QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK (Luận văn thạc sĩ)QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK (Luận văn thạc sĩ)QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK (Luận văn thạc sĩ)QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK (Luận văn thạc sĩ)QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK (Luận văn thạc sĩ)QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK (Luận văn thạc sĩ)QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK (Luận văn thạc sĩ)QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK (Luận văn thạc sĩ)QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK (Luận văn thạc sĩ)QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK (Luận văn thạc sĩ)QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Trần Hữu Nam Học viên lớp cao học luật hiến pháp và luật hành chính Học viện Khoa Học xã hội
Tôi xin cam đoan như sau:
Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS.TS Hoàng Thế Liên
Công trình nghiên cứu này không trùng lắp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại tại Đắk Lắk
Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này./
Đắk Lắk, ngày 31 tháng 10 năm 2019
Người cam đoan
Trần Hữu Nam
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả của một quá trình Học tập, nghiên cứu, kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác và cùng với sự nỗ lực cố gắng của bản thân
Đạt được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý Thầy, Cô giáo Học viện Khoa học xã hội đã nhiệt tình truyền đạt các kiến thức quý báu trong thời gian qua, đã tạo tiền đề và nền tảng vững chắc cho quá trình nghiên cứu Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến GS.TS Hoàng Thế Liên là người trực tiếp hướng dẫn khoa Học và đã dày công giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi cũng chân thành cảm ơn đến tập thể Công chức ngành Tư pháp tỉnh Đắk Lắk đã nhiệt tình hỗ trợ cung cấp thông tin, nguồn số liệu quan trọng để tôi nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp hữu ích cho luận văn này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân luôn bên cạnh động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không thể không tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của quý Thầy,Cô giáo; quý bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn trong thời gian tới
Xin chân thành cảm ơn!
Đắk Lắk, ngày 31 tháng 10 năm 2019
Học viên thực hiện
Trần Hữu Nam
Trang 5MỤC LỤC
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn 6
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 8
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 9
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 9
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 10
7 Kết cấu luận văn 10
Chương 1 11
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG CHỨNG 11
1.1 Công chứng 11
1.1.1 Khái niệm công chứng 11
1.1.2 Phân loại công chứng 14
1.2 Quản lý nhà nước về công chứng 15
1.2.1 Khái niệm 15
1.2.2 Chủ thể quản lý nhà nước về công chứng 18
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về công chứng 21
1.2.4 Sự cần thiết quản lý nhà nước đối với các công chứng 26
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về công chứng 29
1.3.1 Mức độ hoàn thiện của thể chế quản lý nhà nước về công chứng 29
1.3.2 Năng lực quản lý nhà nước về công chứng 30
1.3.3 Nhu cầu xã hội về công chứng và sự phát triển của công chứng 31
Tiểu kết chương 1 31
Chương 2 32
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK 32
2.1 Khái quát vị trí địa lý, tình hình dân cư, kinh tế - xã hội của Đắk Lắk có ảnh hưởng đến hoạt động công chứng 32
2.1.1.Đặc điểm tự nhiên 32
Trang 62.1.2.Đặc điểm hành chính, kinh tế, xã hội 33
2.1.3 Đặc điểm dân cư 34
2.2 Thực trạng Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk 36
2.2.1 Về xây dựng và ban hành các văn bản quản lý nhà nước 36
2.2.2 Tổ chức bộ máy, nhân lực quản lý nhà nước về công chứng của tỉnh Đắk Lắk39 2.2.3 Mạng lưới các công chứng 40
2.2.4 Thực hiện chủ trương chuyển giao các hợp đồng, giao dịch từ UBND cấp huyện, UBND cấp xã sang các công chứng 45
2.2.5 Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đối với các công chứng 45
2.3 Đánh giá thực trạng Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk 49
2.3.1 Kết quả đạt được và nguyên nhân 49
2.3.2 Hạn chế, bất cập và nguyên nhân 53
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 56
Chương 3 58
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI 58
VỚI CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK 58
3.1 Định hướng hoàn thiện Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk 58
3.2 Một số giải pháp nhằm tăng cường Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk 59
3.2.1 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý nhà nước về công chứng trên địa bàn tỉnh 59
3.2.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ công chứng viên theo hướng chuyên nghiệp hoá 61
3.2.3 Tiếp tục quy hoạch và thực hiện có hiệu quả quy hoạch phát triển công chứng đến năm 2020 63
3.2.4 Xây dựng cơ sở dữ liệu ngăn chặn cho công chứng 66
3.2.5 Bổ sung số lượng và nâng cao năng lực đội ngũ làm công tác quản lý nhà nước về công chứng 68
3.2.6 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công chứng 69
Trang 73.2.7 Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra của Sở Tư pháp đối với các
công chứng 72
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 73
PHẦN KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 8
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Hoạt động công chứng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh
tế-xã hội Dưới góc độ các giao dịch về dân sự, văn bản công chứng là một trong những công cụ pháp lý không thể thiếu nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, phòng ngừa tranh chấp, tạo ra sự ổn định trong các quan hệ giao dịch của các tổ chức và cá nhân Mặt khác, về phương diện Nhà nước, văn bản công chứng tạo
ra một bằng chứng xác thực, kịp thời, không ai có thể phản bác, chối cãi, trừ trường hợp có ý kiến của người thứ ba và được quá trình tố tụng tuyên bố vô hiệu Về giá trị pháp lý, văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên có liên quan, trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng có thoả thuận khác Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ, những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Toà án tuyên bố là vô hiệu
Chế định về công chứng được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự năm 1995,
Bộ luật Dân sự 2005, Bộ luật dân sự 2015 và các luật chuyên ngành, do đó văn bản được công chứng có giá trị giao kết công chứng viên với vai trò như một thẩm phán “phòng ngừa”, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức trong các giao dịch Đồng thời, đây là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp khi buộc các bên tham gia giao dịch phải xác nhận tính xác thực của hợp đồng, cũng như địa vị, trách nhiệm pháp lý trong tham gia giao dịch Vì vậy, việc bắt buộc công chứng các loại hợp đồng trong giao dịch liên quan đến kinh tế, dân
sự buộc các bên giao kết có nghĩa vụ thi hành, sẽ tránh được nhiều rắc rối trừ Toà án tuyên vô hiệu Thông qua việc đảm bảo tính an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch dân sự và kinh tế, hoạt động công chứng đã góp phần tạo lập môi trường pháp lý tin cậy cho các hoạt động đầu tư kinh doanh, thương mại Đồng thời, cũng góp phần quan trọng vào tiến trình cải cách hành chính và cải cách tư pháp, được Ban Chỉ đạo cải cách Tư pháp Trung ương ghi nhận và đánh giá cao
Tuy nhiên, từ thực tiễn triển khai thực hiện Luật công chứng cho thấy, hoạt động công chứng đã bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế như: công chứng là dịch
vụ công, do thiếu quy hoạch tổng thể phát triển công chứng, có địa bàn các Văn
Trang 9phòng công chứng phát triển quá nhanh, trong khi đó nhiều địa bàn, nhất là ở các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa lại không có công chứng để cung cấp dịch vụ này cho người dân; chất lượng đội ngũ công chứng viên, chất lượng hoạt động công chứng còn nhiều bất cập; nhiều công chứng được thành lập theo loại hình doanh nghiệp tư nhân (Văn phòng công chứng do một công chứng viên thành lập), thiếu tính ổn định, chưa bền vững; chưa xác định rõ địa
vị pháp lý, quyền và trách nhiệm của công chứng viên; tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm công chứng viên có điểm còn dễ dãi, thiếu quy định về chế độ bồi dưỡng bắt buộc đối với công chứng viên đang hành nghề nên khó bảo đảm chất lượng văn bản công chứng; quy định về điều kiện thành lập Văn phòng công chứng chưa gắn với tính chất đặc thù của nghề công chứng; thực tiễn hoạt động công chứng phát sinh nhiều vấn đề như Văn phòng công chứng tạm ngừng hoạt động, chuyển nhượng Văn phòng công chứng, công chứng viên làm việc theo chế độ hợp đồng nhưng chưa có quy định điều chỉnh dẫn đến lúng túng trong thực hiện; các quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng còn chưa đầy đủ, thiếu chặt chẽ, chưa theo kịp với sự phát triển và yêu cầu xã hội hoá; thiếu quy định về việc công chứng viên tham gia tổ chức xã hội - nghề nghiệp để phát huy vai trò tự quản của công chứng viên phù hợp với đặc thù của nghề công chứng và thông lệ quốc tế…
Là một địa bàn thuộc khu vực Tây Nguyên, tỉnh Đắk Lắk có 16 công chứng, trong đó có 14 Văn phòng công chứng và 02 Phòng công chứng được
bố trí trên địa bàn 13 huyện, 01 thị xã và 01 thành phố Việc phát triển của các Văn phòng công chứng trong xu hướng xã hội hoá dịch vụ công trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã đặt ra những nội dung, yêu cầu quản lý nhà nước đối với các Văn phòng công chứng là hết sức cần thiết và rất quan trọng Đặc biệt, với sự
ra đời của Luật công chứng năm 2014 có hiệu lực ngày 01/01/2015 đã đặt ra nhiều vấn đề triển khai trong thực tiễn quản lý nhà nước đối với các Công chứng nói chung, ở tỉnh Đắk Lắk nói riêng Đê nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công chứng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã đặt ra nhiều vấn
đề lý luận, pháp lý cần phải giải đáp thấu đáo, có căn cứ khoa Họcvà thực tiễn
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” là yêu cầu tất yếu khách quan, cấp thiết cả về lý luận và thực
tiễn
Trang 102 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: “Quản lý nhà nước
về công chứng từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk”, cho thấy các nhà khoa Học đã tiếp
cận theo nhiều cách, với những cấp độ khác nhau Có thể kể đến một số công trình khoa Học như:
Tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy, các sách chuyên khảo, luận án, luận văn đều đã tiếp cận ở những nội dung cụ thể có liên quan đến đề tài để giải quyết mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề ra Trong chừng mực nhất định, các nghiên cứu trên đây đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng về quản lý nhà nước về công chứng
Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn
diện, có hệ thống và chuyên biệt về “Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” Luận văn là công trình khoa Học đầu tiên nghiên cứu
một cách toàn diện, chuyên biệt và có hệ thống về vấn đề này dưới góc độ của khoa Họcluật hiến phápvà luật hành chính Với kết quả nghiên cứu của luận văn, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần khắc phục trình trạng nêu trên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn:
Luận văn hướng tới làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực trạng quản lý nhà nước về công chứng để đưa ra các quan điểm, phương hướng và giải pháp hoàn thiện Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:
Để thực hiện mục đích trên đây, luận văn có các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, xây dựng cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về công chứng
thông qua việc làm rõ khái niệm công chứng; đặc điểm công chứng; vai trò của công chứng; phân tích, rút ra khái niệm quản lý nhà nước về công chứng; xác định nội dung và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về công chứng
Thứ hai, trên cơ sở phân tích thực trạng Quản lý nhà nước về công chứng
từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk, luận văn đánh giá chung về những kết quả đạt được,
những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế này
Trang 11Thứ ba, trên cơ sở hệ thống lý thuyết của chương 1, kết quả phân tích,
đánh giá thực trạng ở chương 2, luận văn đề xuất các quan điểm, phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với tổ chức hành nghề chứng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn:
Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk
Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Từ yêu cầu của mã số và chuyên ngành Luật Hiến pháp và luật hành chính, luận văn xác định phạm vi nghiên cứu gồm các nội dung quản lý nhà nước về công chứng theo nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk và Sở Tư pháp từ năm 2013 đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về quản lý nhà nước về công chứng- đối tượng có tính đặc thù cao Đồng thời, luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, dự báo để chọn lọc tri thức khoa học để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu của chủ đề luận văn
Phương pháp tổng hợp được sử dụng trong việc hệ thống hoá các vấn đề
lý luận về quản lý nhà nước về công chứng, làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu làm rõ khái niệm, đặc điểm và vai trò của công chứng và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về công chứng
Phương pháp phân tích được sử dụng trên cơ sở lý thuyết đã có vào việc luận giải các nội dung cụ thể về Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk; phương pháp thống kê và so sánh được sử dụng để nhận diện thực trạng Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, giúp việc phân tích vấn đề có tính hệ thống và toàn diện Trên cơ sở đó, giúp việc đánh giá thực trạng Quản lý nhà nước về
Trang 12công chứng từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk bảo đảm tính chính xác, khách quan và khoa học
Phương pháp dự báo được sử dụng nhằm tích hợp các cơ sở khoa Học trong nhận diện quy luật vận động từ quá khứ, hiện tại và tương lai để đưa ra những nhận định về xu hướng vận động và phát triển của các công chứng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Từ đó đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với tổ chức hành nghề chứng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là những bổ sung
quan trọng vào lý luận Luật Hiến pháp và luật hành chính; góp phần làm sáng
tỏ những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhận thức của tổ chức, cá nhân về vai trò quan trọng của công chứng và sự cần thiết của quản lý nhà nước
về công chứng
Ý nghĩa thực tiễn: luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong
hoạch định chiến lược xây dựng, hoàn thiện pháp luật về công chứng và trong thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước về công chứng; trong nghiên cứu khoa học, giảng dạy và Học tập tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành hành chính và quản lý nhà nước; các khoá bồi dưỡng công chứng viên
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương, bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về công chứng;
Chương 2: Thực trạng Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk;
Chương 3: Quan điểm, phương hướng và giải pháp hoàn thiện Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG
CHỨNG 1.1 Công chứng
1.1.1 Khái niệm công chứng
Công chứng
Tại Việt Nam công chứng với tư cách là một thể chế pháp lý hình thành khá sớm từ những năm 1930, nhưng đến năm 1987 thuật ngữ "công chứng" mới được sử dụng một cách rộng rãi Cho đến nay, nước ta đã có 6 khái niệm khác nhau về công chứng phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về công chứng trong các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước ta Cụ thể như sau:
Một là, Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp
Công chứng nhà nước là một hoạt động của nhà nước, nhằm giúp công dân, các
cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hoá các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện Bằng hoạt động trên, công chứng nhà nước tạo ra những đảm bảo pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức phù hợp với Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp
được thuận lợi, góp phần tăng cường pháp chế XHCN
Hai là, Nghị định số 45/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày
27/02/1991 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước quy định:
Công chứng là việc chứng nhận xác thực các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và
cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi tắt là các tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN
Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ
Trang 14Ba là, Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và
hoạt động công chứng nhà nước quy định:
Công chứng là việc chứng nhận xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân
và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi tắt là các tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng nhà nước chứng nhận hoặc UBND cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp bị
Toà án nhân dân tuyên bố là vô hiệu
Bốn là, Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về
công chứng, chứng thực, tại điều 2 quy định: "Công chứng là việc Phòng Công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, thương mại và quan hệ xã hội khác (Sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định
của Nghị định này" Đáng chú ý, Nghị định này đã có sự phân định rõ khái
niệm công chứng và chứng thực, điều mà các Nghị định trước đây chưa làm rõ
được, bản chất của hành vi công chứng là:"chứng nhận tính xác thực của hợp đồng", còn hành vi chứng thực lại chỉ là việc "xác nhận sao y giấy tờ, hợp
đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân" Như vậy, theo quy định nêu trên, hành
vi công chứng chính là việc xác lập giá trị pháp lý cho văn bản, hợp đồng; còn
hành vi chứng thực chỉ đơn thuần là việc sao lại các văn bản, hợp đồng mà thôi
Năm là, Luật Công chứng năm 2006 quy định: "Công chứng là việc công
chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công
chứng"
Sáu là, Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Công chứng là việc công
chứng viên của một công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp
Trang 15đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng
hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng” Có thể nhận thấy,
những khái niệm về công chứng gắn liền với những thay đổi của xã hội nước
ta Ở các giai đoạn phát triển khác nhau thì khái niệm về công chứng rõ ràng có những thay đổi nhất định Sự thay đổi này thể hiện quan điểm của nhà nước ta
về công chứng cũng như trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, nhưng xét
về bản chất và mục đích của hành vi thì vẫn không thay đổi Từ các quy định pháp luật trên đây, có thể hiểu: Công chứng là việc công chứng viên của các công chứng, theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức hoặc quy định của pháp luật, chứng nhận tính hợp pháp, tính xác thực của các văn bản hợp đồng, giao dịch nhằm đảm bảo lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ
chức
Công chứng là một dạng tổ chức xã hội - nghề nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, công nhận điều lệ và có hội viên là cá nhân, tổ chức tự nguyện đóng góp tài nhằm phục vụ mục đích của hội và nhu cầu chung của xã hội, là pháp nhân khi tham gia quan hệ dân sự Hội viên có thể bao gồm cả cá nhân và tổ chức, tài sản của loại tổ chức này được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp tự nguyện của các hội viên hoặc hội phí, nhằm phục vụ cho nhu cầu chung của hội viên và mục đích của tổ chức Các tổ chức này có chung đặc điểm là:
- Thành lập theo sang kiến của nhà nước
- Hình thành theo các quy định của nhà nước và được quản lý chặt chẽ bởi cơ quan nhà nước
- Hỗ trợ nhà nước giải quyết một số vấn đề xã hội
Trang 16- Hoạt động tự quản, cơ cấu do nội bộ tổ chức quyết định, hoạt động không mang tính quyền lực chính trị và hoàn toàn tự nguyện
Với cách hiểu tổ chức có nghĩa là quá trình sắp xếp và bố trí các công việc, giao quyền hạn và phân phối các nguồn lực của tổ chức sao cho chúng đóng góp một cách tích cực và có hiệu quả vào mục tiêu chung, thì công chứng
là tổ chức của những người hành nghề công chứng, bao gồm các công chứng viên thực hiện nhiệm vụ công chứng
1.1.2 Phân loại công chứng
Công chứng được thực hiện dưới 2 hình thức tổ chức hành nghề là phòng công chứng và văn phòng công chứng
Phòng công chứng
Phòng công chứng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập, là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Tư pháp, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng Người đại diện theo pháp luật của Phòng công chứng là Trưởng phòng Trưởng phòng công chứng phải là công chứng viên, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tên gọi của Phòng công chứng bao gồm cụm từ “Phòng công chứng” kèm theo số thứ tự thành lập và tên của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Phòng công chứng được thành lập Phòng công chứng sử dụng con dấu không có hình quốc huy Phòng công chứng được khắc và sử dụng con dấu sau khi có quyết định thành lập Thủ tục,
hồ sơ xin khắc dấu, việc quản lý, sử dụng con dấu của Phòng công chứng được thực hiện theo quy định của pháp luật về con dấu
Văn phòng công chứng
Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đối với loại hình công ty hợp danh Văn phòng công chứng phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên Văn phòng công chứng không có thành viên góp vốn Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng là Trưởng Văn phòng Trưởng Văn phòng
Trang 17công chứng phải là công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng và
đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên Tên gọi của Văn phòng công chứng phải bao gồm cụm từ “Văn phòng công chứng” kèm theo họ tên của Trưởng Văn phòng hoặc họ tên của một công chứng viên hợp danh khác của Văn phòng công chứng do các công chứng viên hợp danh thỏa thuận, không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của công chứng khác, không được vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc Văn phòng công chứng phải có trụ sở đáp ứng các điều kiện do Chính phủ quy định Văn phòng công chứng có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu hợp pháp khác Văn phòng công chứng sử dụng con dấu không có hình quốc huy Văn phòng công chứng được khắc và sử dụng con dấu sau khi có quyết định cho phép thành lập Thủ tục, hồ sơ xin khắc dấu, việc quản lý, sử dụng con dấu của Văn phòng công chứng được thực hiện theo quy định của pháp luật về con dấu
1.2 Quản lý nhà nước về công chứng
1.2.1 Khái niệm
Quản lý nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước.Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, là sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp Theo cách hiểu này, quản
lý nhà nước là hoạt động của cả ba hệ thống cơ quan nhà nước: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp Quản lý nhà nước có các đặc điểm sau:
Một là, chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, công chức trong bộ máy
nhà nước được trao quyền lực công gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp
Trang 18Hai là, đối tượng quản lý của nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh
sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia
Ba là, quản lý nhà nước có tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao,…
Mục tiêu của quản lý nhà nước là phục vụ Nhân dân, duy trì sự ổn định
và phát triển bền vững trong xã hội
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu, yêu cầu của nhiệm vụ quản lý nhà nước Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố công tác nội bộ của mình, chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sáp nhập các đơn
vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ … Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp còn đồng nghĩa với khái niệm quản lý hành chính nhà nước với các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang tính quyền lực
nhà nước
Quyền lực nhà nước trong quản lý hành chính nhà nước trước hết thể hiện ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dụng là văn bản quản lý hành chính nhà nước Bằng việc ban hành văn bản, chủ thể quản lý hành chính nhà nước thể hiện ý chí của mình dưới dạng các chủ trương, chính sách pháp luật nhằm định hướng cho hoạt động xây dựng
và áp dụng pháp luật; dưới dạng quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hoá các quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước và của cấp trên thành những
Trang 19quy định chi tiết để có thể triển khai thực hiện trong thực tiễn; dưới dạng các mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực tiễn, trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý; dưới dạng những mệnh lệnh chỉ đạo cấp dưới trong hoạt động, nhằm tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn; dưới dạng những thông tin hướng dẫn đối lập với cấp dưới nhằm đảm bảo sự thống nhất, có hệ thống của bộ máy hành chính nhà nước
Thứ hai, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động được tiến hành bởi
những chủ thể có quyền năng hành pháp
Cách hiểu phổ biến hiện nay thì Nhà nước có ba quyền năng: lập pháp, hành pháp và tư pháp Trong đó, quyền năng hành pháp trước hết và chủ yếu thuộc về các cơ quan hành chính nhà nước, tuy nhiên, trong rất nhiều hoạt động khác như: việc ổn định tổ chức nội bộ của các cơ quan nhà nước, hoạt động quản lý được tiến hành bởi các Bộ, … Trong những trường hợp này, quyền năng hành pháp cũng thể hiện rõ nét và nếu xét về bản chất thì tương đồng với hoạt động hành pháp của các cơ quan hành chính nhà nước
Thứ ba, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động có tính thống nhất,
được tổ chức chặt chẽ
Để đảm bảo tính pháp chế trong hoạt động hành pháp, bộ máy các cơ quan hành pháp được tổ chức thành một khối thống nhất từ trung ương đến địa phương, đứng đầu là Chính phủ, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành thống nhất, bảo đảm lợi ích chung của cả nước, đảm bảo sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp, tránh được sự cục bộ, phân hoá giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau Tuy nhiên, do mỗi địa phương đều có những nét đặc thù riêng về điều kiện kinh tế -
xã hội, nên để có thể phát huy tối đa những thế mạnh của từng địa phương, tạo
sự năng động, sáng tạo trong quản lý điều hành, bộ máy hành chính còn được
tổ chức theo hướng phân cấp, trao quyền tự quyết, tạo sự chủ động, sáng tạo cho chính quyền địa phương
Trang 20Thứ tư, hoạt động quản lý hành chính nhà nước mang tính chấp hành và
điều hành
Tính chấp hành và điều hành của hoạt động quản lý hành chính nhà nước thể hiện trong việc những hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục đích thực hiện pháp luật, cho dù đó là hoạt động chủ động sáng tạo của chủ thể quản lý thì cũng không được vượt quá khuôn khổ pháp luật, điều hành cấp dưới, trực tiếp áp dụng pháp luật hoặc tổ chức những hoạt động thực tiễn … trên cơ sở quy định pháp luật nhằm hiện thực hoá pháp luật
Từ đó, quản lý nhà nước là một dạng đặc biệt của quản lý, được sử dụng các quyền lực nhà nước như lập pháp, hành pháp và tư pháp để quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong đó, quản lý nhà nước mang tính quyền lực đặc biệt là tính tổ chức cao, có mục tiêu chiến lược, chương trình kế hoạch để thực hiện mục tiêu hơn cả là quản lý nhà nước ở Việt Nam mang tính nguyên tắc tập trung dân chủ Quản lý nhà nước không có sự tách biệt tuyệt đối giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, nó luôn đảm bảo tính liên tục, ổn định trong tổ chức
Quản lý nhà nước đối với các công chứng là việc Nhà nước dùng các biện pháp, công cụ có được tác động vào lĩnh vực công chứng để hệ thống các công chứng hoạt động theo đúng định hướng, mục tiêu mà Nhà nước đã đề ra
1.2.2 Chủ thể quản lý nhà nước về công chứng
Điều 69, 70 Luật Công chứng 2014 quy định các chủ thể quản lý nhà nước về công chứng nói chung, quản lý nhà nước đối với các công chứng nói riêng Cụ thể, điều 69 quy định:
1 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công chứng
2 Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về công chứng, có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
Trang 21a) Ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về công chứng;
b) Xây dựng, trình Chính phủ ban hành chính sách phát triển nghề công chứng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy hoạch tổng thể phát triển công chứng trong cả nước;
c) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan hướng dẫn, triển khai, quản
lý việc thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển công chứng trong cả nước; d) Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công chứng, chính sách phát triển nghề công chứng;
đ) Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm công chứng viên;
e) Phê duyệt Điều lệ của tổ chức xã hội - nghề nghiệp toàn quốc của công chứng viên sau khi thống nhất ý kiến với Bộ Nội vụ; đình chỉ thi hành và yêu cầu sửa đổi những văn bản, quy định của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên trái với quy định của Hiến pháp, Luật này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan;
g) Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động công chứng theo thẩm quyền;
h) Định kỳ hằng năm báo cáo Chính phủ về hoạt động công chứng;
i) Quản lý và thực hiện hợp tác quốc tế về hoạt động công chứng;
k) Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan
3 Bộ Ngoại giao có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện công chứng của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng cho viên chức lãnh sự, viên chức ngoại giao được giao thực hiện công chứng; định kỳ hằng
Trang 22năm báo cáo Bộ Tư pháp về hoạt động công chứng của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để tổng hợp báo cáo Chính phủ
4 Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợpvới Bộ Tư pháp trong việc thực hiện quản lý nhà nước về công chứng
Điều 70 Luật này quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
và các Sở Tư pháp trong công tác quản lý nhà nước về công chứng:
1 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc quản lý nhà nước về công chứng tại địa phương và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức thi hành, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công chứng, chính sách phát triển nghề công chứng;
b) Thực hiện các biện pháp phát triển công chứng trên địa bàn phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển công chứng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; c) Quyết định thành lập Phòng công chứng, bảo đảm cơ sở vật chất và phương tiện làm việc cho các Phòng công chứng; quyết định việc giải thể hoặc chuyển đổi Phòng công chứng theo quy định của Luật này;
d) Ban hành tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng; quyết định cho phép thành lập, thay đổi và thu hồi quyết định cho phép thành lập Văn phòng công chứng, cho phép chuyển nhượng, hợp nhất, sáp nhập Văn phòng công chứng;
đ) Ban hành mức trần thù lao công chứng tại địa phương;
e)Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo về công chứng theo thẩm quyền; phối hợp với Bộ Tư pháp trong công tác kiểm tra, thanh tra về công chứng;
g) Báo cáo Bộ Tư pháp về việc thành lập, chuyển đổi, giải thể Phòng công chứng; cho phép thành lập, hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng Văn phòng
Trang 23công chứng trên địa bàn Định kỳ hằng năm báo cáo Bộ Tư pháp về hoạt động công chứng tại địa phương để tổng hợp báo cáo Chính phủ;
h) Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan
2 Sở Tư pháp chịu trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản
lý nhà nước về công chứng tại địa phương, thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Luật này và các vănbản quy phạm pháp luật khác có liên quan
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về công chứng
Có thể khái quát những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước đối với các công chứng như sau:
Xây dựng, ban hành chính sách phát triển nghề công chứng, quy hoạch tổng thể phát triển công chứng;
Hoạt động quản lý nhà nước nói chung và hoạt động quản lý nhà nước đối với các công chứng nói riêng trước hết là hoạt động thực hiện pháp luật Để tạo cơ sở pháp lý cho việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các công chứng thì chính quyền các cấp xây dựng và ban hành văn bản quản lý nhà nước
để áp dụng thực hiện là yêu cầu tất yếu Luật Công chứng số 82/2006/QH11 được thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2006 Tiếp
đó, ngày 20/6/2014 Quốc hội thống nhất ban hành Luật số 53/2014/QH13 Luật
Công chứng năm 2014 Luật công chứng được xây dựng trên cơ sở quán
triệt các quan điểm chỉ đạo sau đây:
Thể chế hoá đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
về cải cách hành chính và cải cách tư pháp về những nội dung liên quan đến hoạt động công chứng; Quán triệt và vận dụng một cách phù hợp các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xã hội hóa một số lĩnh vực quản lý nhà nước; Kế thừa những điểm tích cực, hợp lý trong tổ chức và hoạt động công chứng hiện nay, tham khảo kinh nghiệm của các nước ngoài trên cơ
sở bám sát thực tiễn củaViệt Nam Luật công chứng nhằm đạt một số mục tiêu
cơ bản sau đây: Phát triển đội ngũ công chứng viên đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, vững về bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội về công chứng, phục vụ đắc
Trang 24lực cho công cuộc cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế Đổi mới hình thức tổ chức công chứng theo hướng từng bước xã hội hoá nhằm phát huy những tiềm năng to lớn của xã hội vào phát triển hệ thống công chứng mang tính chất là tổ chức dịch vụ công, phục vụ một cách thuận tiện cho các nhu cầu công chứng của nhân dân Xác định rõ phạm vi trách nhiệm của công chứng viên trong hoạt động công chứng Xây dựng quan hệ dịch vụ bình đẳng giữa công chứng viên và người yêu cầu công chứng; minh bạch hóa, đơn giản hóa trình tự, thủ tục công chứng, phát huy tính chủ động, tích cực của công chứng viên trong quá trình tác nghiệp, loại bỏ lối làm việc bàn giấy quan liêu, cửa quyền của công chứng viên Đây là một trong các luật lớn, có tính xã hội hóa cao, phù hợp với tình hình xã hội hiện nay, có tác động trực tiếp đến nhiều mặt của đời sống xã hội, tới hoạt động của công dân Đồng thời ban hành Luật Công chứng là yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân Ban hành và tổ chức thực hiện Luật Công chứng và các văn bản liên quan quy định về quản lý nhà nước đối với các công chứng là một trong các điều kiện quan trọng để thực hiện chính sách của Đảng và nhà nước ta Để Luật Công chứng thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, Chính phủ đã ban hành Nghị định 29/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Công chứng[21] Tiếp đến, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 06/2015/TT-BTP hướng dẫn Luật Công chứng 2014 Dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật về cư trú, chính quyền địa phương tiến hành xây dựng và ban hành các văn bản quản lý nhà nước của mình để áp dụng
ở địa phương mình dựa trên đặc trưng và tình hình thực tế Xây dựng và ban hành các văn bản quản lý nhà nước về công chứng nói chung và các công
chứng nói riêng của chính quyền địa phương tạo cơ sở thuận lợi cho việc tiến hành các bước tổ chức thực hiện, chỉ đạo phối hợp giữa các cơ quan tiến hành công tác quản lý nhà nước đối với các công chứng trên địa bàn
Tổ chức triển khai thực hiện chính sách phát triển nghề công chứng, quản lý việc thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển công chứng
Việc tổ chức thực hiện các văn bản quản lý nhà nước đối với các công chứng là quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của chính quyền địa phương Xét về chủ thể quản lý nhà nước, UBND cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm của cấp trên Cụ thể hóa chúng bằng việc xây dựng và ban hành, chỉ đạo thực hiện các văn bản đó tại địa phương UBND thực hiện
Trang 25trực tiếp các văn bản quản lý nhà nước đối với các công chứng Phối hợp với các cơ quan, ban, ngành hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, quản lý chặt chẽ hoạt động của các tổ chức ấy, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước và các bên tham gia Việc thực hiện các văn bản quản lý nhà nước đối với các
công chứng bao gồm nhiều hoạt động:
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công chứng, chính sách phát triển nghề công chứng;
Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm công chứng viên;
Phê duyệt Điều lệ của tổ chức xã hội - nghề nghiệp toàn quốc của công chứng viên sau khi thống nhất ý kiến với Bộ Nội vụ; đình chỉ thi hành và yêu cầu sửa đổi những văn bản, quy định của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên trái với quy định của Hiến pháp, Luật này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan; Quyết định thành lập Phòng công chứng, bảo đảm
cơ sở vật chất và phương tiện làm việc cho các Phòng công chứng; quyết định
về việc giải thể hoặc chuyển đổi Phòng công chứng theo quy định Luật công chứng
Ban hành tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng; quyết định cho phép thành lập, thay đổi và thu hồi quyết định cho phép thành lập Văn phòng công chứng, cho phép nhượng, hợp nhất, sáp nhập văn phòng công chứng
Ban hành mức trần thù lao công chứng tại địa phương
Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động công chứng theo thẩm quyền;
Vị trí vai trò của công tác thanh tra được thể hiện cụ thể trong các văn bản pháp luật về thanh tra, nhất là từ Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 đến Luật Thanh tra năm 2004, Luật Thanh tra năm 2010 Hoạt động thanh tra được xem như một khâu quan trọng của quản lý nhà nước, thể hiện qua các vai trò và ý
Trang 26nghĩa sau: Thứ nhất: Thanh tra là chức năng thiết yếu của quản lý Nhà nước
Tổ chức thực hiện quyết định và kiểm tra việc thực hiện quyết định là những giai đoạn tiếp theo của quá trình quản lý Kiểm tra là hình thức tác động có hướng đích nhằm quan sát cả hệ thống để phát hiện những sai lệch so với yêu cầu đề ra, tìm ra nguyên nhân và từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp đảm bảo
để đối tượng bị quản lý tự điều chỉnh hoạt động để đạt tới mục tiêu mà chủ thể quản lý đã xác định.Việc tìm ra và áp dụng các giải pháp phù hợp phụ thuộc rất nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố thuộc về chất lượng và hiệu quả của hoạt động kiểm tra Thanh tra là một phương thức của kiểm tra, là chức năng của quản lý,
là công cụ của người lãnh đạo, người quản lý Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, các cơ quan quản lý Nhà nước nhất thiết phải tiến hành hoạt động thanh tra đối với việc thực hiện các quyết định mà mình đã ban hành
Đó là một khâu không thể thiếu được trong quá trình hoạt động quản lý Nhà nước Chính vì vậy thanh tra được xác định là chức năng thiết yếu của quản lý Nhà nước Thứ 2: Thanh tra góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước Để quyết định quản lý Nhà nước được các cơ quan, tổ chức và cá nhân chấp hành đầy đủ thì các cơ quan, cá nhân đã ban hành quyết định phải đề ra quy trình thực hiện quyết định Trong quy trình đó hoạt động thanh tra, kiểm tra không thể thiếu được Thanh tra, kiểm tra là để đánh giá, nhận xét tình hình
và kết quả thực hiện quyết định quản lý; xem xét lại nội dung và chất lượng quản lý; khi cần thiết phải bổ sung, sửa đổi, thậm chí phải huỷ bỏ một phần hay toàn bộ quyết định quản lý Trong trường hợp nội dung và chất lượng quyết định quản lý được thực tế kiểm nghiệm là đúng, là phù hợp, nhưng đối tượng thi hành vẫn không tuân thủ và không chấp hành nghiêm chỉnh thì khi đó hoạt động thanh tra, kiểm tra phải làm rõ nguyên nhân chủ quan, khách quan, xác định rõ trách nhiệm thuộc khâu nào, thuộc cá nhân, tổ chức nào để chấn chỉnh hoặc xử lý khi có vi phạm Với ý nghĩa đó thanh tra thực chất đã góp phần nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước Thứ 3: Thanh tra là một phương thức bảo đảm
Trang 27pháp chế XHCN Một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của hệ thống chính trị và bộ máy Nhà nước ta là nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Nguyên tắc pháp chế thể hiện ở việc chấp hành pháp luật cả từ phía các
cơ quan Nhà nước và từ phía các cá nhân, tổ chức là đối tượng chịu sự quản lý của Nhà nước Về phía các cơ quan Nhà nước, nguyên tắc pháp chế thể hiện ở việc các cán bộ, công chức Nhà nước thực thi đúng chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà pháp luật đã quy định Ngay trong hoạt động ban hành các quyết định, các văn bản quản lý, nguyên tắc pháp chế cũng được thể hiện ở việc văn bản của cơ quan cấp dưới phải phù hợp với các quy định trong các văn bản của cơ quan cấp trên, văn bản có hiệu lực thấp hơn phải phục tùng những văn bản có hiệu lực cao hơn và mọi văn bản pháp luật phải phù hợp với Hiến pháp - đạo luật gốc, có hiệu lực pháp lý cao nhất Với tư cách là một chức năng của quản lý Nhà nước, thanh tra chính là hoạt động xem xét việc làm của các
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thực hiện đúng chính sách, pháp luật hay không Nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân làm sai hoặc làm chậm thì hướng dẫn sửa chữa
và thực hiện đúng quy định Mục đích của thanh tra là phát hiện, phát huy những nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý những vi phạm, bảo đảm để các cơ quan, tổ chức và cá nhân tuân thủ và chấp hành đầy đủ và nghiêm túc các quy định của pháp luật Thông qua công tác thanh tra tuyên truyền, giáo dục pháp luật, góp phần tích cực vào việc giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân hiểu đúng
và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật và đó cũng là một hoạt động bảo đảm tăng cường pháp chế Thứ 4: Thanh tra là một biện pháp phòng ngừa, phát hiện
và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật Điều 2 Luật Thanh tra năm 2010 khẳng định “Mục đích hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật”; Thanh tra cùng với các phương thức kiểm tra, giám sát luôn luôn là hiện thân của kỷ cương pháp luật Chỉ riêng sự hiện diện của các cơ quan thanh
Trang 28tra, kiểm tra, giám sát đã là một sự nhắc nhở thường xuyên đối với tất cả các đối tượng chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát phải tuân thủ pháp luật từ đó hạn chế sự vi phạm pháp luật Các kiến nghị, yêu cầu được đưa ra từ hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát không chỉ hướng vào việc phát hiện, xử lý hành vi
vi phạm pháp luật mà còn có tác dụng khắc phục các kẽ hở của chính sách, pháp luật, ngăn ngừa những vi phạm pháp luật tương tự xảy ra ở một nơi khác hoặc vào một thời điểm khác Vai trò phòng ngừa của thanh tra, kiểm tra, giám sát được đề cập ở đây là vai trò phòng ngừa mang tính chủ động Trong rất nhiều trường hợp, qua thanh tra, kiểm tra, giám sát mà có thể dự báo được một hành vi vi phạm pháp luật sẽ xảy ra trong tương lai nếu không có sự chấn chỉnh, định hướng lại cho các đối tượng một cách kịp thời Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước của dân, do dân và vì dân; pháp luật được xây dựng để thể hiện ý chí của nhân dân cho nên thanh tra góp phần tăng cường pháp chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước và ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật cũng chính là góp phần phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa
1.2.4 Sự cần thiết quản lý nhà nước đối với các công chứng
Xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi cho các công chứng
Vai trò của Nhà nước đối với các công chứng nói riêng có ý nghĩa quan trọng Nhà nước ban hành chính sách hỗ trợ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các
tổ chức này phát triển, từ việc tạo môi trường hoạt động đến tạo thuận lợi trong cấp giấy phép, từ tiếp cận thông tin đến hỗ trợ công nghệ, hỗ trợ về tín dụng và đào tạo nguồn nhân lực Pháp luật là công cụ chủ yếu, quan trọng nhất để nhà nước thực hiện vai trò quản lý và điều hành xã hội Để thực hiện tốt vai trò này, nhà nước phải có trách nhiệm tổ chức xây dựng một hệ thống pháp luật đồng
bộ và ổn định nhằm, một mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên trong
xã hội yên tâm, tích cực tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội; mặt
Trang 29khác, phải bảo vệ những lợi ích chính đáng của các cá nhân, tổ chức xã hội
hướng tới công bằng và tiến bộ xã hội
Tính đồng bộ của hệ thống pháp luật phải đảm bảo và thoả mãn được các yêu cầu: đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, nhất quán, thông thoáng, nghiêm túc, phù hợp với thông lệ quốc tế Việc thành lập công chứng phải tuân theo quy định của pháp luật và phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển công chứng do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
- Phòng công chứng chỉ được thành lập mới tại những địa bàn chưa có điều kiện phát triển được Văn phòng công chứng
- Văn phòng công chứng thành lập tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của Chính phủ
Đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các công chứng
Hiện nay, ở Việt Nam,công chứng hoạt động như một doanh nghiệp Mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường đang được nhìn nhận lại Nhiều hàng hoá, dịch vụ trước đây từng là lĩnh vực độc quyền của khu vực quốc doanh ngày càng được khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cung ứng nhiều hơn Sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất, đặc biệt là sự phát triển của khoa Họcvà công nghệ đã cho phép khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tăng sức cạnh tranh trên những thị trường vốn được xem là độc quyền tự nhiên của Nhà nước Đây chính là động lực thúc đẩy sự thay đổi mối quan hệ giữa nhà nước
và thị trường, dẫn tới nhà nước và thị trường cùng chia sẻ sự điều tiết phát triển kinh tế Sự kết hợp này không chỉ đơn thuần là xác định những lĩnh vực nào Nhà nước cần làm và những lĩnh vực nào Nhà nước không nên làm, mà còn là
sự kết hợp, kiểm kê, kiểm soát, điều chỉnh và định hướng thường xuyên sự phát triển của nền kinh tế theo hướng tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ xã hội
Về thực chất, định hướng xã hội chủ nghĩa cho sự phát triển kinh tế là sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình phát triển và hoàn thiện nền kinh tế Để thực
Trang 30hiện tốt vai trò này, Nhà nước tác động đến sự phát triển của nền kinh tế không chỉ thuần tuý bằng sức mạnh kinh tế của mình, mà còn với tư cách chủ thể quản
lý và điều hành mọi mặt hoạt động của đời sống xã hội, bằng tất cả lực lượng, sức mạnh tổng hợp về kinh tế, chính trị, xã hội
Đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật
Luật công chứng 2014 có quy định các loại văn bản, giấy tờ trong quá trình giao dịch phải được công chứng, để chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch bằng văn bản Điều này được hiểu cụ thể là khi các cá nhân, pháp nhân thực hiện giao kết các hợp đồng, giao dịch sẽ được công chứng viên làm chứng và xác nhận đã có hoạt động giao kết đấy xảy ra trên thực tế Việc xác nhận đồng thời cũng công nhận rằng hợp đồng, giao dịch này
là đúng với quy định của pháp luật Mặt khác, xác nhận tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của các bản dịch tự tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc ngược lại Điều này được hiểu rằng công chứng viên xác nhận bản dịch có nội dung đúng với bản gốc, và các nội dung này không trái đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật Công chứng là chiếc vòng kim cô ràng buộc quyền lợi của hai bên Những nội dung được công chứng ghi nhận có giá trị chứng cứ trước tòa mà không cần phải chứng minh Với sự đảm bảo ấy, người tham gia giao dịch có thể yên tâm về những nội dung mình đã giao kết, thực hiện Công chứng có hệ thống tra cứu thông tin chính xác cao đảm bảo việc giao dịch là đúng pháp luật, đúng người đúng đối tượng Không chỉ quy định các loại văn bản và nội dung công chứng, nhà nước còn quy định việc công chứng phải được thực hiện tại trụ sở công chứng Quy định này nhằm bảo đảm tính pháp lý chặt chẽ của văn bản công chứng Với điều kiện hiện nay, có một số trường hợp Luật công chứng cho phép có thể thực hiện công chứng ngoài trụ sở tổ chức hành nghề, cụ thể: người yêu cầu công chứng là người già
Trang 31yếu không thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có “lý do chính đáng khác” không thể đến trụ sở công chứng
Đảm bảo cung cấp các dịch vụ công cho xã hội
Phục vụ xã hội và đảm bảo xã hội là hai chức năng xã hội cơ bản của nhà nước Với vai trò là chủ thể quản lý và điều hành xã hội, Nhà nước ta có trách nhiệm đảm bảo các dịch vụ công cho xã hội thông qua hai phương thức sau:
- Trực tiếp cung ứng các dịch vụ công thông qua hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích hoặc các đơn vị sự nghiệp
- Uỷ nhiệm dịch vụ công cho các tổ chức xã hội thực hiện
Ngoài những loại dịch vụ mà Nhà nước cần phải trực tiếp nắm giữ vì lợi ích của toàn xã hội và để giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia, những loại dịch vụ công còn lại được Nhà nước chuyển giao cho các tổ chức xã hội không thuộc khu vực nhà nước thực hiện dưới sự kiểm soát bằng công cụ pháp luật và các đòn bẩy kinh tế và có thể mua lại các dịch vụ công của các tổ chức xã hội
để giữ quyền phân phối, đảm bảo dịch vụ công cho xã hội ngày càng đa dạng
và ổn định mà văn phòng công chứng là một trong những loại hình dịch vụ
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về công chứng
1.3.1 Mức độ hoàn thiện của thể chế quản lý nhà nước về công
chứng
Thể chế là cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước, là cơ sở cho việc xây dựng tổ chức bộ máy quản lý, là cơ sở để xác lập nhân sự trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, do vậy, thể chế đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện quản lý nhà nước về công chứng Quản lý như thế nào, quản lý ra sao và cơ chế nào để xác định mức độ vi phạm và xử lý vi phạm Mọi hoạt động quản lý đều dựa trên cơ sở hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành, là cơ sở chủ yếu để thực hiện quản lý nhà nước về công chứng
Trang 32Quản lý nhà nước về công chứngcó hiệu lực, hiệu quả hay không là do thể chế,
do đó, mức độ hoàn thiện của thể chế có ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về công chứng
1.3.2 Năng lực quản lý nhà nước về công chứng
Ngoài các yếu tố khách quan, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với các công chứng còn chịu tác động mạnh bởi năng lực quản lý của nhà quản
lý Là một yếu tố chủ quan bao gồm tổng hoà nhiều vấn đề khác nhau mà nhà quản lý phải đảm bảo
Trước hết là về kỹ năng quản lý Đó là khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn để đạt được kết quả cao, có thể giải nghĩa đơn giản là biết làm việc
Nó đòi hỏi nhà quản lý phải có kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ, nắm bắt, thực hiện được các hoạt động của quản lý Sau đó là kỹ năng làm việc với nhiều người mà trước tiên là phải hiểu người khác tạo ra sự nhạy cảm trong việc tiếp cận với người khác, giành quyền lực và gây ảnh hưởng để mọi người nghe, tin và làm việc với mình Nhà quản lý còn cần xây dựng kỹ năng đàm phán, giao tiếp giải quyết các xung đột và xây dựng phát triển tổ chức
Kỹ năng của người lãnh đạo còn bao gồm cả khả năng nhận thức, có tầm nhìn sâu về hệ thống và môi trường, nhìn ra điểm mạnh, điểm yếu của hoạt động công chứng, nhìn ra cơ hội và thách thức trong thời gian tới Do đó nhà quản lý cần có quan điểm phát triển và toàn diện
Đảm bảo được những yếu tố đó nhất định nhà quản lý sẽ xây dựng được cho mình năng lực cao, làm việc được trước mọi khó khăn, đảm bảo được hiệu lực quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của cơ quan nhà nước
Đối với hoạt động công chứng, với mô hình hoàn toàn mới, Văn phòng công chứng, thực hiện chủ trương xã hội hoá hoạt động công chứng trong giai đoạn hiện nay cho phù hợp với tình hình mới, đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế
và khu vực, đòi hỏi nhà quản lý cũng như cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực này cần có tầm, tâm, định hướng đúng, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách
Trang 33nhiệm trước Nhân dân, vì vậy, năng lực quản lý của nhà quản lý cũng quan trọng trong việc quyết định hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước đối với Văn phòng công chứng
1.3.3 Nhu cầu xã hội về công chứng và sự phát triển của công chứng
Muốn đảm bảo chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước đối với tổ chức công chứng, thì trước tiên phải xác định được nhu cầu công chứng của xã hội cao hay thấp và khả năng, điều kiện thực tiễn để thành lập và phát triển công chứng, phải dự báo tình hình, định hướng và đề ra những chủ trương, chính sách thích hợp để phát triển các công chứng Xác định được nhu cầu công chứng, nhà quản lý mới có thể điều chỉnh hệ thống văn bản quản lý cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển, từng vùng, từng miền Do đó, nhu cầu xã hội
về công chứng và sự phát triển của công chứng có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý nhà nước về công chứng
Tiểu kết chương 1
Từ những vấn đề lý luận và pháp lý về quản lý nhà nước về công chứng,
có thể nhận thấy sự ra đời của công chứng là một mô hình mới về hình thức, công chứng ở nước ta nhằm thực hiện chủ trương xã hội hoá hoạt động công chứng do Đảng và Nhà nước đã đề ra phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới và khu vực Với xu hướng xã hội hoá, Nhà nước đã từng bước huy động và phát huy những tiềm lực to lớn của xã hội để phát triển hệ thống công chứng nói chung và Văn phòng công chứng nói riêng, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực công chứng giao dịch bất động sản, thế chấp, cầm cố để vay vốn của các tổ chức tín dụng
Qua các vấn đề trình bày trên, ta có thể rút ra một số kết luận sau:
Thứ nhất, Tổ chức hành nghề công chứng là mô hình công chứng mới ra
đời ở nước ta theo quy định của Luật Công chứng năm 2006, 2014 nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xã hội hoá hoạt động công chứng
Trang 34Thứ hai, mặc dù Văn phòng công chứng có những đặc điểm khác với
Phòng công chứng do cá nhân đầu tư và thành lập, là tổ chức dịch vụ công, tổ chức và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, công chứng viên của Văn phòng công chứng là người chịu trách nhiệm vật chất trực tiếp với khách hàng nhưng giá trị pháp lý của văn bản được công chứng của hai tổ chức này là như nhau, không có sự khác biệt
Thứ ba, quản lý nhà nước trong lĩnh vực công chứng nói chung, công
chứng nói riêng do các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương thực hiện Cụ thể là do Chính phủ, Bộ Tư pháp, UBND cấp tỉnh, Sở Tư pháp
Thứ tư, nội dung quản lý nhà nước về công chứnggồm: xây dựng, ban
hành thể chế; tổ chức thực hiện thể chế; báo cáo đánh giá việc thực hiện và kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm
Cũng như quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, quản lý nhà nước về công chứngđược thực hiện thông qua các hình thức pháp lý như: ban hành văn bản quy phạm pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật, kiểm tra xử lý các vi phạm của công chứng và công chứng viên; hoặc thông qua các hoạt động ít hoặc không mang tính pháp lý như hướng dẫn nghiệp vụ,
sơ kết, tổng kết, kiểm tra, thanh tra và báo cáo
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG TỪ THỰC
TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK 2.1 Khái quát vị trí địa lý, tình hình dân cư, kinh tế - xã hội của Đắk Lắk có ảnh hưởng đến hoạt động công chứng
2.1.1.Đặc điểm tự nhiên
Đắk Lắk là tỉnh miền núi ở khu vực miền Trung – Tây Nguyên Tổng diện tích tự nhiên của Đắk Lắk là 13.030,5 km2, phía Bắc giáp với tỉnh Gia Lai, phía Nam giáp với tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Đắk Nông, phía Tây giáp với Campuchia với đường biên giới dài 193km, phía Đông tiếp giáp với với các tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hóa.Độ cao trung bình 400 – 800 mét so với mặt
Trang 35nước biển, cao nhất là đỉnh núi Chư Yang Sin có độ cao 2442 m so với mực nước biển, đây cũng chính là đỉnh núi cao nhất ở Đắk Lắk
Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử chia tách và sáp nhập nên 9.300 ha nằm giữa xã Ea Trang (huyện M’Đắk, tỉnh Đắk Lắk) và xã Ninh Tây (thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa) nằm trong diện tranh chấp để phân định địa giới hành chính giữa hai tỉnh
2.1.2.Đặc điểm hành chính, kinh tế, xã hội
cả lương thực, thực phẩm tăng cao, người dân gặp nhiều khó khăn trong sản xuất, sinh hoạt; buôn lậu, hàng giả ở khu vực biên giới ngày càng gia tăng; tài nguyên thiên nhiên bị khai thác bừa bãi; không khí, nguồn nước bị ô nhiễm; giáo dục, y tế chưa được bảo đảm Đó là những vấn đề đáng báo động, đòi hỏi Nhà nước phải thực hiện những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp không chỉ thuộc thẩm quyền của Trung ương mà còn là trách nhiệm của chính quyền địa phương
- Về kinh tế, xã hội: Sự phát triển KTXH ở cơ sở
Tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm đạt 7,8-8% là tỉnh luôn đạt thứ hạng cao trong phát triển kinh tế xã hội trong vùng và cả nước, Năm 2016, Đánh giá về việc thực hiện 18 chỉ tiêu nhiệm vụ chủ yếu năm 2016 cho thấy, có
12 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch đề ra, nổi bật nhất là chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế Cụ thể, tổng sản phẩm xã hội (GRDP - theo giá so sánh 2010) khoảng 44.571 tỷ đồng, đạt 101,3% kế hoạch; tăng trưởng kinh tế 7,02% Cơ cấu kinh
tế (theo giá hiện hành): nông - lâm - thủy sản đạt 44,81%; công nghiệp - xây dựng đạt 14,48%; dịch vụ đạt 38,68% (kế hoạch năm 2016 tương ứng là: 43 - 44%, 16 - 17%, 36 - 37%)
Trang 36-Ngành nông, lâm, thủy sản ước đạt 18.892 tỷ đồng, bằng 107,6% KH, tăng trưởng 4,25% (KH: 17.559 tỷ đồng, tăng 3,5-4%) Giá trị sản xuất của các loại cây trồng lâu năm và hằng năm trên địa bàn tỉnh tăng khoảng 250,4 tỷ đồng, tương ứng giá trị tăng thêm 118 tỷ đồng
-Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 4.100 tỷ đồng, bằng 97,6% kế hoạch do HĐND tỉnh giao (kế hoạch: 4.200 tỷ đồng) và đạt 120,2% kế hoạch Trung ương giao (kế hoạch: 3.671 tỷ đồng), tăng 20,2% so với thực hiện năm
tỷ đồng
2.1.3 Đặc điểm dân cư
- Dân số và sự gia tăng:
Dân số 1.869.322 người, mật độ dân số đạt 135 người/km2 Trong đó, dân số sống tại thành thị đạt gần 462.031 người chiếm 24,7% dân số toàn tỉnh, dân số sống tại nông thôn đạt 1.407.309 người chiếm 75,3 dân số toàn tỉnh Dân số nam đạt 942.578 người, trong khi đó nữ đạt 926.744 người, tỷ lệ tăng
tự nhiên dân số 0,75%
- Thành phần dân tộc và ý thức pháp luật
Đắk Lắk là địa bàn cư trú của hơn 47 dân tộc khác nhau.Trong đó dân tộc kinh chiếm đông nhất với 1.161.533 người, thứ hai là Người Ê Đê có 298.534 người, thứ ba là Người Nùng có 71.461 người, thứ tư là Người Tày có 51.285 người Cùng các dân tộc ít người khác như M’nông có 40.344 người, Người Mông có 22.760 người, Người Thái có 17.135 người, Người Mường có 15.510 người
Đa số người dân sống trên địa bàn chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, các cấp chính quyền luôn quan tâm thực hiện tốt việc tuyên
Trang 37truyền, hướng dẫn và giáo dục ý thức pháp luật cho công dân, các quy định của pháp luật về lĩnh vực tư pháp luôn được người dân quan tâm tìm hiểu và thực hiện đúng quy định
Thực tiễn đã chứng minh trong nền kinh tế thị trường, cá nhân và tổ chức đều rất cần các chứng cứ đảm bảo độ an toàn, tin cậy cho các quan hệ kinh tế, thương mại, dân sự theo đúng pháp luật, góp phần làm lành mạnh hoá các quan
hệ xã hội
Xuất phát từ nhu cầu công chứng của người dân ngày một lớn, đòi hỏi sự phát triển của các công chứng để góp phần phục vụ cho hoạt động kinh tế - xã hội, phòng ngừa tranh chấp, cung cấp tài liệu có giá trị chứng cứ phục vụ cho việc điều tra, xét xử, giải quyết tranh chấp, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền của dân, do dân
và vì dân Phát triển công chứng là nhiệm vụ quan trọng trong chủ trương xã hội hoá hoạt động công chứng; cải cách thủ tục hành chính sẽ đem lại nhiều cơ hội phát triển công chứng trên địa bàn tỉnh Mô hình Văn phòng công chứng sẽ
là hình thức phổ biến của công chứng ở nước ta Còn mô hình Phòng công chứng nhà nước trước mắt là vẫn cần thiết, đặc biệt là ở các địa phương miền núi, vùng sâu, vùng xa, … trong tương lai, khi nền kinh tế thị trường phát triển mạnh thì mô hình này sẽ thu hẹp lại theo hướng “phi nhà nước hoá”
Từ những lý do trên và qua dự báo tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đến năm 2020, dự báo nhu cầu công chứng của các cá nhân và tổ chức trên địa bàn tỉnh, nhận thấy việc thành lập thêm các công chứng trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới là rất cần thiết, đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm xây dựng quy hoạch phát triển của các công chứng đến năm 2020 một cách hợp lý và phù hợp
Trang 382.2 Thực trạng Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk
2.2.1 Về xây dựng và ban hành các văn bản quản lý nhà nước
Luật Công chứng năm 2006 ra đời, đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực công chứng của nước ta, trước đây ở nước ta điều chỉnh lĩnh vực công chứng chỉ ở hình thức là Nghị định của Chính phủ, nay được nâng lên thành Luật Luật Công chứng năm
2006 ra đời với hiệu lực pháp lý cao hơn, góp phần nâng cao vị trí, vai trò của công chứng viên và nghề công chứng trong xã hội, tạo điều kiện cho hoạt động hành nghề công chứng của công chứng viên, góp phần đảm bảo an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại, phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật, góp phần phục vụ công tác quản lý nhà nước có hiệu quả
Ngay sau khi Luật Công chứng 2006 ra đời, có hiệu lực, lần lượt các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật hướng dẫn thực hiện Luật Công chứng năm
2006 ra đời, Bộ Tư pháp đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn Trên cơ sở đó,
Sở Tư pháp là cơ quan có trách nhiệm giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước lĩnh vực công chứng tại địa phương, Sở Tư pháp đã chủ động tham mưu nhiều văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh Đắk Lắk để quản lý nhà nước lĩnh vực công chứng tại Đắk Lắk có hiệu quả và phù hợp
Đến năm 2014, Quốc hội đã thông qua Luật Công chứng 2014 thay thế Luật Công chứng năm 2006, có thể nói Luật Công chứng năm 2014 là bước phát triển vượt bậc đánh dấu việc quản lý nhà nước bằng pháp luật có hiệu quả
và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế và xu thế của quốc tế, khu vực Trên
cơ sở đó, phối hợp cùng với các ngành, các cấp, Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk đã tham mưu UBND tỉnh các văn bản quản lý nhà nước lĩnh vực công chứng, chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch, tuyên truyền, phổ biến quán triệt nội dung cơ bản của Luật Công chứng năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành với nhiều hình thức phù hợp, cụ thể như Kế hoạch số 02/KH-UBND ngày
Trang 3908/01/2015 triển khai thi hành Luật công chứng năm 2014 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Qua đó, nâng cao nhận thức cho cán bộ, công chức, viên chức, đội ngũ công chứng viên nhằm tạo điều kiện nắm vững những nội dung cơ bản của Luật Công chứng và để triển khai có hiệu quả Luật Công chứng năm 2014 trong địa bàn tỉnh
Có thể khẳng định rằng, công tác triển khai thi hành Luật Công chứng đã được thực hiện tương đối đồng bộ, toàn diện và sâu rộng Các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương, các công chứng, công chứng viên đều vào cuộc và thực hiện với trách nhiệm cao Nhận thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân về vai trò, vị trí của hoạt động công chứng được nâng lên rõ rệt, tạo tiền đề cho việc triển khai có hiệu quả Luật Công chứng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Sở Tư pháp đã tham mưu UBND tỉnh tổ chức hội nghị tập huấn, triển khai, quán triệt Luật Công chứng và các văn bản hướng dẫn thi hành cho các thành viên Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh, báo cáo viên pháp luật tỉnh, cộng tác viên trợ giúp pháp lý; tổ chức tập huấn chuyên sâu cho công chứng viên và những người làm công tác tại các công chứng; cán bộ chủ chốt ở các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh Đồng thời, Sở Tư pháp đã tham mưu UBND tỉnh ban hành các văn bản quản lý nhà nước thống nhất, đồng bộ, khả thi; các văn bản chỉ đạo các ngành liên quan, các địa phương thực hiện có hiệu quả trong lĩnh vực công chứng tại tỉnh Đắk Lắk, cụ thể như sau:
Thứ nhất, các văn bản quy phạm pháp luật: Quyết định số
37/2015/QĐ-UBND ngày 28/10/2015 của 37/2015/QĐ-UBND tỉnh Đắk Lắk về việc quy định mức trần thù lao công chứng áp dụng đối với các công chứng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Thứ hai, Sở Tư pháp tham mưu UBND tỉnh thực hiện tốt công tác quy
hoạch phát triển các công chứng trên địa bàn tỉnh, Sở đã tham mưu UBND tỉnh trình Bộ Tư pháp thẩm định và báo cáo Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch các công chứng tại tỉnh Đắk Lắk theo từng giai đoạn (Quyết định số 2104/QĐ-TTg phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển công chứng đến năm
Trang 402020), theo đó, đến năm 2020 tỉnh Đắk Lắk Quy hoạch 30 công chứng, cụ thể: giai đoạn 2010-2015 quy hoạch 19 công chứng (02 Phòng công chứng, 17 Văn phòng công chứng); giai đoạn 2016-2020 quy hoạch 11 công chứng
Bên cạnh đó, Sở Tư pháp luôn rà soát, niêm yết thủ tục hành chính liên quan đến công chứng tại trụ sở Sở Tư pháp, Trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp và niêm yết tại các Văn phòng công chứng, minh bạch hoá trình tự, thủ tục công chứng tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức có nhu cầu công chứng, truy cập thông tin một cách chính xác, nhanh chóng góp phần nâng cao lòng tin của Nhân dân đối với các Văn phòng công chứng, thay đổi nhận thức của Nhân dân đối với chủ trương xã hội hoá lĩnh vực công chứng, giảm tải sự
áp lực của các Phòng công chứng trong việc thực hiện nhiệm vụ công chứng
Nhìn chung, kết quả triển khai thi hành Luật Công chứng và việc chuyển giao công tác chứng thực các hợp đồng, giao dịch về bất động sản từ UBND cấp huyện, UBND cấp xã sang các công chứng trên địa bàn tỉnh thời gian qua
đã tách bạch rõ hai loại việc công chứng và chứng thực, tạo an toàn pháp lý đối với các hợp đồng, giao dịch về bất động sản; UBND cấp xã có nhiều thời gian thực hiện công tác quản lý nhà nước; góp phần tích cực nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về chủ trương xã hội hoá về công chứng của Đảng và Nhà nước ta, về vai trò, ý nghĩa của hoạt động công chứng trong nền kinh tế - thị trường Hoạt động công chứng đã cơ bản đáp ứng nhu cầu công chứng của người dân, đóng góp nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và có sự đóng góp khá tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Tại tỉnh, Sở Tư pháp tỉnh có trách nhiệm trong việc tham mưu UBND tỉnh quản lý nhà nước về công chứngtrên địa bàn tỉnh, đã chủ động tham mưu trong việc dự báo, định hướng, quy hoạch phát triển Công chứng, tạo khung hành lang pháp lý an toàn, hiệu quả trong hoạt động của các Công chứng trên địa bàn tỉnh, góp phần tích cực, hiệu quả trong việc thực hiện quản lý nhà nước bằng pháp luật tại địa phương Việc ban hành các văn bản quản lý đúng đắn,