Tòa án là cơ quan tài phán công có thẩm quyền đương nhiên khi các chủ thể pháp sinh tranh chấp. Tuy nhiên, đây không phải là cơ quan tài phán duy nhất cho các bất đồng. Bên cạnh tòa án, còn có một chủ thể khác có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, đó là trọng tài. Chính vì vậy vấn đề phân định thẩm quyền của tòa án và trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế là vô cùng quan trọng.
Trang 1MỤC LỤC
TRANG
MỞ BÀI 2
NỘI DUNG 2
1 Quy định của pháp luật về phân định thẩm quyền 2
2 Phân định thẩm quyền khi một bên khởi kiện ra tòa án 3
2.1 Trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu 3
2.2 Trường hợp thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được 4
2.3 Trường hợp thỏa thuận trọng tài bị thay thế bằng thỏa thuận chọn tòa án .5 2.4 Trường hợp tồn tại thỏa thuận trọng tài có giá trị pháp lý 6
3 Phân định thầm quyền khi một bên khởi kiện ra trọng tài 8
KẾT LUẬN 11
Trang 2MỞ BÀI
Tòa án là cơ quan tài phán công có thẩm quyền đương nhiên khi các chủ thể pháp sinh tranh chấp Tuy nhiên, đây không phải là cơ quan tài phán duy nhất cho các bất đồng Bên cạnh tòa án, còn có một chủ thể khác có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, đó là trọng tài Chính vì vậy vấn đề phân định thẩm quyền của tòa án và trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế là vô cùng quan trọng Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, em chọn đề bài sô 01 với nội dung: “Phân định thẩm quyền của tòa án và trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế”
NỘI DUNG
1 Quy định của pháp luật về phân định thẩm quyền
Pháp luật Việt Nam cũng như nhiều hệ thống pháp luật trên thể giới đều ghi nhận nguyên tắc, khi các bên có thỏa thuận trọng tài hợp pháp, tòa án không có thẩm quyền xét xử và thẩm quyền này thuộc trọng tài mà các bên đã thỏa thuận Theo khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003, “Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài, nếu trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp các bên có thỏa thuận trọng tài”
Bên cạnh đó, Điều 5 của pháp lệnh còn quy định: “Trong trường hợp vụ tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài thì tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu” Quy định gần tương tự được nhắc lại trong Luật trọng tài thương mại năm 2010 Cụ thể, theo khoản 1 Điều 5 và Điều 6 Luật trọng tài thương mại, “Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài”
và “Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại tòa án thì tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài
vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được”
Thực ra tinh thuần của các quy định này đã tồn tại trong pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế vì theo khoản 5 Điều 32 Pháp lệnh này, “Tòa án trả lại đơn
Trang 3khởi kiện trong những trường hợp sự việc đã được các bên thỏa thuận trước là phải giải quyết theo thủ tục trọng tài”
Theo các quy định trên thù bản thân thỏa thuận trọng tài không đủ để trao thẩm quyền cho trọng tài và loại trừ thẩm quyền xét xử của tòa án Sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài chỉ là điều kiện cần nhưng vẫn chưa đủ; trọng tài không có thẩm quyền trong “trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được” Trong thực tế, việc phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa tòa án và trọng tài thường xuyên xảy ra
2 Phân định thẩm quyền khi một bên khởi kiện ra tòa án
Trong thực tế không hiếm trường hợp các bên có thỏa thuận trọng tài nhưng thỏa thuận này không có hiệu lực pháp luật vào thời điểm các bên có tranh chấp Đó
có thể là do thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được hay thỏa thuận trọng tài hết hiệu lực pháp luật do các bên thay đổi ý kiến bằng một thỏa thuận chọn tòa án Khó khăn còn pháp sinh khi thỏa thuận trọng không cô hiệu nhưng một bên yêu cầu tòa án giải quyết còn bên kia không có phản đối ngay thẩm quyền của tòa án
2.1 Trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu
Thẩm quyền của tòa án: Điều 5 Pháp lệnh trọng tài thương mại quy định:
“trong trường hợp vụ tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài, nếu một bên khởi kiện tại tòa án thì tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu” Như vậy, theo điều luật này, trong “trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu” thì tòa
án có quyền thụ lý giải quyết vụ việc Điều đó có nghĩa là khi được yêu cầu tòa án không từ chối thụ lý mà giải quyết tranh chấp giữa các bên
Tương tự như vậy, theo Điều 6 Luật trọng tài thương mại, “Trong trường hợp các bên đã có thỏa thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại tòa án thì tòa án từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu” Với quy định này thì khi một
Trang 4bên yêu cầu tòa án giải quyết mặc dù có thỏa thuận trọng tài thì tòa án không từ chối thụ lý và giải quyết tranh chấp khi thỏa thuận trọng tài vô hiệu
Thực tế, hướng giải quyết trên đã tồn tại ở Việt Nam trước khi có Pháp lệnh trọng tài thương mại
Ngoài ra, trong một số trường hợp, tòa án được yêu cầu giải quyết tranh chấp mặc dù các bên có thỏa thuận trọng tài Ở đây, tòa án sẽ tự xác định là thỏa thuận trọng tài có giá trị pháp lý hay không Thực tê đã xảy ra tình huống, đối với một số vấn đề tòa án thừa nhận thẩm quyền của mình để giải quyết tranh chấp những đối với một số bất đồng khác, tòa án từ chối thụ lý vì thuộc thẩm quyền của trọng tài Giải pháp này có thể được lý giải như sau: có những tranh chấp các bên thỏa thuận giải quyết bằng trọng tài những theo pháp luật, tranh chấp này không thể giải quyết bằng phương thức trọng tài nên thỏa thuận trọng tài về tranh chấp này là vô hiệu nên tòa án có thẩm quyền giải quyết Bên cạnh đó, có những tranh chấp các bên thỏa thuận chọn trọng tài và tranh chấp này thuộc thẩm quyền của trọng tài nên trọng tài
có thẩm quyền và tòa án cần từ chối thụ lý giải quyết Đây có thể được coi là thỏa thuận trọng tài vô hiệu một phần nên tòa án có thẩm quyền đối với phần thỏa thuận trọng tài vô hiệu
2.2 Trường hợp thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được
So với Pháp lệnh trọng tài thương mại, Luật trọng tài thương mại đã thêm một trường hợp nữa để tòa án không từ chối thụ lý (hay vẫn có thẩm quyền giải quyết tranh chấp) Đó là khi “thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được” Việc bổ sung này là rất thuyết phục Trong thực tế, có rất nhiều điều khoản trọng tài có hiệu lực theo quy định của pháp luật, phạm vi tranh chấp thuộc thẩm quyền của trọng tài, người ký thỏa thuận trọng tài có đủ thẩm quyền, đủ năng lực hành vi, thỏa thuận trọng tài quy định rõ đối tượng tranh chấp và tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp nhưng vẫn không thể giải quyết được bằng trọng tài
Trang 5Ví dụ, các bên thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một trung tâm trọng tài A nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp trung tâm trọng tài này đã bị giải thể nên thỏa thuận trọng tài không vô hiệu nhưng không thể thực hiện được1 Tương tự, các bên thỏa thuận là nếu có tranh chấp sẽ yêu cầu ông B làm trọng tài để giải quyết tranh chấp nhưng khi xảy ra tranh chấp ông B chết nên thỏa thuận trọng tài, tuy không vô hiệu, cũng không thể thực hiện được2 Trong những hoàn cảnh như vừa nêu, tranh chấp không thể được giải quyết bằng con đường trọng tài nếu các bên không có thỏa thuận khác Vì vậy, trong những trường hợp này, tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc Quy định tương tự cũng được thể hiện trong pháp luật nhiều nước trên thế giới3
Với quy định trên thì ngay cả khi tồn tại thỏa thuận trọng tài không vô hiệu, tòa án vẫn có thẩm quyền xét xử đối với vụ việc thuộc thẩm quyền của trọng tài theo thỏa thuận của các bên Lý do để tòa án vẫn có thẩm quyền không xuất phát từ tính khả thi của thỏa thuận này: “thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được” Đây là điểm khá mới trong pháp luật thực định Việt Nam nhưng không thực sự mới trong khoa học pháp lý về trọng tài Bởi lẽ, theo khoản 3 Điều II Công ước New York,
“Khi nhân được đơn khởi kiện về một vấn đề mà đối với vấn đề đó các bên đã có thỏa thuận theo nội dung của Điều này, theo yêu cầu của một bên, tòa án của một quốc gia thành viên sẽ đưa các bên tới trọng tài, trừ khi tòa án thấy rằng thỏa thuận
đó không có hiệu lực, không hiệu quả hoặc không có khả năng được áp dụng”
2.3 Trường hợp thỏa thuận trọng tài bị thay thế bằng thỏa thuận chọn tòa
án
Trong thực tế còn xảy ra trường hợp các bên “đã có thỏa thuận trọng tài” không bị vô hiệu nhưng thỏa thuận này không còn giá trị nữa ở thời điểm có tranh
giá trị pháp lý, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được.
Trang 6chấp vì được các bên thay thế bằng việc lựa chọn tòa án để giải quyết Cả Pháp lệnh trọng tài thương mại và Luật trọng tài thương mại không có quy định cụ thể về tình huống này Tuy nhiên, khi các bên có quyền thỏa thuận chọn trọng tài thì họ cũng
có quyền bỏ thỏa thuận này bằng cách đưa tranh chấp ra tòa án Việc từ bỏ thỏa thuận này có thể được tiến hành thông qua một thỏa thuận rõ ràng khác hay một thỏa thuận ngầm và làm chấm dứt thỏa thuận trọng tài mà các bên đã giao kết trước
đó Và khi thỏa thuận trọng tài không còn tồn tại nữa thì tòa án có thẩm quyền
2.4 Trường hợp tồn tại thỏa thuận trọng tài có giá trị pháp lý.
Trong thực tế còn xảy ra tình huống các bên có thỏa thuận chọn trọng tài vẫn còn giá trị pháp lý ở thời điểm có tranh chấp nhưng một bên đưa tranh chấp ra giải quyết tại tòa án Nếu bên kia phản đối ngay thẩm quyền của tòa án thì vấn đề được giải quyết rất đơn gian: tòa án từ chối thụ lý giải quyết Tuy nhiên, thực tế cho thấy không hiếm trường hợp bên kia không phản đối ngay
Để hiểu rõ về chủ đề này, trước khi nghiên cứ các quy định của pháp luật Việt Nam, chúng ta sẽ nghiên cứu thêm kinh nghiệm của nước ngoài
Hầu hết các hệ thống pháp luật về trọng tài đều ghi nhận là tòa án không có thẩm quyền xét xử khi các bên có thỏa thuận trọng tài Ở đây, thỏa thuận trọng tài trao thẩm quyền cho trọng tài và loại trừ thẩm quyền của tòa án Tuy nhiên, việc loại trừ này phải tuân theo một trình tự nhất định Tòa án chỉ từ chối thụ lý khi có một bên yêu cầu việc này trong một khoản thời gian nhất định Cụ thể như sau:
Pháp luật Pháp theo hướng ủng hộ trọng tài và đã ghi nhận trong án lệ và sau
đó trong Bộ luật tố tụng dân sự là thỏa thuận trọng tài loại trừ thẩm quyền xét xử của tòa án Tuy nhiên, việc loại trừ này không tuyệt đối Cụ thể, sau khi khẳng định
là tòa án không có thẩm quyền khi có thỏa thuận trọng tài, Điều 1458 Bộ luật tố tụng dân sự Pháp quy định là “tòa án không tự chủ xác định là mình không có thẩm quyền” Giải pháp này được lý giải như sau:
Trang 7Thứ nhất, việc các bên thỏa thuận trọng tài là thuộc quyền tự định đoạt của các bên nên tòa án không can thiệp; không bên nào yêu cầu tòa án xem xét thỏa thuận trọng tài thì tòa án không được can thiệp
Thứ hai, các bên thống nhất có được một thỏa thuận trọng tài thì các bên cũng
có thể khởi kiện ra tòa án thể hiện họ từ bỏ thỏa thuận trọng tài còn bên kia không yêu cầu sử dụng thỏa thuận trọng tài thì cũng coi như từ bỏ thỏa thuận trọng tài giữa đôi bên
Ví dụ cụ thể: Công ty Smith ra tòa án thương mại Macxay trong khi đó đôi bên đã có một thỏa thuận chọn trọng tài New York Sau đóm Tòa phuc thẩm Macxay được yêu cầu giải quyết vấn đề thẩm quyền của tòa án do đã có thỏa thuận trọng tài Theo Tòa phúc thẩm, “nếu việc tòa án không có thẩm quyền do có thỏa thuận trọng tài thuộc loại không có thẩm quyền theo vụ việc, thì nó vãn chỉ là tương đối vì nó được thiết lập cho lợi ích riêng tư của các bên Do đó, nguyên đơn hoàn toàn đúng khi chi rằng tòa án không thể tự chủ viện dẫn thỏa thuận trọng tài” Vì vậy, Tòa phúc thẩm đã kết luận, “do Công ty Smith không viện dẫn thỏa thuận trọng tài nên công ty Unipol được kiện Công ty Smith trước Tòa thương mại Macxay”.4
Trong vụ việc này, các bên có thỏa thuận trọng tài nhưng một bên vẫn khởi kiện ra tòa án và bên kia không viện dẫn thỏa thuận này để phủ nhận thẩm quyền của tòa án thì tòa án vẫn có thẩm quyền giải quyết tranh chấp; tòa án không phải tự viện dẫn thỏa thuận trọng tài của các bên để từ chối thẩm quyền vì đó là lợi ích riêng tư của các bên
Tuy nhiên, tòa án chỉ từ chối được yêu cầu trong khoản thời gian nhất định Theo phân tích trên cho thấy tòa án chỉ từ chối giải quyết tranh chaoas khi một bên viện dẫn thỏa thuận trọng tài hợp pháp để phản đối thẩm quyền của tòa án Tuy
Trang 8nhiên, Công ước New York “không quy định thời điểm chậm nhất mà một bên có thể viện dẫn điều khoản trọng tài”5
Văn bản của Ohada về trọng tài cũng không quy định thời hạn một bên có thể viện dẫn thỏa thuận trọng tài để phản đối thẩm quyền của tòa án Do đó, thời điểm nào một bên có thể viện dẫn thỏa thuận trọng tài để yêu cầu tòa án từ chối thẩm quyền phụ thuộc vào pháp luật quốc gia
Riêng đối với Luật mẫu về trọng tài của Liên Hợp Quốc thì khác Khoản 1 Điều 8 Luật này quy định, “trước khi việc kiện về vấn đề đối tượng của thỏa thuận được đưa ra, nếu một bên yêu cầu không muộn hơn thời gian khi nộp bản tường trình đầu tiên của mình về nội dung tranh chấp, tòa án sẽ chuyển các bên cho trọng tài trừ khi tòa án thấy rằng thỏa thuận đó là vô hiệu và không có hiệu lực, không tiến hành được và không có khả năng thực hiện” Như vậy, bên phản đối thẩm quyền của tòa án phải đưa ra phản đối này muộn nhất là vào thời điểm nộp bản tường trình đầu tiên của mình về nội dung tranh chấp
3 Phân định thầm quyền khi một bên khởi kiện ra trọng tài
Phân tích trên cho thấy những khó khăn liên quan đến việc phân định thẩm quyền giữa tòa án và trọng tài khi một bên khởi kiện ra tòa án Khó khăn về phân định thẩm quyền cũng phát sinh khi một bên khởi kiện ra trọng tài
Trong thực tế, một số trường hợp khi một bên yêu cầu trọng tài giả quyết tranh chấp thì bên kia phản đối thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài Vấn
đề đặt ra là ai có thẩm quyền giải quyết bất đồng về thẩm quyền của trọng tài
Pháp luật Việt nam ghi nhận thẩm quyền của trong tài trong việc xác định thẩm quyền của mình Đây là một nguyên tắc cơ bản về trọng tài, theo đó trọng tài
có thẩm quyền xem xét, quyết định thẩm quyền của chính mình Khoản 1 Điều 43 Luật trọng tài thương mại 2010 quy định: “Trước khi xem xét nội dung vụ tranh
Trang 9chấp, hội đồng trọng tài phải xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài; thỏa thuận trọng tài có thể thực hiện được hay không và xem xét thẩm quyền của mình” Khi xem xét các vấn đề được nêu ở đây, thực chất là hội đồng trọng tài xem xét chính thẩm quyền của mình vì hiệu lực của thỏa thuận trọng tài cũng như thỏa thuận trọng tài có thể thực hiện được hay không liên quan trực tiếp tới việc hội đồng trọng tài có thẩm quyền hay không
Quá trình giải quyết tranh chấp, nếu phát hiện hội đồng trọng tài vượt quá thẩm quyền, các bên có thể khiếu nại với hội đồng trọng tài Hội đồng trọng tài có trách nhiệm xem xét, quyết định (Khoản 2 Điều 43)
Quy trình tố tụng trọng tài cho thấy có nhiều bộ phận, chủ thể liên quan đến
tố tụng, nhất là khi tranh chấp được giải quyết thông qua trung tâm trọng tài Ở đây chủ thể nào được trao quyền xem xét thẩm quyền của trọng tài cần được làm rõ Ví dụ: trong một hợp đồng các bên có thỏa thuận về phương thức giải quyết tranh chấp nếu phát sinh Thỏa thuận này không thực sự rõ ràng và nguyên đơn đã đề nghị một trung tâm trọng tài của Việt Nam được nêu trong thỏa thuận chi ý kiến Với đề nghị này, ban thư ký của Trung tâm đã trả lời là “trái với nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài” và “nên thỏa thuận để xác lập một thỏa thuận trọng tài phù hợp với quy định của pháp luật”
Với quy định trong Luật trọng tài thương mại thì chủ thể quyết định về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài; thỏa thuận trọng tài có thể thực hiện được hay không và thẩm quyền của hội đồng trọng tài là hội đồng trọng tài Do đó, các bộ phận liên quan của trung tâm trọng tài không nên cho ý kiến; hội đồng trọng tài là chủ thể duy nhất có thẩm quyền xem xét theo các quy định trên Do đóm tòa án cũng không có thẩm quyền xem xét các vấn đề này một khi tranh chấp đã được đưa ra giải quyết trước trọng tài Khi tranh chấp đã đưa ra trọng tài thì Hội đồng đươc ưu tiên xem xét các vấn đề liện quan đến thẩm quyền của mình; tòa án chỉ can thiệp sau khi Hội đồng ra quyết định về vấn đề này nhưng một bên không đồng ý với quyết định hội
Trang 10đồng trọng tài Tuy nhiên, cần lưu ý với thẩm quyền xem xét của hội đồng trọng tài đồng thời loại trừ thẩm quyền của tòa án xem xét; thẩm quyền của hội đồng trọng tài chỉ phát sinh trong trường hợp vụ tranh chấp được một bên đưa ra trước tòa án thì ở đây tòa án vẫn được xem xét là mình hay trọng tài có thẩm quyền như đã trình bày phần trước
Trong trường hợp vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì hội đồng trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp (khoản 1 Điều 43)
Trường hợp không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc xác định rõ thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì hội đồng trọng tài quyết định đình chỉ việc giải quyết và thông báo ngay cho các bên (khoản 1 Điều 43)
Đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 43: “Trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu phát hiện hội đồng trọng tài vượt quá thẩm quyền, các bên có thể khiếu nại hội đồng trọng tài” Luật chỉ quy định “hội đồng trọng tài có trách nhiệm xem xét, quyết định” nhưng lại không cho biết hướng hội đồng trọng tài sẽ quyết định không giải quyết đối với phần vượt quá và tiếp tục giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình
Ngoài ra, các quyết định về phân định thẩm quyền trong cả hai trường hợp đó là: khi một bên khởi kiện ra tòa và khi một bên khởi kiện ra trọng tài, thì đều có thể
bị khiếu nại theo quy định của pháp luật