THỦ TỤC PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỚI CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC KHÁC TRONG XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI (Luận văn thạc sĩ)THỦ TỤC PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỚI CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC KHÁC TRONG XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI (Luận văn thạc sĩ)THỦ TỤC PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỚI CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC KHÁC TRONG XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI (Luận văn thạc sĩ)THỦ TỤC PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỚI CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC KHÁC TRONG XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI (Luận văn thạc sĩ)THỦ TỤC PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỚI CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC KHÁC TRONG XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI (Luận văn thạc sĩ)THỦ TỤC PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỚI CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC KHÁC TRONG XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI (Luận văn thạc sĩ)THỦ TỤC PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỚI CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC KHÁC TRONG XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN VIẾT HẢI
THỦ TỤC PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
VỚI CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC KHÁC TRONG XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỪ THỰC TIỄN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Hà Nội - 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN VIẾT HẢI
THỦ TỤC PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
VỚI CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC KHÁC TRONG XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỪ THỰC TIỄN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS HOÀNG THỊ QUỲNH CHI
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, trung thực và khách quan
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Học viện Khoa học xã hội xem xét để tôi bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Viết Hải
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỚI CÁC CƠ QUAN,
TỔ CHỨC TRONG XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 7
1.1 Khái quát về thủ tục phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự 7 1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự 22
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN THỦ TỤC PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN
SỰ VỚI CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC KHÁC TRONG XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 26
2.1 Thực trạng quy định pháp luật về thủ tục phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự 26 2.2 Thực tiễn thực hiện thủ tục phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự trên địa bàn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội 40
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN THỦ TỤC PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỚI CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC KHÁC TRONG XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN QUẬN HOÀNG MAI, HÀ NỘI 65
Trang 53.1 Phương hướng 65 3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự 67
KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LTHADS : Luật Thi hành án dân sự
LTHADS 2008 : Luật Thi hành án dân sự năm 2008
LTHADS 2014 : Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014
THADS : Thi hành án dân sự
VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành án dân sự (THADS) là hoạt động tổ chức thi hành phần dân sự của những bản án, quyết định có hiệu lực thi hành theo quy định của pháp luật Đây là giai đoạn có ý nghĩa vô cùng quan trọng để những phán quyết trên giấy của tòa án được thực thi trên thực tế, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Chính vì hoạt động THADS tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia nên THADS là công việc vô cùng phức tạp, dễ gây ra sự bất hợp tác, bức xúc, chống đối của những người liên quan Hoạt động THADS đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của nhiều cơ quan, tổ chức như: Công an, Tòa án nhân dân (TAND), Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), Ủy ban nhân dân (UBND), Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, Bảo hiểm xã hội, cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh Việc phối hợp tốt với các cơ quan, tổ chức hữu quan là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của công tác THADS
Quá trình giải quyết việc thi hành án, cơ quan THADS phải triển khai nhiều hoạt động khác nhau như: thông báo, xác minh điều kiện THADS, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành, thỏa thuận thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, tổ chức cưỡng chế Trong các hoạt động đó, xác minh điều kiện THADS là hoạt động cần sự phối hợp chặt chẽ, tích cực từ phía các chủ thể khác Kết quả xác minh càng chính xác, càng đầy đủ thì việc tổ chức thi hành án càng đạt hiệu quả và ngược lại
Nhận thức được vai trò của hoạt động xác minh điều kiện THADS trong quá trình giải quyết việc thi hành án, những năm gần đây, thể chế về xác minh điều kiện THADS đã từng bước được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý hiệu quả cho việc triển khai trên thực tế Tuy nhiên, sự phối hợp giữa cơ quan THADS và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong xác minh điều kiện THADS vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác xác minh điều kiện THADS nói riêng và hiệu quả công tác THADS nói chung
Qua nghiên cứu đề tài: “Thủ tục phối hợp giữa cơ quan THADS với
các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS từ thực tiễn
Trang 8quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội”, luận văn góp phần làm sáng tỏ những
vấn đề lý luận về sự phối hợp giữa cơ quan THADS và các cơ quan hữu quan trong xác minh điều kiện THADS, thực tiễn quan hệ phối hợp tại địa bàn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, chỉ rõ và phân tích những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế và từ đó kiến nghị một số giải pháp để nâng cao hiệu quả phối hợp xác minh điều kiện THADS trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, các đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực THADS đã được nhiều tác giả nghiên cứu, tập trung vào một số lĩnh vực như: địa vị pháp lý của
cơ quan THADS và CHV, quản lý nhà nước trong THADS, hoàn thiện hệ thống pháp luật về THADS, các thủ tục THADS Riêng trong lĩnh vực xác minh điều kiện THADS, việc nghiên cứu hầu hết mới chỉ được đề cập đến trong số tạp chí, diễn đàn pháp luật, giáo trình giảng dạy về THADS của Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện tư pháp, mà thiếu các đề tài nghiên cứu theo chiều sâu Có thể kể đến một số đề tài nổi bật nghiên cứu về vấn đề xác minh điều kiện THADS như:
- Đề tài "Xác minh điều kiện THADS": Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ năm 2013
của tác giả Đinh Thanh Hương, Trường Đại học quốc gia Hà Nội nghiên cứu những vấn đề cơ bản trong xác minh điều kiện THADS như khái niệm, đặc điểm, cơ sở của quy định về xác minh điều kiện THADS, nội dung các quy định và thực tiễn thực hiện các quy định về xác minh điều kiện THADS Tuy nhiên, luận văn mới đề cập đến những vấn đề mang tính lý luận chung, chưa đi sâu nghiên cứu sự phối hợp giữa
cơ quan THADS và các cơ quan, tổ chức khác trong hoạt động này
- Đề tài "Thực hiện pháp luật về xác minh điều kiện THADS qua thực tiễn
tỉnh Nghệ An": Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ năm 2017 của tác giả Nguyễn Hồng
Trung, Trường Đại học quốc gia Hà Nội Luận văn có ý nghĩa thực tiễn với địa bàn tỉnh Nghệ An nhưng phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung ở các quy định pháp luật chung về xác minh điều kiện THADS mà chưa đi sâu phân tích, làm rõ mối quan hệ phối hợp trong hoạt động này
Nghiên cứu về mối quan hệ phối hợp trong THADS cũng chỉ chiếm một
số lượng nhỏ trong số các nghiên cứu về THADS, có thể kể đến các số đề tài đáng chú ý như:
Trang 9- Đề tài“Mối quan hệ giữa các cơ quan trong THADS”: Luận văn tốt
nghiệp thạc sỹ năm 2008 của tác giả Lê Thị Hồng Hạnh, Trường Đại học Luật
Hà Nội Luận văn được viết vào thời kỳ Luật THADS 2008 mới được ban hành, đến hiện tại,một số vấn đề đã không còn phù hợp với thực tiễn
- Đề tài“Nguyên tắc trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
với cơ quan THADS, Chấp hành viên”: Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ năm 2013
của tác giả Lê Hồng Suy, Trường Đại học Luật Hà Nội Luận văn tập trung vào nghiên cứu trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong mối quan hệ với cơ quan THADS, chưa đi sâu vào phân tích trách nhiệm của cơ quan THADS trong mối quan hệ đó nên cần tiếp tục được nghiên cứu bổ sung
- Đề tài: “Mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan, tổ
chức hữu quan trong THADS ở tỉnh Thanh Hóa”Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ
năm 2015 của tác giả Vi Trọng Thụ, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Trong luận văn, tác giả chưa làm rõ lý do và bản chất của từng mối quan hệ nên cần được nghiên cứu bổ sung thêm
- Đề tài:"Thủ tục phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức
khác trong cưỡng chế THADS từ thực tiễn tỉnh An Giang", Luận văn tốt nghiệp
thạc sỹ năm 2018 của tác giả Tô Huy Khoa, Học viện Khoa học xã hội Luận văn
đi sâu vào việc nghiên cứu mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS với các
cơ quan, tổ chức khác trong việc cưỡng chế THADS tại tỉnh An Giang Đây là một lĩnh vực riêng biệt trong hoạt động phối hợp THADS
- Đề tài: "Sự phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức
khác trong THADS từ thực tiễn thành phố Hà Nội": Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ
năm 2019 của tác giả Nguyễn Thu Hằng, Học viện Khoa học xã hộinghiên cứu
về mối quan hệ phối hợp THADS nói chung, gắn với thực tiễn của thành phố Hà Nội, nhưng chưa đi sâu vào phân tích, làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các cơ quan trong việc xác minh điều kiện THADS
Ngoài ra, còn một số công trình, đề tài khoa học và các bài viết trên các tạp chí, diễn đàn pháp luật đề cập đếncác vấn đề lý luận và thực tiễn về xác minh điều kiện THADS, sự phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức khác Tuy nhiên, chưa có đề tài nghiên cứu nào về thủ tục phối hợp giữa cơ quan
Trang 10THADS với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS Vì vậy,thực hiện đề tài "Thủ tục phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS từ thực tiễn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội” là cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động xác minh điều kiện THADS
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thủ tục phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS; nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện thủ tục phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS từ thực tiễn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội Từ đó,
đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi thủ tục phối hợp giữa cơ quan THADS và các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích khái niệm, đặc điểm của thủ tục phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS, làm rõ các nguyên tắc, phương thức, nội dung, yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện thủ tục này trên thực tế
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về thủ tục phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS; Phân tích những ưu điểm, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân từ thực tiễn địa bàn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục phối hợp giữa cơ quan THADS và các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề chung và quy định pháp luật về thủ tục phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức khác trong hoạt động xác minh điều kiện THADS, khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng trên địa bàn
Trang 11quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là những quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về thủ tục phối hợp giữa các cơ quan THADS và các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS và đánh giá thực tiễn thực hiện thủ tục phối hợp đó tại quận Hoàng Mai Số liệu thống kê được thực hiện trong thời gian từ năm 2016 đến hết năm 2018 (từ thời điểm ngành THADS thực hiện chỉ tiêu công tác theo Nghị quyết số 111/2015/QH13 về công tác phòng chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của VKSND, của TAND và công tác thi hành án năm 2016 và các năm tiếp theo của Quốc hội ban hành ngày 27/11/2015)
Thủ tục phối hợp giữa Thừa phát lại và các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
Các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS được đề cập đến trong luận vănlà các cơ quan nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức chuyên môn thuộc cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội nắm giữ hoặc quản
lý thông tin về điều kiện THADS của người phải thi hành án
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đường lối chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về cải cách hành chính, cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Đồng thời, trên
cơ sở kế thừa, phát triển các quan điểm khoa học được rút ra từ các công trình nghiên cứu trước đây về THADS
Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, thống kê nhằm khái quát những vấn đề lý luận cơ bản, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác phối hợp trong xác minh điều kiện THADS
Trang 126 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về thủ tục phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS, thể hiện ở những nội dung căn bản sau đây:
- Luận văn làm sáng tỏ hơn những lý luận cơ bản về thủ tục phối hợp giữa
cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS
- Luận văn góp phần đánh giá thực trạng pháp luật về thủ tục phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng thủ tục phối hợp giữa cơ quan THADS với
cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS trên địa bàn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, luận văn đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp trong xác minh điều kiện THADS ở quận Hoàng Mai và địa phương khác trong cả nước
Luận văn có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo với các công trình nghiên cứu liên quan
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 3 chương, cụ thể như sau:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thủ tục phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành
án dân sự
- Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện thủ tục phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
- Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC PHỐI HỢP GIỮA
CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỚI CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC TRONG XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1 Khái quát về thủ tục phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thi hành án dân sự
1.1.1.1 Khái niệm thi hành án dân sự
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và nền
tư pháp, thuật ngữ thi hành án đã trở thành thuật ngữ thu hút sự quan tâm của các phương tiện thông tin đại chúng, hoạt động thi hành án ngày càng được nhiều chủ thể trong xã hội quan tâm Nói đến thi hành án là nói đến việc tổ chức thực hiện trên thực tế những bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành của Tòa án, các cơ quan có thẩm quyền theo những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Thi hành án bao gồm thi hành án hình sự, thi hành án hành chính và THADS
THADS là hoạt động thực hiện “các bản án, quyết định dân sự, hình phạt
tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Toà án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại” [42, tr.2]
Theo Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa năm 2006 thì
"THADS là hoạt động của cơ quan THADS, người được thi hành án, người phải thi hành án và các chủ thể khác trong việc thực hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án" Hiện nay còn tồn tại khá nhiều quan điểm khác nhau về
bản chất của THADS, có thể kể đến một số quan điểm như sau:
- Quan điểm cho rằng THADS là hoạt động tư pháp Nói như vậy vì các
lý do sau đây:
Thứ nhất, THADS diễn ra ngay sau quá trình xét xử và được pháp luật tố tụng quy định Sau khi bản án, quyết định của tòa án được ban hành thì bản án
Trang 14đó phải được mọi người tôn trọng và phải được bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh trên thực tế
Thứ hai, THADS là hoạt động bảo đảm cho việc biến các phán quyết của
tòa án trở thành hiện thực, có xét xử thì phải có thi hành án.“Xét xử và thi hành
án là hai mặt thống nhất của quá trình bảo vệ lợi ích của đương sự” [3, tr.43]
Một phán quyết của tòa án nếu không được tổ chức thi hành thì quyền lợi hợp pháp của đương sự cũng chỉ là thứ quyền lợi trên giấy, mà không có một ý nghĩa
thực tế nào cả Quá trình tổ chức thi hành án không được phép “sáng tạo” mà
phụ thuộc vào nội dung phán quyết của Tòa án Hoạt động THADS là hoạt động bắt nguồn từ quá trình xét xử Bản án của tòa án là căn cứ để tổ chức thi hành án,
nó xác định nội dung, mức độ, phạm vi tổ chức thi hành án Khi bản án của Tòa
án có sự thay đổi thì việc tổ chức thi hành án cũng buộc phải thay đổi theo Ví dụ như: Khi nhận được quyết định giám đốc thẩm của Tòa án thì cơ quan THADS phải ra quyết định đình chỉ thi hành án, khi nhận được bản án xét xử lại của tòa
án thì cơ quan THADS ra quyết định thi hành án mới để tổ chức thi hành…
Thứ ba, ở Việt Nam, trong một thời gian dài (cho đến trước năm 1993), THADS là một bộ phận của Tòa án, nằm hoàn toàn trong Tòa án Nghị quyết số
49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”
của Bộ chính trị cũng xác định cơ quan thi hành án là một trong số các cơ quan
tư pháp, gồm: Cơ quan điều tra, VKSND, TAND và cơ quan thi hành án Điều này thể hiện tính chất tư pháp của hoạt động THADS
- Quan điểm thứ hai cho rằng THADS là hoạt động hành chính, vì các lý
do sau:
Thứ nhất, quá trình tố tụng là quá trình đi tìm sự thật với nhiều giai đoạn khác nhau, nhưng khi có bản án của Tòa án thì giai đoạn đi tìm sự thật và hướng
giải quyết sự thật đó đã kết thúc.“Tố tụng là quá trình đi tìm chân lý, còn
THADS là quá trình thực thi chân lý bằng công lý" [35, tr.9] THADS mặc dù
tiếp nối sau giai đoạn tố tụng nhưng nó không phải là một giai đoạn tố tụng
Thứ hai, quá trình tổ chức THADS mang tính chất chấp hành, điều hành,
do các cơ quan THADS, được tổ chức theo ngành dọc do Bộ Tư pháp (cơ quan
Trang 15thuộc Chính phủ) thống nhất quản lý Thủ tục THADS là thủ tục mang tính hành chính nhằm mục đích thực thi các bản án, quyết định của Tòa án
Hai quan điểm nói trên đều có những căn cứ khoa học riêng để lý giải, nhưng đều có điểm hạn chế là đã tuyệt đối hóa một tính chất cụ thể của THADS Cần phải thấy rằng, mặc dù THADS là hoạt động bảo vệ pháp luật nhưng nó không đơn thuần chỉ là hoạt động mang tính tư pháp bởi lẽ khi bản án của Tòa án
có hiệu lực pháp luật thì đúng sai đã được chỉ rõ ràng, chân lý đã được làm sáng
tỏ Việc tổ chức thi hành án chịu sự điều chỉnh của pháp luật về THADS, do cơ quan THADS thực hiện, không thuộc chức năng của cơ quan xét xử, cũng không chịu sự điều chỉnh của pháp luật tố tụng THADS cũng không chỉ đơn thuần là hoạt động hành chính vì hoạt động hành chính là hoạt động mang tính chất chấp hành, điều hành, các quyết định hành chính được ban hành, có tính chất bắt buộc thi hành với cấp dưới Trong khi đó, THADS là hoạt động thực hiện phán quyết của Tòa án chứ không phải chỉ tuân theo mệnh lệnh hành chính Thực chất hoạt động hành chính trong THADS chỉ để đảm bảo cho việc tổ chức thi hành án mà thôi
Vì vậy, tác giả đồng tình với quan điểm cho rằng THADS là hoạt động
hành chính-tư pháp THADS là khâu nối liền giữa hoạt động tư pháp và hoạt
động hành chính Cần phải đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ giữa cơ quan tư pháp với các cơ quan hành chính nhà nước trong quá trình tổ chức thi hành án thì mới
có thể đảm bảo hiệu quả của công tác THADS
1.1.1.2 Đặc điểm của thi hành án dân sự
a) Chủ thể thực hiện hoạt động THADS là Chấp hành viên (CHV): CHV
là người trực tiếp được thủ trưởng đơn vị giao nhiệm vụ tổ chức các quyết định thi hành án cụ thể
b) Đối tượng của THADS: Là các bản án, quyết định của Tòa án, quyết
định của Trọng tài thương mại và Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, nhưng cần lưu ý một số điểm sau:
Thứ nhất: Các bản án, quyết định đó phải có hiệu lực pháp luật hoặc thuộc trường hợp chưa có hiệu lực pháp luật nhưng phải được tổ chức thi hành ngay theo quy định tại Điều 2 LTHADS 2014
Trang 16Thứ hai: THADS không chỉ là thi hành các bản án, quyết định dân sự mà
nó còn thi hành phần dân sự trong các bản án, quyết định về hình sự, hành
chính.Các bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục THADS bao gồm: " bản
án, quyết định dân sự; hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự; phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Toà
án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại"[45, Điều 1]
c)THADS là hoạt động được thực hiện theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định: Điều này là hoàn toàn dễ hiểu khi mà hoạt động THADS có
sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân khác nhau với nhiều tư cách khác nhau (như là chủ thể phối hợp, là đương sự ) Hoạt động THADS mang tính chính trị cao, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức liên quan Vì vậy, để hoạt động THADS diễn ra một cách công bằng, hiệu quả, minh bạch, khách quan, tránh sự tùy tiện thì nó phải được thực hiện theo các nguyên tắc, thủ tục, trình tự mà pháp luật quy định từ khi bắt đầu đến khi kết thúc
d) Các biện pháp tổ chức THADS vừa thể hiện tính quyền lực nhà nước,
có tính chất bắt buộc nhưng cũng thể hiện tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự Các đương sự được quyền tự thỏa thuận thời gian, phương thức thực
hiện việc thi hành án, với điều kiện không trái pháp luật và đạo đức xã hội, không làm ảnh hưởng đến người thứ ba Điều này làm tăng tính tích cực của công dân trong giai đoạn thi hành án, tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí xã hội, giảm bức xúc trong nhân dân
d) THADS là hoạt động có sự tham gia phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội: Để hoạt động THADS thực sự hiệu quả thì bên cạnh
sự cố gắng của những người làm công tác THADS thì phải có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan tư pháp, cơ quan hành chính, các tổ chức chính trị - xã hội - kinh tế Tuy nhiên, cơ quan THADS phải là trung
Trang 17tâm của sự phối hợp, phải chủ động trong mối quan hệ phối hợp đó
Từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm chung về THADS
như sau: THADS là hoạt động hành chính- tư pháp do cơ quan THADS có thẩm
quyền tổ chức thực hiện, nhằm thực thi các bản án, quyết định của Tòa án hoặc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định
1.1.2 Khái niệm xác minh điều kiện thi hành án dân sự
1.1.2.1 Khái niệm điều kiện thi hành án dân sự
Điều kiện THADS là khái niệm xác định khả năng thực hiện nghĩa vụ theo nội dung bản án, quyết định của tòa án của người phải thi hành án Điều 3
Luật THADS năm 2008 quy định: "Có điều kiện thi hành án là trường hợp
người phải thi hành án có tài sản, thu nhập để thực hiện nghĩa vụ về tài sản; tự mình hoặc thông qua người khác thực hiện nghĩa vụ thi hành án" Như vậy,
"chưa có điều kiện thi hành án" nghĩa là người phải thi hành án chưa có tài sản,
thu nhập để thực hiện nghĩa vụ về tài sản, chưa có khả năng để tự mình hoặc thông qua người khác thực hiện nghĩa vụ thi hành án
Khả năng thực hiện nghĩa vụ thi hành án được hiểu cụ thể như sau:
- Người phải thi hành án có tài sản để thi hành nghĩa vụ về tài sản.Tài sản
ở đây có thể là động sản hoặc bất động sản, quyền tài sản và tài sản; tài sản riêng hoặc tài sản chung với người khác; là tiền mặt hoặc giấy tờ có giá
- Người phải thi hành án có thu nhập để thực hiện nghĩa vụ về tài sản Theo Điều 78 LTHADS 2008 thì thu nhập của người phải thi hành án bao gồm: Tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và các thu nhập hợp pháp khác
- Người phải thi hành án tự mình hoặc thông qua người khác để thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến nhân thân của họ như nghĩa vụ xin lỗi công khai, mở lối đi, buộc phải thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định
- Bên cạnh đó, khả năng thực hiện nghĩa vụ thi hành án còn bao gồm cả những yếu tố liên quan đến việc tổ chức thi hành án như nhân thân của người phải thi hành án, dư luận xã hội ở địa phương
Trang 181.1.2.2 Khái niệm xác minh điều kiện thi hành án dân sự
Hiểu theo nghĩa chung nhất thì xác minh chính là việc thu thập các chứng
cứ, tài liệu để tìm hiểu, chứng minh một vấn đề nào đó Xác minh điều kiện THADS được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, cụ thể:
Theo tác giả Hoàng Thị Thu Trang-Cục THADS tỉnh Nghệ An thì: "Xác
minh điều kiện THADS là việc Chấp hành viên thu thập thông tin, tiếp cận, xác định đối tượng, mục tiêu cần phải thi hành ( tài sản, thu nhập của người phải thi hành án, vật, giấy tờ, nhà phải trả…) và các thông tin khác phục vụ cho quá trình tổ chức thi hành án như: Nhân thân, hoàn cảnh gia đình của người phải thi hành án”[30, tr.1]
Quan điểm của tác giả Nguyễn Bích Thảo và Nguyễn Thị Hương Giang
thì lại cho rằng: "Xác minh THADS là hoạt động nhằm làm rõ người phải thi hành án
có điều kiện thi hành án dân sự hay không, bao gồm việc thu thập thông tin về tài sản, thu nhập của người phải thi hành án, về đối tượng phải thi hành ( như vật, giấy
tờ, nhà phải trả…) và các thông tin khác phục vụ cho quá trình tổ chức thi hành án như: nhân thân, hoàn cảnh gia đình người phải thi hành án” [47, tr.3]
Giáo trình nghiệp vụ thi hành án dân sự của Học viện tư pháp nêu định
nghĩa xác minh điều kiện THADS là:“Làm rõ người phải thi hành án (có thể là
cá nhân hoặc tổ chức) có điều kiện thi hành án hay không có điều kiện thi hành
và do CHV thực hiện”[32, tr.90]
Các quan điểm trên có những điểm khác nhau nhưng đều thống nhất đặc điểm của xác minh THADS như sau:
- Về chủ thể tiến hành: Chủ thể của hoạt động xác minh điều kiện THADS
là CHV.CHV có nhiệm vụ: "Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người
phải thi hành án; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp với
cơ quan có liên quan xử lý vật chứng, tài sản và những việc khác liên quan đến thi hành án" [42, Điều 17] Điều này khác với hoạt động điều tra của cơ quan
công an do điều tra viên tiến hành, cũng khác với hoạt động thanh tra nhà nước
do các thanh tra viên chịu trách nhiệm thực hiện
Trang 19- Về nội dung xác minh, bao gồm:
+ Xác minh tài sản, thu nhập của ngưởi phải thi hành án để thực hiện các nghĩa vụ thi hành án về trả nợ, cấp dưỡng, bồi thường
+ Xác minh đối tượng phải thi hành án trong các vụ việc về giao nhà, giao vật, giấy tờ
+ Xác minh nhân thân người phải thi hành án như: hoàn cảnh gia đình, ý thức chấp hành pháp luật…để có biện pháp tác động phù hợp trong quá trình làm việc với người phải thi hành án
+ Xác minh các vấn đề liên quan đến quá trình tổ chức thi hành án như dư luận xã hội ở địa phương, địa hình giao thông xung quanh khu vực thi hành án
- Về mục đích xác minh: Làm rõ người phải thi hành án có điều kiện thi
hành án hay không có điều kiện thi hành án Căn cứ vào kết quả xác minh, CHV phân loại được hồ sơ thi hành án, áp dụng các biện pháp để tổ chức thi hành hoặc xếp vào diện chưa có điều kiện thi hành hoặc ủy thác cơ quan thi hành án khác giải quyết
Qua các phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa như sau: Xác minh điều
kiện THADS là việc CHV thu thập các thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, kết quả xác minh làm cơ sở cho việc tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật
1.1.3 Thủ tục phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự
1.1.3.1 Khái niệm thủ tục phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự
Cơ quan THADS là cơ quan nhà nước có nhiệm vụ trực tiếp tổ chức thi
hành các bản án, quyết định có hiệu lực thi hành theo trình tự thủ tục của pháp luật THADS Theo quy định hiện hành thì các cơ quan THADS gồm: Cơ quan THADS cấp tỉnh (Cục THADS), Cơ quan THADS cấp huyện (Chi cục THADS)
và Cơ quan thi hành án cấp quân khu (Phòng thi hành án)
Các cơ quan, tổ chức khác trong THADS là các cơ quan, tổ chức có liên
quan đến hoạt động THADS như: TAND, VKSND, UBND các cấp, Công an,
Trang 20Kho bạc nhà nước, các tổ chức tín dụng, Bảo hiểm xã hội, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, các tổ chức chính trị - kinh tế - xã hội khác Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này được quy định trong pháp luật THADS, tập trung tại Chương VIII LTHADS 2014
Theo cách hiểu chung nhất, thủ tục là thứ tự và cách thức làm việc theo một lề lối đã được quy định Với các cơ quan nhà nước thì thủ tục phải theo quy định của pháp luật
Theo nghĩa chung nhất thì phối hợp là "cùng hành động hoặc hoạt động
hỗ trợ lẫn nhau" nhằm đạt được mục đích chung [39, tr.759] Xét ở khía cạnh
quản lý nhà nước thì phối hợp được hiểu là“ một phương thức, một hình thức,
một quy trình kết hợp hoạt động của các cơ quan, tổ chức lại với nhau để bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức này thực hiện được đầy đủ, hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, nhằm đạt được các lợi ích chung."[31,
tr.360]
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm: Thủ tục phối hợp giữa cơ quan THADS
với các cơ quan, tổ chức khác trong THADS là cách thức, phương thức kết hợp hoạt động của cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức khác trong THADS theo quy định của pháp luật để bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được thi hành nghiêm chỉnh trên thực tế
Thủ tục phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS là cách thức, phương thức kết hợp hoạt động của cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức khác trong việc thu thập các thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, làm cơ sở cho việc tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật
1.1.3.2 Ý nghĩa của việc phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự
Sự phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quá trình tổ chức thi hành án, thể hiện ở các nội dung sau:
Trang 21a) Xác minh điều kiện THADS là hoạt động trung tâm trong quá trình tổ chức THADS Cơ quan THADS không thể nắm bắt được điều kiện thi hành án của người phải thi hành án nếu không tiến hành hoạt động xác minh Thông tin
về điều kiện THADS của người phải thi hành án chỉ có thể thu thập được thông qua các cơ quan, tổ chức quản lý thông tin Mỗi cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình đều có trách nhiệm phối hợp, giúp
đỡ cơ quan THADS thực hiện mục tiêu chung Không phối hợp thì không thể có hoạt động xác minh điều kiện THADS trên thực tế
b)Việc cung cấp các thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án chỉ đảm bảo tính khách quan, chính xác và được sử dụng để phân loại hồ
sơ, áp dụng các biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật khi những thông tin đó do các cơ quan, tổ chức có chức năng quản lý các thông tin cung cấp cho cơ quan thi hành án, chẳng hạn như: Thông tin về số dư tài khoản phải
do tổ chức tín dụng cung cấp, thông tin về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải do cơ quan đăng ký kinh doanh cung cấp…Đối với Chấp hành viên, nếu hồ sơ thi hành án không lưu biên bản xác minh hoặc biên bản xác minh không đúng thời hạn, nội dung xác minh không triệt để thì có nghĩa là CHV đã vi phạm quy định trong quá trình giải quyết hồ sơ Bên cạnh đó, trong nhiều trường hợp, chỉ CHV tham gia xác minh là không đủ, mà cần có sự giám sát của VKSND, cần sự tham gia chứng kiến của chính quyền địa phương thì kết
quả xác minh mới được pháp luật chấp nhận
1.1.3.3 Chủ thể tham gia phối hợp trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự
Việc phối hợp xác minh điều kiện THADS được tiến hành khi có ít nhất hai phía chủ thể: Phía chủ thể yêu cầu phối hợp và phía chủ thể thực hiện yêu cầu phối hợp đó.Trong xác minh điều kiện THADS, các chủ thể tham gia gồm có:
a ) Chủ thể yêu cầu phối hợp là CHV: CHV là người đại diện cho cơ quan
THADS, là chủ thể tham gia và chịu trách nhiệm trực tiếp trong quá trình xác minh điều kiện THADS CHV là người chủ động liên hệ, đề nghị các cơ quan, tổ chức hữu quan phối hợp để thực hiện nhiệm vụ được giao.Trong quá trình đó,
Trang 22CHV có thể phân công cho Thư ký triển khai một số nội dung công việc như: Soạn thảo các công văn đề nghị cung cấp thông tin, đặt lịch làm việc, ghi biên bản xác minh nhưng người chịu trách nhiệm phải là CHV CHV cũng có thể mời đại diện các cơ quan hữu quan như: VKSND cùng cấp, đại diện UBND, công an tham gia để đảm bảo việc xác minh diễn ra khách quan, công khai, an toàn, hiệu quả
b) Chủ thể thực hiện yêu cầu phối hợp xác minh điều kiện THADS là các
cơ quan, tổ chức đang nắm giữ, quản lý thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành ántrên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật: Chủ thể này rất đa dạng và phong phú, có thể là cơ quan nhà
nước, cơ quan chuyên môn thuộc cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế - chính trị- xã hội tùy hồ sơ cụ thể Cần phải thấy rằng trách nhiệm phối hợp chỉ phát sinh khi có đề nghị trực tiếp từ phía cơ quan THADS, và trong phạm vi các nội dung cơ quan THADS yêu cầu Cơ quan, tổ chức phối hợp có thể cử cán bộ của mình cung cấp thông tin, nhưng chủ thể chịu trách nhiệm là người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó
1.1.3.4 Nguyên tắc thực hiện phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự
Nguyên tắc phối hợp trong xác minh điều kiện THADS được hiểu là những tư tưởng chủ đạo điều chỉnh mối quan hệ giữa cơ quan THADS với các
cơ quan tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS phù hợp với ý chí nhà nước và có tính bắt buộc đối với các chủ thể tham gia Việc phối hợp trong xác minh điều kiện thi hành án phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
a) Nguyên tắc tuân thủ quy định của pháp luật
Pháp luật là những quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo ý chí của nhà nước, được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước Nhà nước ta quản lý xã hội bằng pháp luật nên
cơ quan THADS và các cơ quan, tổ chức khác khi tham gia xác minh điều kiện THADS đều phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật Nếu CHV thực hiện không đúng, cơ quan tổ chức có quyền từ chối trả
Trang 23lời Ngược lại, nếu cơ quan, tổ chức từ chối cung cấp thông tin mà không có lý do chính đáng cũng sẽ phải chịu trách nhiệm tùy theo mức độ vi phạm
tổ chức không có căn cứ và không có nghĩa vụ phải cung cấp các thông tin đó cho cơ quan thi hành án Tính kịp thời biểu hiện ở việc pháp luật quy định rất rõ thời hạn xác minh của CHV đối với từng trường hợp cụ thể, đồng thời quy định thời gian cung cấp thông tin của các cơ quan tổ chức liên quan Tính chủ động và kịp thời góp phần ngăn chặn, phòng ngừa việc đương sự tẩu tán tài sản, nhất là tài khoản hoặc động sản, giúp CHV áp dụng các biện pháp tổ chức thi hành án đúng lúc, đảm bảo hiệu quả của công tác thi hành án Cần thấy rằng kịp thời chính là một biểu hiện của nguyên tắc chủ động, và đã chủ động cần phải đảm bảo tính kịp thời trong việc phối hợp xác minh điều kiện THADS
c) Đảm bảo sự phối hợp không làm ảnh hưởng đến chức năng, nhiệm vụ
và hoạt động chuyên môn của các cơ quan, tổ chức khác
Cũng như cơ quan THADS, các cơ quan, tổ chức khác cũng có những nhiệm vụ chuyên môn riêng của mình Do đó, yêu cầu phối hợp xác minh điều kiện THADS chỉ được thực hiện trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức được yêu cầu cung cấp thông tin và cơ quan THADS Để đảm bảo hiệu quả công việc của cả hai bên, CHV cần có sự nhạy bén, cân nhắc trong việc lựa chọn thời điểm, địa điểm và nội dung phối hợp cụ thể Còn các cơ quan, tổ chức khi phối hợp với cơ quan THADS cũng cần có lộ trình làm việc, cân đối thời gian và nhân lực để đảm bảo hiệu quả phối hợp Chẳng hạn như đối với việc xác minh hiện trạng tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, CHV phải trao đổi trước với chính quyền địa phương về thời gian tổ chức thực hiện, tránh vào thời điểm địa phương ưu tiên cho các hoạt động chính trị, văn
Trang 24hóa, xã hội quan trọng CHV cũng cần phải bảo mật thông tin, chỉ sử dụng những thông tin được cung cấp vào việc giải quyết hồ sơ thi hành án
1.1.3.5 Nội dung yêu cầu phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự
Nội dung yêu cầu phối hợp trong xác minh điều kiện THADS là các thông tin về khả năng thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án CHV có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức đang quản lý thông tin cung cấp các thông tin như sau:
- Yêu cầu Ngân hàng, Tổ chức tín dụng khác cung cấp thông tin về số tiền trong tài khoản, sổ tiết kiệm của người phải thi hành án
- Yêu cầu công ty chứng khoán, đơn vị phát hành giấy tờ có giá cung cấp thông tin về loại, số lượng, giá trị cổ phiếu hoặc giấy tờ có giá của người phải thi hành án
- Yêu cầu các cơ quan đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tài sản cung cấp thông tin liên quan đến số lượng, chủng loại, tình trạng, thời gian sử dụng, các đặc điểm của tài sản, người quản lý đối với các tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng như: quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, một số loại phương tiện giao thông
- Yêu cầu cơ quan chi trả thu nhập cung cấp thông tin về mức thu nhập, thời gian, cách thức chi trả thu nhập của người phải thi hành án
- Yêu cầu chính quyền địa phương cung cấp thông tin về nơi cư trú, tài sản của người phải thi hành án
-Yêu cầu cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế cung cấp thông tin về tình trạng hoạt động của doanh nghiệp
- Yêu cầu Trại giam cung cấp thông tin về tài sản của người phải thi hành
án tại trại giam
1.1.3.6 Trình tự thực hiện thủ tục phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân
sự với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự
Trong thời hạn pháp luật quy định kể từ khi được giao hồ sơ thi hành án, CHV phải phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan để xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án
Trước khi phối hợp, CHV phải nghiên cứu hồ sơ thi hành án, làm việc với
Trang 25đương sự để xác định cơ quan, tổ chức cụ thể cần phối hợp, nội dung yêu cầu phối hợp, thời gian phối hợp, thành phần tham gia phối hợp Đồng thời, CHV cân nhắc phương thức phối hợp phù hợp nhất
Trường hợp lựa chọn phương thức trao đổi trực tiếp, CHV thông báo trước cho cơ quan, tổ chức liên quan để ấn định thời gian làm việc(có thể trao đổi điện thoại, gửi công văn đặt lịch làm việc…) Chấp hành viên lập biên bản xác minh điều kiện thi hành án để ghi lại những thông tin do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp Biên bản có chữ ký, con dấu của các thành phần tham gia theo quy định
Trong trường hợp lựa chọn phương thức gửi văn bản đề nghị cung cấp thông tin, CHV dự thảo công văn ghi rõ nội dung yêu cầu cung cấp, thời hạn cung cấp, các tài liệu gửi kèm theo văn bản trả lời Chấp hành viên ký công văn hoặc trình lãnh đạo đơn vị ký theo thẩm quyền Công văn được gửi thông qua bưu điện hoặc gửi trực tiếp cho đơn vị được yêu cầu cung cấp thông tin
Trên cơ sở kết quả thông tin thu thập được (bằng biên bản xác minh, công văn trả lời của cơ quan, tổ chức liên quan), CHV đề xuất Thủ trưởng cơ quan ra các quyết định về thi hành án theo thẩm quyền hoặc lựa chọn các biện pháp tổ chức thi hành án phù hợp
Tuy nhiên, cần chú ý rằng, hoạt động xác minh là hoạt động diễn ra liên tục, trong suốt quá trình giải quyết hồ sơ thi hành án và CHV có thể phải phối hợp với nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau Do đó, CHV cần xác định đúng cơ quan phối hợp và thời hạn thực hiện theo quy định của pháp luật để tránh vi phạm trong nội dung này
1.1.3.7 Phương thức phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các
cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự
Phương thức phối hợp được hiểu là là cách thức thực hiện việc phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức khác nhằm xác minh điều kiện THADS của người phải thi hành án Có nhiều phương thức phối hợp khác nhau hiện đang được sử dụng trong xác minh điều kiện THADS, như:
Trang 26a) Xây dựng quy chế phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các
cơ quan, tổ chức có liên quan trong xác minh điều kiện Thi hành án dân sự
Phương thức này quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, cách thức thực hiện, nội dung thực hiện của các cơ quan, tổ chức có liên quan với cơ quan THADS trong việc xác minh điều kiện THADS Các quy chế phối hợp được xây dựng dựa trên các quy định pháp luật hiện hành, có sự cụ thể hóa để tạo điều kiện cho quá trình xác minh điều kiện THADS được diễn ra nhanh chóng, hiệu quả, không ảnh hưởng đến quá trình thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan phối hợp
Trên thực tế, chưa có quy chế phối hợp riêng trong lĩnh vực xác minh điều kiện THADS mà được lồng ghép với các hoạt động về THADS khác, tạo thành các quy chế phối hợp của từng ngành, từng cấp với cơ quan THADS Bên cạnh
đó, chỉ những cơ quan thường xuyên thực hiện sự phối hợp với cơ quan THADS mới xây dựng quy chế như: Cơ quan công an, tổ chức tín dụng ngân hàng, bảo hiểm xã hội, tài nguyên môi trường
Phương thức này có ưu điểm là cơ quan thực hiện sự phối hợp đã nghiên cứu các quy định của pháp luật THADS và pháp luật của ngành mình để đưa ra những quy định phù hợp Đồng thời, cơ quan tổ chức trực tiếp thực hiện sự phối hợp sẽ căn cứ vào quy chế ngành mình đã ký với cơ quan THADS để cung cấp
thông tin Tuy nhiên, quy chế có thể "vẽ ra" những điều mà pháp luật không quy
định, làm mất đi tính thượng tôn pháp luật, làm tăng các thủ tục hành chính
b) Tổ chức họp liên ngành giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong xác minh điều kiện Thi hành án dân sự
Tổ chức họp liên ngành là tổ chức hội nghị với sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau, do cơ quan THADS chủ trì, nhằm tìm hướng giải quyết một hoặc một số vấn đề cụ thể trong xác minh điều kiện THADS,đối với một vụ việc cụ thể Phương thức này thường được thực hiện khi phát sinh những vấn đề
có tính chất phức tạp, liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan, đơn vị trong việc cung cấp các thông tin.Ưu điểm của phương thức này là cuộc họp có sự tham gia trực tiếp của đại diện nhiều cơ quan Mỗi cơ quan sẽ trao đổi quan điểm của mình, đồng thời lắng nghe ý kiến đóng góp của các cơ quan khác để đi đến
Trang 27thống nhất quan điểm về vấn đề theo chức năng, nhiệm vụ của cơ quan mình Trên thực tế, phương thức này thường được áp dụng khi cơ quan THADS xác minh tài sản của người phải thi hành án là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở hoặc những tài sản có giá trị lớn thuộc diện phải đăng ký theo quy định và có
sự quản lý nhà nước của nhiều cơ quan khác nhau
c) Trực tiếp trao đổi ý kiến, cung cấp thông tin bằng văn bản giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong xác minh điều kiện Thi hành án dân sự
Đây là phương thức được sử dụng phổ biến nhất và cũng là phương thức hiệu quả nhất vì nó thể hiện rõ nét nguyên tắc trực tiếp của xác minh điều kiện THADS CHV có thể trực tiếp đến cơ quan, tổ chức đang nắm thông tin về điều kiện THADS của người phải thi hành án để yêu cầu cung cấp các thông tin liên quan Khi trao đổi, CHV cần nêu những câu hỏi cụ thể để khai thác được thông tin một cách đầy đủ CHV có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp các tài liệu liên quan kèm theo Kết thúc buổi làm việc, CHV cần lập biên bản xác minh theo đúng quy định, trong đó ghi rõ ngày giờ thực hiện việc xác minh, thành phần tham gia, kết quả xác minh, chữ ký của các thành phần tham gia xác minh Cơ quan THADS cũng có thể gửi văn bản trong đó ghi những yêu cầu cụ thể cho cơ quan đề nghị phối hợp cung cấp thông tin và yêu cầu trả lời bằng văn bản.Tất nhiên, việc yêu cầu trả lời bằng văn bản sẽ chậm hơn so với việc đến thực hiện xác minh trực tiếp, nhưng sẽ đảm bảo tính pháp lý cao hơn Do đó, với mỗi vụ việc cụ thể, CHVcần cân nhắc để tìm phương thức phối hợp phù hợp
d) Hoạt động của Ban chỉ đạo Thi hành án dân sự
Ban chỉ đạo THADS được thành lập và hoạt động theoThông tư liên tịch số 05/2016/TTLT-BTP-BCA-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 19/5/2016.Thành phần của Ban chỉ đạo THADS gồm đại diện của nhiều cơ quan trong hệ thống UBND và các cơ quan tư pháp nên khi có các vụ việc khó khăn, phức tạp, Ban chỉ đạo có thể chỉ đạo phối hợp nhiều cơ quan, ban ngành trong hệ thống chính trị để giải quyết Hình thức hoạt động của Ban chỉ đạo là xây dựng các văn bản chỉ đạo việc phối hợp (như quy chế hoạt động, chỉ thị về một nội dung cụ thể, tổ chức các cuộc họp liên
Trang 28ngành ) nên tạo điều kiện để hoạt động phối hợp xác minh điều kiện THADS đi vào nền nếp, có chiều sâu Đồng thời, cũng là cách thức hữu hiệu để giải quyết những vụ việc xác minh điều kiện THADS có tính chất phức tạp
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự
1.2.1 Các quy định pháp luật về thủ tục phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự
Có thể nói, các quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu quả phối hợp Căn cứ vào quy định của pháp luật, CHV mới có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức cung cấp thông tin và các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm trả lời theo trình tự, thủ tục nhất định
Cùng với sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật, những quy định về xác minh điều kiện THADS nói chung và thủ tục, cách thức thực hiện phối hợp trong xác minh điều kiện THADS nói riêng ngày càng đầy đủ, rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện trên thực tế Tuy nhiên, vẫn còn một số quy định chưa phù hợp với thực tiễn, cần tiếp tục được sửa đổi, bãi bỏ và bổ sung những
quy định mới để nâng cao hiệu quả của công tác xác minh điều kiện THADS
1.2.2 Năng lực của chủ thể tham gia phối hợp
Có thể nói, các quy định pháp luật dù có cụ thể, rõ ràng, phù hợp với thực tiễn nhưng nếu người thực thi các quy định đó không có năng lực đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao thì kết quả phối hợp sẽ không cao Năng lực ở đây được nhìn nhận từ hai góc độ:
Từ phía cơ quan THADS: Để thực hiện tốt việc xác minh điều kiện
THADS, người được giao nhiệm vụ tổ chức thi hành án phải có tinh thần trách nhiệm, chủ động trong việc liên hệ với các cơ quan, tổ chức hữu quan Trước khi xác minh, CHV phải xác định rõ cơ quan đề nghị phối hợp, mục đích, nội dung
đề nghị phối hợp Đồng thời, lựa chọn hình thức phối hợp phù hợp và dự báo các
Trang 29tình huống khó khăn, vướng mắc có thể xảy ra trong quan hệ phối hợp để chuẩn
bị các phương án xử lý Để làm được điều đó, CHV phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, nắm chắc các quy định của pháp luật THADS và pháp luật
có liên quan, kỹ năng giao tiếp khéo léo, linh hoạt
Từ phía các cơ quan được đề nghị phối hợp: Cán bộ được giao nhiệm vụ phối
hợp với CHV trong việc xác minh điều kiện THADS cần có hiểu biết nhất định về công tác THADS cũng như trách nhiệm trong việc phối hợp bên cạnh những hiểu biết về chuyên môn nghiệp vụ của ngành mình Đây là điều kiện rất quan trọng để CHV có thể thu thập được những thông tin có giá trị đối với quá trình giải quyết hồ
sơ thi hành án, cũng như tìm được cách thức giải quyết hồ sơ cụ thể
1.2.3 Sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương đối với hoạt động phối hợp xác minh điều kiện Thi hành án dân sự
THADS là việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án Nó thể hiện sự hiệu quả của nền tư pháp trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi củacác bên tham gia quan hệ THADS Hoạt động THADS ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, an toàn
xã hội ở địa phương Hoạt động THADS hiệu quả sẽ góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội, giảm khiếu nại bức xúc trong nhân dân, tạo niềm tin của người dân vào cơ quan nhà nước vàsự nghiêmminh của phápluật Vì thế, hoạt động THADS nói chung và hoạt động xác minh điều kiện THADS nói riêng không thể tách rời sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương
Tổ chức Đảng trong các cơ quan THADS được thành lập và chịu sự lãnh đạo,chỉ đạo của cấp ủy địa phương, thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương Sau khi Ban cán sự Đảng Bộ tư pháp có Công văn số 90/CV-BCS ngày 14/9/2009 gửi Ban tổ chức Trung ương đề nghị bổ sung diện quản lý của cấp ủy địa phương theo quy định của Đảng và Công văn số 91-CV/BCS ngày 14/9/2009 gửi Ban thường vụ tỉnh ủy, Thành ủy, Ban thường vụ Huyện ủy, Quận ủy, Thị ủy, Thành
ủy trong việc phối hợp quy hoạch, kiện toàn tổ chức cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ cơ quan THADS thì hoạt động THADS đã được cấp ủy địa phương quan tâm hơn nhiều so với trước đây Nhận thức của các cấp ủy Đảng về công tác THADS ngày
Trang 30càng được nâng cao là cơ sở thuận lợi cho việc triển khai công tác THADS, trong đó
có hoạt động phối hợp xác minh điều kiện THADS đạt kết quả tốt
Đối với chính quyền các địa phương, việc quản lý công tác THADS đã được LTHADS quy định cụ thể Cơ quan THADS cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm giúp UBND cùng cấp quản lý công tác THADS và báo cáo công tác THADS trước HĐND cùng cấp khi có yêu cầu Ban chỉ đạo THADS cũng được thành lập và là một cơ chế hiệu quả trong việc chỉ đạo các cơ quan chức năng trên địa bàn phối hợp chặt chẽ với các cơ quan THADS trong việc tổ chức thi hành án, trong đó có phối hợp xác minh điều kiện THADS
Thực tế cho thấy, ở đâu công tác THADS nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện của toàn thể hệ thống chính trị thì ở nơi đó, công tác THADS đạt kết quả tốt Và
ở đâu, cấp ủy, chính quyền địa phương ít quan tâm đến công tác THADS thì việc phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức khác sẽ thiếu hiệu quả
1.2.4 Điều kiện vật chất, kinh phí cho hoạt động phối hợp xác minh điều kiện thi hành án dân sự
Có thể nói, bất kỳ hoạt động nào muốn đạt kết quả tốt cũng cần đầu tư về thời gian, công sức, kinh phí.Trong một thời gian dài, cơ quan THADS nằm trong tòa án nên khi trở thành hệ thống độc lập gặp rất nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác THADS Hiện nay, cùng với quá trình cải cách tư pháp, các cơ quan THADS đã được nhà nước quan tâm trong việc xây dựng trụ sở, cấp kinh phí hoạt động, mua sắm trang thiết bị, đáp ứng yêu cầu công việc
Về chi phí cho hoạt động phối hợp xác minh điều kiện THADS hiện đang được thực hiện theo Thông tư số 200/2016/TT-BTC ngày 09/11/2016 của Bộ tài chính quy định việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan THADS, kinh phí cưỡng chế THADS Tuy nhiên, thông tư nói trên mới chỉ dừng ở việc chi xác minh trong các vụ việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành
án, kinh phí xác minh do Ngân sách nhà nước chi trả nên vẫn còn hạn chế
Trang 31Tiểu kết chương 1
Xác minh điều kiện THADS là hoạt động không thể thiếu trong quá trình
tổ chức thi hành án vì chỉ trên cơ sở kết quả xác minh, cơ quan THADS mới có căn cứ để áp dụng các biện pháp hiệu quả để giải quyết việc thi hành án, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự Xác minh điều kiện THADS đòi hỏi
sự phối hợp, giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức có liên quan, trong đó cơ quan THADS mà cụ thể là CHV phải chủ động thực hiện, còn các cơ quan, tổ chức phải có trách nhiệm phối hợp trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức mình
Phối hợp trong xác minh điều kiện thi hành án là yếu tố quan trọng để đảm bảo hiệu quả của việc tổ chức thi hành án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân Tuy nhiên, trên thực tế, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả phối hợp xác minh điều kiện thi hành án như: các quy định của pháp luật, sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp chính quyền, năng lực của các chủ thể tham gia, kinh phí thực hiện Bên cạnh đó, để nâng cao hiệu quả thì việc phối hợp phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục chặt chẽ với các phương thức phối hợp phong phú, đa dạng, phù hợp với điều kiện thực tế
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN THỦ TỤC PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỚI
CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC KHÁC TRONG XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Thực trạng quy định pháp luật về thủ tục phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cùng với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, hệ thống cơ quan tư pháp dần dần được thiết lập trong cả nước
Sắc lệnh số 85/SL của Chỉ tịch Hồ Chí Minh ngày 22/5/1950"cải cách bộ
máy tư pháp và luật tố tụng" tạo nên sự thay đổi có tính chất bước ngoặt trong tổ
chức và hoạt động tư pháp nói chung và tổ chức hoạt độngTHADS nói riêng Kế thừa quy định của Sắc lệnh 85/SL, Hiến pháp năm 1959 và Luật Tổ chức TAND năm 1960 quy địnhTAND cấp huyện có nhiệm vụ và quyền hạn tổ chức thi hành
án và chủ động tổ chức thi hành án khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành Trong một thời gian dài sau đó, Tòa án chỉ chú trọng vào công tác xét
xử, còn thi hành án ít được quan tâm Trên thực tế, việc phối hợp xác minh điều kiện THADS đã được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng không được quy định trong bất kỳ văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nào
Pháp lệnh THADS năm 1989 và Pháp lệnh THADS năm 1993 ra đời là bước ngoặt trong tổ chức và hoạt động THADS.Với Pháp lệnh THADS năm
1989, lần đầu tiên những quy định về THADS đã được pháp điển hóa, nhưng xác minh điều kiện THADS và thủ tục phối hợp trong xác minh điều kiện THADS cũng chỉ mới được quy định hết sức đơn giản
Đến Pháp lệnh THADS năm 2004, việc xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án được quy định rõ là một trong những nhiệm
vụ, quyền hạn của CHV, nhưng các quy định về thủ tục, cách thức xác minh và
Trang 33phối hợp trong xác minh điều kiện THADS vẫn chưa được quy định Vì vậy, khi CHV xác minh tài sản, thu nhập của người phải thi hành án gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, còn dựa vào tình cảm, kinh nghiệm
Trước yêu cầu của việc đẩy mạnh công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, công cuộc cải cách hành chính và cải cách tư pháp ở nước ta, Quốc hội đã ban hành LTHADS 2008, cùng với đó là các văn bản hướng dẫn thi hành Các văn bản này đã quy định rõ ràng, cụ thể hơn về thủ tục phối hợp trong thi hành án nói chung và trong xác minh điều kiện THADS nói riêng, là cơ sở để thực hiện có hiệu quả việc xác minh điều kiện THADS Cho đến hiện nay, văn bản có giá trị pháp lý cao nhất quy định về thủ tục phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS là LTHADS 2014 Tuy nhiên, Luật cũng chỉ quy định những vấn đề mang tính khái quát, còn những nội dung cụ thể được điều chỉnh trong các nghị định và thông tư hướng dẫn, cụ thể như: Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của LTHADS; Thông tư 22/2010/TT-BTP ngày06/12/2010 của Bộ tư pháp hướng dẫn về đăng ký, cung cấp thông tin trực tuyến giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án; Thông
tư liên tịch số 02/2014/TTLT-BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 14/01/2014 hướng dẫn việc cung cấp thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải thi hành án
và thực hiện phong tỏa, khấu trừ để THADS; Thông tư liên tịch số BTP-BCA-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 19/5/2016 quy định hoạt động của Ban chỉ đạo THADS; Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC quy định một số vấn đề về thủ tục THADS và phối hợp liên ngành trong THADS
05/2016/TTLT-Theo các quy định hiện hành thì thủ tục phối hợp giữa cơ quan THADS với các
cơ quan, tổ chức trong xác minh điều kiện THADS được quy định cụ thể như sau:
2.1.1 Quy định pháp luật về thủ tục phối hợp giữa cơ quan Thi hành
án dân sự với Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân các cấp trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự
2.1.1.1 Đối với Ủy ban nhân dân các cấp
UBND là cơ quan quản lý hành chính nhà nước, có chức năng quản lý các
Trang 34mặt của đời sống kinh tế -văn hóa- xã hội gắn liền với người dân, gắn với địa bàn cụ thể nơi diễn ra các hoạt động thi hành án Điều 378 BLTTDS quy định:
“Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức phối hợp với các cơ quan hữu quan trong việc thi hành bản án, quyết định của tòa án ở địa phương mình theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự” LTHADS 2014 có 03 điều (từ Điều 173 đến Điều 175)
để quy định trách nhiệm của UBND cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã trong THADS,
cụ thể là: "Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong THADS
trên địa bàn, giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong THADS".[45, Điều 173] Đối với
UBND cấp xã thì "Chủ tịch UBND cấp xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình phối hợp với CHV và cơ quan THADS trong việc thông báo thi hành
án, xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án và các nhiệm vụ khác về THADS trên địa bàn" [44,
Điều175]
Có thể nói, UBND cấp xã là cơ quan trực tiếp quản lý, lưu giữ các thông tin liên quan đến nhân thân, tài sản của các đương sự nên đây là cơ quan mà cơ quan THADS phải thường xuyên phối hợp khi xác minh điều kiện THADS Thông tin do UBND cung cấp có thể là địa chỉ của người phải thi hành án, nhân thân của người phải thi hành án, ý thức chấp hành pháp luật, tài sản của người phải thi hành án Tài sản có thể là các động sản và bất động sản như: quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc công trình xây dựng trên đấtđể thi hành án UBND tham gia phối hợp trong xác minh điều kiện THADS bằng nhiều cách như: cung cấp thông tin bằng văn bản, xác nhận vào các biên bản xác minh, cử công chức tham
gia cùng với CHVđể xác minh CHV phải "Lập biên bản thể hiện đầy đủ kết quả
xác minh có xác nhận của UBND hoặc công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi tiến hành xác minh", "Cơ quan, tổ chức, công chức tư pháp - hộ tịch, địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường, cán bộ, công chức cấp xã khác và
cá nhân có liên quan thực hiện yêu cầu của CHV và phải chịu trách nhiệm về
Trang 35các nội dung thông tin đã cung cấp”.[ 45, Điều 44] Như vậy, các cán bộ chuyên
môn của UBND cấp xã là những người trực tiếp cung cấp thông tin và chịu trách nhiệm về nội dung thông tin đã cung cấp cho CHV nhưng Chủ tịch UBND cấp
xã chịu trách nhiệm với tư cách của người đứng đầu cơ quan cung cấp thông tin Trên thực tế, UBND cấp xã phối hợp trong xác minh điều kiện THADS với nhiều vai trò khác nhau Các cán bộ chuyên môn của UBND cấp xã có thể là người cung cấp thông tin hoặc tham gia cùng CHV trong việc yêu cầu cơ quan,
tổ chức khác cung cấp thông tin
Đối với UBND cấp huyện và cấp tỉnh, sự phối hợp thể hiện qua việc chỉ đạo các cơ quan chuyên môn có liên quan phối hợp với cơ quan THADS, giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong quá trình xác minh điều kiện THADS thông qua
cơ chế Ban chỉ đạo THADS Ban Chỉ đạo THADS được thành lập tại cấp tỉnh và cấp huyện trên cơ sở Thông tư liên tịch 05/2016/TTLT-BTP-BCA-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 19/5/2016 về hoạt động của Ban chỉ đạo THADS Thành phần của Ban chỉ đạo THADS bao gồm Trưởng ban là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND cùng cấp, Phó trưởng ban là Thủ trưởng cơ quan THADS cùng cấp, thành viên là đại diện các cơ quan Tư pháp, Tài chính, Tài nguyên môi trường, Trưởng Công an cùng cấp và có thể mời thêm đại diện của các cơ quan Nội vụ, Xây dựng, Quản lý đô thị, Lao động thương binh và xã hội, Bảo hiểm xã hội, Ban chỉ huy quân sự, TAND cùng cấp làm thành viên Các cơ quan tham gia Ban chỉ đạo THADS có thể là cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin về điều kiện THADS của người phải thi hành án, cũng có thể là cơ quan chỉ đạo sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức khác trong việc xác minh điều kiện THADS
Do vậy, cơ chế Ban chỉ đạo THADS có ý nghĩa quan trọng trong việc phối hợp THADS nói chung và xác minh điều kiện THADS nói riêng.Trách nhiệm của Ban chỉ đạo THADS được quy định cụ thể như sau:
“ Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự có trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện những công việc sau:
Trang 361 Xây dựng dự thảo chương trình, kế hoạch của UBND cùng cấp về chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong THADS và chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế THADS trình UBND quyết định
2 Tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch và ý kiến chỉ đạo của UBND
về việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong THADS và tổ chức cưỡng chế THADS
3 Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan, tổ chức hữu quan với cơ quan THADS trong việc tổ chức cưỡng chế; tham mưu, đề xuất các biện pháp chỉ đạo giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong THADS và tổ chức cưỡng chế THADS
4 Tổ chức kiểm tra hoặc phối hợp với cơ quan chức năng kiểm tra việc thực hiện kết luận của Ban Chỉ đạo THADS, ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch UBND
về tổ chức phối hợp với các cơ quan có liên quan trong THADS và tổ chức cưỡng chế THADS ”[14,Điều 6]
Ban chỉ đạo THADS tham gia chỉ đạo phối hợp và phối hợp trong xác minh điều kiện THADS bằng nhiều cách như: tổ chức họp bàn để giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong việc cung cấp thông tin cho cơ quan THADS, ban hành các văn bản chỉ đạo các cơ quan liên quan cung cấp thông tin cho cơ quan THADS, yêu cầu các thành viên Ban chỉ đạo cung cấp thông tin bằng văn bản, xác nhận vào các biên bản xác minh, cử công chức tham gia cùng với Chấp hành viên để xác minh
2.1.1.2 Đối với các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân
Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND là cơ quan có nhiệm vụ tham mưu giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo ủy quyền của UBND cùng cấp theo quy định của pháp luật, góp phần đảm bảo sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở Trong quá trình xác minh điều kiện THADS, cơ quan THADS thường xuyên phối hợp với một số cơ quan chuyên
Trang 37môn thuộc UBND sau:
a) Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường: Có thể nói,
trong các loại tài sản của người phải thi hành án thì tài sản có giá trị nhất là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở Cơ quan nắm giữ, quản lý các thông tin này chính là Sở tài nguyên và môi trường (đối với cấp tỉnh) và Phòng tài nguyên và môi trường (đối với cấp huyện) Thông qua cơ quan quản lý nhà nước
về tài nguyên và môi trường, cơ quan THADS có thể nắm được các thông tin liên quan đến việc quy hoạch sử dụng đất, việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho các đối tượng thuộc thẩm quyền của UBND cùng cấp, tham khảo về giá đất, mức thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của địa phương; các thông tin về phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định của pháp luật
Các dịch vụ công trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường hiện do các Văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Sở tài nguyên môi trường thực hiện Văn phòng đăng ký đất đai có chi nhánh tại các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, có chức năng thực hiện đăng ký đất đai và tài sản khác gắn liền với đất; xây dựng, quản lý, cập nhật, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai; thống kê, kiểm kê đất đai Một trong những nhiệm vụ rất quan trọng của Văn phòng đăng ký đất đai là cung cấp thông tin đất đai theo quy định cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu, trong đó có cơ quan THADS theo quy định tại Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai 2013 Về quy trình cung cấp thông tin thông
thường:“ Tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác dữ liệu đất đai nộp phiếu yêu
cầu hoặc gửi văn bản yêu cầu cho các cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai theo Mẫu số 01/PYC được ban hành kèm theo Thông tư này”[ 6, Điều 11] Việc nộp
văn bản, phiếu yêu cầu cung cấp dữ liệu đất đai có thể thực hiện theo một trong các phương thức sau: Nộp trực tiếp tại cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai; Gửi qua đường công văn, fax, bưu điện; Gửi qua thư điện tử hoặc qua cổng thông tin đất
Trang 38đai Thời gian cung cấp thông tin khá nhanh chóng, trường hợp nhận được yêu cầu trước 15 giờ thì phải cung cấp ngay trong ngày; trường hợp nhận được yêu cầu sau 15 giờ thì cung cấp dữ liệu đất đai Tuy nhiên, đây là một loại dịch vụ có thu phí
Theo quy định tại Điểm b, Khoản 6, Điều 44 LTHADS 2014, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, ký vào biên bản trong trường hợp CHV xác minh trực tiếp hoặc trả lời bằng văn bản trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của CHV
Hiện chưa có sự đồng bộ trong quy định của pháp luật đất đai và pháp luật
về THADS nên trong thực tế, khi cơ quan THADS yêu cầu Văn phòng đăng ký đất đai cung cấp thông tin thì một số văn phòng yêu cầu cơ quan THADS thực hiện theo pháp luật về đất đai và phải trả phí dịch vụ Đây là điều khá bất cập trên thực tế và gây khó khăn cho việc xác minh điều kiện thi hành án của đương
sự Tuy nhiên, nhìn ở góc độ thủ tục thì việc quy định cung cấp thông tin của Văn phòng đăng ký đất đai là khá cụ thể, dễ dàng, nhanh chóng, tạo điều kiện về
thời gian cho người yêu cầu cung cấp thông tin
b) Đối với cơ quan tài chính: Cơ quan tài chính là cơ quan chuyên môn
giúp UBND cùng cấp quản lý Nhà nước về giá, ngân sách, tài sản nhà nước, thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước tại địa phương
Do vậy, theo Điều 6 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của LTHADS thì trong trường hợp cần tham khảo giá trị tài sản để ra quyết định kê biên tài sản, trường hợp CHV phải tự xác định giá tài sản kê biên, cơ quan THADS đề nghị Sở tài chính (cấp tỉnh) hoặc Phòng tài chính (cấp huyện) cung cấp thông tin về giá trị tài sản, khung giá áp dụng cho tài sản phải thi hành án
c) Đối với cơ quan đăng ký việc thành lập doanh nghiệp: Ở cấp tỉnh là
Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư và ở cấp huyện là Phòng Tài chính - Kế hoạch thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện Qua các cơ quan
Trang 39này, cơ quan THADS có thể thu thập được thông tin về tên doanh nghiệp, tình trạng hoạt động của doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật, các thành viên góp vốn, trụ sở và các chi nhánh của doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh Cơ
sở cho việc cung cấp thông tin là quy định tại Điều 34 của Luật doanh nghiệp
2014 về cung cấp thông tin nội dung đăng ký doanh nghiệp Trên thực tế thì đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp, cơ quan THADS phải xác minh các thông tin về doanh nghiệp đó qua cơ quan đăng ký kinh doanh, có thể dưới hình thức gửi công văn đề nghị hoặc xác minh trực tiếp tại cơ quan đó Tuy nhiên, pháp luật về THADS chưa có quy định cụ thể về cách thức thực hiện việc xác minh trong trường hợp này nên hiệu quả chưa cao
d) Đối với cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng: Theo Luật xây dựng
2014 thì cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng ở cấp tỉnh là Sở xây dựng và ở cấp huyện là Phòng quản lý đô thị Cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng tham mưu cho UBND cùng cấp thực hiện việc cấp, gia hạn, điều chỉnh, thu hồi giấy phép xây dựng công trình và kiểm tra việc xây dựng công trình theo giấy phép được cấp Đồng thời cũng là cơ quan cung cấp thông tin về quy hoạch xây dựng, kiến trúc; quản lý các mốc giới, chỉ giới xây dựng, cốt xây dựng trên địa bàn theo quy định của pháp luật Đối với các vụ việc về thi hành án có liên quan đến tài sản là các công trình xây dựng, cơ quan THADS phải phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng để xác minh các thông tin như: Công trình xây dựng có được cấp phép không, phạm vi cấp phép, tình trạng quy hoạch của công trình, các chỉ giới xây dựng để giải quyết theo quy định của pháp luật
2.1.2 Quy định về thủ tục phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với
cơ quan công an, trại giam, trại tạm giam trong xác minh điều kiện thi hành
án dân sự
Việc phối hợp giữa cơ quan THADS và cơ quan Công an được thực hiện trên rất nhiều nội dung như: Phối hợp bảo vệ cưỡng chế, phối hợp trong việc tống đạt văn bản, thu tiền, trả tiền, tài sản đối với người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù, phối hợp trong việc xác minh, cung cấp các thông tin về
Trang 40điều kiện THADS, phối hợp trong công tác xét miễn giảm hình phạt Điều này xuất phát từ chức năng của cơ quan Công an trong việc quản lý người chấp hành
án phạt tù; chức năng quản lý về cư trú, cấp, quản lý thẻ Căn cước công dân và giấy tờ tùy thân khác; chức năng đăng ký, cấp, quản lý biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ theo quy định của Luật Công an nhân dân
Bộ Công an có trách nhiệm phối hợp theo quy định tại Điều 180 LTHADS 2014.Trên cơ sở đó, cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự có trách nhiệm phối hợp với cơ quan THADS trong việc cung cấp cho cơ quan THADS thông tin liên quan về người phải thi hành nghĩa
vụ về dân sự đang chấp hành án hình sự; thực hiện việc thông báo giấy tờ về THADS cho người phải thi hành án đang chấp hành án hình sự; thông báo cho
cơ quan THADS về nơi cư trú của người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt
tù, được đặc xá, được miễn chấp hành hình phạt tù
Mặc dù trên thực tế, hoạt động phối hợp diễn ra rất đa dạng, phong phú, nhưng các quy định về thủ tục phối hợp xác minh giữa cơ quan THADS và cơ quan công an còn đơn giản, chỉ mới dừng ở trách nhiệm và một số nội dung phối hợp, chưa đi sâu vào cách thức thực hiện sự phối hợp Chẳng hạn như cơ quan công an cấp xã có trách nhiệm cung cấp các thông tin liên quan đến hộ khẩu, nơi thường trú, tạm trú .của người phải thi hành án, nhưng Điều 44 LTHADS 2014chỉ quy định Công an cấp xã có trách nhiệm xác nhận vào biên bản xác minh của CHVmà chưa quy định cụ thể thời hạn, các bước trong quá trình cung cấp thông tin, người chịu trách nhiệm chính trong việc cung cấp
2.1.3 Quy định về thủ tục phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với Kho bạc nhà nước, Ngân hàng và tổ chức tín dụng khác, Bảo hiểm xã hội, cơ quan tổ chức chi trả thu nhập cho người phải thi hành án trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự
Theo Quy chế phối hợp số 01/QCLN/NHNNVN-BTP giữa Ngân hàng nhà nước Việt Nam và Bộ Tư pháp ngày 18/3/2015 quy định về phối hợp trong công
tác THADS: "Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tư pháp có trách nhiệm