 15, cá biệt ởlứa tuổi 16 - 18, và kéo dài từ 2 - 7 ngày Chu kỳ kinh là 24 - 30 ngày Tậpluyện với lượng vận động lớn, căng thẳng có thể làm kéo dài chu kỳ kinhnguyệt tới 36 - 42 ngày Đại đa số các VĐV nữ (50 - 70%), kinh nguyệt xảy rabình thường và không gây ảnh hưởng tới khả năng làm việc Tuy vậy thời kỳnày vẫn có ở một số phụ nữ phát hiện thấy sự giảm các thông số chức năngnhư: giảm lưu lượng phút của máu, giảm % sự hấp thụ ôxy tối đa, huyết ápđộng mạch giảm, hô hấp chậm hơn, làm giảm dung tích sống và có nhữngcảm giác đau đớn vùng bụng dưới, cảm giác bất an, nóng nảy vô cớ, như mộtcăn bệnh mãn tính Sự ổn định và bất ổn của chu kỳ kinh nguyệt có ý nghĩaquan trọng đối với việc trong những ngày có kinh cho phép phụ nữ tham giatập luyện hay không Đối với những phụ nữ có chu kỳ kinh ổn định, có cảmgiác tốt và sự thích nghi cao với lượng vận động vẫn có thể tập luyện bìnhthường Tuy nhiên các nữ VĐV có đẳng cấp thể thao cao, tập luyện có hệ

Ngày đăng: 07/03/2020, 04:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w