Nhiệm vụ nghiên cứu: 1 Hệ thống hóa lý thuyết về chính sách tiền tệ, chính sách nới lỏng tiền tệ và nới lỏng định lượng; 2 Nghiên cứu, phân tích cụ thể việc thực hiện chính sách nới lỏn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
CAO XUÂN HIẾU
ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH NỚI LỎNG TIỀN TỆ CỦA CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG TỚI NỀN KINH TẾ MỸ
TRONG GIAI ĐOẠN 2008 - 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
CAO XUÂN HIẾU
ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH NỚI LỎNG TIỀN TỆ CỦA CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG TỚI NỀN KINH TẾ MỸ
TRONG GIAI ĐOẠN 2008 - 2015
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 60 31 01 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM XUÂN HOAN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin đƣợc đăng tải trên các bài nghiên cứu, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Tác giả
Cao Xuân Hiếu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội, đến Quý thầy cô trong Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này Đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tớiPGS.TS.Phạm Xuân Hoan đã hướng dẫn tận tình, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
Cuối cùng, tôi cũng gửi tới bố mẹ, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp lời biết ơn chân thành nhất với sự tận tình hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả mọi người!
Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2016
Tác giả
Cao Xuân Hiếu
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ iv
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Những đóng góp mới của luận văn 4
5 Kết cấu của luận văn 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH NỚI LỎNG TIỀN TỆ 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về khung lý thuyết chính sách nới lỏng tiền tệ 6
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về chính sách nới lỏng tiền tệ của các nước trên thế giới 7
1.1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu về chính sách nới lỏng tiền tệ của Cục dự trữ liên bang Mỹ trong giai đoạn 2008 - 2015 9
1.2 Cơ sở lý luận về chính sách nới lỏng tiền tệ 12
1.2.1 Tổng quan về chính sách tiền tệ 12
1.2.2 Chính sách nới lỏng tiền tệ 30
1.2.3 Ảnh hưởng của chính sách nới lỏng tiền tệ tới các biến kinh tế vĩ mô 34
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1 Quy trình nghiên cứu 40
2.2 Các phương pháp nghiên cứu 42
2.2.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp 42
Trang 62.2.2 Phương pháp so sánh 43
2.2.3 Phương pháp kế thừa 45
CHƯƠNG 3 CHÍNH SÁCH NỚI LỎNG TIỀN TỆ CỦA CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG MỸ TRONG GIAI ĐOẠN 2008 – 2015 46
3.1 Cục dự trữ liên bang Mỹ và bối cảnh thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ 46
3.1.1 Cục dự trữ Liên bang Mỹ 46
3.1.2 Bối cảnh thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ 50
3.2 Các gói nới lỏng định lượng tại Mỹ trong giai đoạn 2008 – 2015 56
3.2.1 Gói nới lỏng định lượng 1 57
3.2.2 Gói nới lỏng định lượng 2 59
3.2.3 Gói nới lỏng định lượng 3 60
3.2.4 Các công cụ chính sách bổ trợ 65
3.2.5 Bình thường hóa chính sách tiền tệ sau nới lỏng 67
CHƯƠNG 4 ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH NỚI LỎNG TIỀN TỆ 69
CỦA CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG MỸ 69
4.1 Ảnh hưởng của chính sách nới lỏng tiền tệ tới nền kinh tế Mỹ 69
4.1.1 Tổng sản phẩm quốc nội 69
4.1.2 Tỷ lệ thất nghiệp và tạo mới việc làm 70
4.1.3 Lạm phát 72
4.1.4 Nợ công 73
4.1.5 Thị trường chứng khoán và thị trường vốn 75
4.2 Ảnh hưởng của chính sách nới lỏng tiền tệ của Mỹ tới kinh tế thế giới 77
4.2.1 Ảnh hưởng của chính sách tới các nước đang phát triển 78
4.2.2 Ảnh hưởng của chính sách và hàm ý cho Việt Nam 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT KÝ
HIỆU
NGUYÊN BẢN TIẾNG ANH
NGUYÊN NGHĨATIẾNG
VIỆT
3 BOP Balance of Payments Cán cân thanh toán
4 CES Current Employment
Statistics Chương trình thống kê lao động
5 CPI Consumer Price Index Chỉ số giá tiêu dùng
6 CPS Current Population Survey Chương trình khảo sát dân số
8 ECB European Central Bank Ngân hàng Trung Ương Châu Âu
9 ETF Exchange Traded Fund Quỹ đầu tư các chỉ số
11 FFR Federal Funds Rate Lãi suất điều hòa vốn dự trữ
12 FOMC Federal Open Market
13 GDP Gross Domestic Product Tổng thu nhập quốc nội
14 GSEs Government-sponsored Doanh nghiệp được Chính phủ
Trang 821 ODA Official Development
Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức
22 PPI Producer Price Index Chỉ số giá nhà sản xuất
23 QE Quantitative Easing Nới lỏng định lượng
24 TAF
Term Auction Facility Chương trình đấu giá cho vay ưu
đãi có thời hạn
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 1.1 Hệ thống mục tiêu của chính sách tiền tệ một số nước 21
2 Bảng 3.1 Thay đổi lãi suất điều hòa vốn dự trữ trong giai đoạn 2006
4 Bảng 3.3 Một số giao dịch TAF trong giai đoạn 2007 – 2010 54
5 Bảng 3.4 Dòng thời gian thực hiện gói nới lỏng định lượng 57
6 Bảng 3.5 Một số kết quả đạt được theo khung thời gian QE1 59
7 Bảng 3.6 Một số kết quả đạt được theo khung thời gian QE2 60
8 Bảng 3.7 Chi tiết cắt giảm quy mô chương trình QE3 63
9 Bảng 3.8 Một số kết quả đạt được theo khung thời gian QE3 64
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
1 Hình 1.1 Quy trình thực hiện nới lỏng định lƣợng 31
3 Hình 3.1 Cơ cấu, thành phần và các chức năng chính của FED 47
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 3.1 Cơ chế thay đổi lãi suất của Operation Twist 65
2 Biểu đồ 4.1 Tăng trưởng GDP của Mỹ trong giai đoạn 2007 – 2015 70
3 Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ trong giai đoạn 2007 – 2015 71
4 Biểu đồ 4.3 Bảng lương phi nông nghiệp của Mỹ giai đoạn 2006 - 2016 71
5 Biểu đồ 4.4 Tỷ lệ lạm phát của Mỹ trong giai đoạn 2007 – 2015 73
6 Biểu đồ 4.5 Bảng cân đối kế toán của FED trong giai đoạn 2006 – 2016 74
7 Biểu đồ 4.6 Nợ công của Mỹ trong giai đoạn 2007 – 2015 74
8 Biểu đồ 4.7 Chỉ số chứng khoán S&P 500 trong giai đoạn 2007 – 2015 75
9 Biểu đồ 4.8 Chỉ số công nghiệp Dowjones trong giai đoạn 2007 – 2015 76
10 Biểu đồ 4.9 Chỉ số Nasdaq Composite trong giai đoạn 2007 – 2015 76
11 Biểu đồ 4.10 Lãi suất trái phiếu 10 năm trong giai đoạn 2007 – 2016 77
12 Biểu đồ 4.11 Lãi suất trái phiếu 30 năm trong giai đoạn 2007 – 2016 77
13 Biểu đồ 4.12 Biến động tỷ giá USDVND trong giai đoạn 2008 - 2015 82
14 Biểu đồ 4.13 Biến động giá vàng thế giới 2007 - 2015 84
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Nước Mỹ sổ mũi, cả thế giới bị cảm lạnh” là một câu nói cách ngôn mà các nhà kinh tế học đã đưa ra về mức độ ảnh hưởng của Mỹ tới nền kinh tế thế giới Và cũng không phải ngẫu nhiên mà nền kinh tế Mỹ lại có thể giữ vững vị thế dẫn đầu thế giới trong khoảng một thế kỷ trở lại đây, bất chấp sự tăng trưởng mạnh mẽ của các cường quốc kinh tế khác như Nhật Bản, EU hay gần đây nhất là sự trỗi dậy của Trung Quốc Có thể khẳng định rằng sức mạnh của kinh tế Mỹ là sự cộng hưởng từ những ưu thế vượt trội trên nhiều lĩnh vực nhưng dường như đó vẫn chưa phải là nhân tố mang tính quyết định, bởi trong thực tế điều đó vẫn có thể bị các nước khác thu hẹp như đã và đang xảy ra Vậy nhân tố nào là quan trọng nhất, tác giả cho rằngđó chính là khả năng tự làm mới mình, biết rút ra bài học và đứng lên sau mỗi lần khủng hoảng của kinh tế Mỹ
Năm 2008, cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính quy mô toàn cầu nổ ra đã đột ngột chấm dứt vị trí dẫn đầu về kinh tế mà Mỹ đã nắm giữ trong suốt một phần tư thế kỷ Hệ thống tài chính ngân hàng vốn được coi là huyết mạch của nền kinh tế đã lâm vào một trong những cuộc khủng hoảng chưa từng có khi chứng kiến hàng trăm
tỷ đô la Mỹtiêu tan và sự lây lan cũng như hậu quả của nó là không thể lường hết Nhìn nhận lại, khủng hoảng tại Mỹ không phải xảy ra một cách ngẫu nhiên, khách quan từ những nguyên nhân bên ngoài mà nó bắt nguồn từ chính những nguyên nhân chủ quan nội tại của kinh tế Mỹ Nói chính xác hơn, nó xuất phát từ cơ chế cho vay quá dễ dãi hay còn gọi là cho vay dưới chuẩn của các tổ chức tín dụng, ngân hàng Mỹ trong hệ thống tài chính từ sau cuộc khủng hoảng Dotcom 2000 Và cuối cùng, đất nước Mỹ hùng mạnh đã phải chính thức xác nhận rơi vào suy thoái
kể từ tháng 12 năm 2007
Trước tình hình đó, FED đã thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ phi truyền
thống thông qua một loạt các gói “Nới lỏng định lượng – Quantitative Easing” bao
gồm gói các QE1, gói QE2 và gói QE3 Cho tới cuối chương trình,FED đã bơm vào
Trang 13thị trường hơn 4400 tỷ USD bằng cách mua trái phiếu đảm bảo bằng thế chấp, trái phiếu Chính phủ nhằm duy trì lãi suất dài hạn ở mức thấp qua đó thúc đẩy đà phục hồi kinh tế Mỹ Kể từ khi bắt đầu cho đến sau khi kết thúc, FED đã nhận được không
ít những nghi ngờ cũng nhưnhững lời chỉ trích Không ít người lo ngại QE có thể thổi bùng lạm phát, song trên thực tế điều này cho tới nay chưa xảy ra và lạm phát hiện tại vẫn còn khoảng cách đáng kể với mục tiêu 2% Về hiệu quả của các gói QE, hầu hết đều cho rằng trong thực tế rất khó phân định được rõ ràng kết quả nào là nhờ QE và kết quả nào do nền kinh tế Mỹ tự phục hồi Doug Handler, một nhà kinh tế chủ chốt thuộc tổ chức IHS Global Insight thì khẳng định rằng FED và gói QE đã giúp đưa kinh tế Mỹ thoát khỏi cuộc suy thoái tồi tệ nhất kể từ thập niên 1930 Nhiều nhà kinh
tế cũng đồng tình với quan điểm của Doug Handler và cho rằng ảnh hưởng có lẽ lớn nhất mà QE mang lại chính là việc làm cho người lao động và cộng đồng doanh nghiệp thực sự tin rằng các nhà điều hành chính sáchthuộc FED sẵn sàng làm bất cứ điều gì để thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng kinh tế
Là một nền kinh tế lớn và có sức chi phối tới toàn thế giới, hiểu về Mỹ nói chung và chính sách tiền tệ cùng chương trình nới lỏng định lượng mà FED đã thực hiện nói riêng là việc hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và Mỹ
là một trong các đối tác thương mại, đầu tư quốc tế lớn nhất của Việt Nam Các tác động, ảnh hưởng của chính sách tiền tệ tại Mỹ mang lại là rất lớn, điều đó đúng không chỉ với bản thân bên trong nước Mỹ mà còn ảnh hưởng tới các quốc gia trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam Ngoài ra, chương trình nới lỏng định lượng là một công cụ chính sách tiền tệ còn rất mới và đang trở thành hiện tượng được nhiều nước phát triển áp dụng đòi hỏi cần phải được quan tâm và nghiên cứu một cách thấu đáo, tác giả hy vọng luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo, bổ sung cho các nghiên cứu sâu hơn sau này.Vậy việc thực thi chính sách nới lỏng tiền tệ được Cục
dự trữ liên bang Mỹ FED được thực hiện như thế nào? Ảnh hưởng và hiệu quả của
nó cho tới nay ra sao? Tác giả nhận thấy sự cần thiết phải nghiên cứu về chính sách nới lỏng tiền tệ trong nền kinh tế Mỹ, từ đó đưa ra bình luận và rút ra hàm ý về ảnh hưởng của chính sách tới nền kinh tế
Trang 14Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng của chính sách nới lỏng tiền tệ
của Cục dự trữ liên bang tới nền kinh tế Mỹ trong giai đoạn 2008 – 2015” cho luận
văn tốt nghiệp của mình
Để giải quyết vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu chính được tác giả đặt ra
là “Chính sách nới lỏng tiền tệđã được Cục dự trữ liên bang thực hiện như thế nào
trong giai đoạn 2008 - 2015 và những ảnh hưởng của nó tới kinh tế Mỹ cũng như các quốc gia khác ra sao?”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Làm rõ về chính sách nới lỏng tiền tệ được Mỹ thực hiện trong giai đoạn 2008 – 2015, cụ thể là các công cụ nới lỏng định lượng Qua đó tập trung xem xét cácảnh hưởng của chính sách tới nền kinh tế Mỹ và các quốc gia khác trong giai đoạn này
Từ đó, luận văn đưa ra một số kết luận và hàm ý của việc thực hiện chính sách này tại Mỹ
Nhiệm vụ nghiên cứu:
(1) Hệ thống hóa lý thuyết về chính sách tiền tệ, chính sách nới lỏng tiền tệ và nới lỏng định lượng;
(2) Nghiên cứu, phân tích cụ thể việc thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ của Cục dự trữ Liên bangtrong giai đoạn 2008 – 2015;
(3) Nghiên cứu và xem xét các ảnh hưởng của Chính sách nới lỏng tiền tệ đối với các tiêu chí kinh tế vĩ mô quan trọng trong nền kinh tế Mỹ và một số ảnh hưởng tới các quốc gia khác trong đó có Việt Nam;
(4) Kết luận và đưa ra hàm ý việc thực hiện chính sách;
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về Chính sách nới lỏng tiền tệ được Cục dự trữ liên bang Mỹ thực hiện trong giai đoạn 2008 – 2015 mà cụ thể là các gói nới lỏng định lượng và một số công cụ tiền tệ bổ trợ; trong đó tập trung vào cách thức, lộ trình, mức
độ, mục tiêu của việc thực hiện và các ảnh hưởng của chính sách mang lại
Trang 15Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian:Luận văn tập trung nghiên cứu vào kinh tế nước Mỹ;
- Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu vào khoảng thời gian mà FED
bắt đầu áp dụng chính sách nới lỏng tiền tệ vào năm 2008 cho tới năm 2015, năm được cho là đánh dấu cho động thái thắt chặt lần đầu tiên bằng việc nâng lãi suất cơ
sở sau thời gian dài ở mức thấp cận 0%
4 Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn đã hệ thống hóa đầy đủ và chi tiết về lý thuyết chính sách tiền tệ
bao gồm chính sách tiền tệ truyền thống và phi truyền thống Qua đó làm nổi bật các công cụ nằm trong chính sách tiền tệ phi truyền thống đã được Cục dự trữ liên bang Mỹ thực hiện trong khoảng thời gian nghiên cứu, bao gồm nới lỏng định lượng và định hướng chính sách trong tương lai
- Phân tích bức tranh toàn cảnh việc Cục dự trữ liên bang Mỹ thực hiện các gói nới lỏng định lượng từ khi bắt đầu năm 2008 cho tới lúc kết thúc hoàn toàn năm 2014 và lần đầu thắt chặt năm 2015
- Luận văn góp phần chỉ ra các ảnh hưởng quan trọng của chính sách nới lỏng tiền tệ tới nền kinh tế Mỹ và tới các nền kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam
- Luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo, bổ sung cho các nghiên cứu sâu hơn sau này về nới lỏng định lượng nói riêng và chính sách tiền tệ phi truyền thống nói chung
5.Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn gồm 4 chương:
Chương 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về chính sách nới
lỏng tiền tệ
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Chính sách nới lỏng tiền tệ của Cục dự trữ liên bang Mỹ trong giai
đoạn 2008 - 2015
Chương 4 Ảnh hưởng chính sách nới lỏng tiền tệ của Cục dự trữ liên bang Mỹ
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ
CHÍNH SÁCH NỚI LỎNG TIỀN TỆ
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Khi nhận thấy nền kinh tế Mỹ xuất hiện các dấu hiệu bất ổn trong cơn khủng hoảng tài chính nửa cuối năm 2007, Cục dự trữ Liên bang với vai trò là NHTW của nước này đã ngay lập tức phản ứng lại bằng việc đưa ra chính sách hạ lãi suất mục tiêu ngắn hạn Nhưng diễn biến cho tới cuối năm 2008, khi mà lãi suất ngắn hạn thực tế gần như đã chạm xuống ngưỡng 0% thì nền kinh tế cũng như hệ thống tài chính vẫn tiếp tục lún sâu trong cơn khủng hoảng Trước tình hình đó, FED đãngay lập tức hành động bằng việc thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ phi truyền thống vẫn được biết với tên gọi “Chương trình nới lỏng định lượng” với mục tiêu giảm lãi suất dài hạn, kích thích tăng trưởng kinh tế Trong suốt khoảng thời gian từ 2008 tới
2015, FED đã hoàn thành ba gói nới lỏng định lượng thông qua việc mua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu đảm bảo bằng thế chấp góp phần làm tăng bảng cân đối kế toán của cơ quan này hơn gấp bốn lần so với lúc ban đầu, lên mức xấp xỉ 4,5 nghìn
tỷ đô la Mỹ vào năm 2015 Lý thuyết kinh tế đã chỉ ra rằng lãi suất dài hạn được phản ánh bằng kỳ vọng của các nhà đầu tư về lãi suất ngắn hạn sẽ thế nào trong tương lai, vậy các nhà hoạch định chính sách tại FED đã suy nghĩ thế nào khi thực hiện mục tiêu giảm lãi suất dài hạn trong khi lãi suất ngắn hạn gần như đã chạm đáy
ở vùng 0%, hay như cựu Chủ tịch FED Ben Bernanke đã từng đùa rằng vấn đề đối với gói nới lỏng định lượng là nó hoạt động trong thực tế nhưng lại không hoạt động trong lý thuyết Vì vậy, để có thể hiểu rõ và trả lời được câu hỏi lý thuyết kinh
tế nào đằng sau QE, liệu QE có làm giảm lãi suất dài hạn hay nó có thực sự tác động tới nền kinh tế Mỹ hay không đã có rất nhiều các nghiên cứu đưa ra trong đó tác giả tập trung theo ba hướng chính: thứ nhất là tổng quan tình hình nghiên cứu về khung lý thuyết chính sách nới lỏng tiền tệ, thứ hai là tổng quan tình hình nghiên cứu về chính sách nới lỏng tiền tệ của các nước trên thế giới và thứ ba là tổng quan tình hình nghiên cứu về chính sách tiền tệ nới lỏng mà FED đã áp dụng
Trang 171.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về khung lý thuyết chính sách nới lỏng tiền tệ
Bài nghiên cứu “Chính sách tiền tệ và các công cụ thực thi tại Việt Nam giai
đoạn 1986 – 2013” năm 2014 của Trần Hoàng Ngân và cộng sự là một cái nhìn tổng
quan về vai trò, các công cụ, mục tiêu hướng tới của chính sách tiền tệ và ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế của một quốc gia Trong đó khẳng định, Chính sách tiền tệ là một trong những công cụ giữ vai trò quan trọng trong việc điều hành nền kinh tế vĩ
mô của một quốc gia, việc điều hành và thực thi một cách hợp lý sẽ góp phần đạt được các mục tiêu của nền kinh tế như ổn định thị trường tiền tệ, kiểm soát lạm phát
và tăng trưởng kinh tế một cách hiệu quả Tuy nhiên,do đối tượng nghiên cứu chỉ giới hạn với chính sách tiền tệ của Việt Nam nên tác giả mới dừng lại ở các công cụ truyền thống quen thuộc bao gồm lãi suất, tái chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở, tỷ giá hối đoái và dự trữ bắt buộc trong bối cảnh ngày nay chính sách phi truyền thống đang được các NHTW nước phát triển được sử dụng nhiều hơn
Bổ sung thêm cho việc xác định mục tiêu hành động của chính sách tiền tệ,
Bài giảng số 6 – môn Kinh tế vĩ mô thuộc Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright niên khóa 2014 -2015 của Đỗ Thiên Anh Tuấn cho ta thấy cơ chế truyền dẫn của
chính sách tiền tệ cũng như cách thức thiết lập và lựa chọn mục tiêu của NHTW Trong đó lưu ý việc thiết kế các mục tiêu chính sách, thường được các nhà hoạch định chính sách xây dựng thành nhiều cấp mục tiêu khác nhau, bao gồm mục tiêu cuối cùng, mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động Mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệthông thường là sản lượng, lạm phát và việc làm
Trong báo cáo “Unconventional Monetary Policies – recent experience
and prospects”của IMFtháng 4/2013 cũng đã thừa nhận và làm rõ việc hình
thành chính sách tiền tệ phi truyền thống bên cạnh chính sách tiền tệ truyền thống Báo cáo cũng nêu công cụ nới lỏng định lượng nằm trong nhóm chính sách tiền tệ phi truyền thống và những năm gần đây được các nước phát triển áp dụng mà có thể kể đến đó là Mỹ, Nhật Bản, Anh và Eurozone
Góp phần chi tiết hóa các công cụ thuộc chính sách tiền tệ phi truyền thống,
Trang 18bài viết“Monetary Policy and the Federal Reserve: Current Policy and Conditions
– Congressional Research Service” tháng 1/2016 của Marc Labonte đã chỉ ra hai
công cụ của chính sách này bao gồm chương trình nới lỏng định lượng – Quantitative Easing và định hướng chính sách trong tương lai- Forward Policy Guidance Đây cũng chính là các công cụ mà FED đã đồng thời sử dụng, cụ thể là gói nới lỏng định lượng và định hướng duy trì lãi suất điều hòa vốn dự trữ ở mức thấp trong một khoảng thời gian dài nhằm kích thích kinh tế Một cách hiểu đơn giản cho việc này, doanh nghiệp sẽ có xu hướng đầu tư dài hạn hơn cho sản xuất nếu họ tin rằng lãi suất cho khoản vốn vay tiếp tục được giữ ở mức thấp trong kỳ hạn dài Để ví dụ thực tế cho việc định hướng chính sách trong tương lai, tại biên bản họp 12/2012, FED công bố việc cam kết giữ lãi suất điều hòa vốn dự trữ ở mức cận 0% ít nhất cho tới khi tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn trên mức 6.5% và lạm phát ở mức thấp
Bổ sung thêm cách nhìn nhận về chính sách tiền tệ phi truyền thống là bài
viết “Unconventional monetary policies: an appraisal của Borio, C và Disyatat, P
đăng trên BIS Working Paper trang 292 Bài viết đã đặt ra khuôn khổ cho việc phân
loại và nghiên cứu chính sách đồng thời đưa ra cách thực hiện những chính sách tiền tệ phi truyền thống trong bối cảnh chung của chính sách tiền tệ Bài báo cũng làm rõ sự khác biệt giữa các hình thức khác nhau của chính sách tiền tệ phi truyền thống, cung cấp hệ thống các phản ứng của NHTW đối phó cuộc khủng hoảng, đặc tính lan truyền và xác định một số thách thức chính sách chính Ngoài ra, bài báo cũng đề cập đến một số vấn đề tranh cãi, đặc biệt là vai trò dự trữ của Ngân hàng và hậu quả lạm phát
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về chính sách nới lỏng tiền tệ của các nước trên thế giới
Bài viết“Four stories of Quantitative Easing” trên Tạp chí Ngân hàng Bang
St Louis số tháng ½ năm 2013, trang 51-88 của Brett W.Fawley và Christopher J Neely đã mô tả hoàn cảnh và động cơ thực hiện chương trình nới lỏng định lượng
của Cục dự trữ Liên Bang, Ngân hàng Trung Ương Anh BOE, Ngân hàng Trung
Trang 19Ương Châu Âu ECB và Ngân hàng Trung Ương Nhật Bản BOJ trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và quá trình tái thiết, phục hồi nền kinh tế những năm gần đây Với chung một mục tiêu chính sách ban đầu khi thực hiện là làm giảm nhẹ sự kiệt quệ của thị trường tài chính, nhưng sau đó đã được mở rộng mục tiêu bao gồm cả việc đạt các mục tiêu về lạm phát tại Nhật Bản, tăng trưởng kinh tế tại
Mỹ, Anh và kiềm chế khủng hoảng nợ công tại Châu Âu Bài viết cũng xác định rõ,trong khi đối tượng chính của chương trình nới lỏng định lượng mà ECB và BOJ tập trung vào là việc cho vay trực tiếp hệ thống ngân hàng – phản ánh việc tái thiết lập vị trí trung tâm của ngành ngân hàng trong hệ thống tài chính thì FEDvà BOE tại tăng cung tiền cơ bản bằng chương trình mua bán tài sản quy mô lớn hướng tới đối tượng doanh nghiệp và người tiêu dùng
Bài nghiên cứu “Quantitative Easing” năm 2009 của James Benford, Stuart
Berry, Kalin Nikolov, Chris Young và Mark Robson đưa ra trong bối cảnh BOE vừa
quyết định mở rộng cung tiền thông qua chương trình mua tài sản, trong đó giải thích các lý do tại sao NHTW quyết định mua tài sản và việc mua tài sản có tác dụng như thế nào Ngoài ra, bài nghiên cứu kiểm chứng phản ứng của những người bán tài sản, phản ứng của thị trường vốn cũng như phản ứng của các ngân hàng đối với lượng dự trữ tăng thêm Tuy nhiên tới cuối cùng, bài nghiên cứu cho rằng còn quá sớm để nói lên sức ảnh hưởng cũng như tính hiệu quả của chương trình này
Bài nghiên cứu “The financial market impact of quantitative easing” của
Michaeal Joyce, Ana Lasaosa, Ibrahim Stevens và Matthew Tong tháng 7/2010 cải biên tháng 8/2010 đưa ra quy trình mà NHTW thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ
dùng để đối phó với khủng hoảng ngân hàng toàn cầu và suy thoái kinh tế trầm trọng Khi mà các công cụ truyền thống của chính sách tiền tệ không còn hiệu lực – không thể cắt giảm lãi suất thêm nữa thì ngân hàng trung ương sẽ áp dụng chính sách tiền tệ phi truyền thống mà cụ thể ở đây là chương trình nới lỏng định lượng với mục đích tăng chi tiêu danh nghĩa, kích thích nền kinh tế Quy trình của chương trình này bao gồm việc mua tài sản quy mô lớn khiến giá tài sản tăng, làm giảm chi phí vốn dẫn tới tăng chi tiêu và kích thích cầu nền kinh tế Bài nghiên cứu tập trung
Trang 20vào hai vấn đề chính của QE là tác động thông qua các kênh truyền dẫn nào và tác động như thế nào lên giá các tài sản
Bài nghiên cứu“The macroeconomic impact of quantitative easing in the
euro area” trong Báo cáo hàng tháng số tháng 6/2016 của Ngân hàng Trung Ương
Đức Deutsche Bundesbank cho thấy các ảnh hưởng đối với kinh tế vĩ mô của chính sách nới lỏng tiền tệ được thực hiện tại khu vực đồng tiền chung Châu Âu, nơi chưa từng có kinh nghiệm thực hiện chính sách tiền tệ phi truyền thống, đặc biệt là việc thực hiện đối với một khu vực đồng tiền chung gồm nhiều quốc gia Đặt trong bối cảnh giống như Mỹ, Anh hay Nhật Bản với lạm phát ở mức rất thấp và lãi suất đã cận vùng 0% - Ủy ban điều hành Ngân hàng Trung Ương Châu Âu đã thực hiện chương trình mua bán tài sản quy mô lớn vào tháng 3/2015 và sau đó đã thực hiện các chương trình mở rộng quy mô với mục tiêu công khai đặt ra là hướng tới lạm phát ở mức dưới cận 2% trong trung hạn Do khu vực này chưa có kinh nghiệm chính sách tương tự trước đó nên việc đưa ra mô hình phân tích đóng vai trò quan trọng trong việc ước lượng tính hiệu quả của công cụ tiền tệ phi truyền thống Báo cáo đưa ra một số mô hình tiếp cận đánh giá làm thế nào có thể ước lượng mức độ hiệu quả của nới lỏng lên kinh tế vĩ mô và cơ chế truyền dẫn các tác động của việc thực hiện nhằm đạt được mục tiêu chính sách tăng lạm phát; dựa trên kinh nghiệm
đã thực hiện của một số nước và cân đối các yếu tố, thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ có tác dụng làm tăng tổng cầu và lạm phát Bên cạnh các yếu tố tích cực được mong đợi bởi ECB thì báo cáo chỉ ra rằng vẫn tồn tại những rủi ro không mong muốn do có sự gia tăng khoảng cách giữa chính sách tài khóa và tiền tệ, rủi ro ảnh hưởng tới lợi nhuận của các tổ chức tài chính và khuynh hướng ưa rủi ro Cuối cùng, bài viết cũng khẳng định vẫn cần phải có chính sách bình thường hóa chính sách tiền tệ hậu nới lỏng một khi đã đạt được mục tiêu phù hợp với mục tiêu ổn định của khu vực
1.1.3Tổng quan tình hình nghiên cứu về chính sách nới lỏng tiền tệcủa Cục dự trữ liên bang Mỹ trong giai đoạn 2008 - 2015
Bài viết “Chính sách tiền tệ của Mỹ” đăng trên tạp chí Châu Mỹ ngày nay
Trang 21số 10-2008 của tác giả Lê Vân Nga thuộc Viện nghiên cứu Châu Mỹ tr 3 – 8là một
cái nhìn tổng quan về chính sách tiền tệ của Mỹ, trong đó tập trung vào các vấn đề lớn như mục tiêu và công cụ của chính sách tiền tệ của Mỹ, sơ lược về hình thành chính sách tiền tệ của Mỹ và ứng phó của chính sách tiền tệ của Mỹ trong cuộc khủng hoảng tài chính 2007 – 2008 Theo đó, chính sách tiền tệ của Mỹ được thực hiện qua hệ thống dự trữ liên bang Các mục tiêu cơ bản của chính sách tiền tệ của
Mỹ là thúc đẩy tăng trưởng, tạo công ăn việc làm và ổn định giá cả, điều này được quy định tại điều khoản bổ sung của Luật dự trữ liên bang năm 1977 Các công cụ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ của Mỹ bao gồm: hoạt động thị trường mở, chính sách lãi suất chiết khấu và yêu cầu về dự trữ, trong đó công cụ quan trọng nhất là hoạt động thị trường mở Tuy nhiên bài viết này không hề đề cập tới chính sách tiền
tệ phi truyền thống mà FED đã sử dụng nhằm đối phó cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008
“Monetary Policy and the Federal Reserve: Current Policy and Conditions –
Congressional Research Service” tháng 1/2016 của Marc Labontelà một bài viết khá
đầy đủ bao gồm từ việc giới thiệu về các công cụ truyền thống, tác động của chúng với nền kinh tế trong ngắn hạn cũng như dài hạn cho tới việc thực hiện các công cụ phi truyền thống bao gồm nới lỏng định lượng và định hướng chính sách tương lai trong cũng như sau giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 Một điểm đặc biệt có thể nhắc đến đó là “chiến lượng rút lui” – hay còn gọi là chiến lược bình thường hóa chính sách tiền tệ sau nới lỏng cũng đã được tác giả đề cập Khi công cụ
cơ bản thực hiện chính sách tiền tệ là lãi suất điều hòa vốn dự trữ đã được điều chỉnh
về ngưỡng 0%, FED đã phải đưa ra chương trình kích thích kinh tế thông qua ba gói nới lỏng định lượng trong suốt từ 2009 cho tới 2014 Sau đó tới tháng 9/2014, FED tiếp tục công bố khung thời gian cho việc bình thường hóa chính sách tiền tệ sau chương trình kích thích kinh tế Tuy nhiên điều còn thiếu là báo cáo này vẫn chưa hề chỉ ra sức ảnh hưởng của chương trình đối với nền kinh tế Mỹ như thế nào
Một bài viết ngắn gọn về chương trình nới lỏng định lượng của Cục dự
trữliên bang“Quantitative Easing explained” số tháng 4/2011 đăng trên tạp chí
Trang 22ngân hàng dự trữ bang St Louis của tác giả Lowell R Ricketts giải thích về cơ chế
tác động của chương trình nới lỏng định lượng của Mỹ lên nền kinh tế Trong bối cảnh mà lãi suất danh nghĩa không thể thấp hơn mà FED vẫn cần phải có công cụ để
hỗ trợ cho nền kinh tế đang khủng hoảng, họ đã lựa chọn chính sách phi truyền thống mà cụ thể là gói nới lỏng định lượng Chương trình đã tác động lên kinh tế
Mỹ thông qua việc thay đổi lãi suất trái phiếu Chính phủ và các công cụ tài chính khác như trái phiếu doanh nghiệp Để có tác động một cách rõ nét, chương trình này đòi hỏi việc mua tài sản ở quy mô lớn và khi FED thực hiện sẽ làm tăng nhu cầu về các loại trái phiếu qua đó làm tăng giá trái phiếu.Trong khi đó, giá trái phiếu và lợi suất sinh lợi (lãi suất) lại có mối quan hệ nghịch nhau: khi giá tăng làm cho lãi suất giảm – khi lãi suất giảm thì chi phí cho đầu tư kinh doanh đồng thời được giảm xuống Qua thời gian, doanh nghiệp sẽ tiến hành mở rộng đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo thêm việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp Bài viết cho rằng đây không phải là một công cụ tiền tệ còn quá mới mà trước đó đã từng được FED sử dụng từ những năm 1930 và sau đó là BOJ năm 2001
Bài nghiên cứu “Did Quantitative Easing work?” trên tạp chí Ngân hàng dự
trữ bang Philadelphia saố quý I/2016 của tác giả Edison Yu đi tìm câu trả lời cho
các câu hỏi hóc búa như tại sao lại công cụ tiền tệ QE lại được sử dụng, QE có thực
sự hiệu quả, và rủi ro của việc sử dụng chính sách đối với nền kinh tế Mỹ Kết luận lại cho bài này, tác giả cho rằng mặc dù có những dấu hiệu không chắc chắn về mức
độ ảnh hưởng và các kênh tác động thì thực tế cho thấy QE đã làm giảm lãi suất của trái phiếu Chính phủ và trái phiếu đảm bảo bằng thế chấp và một vài bằng chứng nó
có tánc động tích cực tới nền kinh tế thực Tuy nhiên cần phải lưu ý rằng QE là một công cụ chính sách chưa phổ biến và rất khó để biết và ước lượng được rủi ro của việc bảng cân đối tài sản của FED phình to chưa từng thấy, tiềm ẩn nguy cơ gây ra lạm phát cao trong tương lai Theo bài viết, một khi các ngân hàng tập trung cho vay phần tiền dự trữ tăng thêm, nền kinh tế có thể sẽ rơi vào tăng trưởng nóng và FED khó có thể nâng lãi suất đúng thời điểm nhằm hạn chế lạm phát Ngoài ra, việc duy trì lãi suất thấp sẽ làm thay đổi hành vi ưa thích rủi ro của các nhà đầu tư khi mà lãi suất
Trang 23của các tài sản dài hạn quá thấp, nhà đầu tư sẽ có xu hướng tăng danh mục đầu tư vào các tài sản rủi ro hơn như cổ phiếu lãi suất cao, cổ phiếu rác; làm tăng rủi ro cho danh mục đầu tư mà từ trước tới nay đã rất nhạy cảm với thay đổi lãi suất và biến động thị trường
Bài nghiên cứu “Does Quantitative Easing work” của Salman Sakir đăng trên tạp chí Redfame số tháng 11/2015 tập trung đi sâu vào việc phân tích phản ứng chính sách của Chính phủ Mỹ và những ảnh hưởng của chính sách nới lỏng tiền tệ tại Mỹ trong bối cảnh khủng hoảng Bài viết kiểm chứng lại các ảnh hưởng của chính sách trên một loạt các tiêu chí kinh tế vĩ mô của kinh tế Mỹ như GDP, tăng trưởng kinh tế, cũng như xem xét các ảnh hưởng của chính sách lên giá tài sản, lạm phát Ngoài ra, bài viết còn đưa ra tính lan truyền quốc tế của chính sách thực hiện tại Mỹ tới các quốc gia khác và cuối cùng là cảnh báo khả năng gây ra lạm phát cũng như dẫn tới một cuộc khủng hoảng có thể xảy ra trong tương lai
1.2 Cơ sở lý luận về chính sách nới lỏng tiền tệ
1.2.1 Tổng quan về chính sách tiền tệ
1.2.1.1 Khái niệm về chính sách tiền tệ
Trên thực tế đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về Chính sách tiền tệ đã được
đưa ra Theo Cục dự trữ liên bang: “Chính sách tiền tệ là những quyết định của NHTW
nhằm tác động đến tính thanh khoản, chi phí của tiền tệ và tín dụng nhằm thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu kinh tế quốc gia”
Còn theo như N Gregory Mankiw “Hoạt động kiểm soát cung tiền – lượng
tiền sẵn có trong nền kinh tế - được gọi là Chính sách tiền tệ” Ở những nước sử
dụng tiền hàng hóa, thì cung tiền chính là số lượng hàng hóa đó, còn ở những nước
sử dụng tiền pháp định như hầu hết các nền kinh tế ngày nay thì chính phủ quản lý cung tiền bằng các biện pháp như: hạn chế về mặt pháp lý tạo cho chính phủ độc quyền trong việc in ấn tiền
Hay theo Luật NHNN năm 2010 của Việt Nam định nghĩa “Chính sách tiền
tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng
Trang 24chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra”
Còn theo Nguyễn Văn Tiến: “Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô
trong đó NHTW thông qua các công cụ của mình, thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng, nhằm ổn định giá trị đồng tiền và đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội đề ra”
Nhìn chung, các khái niệm đều nêu bật một cách khái quát rằng Chính sách tiền tệ phải là chính sách ở cấp độ vĩ mô mang tính quốc gia thay vì một chính sách mang tính địa phương của một cấp chính quyền thấp hơn và được thực hiện bởi NHTW thông qua một số công cụ đặc thù để điều tiết quá trình cung ứng và lưu thông tiền tệ nhằm đạt được những mục tiêu quốc gia chẳng hạn như: ổn định giá
cả, kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế
Hướng vận hành của chính sách tiền tệ phụ thuộc vào tình hình kinh tế và tiền tệ từng thời kỳ Đa số các nước trên thế giới giao công việc này cho một tổ chức có tên gọi là NHTW và ở mỗi quốc gia thì NHTW lại có cấu trúc mô hình khác nhau dẫn tới vai trò trong việc xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ cũng khác nhau Đối với những nước có NHTW được tổ chức độc lập với chính phủ thì
nó có quyền chủ động trong việc xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ Điển hình cho mô hình này là FED, các quyết định về chính sách tiền tệ được thực hiện bởiỦy ban thị trường mở liên bang và cứ sáu tuần một lầnsẽ họp để thảo luận và ban hành các chính sách tiền tệ Còn ở những nước NHTW phụ thuộc vào Chính phủ như nước ta thì NHTW phải xây dựng đề án chính sách tiền tệ để Chính phủ xem xét và trình lên Quốc hội, việc chính sách tiền tệ có được thực hiện hay không hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của Quốc hội
Trong luận văn này, khái niệm về chính sách tiền tệ thống nhất xuyên suốt
được tác giả sử dụng được hiểu rằng “Chính sách tiền tệ là một thuật ngữ dùng để
chỉ các hành động của Ngân hàng Trung Ương nhằm đạt được các mục tiêu chính sách kinh tế vĩ mô như ổn định giá cả, tạo công ăn việc làm và giúp nền kinh tế tăng trưởng bền vững”
Trang 251.2.1.2 Phân loại chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ mỗi quốc gia được phân chia làm hai loại hình chủ yếu sau: mở rộng (nới lỏng) và thắt chặt Về cơ bản chính sách tiền tệ mở rộng hay thắt chặt có hướng điều chỉnh trái ngược nhau, do vậy mà điều kiện hay hoàn cảnh áp dụng cũng trái ngược nhau và chúng cùng tác động lên nền kinh tế thông qua hệ thống công cụ của chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ mở rộng
Chính sách tiền tệ mở rộng là chính sách tiền tệ hướng tới việc gia tăng quy
mô của cung tiền trong nền kinh tế thông qua một loạt các chính sách tài chính tập trung vào việc tăng cung tiền quốc gia liên quan tới mục đích kích thích tổng cầu, tăng trưởng kinh tế và tạo thêm công ăn việc làm Để thực hiện chính sách này, NHTW sẽ sử dụng một hoặc đồng thời các công cụ như hạ lãi suất, mua vào các giấy tờ có giá thông qua nghiệp vụ thị trường mở, giảm lãi suất tái chiết khấu, giảm
tỷ lệ dự trữ bắt buộc Đây là chính sách phù hợp để chống suy thoái kinh tế và giảm
tỷ lệ thất nghiệp, tuy vậy nền kinh tế cũng bị đặt trước nguy cơ như gia tăng tỷ lệ lạm phát, nguy cơ đổ vỡ tín dụng hay mất giá đồng nội tệ
Chính sách tiền tệ thắt chặt
Ngược lại với mở rộng, chính sách tiền tệ thắt chặt lại hướng tới giảm bớt quy mô của cung tiền trong nền kinh tế, nhằm tránh việc cung tiền vượt quá cầu tiền, giảm bớt hoặc hạn chế sự gia tăng của giá cả, thúc đẩy hoạt động nhập khẩu, kiểm soát tốc độ gia tăng của đầu tư,… Biểu hiện thường thấy của chính sách tiền tệ thắt chặt là tăng lãi suất, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hoạt động bán ra các giấy tờ có giá trên thị trường mở,… Nói chung, chính sách tiền tệ thắt chặt được sử dụng nhằm kiềm chế lạm phát hoặc ngăn ngừa việc tăng trưởng nóng nền kinh tế Mặt trái của chính sách tiền tệ thắt chặt là nguy cơ giảm phát, kém lợi thế trong xuất khẩu và đầu tư dẫn tới tăng tỷ lệ thất nghiệp,…
1.2.1.3 Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Trong việc thiết kế các mục tiêu chính sách, thường các nhà hoạch định chính sách xây dựng thành nhiều cấp mục tiêu khác nhau, bao gồm mục tiêu tổng
Trang 26quát – hay còn gọi là mục tiêu cuối cùng, mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động Mục tiêu tổng quát của chính sách tiền tệ chẳng hạn như tăng trưởng kinh tế, việc làm, lạm phát và để đạt được mục tiêu này người ta sẽ thiết kế ra các mục tiêu trung gian chẳng hạn như mục tiêu cung tiền hay mục tiêu lãi suất Nhưng trước đó,
để tiến đến mục tiêu trung gian, thường các nhà hoạch định chính sách còn phải xây dựng nên các mục tiêu hoạt động, chẳng hạn như mục tiêu duy trì mức dự trữ bắt buộc bao nhiêu phần trăm, hay lãi suất tái chiết khấu như thế nào Ví dụ để kiềm chế được lạm phát ở mức dưới 5% (mục tiêu tổng quát) thì cần phải theo đuổi mục tiêu cung tiền (mục tiêu trung gian) ở mức 10% một năm Để có được mức tăng cung tiền 10% thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc (mục tiêu hoạt động) cần phải duy trì ở mức 5% trên số dư tiền gửi mà ngân hàng thương mại huy động được Để thiết kế được mục tiêu hoạt động thì đòi hỏi ngân hàng trung ương cần phải có các công cụ chính sách tương ứng
Mục tiêu tổng quát
Thứ nhất, là ổn định giá trị tiền tệ
Ổn định cân đối bên trong của tiền tệ được biểu hiện ở việc ổn định giá cả hay nói cách khác là kiểm soát lạm phát Các nhà kinh tế học cho rằng, lạm phát là căn bệnh kinh niên của nền sản xuất hàng hóa, đặc biệt là nền sản xuất hàng hóa phát triển cao – nền kinh tế thị trường Lạm phát cao làm cho sức mua của đồng nội
tệ giảm, giá cả không phản ánh giá trị thật của hàng hóa, làm sai lệch các chỉ tiêu kinh tế, kích thích tâm lý đầu cơ tích trữ hàng hóa gây nên tình trạng khan hiếm hàng hóa giả tạo ảnh hưởng tới đời sống người dân Ngược lại, lạm phát quá thấp lại khiến nền kinh tế trở nên trì trệ Như vậy, một tỷ lệ lạm phát vừa phải sẽ có tác dụng kích thích sự tăng trưởng kinh tế và vấn đề đặt ra là phải có biện pháp kiểm soát nó, ổn định tiền tệ, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển
Thông qua chính sách tiền tệ, NHTW có thể kiểm soát được tình trạng lạm phát bằng cách sử dụng các công cụ của CSTT để thu hẹp hoặc mở rộng khối lượng tiền tệ trong lưu thông Nếu lạm phát xảy ra, đồng nội tệ mất giá thì NHTW
sẽ thu hẹp khối lượng tiền tệ bằng cách quy định lãi suất tiền gửi trên thị trường
Trang 27cao hơn hay quy định tăng dự trữ bắt buộc đối với các Ngân hàng thương mại và các định chế tài chính khác trong nền kinh tế
Thứ hai là ổn định tỷ giá hối đoái
Sau khi ổn định cân đối bên trong của đồng tiền, ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền dựa trên cơ sở cán cân thanh toán và tỷ giá hối đoái cũng là một mục tiêu quan trọng của chính sách tiền tệ Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền của hai nước, hay nói cách khác là giá cả của một đồng tiền quốc gia này tính bằng một đồng tiền của một quốc gia khác Tỷ giá hối đoái được xác định bởi cơ chế thị trường trong chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi, gọi là tỷ giá thị trường Nó cũng
có thể được xác định bởi các cơ quan có trách nhiệm trong chế độ tỷ giá hối đoái
cố định Tuy nhiên, hiện nay đa số các nước trong đó có Việt Nam thì việc xác định tỷ giá hối đoái do cả cơ quan hữu trách lẫn thị trường tác động tới Với việc gắn liền với sự chuyển đổi qua lại giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ, tỷ giá hối đoái vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ vừa là biểu hiện quan hệ cung cầu về ngoại
tệ Vì vậy, ngày nay tỷ giá hối đoái là công cụ, đòn bẩy để điều tiết cung cầu ngoại
tệ, tác động mạnh mẽ đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước Một tỷ giá hối đoái thấp sẽ khuyến khích nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu, điều
đó đồng nghĩa với việc dự trữ ngoại hối giảm, không kích thích được sản xuất trong nước Ngược lại, tỷ giá quá cao sẽ hạn chế nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu, có nghĩa là dự trữ ngoại hối có xu hướng tăng lên và gây khó khăn cho các doanh nghiệp mà việc sản xuất chủ yếu dựa vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu và những doanh nghiệp có ý định nhập khẩu máy móc thiết bị Tóm lại, tỷ giá hối đoái tác động một cách mạnh mẽ và nhạy bén đến sản xuất, xuất nhập khẩu, tình hình tài chính, cán cân thanh toán cũng như thu hút vốn đầu tư, dự trữ ngoại hối trong nước Chính vì thế mà việc ổn định tỷ giá hối đoái là một mục tiêu quan trọng của chính sách tiền tệ, việc ổn định thị trường hối đoái nói chung và tỷ giá hối đoái nói riêng tựu chung lại sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và cá nhân trong hoạt động xuất nhập khẩu, tạo điều kiện cho nền kinh tế đất nước phát triển
Thứ ba là tăng trưởng kinh tế
Trang 28Không chỉ ổn định giá trị đồng nội tệ và tỷ giá hối đoái, mục tiêu tăng trưởng kinh tế là một mục tiêu mà bất kỳ quốc gia nào cũng đều muốn hướng tới Bởi kinh
tế tăng trưởng thì tiêu dùng cũng tăng lên, kéo theo sản xuất phát triển đáp ứng nhu cầu của tiêu dùng Hơn nữa, kinh tế phát triển thì cơ sở hạ tầng cũng phát triển làm cho tỷ lệ thất nghiệp giảm, đời sống xã hội được nâng cao Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, vì thế mà ảnh hưởng tích cực tới xã hội nói chung Đảm bảo tăng trưởng kinh tế, nghĩa là đảm bảo sự tăng trưởng của GDP thực tế, tức là tỷ lệ tăng trưởng có được sau khi trừ đi tỷ lệ tăng giá tại cùng thời điểm Khi cần kích thích kinh tế, NHTW thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, nghĩa là tăng lượng tiền cung ứng Theo đó, khi khối lượng tiền tăng lên thì thường khiến lãi suất giảm xuống, do vậy mà kích thích đầu tư, mở rộng sản xuất dẫn tới kết quả làm tăng tổng sản phẩm quốc nội Thêm vào đó, sự tăng lên của khối lượng tiền tệ kéo theo một sự gia tăng tổng cầu và sức mua hàng hóa trên thị trường góp phần làm giảm bớt gánh nặng hàng tồn kho cho doanh nghiệp, kích thích doanh nghiệp phát triển sản xuất Ngược lại, khi NHTW thắt chặt tiền tệ, khối lượng tiền tệ giảm xuống làm cho lãi suất có xu hướng tăng lên, như vậy giá trị của đồng vốn đầu tư tăng lên khiến cho việc đầu tư giảm xuống Chính vì vậy mà kìm hãm sản xuất phát triển dẫn đến GDP cũng giảm xuống theo Hơn nữa, việc giảm khối lượng tiền tệ cũng dẫn tới hệ quả làm giảm tổng cầu, sức mua và tăng hàng hóa tồn đọng của doanh nghiệp Chính vì lẽ đó, CSTT có khả năng được sử dụng để làm đòn bẩy kích thích tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, một sự tăng trưởng kinh tế được đánh giá cao là phải bao gồm cả về khối lượng lẫn chất lượng Ở đây có thể hiểu là sự tăng trưởng của GDP thực tế như đã nói ở trên Chất lượng của tăng trưởng cũng được xem xét thông qua cơ cấu nền kinh tế và khả năng cạnh tranh quốc tế của hàng hóa trong nước Một nền kinh tế tăng trưởng bền vững và ổn định sẽ đem lại rất nhiều lợi ích không chỉ là nền tảng cho mọi sự ổn định về chính trị, quân đội, an ninh quốc phòng mà còn là căn cứ ổn định thị trường tiền tệ trong nước và cải thiện vị thế kinh tế trên trường quốc tế
Thứ tư là tạo công ăn việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp
Trang 29Có thể nói đây không chỉ là một mục tiêu hướng tới của không chỉ chính sách tiền tệ nói riêng mà còn rất nhiều chính sách kinh tế vĩ mô nói chung Bởi lẽ, chỉ số thất nghiệp là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự thịnh vượng của xã hội vì nó phản ánh khả năng sử dụng có hiệu quả nguồn lực xã hội Thêm vào đó, một hệ quả tiêu cực của việc thất nghiệp đó là gây ra tình trạng áp lực, căng thẳng cho bản thân người bị thất nghiệp và cả gia đình của họ, điều này là nguyên nhân nảy sinh những mầm mống tệ nạn xã hội, khiến cho xã hội bất ổn Việc giải quyết
hệ quả tiêu cực của tình trạng thất nghiệp bằng việc trợ cấp một khoản tiền cũng không phải là một ý hay, quyết định này sẽ ảnh hưởng tới cơ cấu chi tiêu ngân sách
và đôi khi có thể là mối đe dọa gây nên tình trạng căng thẳng ngân sách Vậy nên thông qua chính sách tiền tệ mà NHTW có thể tác động tới công ăn việc làm hay tỷ
lệ thất nghiệp trong nền kinh tế Nếu như chính sách tiền tệ của NHTW nhằm mở rộng việc cung ứng tiền tệ thì sẽ tạo điều kiện mở rộng đầu tư sản xuất, các doanh nghiệp và nền kinh tế sẽ cần nhiều lao động hơn, do đó công ăn việc làm sẽ nhiều hơn và tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm xuống Ngược lại, nếu việc cung ứng tiền tệ giảm xuống sẽ thu hẹp các hoạt động sản xuất kinh doanh, công ăn việc làm theo đó sẽ giảm theo và tỷ lệ thất nghiệp tăng lên
Thứ năm, chính sách tiền tệ còn được thiết kế nhằm duy trì sự ổn định của
hệ thống tài chính và các tổ chức tài chính
Chúng ta biết rằng, kênh truyền dẫn tác động của chính sách tiền tệ thường là thông qua hệ thống tài chính và kênh ngân hàng Chính vì vậy, một hệ thống tài chính ổn dịnh và một hệ thống ngân hàng lành mạnh sẽ giúp truyền dẫn một cách
có hiệu lực và hiệu quả hơn các mục tiêu của chính sách tiền tệ ra nền kinh tế cũng như các khu vực trong nền kinh tế Hơn nữa, khi hệ thống tài chính ổn định, bản thân nó cũng sẽ giúp huy động và phân bổ nguồn vốn tốt hơn, qua đó sẽ giúp gia tăng tiết kiệm và đầu tư, góp phần vào tăng trưởng kinh tế
Cuối cùng, các chính sách tiền tệ còn theo đuổi một số mục tiêu khác nữa, chẳng hạn như ổn định tỷ giá lãi suất, hay đảm bảo an ninh tài chính quốc gia
Mục tiêu trung gian
Trang 30Mục tiêu trung gian theo đúng như cái tên gọi, đó là mục tiêu được NHTW lựa chọn để đạt được mục tiêu cuối cùng của Chính sách tiền tệ Các chỉ tiêu thường được
sử dụng làm mục tiêu trung gian là tổng khối lượng tiền cung ứng (M1, M2, M3) hoặc mức lãi suất thị trường trong ngắn và dài hạn
Để xác định rõ ràng các mục tiêu trung gian, các tiêu chuẩn được đặt ra như sau:
Thứ nhất là có thể đo lường được Điều này có nghĩa là các mục tiêu trung gian phải đo lường được một cách chính xác và nhanh chóng
Thứ hai là các mục tiêu này phải nằm dưới sự kiểm soát của NHTW Do
đó NHTW phải có khả năng điều chỉnh các mục tiêu đó phù hợp với định hướng của chính sách tiền tệ
Thứ ba, mục tiêu trung gian phải có mối liên hệ chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng Có thể nói tiêu chuẩn này là tiêu chuẩn quan trọng và được quan tâm nhất của một mục tiêu trung gian Hai khả năng ở trên sẽ trở nên vô nghĩa nếu như các chỉ tiêu được chọn làm mục tiêu trung gian không có ảnh hưởng trực tiếp đến các mục tiêu cuối cùng như giá cả hay sản lượng Nếu xem xét hai chỉ tiêu đã đặt ra ở phần đầu tiên của mục này: tổng lượng tiền cung ứng và lãi suất, ta sẽ thấy cả hai đều thỏa mãn các tiêu chuẩn trên, nhưng thực tế là NHTW không thể chọn đồng thời cả hai làm mục tiêu trung gian mà chỉ
có thể lựa chọn một chỉ tiêu duy nhất căn cứ vào mối liên hệ của các chỉ tiêu này đến mục tiêu cuối cùng Lý do ở đây là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa tổng khối lượng cung tiền và lãi suất Đạt được mục tiêu về tổng khối lượng tiền cung ứng thì phải chấp nhận sự biến động của lãi suất và ngược lại
Tại nước ta hiện nay, khối lượng cung tiền M2 đang được chọn làm mục tiêu trung gian trong điều hành CSTT xuất phát từ thực tế cho thấy rằng sự biến động của M2 hoàn toàn phù hợp với sự biến động mức giá và sản lượng trong những năm 90 Tuy nhiên, việc Ngân hàng Nhà nước chọn chính sách lãi suất ấn định đã phần nào làm giảm hiệu quả của mục tiêu trung gian này
Ngoài ra, NHTW cũng có thể chọn một số chỉ tiêu khác mà có phản ứng tức thời với sự điều chỉnh của các công cụ CSTT Các chỉ tiêu này có thể là: tổng khối
Trang 31lượng tín dụng, tỷ giá hối đoái, lãi suất, tổng lượng tiền cung ứng Tuy nhiên, các chỉ tiêu này lại có một hạn chế lớn nhất đó là mối quan hệ của chúng với mục tiêu cuối cùng hết sức phức tạp, không rõ ràng, rất khó có thể dự đoán được, vì thế chúng rất ít khi được sử dụng làm một mục tiêu trung gian một cách độc lập mà thường được sử dụng kết hợp với các mục tiêu khác như tổng khối lượng tiền cung ứng hoặc lãi suất
Mục tiêu hoạt động
Mục tiêu hoạt động là các chỉ tiêu có phản ứng tức thời với các công cụ của CSTT Các chỉ tiêu này gồm có: tổng dự trữ của các ngân hàng trung gian, lãi suất ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng, hoặc lãi suất tín phiếu kho bạc Thông qua việc đạt được mục tiêu về các chỉ tiêu này, NHTW sẽ có thể đạt được mục tiêu cuối cùng sau một khoảng thời gian nhất định NHTW do vậy mà có thể kiểm tra tính đúng đắn của các quyết định trong điều hành CSTT nhờ sự phản ứng nhanh chóng và chính xác của các chỉ tiêu này mỗi khi điều chỉnh CSTT
Mặt khác, các mục tiêu của CSTT thì không phải lúc nào cũng nhất trí và hỗ trợ cho nhau Một số trường hợp xảy ra việc những mục tiêu mâu thuẫn với nhu cầu khiến cho việc theo đuổi mục tiêu này đồng nghĩa với việc phải hy sinh mục tiêu kia, ví dụ như giảm lạm phát và giảm tỷ lệ thất nghiệp Chính vì điều này mà trong ngắn hạn, NHTW không thể đạt được tất cả các mục tiêu trên Phần lớn NHTW các nước xác định ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu và dài hạn của CSTT, nhưng trong ngắn hạn, tình hình khiến họ đôi khi phải tạm thời từ bỏ mục tiêu này
để khắc phụ tình trạng thất nghiệp cao đột ngột hay là ảnh hưởng của các cú sốc cung đối với sản lượng NHTW được xem như là có rất nhiều khả năng để thực hiện việc này vì nó nắm trong tay các công cụ điều hành lượng tiền cung ứng tương đối hiệu quả Tóm lại NHTW chỉ theo đuổi một mục tiêu về dài hạn nhưng lại theo đuổi đa mục tiêu trong ngắn hạn
Trang 32Bảng 1.1: Hệ thống mục tiêu của chính sách tiền tệ một số nước
Nước,
khu vực Công cụ CSTT
Mục tiêu hoạt động
Mục tiêu trung gian
Mục tiêu chính sách
Eurozone - Dự trữ bắt buộc
- Thị trường mở
Lãi suất thị trường liên ngân hàng
M2, M3
M2 - Ổn định gía cả;
- Tăng trưởng kinh tế;
- Ổn định hệ thống tổ chức tín dụng
(Nguồn: Chương trình giảng dạy Fulbright, Đỗ Thiên Anh Tuấn)
1.2.1.4 Các công cụ của chính sách tiền tệ
Công cụ của chính sách tiền tệ là các hoạt động được thực hiện bởi NHTW nhằm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến khối lượng tiền trong lưu thông và lãi suất thị trường (được gọi là các mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ), để từ đó đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ
Các công cụ gián tiếp
Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ trong đó NHTW sử dụng các nghiệp
vụ mua, bán chứng khoán trên thị trường tiền tệ mở - là thị trường tiền tệ mà ngoài các ngân hàng còn có chính phủ, các chủ thể kinh tế phi ngân hàng tham gia mua
Trang 33bán để thay đổi cơ số tiền, từ đó tác động tới lượng tiền cung ứng và mức lãi suất trên thị trường
Các hoạt động của NHTW trên thị trường mở sẽ gây ra những tác động gián tiếp tới lượng tiền cung ứng và lãi suất thị trường theo các cơ chế sau:
- Thứ nhất, khi NHTW mua (hoặc bán) các chứng khoán, nó sẽ làm tăng (hoặc giảm) ngay lập tức dự trữ của các ngân hàng trung gian (dù người bán là các ngân hàng trung gian hay khách hàng của ngân hàng này) Khả năng tạo tiền gửi thông qua cung ứng tín dụng của hệ thống ngân hàng vì thế bị ảnh hưởng, dẫn đến làm tăng (hoặc giảm) lượng tiền cung ứng
- Thứ hai, khi vốn khả dụng của từng ngân hàng tăng (hoặc giảm) do tác động của nghiệp vụ thị trường mở, mức cung vốn trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng tăng lên (hoặc giảm xuống) Trong điều kiện các yếu tố liên quan không thay đổi, lãi suất thị trường liên ngân hàng sẽ giảm xuống (hoặc tăng lên) Theo đó, các mức lãi suất khác trên thị trường tài chính nói chung cũng sẽ giảm xuống hoặc tăng lên tương ứng
- Thứ ba, nghiệp vụ thị trường mở còn ảnh hưởng đến cung cầu và do đó đến giá cả các chứng khoán mà NHTW sử dụng trong nghiệp vụ này Những thay đổi về giá cả sẽ tạo ra những thay đổi về mức sinh lời của các chứng khoán (lãi suất của chúng sẽ bị tăng lên hoặc giảm xuống), từ đó ảnh hưởng tới lãi suất thị trường Chẳng hạn, khi NHTW bán chứng khoán làm cung chứng khoán tăng, giá cả của các chứng khoán giảm xuống làm mức sinh lời (hay lãi suất) của chúng tăng lên Điều đó buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất tiền gửi để hạn chế tình trạng “phi trung gian hóa” Đồng thời, lãi suất của các chứng khoán mới phát hành cũng bị kích thích tăng tương ứng
Các chứng khoán mà NHTW sử dụng trong nghiệp vụ thị trường mở thường
là các chứng khoán Chính phủ, mà chủ yếu là tín phiếu kho bạc Lý do là vì các chứng khoán này có tính lỏng cao, cho nên NHTW có thể thực hiện nghiệp vụ một cách nhanh chóng và dễ dàng Hơn nữa, thị trường chứng khoán Chính phủ có khối lượng giao dịch lớn nên khả năng tiếp nhận một lượng lớn nghiệp vụ của NHTW
Trang 34mà không làm giá trên thị trường biến động quá mạnh, dẫn đến sụp đổ thị trường
Ở Việt Nam do thị trường chứng khoán Chính phủ chưa phát triển nên Ngân hàng Nhà nước phát hành tín phiếu NHNN để điều tiết việc cung ứng tiền tệ Tuy nhiên
do thị trường loại tín phiếu này chỉ diễn ra giữa một bên là NHNN và một bên là các NHTM nên hiệu quả điều tiết không cao, chỉ chủ yếu tác động vào dự trữ của các NHTM
Có hai loại nghiệp vụ thị trường mở Nghiệp vụ thị trường mở năng động là nghiệp vụ thị trường mở trong đó NHTW chủ động tiến hành nghiệp vụ nhằm tác động tới khối lượng tiền trong lưu thông theo hướng mà ngân hàng thấy cần thiết Nghiệp vụ thị trường mở thụ động là nghiệp vụ thị trường mở được tiến hành bù lại những chuyển động của các nhân tố ảnh hưởng một cách không có lợi đối với tổng lượng tiền trong lưu thông Chẳng hạn, khi tiền gửi của kho bạc và của các ngân hàng trung gian tại NHTW được dự đoán là giảm xuống, điều này đồng nghĩa với một sự tăng lên của tổng lượng tiền trong lưu thông, NHTW sẽ phải tiến hành bán chứng khoán trên thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở có nhiều ưu điểm Thứ nhất, nghiệp vụ thị trường
mở rất linh hoạt và chính xác Điều này thể hiện ở chỗ dù NHTW muốn thay đổi một mức rất nhỏ hay lớn của lượng cung tiền, nghiệp vụ thị trường mở đều có thể đáp ứng được Hơn nữa, nghiệp vụ thị trường mở có thể dễ dàng đảo ngược lại khi
có một sai lầm xảy ra trong lúc tiền hành nghiệp vụ Chẳng hạn NHTW nhận thấy rằng mình đã mua quá nhiều chứng khoán trên thị trường mở khiến cho cung tiền quá nhanh, nó có thể ngay lập tức sửa chữa sai lầm bằng cách tiến hành nghiệp vụ bán trên thị trường mở Thứ hai, nghiệp vụ thị trường mở được hoàn thành nhanh chóng mà không vướng phải những chậm trễ về hành chính và do đó có thể gây tác động tức thì đến lượng cung tiền tệ Thứ ba, nghiệp vụ thị trường mở tác động thông qua cơ chế thị trường nên các đối tượng chịu sự tác động thường khó chống
đỡ hoặc đảo ngược chiều hướng điều chỉnh của NHTW Mặc dù nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện, những nhà kinh doanh chứng khoán không bị bắt buộc mua hoặc bán theo mức giá do NHTW ấn định nhưng
Trang 35NHTW có thể thực hiện được yêu cầu của mình bằng việc điều chỉnh giá sao cho
nó trở nên hấp dẫn đối tác
Nhờ những ưu điểm nêu trên mà nghiệp vụ thị trường mở được coi là công cụ hữu hiệu nhất trong các công cụ của Chính sách tiền tệ Tuy nhiên, việc thực hiện công cụ này đòi hỏi sự phát triển của thị trường tài chính thứ cấp nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng Ngoài ra, NHTW phải có khả năng dự đoán và kiểm soát sự biến động của lượng vốn khả dụng trong hệ thống ngân hàng Tại Việt Nam, nghiệp
vụ thị trường mở chính thức được NHNN đưa vào sử dụng từ tháng 7 năm 2000
Chính sách tái chiết khấu
Chính sách tái chiết khấu bao gồm các quy định về việc cho vay của NHTW đối với các NHTM NHTW thường cho các NHTM vay dưới hình thức chiết khấu lại các giấy tờ có giá ngắn hạn (chủ yếu là tín phiếu kho bạc và thương phiếu) do các NHTM đưa đến, bởi vậy chính sách cho vay của NHTW đối với các NHTM được gọi là chính sách tái chiết khấu Các NHTM vay từ NHTW chủ yếu nhằm giải quyết vấn đề thiếu hụt tiền mặt tạm thời để đáp ứng nhu cầu thanh toán hoặc
để bù đắp thiếu hụt trong quỹ dự trữ bắt buộc Những thay đổi trong chính sách tái chiết khấu của NHTW sẽ tác động đến khối lượng vay chiết khấu của các NHTM,
từ đó ảnh hưởng tới lượng tiền cung ứng
NHTW thông qua việc thay đổi các quy định về hạn mức tái chiết khấu, lãi suất tái chiết khấu và các điều kiện tái chiết khấu sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động đi vay chiết khấu từ NHTW của các NHTM trên hai phương diện: khối lượng và giá
Khối lượng vốn khả dụng được bổ sung từ NHTW có thể bị giới hạn hoặc nới rộng căn cứ vào hạn mức tái chiết khấu và các điều kiện chiết khấu, từ đó ảnh hưởng đến khả năng tạo tiền của hệ thống NHTM, làm cho lượng tiền cung ứng bị thay đổi Khi lượng vốn khả dụng thay đổi, quan hệ cung cầu vốn và do đó lãi suất trên thị trường liên ngân hàng cũng thay đổi
Sự thay đổi mức lãi suất tái chiết khấu tác động trước hết vào chi phí đầu vào của các NHTM, vì thế các ngân hàng này dần dần tăng (hoặc giảm) lãi suất cho vay, từ đó làm giảm (hoặc tăng) nhu cầu tín dụng Bên cạnh đó, khi lãi suất chiết
Trang 36khấu tăng lên (hoặc giảm), các NHTM không thể vay NHTW một cách dễ dàng (hoặc là có thể mở rộng khả năng vay) Điều này buộc các NHTM phải giảm bớt khả năng cung ứng tín dụng để hồi phục dự trữ (hoặc mở rộng cho vay trong trường hợp ngược lại)
Ưu điểm của công cụ này là các khoản cho vay của NHTW đều được đảm bảo bằng các giấy tờ có giá Do đó, các khoản vay sẽ chắc chắn được thu hồi khi đến hạn
Tuy nhiên tác dụng của chính sách chỉ có thể phát huy khi các NHTM có nhu cầu vay từ NHTW Với sự phát triển của thị trường tài chính, các NHTM có thể tìm kiếm được các nguồn vay khác ngoài NHTW làm cho sự phụ thuộc của chúng vào NHTW giảm đi, do đó làm giảm mức độ phát huy hiệu quả của công cụ này Hơn nữa, NHTW khó kiểm soát được hoàn toàn những tác động của công cụ này bởi NHTW chỉ có thể thay đổi mức lãi suất tái chiết khấu và các điều kiện chiết khấu mà không thể bắt các NHTM vay từ mình Cuối cùng, công cụ này cũng không dễ đảo ngược như nghiệp vụ thị trường mở
Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các NHTM buộc phải duy trì trên một tài khoản tiền gửi không hưởng lại tại NHTW Nó được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng số dư tiền gửi trong một khoảng thời gian nào đó Mức dự trữ bắt buộc được quy định khác nhau căn cứ vào thời hạn tiền gửi, vào quy mô và tính chất hoạt động của NHTM
Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc và do đó mức dự trữ bắt buộc ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng theo ba cách:
- Thứ nhất, khi NHTW quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, bộ phận dự trữ thừa trước đây của các ngân hàng chuyển thành dự trữ bắt buộc, làm giảm khả năng cho vay của hệ thống ngân hàng
- Thứ hai, tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một thành phần trong mẫu số của hệ số
mở rộng tiền gửi Vì thế sự tăng lên của tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ làm giảm hệ số
mở rộng tiền gửi và do đó là khả năng mở rộng tiền gửi của hệ thống ngân hàng
Trang 37- Thứ ba, tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng lên làm giảm mức cung vốn của các NHTM trên thị trường liên ngân hàng Trong điều kiện nhu cầu vốn khả dụng không thay đổi, sự giảm sút này làm tăng lãi suất liên ngân hàng, từ đó dẫn đến tăng các mức lãi suất dài hạn và giảm khối lượng tiền cung ứng
Quyết định giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ gây nên những ảnh hưởng ngược lại Lợi thế chủ yếu của công cụ dự trữ bắt buộc trong việc kiểm soát lượng tiền cung ứng là sự thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ ảnh hưởng một cách bình đẳng đến tất cả các ngân hàng Ngoài ra đây là công cụ có quyền lực ảnh hưởng rất mạnh đến lượng tiền cung ứng Chỉ cần một thay đổi nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng sẽ dẫn đến sự thay đổi đáng kể khối lượng tiền cung ứng Tuy nhiên, do có thể tác động mạnh tới lượng tiền cung ứng, công cụ dự trữ bắt buộc trở nên thiếu linh hoạt NHTW rất khó có thể thực hiện được những thay đổi nhỏ trong cung ứng tiền tệ bằng cách thay đổi dự trữ bắt buộc Mặt khác, việc tăng dự trữ bắt buộc có thể gây nên vấn đề mất “khả năng thanh toán ngay” đối với những ngân hàng có dự trữ vượt mức quá thấp Việc thay đổi liên tục dự trữ bắt buộc còn gây ra tình trạng không ổn định cho hoạt động của các ngân hàng và làm cho việc quản lý khả năng thanh khoản của các ngân hàng khó khăn và tốn kém hơn Chính do những nhược điểm này mà ngày nay các công cụ này ít được NHTW các nước
sử dụng Nếu sử dụng thì thường kết hợp với một vài công cụ khác để làm giảm bớt mức
độ ảnh hưởng của nó Chẳng hạn, cùng với việc nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, NHTW tiến hành các nghiệp vụ mua vào chứng khoán trên thị trường mở hoặc nới rộng các điều kiện vay chiết khấu nhằm giúp cho các ngân hàng có thể nhanh chóng nâng mức dự trữ bắt buộc với chi phí thấp, tránh khỏi bị sốc
Chính sách tỷ giá hối đoái
Trong điều kiện mở cửa kinh tế, các hoạt động kinh tế đối ngoại với những luồng hàng hóa và vốn vào ra một quốc gia có ảnh hưởng to lớn tới các biến số kinh tế vĩ mô của quốc gia đó Sự di chuyển của các luồng hàng hóa và vốn này luôn gắn liền với sự di chuyển các luồng tiền tệ của các nước khác nhau Với ý nghĩa là tỷ lệ trao đổi giữa đồng tiền quốc gia này với đồng tiền quốc gia khác, tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng quan trọng, có thể kìm hãm hoặc thúc đẩy sự di chuyển của các luồng tiền nói trên Chính vì vậy, việc xác lập một tỷ giá hối đoái hợp lý
Trang 38nhằm khuyến khích các hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển phục vụ cho nền kinh tế quốc gia là một nhiệm vụ quan trọng của CSTT
Sự can thiệp nhằm tác động tới tỷ giá hối đoái được thực hiện thông qua các hoạt động mua vào hoặc bán ra ngoại tệ của NHTW trên thị trường ngoại hối Mức
độ can thiệp của NHTW vào sự hình thành tỷ giá hối đoái trên thị trường phụ thuộc vào chế độ tỷ giá hối đoái mà quốc gia đó áp dụng Về cơ bản có 3 chế độ tỷ giá hối đoái mà các nước đã và đang áp dụng:
- Chế độ tỷ giá hối đoái cố định là chế độ tỷ giá hối đoái trong đó NHTW buộc phải can thiệp trên thị trường ngoại hối để duy trì tỷ giá biến động xung quanh một mức tỷ giá cố định (gọi là tỷ giá trung tâm) trong một biên độ hẹp đã được định trước Như vậy, trong chế độ tỷ giá cố định, NHTW buộc phải mua vào hay bán ra đồng nội tệ nhằm giới hạn sự biến động của tỷ giá trong biên độ đã định Chế độ tỷ giá này giảm bớt rủi ro của việc chuyển đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác do
tỷ giá được cố định Tuy nhiên ngày nay nó ít được các nước sử dụng do gây ra vấn
đề phụ thuộc của CSTT vào các biến động bên ngoài và cán cân thanh toán không thể tự động cân bằng Hơn nữa, để tiến hành can thiệp thị trường ngoại hối đòi hỏi NHTW phải có sẵn nguồn dự trữ ngoại hối dồi dào
- Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toànlà chế độ tỷ giá hối đoái, trong đó tỷ giá được xác định hoàn toàn tự do theo quy luật cung cầu trên thị trường ngoại hối mà không
có bất cứ sự can thiệp nào của NHTW Chế độ tỷ giá này được đánh giá là giúp cho CSTT quốc gia được độc lập, ít chịu ảnh hưởng của những biến động từ bên ngoài
và cán cân thanh toán quốc tế được tự động điều chỉnh để cân bằng Tuy vậy, chế
độ tỷ giá này lại gây sự biến động thường xuyên của tỷ giá hối đoái, khiến cho các hoạt động chuyển đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác luôn hàm chưa rủi ro
- Những hạn chế của hai chế độ tỷ giá nêu trên đã dẫn các quốc gia tới một chế
độ tỷ giá dung hòa cả hai Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết là chế độ tỷ giá hối đoái, trong đó NHTW tiến hành can thiệp trên thị trường ngoại hối nhằm ảnh hưởng lên
tỷ giá, nhưng NHTW không cam kết duy trì một tỷ giá cố định hay biên độ dao động nào xung quanh tỷ giá trung tâm Nói cách khác, NHTW thực hiện các nghiệp
vụ mua bán ngoại tệ để điều tiết thị trường ngoại hối, song can thiệp của NHTW
Trang 39không nhằm mục đích để cố định tỷ giá như đối với chế độ tỷ giá cố định
bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định
Công cụ này được áp dụng phổ biến ở các nước trong thời kỳ hoạt động tài chính được điều tiết chặt chẽ Ví dụ trong trường hợp lạm phát cao, hạn mức tín dụng được sử dụng nhằm khống chế trực tiếp và ngay lập tức lượng tín dụng cung ứng
Trong trường hợp khi các công cụ gián tiếp không phát huy hiệu quả do thị trường tiền tệ chưa phát triển hoặc do mức cầu tiền tệ không nhạy cảm với sự biến động của lãi suất hay NHTW không có khả năng khống chế và kiểm soát được sự biến động của lượng vốn khả dụng của hệ thống NHTM thì công cụ hạn mức tín dụng là cứu cánh của NHTW trong việc điều tiết lượng cung ứng Tuy nhiên tác động của hạn mức tín dụng có thể đẩy lãi suất lên cao làm suy giảm khả năng cạnh tranh công bằng của các ngân hàng trung gian
Khung lãi suất
Với những nước mà tín dụng ngân hàng là nguồn tín dụng chủ yếu của đất nước, việc quy định giới hạn dao động của các mức lãi suất của ngân hàng bằng cách định ra một khung lãi suất sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tới mức lãi suất thị trường Khung lãi suất bao gồm mức lãi suất trần (là mức lãi suất tối đa mà các ngân hàng được phép ấn định khi đi vay hoặc cho vay) và lãi suất sàn (là mức lãi suất tối thiểu
mà các ngân hàng được phép ấn định khi cho vay hoặc đi vay) Thông thường NHTW sẽ quy định mức lãi suất trần đối với lãi suất cho vay và mức lãi suất sàn
Trang 40với lãi suất đi vay của các ngân hàng
Thực tế áp dụng ở hầu hết các nước đều cho thấy đây là một công cụ cứng nhắc, dễ gây tác động xấu tới hoạt động tiết kiệm và đầu tư Vì vậy, nó thường chỉ được sử dụng trong điều kiện sự ổn định kinh tế vĩ mô chưa được thiết lập, hay các yếu tố thị trường chưa phát triển hoàn chỉnh
Biên độ dao động của tỷ giá mua bán ngoại tệ
Đây cũng là một công cụ mang tính chất hành chính, quy định mức tỷ giá tối
đa và tối thiểu mà các ngân hàng được phép áp dụng khi kinh doanh ngoại hối Do tính chất cứng nhắc của công cụ nên bên cạnh khả năng tác động trực tiếp tới mức
tỷ giá trên thị trường nó cũng gây ra nhiều phản ứng tiêu cực của thị trường, có thể dẫn tới những biến động không mong muốn về tỷ giá hối đoái Công cụ này chỉ nên dùng trong những trường hợp khẩn cấp và trong thời gian ngắn, khi mà NHTW không thể sử dụng các biện pháp mang tính thị trường như mua bán ngoại tệ do dự trữ quốc gia về ngoại hối không đủ để can thiệp
Chính sách về quản lý ngoại hối
Ngoại hối là khái niệm dùng để chỉ các phương tiện có giá trị được dùng để cất trữ hoặc thanh toán giữa các quốc gia như: ngoại tệ, các phương tiện thanh toán quốc tế ghi bằng ngoại tệ (hối phiếu, lệnh phiếu, séc v v…), các chứng khoán ghi bằng ngoại tệ (cổ phiếu, trái phiếu do nước ngoài phát hành), vàng, bạc, kim cương, đá quý…
Mục đích chính sách quản lý ngoại hối là nhằm kiểm soát chặt chẽ việc chuyển ngoại hối ra bên ngoài nước, thu hút nhiều ngoại hối vào trong nước, quản
lý nghiêm mặt các loại ngoại hối dự trữ như vàng, các ngoại tệ mạnh
Tùy từng quốc gia mà cơ chế quản lý ngoại hối thay đổi khác nhau Những nước có nguồn ngoại hối dồi dào như Mỹ, Nhật, Anh, Đức… thực hiện chính sách tự
do ngoại hối, cho phép các luồng ngoại hối được tự do ra vào quốc gia với số lượng không hạn chế Trong khi hầu hết các nước đang phát triển do dự trữ ngoại hối có hạn nên phải áp dụng chính sách quản chế ngoại hối nghiêm ngặt để đảm bảo nguồn cung ngoại hối cho nhu cầu của đất nước