1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thuyết minh dự án đầu tư trung tâm nghiên cứu cây trồng công nghệ cao tỉnh ninh thuận

68 88 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với nước ta, phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.. có thời gian s

Trang 1

Dự án Trung tâm nghiên cứu cây trồng công nghệ cao

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc



BÁO CÁO TIỀN KHẢ THI

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU CÂY TRỒNG CÔNG NGHỆ CAO

Địa điểm xây dựng: Thôn Hậu Sanh, xã Phước Hữu,

huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận

Chủ đầu tư:

Tháng 9/2019

Trang 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM



BÁO CÁO TIỀN KHẢ THI

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU CÂY TRỒNG CÔNG NGHỆ CAO

CHỦ ĐẦU TƯ

Giám đốc

ĐƠN VỊ TƯ VẤN CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ

DỰ ÁN VIỆT

Giám đốc

Tháng 9 năm 2019

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG I MỞ ĐẦU 4

I Giới thiệu về chủ đầu tư 4

II Mô tả sơ bộ thông tin dự án 4

III Sự cần thiết xây dựng dự án 4

IV Các căn cứ pháp lý 5

V Mục tiêu dự án 6

V.1 Mục tiêu chung 6

V.2 Mục tiêu cụ thể 6

CHƯƠNG II ĐỊA ĐIỂM VÀ QUY MÔ THỰC HIỆN DỰ ÁN 7

I Hiện trạng kinh tế - xã hội vùng thực hiện dự án 7

I.1 Điều kiện tự nhiên vùng thực hiện dự án 7

I.2 Điều kiện kinh tế xã hội 9

II Quy mô sản xuất của dự án 15

II.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên thế giới và Việt Nam 15

II.2 Quy mô đầu tư của dự án 23

III Địa điểm và hình thức đầu tư xây dựng dự án 24

III.1 Địa điểm xây dựng 24

III.2 Hình thức đầu tư 24

III Nhu cầu sử dụng đất và phân tích các yếu tố đầu vào của dự án 24

CHƯƠNG III PHÂN TÍCH QUI MÔ, DIỆN TÍCH XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ 26

I Phân tích qui mô, diện tích xây dựng công trình 26

II Phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ 26

II.1 Giải pháp công nghệ 27

II.2 Giải pháp kỹ thuật 44

CHƯƠNG IV CÁC PHƯƠNG ÁN THỰC HIỆN DỰ ÁN 47

I Phương án giải phóng mặt bằng, tái định cư và hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng 47

I.1 Phương án giải phóng mặt bằng 47

I.2 Phương án tái định cư 47

I.3 Phương án hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật 47

II Các phương án xây dựng công trình 47

III Phương án tổ chức thực hiện 48

Trang 4

III.1 Các phương án kiến trúc 48

III.2 Phương án quản lý, khai thác 49

III.2 Giải pháp về chính sách của dự án 51

IV Phân đoạn thực hiện và tiến độ thực hiện, hình thức quản lý dự án 51

CHƯƠNG V ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG – GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG CHÁY NỔ VÀ YÊU CẦU AN NINH QUỐC PHÒNG 52

I Đánh giá tác động môi trường 52

I.1 Các loại chất thải phát sinh 52

I.2 Biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực 53

I.3 Phương án phòng chống sự cố vệ sinh và an toàn lao động 55

II Giải pháp phòng chống cháy nổ 55

CHƯƠNG VI TỔNG VỐN ĐẦU TƯ –NGUỒN VỐN THỰC HIỆNVÀ HIỆU QUẢ CỦA DỰ ÁN 56

I Tổng vốn đầu tư và nguồn vốn của dự án 56

II Khả năng thu xếp vốn và khả năng cấp vốn theo tiến độ 60

III Phân tích hiệu quả về mặt kinh tế của dự án 62

III.1 Nguồn vốn dự kiến đầu tư của dự án 62

III.2 Phương án vay tín dụng – huy động 62

III.3 Các thông số tài chính của dự án 62

KẾT LUẬN 65

I Kết luận 65

II Đề xuất và kiến nghị 65

PHỤ LỤC: CÁC BẢNG TÍNH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DỰ ÁN 66

Phụ lục 1 Tổng mức cơ cấu nguồn vốn của dự án thực hiện dự án 66

Phụ lục 2 Bảng tính khấu hao hàng năm của dự án Error! Bookmark not

defined.

Phụ lục 3 Bảng tính doanh thu và dòng tiền hàng năm của dự án Error!

Bookmark not defined.

Phụ lục 4 Bảng Phân tích khả năng hoàn vốn giản đơn của dự án Error!

Bookmark not defined.

Phụ lục 5 Bảng Phân tích khả năng hoàn vốn có chiết khấu của dự

án Error! Bookmark not defined Phụ lục 6 Bảng Tính toán phân tích hiện giá thuần (NPV) của dự án Error!

Bookmark not defined.

Trang 5

Phụ lục 7 Bảng Phân tích theo tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) của dự

án Error! Bookmark not defined.

Trang 6

II Mô tả sơ bộ thông tin dự án

Tên dự án: Trung tâm nghiên cứu cây trồng công nghệ cao

Địa điểm thực hiện dự án: Thôn Hậu Sanh, xã Phước Hữu, Huyện Ninh Phước, Tỉnh Ninh Thuận

Hình thức quản lý: Chủ đầu tư trực tiếp quản lý điều hành và khai thác dự

án

Tổng mức đầu tư của dự án : 23.014.588.000 đồng (Hai mươi

ba tỷ không trăm mười bốn triệu năm trăm tám mươi tám nghìn đồng) Trong

đó:

 Vốn tự có (100%) : 23.014.580.000 đồng

 Vốn vay tín dụng (0%) :

III Sự cần thiết xây dựng dự án

Đối với nước ta, phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Hiện nay, nhiều địa phương đã xây dựng và triển khai thực hiện chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đặc biệt

là các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh và một số tỉnh như Ninh Thuận đã tiến hành triển khai đầu tư xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao với những hình thức, quy mô và kết quả hoạt động đạt được ở nhiều mức độ khác nhau

Sản xuất và tiêu thụ rau quả trên thế giới và tại Việt Nam không chỉ quan trọng về mặt kinh tế mà còn là vấn đề sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người tiêu dùng Đặc biệt những loại rau ăn quả mang lại giá trị kinh tế to lớn và thúc đẩy các hướng nghiên cứu mà dưa lưới là một trong số đó Dưa lưới là rau ăn quả

Trang 7

có thời gian sinh trưởng ngắn, trồng được nhiều vụ trong năm với năng suất khá cao;

Nghiên cứu, trồng dưa lưới ứng dụng công nghệ cao vừa góp phần tăng sản lượng nông nghiệp sạch, nông nghiệp có giá trị kinh tế cao, lựa chọn ra phương pháp trồng trọt hiệu quả cho sản phẩm chất lượng tốt nhất

Trước tình hình đó, Công Ty TNHH MTV Asia Seed Việt Nam đã phối hợp

với đơn vị tư vấn tiến hành nghiên cứu và lập dự án đầu tư “Trung Tâm Nghiên

Cứu Cây Trồng Công Nghệ Cao”

Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự

án đầu tư xây dựng;

Quyết định số 79/QĐ-BXD ngày 15/02/2017 của Bộ Xây dựng về việc công

bố định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng;

Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ V/v Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường

Trang 8

- Các công nghệ được ứng dụng trong thực hiện dự án chủ yếu tập trung vào công nghệ cao, công nghệ tiên tiến so với mặt bằng công nghệ sản xuất nông nghiệp trong tỉnh

V.2 Mục tiêu cụ thể

- Xây dựng nhà màng (nhà kính, nhà lưới với các thiết bị kèm theo) để tiếp nhận công nghệ (sản xuất dưa lưới công nghệ cao) và tổ chức thực nghiệm các biện pháp kỹ thuật (cải tiến cho phù hợp với điều kiện của địa phương), trình diễn chuyển giao công nghệ sản xuất

- Sản xuất theo tiêu chuẩn VIETGAP/GLOBALGAP với công nghệ gần như

tự động hoàn toàn

- Toàn bộ sản phẩm của dự án được gắn mã vạch, từ đó có thể truy xuất nguồn gốc hàng hóa đến từng công đoạn trong quá trình sản xuất

- Xây dựng dự án kiểu mẫu, thân thiện với môi trường Dự án thành công sẽ

mở rộng giai đoạn hai

Trang 9

CHƯƠNG II ĐỊA ĐIỂM VÀ QUY MÔ THỰC HIỆN DỰ ÁN

I Hiện trạng kinh tế - xã hội vùng thực hiện dự án

I.1 Điều kiện tự nhiên vùng thực hiện dự án

Ninh Thuận thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng và phía Đông giáp Biển Đông

Trang 10

Diện tích tự nhiên 3.358 km2, có 7 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố và 6 huyện Tp Phan Rang-Tháp Chàm là thành phố thuộc tỉnh, trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của tỉnh, cách Tp Hồ Chí Minh 350 km, cách sân bay Cam Ranh 60 km, cách Tp Nha Trang 105 km và cách Tp Đà Lạt 110 km, thuận tiện cho việc giao lưu phát triển kinh tế-xã hội

2 Địa hình:

Địa hình Ninh Thuận thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, với 3 dạng địa hình: núi chiếm 63,2%, đồi gò bán sơn địa chiếm 14,4%, đồng bằng ven biển chiếm 22,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh

3 Khí hậu, thủy văn:

Ninh Thuận có khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với đặc trưng khô nóng, gió nhiều, bốc hơi mạnh, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26-270C, lượng mưa trung bình 700-800mm ở Phan Rang và tăng dần đến trên 1.100mm ở miền núi, độ ẩm không khí từ 75-77% Năng lượng bức xạ lớn 160 Kcl/cm2 Tổng lượng nhiệt 9.500– 10.0000C Thời tiết có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 11; mùa khô từ tháng 12 đến tháng 9 năm sau

Nguồn nước ở Ninh Thuận phân bổ không đều, tập trung chủ yếu ở khu vực phía Bắc và trung tâm tỉnh Nguồn nước ngầm chỉ bằng 1/3 mức bình quân cả nước

4 Tài nguyên đất:

Tổng diện tích tự nhiên 3.358 km2, trong đó đất dùng vào sản xuất nông nghiệp 69.698 ha; đất lâm nghiệp 185.955 ha; đất nuôi trồng thủy sản 1.825 ha; đất làm muối 1.292 ha; đất chuyên dùng 16.069 ha; đất ở 3.820 ha; đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 5.676 ha; còn lại đất chưa sử dụng

5 Tài nguyên biển:

Bờ biển dài 105 km, ngư trường của tỉnh nằm trong vùng nước trồi có nguồn lợi hải sản phong phú và đa dạng với trên 500 loài hải sản các loại Ngoài ra, còn

có hệ sinh thái san hô phong phú và đa dạng với trên 120 loài và rùa biển đặc biệt quý hiếm chỉ có ở Ninh Thuận Vùng ven biển có nhiều đầm vịnh phù hợp phát triển du lịch và phát triển nuôi trồng thủy sản và sản xuất tôm giống là một thế mạnh của ngành thủy sản

6 Tài nguyên khoáng sản:

Trang 11

- Khoáng sản kim loại có Wonfram, Molipđen, thiếc Titan tại khu vực ven biển với trữ lượng nhiều triệu tấn

- Khoáng sản phi kim loại có thạch anh tinh thể, đá granite, cát thủy tinh, sét gốm…

- Nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng có đá granite với tổng trữ lượng khoảng 850 triệu m3, cát kết vôi trữ lượng khoảng 1,5 triệu m3; đá vôi san hô tập trung vùng ven biển trữ lượng khoảng 2,5 triệu tấn CaO; sét phụ gia, đá xây dựng

- Tiềm năng về khoáng bùn mới được phát hiện ở thôn Suối Đá, xã Lợi Hải, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận, qua kết quả điều tra khảo sát của Liên đoàn Quy hoạch và điều tra tài nguyên nước miền Trung thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, bùn khoáng có chất lượng tốt, không có chứa các chất độc hại, trữ lượng bùn khoáng dự kiến khoảng trên 30.000 tấn, có thể tiếp tục điều tra, thăm dò và khai thác sử dụng vào mục đích phát triển phục vụ loại hình du lịch kết hợp tắm ngâm chữa bệnh

I.2 Điều kiện kinh tế xã hội

1.Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong tỉnh

Tổng sản phẩm trong Tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2018 ước tăng 10,11%

so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 12,67%, đóng góp 4,2 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,28%, đóng góp 2,13 điểm phần trăm; khu vực dịch

vụ tăng 8,36%, đóng góp 3,42 điểm phần trăm; thuế sản phẩm tăng 6,85%,đóng góp 0,35 điểm phần trăm

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; trong đó: ngành nông nghiệp tăng 4,69% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,84 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; ngành lâm nghiệp giảm 7%; ngành thủy sản đã cho thấy dấu hiệu khả quan với mức tăng 22,26%, đóng góp 3,36 điểm phần trăm

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng; ngành công nghiệp tăng 13,28% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng đã khởi sắc tăng 60,3%(6 tháng năm 2016 và 6 tháng 2017 ngành này giảm sâu 33-34%), đóng góp 0,46 điểm phần trăm; ngành chế biến, chế tạo đạt mức tăng 12,33%, đóng góp 1,23 điểm phần trăm Ngành xây dựng tăng 5,39%, đóng góp 0,43 điểm phần trăm Trong khu vực dịch vụ tăng 8,36% so cùng kỳ, trong đó đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởng chung như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,7 điểm phần trăm vào mức tăng

Trang 12

trưởng chung; vận tải kho bãi tăng 9,94%, đóng góp 0,28 điểm phần trăm; dịch

vụ lưu trú và ăn uống tăng 12,52%, đóng góp 0,58 điểm phần trăm; hoạt động thông tin và truyền thông tăng 8,99%, đóng góp 0,73 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,53%, đóng góp 0,27 điểm phần trăm; hoạt động giáo dục và đào tạo, tăng 5,89%, đóng góp 0,23 điểm phần trăm…

Về cơ cấu VA (giá trị tăng thêm các ngành) 6 tháng đầu năm 2018, khu vực I (nông, lâm nghiệp và thủy sản) chiếm tỷ trọng 38,46% ( 2017: 37,73%); khu vực

II (công nghiệp và xây dựng ) chiếm 21,08%( 2017:21,18%);khu vực III (dịch vụ ) chiếm 40,46%( 2017: 41,09%);

Về cơ cấu toàn bộ nền kinh tế 6 tháng đầu năm 2018, khu vực Ichiếm tỷ trọng 36,53%; khu vực II chiếm 20,02%; khu vực III chiếm 38,42%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,03% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2017 là: 35,83%; 19,95%; 39,03%; 5,19%)

2 Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6 tháng đầu năm 2018 theo giá

so sánh 2010 ước đạt 5.030,7 tỷ đồng, tăng 13,46% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Nông nghiệp đạt 2.308,5 tỷ đồng, tăng 4,69%; lâm nghiệp đạt 8,3 tỷ đồng, giảm 7%; thủy sản đạt 2.713,9 tỷ đồng, tăng 22,26%

2.1 Nông nghiệp:

a Trồng trọt:

Kết thúc gieo trồng vụ đông xuân tổng diện tích cây hàng năm 2018 toàn tỉnh thực hiện 26.193 ha,tăng 3,5% so đông xuân 2017 và vượt 0,7% kế hoạch Trong đó: Diện tích lúa đạt 16.976 ha,tăng 1,4% so đông xuân trước vàvượt 1,3% so kế hoạch; Nhóm cây ngô và cây lương thực có hạt khác đạt 2.902 ha, tăng 17,4% so cùng kỳ và giảm 6,4% so kế hoạch, trong đó: diện tích ngô 2.867 ha,tăng 16,2%

so cùng kỳ và giảm 7,5% so kế hoạch; nhóm cây lấy củ có chất bột đạt 581 ha, tăng 1,2 lần so cùng kỳ và tăng 2,2 lần so kế hoạch, trong nhóm này chủ yếu tăng mạnh là cây sắn, diện tích trồng mới đạt 496 ha, tăng 1,6 lần so cùng kỳ; mía trồng mới trong vụ 21 ha, giảm 93% so đông xuân trước, cây mía trồng mới giảm khá nhiều do chuyển đổi sang cây sắn tập trung chủ yếu ở huyện Ninh Sơn và huyện Bác Ái; cây thuốc lá đạt 50 ha, giảm 30,6% so cùng kỳvà giảm 50% so kế hoạch, hiện nay cây thuốc lá không ưa chuộng do giá thấp và không ổn định đầu ra, một phần ảnh hưởng của cây thuốc lá đến môi trường đất khó trồng loại cây khác ở vụ sau nên nhiều hộ chuyển sang trồng cây hàng năm khác; cây có hạt chứa dầu đạt

Trang 13

284,5 ha,giảm 4,8% so cùng kỳ và tăng 7,4% so kế hoạch; nhóm cây rau đậu, hoa, cây cảnh 3.962 ha, tăng 3,2% so cùng kỳ và tăng 1,6% so kế hoạch; nhóm cây gia

vị và dược liệu hàng năm đạt 363,9 ha, tăng 17% so cùng kỳ chủ yếu là diện tích

ớt 315,9 ha, tăng 18,3%; nhóm cây hàng năm khác đạt 1.053,7 ha,tăng 3,7% so cùng kỳ và giảm 4,8% so kế hoạch

Ước tính tổng diện tích cây lâu năm toàn tỉnh hiện có đạt 11.641 ha, tăng 0,2%

so cùng kỳ, trong đó cây nho hiện có đạt 1.244,4 ha, giảm 3,8% so cùng kỳ, diện tích trồng mới trong kỳ 20 ha, giảm 48,7% so cùng kỳ, do diện tích nho già cỗi, phá gốc tạm thời được chuyển sang trồng cây ngắn ngày khác chờ có thời tiết thuận lợi sẽ trồng nho trở lại;cây xoài hiện có 422 ha, tăng 8,8% so cùng kỳ, trồng mới 10 ha chủ yếu ở huyện Bác Ái.; cây táo hiện có 1.009 ha, tăng 6,1% so cùng kỳ,diện tích táo trồng mới vài năm gần đây đến nay đã cho sản phẩm đưa diện tích cho sản phẩm hiện có 897 ha bằng 99,3% so cùng kỳ; cây điều chiếm cao nhất (chiếm 36,6% diện tích cây lâu năm toàn tỉnh), hiện có 4.258 ha, tăng 8,4% so cùng kỳ Điều được trồng nhiều ở các vùng núi bởi đặc tính dễ thích nghi kể cả vùng khô hạn, sỏi đá được hộ dân và các Ban quản lý rừng trồng theo dự án với hình thức trồng thả, ít được chăm sóc

Đàn heo: Tổng đàn xu hướng phát triển do giá và dịch bệnh kiểm soát tốt,hiện

có 92.909 con tăng 6,1% so cùng kỳ, trong đó: heo nái 14.532 con, chiếm 15,6% tổng đàn và giảm 4,5% so cùng kỳ; heo thịt 78.319 con, tăng 8,4% Xu hướng nuôi heo ở loại hình kinh tế tư nhân (chủ yếu nuôi gia công cho công ty CP chăn nuôi VN) đang chửng lại do giá cả và thị trường tiêu thụ biến động làm ảnh hưởng nhiều, loại hình trang trại tăng cao nhất có 39.225 con, tăng 11,3% (chủ yếu là nuôi gia công); hộ nông thôn 37.177 con, tăng 8,2%; gia trại 9.593 con, tăng 5,9%,

hộ thành thị xu hướng giảm hiện nuôi 6.924 con, giảm 22%

Đàn dê, cừu: Hiện có 302.120 con, tăng 7,7% so cùng kỳ, trong đó: đàn dê đạt 138.106 con, tăng 12%; đàn cừu đạt 164.014 con, tăng 4,2%; Xu hướng nuôi dê quy mô nhỏ ở đồng bằng và nuôi cừu ở quy mô lớn ở vùng núi đang được người nuôi mở rộng và phát triển mạnh

Trang 14

Đàn gà hiện có 973,1 nghìn con, tăng 7,3% so cùng kỳ 2017, trong đó: gà công nghiệp 225,2 nghìn con, chiếm 23,1% tổng đàn, tăng 21,4% so cùng kỳ, hầu hết là số lượng nuôi của trang trại và một ít của gia trại

Đàn vịt thiện có 588 nghìn con, giảm 8,8% so cùng kỳ, vịt mái đẻ chiếm 32,8% tổng đàn Gia trại vịt chiếm tỷ trọng cao về số đầu con và hộ nuôi chiếm tỷ trọng thấp Số lượng ngan, ngỗng trong tỉnh nuôi tại gia đình chủ yếu tận dụng thức ăn thừa, rơi vãi, chưa phải sản xuất hàng hóa Số lượng đàn ngan hiện có 20,5 nghìn con, giảm 28,7% so cùng kỳ; riêng đàn ngỗng nuôi tiêu khiển trong gia đình là chính, hiệu quả kinh tế không cao nên số lượng ít, hiện có 3,3 nghìn con, giảm 7,9% so cùng kỳ

2.2 Lâm nghiệp

Tình hình lâm nghiệp của tỉnh 6 tháng đầu năm 2018 chủ yếu tập trung vào công tác chăm sóc, bảo vệ rừng Hiện nay kế hoạch trồng rừng theo các chương trình, dự án (Bảo vệ và phát triển rừng, Ứng phó biến đổi khí hậu, Qũy BVPTR) đang chuẩn bị các khâu thiết kế, làm đất và ươm cây giống cho kế hoạch trồng rừng năm 2018 Diện tích rừng trồng được chăm sóc ước đạt 853,9 ha, bằng 74,1%

so cùng kỳ (năm 2 có 276,1 ha, năm 3 có 577,8 ha)

Quản lý chặt việc khai thác gỗ rừng tự nhiên, dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên trên phạm vi cả nước theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XI Trong 6 tháng, khối lượng gỗ khai thác từ rừng trồng ước thực hiện 400 m3, bằng 95,5% so cùng kỳ

Trong 6 tháng trên địa bàn tỉnh đã tổ chức 1.322 đợt truy quét với 8.348 lượt người tham gia, phát hiện bắt giữ 255 vụ, giảm 140 vụ so cùng kỳ; trong đó: phá rừng trái phép 27 vụ, giảm 13 vụ, khai thác gỗ và lâm sản 11 vụ, giảm 17 vụ, mua bán và vận chuyển lâm sản trái phép 94 vụ, giảm 59 vụ

2.3 Thủy sản

Tổng sản lượng thuỷ sản tháng 6 năm 2018 ước đạt 9,91 nghìn tấn, tăng 14,3%

so cùng kỳ, trong đó sản lượng thủy sản khai thác đạt 8,99 nghìn tấn, tăng 10,7%

và sản lượng nuôi trong đạt 0,92 nghìn tấn, tăng 67,2% Nâng tổng sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm 2018ước đạt 53,99 nghìn tấn, tăng 12,5% so cùng kỳ năm trước, trong đó: sản lượng thủy sản khai thác đạt 50,22 nghìn tấn, tăng12,5%, do sản lượng khai thác biểnđầu năm tăng mạnh; sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 3,77nghìn tấn, tăng 12,7% so cùng kỳ;Nguyên nhân tăng do phát triển theo hướng tăng năng lực hoạt động và mua sắm mới tàu thuyền, ngư lưới cụ, máy định vị,

Trang 15

máy dò cá…Tính đến nay tổng số tàu thuyền khai thác toàn tỉnh (theo rà soátở các xã phường và kết quả điều tra) hiện có 2.322 chiếc /328.201 CV và 71 chiếc tàu dịch vụ hậu cần/22.635 CV Từ đầu năm đến nay thời tiết thuận lợi, lượng cá nổi xuất hiện nhiều, nhất là các đàn cá cơm, cá nục phù hợp với nghề khai thác pha xúc, lưới vây của tỉnh Lượng cá xuất hiện nhiều từ tháng 2, đỉnh điểm là tháng 3 đến tháng 4, sau đó giảm dần trong quý II Sản lượng nuôi trồng đạt 3,77 nghìn tấn, tăng 12,7% so cùng kỳ, trong đó chủ yếu sản lượng tôm đạt 2,32 nghìn tấn, tăng 20,4%, chủ yếu là tôm thẻ chân trắng và thời tiết 6 tháng đầu năm thuận lợi hơn, tình hình dịch bệnh ở tôm tuy có xảy ra nhưng không đáng kể

Sản xuất giống thủy sản ước đạt 16,2 tỷ con,tăng 47,2% so cùng kỳnăm 2017; trong đó tôm sú giống đạt 3,7 tỷ con, tăng 30,7%, tôm thẻ giống đạt 12,4 tỷ con, tăng 53,3%, Trong 6 tháng đầu năm nay, ở miền Tây Nam bộ thời tiết thuận lợi cho thả tôm nuôi tôm nên nhu cầu giống tăng cao so cùng kỳ;Hiện nay nhằm giảm thiểu rủi ro trong sản xuất, các cơ sở sản xuất và kinh doanh tôm giống thủy sản

có xu hướng liên kết lại với nhau, mỗi nhóm dao động từ 2 - 4 cơ sở cùng nhau hợp tác nhập tôm bố mẹ chủ động sản xuất, tránh tình trạng khan hiếm nguồn Nauplius vào vụ nuôi chính, đồng thời cùng nhau hỗ trợ đầu ra Hiện mô hình hợp tác trên đang rất hiệu quả và có xu hướng nhân rộng trên địa bàn tỉnh

3 Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2018 ước tăng 11,9% so cùng

kỳ 2017, cao hơn so với chỉ số của 6 tháng cùng kỳ năm trước (tăng 7,72%) Một

số sản phẩm chiếm tỷ trọng cao về giá trị sản xuất như: muối biển, tôm đông lạnh, nước yến, thạch nha đam, may mặc, có chỉ số sản phẩm tăng nhiều so với cùng

kỳ, tác động chỉ số sản xuất chung toàn ngành tăng trưởng đạt khá so với cùng kỳ Tính theo giá so sánh 2010, giá trị sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2018 ước đạt 3274tỷ đồng, tăng 13,02% so với cùng kỳ 2017

3.1 Đánh giá chỉ số sản xuất công nghiệp phân theo ngành kinh tế

+ Công nghiệp khai khoáng chiếm tỷ trọng 15,9% (cơ cấu giá trị tăng thêm toàn ngành), chỉ số sản xuất ngành công nghiệp khai khoáng 6 tháng đầu năm ước tăng 60,2% so cùng kỳ; trong đó, chủ yếu do ngành khai thác muối biển tăng cao (hơn 5,1 lần) so 6 tháng cùng kỳ năm trước và ngược lại hoạt động khai thác đá xây dựng có sự giảm sút nhiều, chỉ bằng 68,3% cùng kỳ

+ Công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng 57,6% (cơ cấu giá trị tăng thêm toàn ngành), chỉ số sản xuất ước 6 tháng đầu năm tăng 10,43% so cùng kỳ

Trang 16

Trong đó: Sản xuất chế biến thực phẩm ước tăng 7,76%, bao gồm các ngành: chế biến thủy sản (tôm đông lạnh) tăng 33,2%; chế biến nhân điều giảm 17,8%; sản xuất tinh bột mì giảm 34,5%; sản xuất đường (rs) tăng 20,5%; chế biến thực phẩm khác (muối chế biến) đạt xấp xỉ cùng kỳ Sản xuất đồ uống ước tăng 8,12% so cùng kỳ, trong đó sản xuất bia đóng lon ước tăng 3,62% Sản xuất vật liệu xây dựng ước bằng 99,7% so cùng kỳ, trong đó: sản xuất xi măng giảm 4,3%; sản xuất gạch đất nung giảm 4,7%; sản xuất đá granite ước tăng 11,8% Ngành dệt (SX khăn bông, sợi) ước tăng 19,4% Ngành sản xuất trang phục ước tăng 51,4% so cùng kỳ

+ Công nghiệp sản xuất và phân phối điện… chiếm tỷ trọng 18,9% (cơ cấu giá trị tăng thêm toàn ngành), chỉ số sản xuất dự tính 6 tháng đầu năm giảm 4,8% Trong đó, sản xuất điện giảm 8,44%; phân phối điện tăng 11,45% so cùng kỳ; sản xuất điện gió đạt 14 triệu kwh (chiếm 4,6% sản lượng điện sản xuất trên địa bàn) + Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải chiếm tỷ trọng 7,6% (cơ cấu giá trị tăng thêm toàn ngành), chỉ số sản xuất ước tăng 7,9% so cùng kỳ; trong đó hoạt động khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 8,8% cùng kỳ; xử lý thu gom rác thải tăng 5,3% so cùng kỳ

3.2 Đánh giá sản xuất sản phẩm chủ yếu so với cùng kỳ

Bia các loại trong 6 tháng đầu năm ước đạt 33,6 triệu lít, tăng 3,6% so cùng kỳ; đây là sản phẩm có giá trị gia tăng đóng góp nhiều trong cơ cấu ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và toàn ngành công nghiệp (chiếm 14% tỷ trọng giá trị tăng thêm toàn ngành), sản lượng sản xuất chưa phát huy hết công suất thiết kế.Tôm đông lạnh là sản phẩm chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị toàn ngành,

có tác động nhiều đến tốc độ tăng trưởng chung, do sản lượng tiêu thụ đạt khá và nguyên liệu đáp ứng đủ sản xuất ước đạt 3.173,4 tấn, tăng 33,2% so cùng kỳ Khai thác muối các loại những tháng đầu năm 2018 tình hình thời tiết thuận lợi, đồng thời giá muối được nâng cao (bình quân 900~1.000 đ/kg gấp 2 lần cùng kỳ), vì vậy sản lượng muối khai thác ¬ước đạt 256 ngàn tấn, tăng hơn 5 lần so cùng kỳ (Quý I tăng 5,62 lần, Quý II tăng 4,88 lần so cùng kỳ) Xi măng các loại ước đạt 80,4 ngàn tấn, giảm 4,3% so cùng kỳ Mặc dù đã vào cao điểm thi công xây dựng nhiều công trình nhưng sản phẩm xi măng vẫn có mức tiêu thụ chậm Hạt điều khô vẫn còn gặp khó khăn trong việc tìm vốn phục vụ dự trữ nguyên liệu và thị trường tiêu thụ, ước đạt 1.368 tấn, giảm 17,8% so cùng kỳ Sản xuất đ¬ường ước đạt 21,4 ngàn tấn, tăng 20,5% so cùng kỳ, sản lượng mía nguyên liệu đủ đáp ứng theo nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp Sản xuất tinh bột mỳước đạt 7.061tấn,

Trang 17

giảm 36,3% so cùng kỳ, do nguyên liệu không đáp ứng đủ cho sản xuất là nguyên nhân giảm sản xuất so cùng kỳ năm trước Sản xuất gạch nung các loại ước đạt 48,2 triệu viên, giảm 4,67% so cùng kỳ, xu hướng sử dụng gạch không nung thay thế là yếu tố làm giảm sản xuất sản phẩm.Sản phẩm may mặc ước đạt 2.187 ngàn sản phẩm, tăng 66% so cùng kỳ, trong đó hàng gia công xuất khẩu chiếm hơn 80%

4 Hoạt động dịch vụ

Ước tính tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2018đạt 9.758,4 tỷ đồng, tăng 13,53% so với cùng kỳ năm 2017 Trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 519,0 tỷ đồng, tăng 7,44%; kinh tế Tập thể đạt 10,7 tỷ đồng, tăng 9,53%; kinh tế tư nhân đạt 3.495,7 tỷ đồng, tăng 13,82%; kinh tế cá thể đạt 5.636,4 tỷ đồng, tăng 14,07%; kinh tế có vồn đầu tư nước ngoài đạt 96,6

tỷ đồng, tăng 7,01%

II Quy mô sản xuất của dự án

II.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên thế giới

và Việt Nam

1 Trên thế giới

Từ những năm giữa thế kỷ XX, các nước phát triển đã quan tâm đến việc xây dựng các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nhằm thúc đẩy sáng tạo khoa học công nghệ giúp cho kinh tế phát triển Đầu những năm 80, tại Hoa Kỳ đã có hơn 100 khu khoa học công nghệ Ở Anh quốc, đến năm 1988 đã có 38 khu vườn khoa học công nghệ với sự tham gia của hơn 800 doanh nghiệp Phần Lan đến năm 1996 đã có 9 khu khoa học nông nghiệp công nghệ cao Phần lớn các khu này đều phân bố tại nơi tập trung các trường đại học, viện nghiên cứu để nhanh chóng ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới và kết hợp với kinh nghiệm kinh doanh của các doanh nghiệp để hình thành nên một khu khoa học với các chức năng cả nghiên cứu ứng dụng, sản xuất, tiêu thụ và dịch vụ

Năm 2015, 98% nông dân Pháp sử dụng Internet để phục vụ công việc nhà nông, như cập nhật thông tin thời tiết, tình hình sản xuất nông nghiệp, biến động của thị trường nông sản, thực hiện các giao dịch ngân hàng qua mạng

Hiện nay, châu Âu đặc biệt khuyến khích xu hướng áp dụng công nghệ cao trong nông nghiệp với chương trình Chính sách nông nghiệp chung (PAC) Theo

số liệu mới đây, có nhiều nông dân sử dụng Internet để điền đơn xin trợ giúp của PAC Tuy nhiên, so với người làm nông bên kia bờ Đại Tây Dương (Mỹ, Canada),

Trang 18

việc ứng dụng Internet tại châu Âu còn hạn chế, đắt đỏ và chưa thực sự phổ cập Ngoài ra, các nguyên nhân như hạ tầng cơ sở kém, độ tuổi nông dân tại "lục địa già" khá cao (chỉ có 6% nông dân châu Âu ở độ tuổi dưới 35) dẫn tới hạn chế khả năng ứng dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp

Trong tương lai, châu Âu sẽ tiếp tục phát triển hạ tầng kỹ thuật số, khi nhiều thanh niên bày tỏ họ sẵn sàng làm công việc nhà nông, nhưng không phải với điều kiện như những năm 90 của thế kỷ trước Từ nay đến 2020, Liên minh châu Âu (EU) hy vọng toàn bộ các gia đình châu Âu được kết nối Internet với tốc độ đường truyền tối thiểu là 30 MB/giây

Ngoài ra, vấn đề đào tạo nông dân tiếp cận các công cụ kỹ thuật số nhằm phục vụ hiện đại hóa các trang trại, tạo thêm việc làm và thành lập mới các doanh nghiệp tại khu vực nông thôn, cũng đang được lưu tâm

Bên cạnh các nước tiên tiến, nhiều nước và khu vực lãnh thổ ở châu Á cũng

đã chuyển nền nông nghiệp theo hướng số lượng là chủ yếu sang nền nông nghiệp chất lượng, ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ tự động hoá, cơ giới hoá, tin học hoá… để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, an toàn, hiệu quả Tiêu biểu như các nước thuộc khu vực Đông Á và Đông Nam Á như Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan… Đặc biệt, từ những năm 1990, Trung Quốc đã rất chú trọng phát triển các khu NNCNC, đến nay đã hình thành hơn 405 khu NNCNC, trong đó có 1 khu NNCNC cấp quốc gia, 42 khu cấp tỉnh và 362 khu cấp thành phố Ngoài ra, còn hàng ngàn cơ sở ứng dụng công nghệ cao trên khắp đất nước Những khu này đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nền nông nghiệp hiện đại của Trung Quốc

Sản xuất tại các khu NNCNC đạt năng suất kỷ lục Ví dụ như Israel năng suất cà chua đạt 250 – 300 tấn/ha, bưởi đạt 100 – 150 tấn/ha, hoa cắt cành 1,5 triệu cành/ha… đã tạo ra giá trị sản lượng bình quân 120.000 – 150.000 USD/ha/năm Riêng ở Trung Quốc đạt giá trị sản lượng bình quân 40 – 50.000 USD/ha/năm, gấp 40 - 50 lần so với các mô hình trước đó Chính vì vậy, sản xuất nông nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ cao và sự phát triển các khu NNCNC đã và đang trở thành mẫu hình cho nền nông nghiệp tri thức thế kỷ XXI Việc ứng dụng công nghệ cao trong canh tác cây trồng trên thế giới bao gồm:

- Công nghệ lai tạo giống: Đây là công nghệ được ứng dụng phổ biến trong việc nghiên cứu và chọn tạo các giống cây trồng, vật nuôi có những tính chất ưu việt cho hiệu quả, năng suất cao hoặc có khả năng chống chịu cao đối với điều

Trang 19

kiện ngoại cảnh tác động, góp phần đẩy nhanh sự phát triển về mặt năng suất và chất lượng cây trồng, vật nuôi, có nhu cầu ứng dụng cao trong nông nghiệp

- Công nghệ nuôi cấy mô thực vật In vitro: Công nghệ nuôi cấy mô được hơn

600 công ty lớn trên thế giới áp dụng để nhân nhanh hàng trăm triệu cây giống sạch bệnh Thị trường cây giống nhân bằng kỹ thuật cấy mô vào khoảng 15 tỷ USD/năm và tốc độ tăng trưởng khoảng 15%/năm

- Công nghệ trồng cây trong nhà kính: Hiện nay được gọi là nhà màng do việc sử dụng mái lớp bằng màng polyethylen thay thế cho kính (green house) hay nhà lưới (net house) Trên thế giới, công nghệ trồng cây trong nhà kính đã được hoàn thiện với trình độ cao để canh tác rau và hoa Ứng với mỗi vùng miền khác nhau, những mẫu nhà kính và hệ thống điều khiển các yếu tố trong nhà kính cũng

có sự thay đổi nhất định cho phù hợp với điều kiện khí hậu của từng vùng, trong

đó hệ thống điều khiển có thể tự động hoặc bán tự động Tuy nhiên đối với các vùng thường chịu nhiều tác động của thiên tai như bão lũ, động đất thì lại cần cân nhắc kỹ giữa lợi ích và chi phí do rủi ro

- Công nghệ trồng cây trong dung dịch (thủy canh), khí canh và trên giá thể: Trong đó các kỹ thuật trồng cây thủy canh (hydroponics) dựa trên cơ sở cung cấp dinh dưỡng qua nước (fertigation), kỹ thuật khí canh (aeroponics) – dinh dưỡng được cung cấp cho cây dưới dạng phun sương mù và kỹ thuật trồng cây trên giá thể - dinh dưỡng chủ yếu được cung cấp ở dạng lỏng qua giá thể trơ Kỹ thuật trồng cây trên giá thể (solid media culture) thực chất là biện pháp cải tiến của công nghệ trồng cây thủy canh, vì giá thể này được làm từ những vật liệu trơ và cung cấp dung dịch dinh dưỡng để nuôi cây

- Công nghệ tưới nhỏ giọt: Công nghệ này phát triển rất mạnh mẽ ở các nước

có nền nông nghiệp phát triển, đặc biệt ở các nước mà nguồn nước tưới đang trở nên là những vấn đề quan trọng chiến lược Thông thường hệ thống tưới nhỏ giọt được gắn với bộ điều khiển lưu lượng và cung cấp phân bón cho từng loại cây trồng, nhờ đó tiết kiệm được nước và phân bón

Trong chăn nuôi và thuỷ sản:

- Đưa các giống vật nuôi qua thụ tinh nhân tạo và truyền cấy phôi vào sản xuất: Với phương pháp này có thể giúp duy trì được nguồn giống tốt và tiện lợi cho việc nhập khẩu giống nhờ việc chỉ phải vận chuyển phôi đông lạnh thay

vì động vật sống, tuy nhiên giá thành tương đối cao và đòi hỏi kỹ thuật phức tạp

Trang 20

- Sử dụng các giống cá qua biến đổi bộ nhiễm sắc thể và chuyển đổi giới tính ở cá: Giúp nâng cao năng suất nuôi trồng Ví dụ chỉ có cá tầm cái đẻ trứng và cá đực Tilapia lớn nhanh hơn cá cái Cá đực Tilapia chuyển thành cá cái khi xử lý với oestrogen Loại cá đực này khi giao phối với cá cái bình thường sẽ

đẻ ra toàn cá đực do đó tăng năng suất nuôi trồng khá cao

- Hỗ trợ dinh dưỡng vật nuôi: Các công nghệ biến đổi gen ngày càng được áp dụng rộng rãi nhằm cải thiện dinh dưỡng vật nuôi như thông qua việc biến đổi thức ăn để vật nuôi dễ tiêu hoá hơn, hoặc là kích thích hệ thống tiêu hoá

và hô hấp của vật nuôi để chúng có thể sử dụng thức ăn hiệu quả hơn

- Công nghệ trong chẩn đoán bệnh và dịch tễ: Các loại kít thử dựa trên nền tảng công nghệ sinh học cao cho phép xác định các nhân tố gây bệnh và giám sát tác động của các chương trình kiểm soát bệnh ở mức độ chính xác cao mà trước đây chưa hề có Dịch tễ phân tử đặc trưng bởi các mầm bệnh (vi rút, vi khuẩn, ký sinh và nấm) có thể xác định được nguồn lây nhiễm của chúng thông quan phương pháp nhân gen

2 Tại Việt Nam

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện cả nước có khoảng 4.000 doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp trong tổng số 600.000 doanh nghiệp hiện có Với số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp còn quá ít thì việc tham gia của các “đại gia” vào ngành được kỳ vọng sẽ mở ra “chương mới” cho nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam trong thời gian tới

Nông nghiệp công nghệ cao sắp trở thành lĩnh vực “nóng” về thu hút vốn đầu tư trong năm 2017, với sự vào cuộc mạnh mẽ của các doanh nghiệp, ngân hàng và sự quyết tâm cao độ của Chính phủ

Về vốn đầu tư:

Ngày 2/2/2017, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn nút khởi động sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tại Nông trường VinEco Hà Nam, do Tập đoàn Vingroup đầu tư Hành động này cho thấy, Chính phủ đặc biệt coi trọng việc tìm giải pháp giải bài toán nông nghiệp Việt Nam, đó là một nền nông nghiệp sạch, thông minh, ứng dụng công nghệ cao, sản xuất theo yêu cầu thị trường Được biết, tại tỉnh Hà Nam, rất nhiều doanh nghiệp tư nhân lớn đã rót tiền

tỷ đầu tư vào nông nghiệp Theo Tập đoàn Vingroup, Dự án VinEco Hà Nam có diện tích 180 ha với tổng số vốn đầu tư gần 300 tỷ đồng, trong đó, khu cánh đồng mẫu lớn rộng gần 130 ha, khu nhà kính Israel công nghệ cao quy mô 5 ha và các

Trang 21

khu vực hỗ trợ sản xuất Dự kiến, cuối năm 2017, VinEco Hà Nam sẽ hoàn thiện

hạ tầng, triển khai sản xuất trên toàn bộ diện tích

Không chỉ Vingroup, năm qua, rất nhiều “đại gia” đổ vốn vào nông nghiệp, đơn cử như: Hòa Phát, Trường Hải, FPT… Với cách làm nông hoàn toàn mới, những “con sếu đầu đàn” này được kỳ vọng sẽ thay đổi hoàn toàn cung cách sản xuất nông nghiệp và chất lượng nông sản nước ta

Sau tỉnh Hà Nam, nhiều địa phương cũng đang cấp tập lên kế hoạch mạnh tay gọi vốn đầu tư vào nông nghiệp

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường nhận xét: “Chưa bao giờ xã hội có sự quan tâm đến nông nghiệp như hiện nay, khi hàng loạt doanh nghiệp, tập đoàn lớn đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn Sự chuyển hướng này mang theo khoa học công nghệ, tiến bộ kỹ thuật phát triển nông nghiệp công nghệ cao Điều này kỳ vọng cho sự bứt phá mạnh mẽ của nền nông nghiệp nước ta”

Về chính sách

Phát triển nông nghiệp công nghệ cao không chỉ giải bài toán về thị trường,

về biến đổi khí hậu, mà còn giải bài toán về thực phẩm bẩn, căn bệnh nhức nhối của toàn xã hội hiện nay

Tuy nhiên, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cũng thừa nhận, các chính sách

để phát triển nông nghiệp công nghệ cao hiện nay còn nhiều bất cập, đặc biệt là chính sách đất đai “Chúng ta mong muốn có nhiều khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao thì đòi hỏi mọi chính sách phải đồng bộ, mà bắt đầu từ việc tháo

gỡ nút thắt tích tụ đất đai phải là một cuộc cách mạng cho nông nghiệp”, Bộ trưởng cho biết

Liên quan đến vấn đề này, Thủ tướng cho biết, Chính phủ sẽ báo cáo Quốc hội việc sửa Luật Đất đai 2013 như kiến nghị của các địa phương, yêu cầu quy hoạch sử dụng đất ở các địa phương theo hướng mở rộng hạn điền, quy hoạch các điều kiện để hỗ trợ phát triển nông nghiệp công nghệ cao như chế độ nước tưới, kênh mương, hỗ trợ hạ tầng…, giảm thủ tục rườm rà Thủ tướng cũng yêu cầu, các bộ, ngành phải suy nghĩ, nghiên cứu hướng vào nông nghiệp công nghệ cao

để sửa đổi chính sách Ngay trong tháng 3 tới đây, phải chỉnh sửa xong nghị định

về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn Bên cạnh đó, vấn đề mở rộng hạn điền, tích tụ ruộng đất, vốn là vấn đề khó khăn nhất, nên ngay trong buổi làm việc đầu năm mới, Thủ tướng Nguyễn Xuân

Trang 22

Phúc đã nhấn mạnh, phải nâng gói hỗ trợ cho đầu tư nông nghiệp công nghệ cao

từ 60.000 tỷ đồng đến 100.000 tỷ đồng, giao Ngân hàng Nhà nước trong thời gian tới vận động các ngân hàng có gói tín dụng hỗ trợ cần thiết để thực hiện vấn đề này

Theo Phó chủ tịch Thường trực LienVietPostBank Nguyễn Đức Hưởng, nếu mỗi ngân hàng cùng góp sức tham gia, việc thực hiện gói tín dụng này không hề khó khăn Hiện LienVietPostBank cũng đã công bố, sẽ dành gói tín dụng 10.000

tỷ đồng với các ưu đãi về lãi suất, để tham gia chương trình này

3 Những thuận lợi và khó khăn của sản xuất nông nghiệp công nghệ cao

Nông nghiệp công nghệ cao sẽ giúp nông dân chủ động trong sản xuất, giảm

sự lệ thuộc vào thời tiết và khí hậu do đó quy mô sản xuất được mở rộng

Việc ứng dụng hiệu ứng nhà kính để tạo ra môi trường thuận lợi nhất cho sản xuất nông nghiêp cũng như ứng dụng các thành tựu công nghệ khác để tạo ra các

cơ sở trồng trọt chăn nuôi hiện đại, không phụ thuộc vào thời tiết, khí hậu đã khiến nông dân chủ động được kế hoạch sản xuất của mình cũng như khắc phục được tính mùa vụ nghiệt ngã trong sản xuất nông nghiệp Do không phụ thuộc mùa vụ

và thời tiết nên có thể cho ra đời các sản phẩm nông nghiệp trái vụ có giá bán cao hơn và do đó đạt lợi nhuận cao hơn các sản phẩm chính vụ Không những vậy, hiệu ứng nhà kính với các môi trường nhân tạo được tạo ra đã tránh được các rủi

ro thời tiết, sâu bệnh và hiển nhiên là năng xuất cây trồng vật nuôi trên một đơn

vị đất đai sẽ tăng lên, sản phẩm nhiều lên thì tất yếu thị trường được mở rộng hơn

Trang 23

Mặt khác môi trường nhân tạo thích hợp với các giống cây trồng mới có sức chịu đựng sự bất lợi của thời tiết cao hơn đồng thời chống chịu sâu bênh lớn hơn Điều này thích hợp với các vùng đất khô cằn không thuận với sản xuất nông nghiệp như vùng trung du, miền núi, vùng bị sa mạc hóa v.v Ở Việt Nam đã xuất hiện các mô hình trồng chuối, hoa lan, cà chua, rau quả công nghệ cao theo các tiêu chuẩn VIETGAP và GLOBALGAP… ở các tỉnh như Lâm đồng, Lào Cai, các tỉnh miền Tây Nam Bộ đã bước đầu đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản, EU

Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao giúp giảm giá thành sản phẩm, đa dạng hóa thương hiệu và cạnh tranh tốt hơn trên thị trường

Khi áp dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp sẽ hạn chế được sự lãng phí về tài nguyên đất, nước do tính ưu việt của các công nghệ này như công nghệ sinh học, công nghệ gen, công nghệ sản xuất phân hữu cơ và tự động hóa sản xuất Với việc tiết kiệm chi phí và tăng năng xuất cây trồng vật nuôi, quá trình sản xuất rễ rằng đạt được hiệu quả theo quy mô và do đó tạo ra nền sản xuất lớn với lượng sản phẩm đủ để cung cấp cho quá trình chế biến công nghiệp Cũng nhờ thương mại hóa được sản phẩm mà các thương hiệu sản phẩm được tạo ra và cạnh tranh trên thị trường Lợi thế về quy mô và chi phí thấp là các yếu tố đảm bảo các sản phẩm nội địa cạnh tranh được với hàng ngoại nhập ít nhất ở chi phí vận chuyển

và maketing Những ví dụ về trồng rau công nghệ cao trong nhà lưới ở TP HCM

đã cho thấy doanh thu đạt 120 – 150 triệu đồng/ha, gấp 2 – 3 lần canh tác theo lối truyền thống Các mô hình trồng hoa - cây cảnh ở Đà Lạt và chè ô long ở Lâm Đồng cũng cho thấy dây truyền sản xuất khép kín cây giống, ươm, chăm sóc, thu hoạch trong nhà lưới với hệ thống tưới phun sương, tưới nhỏ giọt theo tiêu chuẩn Israel đã cho năng xuất và chất lượng sản phẩm hơn hẳn cách sản xuất truyền thống , sử dụng màng phủ Tại Bà Rịa - Vũng Tàu, Vĩnh Phúc, Hà Nội… đã xây dựng nhiều mô hình sản xuất giống cây, chăn nuôi lợn, gà quy mô công nghiệp theo công nghệ Nhật Bản đã và đang mang lại những hiệu quả to lớn, giúp người sản xuất có thu nhập gấp 2 thậm chí là gấp nhiều lần so với sản xuất quảng canh

hộ gia đình truyền thống

Cùng với đó là sự tham gia của các tập đoàn, công ty và các doanh nghiệp lớn đầu tư ngày càng nhiều vào lĩnh vực này: Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai, Tập đoàn Hòa Phát và mới đây là tập đoàn Vingroup đầu tư vào hơn 1000ha sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tại Vĩnh Phúc (rau, hoa) đã minh chứng cho sự phát triển đúng đắn của loại hình nông nghiệp này, và trong tương lai không xa sẽ còn

Trang 24

3.2 Những khó khăn

Theo mục tiêu đề ra, đến năm 2020, cả nước có 200 doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, 10 khu nông nghiệp công nghệ cao Tuy nhiên, theo ông Ngô Tiến Dũng, Tổng thư ký Hiệp hội Nông nghiệp công nghệ cao, hiện

cả nước mới chỉ có 22 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao, trong số hàng ngàn doanh nghiệp nông nghiệp Nguyên nhân là, các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn về vốn và ưu đãi đầu tư công nghệ, trong khi đây lại là lĩnh vực đòi hỏi chi phí đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn lâu

Vì vậy, để tạo được sức lan tỏa, cũng như sự vào cuộc mạnh mẽ của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này, cần có chính sách thu hút đầu tư hấp dẫn hơn Trong thời gian tới, để các doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao phát triển mạnh mẽ hơn nữa, cần tập trung những vấn đề trọng tâm sau:

Thứ nhất, phải có cơ chế ưu đãi cao nhất về thuế, đất đai, hạ tầng, tín dụng Thậm chí, có thể ban hành những chính sách ưu đãi đặc biệt cho doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này trong một thời gian nhất định

Thứ hai, phải nhanh chóng lấp đầy khoảng trống đầu tư trong lĩnh vực nghiên cứu sinh học, nghiên cứu ứng dụng công nghệ Đầu tư về khoa học - công nghệ cho nông nghiệp hiện rất thấp (năm 2015 khoảng 0.3% GDP; năm 2020 ước đạt 0,5% GDP)

Thứ ba, phải ban hành quy chuẩn kỹ thuật và chứng nhận về sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao Đồng thời, nhãn mác sản phẩm phải ghi đầy đủ xuất xứ nguyên liệu đầu vào

Một khi quy định về nhãn mác hàng hóa không còn nhập nhèm, sản phẩm công nghệ cao có lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp mới dám bỏ vốn đầu tư

Thứ tư, cần có chính sách đào tạo lại lao động cho những vùng đưa công nghệ cao vào nông nghiệp Nếu doanh nghiệp đứng ra đào tạo trực tiếp thì phải

có chính sách hỗ trợ kinh phí đào tạo, đồng thời có chính sách đi kèm để giải quyết lao động dư thừa

Thực tiễn nhiều năm và ở nhiều ngành đã cho chúng ta những bài học đắt giá khi thiếu nhân lực Đã có rất nhiều chương trình, dự án rủng rỉnh tiền bạc, đất đai, thậm chí chính sách và hành lang pháp lý khá hoàn chỉnh, nhưng lại thiếu chiến lược phát triển nhân lực cho chính ngành sản xuất đó và vì thế rủi ro rất cao

Điểm lại về các cơ sở đào tạo nhân lực nông nghiệp công nghệ cao ở nước

ta đang hết sức chắp vá Ở đó thiếu một sự hợp tác điều phối vĩ mô giữa các trường

Trang 25

đại học đào tạo về nông nghiệp tích hợp cùng với các ngành khoa học kỹ thuật công nghệ khác để chuẩn bị nhân lực lãnh đạo quản lý, khoa học kỹ thuật như mong muốn của Chính phủ

So sánh về điều kiện tự nhiên để làm nông nghiệp công nghệ cao, chúng ta hơn hẳn Israel, Nhật Bản nhưng chúng ta thiếu nhân lực Ngay cả doanh nghiệp nông nghiệp Nhật Bản qua Việt Nam để làm nông nghiệp công nghệ cao cũng gặp khó khăn về nguồn nhân lực được đào tạo

Theo số liệu tuyển sinh của Bộ GD-ĐT, ngành nông lâm nghiệp và thủy sản

từ năm 2010 đến 2014 chỉ chiếm 2-5% tổng quy mô tuyển sinh trung cấp chuyên nghiệp Đến nay, số trường trung cấp liên quan đến đào tạo nông nghiệp còn hơn

10 trường Ít ỏi thế, vậy ai sẽ là người trực tiếp chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp công nghệ cao cho nông dân? Ai là người lao động trực tiếp trong doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao?

Nhật Bản vốn là một nước công nghiệp, vậy mà cách đây không lâu, Thủ tướng Shinzo Abe trong chính sách phát triển kinh tế của mình đặt ra mục tiêu tăng gấp đôi giá trị xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp và mong muốn tăng gấp đôi thu nhập của nông dân Nhật Bản trong vòng 10 năm

Trung Quốc hiện có khoảng 300 trường đào tạo nghề nông nghiệp, trong đó

có 134 trường cao đẳng, người học trong các cơ sở này được miễn học phí và có thể được trợ cấp từ chính phủ

Quyết tâm và sự cam kết của Thủ tướng trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao đang nhen nhóm hi vọng có một cuộc cách mạng trong sản xuất nông nghiệp, để đời sống nông dân được ấm no hơn Sắp tới đây sẽ có nhiều dự án, đề

án về nông nghiệp công nghệ cao được đệ trình các cấp quản lý Nhưng cần lưu ý rằng, không nên chạy theo dự án, mà phải đầu tư tốt hơn, bài bản hơn cho nguồn nhân lực

Câu hỏi tìm đâu ra nhân lực công nghệ cao luôn phải được trả lời thỏa đáng

Đó mới là chìa khóa để biến ước mơ nông nghiệp công nghệ cao thành sự thật

II.2 Quy mô đầu tư của dự án

Trang 26

III Địa điểm và hình thức đầu tư xây dựng dự án

III.1 Địa điểm xây dựng

Dự án đầu tư “Trung tâm nghiên cứu cây trồng công nghệ cao” được thực

hiện tại Thôn Hậu Sanh, xã Phước Hữu, Huyện Ninh Phước, Tỉnh Ninh Thuận Diện tích thửa đất: 89,664 m2

III.2 Hình thức đầu tư

Dự án “Trung tâm nghiên cưu cây trồng công nghệ cao” đầu tư theo hình thức xây dựng mới

III Nhu cầu sử dụng đất và phân tích các yếu tố đầu vào của dự án

III.1 Nhu cầu sử dụng đất của dự án

Trang 27

TT Nội dung Diện tích (m²) Tỷ lệ (%)

III.2 Phân tích đánh giá các yếu tố đầu vào đáp ứng nhu cầu của dự án

 Giai đoạn xây dựng

- Nguyên vật liệu phục vụ công tác xây dựng được bán tại địa phương

- Một số trang thiết bị và máy móc chuyên dụng được cung cấp từ địa phương Ninh Thuận và các tỉnh lân cận

 Giai đoạn hoạt động

- Các máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất của dự án sau này tương đối thuận lợi Dự án được áp dụng công nghệ Irael và sản xuất hữu cơ an toàn

- Khi dự án đi vào hoạt động, các công trình hạ tầng trong khu vực dự án sẽ đáp ứng tốt các yêu cầu để dự án đi vào sản xuất Nên việc vận chuyển nguyên liệu và sản phẩm sẽ rất thuận lợi

- Điều kiện cung cấp nhân lực trong giai đoạn sản xuất: Sử dụng chuyên gia kết hợp với công tác đào tạo tại chỗ cho lực lượng lao động của khu sản xuất

Trang 28

CHƯƠNG III PHÂN TÍCH QUI MÔ, DIỆN TÍCH XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN KỸ THUẬT

CÔNG NGHỆ

I Phân tích qui mô, diện tích xây dựng công trình

Trang 29

Công nghệ trồng rau thủy canh trên kệ tháp chữ A II.1 Giải pháp công nghệ

II.1.1 Công nghệ nhà màng

Với ưu thế nhà màng (nhà kính) giúp che mưa, nhà giúp ngăn ngừa sâu bệnh, giúp chủ động hoàn toàn trong việc tạo ra điều kiện sống tối ưu cho cây trồng để đạt được năng suất và chất lượng tối ưu Công nghệ nhà màng áp dụng cho dự án

sẽ được triển khai trên các loại cây trồng: rau, hoa và gia vị Đồng thời nhà có thể trồng được tất cả các loại rau, quả quanh năm, đặc biệt các loại rau khó trồng ngoài trời mùa mưa và hạn chế sâu bệnh,… Chính vì vậy việc lựa còn công nghệ nhà màng, nhà lưới là rất phù hợp với điều kiện canh tác nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao

 Phân biệt nhà màng và nhà lưới: Nhà màng là nhà trên mái được bao phủ bởi màng polyethylene, xung quanh che lưới ngăn côn trùng Nhà lưới là mái và xung quang bao phủ bằng lưới ngăn côn trùng

 Dự án sử dụng Kiểu nhà màng: Kiểu nhà Gotic, thông gió mái cố định Nhà màng sử dụng trồng dưa lưới, quả trên giá thể và trên đất, có hệ thống tăng cường khung nhà để treo đỡ cho rau ăn quả

Trang 30

 Diffusion 50%: Khuyếch tán ánh sáng 50%, tạo ra ánh sáng khuyếch tán đồng đều trong nhà màng, cho phép ánh sáng đến với mọi cây trồng bên trong

Lưới ngăn côn trùng

 Khẩu độ thống gió mái che bằng lưới có kích thước lỗ 25 mesh (tương đương 0,7mm)

 Bốn vách nhà màng che bằng lưới chống côn trùng với kích thước lỗ 50mesh (50 lỗ cho 1 inch dài), phần lưới bốn vách nhà màng tiếp đất bên dưới khổ 1.5m sẽ được lắp đặt màng bằng sợi plastic dệt được may liền với phần lưới chống côn trùng

 Lưới nhôm Aluminet phản xạ nhiệt và cắt nắng Hệ thống lưới nhôm di động giảm sự gia nhiệt trong nhà màng và che bớt nắng giảm cường độánh sáng trong nhà màng Lưới nhôm được chế tạo từ sợi nhân tạo phủ nhôm, được dệt

 Xoắn kép, mức cắt nắng 60% Lưới nhôm vừa là vật liệu cách nhiệt, vừa là vật liệu giảm cường độánh sáng trong nhà màng, được sử dụng trong những thời điểm nắng nóng để giảm nhiệt độ tăng cao trong nhà màng Hệ thống màng lưới nhôm cắt nắng được đóng mở nhờ hệ thống mô tơ và cơ khí truyền động, vận hành bằng cách đóng mở mô tơ

Thanh nẹp màng PE và lưới ngăn côn trùng

Thanh âm khoá định hình bằng thép mạ kẽm pre-galvanized, được thiết kế đồng bộ với kết cấu khung nhà màng, cùng với nẹp giữ bằng các lò xo thép bọc nhựa định hình zic-zac được thiết kế đồng bộ, đảm bảo nẹp giữ lưới ngăn côn trùng và màng PE căng, thẳng, kín

Hệ thống tăng cường treo đỡ cây (chỉ cung cấp cho nhà màng trồng rau ăn quả)

 Hệ thống treo đỡ cây cho nhà màng là hệ thống treo đỡ cây tiên tiến cho các cây trồng đảm bảo ứng dụng được các phương pháp canh tác tiên tiến trong nhà màng Toàn bộ hệ thống treo đỡ cây được lắp dựng cho cây trồng từ khi cây còn rất nhỏ và hướng bố trí lắp đặt cho hệ thống này theo chiều từđông sang tây

và nằm ở hướng bắc của nhà màng nhằm tránh sự che khuất ánh sáng mặt trời giữa các cây trồng Ngoài việc tiết kiệm không gian, rau quảđược trồng theo phương pháp này sẽ tạo điều kiện dễ dàng cho việc thu hoạch và làm giảm đi tỷ

lệ hao hụt bởi vì làm cho quả không bị tiếp xúc với đất

Trang 31

 Chất lượng quả và tốc độ tăng trưởng khi áp dụng hệ thống này rất cao do quả không va chạm và không cọ xát với các quả của cây khác trồng bên cạnh

 Một lợi ích nữa của hệ thống này sẽ tạo điều kiện cung cấp nhiều ánh sáng mặt trời cho nhà màng với tác dụng phân phối tối ưu của ánh sáng cho xung quanh cây trồng Sử dụng hệ thống treo đỡ cho cây trồng làm giảm chiều cao của cây trong quá trình sinh trưởng, kéo dài thời gian sinh trưởng của cây để đạt được sản lượng thu hoạch cao

Quạt đối lưu

Quạt đối lưu trong nhà màng trồng rau ăn lá và nhà màng trồng rau ăn quả có tác dụng tăng cường thông gió cưỡng bức Có 02 quạt đối lưu sẽ được lắp đặt cho

1 khẩu độ nhà Các quạt đối lưu này có thể sử dụng như là các quạt thông gió tổng thể, thông gió song song hoặc như là các quạt điều hoà tái lưu thông không khí trong nhà màng Các quạt này là quạt đa chức năng, cung cấp dòng khí thổi ra mỏng nhưng lại có hiệu quả sâu và rất hiệu dụng trong các điều kiện làm việc khác nhau tạo điều kiện tối đa trong việc đẩy khí nóng trong nhà màng ra bên ngoài và thu nhận không khí mát ngoài trời

Hệ thống quạt đối lưu sẽđược vận hành tựđộng bằng công tắc đóng mở

Chức năng và lợi ích của quạt đối lưu:

 Đảm bảo tốt cho dịch chuyển khí

 Tạo ra được lượng không khí dịch

chuyển và tái tạo không đổi trong

nhà màng

Trang 32

II.1.2 Hệ thống tưới nhỏ giọt

Để đạt được độ đồng đều tối đa, mỗi máng giá thể trồng rau ăn quả sẽ được trang bị 02 đường ống nhỏ giọt Uniram, đường kính 17mm, khoảng cách đầu nhỏ giọt gắn chìm trong ống là 20cm, lưu lượng đầu nhỏ giọt 1.6L/h; Hệ thống Uniram vận hành tự động theo khối lượng được điều khiển bởi bộ điều khiển tưới và dinh dưỡng trung tâm

Đặc tính kỹ thuật của hệ thống tưới nhỏ giọt:

 Mê cung“Turbonet" kép trong đầu nhỏ giọt với đường chảy rộng

 Đầu nhỏ giọt gắn trong, có hệ số CV (hệ số khác biệt) rất nhỏ

 Vật liệu chế tạo: ống dẫn: nhựa LDPE; Đầu nhỏ giọt: nhựa PE; Màng ngăn: Silicon

 Là hệ thống bù áp, duy trì một lưu lượng không đổi trong khi áp lực làm việc tại đầu vào thay đổi (trong khoảng áp lực làm việc khuyến cáo), đảm bảo phân phối chính xác lượng nước và phân bón cho cây trồng

 Hệ thống chống hiện tượng siphon ngăn ngừa nước bẩn từ các dòng chảy ngược xâm nhập vào đường ống nhỏ giọt

 Chống rò rỉ (CNL) loại trừ rò rỉ và hiệu ứng điền đầy lại đường ống, tăng hiệu quả khi tưới lặp lại nhiều lần

 Hệ thống tự rửa lọc với diện tích ngăn lọc lớn tăng khả năng chống bít kín đầu nhỏ giọt, và làm cho Uniram tăng độ bền sử dụng khi dùng lượng nước tưới ít

Hệ thống phân phối thứ cấp của công nghệ tưới nhỏ giọt

Trang 33

 Những đầu ống nhỏ giọt tại máng giá thể sẽ được nối với ống nhánh phân phối PVC, các ống nhánh PVC này chạy dọc theo đường bê tông đi lại trong nhà màng

 Hệ thống ống nhánh phân phối sẽ được nối với ống chính PVC qua các bộ van phân phối Ống chính và ống nhánh chôn dưới đất, chỉ có bộ van phân phối nổi trên mặt đất

Bộ van phân phối của công nghệ tưới nhỏ giọt

 Nhà màng sẽ được cung cấp 01 bộ van, bao gồm các phụ kiện và một van đóng mở bằng điện có chức năng điều chỉnh giảm áp lực nước

Hệ thống ống phân phối chính của công nghệ tưới nhỏ giọt

 Ống phân phối chính PVC sẽ được chôn dưới đất song song với đường bê tông trong nhà màng Ống phân phối chính bắt đầu từ hệ thống trung tâm trong phòng điều khiển tưới

Bịt cuối ống của công nghệ tưới nhỏ giọt

 Để giữ cho ống nhỏ giọt và đầu nhỏ giọt sạch qua các mùa vụ, mỗi ống nhỏ giọt sẽ được cung cấp một đầu bịt cuối ống

Hệ thống tưới làm mát Coolnet:

 Vòi phun Coolnet bao gồm 4 đầu vòi phun tạo thành cụm hình chữ thập

 Lưu lượng vòi phun 22 l/h, (5.5l/h x 4 đầu phun = 22 l/h) dưới áp lực nước 4 bars

 Áp lực nước khuyên dùng: 4 bars Tuy nhiên vòi phun Coolnet vẫn tiếp tục phun sương đều với độ hạt nhỏ (30~90 micron) dưới áp lực nước 3 bar và thấp hơn Đầu nối đầu vào của vòi phun là đầu nối cái, ấn tựđộng làm chặt

Trang 34

 Bộ phận gia trọng giữ cho vòi phun

luôn thẳng

 Van chống rò rỉ áp suất cao

 Áp suất đóng: 2,0 bar

 Áp suất mở : 3,0 bar

 Không bị nhỏ giọt khi ngừng hệ

thống hoặc khi áp suất giảm

 Sử dụng áp lực nước cấp từ bơm của hệ thống Coolnet, nước đi qua ống chính PVC và bộ van điện phân phối tại mỗi đơn vị nhà màng, qua ống nhánh phân phối PVC đến các đường ống ra vòi phun LDPE màu xám trắng áp lực 4Bar

 Các vòi phun Coolnet sẽđược gắn trên thân ống LDPE với khoảng cách 3.2m giữa các đường ống LDPE và 2m giữa các vòi phun dọc trên ống

 Hệ thống Coolnet sẽ được lắp đặt chung với 01 hộp sensor đo ẩm độ và nhiệt

độ trong nhà màng Hệ thống Coolnet vận hành bằng chương trình lập cho bộ điều khiển tưới tự động theo thông số độ ẩm và nhiệt độ trong nhà màng

Hệ thống tưới phân bón; bộđịnh lượng tựđộng Fertikit:

Một hệ thống thùng chứa phân hoàn chỉnh sẽ được cung cấp, đặt trong phòng điều khiển tưới và bao gồm:

 1 thùng 500L cho loại phân bón“A”

 1 thùng 500L cho loại phân bón“B”

 1 thùng 500L cho loại phân bón “C”

Tất cả các thùng chứa phân đều được cung cấp với phụ kiện van, lọc, đầu nối ống PVC có gioăng đệm và ống chuyên dụng nối đến 03 kênh hút phân của bộđịnh lượng phân bón Fertikit bypass

Bộđịnh lượng phân bón Fertikit bypass có 03 kênh hút phân được nối với bộđiều khiển NMC Pro Chúng ta có thể lập chương trình tưới phân cho từng van khu vực với tỷ lệ và khối lượng phân bón xác định

Việc tưới phân sẽđược kiểm soát bằng độ pH vàđộ dẫn điện EC Các đầu dò cảm biến pH và EC sẽđo thông số của dung dịch tưới và báo về bộđiều khiển trung

Ngày đăng: 05/03/2020, 17:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w