1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong dạy học địa lí lớp 11 theo định hướng phát triển năng lực

108 282 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ LỚP 11 THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC .... Hoạt động trải nghiệm

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGÔ THU HƯƠNG

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 11 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGÔ THU HƯƠNG

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 11 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

Ngành: LL & PP dạy học bộ môn Địa lí

Mã số: 8140111

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN PHƯƠNG LIÊN

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các tài liệu trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng và không sao chép Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào

Tác giả

Ngô Thu Hương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học sư phạm Thái Nguyên và

2 tháng làm luận văn nghiên cứu về đề tài: “Tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong dạy học Địa lí 11 THPT theo định hướng phát triển năng lực” Em xin bày

tỏ lòng cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ của các thầy, cô giảng viên, cán bộ các phòng, ban chức năng Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện đề tài này

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Phương Liên - người đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cho em, giúp em rất nhiều trong quá trình làm

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2019

Tác giả

Ngô Thu Hương

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 6

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của đề tài 9

7 Cấu trúc đề tài 9

NỘI DUNG 10

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ LỚP 11 THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 10

1.1 Cơ sở lí luận của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm theo định hướng phát triển năng lực 10

1.1.1 Một số khái niệm 10

1.1.2 Đặc trưng của học qua hoạt động trải nghiệm trong trường học 12

1.1.3 Vai trò của giáo viên dạy Học tập qua trải nghiệm 12

1.1.4 Hệ thống các năng lực có thể hình thành và phát triển cho HS qua tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học Địa lí 11 13

1.1.5 Một số hình thức, phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học ở nhà trường phổ thông 15

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong dạy học Địa lí 11 THPT 20

1.2.1 Đặc điểm tâm sinh lí và năng lực hoạt động của học sinh THPT 20

Trang 6

1.2.2 Đặc điểm môn Địa lí 11, căn cứ để tổ chức hoạt động trải nghiệm trong

dạy học trên lớp 25

1.2.3 Thực trạng tổ chức hoạt động trải nghiệm cho HS ở một số trường THPT tỉnh Quảng Ninh 26

Tiểu kết chương 1 28

Chương 2 THIẾT KẾ MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC TRÊN LỚP THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH MÔN ĐỊA LÍ LỚP 11 THPT 29

2.1 Nguyên tắc của thiết kế hoạt động trải nghiệm môn địa lí 29

2.2 Quy trình thiết kế và tổ chức hoạt động trải nghiệm 31

2.3 Lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học qua trải nghiệm trong chương trình địa lí 11 32

2.4 Thiết kế một số giáo án dạy học trải nghiệm trong dạy học trên lớp môn địa lí 11 theo định hướng phát triển năng lực người học 45

Tiểu kết chương 2 76

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 77

3.1 Mục đích yêu cầu của thực nghiệm 77

3.2 Nguyên tắc thực nghiệm 77

3.3 Tổ chức thực nghiệm sư phạm 78

3.3.1 Đối tượng thực nghiệm 78

3.3.2 Thời gian thực nghiệm 78

3.3.3 Phương pháp thực nghiệm 79

3.4 Nội dung thực nghiệm 79

3.5 Kết quả thực nghiệm 79

3.5.1 Đối với học sinh 79

3.5.2 Kết quả đối với giáo viên 83

Tiểu kết chương 3 84

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85

1 Kết luận 85

2 Kiến nghị 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 PHỤ LỤC

Trang 7

TCH : Toàn cầu hóa

TCHKT : Toàn cầu hóa kinh tế THPT : Trung học phổ thông

NCKH : Nghiên cứu khoa học

KN : Kĩ năng GQVĐ : Giải quyết vấn đề

TN : Trải nghiệm

TG : Thế giới

HĐ : Hoạt động BTV : Biên tập viên

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Đối tượng thực nghiệm 78

Bảng 3.2 a Kết quả thực nghiệm (giá trị tuyệt đối) 80

Bảng 3.2 b Kết quả thực nghiệm (Sau khi xử lí số liệu) 80

Bảng 3.3 a Kết quả thực nghiệm (giá trị tuyệt đối) 81

Bảng 3.3.b Kết quả thực nghiệm (Sau khi xử lí số liệu) 81

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 So sánh điểm trung bình giữa các lớp thực nghiệm và đối chứng -

chủ đề TCH, KVH 82 Hình 3.2 So sánh điểm trung bình giữa các lớp thực nghiệm và đối chứng bài 11

Đông Nam Á 82

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế - xã hội của nước ta đã và đang đạt được nhiều thành tựu quan trọng được thế giới ghi nhận Sau hơn 30 năm đổi mới vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế có bước tiến vượt bậc Kết quả đáng tự hào này có sự góp phần quan trọng của những thành công trong đổi mới căn bản và toàn diện của ngành Giáo dục nước nhà Một trong các mục tiêu cải cách giáo dục quan trọng của nước ta hiện nay là chuyển mạnh từ giáo dục truyền thụ kiến thức sang giáo dục phát triển năng lực người học để những con người mới ngày càng đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ của công cuộc đổi mới trong giai đoạn cách mạng công nghiệp 4.0

Thực tế giáo dục của nhiều nước đã chứng minh giáo dục muốn phát triển tốt năng lực người học thì giáo dục cần coi trọng xây dựng và thực hiện các hoạt động trải nghiệm đa dạng cho đối tượng người học HĐTN được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như hoạt động câu lạc bộ, tổ chức trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại, các hội thi, hoạt động giao lưu, hoạt động nhân đạo, hoạt động tình nguyện, hoạt động cộng đồng, sinh hoạt tập thể, lao động công ích, sân khấu hóa (kịch, thơ, hát, múa rối, tiểu phẩm, kịch tham gia, ), thể dục thể thao, tổ chức các ngày hội, Mỗi hình thức hoạt động trên đều mang ý nghĩa giáo dục nhất định Đặc biệt qua các hoạt động trải nghiệm học sinh có cơ hội thể hiện bản thân, phát huy các năng lực vốn có và hình thành phát triển các năng lực mới Hơn thế HĐTN đưa học sinh đến những miền tri thức mới mà ở đó học sinh là chủ thể của các kiến thức, học sinh không chỉ hiểu mà còn biết vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống bằng chính các năng lực của bản thân và năng lực tập thể, năng lực nhóm khi các

em có điều kiện hợp tác với nhau

Thế giới thật rộng lớn và ngày càng đa dạng Nhưng nếu người học chỉ đọc, nghe

và nói thì mới chỉ đang nhìn ngắm thế giới mà chưa phải là một phần của thế giới Trải nghiệm bằng nhiều giác quan, ở nhiều góc độ, bằng cách hóa thân, bằng cách sống thử trong các phần khác nhau của thế giới dù chỉ là trong không gian tạo dựng thì vẫn mang lại cho người học những cảm xúc thực và lắng đọng Mỗi môn học trong nhà trường phổ thông đều có nhiều cơ hội khác nhau cho HS trải nghiệm Địa lý là một môn học

về các vùng đất mà ở đó yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa hòa quyện với nhau tạo nên các đặc trưng và sức hấp dẫn riêng của môn học Đặc biệt là địa lí lớp 11- Địa

Trang 11

lí thế giới Những tiết học địa lí giàu tính trải nghiệm thì đều lấy được nhiều ấn tượng, nhiều xúc cảm của người học, từ đó hình hành ở người học mong muốn tìm tòi, khám phá và thấy yêu nhiều hơn các vùng đất trên thế giới Thế giới quan, nhân sinh quan,

kĩ năng sống, năng lực và phẩm chất của người học theo đó mà hoàn thiện hơn Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, học sinh được lực chọn môn học Đây thực sự là một thách thức cho các thầy cô dạy Địa lí khi mà học sinh sẽ cân nhắc môn học tự chọn có hay không môn Địa lí Vì vậy để tạo nên sức hút cho bộ môn thì mỗi thầy cô dạy Địa lí đều cần ý thức được phải đổi mới phương pháp dạy học, hình thức dạy học như một nhiệm vụ sống còn Theo cách đó xây dựng và thiết kế các HĐTN trong nhiều tiết học là một đổi mới bắt buộc và tất yếu để môn địa lí thực sự được HS lựa chọn học nhiều hơn Tuy vậy do HĐTN ngoài thực địa khó thực hiện thường xuyên

vì nhiều nguyên nhân nên cơ hội TN của HS ít TN ngay trong các tiết học trong không gian trường học là giải pháp tăng cơ hội TN cho học sinh, đồng thời TN trên lớp cũng khiến cho môn học gần gũi với thực tiễn hơn, khiến cho các giờ học hấp dẫn, thu hút hơn

Hoạt động trải nghiệm trong trường phổ thông ở tỉnh Quảng Ninh bước đầu được các nhà trường quan tâm bằng cách tổ chức học gắn với các chuyến đi thực tế, trong các tiết học trên lớp giáo viên đã chú ý lồng ghép một số dạng trải nghiệm đơn giản vào các tiết học Tuy vậy tổ chức dạy học trải nghiệm trong bộ môn Địa lí 11 ở trường phổ thông ở địa bàn Quảng Ninh chưa có nghiên cứu cụ thể và tổng thể

Với tinh thần đó tôi lựa chọn đề tài “Tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong dạy học Địa lí 11 THPT theo định hướng phát triển năng lực”

2 Lịch sử nghiên cứu

Vấn đề học tập qua trải nghiệm là một vấn đề không còn mới trên thế giới, nhưng

ở Việt Nam vấn đề này còn khá mới mẻ Bước đầu đã có một số luận văn, đề tài nghiên cứu về tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh THPT trong bộ môn Địa lí song chưa có đề tài nào trình bày cụ thể về thiết kế và tổ chức hoạt động trải nghiệm ở bộ môn Địa lí 11 Để hoàn thiện đề tài tôi có tìm hiểu các tài liệu về học tập trải nghiệm trên thế giới và ở Việt Nam như sau:

2.1 Trên thế giới

Lý thuyết hoạt động nghiên cứu về bản chất quá trình hình thành con người, trong

đó lý thuyết hoạt động đã nêu ra một luận điểm cơ bản đã trở thành nguyên tắc “tâm lí hình thành qua hoạt động” nghĩa là, thông qua hành động của chính bản thân con người,

Trang 12

nhân cách mới được hình thành và phát triển Nguyên tắc hoạt động là phương thức tồn tại của con người có ý nghĩa chỉ đạo, định hướng tổ chức các hoạt động giáo dục trong nhà trường Người học có tự lực hoạt động thì mới biến tri thức thành kĩ năng thực sự của bản thân

Lý thuyết tương tác xã hội đã chỉ ra rằng, môi trường xã hội - lịch sử không chỉ

là đối tượng, là điều kiện, phương tiện mà còn là môi trường hình thành tâm lí và nhân cách cho mỗi cá nhân Con người tương tác với môi trường xung quanh sẽ hình thành tâm lí người Vận dụng nguyên tắc ấy trong giáo dục, nhà tâm lí học hoạt động nổi tiếng L.X Vưgoxki cho rằng: trong một lớp học, mỗi giờ học cần coi trọng hoạt động khám phá kiến thức của HS có sự định hướng của GV hơn là hoạt động tự khám phá

Sự khuyến khích của GV và sự cộng tác của các bạn trong lớp sẽ giúp người học phát triển, hoàn thiện tri thức, kĩ năng, kỹ xảo

Lý thuyết học từ trải nghiệm của David A Kolb là một trong những lý thuyết trực tiếp của hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học Trong đó, Kolb đã chỉ ra rằng:

“Học từ trải nghiệm là quá trình học theo đó kiến thức, năng lực được tạo ra thông qua việc chuyển hóa kinh nghiệm học Học từ trải nghiệm gần giống với học thông qua làm nhưng khác ở chỗ nó gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân”.[24] Lý thuyết Học từ trải nghiệm là cách tiếp cận về phương pháp học đối với các lĩnh vực nhận thức Nếu như mục đích của việc dạy học chủ yếu là hình thành, phát triển hệ thống tri thức khoa học, năng lực và hành động khoa học cho mỗi cá nhân thì mục đích hoạt động giáo dục cho mỗi cá nhân người học là hình thành và phát triển giá trị sống, kĩ năng sống và những năng lực chung, những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm Để hình thành và phát triển các hiểu biết khoa học, chúng ta có thể tác động vào nhận thức của người học nhưng để hình thành và phát triển phẩm chất thì người học phải được trải nghiệm thông qua các hoạt động gắn với thực tiễn Trải nghiệm sẽ làm cho việc học trở nên hiệu quả và có giá trị cho người học nếu trải nghiệm có sự định hướng, tư vấn của người dạy

- Quan điểm về vai trò của kinh nghiệm trong giáo dục, đáng chú ý có quan điểm của Nhà khoa học nổi tiếng người Mỹ ở giữa thế kỉ XX, John Dewey Theo ông, học qua trải nghiệm xảy ra khi một người học sau khi tham gia trải nghiệm nhìn nhận lại

và đánh giá, xác định cái gì là hữu ích hoặc quan trong cần nhớ và sử dụng những điều này đề thực hiện các hoạt động khác trong tương lai

Trang 13

- Tại Anh, trong “Chương trình giáo dục phổ thông Anh Quốc” năm 2013, trung tâm Widehorizon thành lập năm 2004 như là niềm hi vọng của giáo dục ngoài trời, trong đó dạy học phiêu lưu - mạo hiểm là một hình thức của trải nghiệm sáng tạo Tầm nhìn sứ mệnh của tổ chức này đơn giản là: mỗi đứa trẻ đều có cơ hội trải nghiệm những tri thức về phiêu lưu mạo hiểm như là một phần được giáo dục trong cuộc đời chúng

Đó cũng chính là một thức của tổ chức các hoạt động sáng tạo cho trẻ em

- Tại Hàn Quốc, trong cuốn “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo” của Bộ khoa học -kĩ thuật và giáo dục Hàn Quốc năm 2009 đã đề cập đến một trong những chương trình đổi mới giáo dục Hàn Quốc là hoạt động trải nghiệm sáng tạo Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động nằm ngoài các hệ thống môn học trong nhà trường; đó là những hoạt động tự chủ, hoạt động câu lạc bộ, hoạt động từ thiện và hoạt động định hướng Hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại Hàn Quốc mang tính thực tiễn rất cao, gắn bó với đời sống cộng đồng, có tính tổng hợp nhiều lĩnh vực giáo dục, không tách rời và phát triển phẩm chất, tư tưởng, ý chí, kĩ năng sống và những năng lực cần hệ thống các môn học trong nhà trường mà có quan hệ tương tác, bổ trợ nhau để hình thành có trong xã hội hiện đại

Tóm lại, từ các nghiên về tâm lí học và giáo dục học cũng như các mô hình học tập trải nghiệm sáng tạo trên thế giới đã và đang khẳng định được vai trò, tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong hình thành và phát triển năng lực học sinh

2.2 Ở Việt Nam

- Nghị quyết Hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã đề cập đến việc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh như là một phương pháp dạy học tích cực trong quá trình dạy học Các hoạt động trải nghiệm sáng tạo sẽ được thiết kế theo chủ đề của từng môn học và theo hướng tích hợp liên môn Mục đích của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm hình thành

và phát triển nhân cách, phẩm chất cho người học; các giá trị sống, kĩ năng sống và những năng lực cần có của người học để đáp ứng những yêu cầu con người trong xã hội hiện đại Hình thức và phương pháp tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cũng phong phú linh hoạt hơn, mở hơn về thời gian, không gian, quy mô, đối tượng tham gia, tạo điều kiện tối đa cho người học tham gia trải nghiệm và phát huy tính

Trang 14

tích cực, chủ động sáng tạo Hơn hết, người học được xác định là trung tâm của quá trình trải nghiệm sáng tạo

- Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể Việt Nam sau năm 2018 cũng đề cập đến tám lĩnh vực học tập chủ chốt và hoạt động trải nghiệm Hoạt động trải nghiệm sẽ được phát triển từ các hoạt động ngoài giờ lên lớp, ngoại khóa và được thiết kế theo các chuyên đề từ chọn và được tổ chức ở cả ba cấp học Hoạt động trải nghiệm có thể được tổ chức bằng nhiều hình thức phong phú như: giao lưu, trò chơi, câu lạc bộ tham quan thực tế, diễn đàn, Từ đó, học sinh được phát triển các kĩ năng, năng lực cũng như cảm xúc, phẩm chất đạo đức, nhờ việc vận dụng những kinh nghiệm và kiến thức của bản thân vào thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo Như vậy, có thể thấy hoạt động trải nghiệm chính là một nội dung quan trọng trong định hướng đổi mới giáo dục phổ thông ở Việt Nam giai đoạn sau 2018

- Ở nước ta cũng có một công trình nghiên cứu, bài viết về lí luận dạy học cũng

đề cập đến vấn đề tổ chức các hoạt động trải nghiệm như:

+ Tác giả Lê Huy Hoàng, trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong bài viết “Một

số vấn đề về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông mới” có đề cập đến quan niệm về hoạt động trải nghiệm sáng tạo Theo tác giả, hoạt động trải nghiệm sáng tạo sẽ giúp người học hình thành và phát triển được năng khiếu,

sở thích, đam mê phẩm chất, năng lực, nhận ra chính mình cũng như khuynh hướng phát triển của bản thân, ngoài ra còn bộc lộ và điều chỉnh cá tính riêng của mỗi người học

+ Tác giả Phạm Minh Hạc từng chỉ ra rằng, thông qua hoạt động của chính cá nhân, bản thân mới được hình thành và phát triển toàn diện Con người có tự hoạt động trải nghiệm mới biến kiến thức, kinh nghiệm mà xã hội tích lũy được thành kinh nghiệm của bản thân

+ Tác giả Đinh Thị Kim Thoa, trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã trình bày đến sự khác biệt giữa học thông qua làm và học từ trải nghiệm, học đi đôi với hành, trong bài viết “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo góc nhìn từ lí thuyết và học từ trải nghiệm” Trong đó, “học từ trải nghiệm gần giống với học thông qua làm nhưng khác ở chỗ là nó gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân” [19]

+ Tác giả Đỗ Ngọc Thống trong bài nghiên cứu “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

- kinh nghiệm quốc tế và vấn đề của Việt Nam” đã kết luận rằng: “Lâu nay, chương

trình giáo dục phổ thông Việt Nam đã có hoạt động giáo dục nhưng chưa được chú ý

Trang 15

đúng mức, chưa hiểu đúng vị trí, vai trò và tính chất của các hoạt động giáo dục Chưa xây dựng được một chương trình hoạt động đa dạng, phong phú và chi tiết với đầy đủ các thành tổ của một chương trình giáo dục Chưa có hình thức đánh giá và sử dụng kết quả các hoạt động giáo dục một các phù hợp” [20]

Hiện nay “Hoạt động trải nghiệm” đã được một số giáo viên nghiên cứu và đưa vào giảng dạy; giáo viên Mai Thị Tuyết Nhung - Trường THPT C Nghĩa Hưng (Nam Định) đã nghiên cứu và nêu lên 5 bước giúp tổ chức thành công học trải nghiệm sáng tạo Đề tài cô nghiên cứu có tên “Học tập trải nghiệm sáng tạo trong chương trình Địa

lí lớp 10-THPT”; giáo viên Cao Thị Hoa đã nghiên cứu luận văn thạc sĩ ngành sư phạm Địa lí với đề tài” Tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo trong dạy học trên lớp môn Địa lí lớp 10 THPT”

Tóm lại, từ các nghiên cứu trên của thế giới và Việt Nam và nhiều nghiên cứu khác

về việc học từ trải nghiệm trên thế giới đã và đang khẳng định được vai trò, tầm quan trọng

của hoạt động trải nghiệm trong hình thành và phát triển năng lực học sinh

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục tiêu

Trên cơ sở vận dụng lí luận và thực tiễn của dạy học trải nghiệm môn Địa lí, thiết kế một số hoạt động trải nghiệm trong dạy học trên lớp môn Địa lí lớp 11 THPT theo định hướng phát triển năng lực nhằm phát triển và hoàn thiện kiến thức, kĩ năng, thái độ cho học sinh đáp ứng đổi mới giáo dục và thực tiễn cuộc sống trong thời kì hội nhập thế giới

3.2 Nhiệm vụ

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về dạy học trải nghiệm môn Địa lí lớp

11 THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh

- Đề xuất quy trình thiết kế hoạt động trải nghiệm Địa lí

- Thiết kế một số hoạt động trải nghiệm Địa lí lớp 11 THPT

- Thực nghiệm sư phạm và đánh giá kết quả thực nghiệm

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức dạy học trải nghiệm môn Địa lí lớp 11

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: Nghiên cứu Tổ chức dạy học trải nghiệm môn Địa lí lớp 11

- Thời gian: đề tài được thực hiện từ tháng 9 năm 2018 tháng 5 năm 2019

- Không gian nghiên cứu: 3 trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Trang 16

1 Trường TH, THCS & THPT Văn Lang, Thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh

2 Trường TH, THCS & THPT Lê Thánh Tông, Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

3 Trường THPT Đông Thành, Thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Quan điểm nghiên cứu

Hệ thống các quan điểm chỉ đạo công tác NCKH Nó mang màu sắc triết học Đây là quan điểm có ý nghĩa phương pháp luận cho tất cả các lĩnh vực nghiên cứu khoa học Quan điểm này có tác dụng chỉ đạo, là kim chi nam hướng dẫn con đường tìm tòi NCKH Nó chỉ đạo các PP cụ thể, bao gồm các quan điểm như:

Quan điểm hệ thống: Không một sự vật, hiện tượng nào tồn tại một cách độc lập,

riêng lẻ mà là một bộ phận của toàn thể chứa đựng vật thể ấy Quan điểm hệ thống yêu cầu khi nghiên cứu phải xem xét các đối tượng toàn điện, nhiều mặt nhiều mối quan hệ trong trạng thái vận động và phát triển trong những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể để tìm

ra bản chất và các quy luật vận động của đối tượng Tính hệ thống làm đề tài trở nên logic, thông suốt và sâu sắc Trong đề tài việc thiết kế các hoạt động trải nghiệm sáng tạo môn Địa lí cho học sinh trường THPT được đặt trong vấn đề đổi mới và hoàn thiện phương pháp giảng dạy cho học sinh trong nhà trường THPT và trên quy mô cả nước

Vì vậy cần phải tìm hiểu các mối quan hệ qua lại, các tác động ảnh hưởng giữa các yếu

tố trong một hệ thống và giữa các hệ thống để đánh giá chính xác vấn đề nghiên cứu

Quan điểm lịch sử: Khi nghiên cứu các hiện tượng giáo dục phải tìm hiểu, phát

hiện sự nảy sinh, phát triển của giáo dục trong những thời gian và không gian cụ thể với những điều kiện hoàn cảnh cụ thể để phát hiện ra quy luật tất yếu của quá trình dạy học - giáo dục Vận dụng quan điểm này vào thiết kế các hoạt động trải nghiệm sáng tạo để thấy được những thay đổi của phương pháp giảng dạy trong từng giai đoạn phát triển và xu hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Từ đó đánh giá được

hiện trạng và dự báo xu hướng phát triển trong tương lai

Quan điểm duy vật biện chứng: Phép duy vật biện chứng là cơ sở của mọi nhận

thức khoa học Phép biện chứng gồm hai nguyên lí cơ bản: nguyên lí về mối liên hệ phổ biến của thế giới và nguyên lí về tính phát triển của thế giới Theo đó, nghiên cứu khoa học đòi hỏi phải xem xét các sự vật, hiện tượng trong trạng thái động và biến đổi không ngừng Do vậy trong giáo dục, quan điểm phương pháp luận duy vật biện chứng

Trang 17

để nghiên cứu mối liên hệ phổ biến, quan hệ tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau

giữa các thành tố của hệ thống dạy học

Quan điểm thực tiễn: Tính ứng dụng của vấn đề nghiên cứu Nhận thức của con

người diễn ra trên cơ sở thực tiễn và không ngừng vận động, phát triển Sự vận động

và phát triển của nhận thức diễn ra một cách biện chứng Quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu khoa học giáo dục đòi hỏi nghiên cứu khoa học giáo dục bám sát thực tiễn, phục vụ cho sự nghiệp giáo dục của đất nước Thực tiễn giáo dục là hiện thực khách quan, với những sự kiện và diễn biến phức tạp Nghiên cứu giáo dục là nghiên cứu, khám phá các hiện tượng giáo dục, tìm ra bản chất, quy luật phát triển của chúng, để cải tạo chúng, phục vụ cho mục đích giáo dục con người Thực tiễn giáo dục là nguồn gốc của các đề tài nghiên cứu và cũng là động lực thúc đẩy quá trình triển khai nghiên cứu và là tiêu chuẩn để đánh giá kết quả nghiên cứu giáo dục Như vậy, mọi vấn đề nghiên cứu trong khoa học giáo dục phải xuất phát từ thực tiễn giáo dục và phải phục

vụ hoạt động giáo dục.Quan điểm thực tiễn là luận điểm quan trọng của phương pháp luận, yêu cầu việc thiết kế các hoạt động trải nghiệm phải bám sát sự phát triển của thực tế sinh động Diễn biến hiện thực là diễn biến khách quan, các sự kiện thực tiễn là những gợi ý rất quan trọng cho những ý tưởng, nhu cầu giải quyết những mâu thuẫn của thực tiễn là động lực thúc đẩy quá trình triển khai các hoạt động trải nghiệm sáng tạo Chính vì thế, việc thiết kế các hoạt động trải nghiêm sáng tạo phải xuất phát từ

thực tiễn, phải có ý nghĩa lí luận và thực tiễn

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luật nghiên cứu khoa học là cách thức - con đường thu thập, xử lý thông tin nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu Đề tài sử dụng một số phương pháp sau:

5.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu

Để phân tích và đánh giá tình hình đổi mới phương pháp giảng dạy, cần phải có thông tin về nhiều khía cạnh khác nhau của ngành Cụ thể trong đề tài tác giả thu thập những dữ liệu bằng các văn kiện, văn bản, các báo cáo, các văn bản chính thức, niên giám thống kê và có sự thống nhất về thời gian

5.2.2 Phương pháp phân tích tổng hợp

Trên cơ sở dữ liệu đã thu thập, bằng phương pháp phân tích tổng hợp phân tích tình hình đổi mới phương pháp giảng dạy, hiện trạng của việc áp dụng phương pháp

Trang 18

giảng dạy mới cùng những yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề ra các hoạt động trải nghiệm sáng tạo phù hợp cho học sinh THPT

5.2.3 Phương pháp điều tra xã hội học

Đây là phương pháp kiểm tra độ chính xác của các số liệu đã thu thập được, trên

cơ sở khảo sát tìm hiểu trực tiếp các trường học, khảo sát nhu cầu trải nghiệm của người học và việc đưa các hoạt động trải nghiệm sáng tạo vào thực tiễn

5.2.4 Phương pháp thực nghiệm

Thực nghiệm là một phương pháp thu thập thông tin, được thực hiện bởi việc áp dụng một hoạt động trải nghiệm sáng tạo đã thiết kế cho một lớp học sinh làm thí điểm

Từ đó rút ra kinh nghiệm và hướng phát triển đúng đắn hơn

5.2.5 Phương pháp toán thống kê

Phương pháp toán thống kê được sử dụng để xử lý số liệu thu được từ kết quả điều tra thực tiễn dạy học và thực nghiệm tại các trường phổ thông Từ đó là căn cứ để đưa ra các đánh giá, nhận xét quan trọng của kết quả thực nghiệm cũng như kết quả thực tiễn của đề tài

- Đề xuất một số hoạt động trải nghiệm trong dạy học trên lớp môn Địa lí lớp

11 nhằm phát triển tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho học sinh

- Chương 2: Thiết kế và tổ chức một số hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong dạy học môn địa lí lớp theo định hướng phát triển năng

- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 19

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC

HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 11 THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

1.1 Cơ sở lí luận của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm theo định hướng phát triển năng lực

1.1.1 Một số khái niệm

Dạy học: Các nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng: “Dạy học là toàn bộ các thao

tác có mục đích nhằm chuyển các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các giá trị văn hóa

mà nhân loại đã đạt được hoặc cộng đồng đã đạt được vào bên trong một con người”,

một số khác dựa trên quan điểm phát triển, nhất là phát triển về khoa học và công nghệ

cho rằng “Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định

hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực

tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học” [16]

Trải nghiệm: Theo Тлегенова Т Е trong bài Опыт творческой деятельности

как педагогическая проблема, theo quan điểm của triết học, sự trải nghiệm được hiểu

là kết quả của sự tương tác giữa con người với thế giới khách quan Sự tương tác này bao gồm cả hình thức và kết quả các hoạt động thực tiễn trong xã hội, bao gồm cả kỹ thuật và kỹ năng, cả những nguyên tắc hoạt động và phát triển thế giới khách quan Nhà triết học vĩ đại người Nga Solovyev V.S quan niệm rằng trải nghiệm là kiến thức kinh nghiệm thực tế; là thể thống nhất bao gồm kiến thức và kỹ năng Trải nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa con người và thế giới, được truyền từ thế hệ này sang thế

hệ khác

Một số nhà nghiên cứu sư phạm (Ю.К Бабанский, В.И Бондаревский, А.Н Кузибецкий, М.Р Львов, Э.И Моносзон, М.Н Скаткин…) xem xét thuật ngữ trải nghiệm qua khái niệm “thực hành” (practice), có nghĩa là, xem xét nó trong việc tiến hành quá trình đào tạo, cũng như kết quả của nó Chính vì vậy, M.N Skatkin đã kết luận rằng: “theo nghĩa rộng, trải nghiệm được hiểu là sự thực hành trong quá trình đào

Trang 20

tạo và giáo dục”.[24] Việc phân định giữa trải nghiệm và thực hành, theo ý kiến của Тлегенова Т Е., trải nghiệm mang hàm nghĩa rộng hơn thực hành vì nó đóng một vai trò là nền tảng của tri thức và là tiêu chí để nhận biết sự thật Nói chung, người ta công nhận trải nghiệm là mối quan hệ thực tế giữa chủ thể và đối tượng Ý nghĩa của điều này là chúng ta cố gắng để có các trải nghiệm một cách chủ động, có tính cách mạng

và có ý thức

Hoạt động giáo dục trải nghiệm: là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự

hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn khác nhau của đời sống gia đình, nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình Muốn vậy thì người dạy cần sử dụng nhiều phương pháp trong đó người dạy khuyến khích người học tham gia trải nghiệm thực tế, sau đó phản ánh, tổng kết lại để tăng cường hiểu biết, phát triển kỹ năng, định hình các giá trị sống và phát triển tiềm năng bản thân, tiến tới đóng góp tích cực cho cộng đồng và xã hội

Năng lực: là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện

một hoạt động nào đó” như năng lực tư duy, năng lực tài chính hoặc là “phẩm chất tâm sinh lý và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao như năng lực chuyên môn, năng lực lãnh đạo.Theo cách hiểu khác, Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt Năng lực vừa là tiền đề, vừa là kết quả của hoạt động Năng lực vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy (kinh nghiệm, trải nghiệm)

Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (Bộ giáo dục và đào tạo ngày 27/07/2017), Năng lực là thuộc tính độc đáo của cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể Như vậy có thể hiểu: Năng lực của học sinh là khả năng làm chủ kiến thức, kĩ năng, thái độ phù hợp với lứa tuổi và vận hành chúng một cách hợp lí vào việc thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả các vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống

Trang 21

1.1.2 Đặc trưng của học qua hoạt động trải nghiệm trong trường học

Nội dung học trong hoạt động trải nghiệm rất đa dạng và tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục như: giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục giá trị sống, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục môi trường, giáo dục phòng chồng ma túy, giáo dục phòng chống HIV/AIDS và tệ nạn xã hội, giáo dục các phẩm chất người lao động, nhà nghiên cứu Điều này giúp cho các nội dung giáo dục thiết thực hơn, gần gũi hơn với cuộc sống, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của

HS, giúp các em vận dụng vào trong thực tiên cuộc sông một cách dễ dàng, thuận lợi hơn

Hình thức học qua hoạt động trải nghiệm rất đa dạng: hoạt động trải nghiệm được

tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như trò chơi, hội thi, diễn đàn, giao lưu, du lịch, sân khấu hóa (kịch, thơ, hát, tiểu phẩm, kịch tham gia ), thể dục thể thao câu lạc

bộ, tổ chức các ngày hội, các công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật Mỗi một hình thức hoạt động trên đều tiềm tàng trong nó những khả năng giáo dục nhất định Nhờ các hình thức tổ chức đa dạng, phong phú mà việc giáo dục học sinh được thực hiện một cách tự nhiên, sinh động, nhẹ nhàng, hấp dẫn, không gò bó và khô cứng, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý cũng như nhu cầu, nguyện vọng của học sinh Trong quá trình thiết kế, tổ chức, đánh giá các hoạt động trải nghiệm, cả giáo viên lần học sinh đều có

cơ hội thể hiện sự sáng tạo của mình làm tăng thêm tính hấp dẫn, độc đáo của các hình thức tổ chức hoạt động

Học qua trải nghiệm là quá trình học tập tích cực và hiệu quả: hoạt động trải nghiệm tạo cơ hội cho học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo của bản thân học sinh Nó có khả năng huy động sự tham gia tích cực của học sinh vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động: từ thiết kế hoạt động đến chuẩn bị, thực hiện

và đánh giá kết quả hoạt động phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và khả năng của bản thân; tạo cơ cho các em được trải nghiệm, được bày tỏ quan điểm, ý tưởng; được đánh giá

và lựa chọn ý tưởng hoạt động, được thể hiện, tự khẳng định bản thân, được tự đánh giá và đánh giá kết quả hoạt động của bản thân của nhóm mình và của bạn bè Từ đó hình thành và phát triển cho các em những giá trị sống và các năng lực cần thiết

1.1.3 Vai trò của giáo viên dạy Học tập qua trải nghiệm

Trang 22

Vai trò của người dạy Học tập qua trải nghiệm là một quá trình hàm chứa nhiều mối liên hệ phức tạp, gồm sự cân bằng chú ý của người học đối với vấn đề chuyên môn, vừa cân bằng được khả năng phản tỉnh về ý nghĩa sâu xa của các quan niệm với

kỹ năng áp dụng chúng Angela Passarelli và Garima Sharma, trường đại học Case Western Reserve University đã nghiên cứu ra một mô hình 4 chức năng mà một nhà giáo dục cần thực hiện, đó là: Người hỗ trợ, Chuyên gia môn học, Người thiết lập và đánh giá tiêu chuẩn, Người huấn luyện viên Vai trò người hỗ trợ: Người dạy giúp người học bám sát kinh nghiệm cá nhân của họ và tự phản tỉnh Họ sử dụng một phong cách quyết đoán nhưng thân thiện, ấm áp để lôi cuốn sự yêu thích của người học, động lực bên trong và kiến thức bản thân bằng hội thoại nhóm nhỏ, tạo ra mối quan hệ cá nhân với học sinh.Vai trò chuyên gia bộ môn: Trong vai trò này, người dạy giúp người học tổ chức và kết nối những phản ánh của họ về kiến thức dựa trên các vấn đề của môn học Phong cách của người dạy ở đây là có thẩm quyền, phản ánh Người dạy dạy bằng ví dụ, làm mẫu và khuyến khích người học tư duy phản biện khi họ tổ chức và phân tích một cách hệ thống kiến thức môn học Các kiến thức này được truyền thông qua bài giảng và sách giáo khoa Vai trò Thiết lập và đánh giá tiêu chuẩn: người dạy đóng vai trò là người thiết lập và đánh giá tiêu chuẩn nên người dạy giúp người học nắm vững được kiến thức và kỹ năng để đáp ứng các yêu cầu học Họ sử dụng một phong cách định hướng kết quả mục tiêu, tạo ra các hoạt động cho người học để đánh giá việc học Vai trò Huấn luyện viên: Trong vai trò là huấn luyện viên, người dạy giúp người học áp dụng kiến thức để đạt được các mục tiêu của mình Họ sử dụng phong cách khuyến khích, hợp tác, thường làm việc 1-1 với từng cá nhân để giúp họ học từ những trải nghiệm trong ngữ cảnh đời sống Họ hỗ trợ người học trong việc lập ra các

kế hoạch phát triển cá nhân và cung cấp các cách thức nhận phải hồi từ phần vừa thực hiện

Vì vậy trong dạy học qua trải nghiệm cần có sự thay đổi của giáo viên bản thân mỗi giáo viên phải thường xuyên học tập, nâng cao trình độ, có vốn hiểu biết và kỹ năng giải quyết các thắc mắc của học sinh này sinh trong quá trình học tập thực tế

1.1.4 Hệ thống các năng lực có thể hình thành và phát triển cho HS qua tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học Địa lí 11

Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể chính thức vừa được Ban Chỉ đạo đổi

mới chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông thông qua ngày 28/7 Những

Trang 23

năng lực chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành,

phát triển:

Năng lực tự chủ và tự học: Tự lực; Tự khẳng định và bảo vệ quyền, nhu cầu chính đáng; Tự kiểm soát tình cảm, thái độ, hành vi của mình; Tự định hướng; Tự học,

tự hoàn thiện

Năng lực giao tiếp và hợp tác: Xác định mục đích, nội dung, phương tiện và thái

độ giao tiếp; Thiết lập, phát triển các quan hệ xã hội, điều chỉnh và hóa giải các mâu thuẫn; Xác định mục đích và phương thức hợp tác; Xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân; Xác định nhu cầu và khả năng của người hợp tác; Tổ chức và thuyết phục người khác; Đánh giá hoạt động hợp tác; Hội nhập quốc tế

Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Nhận ra ý tưởng mới; Phát hiện và làm

rõ vấn đề; Hình thành và triển khai ý tưởng mới; Đề xuất, lựa chọn giải pháp; Thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề; Tư duy độc lập

Những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một

số môn học, hoạt động giáo dục nhất định Đó là:

- Năng lực ngôn ngữ: Sử dụng Tiếng Việt; Sử dụng ngoại ngữ

- Năng lực tính toán: Hiểu biết kiến thức toán học phổ thông cơ bản; Biết cách vận dụng các thao tác tư duy, suy luận, tính toán, ước lượng, sử dụng các công cụ tính toán và dụng cụ đo,…; đọc hiểu, diễn giải, phân tích, đánh giá tình huống có ý nghĩa toán học

- Năng lực tìm hiểu tự nhiên: Hiểu biết kiến thức khoa học; Tìm tòi và khám phá thế giới tự nhiên; Vận dụng kiến thức vào thực tiễn, ứng xử với tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường

- Năng lực tìm hiểu xã hội: Nắm được những tri thức cơ bản về đối tượng của các khoa học xã hội; Hiểu và vận dụng được những cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học xã hội; Nắm được những tri thức cơ bản về xã hội loài người; Vận dụng được những tri thức về xã hội và văn hóa vào cuộc sống

- Năng lực Công nghệ: Thiết kế; Sử dụng; Giao tiếp; Đánh giá

- Năng lực Tin học: Sử dụng và quản lý các phương tiện, công cụ, các hệ thống

tự động hóa của công nghệ thông tin và truyền thông; Hiểu biết và ứng xử phù hợp chuẩn mực đạo đức, văn hóa và pháp luật trong xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức; Nhận biết và giải quyết vấn đề trong môi trường xã hội và nền kinh tế tri thức; Học tập,

tự học với sự hỗ trợ của các hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông;

Trang 24

Giao tiếp, hòa nhập, hợp tác phù hợp với thời đại xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức

- Năng lực thẩm mỹ: Nhận biết các yếu tố thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài, cái chân, cái thiện, cái cao cả); Phân tích, đánh giá các yếu tố thẩm mỹ; Tái hiện, sáng tạo

và ứng dụng các yếu tố thẩm mỹ

- Năng lực thể chất: Sống thích ứng và hài hòa với môi trường; Nhận biết và có các kỹ năng vận động cơ bản trong cuộc sống; Nhận biết và hình thành các tố chất thể lực cơ bản trong cuộc sống; Nhận biết và tham gia hoạt động thể dục thể thao; Đánh giá hoạt động vận động

Những năng lực đặc thù của bộ môn Địa lí cần chú ý trong quá trình thiết kế các

là một số hình thức tổ chức có điều kiện triển khai và phù hợp với dạy học Địa lí trong không gian lớp học:

Trò chơi là là hình thức tổ chức các hoạt động vui chơi với nội dung kiến thức

thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có tác dụng giáo dục "chơi mà học, học mà chơi" Trò chơi còn là một loại hình hoạt động giải trí, thư giãn; là món ăn tinh thần nhiều bổ ích

và không thể thiếu được trong cuộc sống con người nói chung, đối với học sinh nói riêng Trò chơi Trò chơi có thể được sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau của

Trang 25

HĐTN như làm quen, khởi động, dẫn nhập vào nội dung học tập, cung cấp và tiếp nhận tri thức; đánh giá kết quả, rèn luyện các kĩ năng và củng cố những tri thức đã được tiếp nhận, Trò chơi giúp phát huy tính sáng tạo, hấp dẫn và gây hứng thú cho học sinh; giúp học sinh dễ tiếp thu kiến thức mới; giúp chuyển tải nhiều tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau; tạo được bầu không khí thân thiện; tạo cho các em tác phong nhanh nhẹn

Sân khấu tương tác (hay sân khấu diễn đàn) là một hình thức nghệ thuật tương

tác dựa trên hoạt động diễn kịch, trong đó vở kịch chỉ có phần mở đầu đưa ra tình huống, phần còn lại được sáng tạo bởi những người tham gia Phần trình diễn chính là một cuộc chia sẻ, thảo luận giữa những người thực hiện và khán giả, trong đó đề cao tính tương tác hay sự tham gia của khán giả

Mục đích của hoạt động này là nhằm tăng cường nhận thức, thúc đẩy để học sinh đưa ra quan điểm, suy nghĩ và cách xử lý tình huống thực tế gặp phải trong bất kì nội dung nào của cuộc sống Thông qua sân khấu tương tác, sự tham gia của học sinh được tăng cường và thúc đẩy, tạo cơ hội cho học sinh rèn luyện những kĩ năng như: kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề, kĩ năng phát hiện vấn đề, kĩ năng phân tích vấn đề, khả năng sáng tạo khi giải quyết tình huống và khả năng ứng phó với những thay đổi của cuộc sống,

Diễn đàn là một hình thức tổ chức hoạt động được sử dụng để thúc đẩy sự tham

gia của học sinh thông qua việc các em trực tiếp, chủ động bày tỏ ý kiến của mình với thầy cô giáo, cha mẹ, đông đảo bạn bè, nhà trường, và những người lớn khác có liên quan.Thông qua diễn đàn, học sinh có cơ hội bày tỏ suy nghĩ, ý kiến, quan niệm hay những câu hỏi, đề xuất của mình về một vấn đề nào đó có liên quan đến nhu cầu, hứng thú, nguyện vọng của các em Đây cũng là dịp để các em biết lắng nghe ý kiến, học tập lẫn nhau Vì vậy, diễn đàn là một trong những hình thức tổ chức mang lại hiệu quả giáo dục thiết thực như một sân chơi tạo điều kiện để học sinh được biểu đạt ý kiến của mình một cách trực tiếp với đông đảo bạn bè và những người khác Diễn đàn thường được tổ chức rất linh hoạt với những hình thức hoạt động cụ thể, phù hợp với từng lứa tuổi học sinh Mục đích của việc tổ chức diễn đàn là để tạo môi trường, cơ hội cho học sinh được bày tỏ ý kiến về những vấn đề các em quan tâm, giúp các đưa ra những suy nghĩ và hành vi tích cực để khẳng định vai trò và tiếng nói của mình

Hội thi/cuộc thi là một trong những hình thức tổ chức hoạt động lôi cuốn, hấp

dẫn học sinh và đạt hiệu quả cao trong việc tập hợp, giáo dục, rèn luyện và định hướng

Trang 26

giá trị cho tuổi trẻ Hội thi mang tính chất thi đua tích cực để vươn lên đạt được mục tiêu mong muốn thông qua việc tìm ra người/đội thắng cuộc Mục đích tổ chức hội thi/cuộc thi nhằm lôi cuốn học sinh tham gia một cách chủ động, tích cực vào các hoạt động giáo dục của nhà trường; đáp ứng nhu cầu về vui chơi giải trí cho học sinh; thu hút tài năng và sự sáng tạo của học sinh; phát triển khả năng hoạt động tích cực và tương tác của học sinh, góp phần bồi dưỡng cho các em động cơ học tập tích cực, kích thích hứng thú trong quá trình nhận thức Hội thi/cuộc thi có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: Thi vẽ, thi tiểu phẩm, thi thời trang, thi kể chuyện, thi chụp ảnh, thi viết, thi tìm hiểu, thi đố vui, thi giải ô chữ,, thi kể chuyện theo tranh, thi sáng tác bài hát, hội thi học tập, hội thi thời trang, hội thi học sinh thanh lịch, có nội dung giáo dục về một chủ đề nào đó Chính vì vậy, tổ chức hội thi cho học sinh là một yêu cầu quan trọng, cần thiết của nhà trường, của giáo viên trong quá trình tổ chức HĐTN Nội dung của hội thi rất phong phú, bất cứ nội dung giáo dục nào cũng có thể được tổ chức dưới hình thức hội thi/cuộc thi Điều quan trọng khi tổ chức hội thi là phải linh hoạt, sáng tạo khi tổ chức thực hiện, tránh máy móc thì cuộc thi mới hấp dẫn

Phương pháp tổ chức hoạt động sáng tạo trong dạy học phổ thông có nhiều phương pháp phù hợp để thiết kế các HĐTN ngay trong không gian lớp học Trong đó

có một số phương pháp phù hợp với mục tiêu và đối tượng của HĐTN trong môn Địa

lí như:

Phương pháp giải quyết vấn đề (GQVĐ): GQVĐ là một phương pháp giáo dục

nhằm phát triển năng lực tư duy, sáng tạo trong việc GQVĐ của HS Các em được đặt trong tình huống có vấn đề, thông qua việc GQVĐ giúp các em lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp Trong tổ chức HĐTN, phương pháp GQVĐ thường được vận dụng khi HS phân tích, xem xét và đề xuất những giải pháp trước một hiện tượng, sự việc nảy sinh trong quá trình hoạt động

Phương pháp GQVĐ có ý nghĩa quan trọng, phát huy tính tích cực, sáng tạo của

HS, giúp các em có cách nhìn toàn diện hơn trước các hiện tượng, sự việc nảy sinh trong hoạt động, cuộc sống hàng ngày Để phương pháp này thành công thì vấn đề đưa

ra phải sát với mục tiêu hoạt động, kích thích HS tích cực tìm tòi cách giải quyết Đối với tập thể lớp, khi GQVĐ GV phải coi trọng nguyên tắc tôn trọng, bình đẳng, tránh gây ra căng thẳng không có lợi khi giáo dục HS

Sắm vai là phương pháp giáo dục giúp HS thực hành kĩ năng ứng xử, bày tỏ thái

độ trong những tình huống tạo dựng, giả định hoặc trên cơ sở óc tưởng tượng và ý nghĩ

Trang 27

sáng tạo của các em Sắm vai thường không có kịch bản cho trước mà HS hoặc GV tự xây dựng trong quá trình hoạt động Đây là phương pháp giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào cách ứng xử cụ thể mà các em quan sát được Việc

"diễn" không phải là phần quan trọng nhất của phương pháp này mà là xử lí tình huống khi diễn và thảo luận sau phần diễn đó Mục đích của phương pháp trên không phải chỉ

ra cái cần làm mà bắt đầu cho một cuộc thảo luận Để bắt đầu cho một cuộc thảo luận thú vị người sắm vai nên làm một cái gì đó sai, hoặc phải thực hiện nhiệm vụ vô cùng khó khăn Nếu người sắm vai làm đúng mọi chuyện thì chẳng có gì để thảo luận Sắm vai có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành và phát triển các KN giao tiếp cho HS Thông qua sắm vai, HS được rèn luyện, thực hành những KN ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn, tạo điều kiện phát triển

óc sáng tạo của các em, khích lệ thay đổi thái độ và hành vi theo hướng tích cực trước một vấn đề hay đối tượng nào đó về mặt tâm lý học, thông qua các hành vi, cá nhân nhận thức và giải quyết tốt hơn vấn đề của bản thân, vai trò lĩnh hội được trong quá trình sắm vai cho phép HS thích ứng với cuộc sống tốt hơn Trong trò chơi cũng như trong cuộc sống, các em mong muốn có được một vai yêu thích, khi sắm một vai HS bước ra từ chính bản thân mình Điều này trở thành phương tiện để thể hiện nỗi băn khoăn, mong muốn được chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, mối quan tâm,, sự do dự, ngập ngừng, của chính các em Thông qua các vai được sắm trong trò chơi, HS thể hiện các khía cạnh khác nhau trong tính cách của bản thân như: sự ưa thích, tình cảm, sự hiểu biết về nhân vật mà các em đang sắm vai đó và những người bạn đang chơi cùng với hành động của chúng là điều đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa nhiều mặt đối với HS

Trò chơi là tổ chức cho HS tìm hiểu một vấn đề hay thực hiện những hành động,

việc làm hoặc hình thành thái độ thông qua một trò chơi nào đó Đặc thù của trò chơi:

Trò chơi không phải là thật mà là giả vờ như làm một cái gì đó nhưng mang tính chân thật (nhập các vai chơi một cách chân thật, thể hiện động tác, hành vi phù hợp…) Hơn nữa, đây là một hoạt động tự do, tự nguyện không thể gò ép hoặc bắt buộc chơi khi các

em không thích, không đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của chúng Trò chơi được giới hạn bởi không gian và thời gian, có qui tắc tổ chức (luật chơi do nội dung chơi quy định) Đặc thù này sẽ quy định quy mô, số lượng người chơi, điều kiện, vật chất, cũng như xác định tính chất, phương pháp hành động, tổ chức và điều khiển hành vi cũng như những mối quan hệ lẫn nhau của người chơi Trò chơi là một hoạt động mang tính sáng tạo cao, thể hiện ở việc lựa chọn chủ đề chơi, phân vai tạo ra tình huống, hoàn

Trang 28

cảnh chơi, sử dụng phương tiện thay thế trong các trò chơi sáng tạo, lựa chọn các phương thức hành động và phân chia tình huống chơi để giải quyết nhiệm vụ chơi trong những trò chơi có luật

Trò chơi là phương tiện giáo dục và phát triển toàn diện HS, giúp các em nâng cao hiểu biết về thế giới hiện thực xung quanh, kích thích lòng ham hiểu biết, trí thông minh, học cách giải quyết nhiệm vụ Ngoài ra, trò chơi là phương tiện giáo dục phẩm chất nhân cách cho HS Các phẩm chất nhân cách được hình thành thông qua chơi như tính hợp tác, tính kỷ luật, tự chủ, tích cực, độc lập, sáng tạo tính đồng đội, tính tập thể,

sự quan tâm lo lắng đến người khác, thật thà, dũng cảm, kiên nhẫn,… Trò chơi còn là phương tiện giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể lực cho HS, hình thành các KN giao tiếp,

KN xã hội Trò chơi là một phương thức giải trí tích cực, hiệu quả, mang lại sự hồn nhiên, yêu đời, niềm vui, sự hứng khởi cho HS để các em tiếp tục học tập và rèn luyện tốt hơn Về mặt tâm lý học, trong quá trình diễn ra trò chơi tất cả các thành viên của

nhóm đều tham gia hết mình và từ đó các em sẽ được trải nghiệm, bởi vì mỗi cá nhân

cũng như cả nhóm đang sống trong một tình huống khác với những gì các em đã sống trong cuộc sống thực

Làm việc theo nhóm nhỏ là phương pháp tổ chức dạy học - giáo dục, trong đó,

GV bố trí hoặc sắp xếp HS thành những nhóm nhỏ theo hướng tạo ra sự tương tác trực tiếp giữa các thành viên, từ đó HS trong nhóm trao đổi, giúp đỡ và cùng nhau phối hợp làm việc để hoàn thành nhiệm vụ chung của nhóm do GV giao cho Làm việc nhóm có

ý nghĩa rất lớn trong việc:

- Phát huy cao độ vai trò chủ thể, tính tự giác, tích cực, sáng tạo, năng động,

tinh thần trách nhiệm của HS, tạo cơ hội cho các em tự thể hiện, tự khẳng định khả năng của mình và thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao

- Giúp HS hình thành các KN xã hội và phẩm chất nhân cách cần thiết như: KN

GQVĐ, tổ chức, quản lí, hợp tác, có trách nhiệm cao, tinh thần đồng đội, sự ủng hộ cá nhân và khuyến khích tinh thần học hỏi lẫn nhau, sự quan tâm và mối quan hệ khăng khít, xác định giá trị của sự đa dạng và tính gắn kết

- Thể hiện mối quan hệ bình đẳng, dân chủ và nhân văn: tạo điều kiện và cơ hội

bình đẳng cho mỗi cá nhân người học được khẳng định và phát triển Nhóm làm việc

sẽ khuyến khích HS giao tiếp với nhau và như vậy sẽ giúp cho những em ngại ngùng, thiếu tự tin có nhiều cơ hội hòa nhập với lớp học,

Trang 29

Để phương pháp làm việc nhóm thực sự phát huy hiệu quả, GV cần lưu ý một

số vấn đề sau:

1) Thiết kế các nhiệm vụ đòi hỏi sự phụ thuộc lẫn nhau

2) Tạo ra những nhiệm vụ phù hợp với KN và khả năng làm việc nhóm của HS 3) Phân công nhiệm vụ công bằng giữa các nhóm và các thành viên

4) Đảm bảo trách nhiệm của cá nhân

5) Sử dụng nhiều cách sắp xếp nhóm làm việc khác nhau

6) Hướng dẫn HS phương pháp, KN làm việc nhóm (KNLVN)

Tùy theo tính chất và mục đích của từng hoạt động cụ thể cũng như điều kiện, khả năng của các em mà GV có thể lựa chọn một hay nhiều phương pháp phù hợp Điều quan trọng là phương pháp được lựa chọn cần phát huy cao độ tích cực, sáng tạo, vai trò chủ động, của HS và khai thác tối đa kinh nghiệm và kiến thức các em đã có Hoạt động TN hướng đến những phẩm chất và năng lực chung như đã được đưa ra trong Dự thảo Chương trình mới, ngoài ra HĐTN còn có ưu thế trong việc thúc đẩy hình thành ở người học các năng lực đặc thù sau:

+ Năng lực hoạt động và tổ chức hoạt động;

+ Năng lực tổ chức và quản lý cuộc sống;

+ Năng lực tự nhận thức và tích cực hóa bản thân;

+ Năng lực định hướng nghề nghiệp;

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong dạy học Địa

lí 11 THPT

1.2.1 Đặc điểm tâm sinh lí và năng lực hoạt động của học sinh THPT

Học sinh THPT còn gọi là tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Tuổi thanh niên được tính từ 15 đến

Trang 30

25 tuổi, được chia làm 2 thời kì: Thời kì từ 15-18 tuổi: gọi là tuổi đầu thanh niên; Thời

kì từ 18-25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên (thanh niên sinh viên)

Yếu tố ảnh hưởng tới tâm sinh lí và năng lực hoạt động của HS THPT như sự phát triển thể chất, trí tuệ và tác động của hoàn cảnh sống

Hoạt động trí tuệ của các em có thể phát triển tới mức cao Khả năng hưng phấn

và ức chế ở vỏ não tăng lên rõ rệt có thể hình thành mối liên hệ thần kinh tạm thời phức tạp hơn Những phẩm chất ý chí, tư duy ngôn ngữ có điều kiện phát triển mạnh Ở tuổi này, các em có thể tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ: Lứa tuổi học sinh THPT là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển trí tuệ Do cơ thể các em đã được hoàn thiện, đặc biệt là hệ thần kinh đã phát triển mạnh tạo thuận lợi cho sự phát triển các năng lực trí tuệ Tri giác và cảm giác của các em đã đạt tới mức độ của người lớn Quá trình quan sát gắn liền với tư duy và ngôn ngữ Khi thiết kế các hoạt động trải nghiệm GV cần tính đến đặc điểm này của HS để tạo nên các tình hướng kích thích sự tư duy, sáng tạo của HS Tuy nhiên, sự quan sát ở các em thường chưa tập trung cao vào một nhiệm vụ nhất định, trong khi quan sát một đối tượng vẫn còn mang tính đại khái, phiến diện và

do vậy các em thường đưa ra kết luận vội vàng không có cơ sở thực tế Do đó GV cần luôn giám sát học sinh khi thực hiện các nhiệm vụ trải nghiệm để định hướng, uốn nắn kịp thời Trí nhớ của học sinh THPT cũng phát triển rõ rệt Trí nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ Các em đã biết sắp xếp lại tài liệu học tập theo một trật tự mới, có biện pháp ghi nhớ một cách khoa học Các em đã có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo hơn Hoạt động tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh Năng lực phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa phát triển cao giúp cho các em có thể lĩnh hội mọi khái niệm phức tạp và trừu tượng Các em thích tìm hiểu, thích khái quát, những quy luật và nguyên tắc chung của các hiện tượng hàng ngày, của những tri thức phải tiếp thu… Các tình huống, các nhiệm

vụ trải nghiệm cần tạo cơ hội để học sinh hát huy được các khả năng này Năng lực tư duy phát triển đã góp phần nảy sinh hiện tượng tâm lý mới đó là tính hoài nghi khoa học Trước một vấn đề các em thường đặt những câu hỏi nghi vấn hay dùng lối phản

đề để nhận thức chân lý một cách sâu sắc hơn HS rất hứng thú nếu các nghiệm vụ trải nghiệm cho học sinh các cơ hội đưa ra nhiều hương án giải quyết khác nhau Từ đó phát triển tư duy phản biện, tranh luận để tìm ra chân lý Nhìn chung tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh, hoạt động trí tuệ linh hoạt và nhạy bén hơn Các em có

Trang 31

khả năng phán đoán và giải quyết vấn đề một cách rất nhanh Tuy nhiên, ở một số học sinh vẫn còn nhược điểm là chưa phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính Vì vậy giáo viên cần hướng dẫn, giúp đỡ các em

tư duy một cách tích cực độc lập để phân tích đánh giá sự việc và tự rút ra kết luận cuối cùng Việc phát triển khả năng nhận thức của học sinh trong dạy học cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên

Điều kiện sống và hoạt động: Trong gia đình, các em đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm như người lớn Các em cũng thấy được quyền hạn và trách nhiệm của bản thân đối với gia đình Các em bắt đầu quan tâm chú ý đến lối sống sinh hoạt, nề nếp và điều kiện kinh tế của gia đình Có thể nói rằng cuộc sống của các em trong độ tuổi này là vừa học tập vừa lao động; Ở nhà trường, học tập vẫn là hoạt động chính nhưng tính chất và mức độ thì phức tạp hơn hẳn so với tuổi thiếu niên Đòi hỏi các

em phải tự giác, tích cực độc lập hơn, biết cách vận dụng tri thức một cách sáng tạo Nhà trường lúc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nội dung học tập không chỉ nhằm trang bị, hoàn chỉnh tri thức mà còn có tác dụng hình thành thế giới quan và nhân sinh quan cho các em Với các thay đổi trong điều kiện sống như trên, học sinh THPT có nhiều điều kiện và thuận lợi để làm chủ trong các hoạt động học, mong muốn được trải nghiệm trở thành nhu cầu tất yếu để khẳng định bản thân Vì vậy tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho học sinh THPT sẽ tạo động lực học tập tốt và phát huy được sức sáng tạo trong các hoạt động học Tuy nhiên GV cần lưu ý sự hưng phấn và nóng vội có thể dẫn đến những hạn chế trong kết quả của các hoạt động học

Hoạt động học tập vẫn là hoạt động chủ đạo đối với học sinh THPT nhưng yêu cầu cao hơn nhiều đối với tính tích cực và độc lập trí tuệ của các em Muốn lĩnh hội được sâu sắc các môn học, các em phải có một trình độ tư duy khái niệm, tư duy khái quát phát triển đủ cao Những khó khăn trở ngại mà các em gặp thường gắn với sự thiếu

kĩ năng học tập trong những điều kiện mới chứ không phải với sự không muốn học như nhiều người nghĩ Hứng thú học tập của các em ở lứa tuổi này gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp nên hứng thú mang tính đa dạng, sâu sắc và bền vững hơn.Thái độ của các em đối với việc học tập cũng có những chuyển biến rõ rệt Học sinh đã lớn, kinh nghiệm của các em đã được khái quát, các em ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời tự lập Thái độ có ý thức đối với việc học tập của các

em được tăng lên mạnh mẽ Học tập mang ý nghĩa sống còn trực tiếp vì các em đã ý

Trang 32

thức rõ ràng được rằng: cái vốn những tri thức, kĩ năng và kĩ xảo hiện có, kĩ năng độc lập tiếp thu tri thức được hình thành trong nhà trường phổ thông là điều kiện cần thiết

để tham gia có hiệu quả vào cuộc sống lao động của xã hội Điều này đã làm cho học sinh THPT bắt đầu đánh giá hoạt động chủ yếu theo quan điểm tương lai của mình Vì vậy các hoạt động học trang bị được nhiều kĩ năng sống cho học sinh và hơn hết tạo điều kiện cho học sinh hoàn thiện các kĩ năng làm việc và kĩ năng sống sẽ lôi cuốn các

em tham gia thực sự Tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học rất hù hợp để tiế cận và hát triển các kĩ năng cơ bản cho tương lai nghề nghiệp của HS

Ngoài việc nắm vững các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực hoạt động của HS THPT thì GV cần nắm rõ các đặc điểm nhân cách chủ yếu của các em để thiết kế, tổ chức HĐTN sao cho có hiệu quả tốt Đặc điểm nhân cách của HS THPT bao gồm;

Sự tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của học sinh

THPT, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này Biểu hiện của

sự tự ý thức là nhu cầu tìm hiểu và tự đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo chuẩn mực đạo đức của xã hội, theo quan điểm về mục đích cuộc sống… Điều đó khiến các em quan tâm sâu sắc tới những phẩm chất nhân cách, đời sống tâm lý và năng lực riêng Các em không chỉ nhận thức về cái tôi hiện tại của mình mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội tương lai Các em không chỉ chú ý đến vẻ bên ngoài mà còn đặc biệt chú trọng tới phẩm chất bên trong Các em có khuynh hướng phân tích và đánh giá bản thân mình một cách độc lập dù có thể chưa chính xác khi đánh giá Ý thức làm người lớn khiến các em có nhu cầu muốn thể hiện cá tính của mình một cách độc đáo, khẳng định bản thân, muốn người khác quan tâm, chú ý đến mình Nhìn chung thanh niên mới lớn có thể tự đánh giá bản thân một cách sâu sắc nhưng đôi khi vẫn chưa đúng đắn nên các em vẫn cần sự giúp đỡ thêm của các thầy cô Một mặt, thầy cô phải lắng nghe ý kiến của em các, mặt khác phải giúp các em hình thành được biểu tượng khách quan về nhân cách của mình nhằm giúp cho sự tự đánh giá của các em được đúng đắn hơn, tránh những lệch lạc, phiến diện trong tự đánh giá Cần tổ chức hoạt động của tập thể cho các em có sự giúp đỡ, kiểm tra lẫn nhau để hoàn thiện nhân cách của bản thân

Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong tâm lý thanh niên vì các em

sắp bước vào cuộc sống xã hội, các em có nhu cầu tìm hiểu, khám phá để có quan điểm

và cách nhìn về tự nhiên, xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc ứng xử, những định hướng giá trị về con người Các em quan tâm đến nhiều vấn đề về thế giới quan như:

Trang 33

thói quen đạo đức, cái xấu cái đẹp, cái đúng cái sai, quan hệ giữa cá nhân với tập thể, giữa cống hiến với hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ trách nhiệm… Tuy nhiên vẫn có em chưa được giáo dục đầy đủ về thế giới quan, chịu ảnh hưởng của tư tưởng

cũ như: ý thức tổ chức kỉ luật kém, thích có cuộc sống xa hoa, hưởng thụ hoặc sống thụ động, coi khinh lao động chân tay,…

Nhìn chung, ở tuổi này các em đã có ý thức xây dựng lý tưởng sống cho mình, biết xây dựng hình ảnh con người lý tưởng gần với thực tế sinh hoạt hàng ngày Các

em có thể hiểu sâu sắc và tinh tế những khái niệm, biết xử sự một cách đúng đắn trong những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau nhưng có khi các em lại thiếu tin tưởng vào những hành vi đó Vì vậy, giáo viên phải khéo léo, tế nhị khi lồng ghép giáo dục thế giới quan thông qua các HĐTN

Xu hướng nghề nghiệp: Thanh niên đã xuất hiện nhu cầu lựa chọn vị trí xã hội

trong tương lai cho bản thân và các phương thức đạt tới vị trí xã hội ấy Xu hướng nghề nghiệp có tác dụng thúc đẩy các mặt hoạt động và điều chỉnh hoạt động của các em Càng cuối cấp học thì xu hướng nghề nghiệp càng được thể hiện rõ rệt và mang tính

ổn định hơn Nhiều em biết nhìn nhận mối quan hệ giữa những đặc điểm riêng về thể chất, về tâm lý và khả năng của mình với yêu cầu của nghề nghiệp Tuy vậy, sự hiểu biết về yêu cầu nghề nghiệp của các em còn phiến diện, chưa đầy đủ, vì cậy công tác hướng nghiệp cho học sinh thông qua HĐTN rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng Qua đó giúp cho học sinh lựa chọn nghề nghiệp sao cho phù hợp với hứng thú, năng

lực và phù hợp với yêu cầu của xã hội

Hoạt động giao tiếp: Các em khao khát muốn có những quan hệ bình đẳng trong

cuộc sống và có nhu cầu sống cuộc sống tự lập Tính tự lập của các em thể hiện ở ba mặt: tự lập về hành vi, tự lập về đạo đức, giá trị tự lập và về tình cảm Nhu cầu giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi trong tập thể phát triển mạnh Trong tập thể, các em thấy được

vị trí, trách nhiệm của mình và các em cũng cảm thấy mình cần cho tập thể, cho cộng đồng

Nhìn chung thanh niên mới lớn là thời kỳ đặc biệt quan trọng đối với cuộc đời con người Đây là thời kì lứa tuổi phát triển một cách hài hòa, cân đối, là thời kì có sự biến đổi lớn về chất trong toàn bộ nhân cách để các em sẵn sàng bước vào cuộc sống

Trang 34

tự lập Do đó, giáo viên chúng ta phải nhận thức đầy đủ vị trí của lứa tuổi này để có nội dung, phương pháp giáo dục thích hợp nhằm đem lại hiệu quả tối ưu trong tổ chức các hoạt động sư phạm nói chung và trải nghiệm nói riêng

1.2.2 Đặc điểm môn Địa lí 11, căn cứ để tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học trên lớp

Hoạt động trải nghiệm dược thiết kế và tổ chức ngoài sự phù hợp với đối tượng người học và nội dung, hình thức tổ chức cần lấy căn cứ từ chương trình SGK địa lí 11 trên cơ sở GV nghiên cứu yêu cầu về mục tiêu và phương pháp của chương trình theo hướng dẫn của Bộ

* Mục tiêu;

Học xong chương trình Địa lí 11 (chương trình chuẩn) học sinh đạt được:

Về kiến thức: Hiểu và trình bày được một số đặc điểm của nền kinh tế thế giới đương đại và một số vấn đề đang được nhân loại quan tâm; Đặc điểm tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội của một số khu vực, quốc gia trên thế giới

Về kĩ năng: Củng cố và phát triển các kỹ năng nhận xét, phân tích, tổng hợp, so sánh các sự vật, hiện tượng địa lí, xây dựng biểu đồ, sử dụng và khai thác bản đồ, số liệu thống kê liên quan đến địa lí kinh tế - xã hội thế giới, khu vực và một số quốc gia tiêu biểu; Thu thập, trình bày các thông tin địa lí về một số khu cực hay quốc gia tiêu biểu trên thế giới; Vận dụng kiến thức ở mức độ nhất định để giải thích các sự vật, hiện tượng địa lí đang diễn ra trên thế giới

Về thái độ, hành vi: Có ý chí vươn lên để đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước; Có thái độ đúng đắn trước hiện tượng kinh tế - xã hội của một số quốc gia, khu vực; Quan tâm đến những vấn đề liên quan đến Địa lí như dân số, môi trường

* Cấu trúc chương trình SGK địa lí 11;

Gồm 2 phần: phần 1- Khái quát chung về nền kinh tế - xã hội thế giới; Phần 2 - Địa lí khu vực và quốc gia.Trong phần 1 có 4 chủ đề: Sự tương phản về trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các nhóm nước; xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá; một số vấn đề mang tính toàn cầu một số vấn đề của châu lục và khu vực Đây đều là các nội dung mang tính thời sự thu hút được sự chú ý của HS và kích thích được tư duy phản biện và kĩ năng đánh giá của HS về các vấn đề quốc tế Phần 2 nội dung về tự nhiên,

KT - XH của một số nước tiêu biểu như Hoa Kỳ, EU, Nga, Nhật, Trung Quốc và Đông Nam Á HS rất thích thú khi học phần này vì các em có điều kiện khám phá các vẻ đẹp thiên nhiên, con người, văn hóa và các đặc trưng về kinh tế của các nước và khu vực

Trang 35

này Tuy nhiên do đặc thù nội dung học liên quan đến các vùng đất xa xôi trên thế giới nên Hs có thể sưu tầm thông tin trên mạng nhưng không có điều kiện trải nghiệm thực

tế Điều này gây khó khan nhất định đến hình thức tổ chức các HĐTN cho HS

* Yêu cầu đối với GV khi thiết kế, tổ chức các hoạt động trải nghiệm cần

- Bám sát Chuẩn kiến thức, kĩ năng để thiết kế bài giảng, với mục tiêu là đạt được các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng, dạy không quá tải và không quá lệ thuộc hoàn toàn vào SGK Việc khai thác sâu kiến thức, kĩ năng phải phù hợp với khả năng tiếp thu của HS

- Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động học tập với các hình thức đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn phù hợp với đặc trưng bài học, với đặc điểm

và trình độ HS, với điều kiện cụ thể của lớp, trường và địa phương

- Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện cho HS được tham gia một cách tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá, phát hiện, đề xuất và lĩnh hội kiến thức; chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có của HS; tạo niềm vui, hứng khởi, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập cho HS; giúp

HS phát triển tối đa năng lực, tiềm năng của bản thân

- Thiết kế và hướng dẫn HS thực hiện các dạng câu hỏi, bài tập phát triển tư duy

và rèn luyện kĩ năng; hướng dẫn sử dụng các thiết bị dạy học; tổ chức có hiệu quả các giờ thực hành; hướng dẫn HS có thói quen vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn

- Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lí, hiệu quả, linh hoạt, phù hợp với đặc trưng của cấp học, môn học; nội dung, tính chất của bài học; đặc điểm và trình độ HS; thời lượng dạy học và các điều kiện dạy học cụ thể của trường, địa phương

1.2.3 Thực trạng tổ chức hoạt động trải nghiệm cho HS ở một số trường THPT tỉnh Quảng Ninh

Việc tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học ngoài giờ môn Địa lí cho học sinh lớp 11 là rất cần thiết, phù hợp với chương trình giáo dục và được nhiều GV quan tâm Thông qua kết quả điều tra bằng phiếu khảo sát ở 6 đơn vị trường đối với 15 giáo viên và 408 học sinh về tình hình tổ chức HĐTN trong dạy học môn địa lí phổ thông cho thấy:

Về phía GV, các thầy cô đều cố gắng để tổ chức một số HĐTN ở từng phần của một số bài học địa lí 11 cho học sinh với các hình thức như cho HS đóng vai hướng

Trang 36

dẫn viên du lịch, tổ chức diễn đàn, đóng hoạt cảnh về nét văn hóa một số nước, trình bày và thuyết trình một số sản phẩm học tập như làm Brochure, poster, clip, tập san về

tự nhiên, kinh tế - xã hội của thế giới và một số nước, khu vực Một số trường đã tổ chức cho HS tham gia hưởng ứng phong trào thu gom rác trên bờ vịnh Các em rất vui

và tích cực với các hoạt động này Qua đó HS được trải nghiệm thực trạng ô nhiễm môi trường biển và thể hiện hành động cụ thể để bảo vệ môi trường biển nơi mình đang sống Tuy nhiên GV đều gặp khó khăn về khâu kinh phí cho các phương tiện, dụng cụ học tập cho một số hoạt động TN

Về phía học sinh, các hoạt động đều thu hút được sự tham gia nhiệt tình của HS

và HS rất hào hứng, tích cực hưởng ứng các tình huống trải nghiệm Tuy nhiên thời gian chuẩn bị cho các HĐTN chưa thực sự nhiều vì cùng lúc các em phải hoàn thành yêu cầu của nhiều môn học Ở một số HĐTN chưa huy động được sự tham gia của số đông HS, nhiệm vụ học tập chỉ do một nhóm học sinh đầu tư để hoàn thành Qua phiếu điều tra có thể khẳng định mong muốn được học thông qua trải nghiệm của HS là rất lớn Các em rất muốn TN ngay trong các giờ học trên lớp ngoài các trải nghiệm ở thực

tế Do vậy nhiệm vụ biên soạn và thiết kế các giờ học địa lí theo hướng trải nghiệm của GV bước đầu đã tiếp cận được mong muốn đổi mới trong học tập của HS nhằm tạo nên không khí học tập mới, tích cực hơn và hiệu quả hơn

Như vậy ở địa bàn các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh, nhiều trường đã sớm tiếp cận đổi mới giảng dạy và học tập qua HĐTN trong và ngoài không gian lớp học

GV viên các trường đã có điều kiện trao đổi, học tập kinh nghiệm thiết kế tổ chức các HĐTN với nhau Tuy nhiên đối với chương trình địa lí 11 GV đang gặp khó khăn trong việc thiết kế, thực thi các HĐTN do đây là chương trình dạy học về thế giới nên nguồn tài liệu cũng như các kênh thông tin có độ tin cậy cao về thế giới và các nước có phần hạn chế Việc xây dựng các HĐTN tiếp cận các đặc điểm của các nước cũng rất khó cho GV và nhiệm vụ thực thi các HĐTN với HS cũng không dễ dàng Dẫn đến các HĐTN cho HS khi học địa lí 11 còn hạn chế so với các khối học khác Đặc biệt với một số trường điều kiện còn khó khăn, HS cũng chưa có nhiều cơ hội để trải nghiệm

đa dạng trong các giờ học địa lí 11, chủ yếu mới chỉ được TN qua kênh nhìn: xem tranh ảnh, video

(Mẫu phiếu khảo sát và kết quả khảo sát xem phần phụ lục)

Trang 37

Tiểu kết chương 1

Từ cơ sở lý luận của hoạt động học tập TNST trong dạy học nói chung và dạy học bộ môn Địa Lí nói riêng có thể khẳng định, hoạt động học tập TN phù hợp với yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh, lấy người học làm trung tâm HĐTN được xây dựng theo chủ đề, được thiết kế, tổ chức, thực hiện theo hướng tích hợp nhiều lĩnh vực, môn học thành các chủ điểm mang tính

mở, hình thức và phương pháp tổ chức đa dạng, nhằm giúp HS có nhiều cơ hội học tập trải nghiệm và phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo Luận văn đã đi sâu tìm hiểu, phân tích, tổng hợp, góp phần làm rõ thêm khái niệm, đặc điểm, yêu cầu và các hình thức tổ chức cũng như ý nghĩa của các hoạt động TN trong dạy học Có thể thấy, đây

là một trong những hình thức dạy học được đánh giá cao và cần được quan tâm, vận dụng phổ biến hơn trong thực tiễn Hi vọng, đây sẽ là một nguồn tài liệu tham khảo hữu ích để các GV có thể tìm hiểu, vận dụng các hình thức, phương pháp học tập trải nghiệm để phát huy tính tích cực, chủ động, năng lực tư duy và sáng tạo của HS nhằm nâng cao chất lượng dạy và học

Qua việc khảo sát thực trạng dạy và học bộ môn Địa lí nói chung và Địa lí 11 nói riêng, chúng tôi nhận thấy rằng hầu hết GV đã nhận thức được ý nghĩa, vai trò của các HĐTN trong dạy học bộ môn Song đây vẫn còn là một thử thách đối với không ít

GV Từ những khảo sát thực trạng đó, chúng tôi có căn cứ, cơ sở cho việc lựa chọn nội dung, hình thức và biện pháp xây dựng các HĐTN cho HS

Trang 38

Chương 2 THIẾT KẾ MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC TRÊN LỚP THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH

MÔN ĐỊA LÍ LỚP 11 THPT 2.1 Nguyên tắc của thiết kế hoạt động trải nghiệm môn địa lí

Nguyên tắc 1: Gắn với các tình huống từ thực tiễn đời sống

Học tập trải nghiệm sáng tạo mang ý nghĩa rộng là các tình huống hay bối cảnh

có ý nghĩa vận dụng kiến thức vào giải quyết và nó mang ý nghĩa một hoạt động xã hội Học tập trải nghiệm gắn với các tình huống từ thực tiễn cuộc sống đòi hỏi học sinh phải hòa mình vào thực tiễn để giải quyết vấn đề đó Hơn nữa các nội dung học tập trải nghiệm phải mang tính xã hội có nghĩa là nói tới quy mô rộng lớn của học tập trải nghiệm hướng tới Với mục tiêu đào tạo ra những con người mới, thế hệ mới làm chủ nhân tương lai đất nước thì việc đưa học sinh gần hơn tới thực tế cuộc sống, xã hội sẽ làm nâng cao vốn hiểu biết từ đó có được kĩ năng sống và vốn kiến thức cần thiết

Nguyên tắc 2: Gắn với những vấn đề đặc trưng và cần giải quyết ở Việt Nam và địa phương

Cần đảm bảo chủ đề học tập trải nghiệm phải gắn với những vấn đề cần giải quyết ở địa phương nơi tập thể sinh sống và học tập, hoặc những điểm nổi bật GV tạo điều kiện để học sinh trải nghiệm các vấn đề của thế giới, của các nước nhưng có liên quan, có ảnh hưởng, có biểu hiện qua các hiện tượng, các hoạt động KT - XH của địa phương mình như vấn đề toàn cầu hóa, khu vực hóa, môi trường, thiên tai Để từ các hoạt động trải nghiệm HS có thể liên hệ, hiểu thêm và có thể hình thành các kinh nghiệm phát triển KT - XH, kinh nghiệm bảo vệ MT hoặc kinh nghiệm cho các lĩnh vực khác của VN hoặc nơi mình sinh sống

Căn cứ vào đó, giáo viên có thể xây dựng các chương trình học tập trải nghiệm như hoạt động trải nghiệm ngoại khóa, trải nghiệm trên lớp

Nguyên tắc 3: Phát huy năng lực, sự chủ động, tích cực của HS

Tình huống trải nghiệm, hay nhiệm vụ học tập qua trải nghiệm cần tạo ra các cơ hội để HS phát huy các năng lực chung và riêng đặc biệt các năng lực cốt lõi Tình huống trải nghiệm vì thế cần được thiết kế cụ thể, xác định rõ được các hoạt động mà

HS cần hoàn thành và mỗi một hoạt động cần định hình rõ sẽ phát triển và hình thành các năng lực cần thiết nào cho HS Hoạt động TN cần có tính mới, tính có vấn đề, tính

Trang 39

hấp dẫn, tính thách thức nhằm thu hút, kích thích sự tò mò và khơi dậy mong muốn tham gia vào các HĐTN đó Và để HS thực sự được làm chủ thì giáo viên chỉ là người

hỗ trợ, hướng dẫn, nâng đỡ học sinh còn sự tham gia hoạt động, giải quyết vấn đề và nâng cao kĩ năng sống lại đòi hỏi ở người học Giáo viên khi này đóng vai trò là một

cố vấn, dàn xếp nhắc nhở và giúp học sinh phát triển, đánh giá một cách hiểu biết về việc học của mình

Nguyên tắc 4: Đảm bảo tính vừa sức và bám sát nội dung chương trình phổ thông

Không nên xây dựng các chủ đề trải nghiệm vượt quá xa nội dung kiến thức của học sinh Nội dung kiến thức phải trong khuôn khổ kiến thức học sinh đã được học, những kiến thức liên quan có thể tham khảo và kiến thức trong chương trình SGK Như thế mới tạo cho học sinh được lòng tin với chính bản thân mình trong việc giải quyết vấn đề, từ đó năng lực người học sẽ dần được nâng cao Cả giáo viên và học sinh không chỉ xem kiến thức là một thứ để nhớ mà con xem việc khám phá kiến thức là một niềm vui trong quá trình học tập Đặc biệt với học sinh thì việc khám phá kiến thức thông qua việc học trải nghiệm giống như mở một hộp quà mà chính học sinh là người tự tìm

ra nó

Các HĐTN cần phù hợp với tâm lí, lứa tuổi, phù hợp với khả năng và năng lực đang có của HS Khai thác được sự hiểu biết, khả năng tìm hiểu, các kĩ năng hiện có của HS Tuy nhiên HĐTN cần kích thích được sự sáng tạo của HS trong tư duy và hành động

Nguyên tắc 5: Chọn được nội dung sao cho việc học trải nghiệm góp phần phát triển toàn diện cả năng lực và nhân cách cho HS

Chương trình, kế hoạch học tập trải nghiệm phải được thiết kế để trang bị cho học sinh đầy đủ yếu tố: Kiến thức, kĩ năng, giá trị và cả cách vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống Bởi vậy ngay trong khâu thiết kế giáo án người giáo viên phải chọn được nội dung cho phù hợp với việc học trải nghiệm rồi đưa ra được mục tiêu đầu

ra cho sản phẩm của mình về kiến thức, kĩ năng và giá trị của bài học

Trong quá trình học tập trải nghiệm giáo viên phải chú ý bám sát giáo án cũng như học sinh để bài học đạt hiệu quả cao

Nguyên tắc 6: Cân đối giữa chiều sâu kiến thức và bề rộng vận dụng

Quá trình học tập trải nghiệm phải được cân đối giữa chiều sâu kiến thức và bề rộng trong sự liên hệ và vận dụng trong cuộc sống Để đảm báo một bài học đầy đủ

Trang 40

chiều sâu và bề rộng là một việc làm khó khăn bởi trong một tiết học thời lượng kiến thực có hạn Tuy nhiên, đòi hỏi giáo viên phải tận dụng tối đa lợi thế mà học tập trải nghiệm có thể làm được và thiết kế bài học cho tương thích với thời gian và nội dung kiến thức chuyên sâu và có thêm những mở rộng và liên hệ với thực tiễn cuộc sống sẽ làm bài giảng hấp dẫn, phong phú hơn

2.2 Quy trình thiết kế và tổ chức hoạt động trải nghiệm

Bước 1: Dựa trên các nguyên tắc nêu trên, Gv khảo sát toàn bộ chương

trình địa lí 11 để lựa chọn địa chỉ thiết kế và thực hiện các HĐTN

Những yếu tố GV cần tính đến khi lựa chọn là: nội dung để đưa HĐTN vào cần

trọng tâm, điển hình và thời sự; phát huy năng lực của HS và có tính đến mối quan hệ

với các phần kiến thức còn lại trong bài

Bước 2: Xác định mục tiêu của HĐTN

Mục tiêu của hoạt động là dự kiến trước kết quả của hoạt động

Các mục tiêu hoạt động cần phải được xác định rõ ràng, cụ thể và phù hợp; phản ánh được các mức độ cao thấp của yêu cầu cần đạt về tri thức, kĩ năng, thái độ và định hướng giá trị

Nếu xác định đúng mục tiêu sẽ có các tác dụng là:

- Định hướng cho hoạt động, là cơ sở để chọn lựa nội dung và điều chỉnh hoạt động

- Căn cứ để đánh giá kết quả hoạt động

- Kích thích tính tích cực hoạt động của thầy và trò

Khi xác định được mục tiêu cần phải trả lời các câu hỏi sau:

- Hoạt động này có thể hình thành cho học sinh những kiến thức ở mức độ nào? (Khối lượng và chất lượng đạt được của kiến thức?)

- Những kỹ năng nào có thể được hình thành ở học sinh và các mức độ của nó đạt được sau khi tham gia hoạt động?

- Những thái độ, giá trị nào có thể được hình thành hay thay đổi ở học sinh sau hoạt động?

Bước 3: Xây dựng kế hoạch

GV cần xác định rõ các nhóm HS sẽ tham gia vào các HĐTN và thể hiện sự phân công nhiệm vụ cho nhóm, cá nhân HS kèm theo thời gian hoàn thành Ngoài ra nhiệm vụ của GV trong từng HĐTN cũng cần định hình rõ nét Gv định rõ cơ sở vật chất cần phục vụ cho các HĐTN Và cuối cùng là lên kế hoạch tổ chức thực hiện

Ngày đăng: 05/03/2020, 11:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w