Đến Đại hội VII, VIII, IX khi công cuộc đổi mới bắt đầu đi vàochiều sâu, đảng ta tiếp tục khẳng định xây dựng cơ cấu kinh tế hợ lý là một nộidung quan trọng của CNH – HĐH, phát triển nền
Trang 1Chương I Lý luận chung về đầu tư và dịch chuyển cơ
cấu kinh tế
1 Cơ cấu kinh tế
1.1 Khái niệm
Phát triển kinh tế với tốc độ cao và bền vững là mục tiêu phấn đấu của tất
cả các nước Để thực hiện được mục tiêu đó cần thiết phải xây dựng 1 cơ cấukinh tế hợp lý Trong đó cần phải xác vai trò, tỷ trọng và mối quan hệ hợpthành giưã các ngành kinh tế quốc dân, giữa các vùng, lãnh thổ và giữa cácthành phần kinh tế Các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế phải được thể hiện cả
về mặt số lượng cũng như về mặt chất lượng và được xác định trong những giaiđoạn nhất định, phù hợp với những đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội cụ thể củamỗi quốc gia qua từng thời kỳ
Có thể hiểu cơ cấu kinh tế là một tổng thể các bộ phận hợp thành kết cấu
(hay cấu trúc) của nền kinh tế trong quá trình tăng trưởng sản xuất xã hội Các
bộ phận đó gắn bó với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện ở các quan
hệ tỷ lệ về số lượng, tương quan về chất lượng trong những không gian và thờigian nhất định, phù hợp với những điều kiện kinh tế xã hội nhất định nhằm đạtđược hiệu quả kinh tế xã hội cao
Cơ cấu kinh tế không phải là một hệ thống tĩnh bất biến mà luôn ở trạngthái vận động, biến đổi không ngừng Chính vì vậy, cần phải nghiên cứu cácqui luật khách quan, thấy đượcsự vận động phát triển của lực lượng sản xuất
xã hội để xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp với những mục tiêu chiếnlược kinh tế xã hội của từng thời kỳ lịch sử nhất định
Một cơ cấu kinh tế hợp lý phải có các bộ phận kết hợp một cách hài hoà,cho phép khai thác tối đa các nguồn lực của đất nước một cách có hiệu quả, đảmbảo nền kinh tế tăng trưởng với nhịp độ cao và phát triển ổn định, không ngừngnâng cao đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của người dân
Nước ta trong thời gian tương đối dài, nền kinh tế tồn tại theo cơ chế tậptrung quan liêu bao cấp Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, sau 15 năm nềnkinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa to lớn Đại hội VIđảng ta chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển 3 chươngtrình kinh tế lớn Sản xuất lương thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu,chú trọng phát triển kết cấu hạ tầng vào 3 chương trình và thực hiện luật đầu
Trang 2tư nước ngoài Đến Đại hội VII, VIII, IX khi công cuộc đổi mới bắt đầu đi vàochiều sâu, đảng ta tiếp tục khẳng định xây dựng cơ cấu kinh tế hợ lý là một nộidung quan trọng của CNH – HĐH, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa xã hội.
1.2 Phân loại cơ cấu kinh tế
1.2.1 Cơ cấu kinh tế ngành.
- Ngành nông nghiệp: Là tổ hợp các ngành gắn liền với các quá trình sinh học
gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp Do sự phát triển của phân cônglao động xã hội, các ngành này hình thành và phát triển tương đối độc lập,nhưng lại gắn bó mật thiết với nhau
Nông nghiệp là một ngành cơ bản của nền kinh tế cả nước, vừa chịu sự chiphối chung của nền kinh tế quốc dân, vừa gắn bó mật thiết với các ngànhkhác trên địa bàn nông thôn, đồng thời lại phản ánh những nét riêng biệt mangtính đặc thù của 1 ngành mà đối tượng sản xuất là những cơ thể sống
Theo nghĩa hẹp: nông nghiệp bao gồm trồng trọt và chăn nuôi, theonghĩa rộng thì nông nghiệp còn bao gồm cả lâm nghiệp và thuỷ sản
- Ngành công nghiệp: Là một ngành quan trọng của nền kinh tế bao gồm ngành
công nghiệp nhẹ: Chế biến nông, lâm, thuỷ sản, may mặc, da – giầy, điện tử –tin học, một số sản phẩm cơ khí và hàng tiêu dùng.Công nghiệp nặng: Dầu khí,luyện kim, cơ khí chế tạo, hoá chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng…
- Ngành dịch vụ: Đây là một ngành kinh tế ra đời và phát triển gắn liền với sự
phát triển của nền kinh tế quốc dân Dịch vụ bao gồm rất nhiều loại: Thươngmại, dịch vụ vận tải hàng hoá, hành khách, dịch vụ bưu chính – viễn thông,dịch vụ tài chính tiền tệ như tín dụng, bảo hiểm, kiểm toán, chứng khoán…dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ tư vấn, dịch vụ phục vụ đời sống Đối với Việt Namhiện nay, du lịch đang thực sự trở thành 1 ngành kinh tế mũi nhọn
1.2.2 Cơ cấu kinh tế vùng – lãnh thổ.
Trong từng Quốc gia do những điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khácnhau nên trong quá trình phát triển đã hình thành các vùng kinh tế sinh thái khácnhau
Cơ cấu vùng – lãnh thổ kinh tế là sự phân công lao động xã hội theo lãnh
Trang 3thổ trên phạm vi cả nước Cơ cấu vùng – lãnh thổ được coi là nhân tố hàng đầu
để tăng trưởng và phát triển bền vững các ngành kinh tế được phân bố ở vùng.Việc xác lập cơ cấu kinh tế vùng – Lãnh thổ 1 cách hợp lý nhằm phân bố trí cácngành sản xuất trên vùng – lãnh thổ sao cho thích hợp để triển khai có hiệu quảmọi tiềm năng và lợi thế của từng vùng Việc bố trí sản xuất ở mỗi vùng khôngkhép kín mà có sự liên kết với các vùng khác có liên quan để gắn với cơ cấukinh tế của cả nước: ở nước ta có thể chia ra các vùng kinh tế như sau:
- Trung du và miền núi bắc bộ
1.2.3 Cơ cấu thành phần kinh tế
Thành phần kinh tế là khu vực kinh tế, kiểu quan hệ kinh tế dựa trên mộthình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất Mỗi thành phần kinh tế là một bộphận cấu thành của nền kinh tế quốc dân
Trong thực tế cơ cấu thành phần kinh tế được chia thành ba thành phầnsau:
- Kinh tế nhà nước: Phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực
lượng vật chất quan trọng và là công cụ để nhà nước định hướng và điều tiết
vĩ mô nền kinh tế
- Kinh tế ngòai nhà nước: Là một bộ phận quan trọng đóng góp một
nguồn lực lớn cho sự phát triển kinh tế
- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Là một bộ phận của nền kinh tế Việt
Nam được khuyến khích phát triển, hướng mạch vào sản xuất, kinh doanhhàng hoá và dịch vụ có công nghệ cao, xây dựng kết cấu hạ tầng
Trang 42 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.1 Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi tỷ trọng của các bộ phận cấuthành nền kinh tế Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế xảy ra khi có sự phát triểnkhông đồng đều về quy mô, tốc độ giữa các ngành, vùng
Tương ứng với 3 loại cơ cấu kinh tế ta cũng xét sự chuyển dịch của 3 cơcấu này:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng
- Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực chất là sự phát triển không đều giữa cácngành, các lĩnh vực, bộ phận… Nơi nào có tốc độ phát triển cao hơn tốc độ pháttriển chung của nền kinh tế thì sẽ tăng tỷ trọng Ngược lại nơi nào có tốc độ pháttriển chậm hơn tốc độ phát triển chung của nền kinh tế thì sẽ giảm tỷ trọng
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý là sự chuyển dịch sang một cơ cấu kinh
tế có khả năng tái sản xuất mở rông cao, phản ánh được năng lực khai thác, sửdụng các nguồn lựcvà phải phù hợp với các quy luật, các xu hướng của thời đại Quá trình chuyển dịch nền kinh tế nước ta theo hướng CNH- HĐH đangtrở thành một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết bởi các lý do sau:
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tất yếu phải gắn với CNH- HĐH mới
sử dụng được nhiều lợi thế so sánh nước công nghiệp chậm phát triển, nhằm đẩynhanh tốc độ tăng trưởng và phát triển
Thực tiễn nuớc ta vẫn trong tình trạng nền sản xuất nhỏ, cơ sở vật chất kỹthuật còn thấp kém và nhỏ bé, công nghệ lạc hậu….sản phẩm sản xuất ra có chấtlượng kém, không có khả năng cạnh tranh, khó tiêu thụ, đời sống nhân dân gặpkhó khăn Để giải quyết căn bản vấn đề trên phải đổi mới cơ cấu kinh tế
Hệ thống kết cấu hạ tầng và dịch vụ cho đời sống còn thấp kém so với cácnước trong khu vực và thế giới Nhiều ngành, lĩnh vực còn thấp kém làm cho nền
Trang 5kinh tế chưa vững chắc, tài nguyên nhiều, lực lượng lao động dồi dào chưa cókhả năng và khai thác có hiệu quả, giải pháp duy nhất để khắc phục là tiến hànhCNH- HĐH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế mở đương cho sản xuất phát triển Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH- HĐH để tận dụng cơ hộivượt qua thử thách, khắc phục và tránh đuợc các nguy cơ tụt hậu về kinh tế đichệch hướng XHCN, quan liêu bao cấp…nhằm thực hiện mục tiêu của Đảng vànhà nước đề ra “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”.
2.2 Các nhân tố tác động tới đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.2.1Nhóm nhân tố tác động từ bên trong
• Nhân tố thị trường và nhu cầu tiêu dùng của xã hội:
Thị truờng và nhu cầu xã hội là người đặt hàng cho tất cả các ngành, lĩnhvực, bộ phận trong toàn bộ nền kinh tế Nếu như xã hội không có nhu cầu thì tấtnhiên sẽ không có bất kì một quá trình sản xuất nào Cũng như vậy, không có thịtrường thì không có kinh tế hàng hoá Thị trường và nhu cầu xã hội còn quy địnhchất lượng sản phẩm và dịch vụ, nên tác động trực tiếp đến quy mô, trình độ pháttriển của các cơ sở kinh tế, đến xu hướng phát triển và phân công lao động xãhội, đến vị trí, tỉ trọng các ngành, lĩnh vực trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân
• Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:
Lực lượng sản xuất là động lực phát triển của xã hội Nhu cầu xã hội là vôtận và mỗi ngày một cao Muốn đáp ứng đầy đủ nhu cầu xã hội thì trước hết phảiphát triển lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu lao động và con người có khả năng sửdụng tư liệu lao động để tác động vào đối tượng lao đọng, tạo ra sản phẩm hànghoá và dịch vụ, đáp ứng nhu cầu xã hội
Sự phát triển của lực lượng sản xuất sẽ làm thay đổi quy mô sản xuất, thayđổi công nghê, thiết bị, hình thành các ngành nghề mới, biến đổi lao động giảnđơn thành lao động phức tạp, từ ngành này sang ngành khác Sự phát triển đó phá
vỡ cân đối cũ, hình thành một cơ cấu kinh tế với một vị trí, tỉ trọng các ngành vàlĩnh vực phù hợp hơn, thích ứng được yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất,
Trang 6đáp ứng nhu cầu xã hội Quá trình đó diễn ra một cách khách quan và từng bướctạo ra sự cân đối hợp lý hơn, có khả năn khai thác nguồn lực trong nước và nướcngoài.
• Quan điểm chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế và cơ chế quản
lý của đất nước trong mỗi giai đoạn nhất định
Cơ cấu kinh tế là biểu hiện tóm tắt những nội dung, mục tiêu định hướngcủa chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Mặc dù cơ cấu kinh tế mang tính chấtkhách quan và lịch sử xã hội, nhưng các tính chất đó của cơ cấu kinh tế lại chịu
sự tác động, chi phối của nhà nước Nhà nước tuy không trực tiếp sắp đặt cácngành nghề, quy định các tỉ lệ của cơ cấu kinh tế, nhưng vẫn có sự tác động giántiếp bằng cách định hướng phát triển, để thực hiện mục tiêu đáp ứng nhu cầu xãhội Định hướng phát triển của nhà nước không chỉ nhằm khuyến khích mọi lựclượng sản xuất xã hội đạt mục tiêu đề ra, mà còn đưa ra các dự án để thu hút mọithành phần kinh tế tham gia, nếu không đạt được thì nhà nước phải trực tiếp tổchức sản xuất, đảm bảo sự cân đối giữa các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế
Những sản phẩm nào, ngành nào cần khuyến khích thì nhà nước giảm thuế,hoặc quy định thuế suất thấp để người sản xuất có lợi nhuận cao, còn đối vớinhững ngành hàng cần hạn chế thì đánh thuế cao, người sản xuất thu được ít lợinhuận, tất nhiên họ sẽ hạn chế đầu tư phát triển Những ngành hàng hoặc lĩnhvực không ai muốn đầu tư sản xuất, nhưng sản phẩm của nó lại rất cần cho xã hộithì nhà nước tự đầu tư, tự tổ chức sản xuất
Mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế- xã hội là định hướng chung cho mọithành phần, mọi nhà doanh nghiệp trong cả nước, phấn đấu thực hiện dưới sựđiều tiết của nhà nước thông qua hệ thống luật pháp và các quy định, thể chếchính sách của nhà nước Sự điều tiết của nhà nước gián tiếp dẫn dắt các ngành,lĩnh vực và thành phần kinh tế phát triển, đảm bảo tính cân đối, đồng bộ giữa các
bộ phận hợp thành nền kinh tế
2.2.2 Nhóm nhân tố tác động từ bên ngoài
• Xu thế chính trị, xã hội trong khu vực và thế giới ảnh hưởng đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 7Xét đến cùng, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế Sự biến động vềchính trị, xã hội của một nước hay một số nước, nhất là nước lớn, sẽ tác độngmạnh đến các hoạt động ngoại thương, thu hút vốn đầu tư, chuyển giao côngnghệ của các nước khác trên thế giới và khu vực Do đó, thị trường và nguồnlực nước ngoài cũng thay đổi, buộc các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược pháttriển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế nước mình ổn định
và phát triển
• Xu thế toàn cầu hoá kinh tế, quốc tế hoá lực lượng sản xuất
Hai xu thế trên tạo sự phát triển đan xen nhau, khai thác thế mạnh của nhautrong sản xuất và trao đổi hàng hoá, dịch vụ
Các thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ, sự bùng nổ thông tin,tạo điều kiện cho các nhà sản xuất-kinh doanh nắm bắt thông tin, hiểu thị trường
và hiểu đối tác mà mình muốn hợp tác Từ đó giúp họ định hướng sản xuất, kinhdoanh, thay đổi cơ cấu sản xuất, kinh doanh phù hợp với xu thế hợp tác đan xenvào nhau, khai thác thế mạnh của nhau, cùng nhau phân chia lợi nhuận
2.3 Một số chỉ tiêu đánh giá mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Nếu:
Tỷ trọng của ngành nông nghiệp là:
NN NN
GDP (t) (t)
GDP(t)
Tỷ trọng của ngành công nghiệp và xây dựng là:
CN CN
GDP (t) (t)
GDP(t)
Tỷ trọng của ngành dịch vụ là:
DV DV
GDP (t) (t)
GDP(t)
Tỷ trọng của ngành phi nông nghiệp là:
Trang 9tế phải phù hợp với lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Tức là phải phù hợpvới các quy luật khách quan Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải dựa trên mộtchương trình hành động thống nhất manh tính quốc gia.
Cơ cấu ngành kinh tế
Quá trình chuyển dịch phải bắt đầu từ những ngành then chốt, làm đầu tàukéo nền kinh tế từ sự thay đổi về lượng đén sự thay đổi về chất Có sự chuyểndịch từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Chuyển dịch khu vưc côngnghiệp sang hình thành phát triển một số ngành, sản phẩm mới đi sâu vào pháttriển các ngành, lĩnh vực có năng suất lao động cao, hàm lượng công nghệ cao,sửdụng khai thác hiệu quả ổn định nguồn tài nguyên thiên nhiên Phát triển mạnh
và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ, thương mại
Tăng tỉ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ Giảm tỉ trọng ngành nôngnghiệp Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa
Cơ cấu vùng lãnh thổ
Phát huy tối đa tiềm năng kinh tế của các vùng Giảm cách biệt giàu nghèogiữa các vùng Hình thành các vùng kinh tế trọng điểm Phát huy tối đa lợi thế sosánh của từng vùng, tạo nên thế mạnh của từng vùng theo cơ cấu kinh tế mở.đồng thời với việc phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, nhà nước cần hỗ trợnhững vùng kinh tế còn khó khăn
Cơ cấu thành phần kinh tế
Trang 10Tăng tỉ trọng đóng góp của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước Giảm tỉtrọng thành phần kinh tế nhà nước tuy nhiên vẫn đảm bảo vai trò điều hòa nềnkinh tế
tư và góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
- Nhà nước sử dụng trực tiếp các nguồn lực của mình để tham gia đầu
tư như: ngân sách, tín dụng của nhà nước, doanh nghiệp nhà nước… Nhóm công
cụ này thường hướng tới việc tạo mới, nâng cấp hoặc củng cố năng lực sản xuất,năng lực phục vụ của khu vực công, hướng tới các ngành, địa phương khó khănkhông hấp dẫn khu vực tư nhân đầu tư vì lợi nhuận Trong trường hợp nhất định,đầu tư của nhà nước có vai trò dẫn dắt đầu tư từ thành phần khác
- Nhóm công cụ thứ hai: Nhà nước có thể sử dụng 1 số công cụ chínhsách nhằm giná tiếp định hướng đầu tư của khu vực ngòai nhà nước hay đầu tưnước ngòai vào những lĩnh vực, ngành mà nhà nước ưu tiên trong chiến lượcphát triển kinh tế xã hội Chậm hơn so với việc sử dụng các công cụ trực tiếp
4 Vai trò của đầu tư trong dịch chuyển cơ cấu kinh tế ở Việt Nam
Kinh nghiệm và thực tiễn cho thấy rằng con đường tăng trưởng nhanh vớitốc độ mong muốn (từ 9 đến 10%) là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự chuyểndịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là sự chuyển dịch cơ cấu ngành, vùng, lãnh thổ Đầu
tư góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với quy luật và chiến lượcphát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ, tạo ra sự cân đối mớitrên phạm vi nền kinh tế quốc dân và giữa các ngành, vùng, nhằm phát huy nộilực của nền kinh tế trong khi vẫn coi trọng yếu tố ngoại lực
Trang 114.1 Vai trò của đầu tư trong việc chuyển dịch cơ cấu ngành
Cơ cấu ngành của nền kinh tế là tổ hợp các ngành, hợp thành các tươngquan tỷ lệ, biểu hiện mối liên hệ giữa các ngành đó của nền kinh tế quốc dân.Chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế là sự thay đổi có mục đích, cóđịnh hướng và dựa trên cơ sở phân tích đầy đủ căn cứ lý luận và thực tiễn,cùng với việc áp dụng đồng bộ các giải pháp cần thiết để chuyển cơ cấu ngành
từ trạng thái này sang trạng thái khác, hợp lý và hiệu quả hơn
Chuyển dịch cơ cấu ngành phải được coi là điểm cốt tử, một nọi dung cơbản lâu dài trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nếu xác định phươnghướng và giải pháp chuyển dịch đúng sẽ đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội caotrong sự phát triển Ngược lại sẽ phải trả giá đắt cho những sự phát triển về sau
Chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế thành công hay thất bại phụthuộc rất nhiều vào khâu quyết định chủ trương chuyển dịch và tổ chức thực hiệncác mục tiêu, nhiệm vụ đã xác định ở đây, nhà nước có vai trò quyết địnhtrong việc hoạch định chủ trương và chính sách kinh tế vĩ mô, còn các doanhnghiệp thì có vai trò quyết định việc thực thi phương hướng, nhiệm vụ chuyểndịch
Một nền kinh tế quốc dân bao gồm nhiều ngành sản xuất khác nhau Do
đó, 1 quốc gia muốn phát triển và đạt được tốc độ tăng trưởng cao phả có 1 cơcấu ngành hợp lý Đối với Việt Nam, để thực hiện mục tiêu CNH – HĐH đấtnước, phấn đầu năm 2010 cơ bản trở thành 1 nước công nghiệp thì
điều này lại càng có ý nghĩa Chính vì vậy, việc đầu tư vào chuyển dịch cơcấu ngành, tạo sức bật cho nền kinh tế đóng 1 vai trò hết sức quan trọng Vaitrò này của đầu tư được thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ 1: Đầu tư tác động làm thay đổi tỷ trọng đóng góp vào GDP của các
ngành: Đây là 1 hệ quả tất yếu của đầu tư Đầu tư vào ngành nào càng nhiều thìngành đó càng có khả năng đóng góp lớn hơn vào GDP Việc tập trung đầu tưvào ngành nào phụ thuộc vào chính sách và chiến lược phát triển của mỗiquốc gia Thông qua các chính sách và chiến lược, nhà nước có thể tăng cườngkhuyến khích hoặc hạn chế đầu tư đối với các ngành cho phù hợp với từng giaiđoạn phát triển Dẫn đến sự tăng đầu tư vào 1 ngành sẽ kéo theo sự tanưgtrưởng kinh tế của ngành đó và thúc đẩy sự phát triển của các ngành, các khu
Trang 12vực có liên quan Vì vậy sẽ tạo ra sự tăng trưởng kinh tế chung của đất nước.Việc xác định nên tập trung đầu tư vào ngành nào có tính chất quyết định sựphát triển của quốc gia Nhưng kinh nghiệm của các nước trên thế giới đã chothấy con đường tất yếu có thể tăng trưởng nhanh với tốc độ mong muốn là tăngcường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển ở khu vực công nghiệp và dịch vụ Do
đó, để thực hiện được các mục tiêu đã định, Việt Nam cũng không thể nằmngoài sự phát triển
Thứ 2: Như đã nói ở trên, đầu tư đã làm thay đổi tỷ trọng của các ngành
trong cả nền kinh tế Sự thay đổi này lại đi liền với sự thay đổi cơ cấu sảnxuất trong từng ngành hay nói cách khác, sự phân hoá cơ cấu sản xuất trongmỗi ngành kinh tế là do có tác động của đầu tư Sự phân hoá này cũng là một tấtyếu để phù hợp với sự phát triển của ngành Trong từng ngành, đầu tư lạihướng vào các ngành có điều kiện thuận lợi để phát triển, phát huy được lợi thếcủa ngành đó và làm điểm tựa cho các ngành khác cùng phát triển
Thứ 3: Nhờ có đầu tư mà quy mô, năng lực sản xuất của các ngành
cũng được tăng cường Mọi việc như mở rộng sản xuất, đổi mới sản phẩm, muasắm máy móc ….Suy cho cùng đều cần đến vốn, 1 ngành muốn tiêu thụ rộngrãi sản phẩm của mình thì phải luôn đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm đadạng hoá mẫu mã, kiểu dáng, nghiên cứu chế tạo các chức năng, công dụngmới cho sản phẩm Do đó việc đầu tư để nâng cao hàm lượng khoa học côngnghệ trong sản phẩm là 1 điều kiện không thể thiếu được nếu muốn sản phẩmđứng vững trên thị trường, nhờ vậy mà nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá vàdịch vụ trên thị trường
4.2 Vai trò của đầu tư đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng–lãnh thổ.
4.2.1 Đầu tư thúc đẩy phát triển kinh tế của một số vùng- lãnh thổ.
Một số vùng – lãnh thổ khi có nguồn vốn đầu tư vào sẽ có thể có nhiều cơhội để sản xuất kinh doanh, tạo đà cho sự tăng trưởng kinh tế của mình Tácđộng này của đầu tư có thể xem xét trên 2 khía cạnh như sau:
Thứ nhất là: Đầu tư giúp các vùng – lãnh thổ phát huy được tiềm năng,
thế mạnh kinh tế của vùng
Với nhưng vị trí địa lý, đặc thù tự nhiên khác nhau mỗi vùng – lãnh thổ
sẽ có những thế mạnh kinh tế khác nhau, nhưng để phát triển kinh tế thì khôngchỉ dựa vào những tài nguyên vị trí địa lý sẵn có đó, mà phải có đủ điều kiện
Trang 13để khai thác và sự dụng nó có hiệu quả Điều này đòi hỏi phải có nguồn vốnđầu tư Vì khi được dầu tư thích đáng các vùng sẽ có điều kiện để xây dựng cơ
sở hạ tầng, máy móc công nghệ hiện đại, xác định các phương hướng pháttriển đúng đắn để tận dụng, phát huy sức mạnh của vùng Như một số vùngmiền núi có địa hình đồii núi cao ( Sơn La – Hoà Bình ) trước khi được đầu tưvùng không có công trình nào lớn mạnh thực sự, nhưng nhờ đầu tư khai thácthế mạnh sông núi của vùng nhà máy thuỷ điện đã được xây dựng, góp phầnlàm phát triển nền kinh tế của vùng
Thứ hai là: Đầu tư góp phần nâng cao tỷ trọng đóng góp vào GDP của các
vùng – lãnh thổ được đầu tư
Như phân tích trên đầu tư giúp các vùng tận dụng được thế mạnh củamình, tạo đà cho sự phát triển kinh tế của vùng Khi nền kinh tế phát triển hơnthì khả năng đóng góp vào GDP cũng sẽ cao hơn so với trước kia
Như vậy đầu tư tác động làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng, vùng nào
có sự đầu tư nhiều hơn sẽ có cơ hội phát triển kinh tế nhiều hơn, khả năngđóng góp vào GDP của vùng tăng cao hơn, thúc đẩy sự phát triển kinh tế củavùng cao hơn các vùng – lãnh thổ ít được đầu tư khác
4.2.2 Đầu tư tác động nâng cao đời sống của dân cư.
Nguồn vốn đầu tư được sử dụng vào các hoạt động sản xuất và dịch vụ gópphần tạo công ăn việc làm cho người lao động Nhờ có nguồn vốn đầu tư màcác vùng mới có điều kiện để xây dựng các nhà máy, cơ sở hạ tầng trên lãnhthổ của vùng Ngay khi những công trình của dự án đầu tư mới đang đượcxây dựng thì đã là cơ hội tạo việc làm cho nhiều người dân của vùng, thu hútlao động nhàn rỗi của vùng Cho đến khi các cơ sở đó đi vào hoạt động cũng đãthu hút được nhiều lao động trong vùng Như hàng loạt các nhà máy đường, ximăng được đầu tư xây dựng đã thu hút công nhân lao động trong vùng vàolàm, giải quyết nhiều công ăn việc làm cho khu vực đó
Đầu tư giúp nâng cao thu nhập của dân cư, giúp xoá đói giảm nghèo,người dân từ chỗ bế tắc, thất nghiệp, sau khi có nguồn vốn đầu tư thu hút laođộng, tạo việc làm, người dân có thể có thu nhập cao hơn, ổn định cuộc sống,phát huy năng lực của mình
4.2.3 Đầu tư góp phần giải quyết những mất cân đối về phát triển kinh tế giữa các vùng.
Trang 14Nguồn vốn đầu tư thường được tập trung ở những vùng kinh tế trọngđiểm của đất nước, thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế của những khu vực đó,
và đến lượt mình những vùng phát triển này lại làm bàn đạp thúc đẩy nhữngvùng khác cùng phát triển Các vùng kinh tế trọng điểm được đầu tư phát huythế mạnh của mình, góp phần lớn vào sự phát triển chung của cả đất nước, kéocon tàu kinh tế chung của đất nước đi lên, khi đó các vùng kinh tế khác mới cóđiều kiện để phát triển
Đầu tư cũng đã thúc đẩy các vùng kinh tế khó khăn có khả năng pháttriển, giảm bớt sự chênh lệch kinh tế với các vùng khác Các vùng kinh tế khókhăn khi nhận được sự đầu tư, giúp họ có thể có đủ điều kiện để khai
thác, phát huy tiềm năng của họ, giải quyết những vướng mắc về tàichính, cơ sở hạ tầng cũng như phương hướng phát triển,tạo đà cho nền kinh tếvùng , làm giảm bớt về sự chênh lệch với nền kinh tế các vùng khác
Qua những phân tích trên cho thấy , đầu tư có sự tác động quan trọng đến
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng _lãnh thổ, từng vùng có khả năng pháttriển kinh tế cao hơn, phát huy được thế mạnh của vùng, đời sống nhân dân trongvùng có nhiều thay đổi, tuy nhiên trên thực tế mức độ đầu tư vào từng vùng làkhác nhau, điều đó làm cho nền kinh tế giưa các vùng vẫn luôn có sự khácnhau, chênh lệch nhau
4.3 Vai trò của đầu tư đối với chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế.
4 3 1 Đầu tư đã có tác động tạo ra những chuyển biến về tỷ trọng đóng góp vào GDP của các thành phần kinh tế.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước, trong những năm qua
cơ cấu thành phần kinh tế ở nước ta đã có sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ
và bước đầu đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ Bên cạnh khu vực kinh tếtrong nước, khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài FDI cũngngày càng có những đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế của cả nước.Đáng chú ý là trong khu vực kinh tế trong nước (bao gồm các thành phần kinh
tế nhà nước, tập thể, tư nhân, cá thể và kinh tế hồn hợp ) Cơ cấu của các thànhphần đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các thành phần kinh tếngoài nhà nước và giảm tỷ trọng của kinh tế nhà nước phù hợp với chủ
Trang 15trương đa dạng hoá các thành phần kinh tế nhưng vẫn đảm bảo vai trò quản lýcủa nhà nước theo định hướng XHCN.
4.3.2 Tạo ra sự phong phú đa dạng về nguồn vốn đầu tư
Nền kinh tế bao cấp đã chỉ rõ những nhược điểm của mình với 2 thànhphần kinh tế và nguồn vốn chỉ do ngân sách cấp, do đó không mang lại hiệu quảcao Nhưng từ khi nước ta chuyển sang kinh tế thị trường thì nền kinh tế khôngchỉ tồn tại 2 thành phần như trước đây là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể mà
đã xuất hiện thêm các thành phần kinh tế khác như kinh tế tư nhân, kinh tế cáthể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Cùng với sự xuất hiện này là sự đadạng về nguồn vốn đầu tư do các thành phần kinh tế mới mang lại Các thànhphần kinh tế mới đã bổ sung một lượng vốn không nhỏ vào tổng vốn đầu tư củatoàn xã hội, tạo nên một nguồn lực mạnh mẽ hơn
trước để phát triển kinh tế Việc có thêm các thành phần kinh tế đã huyđộng và tận dụng được các nguồn lực trong xã hội một cách hiệu quả hơn,khuyến khích được mọi cá nhân tham gia đầu tư làm kinh tế
Vốn đầu tư của họ có thể đến được những nơi, những lĩnh vực mà nhànước chưa đầu tư đến hoặc không có đủ vốn để đầu tư Chính vì vậy, việc đadạng hoá nguồn vốn là một yếu tố không thể thiếu được trong đầu tư pháttriển
5 Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả của đầu tư chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
5.1 Hệ số co dãn giữa việc thay đổi cơ cấu ngành với thay đổi DGP:
Hệ số co dãn giữa việcthay đổi cơ cấu đầu tư ngành
với thay đổi GDP
=
% thay đổi tỷ trọng đầu
tư của ngành nào đó/ tổng vốnđầu tư xã hội kỳ nghiên cứu sovới kỳ trước
% thay đổi tốc độ tăngtrưởng GDP giữa kỳ nghiêncứu so với kỳ trước
Chỉ tiêu này cho biết, để tăng 1% tỷ trọng GDP của ngành trong tổng GDP
Trang 16(thay đổi cơ cấu kinh tế) thì phải đầu tư cho ngành thêm bao nhiêu.
5.2Hệ số co dãn giữa việc thay đổi cơ cấu đầu tư với thay đổi cơ cấu kinh tế của ngành:
Hệ số co dãn giữa
việc thay đổi cơ cấu
đầu tư với thay đổi cơ
cấu kinh tế của ngành
=
% thay đổi tỷ trọng đầu tư của ngànhnào đó/ tổng vốn đầu tư xã hội kỳ nghiêncứu so với kỳ trước
% thay đổi tỷ trong GDP của ngànhtrong tổng GDP giữa kỳ nghiên cứu so với
kỳ trước
Trang 17Chương II Tác động của đầu tư đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2000 – 2012
1. Tổng quan hoạt động đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong những năm gần đây, thế giới đã biết Việt Nam như một nước đangthực hiện thành công công cuộc đổi mới Để đạt được những thành công này,Đảng và chính phủ đã có những chính sách cải cách và mở cửa hết sức đúngđắn Những chính sách này đã mang lại những tích cực trong việc thu hút vốnđầu tư để phát triển nền kinh tế vốn còn chậm phát triển của Việt Nam vàmột trong những thành công nổi bật của đầu tư trong công cuộc đổi mới là sựchuyển dịch cơ câú kinh tế theo hướng CNH- HĐH Điều đầu tiên cần đề cậpđến ở đây là sự thành công của Việt Nam trong việc từng bước chuyển từ nềnkinh tế nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế công nghiệp tiên tiến, tức là tăngdần tỉ trọng của công nghiệp và dịch vụ trong GDP so với nông nghiệp Bìnhquân trong những năm qua, giá trị của ngành dịch vụ ở mức 39%, của ngànhcông nghiệp là 38% và con số này của ngành nông nghiệp là 23% Côngnghiệp Việt Nam đang bước từng bước vững chắc và đang chứng tỏ là mộtngành có thể kéo đoàn tàu kinh tế tiến lên Giá trị của nông nghiệp tuy có giảmnhưng ngành nông nghiệp của nước ta vẫn không chỉ đảm bảo được an ninhlương thực mà còn luôn giữ vững vị trí là một trong 3 nước xuất khẩu gạo lớnnhất thế giới Bên cạnh những thành công này không thể khôg kể đến nỗ lựccủa Đảng và Nhà nước trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng- lãnh thổ.Các vùng kinh tế: Tây bắc, Đông bắc, Đồng bằng sông hồng, Khu 4, Duyên hảimiền trung, Tây nguyên, Đông nam bộ và Đồng bằng sông cửu long đã xây dựngđược cho mình các thế mạnh về cây, con để đầu tư sản xuất, cải thiện đáng kểđời sống nhân dân và đã hình thành được các vùng kinh tế trọng điểm làm độnglực cho sự phát triển của cả nước
Một điều cần nói đến nữa ở đây là sự chuyển biến về cơ cấu thành phầnkinh tế, ngoài 2 thành phần kinh tế cũ là kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cácthành phần kinh tế khác như kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể, kinh tế hỗn hợp vàkhu vực có vốn đầu tư nước ngoài cũng đã góp phần làm đa dạng hoá nguồnvốn đầu tư, bổ sung cho nguồn vốn của nhà nước Năm 2012, mặc dù nền
Trang 18kinh tế vẫn bị khủng hoảng nhưng tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt mức 33,5%GDP tăng 7% so với năm 2011 Điều đó thể hiện vai trò tích cực của các thànhphần kinh tế trong việc đầu tư vào các ngành, vùng để phát triển kinh tế Đặcbiệt, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận không thể táchrời trong sự nghiệp phát triển kinh tế Việt Nam Trong những năm qua, khuvực này đã có bước phát triển khá, tạo thêm một số mặt hàng mới, thị trườngmới, tăng thêm sức cạnh tranh của sản phẩm, góp phần quan trọng vào các thànhtựu kinh tế- xã hội của đất nước.
2. Thực trạng tác động của đầu tư đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2012
2.1 Thực trạng tác động của đầu tư đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Sau nhiều năm thực hiện mở cửa nền kinh tế Nước ta đã nhận được rấtnhiều nguồn vốn từ nước ngòai đổ vào , cùng với lượng vốn trong nước, tạothành một nguồn vốn đầu tư lớn cho nền kinh tế
2.1 1 Đầu tư tác động đến dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngành
Thực hiện đường lối CNH-HDH của đảng, cơ cấu đầu tư của nền kinh tếdịch chuyển theo hướng: Tăng tỷ trọng đầu tư phát triển ngành CN và DV, chú ýđầu tư phát triển nông nghiệp hợp lý
Bảng 1 Cơ cấu GDP và cơ cấu vốn đầu tư theo ngành
201 1
2012 200
0
200 5
200 8