1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện quy trình nuôi dưỡng chăm sóc và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái hương nuôi con

68 62 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác trong quá trình đẻ lợn nái hay bị các loại vi khuẩn như: Streptococcus, E.coli… xâm nhập và gây một số bệnh cho lợn như: viêm tử cung, viêm âm đạo, viêm vú…Vì vậy, các bệnh sinh

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -o0o -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Dược thú y

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -o0o -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Dược thú y

Khóa học: 2014 - 2018 Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Thị Hoan

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y đã tạo điều kiện giúp đỡ

em trong suốt thời gian thực hiện chuyên đề Đặc biệt, em xin chân thành cảm

ơn cô giáo TS Trần Thị Hoan đã tận tình hướng dẫn cho em hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn thầy TS La Văn Công và cô giáo ThS Đỗ Thị Lan Phương đã tạo điều kiện cho em trong quá trình thực hiện chuyên đề khóa luận tốt nghiệp

Nhân dịp này em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và thực hiện chuyên đề

Một lần nữa em xin gửi tới các thầy giáo, cô giáo, tất cả các bạn bè, người thân đã luôn bên em, giúp đỡ động viên và khuyến khích em trong quá trình hoàn thành khóa luận lời cảm ơn và lời chúc sức khỏe, cùng mọi điều tốt đẹp nhất

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 17 tháng 12 năm 2018

Sinh viên

Mai Thị Thủy

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Lịch tiêm phòng cho lợn tại trại 6 Bảng 3.1 Lịch sát trùng trại lợn nái 42 Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại từ năm 2017 đến năm 2018 44 Bảng 4.2 Số lượng lợn nái sinh sản trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại

qua 6 tháng thực tập 45 Bảng 4.3 Tình hình đẻ của lợn nái nuôi tại trại 46 Bảng 4.4 Kết quả thực hiện một số thủ thuật trên đàn lợn tại trại………… 47 Bảng 4.5 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 47 Bảng 4.6 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh lợn nái sinh sản và lợn con tại

trại 49 Bảng 4.7 Kết quả mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản và lợn con của trại 50 Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản và lợn con tại trại 51

Trang 5

TT Thể trọng Nxb Nhà xuất bản

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục tiêu 2

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Điều kiện khí hậu 3

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại 4

2.1.4 Cơ sở vật chất của trang trại 4

2.1.5 Tình hình chăn nuôi tại cơ sở từ năm 2017 - 2018 4

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện 7

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 7

2.2.2 Những hiểu biết về đặc điểm sinh lý tiết sữa của lợn nái và các yếu tố ảnh hưởng 10

2.2.3 Các chỉ tiêu về sức sản xuất của lợn nái 13

2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái 14

2.2.5 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 18

2.2.6 Những đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 23

2.2.7 Những hiểu biết về phòng và trị bệnh cho vật nuôi 26

Trang 7

2.2.8 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái đẻ

nuôi con 30

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 36

2.3.1 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 36

2.3.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 38

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 41 3.1 Đối tượng 41

3.2 Địa điểm và thời gian thực hiện 41

3.3 Nội dung thực hiện 41

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 41

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi thực hiện 41

3.4.2 Phương pháp thực hiện 41

3.4.3 Công thức tính và các chỉ tiêu 43

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 43

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 44

4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại từ năm năm 2017 - 2018 44

4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn lợn tại trại 44 4.2.1 Số lượng nái sinh sản trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại 44

4.2.2 Tình hình sinh sản của đàn lợn nái tại trại được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 45

4.2.3 Kết quả thực hiện một số biện pháp thủ thuật trên đàn lợn tại

trại………46

4.3 Kết quả thực hiện quy trình phòng trị bệnh cho lợn nái tại trại 47

4.3.1 Kết quả công tác vệ sinh phòng bệnh 47

4.3.2 Kết quả công tác tiêm phòng bằng vắc xin 48

4.3.3 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái sinh sản của trại 49

4.3.4 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn nái sinh sản và lợn con………50

Trang 8

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53

5.1 Kết luận 53

5.2 Đề nghị 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHỤC LỤC

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi của nước ta đã và đang phát triển rất mạnh theo hướng trang trại và hộ gia đình, đặc biệt là ngành chăn nuôi lợn Chăn nuôi lợn là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng và phân bón cho sản xuất nông nghiệp, góp phần tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân Ngày nay, chăn nuôi lợn còn có tầm quan trọng trong việc tăng kim ngạch xuất khẩu Trong đó phải nói đến sức sản xuất thịt có chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng

Cùng với việc tăng số đầu lợn thì việc đã và đang áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tế sản xuất nhằm cải tạo con giống, hoàn thiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng luôn được chú trọng trong đó có chương trình nạc hóa đàn lợn Đây là mục tiêu quan trọng của ngành chăn nuôi lợn nhằm tạo ra giống lợn có tỷ lệ nạc cao, tiêu tốn thức ăn thấp mang lại hiệu quả kinh

tế cao cho người chăn nuôi

Tuy vậy, một trong những trở ngại lớn nhất trong chăn nuôi lợn nái là dịch bệnh còn xảy ra phổ biến gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ ở các trang trại cũng như trong các hộ gia đình Mặt khác trong quá trình đẻ lợn nái hay bị các loại vi khuẩn như: Streptococcus, E.coli… xâm nhập và gây một số bệnh cho lợn như: viêm tử cung, viêm âm đạo, viêm vú…Vì vậy, các bệnh sinh sản ở lợn nái ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đàn lợn giống nói riêng, đồng thời ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của toàn ngành chăn nuôi lợn nói chung

Để góp phần giảm thiểu thiệt hại về kinh tế và góp phần vào việc chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng, trị bệnh cho lợn nái tốt hơn, em tiến hành thực hiện chuyên đề:

Trang 10

“Thực hiện quy trình nuôi dưỡng chăm sóc và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái hương nuôi con và lợn con theo mẹ nuôi tại trại lợn khu khởi nghiệp khoa Chăn nuôi Thú y”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại

- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại

- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và áp dụng các biện pháp phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái tại cơ sở thực tập

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Trại lợn khu khởi nghiệp khoa Chăn nuôi thú y được xây dựng trên nền của khu trại gà cũ của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Trại bắt đầu hoạt động từ năm 2018 dưới sự quản lý của thầy giáo TS La Văn Công

Vị trí:

+ Phía đông giáp khu Hoa viên cây cảnh

+ Phía tây giáp vườn ươm khoa Lâm Nghiệp

+ Phía nam giáp đường dân sinh vào khu Giáo dục quốc phòng

+ Phía bắc giáp khoa CNTP và CNSH

2.1.2 Điều kiện khí hậu

Trại lợn khu khởi nghiệp khoa Chăn nuôi Thú y nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa nóng, mưa nhiều kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9: nhiệt

độ trung bình (210C - 290C), ẩm độ (81 - 86 %) Mùa lạnh, mưa ít từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau: nhiệt độ trung bình (13,50C - 24,80C) Tháng 7 là tháng nóng nhất (28,50C), tháng 1 lạnh nhất (13,50C) Tổng số giờ nắng trong năm

là 1628 giờ, năng lượng bức xạ đạt 115 Kcal/cm2 Bên cạnh đó lượng mưa phân bố không đều, mùa mưa phân bổ từ tháng 4 đến tháng 9, lượng mưa trong mùa đạt 91,6 % lượng mưa cả năm

Với điều kiện khí hậu như vậy, nhìn chung thuận lợi cho phát triển nông nghiệp cả về trồng trọt và chăn nuôi Tuy nhiên vẫn có những giai đoạn khí hậu thay đổi thất thường như hạn hán, lũ lụt trong vùng, mùa hè có ngày nhiệt độ rất cao (38 - 390C), mùa đông có ngày nhiệt độ cũng rất thấp (60C) nên ảnh hưởng xấu đến chăn nuôi cũng như trồng trọt

Trang 12

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Trại lợn khu khởi nghiệp khoa Chăn nuôi Thú y do TS La Văn Công

và ThS Đỗ Thị Lan Phương quản lý Thầy cô đã có nhiều kinh nghiệp trong nghề, kỹ thuật giỏi và có nhiều kinh nghiệm trong thực tế

Trại có 3 sinh viên thực tập tốt nghiệp

2.1.4 Cơ sở vật chất của trang trại

Để đảm bảo công tác chăn nuôi và sinh hoạt của sinh viên thực tập tốt nghiệp tại trại được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật gồm:

Khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, nhà bếp, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

Khu chăn nuôi xung quanh có hàng rào bao bọc và có cổng ra, cổng vào riêng Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi bán chăn thả, chuồng nền bê tông cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn Trong khu chăn nuôi lợn được bố trí xây dựng chuồng trại cho 10 nái sinh sản Khu chăn nuôi gồm: 1 chuồng đẻ, 1 chuồng bầu, 1 chuồng cai sữa và 4 ô chuồng thịt nhỏ Một phòng kho phục vụ cho chăn nuôi như để cám, thuốc, chứa vật liệu

Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu đều được

đổ bê tông và có hố sát trùng Khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt

Xung quanh trang trại còn trồng rau xanh, cây ăn quả tạo môi trường thông thoáng

2.1.5 Tình hình chăn nuôi tại cơ sở từ năm 2017 - 2018

* Công tác chăn nuôi

Nhiệm vụ chính của trại là sản xuất giống lợn địa phương Số con sơ sinh

là 7,25 con/đàn, số con cai sữa là 6 con/đàn, lợn con theo mẹ được nuôi đến 35 ngày tuổi, chậm nhất là 42 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển lên chuồng thịt

Trang 13

* Công tác vệ sinh thú y của trại

Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại luôn được thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của TS La Văn Công và ThS Đỗ Thị Lan Phương

- Công tác phòng bệnh:

Trong khu vực chăn nuôi, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào

Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trang trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực và đến lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%

Trang 14

Bảng 2.1 Lịch tiêm phòng cho lợn tại trại Thời điểm

phòng bệnh

Bệnh được phòng Loại vắc xin Liều dùng Đường

tuần thứ 12 Khô thai Suvaxyn Parvo

2 ml/con Tiêm bắp Trước đẻ 1

tuần Kí sinh trùng Ivermectin 1ml/30kgTT

Tiêm dưới

da

3 ngày tuổi Cầu trùng Baycox 5% 1ml/con Uống

7 ngày tuổi Suyễn Respisure 1

1 ml/con Tiêm bắp

35 ngày tuổi Lở mồm long

2 ml/con Tiêm bắp

40 – 45 ngày

tuổi Dịch tả lần 2

Vắc xin Dịch

tả lợn nhược độc đông khô

1 ml/con Tiêm bắp

Trang 15

- Công tác trị bệnh: Sinh viên thực tập có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trại và báo cáo xin ý kiến của thầy giáo quản lý Vì thế, luôn phát hiện sớm, cách ly, điều trị ngay ở giai đoạn đầu, vì vậy hiệu quả điều trị thường cao, không gây thiệt hại nhiều cho trại

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái

2.2.1.1 Sự thành thục về tính và thể vóc

* Sự thành thục về tính

Gia súc phát triển đến một giai đoạn nhất định thì sẽ có biểu hiện về tính dục Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục và có khả năng sinh sản theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2005) [18] Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đã phát triển hoàn thiện, dưới tác dụng của thần kinh nội tiết tố con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối

Khi đó ở con cái các noãn bào chín và rụng trứng (lần đầu), con đực có phản xạ sinh tinh Đối với các giống gia súc khác nhau thì thời gian thành thục về tính khác nhau, ở lợn nội thường từ 4 - 5 tháng tuổi (120 - 150 ngày),

ở lợn ngoại (180 - 210 ngày) (Võ Trọng Hốt và cs 2000 [8])

Tuy nhiên thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, chế

độ dinh dưỡng, khí hậu, chuồng trại, trạng thái sinh lý của từng cá thể

+ Giống

Các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Ở lợn lai tuổi động dục đầu tiên muộn hơn so với lợn nội thuần Lợn lai F1 bắt đầu động dục lúc 6 tháng tuổi, khi khối lượng cơ thể đạt 50 - 55kg Lợn ngoại động dục lần đầu muộn hơn so với lợn lai vào lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi lợn có

Trang 16

khối lượng 65 - 68kg Còn đối với lợn nội tuổi thành thục về tính từ 4 - 5 tháng tuổi

Tùy theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà lợn có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi), các giống lợn ngoại Yorkshire, Landrace muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi

+ Điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng

Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém

Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng đến sự thành thục là do sự tích lũy xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của trứng, mặt khác do béo quá ảnh hưởng đến hoocmon oestrogen và progesteron trong máu làm cho hàm lượng của chúng trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục

+ Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng:

Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng cũng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt đến tuổi động dục Mùa hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu – đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và

17 ngày (mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối cũng làm chậm tuổi thành thục về tính

so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 112 giờ mỗi ngày (Dwane, (2000) [6])

Trang 17

+ Mật độ nuôi nhốt:

Mật độ nuôi nhốt đông trên 1 đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Nhưng cần tránh nuôi cái hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể sẽ làm chậm lại thành thục tính so với lợn cái được nuôi nhốt theo nhóm Bên cạnh những yếu tố trên thì lợn đực giống cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tuổi động dục của lợn cái hậu

bị Nếu cái hậu bị thường xuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanh động dục hơn cái dự bị không tiếp xúc với lợn đực giống Lợn cái hậu bị ngoài 90kg thể trọng ở 165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần trên ngày với lợn đực, mỗi lần cho tiếp xúc 15 - 20 phút thì tới 83% lơn cái hậu bị động dục lần đầu

*Sự thành thục về thể vóc

Sự thành thục về thể vóc thường diễn ra chậm hơn sự thành thục về tính Sau một thời kỳ sinh trưởng và phát triển, đến một thời điểm nhất định con vật đạt tới độ trưởng thành về thể vóc Tuổi thành thục về thể vóc là tuổi

có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, xương đã được cốt hóa hoàn toàn, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt Vì lợn mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém Đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng khối lượng đạt 40 - 50kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 - 110 kg mới nên cho phối

Trang 18

2.2.1.2 Những hiểu biết về sinh lý đẻ

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5] gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác động của cơ chế thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn

để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài

Đẻ là quá trình đưa thai đã phát triển thành thục theo đường sinh dục của mẹ ra ngoài Nếu không đủ hai điều kiện trên tức là đẻ không bình thường

Trước khi đẻ, cơ thể mẹ có nhiều thay đổi quan trọng có liên quan tới việc đẩy thai ra ngoài như: dây chằng xương chậu giãn, gia tăng chiều dài từ

25 - 30% so với bình thường (người ta gọi là hiện tượng sụt lưng), nút cổ tử cung loãng Trước khi đẻ từ 12 - 48 giờ thân nhiệt hơi hạ xuống Cổ tử cung

mở, sữa bắt đầu tiết

Đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều hòa của cơ chế thần kinh

- thể dịch.Khi thai đã thành thục thì quan hệ sinh lý giữa mẹ và nhau thai không còn cần thiết nữa, lúc này thai đã trở thành như một ngoại vật trong tử cung nên được đưa ra ngoài bằng động tác đẻ Khi lợn đẻ toàn thân co bóp, thường gọi là cơn đau, lúc này áp lực bên trong tăng cao đẩy thai ra ngoài Khi thai ra rốn thai tự đứt, lợn là một loài đa thai nên đẻ từng con một, cách khoảng

10 - 15 hoặc 20 phút đẻ 1 con Thời gian đẻ của lợn trung bình kéo dài từ 1 - 6 giờ, nếu quá 6 giờ mà thai chưa ra thì cần xem xét để có biện pháp tác động ngay

2.2.2 Những hiểu biết về đặc điểm sinh lý tiết sữa của lợn nái và các yếu tố ảnh hưởng

* Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái

Lợn cái khi thành thục về tính có biểu hiện động dục, hoạt động sinh dục theo chu kỳ, trứng có thể rụng, con cái có khả năng có chửa, đẻ và tiết sữa nuôi con Tuổi thành thục về tính của các giống lợn có sự khác nhau, đối với lợn ngoại và lợn lai thời gian thành thục về tính khoảng 6 - 8 tháng tuổi, sự

Trang 19

thành thục về thể vóc chậm hơn thành thục về tính Sự hoàn chỉnh về tầm vóc liên quan đến khả năng đảm bảo cho việc tiết sữa nuôi con, do đó xác định thời gian phối giống lần đầu tiên còn phụ thuộc vào cường độ sinh trưởng của lợn cái trong giai đoạn hậu bị

Xác định thời điểm phối giống để đạt kết quả là hết sức quan trọng, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế Thời điểm phối giống thích hợp được nhận biết thông qua chu kỳ tính của lợn nái

Chu kỳ tính xuất hiện từ khi con vật thành thục về tính kèm theo sự thay đổi của cơ quan sinh dục, quá trình này lặp lại theo một chu kỳ nhất định với thời gian trung bình là 18 - 21 ngày chia làm 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn trước động dục: là giai đoạn từ khi thể vàng tiêu huỷ tới lần động dục tiếp theo, chuẩn bị điều kiện để tiếp nhận tinh trùng đón trứng rụng

và thụ tinh Giai đoạn này biểu hiện các đặc điểm như: bao noãn phát triển về khối lượng, chất lượng, nổi lên bề mặt buồng trứng và tăng tiết oestrogen Dưới ảnh hưởng của oestrogen cơ quan sinh dục có nhiều biến đổi, tế bào vách ống dẫn trứng tăng sinh có nhiều nhung mao để đón trứng rụng

+ Giai đoạn động dục: gồm 3 thời kỳ liên tiếp đó là hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực, đặc điểm của giai đoạn này là:

* Lượng oestrogen tiết ra đạt mức cao nhất 112 g% trong khi đó bình thường chỉ có 64 g%, do đó gây hưng phấn mạnh mẽ toàn thân, âm hộ xung huyết và chuyển từ màu hồng nhạt sang màu hồng đỏ, càng gần tới thời điểm rụng trứng thì âm hộ càng thẫm màu và chuyển màu mận chín

* Các biểu hiện về thần kinh: con cái hưng phấn kêu la, con vật ăn ít hoặc không ăn, bồn chồn không yên, phá chuồng…

* Biểu hiện trứng rụng: ở lợn sau khi động dục 24 - 30h thì trứng rụng

và thời gian trứng rụng kéo dài từ 10 - 15h, kèm theo các biến đổi sinh lý khác như thân nhiệt tăng 0,8 - 1,20C, nhịp tim tăng, bạch cầu trung tính tăng

Trang 20

+ Giai đoạn sau động dục: Bắt đầu từ khi kết thúc động dục và kéo dài trong khoảng 7 ngày Thể vàng hình thành tiết progesteron có tác dụng ức chế trung khu sinh dục vùng dưới đồi (hypothalamus) ngừng tiết yếu tố giải phóng và ức chế tuyến yên tiết FSH và LH Do đó con vật ngừng động dục, giảm hưng phấn thần kinh, không muốn gần con đực, dần dần trở lại trạng thái bình thường

+ Giai đoạn yên tĩnh: là giai đoạn dài nhất với khoảng thời gian 8 ngày, thường bắt đầu tính từ ngày thứ 4 sau khi trứng rụng không được thụ tinh và kết thúc khi thể vàng tiêu biến, giai đoạn này không có các biểu hiện về hành

vi sinh dục, đây là giai đoạn nghỉ ngơi yên tĩnh để khôi phục lại cấu trúc chức năng cũng như năng lượng cho chu kỳ tiếp theo

- Điều tiết hoạt động của chu kỳ tính: chu kỳ tính thực hiện được điều tiết của thần kinh - thể dịch, có sự tham gia của hệ thống hypothalamus - tuyến yên - tuyến sinh dục, theo cơ chế điều hoà ngược

Dưới tác dụng của các yếu tố như: pheromon của con đực, âm thanh, ánh sáng… cùng với sự tác động của prostaglandin F2α của tử cung theo máu đi tới buồng trứng làm co mạch máu ngoại vi nuôi thể vàng làm cho thể vàng bị tiêu biến, lượng hormone progesteron giảm và theo cơ chế điều hoà ngược hypothalamus tiết yếu tố giải phóng GnRF kích thích tuyến yên tiết FSH tác động vào nang trứng tăng tiết dịch nang trứng, kích thích tế bào hạt tăng tiết oestrogen điều khiển sự thay đổi của cơ quan sinh dục chuẩn bị đón trứng rụng (niêm mạc tử cung và ống dẫn trứng tăng sinh) Khi nồng độ oestrogen tăng cao đạt tới 112g% con vật thể hiện hưng phấn mạnh, theo vòng điều hoà ngược dương tính, tuyến yên tiết LH kích thích nang trứng tăng cường tiết dịch Khi nồng độ LH/FSH đạt tỷ lệ 3/1 thì LH hoạt hoá men phân giải làm tan

rã đỉnh nang trứng và gây nên hiện tượng rụng trứng, đồng thời LH kích thích hình thành thể vàng tại nơi rụng trứng Hormone thể vàng progesteron theo cơ

Trang 21

chế điều hoà ngược âm tính ức chế hypothalamus tiết yếu tố giải phóng FRF và LRF ức chế tuyến yên tiết FSH và LH, con vật ngừng động dục trở lại trạng thái yên tĩnh Nếu phối giống có kết quả, thể vàng tồn tại đến cuối thời kỳ có chửa, nếu con cái không có chửa, thể vàng tiêu biến và chu kỳ mới lại tiếp tục bắt đầu

Thời gian trong chu kỳ động dục phụ thuộc vào giống, lứa đẻ, dinh dưỡng Lợn đẻ lứa 2 - 3 chu kỳ động dục là 19,4 ngày; Lợn đẻ lứa 4 - 5 chu kỳ động dục là 20,4 ngày; Lợn đẻ lứa 6 - 7 chu kỳ động dục là 21,5 ngày; Lợn đẻ lứa 8 - 9 chu kỳ động dục là 22,4 ngày Như vậy chu kỳ động dục dài ngắn phụ thuộc vào giai đoạn sinh sản của lợn nái (Lê Thị Thanh, 2006 [17])

- Thời gian động dục

+ Thời gian động dục của lợn nái trung bình khoảng 3 - 4 ngày (biến động từ 2 - 7) ngày, phụ thuộc vào giống, lứa tuổi, mùa vụ, chế độ dinh dưỡng

- Số trứng rụng trong một chu kỳ phụ thuộc vào các yếu tố:

+ Các giống khác nhau có số trứng rụng khác nhau: lợn Đại Bạch có số trứng rụng trong một lần động dục khoảng 17 trứng, lợn Pietrain khoảng 14 trứng

+ Tuổi và lứa đẻ: theo nghiên cứu trong lần động dục đầu tiên số trứng rụng trung bình là 9,8 trứng, lần động dục thứ 2 là 11,8 trứng

+ Dinh dưỡng: khẩu phần dinh dưỡng tốt số trứng rụng 13,5 còn nuôi theo mức dinh dưỡng thấp đều số trứng rụng trung bình là 10,6 trứng

Ngoài những yếu tố trên, số lượng trứng rụng còn phụ thuộc rất nhiều vào mùa vụ và nhiệt độ môi trường Xác định thời điểm rụng trứng và phối giống là hết sức quan trọng, điều này sẽ quyết định tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra/lứa, và số lứa đẻ/năm

2.2.3 Các chỉ tiêu về sức sản xuất của lợn nái

Sinh sản là một quá trình sinh học hết sức phức tạp của cơ thể động vật đồng thời là chức năng tái sản xuất của gia súc, gia cầm Sinh sản hữu tính là

Trang 22

hình thức sinh sản cao nhất và phổ biến nhất ở cơ thể động vật, đó là quá trình

có sự tham gia của hai cơ thể đực và cái, ở đó con đực sản sinh ra tinh trùng, con cái sản sinh ra trứng, sự thụ tinh giữa tinh trùng và trứng hình thành hợp

tử, hợp tử phát triển trong tử cung của con cái, cuối cùng sinh ra đời con

Hiệu quả của chăn nuôi lợn nái sinh sản được đánh giá bằng số lợn con cai sữa /nái/ năm và tổng khối lượng lợn con cai sữa hai chỉ tiêu này phụ thuộc vào tuổi thành thục về tính, tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra, số lứa đẻ/ năm,

tỷ lệ nuôi sống con theo mẹ Sản lượng sữa của mẹ, kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc Do đó để tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản thì phải cải tiến nâng cao số lợn con cai sữa, khối lượng lợn con lúc cai sữa Đồng thời cũng phải làm giảm khoảng cách giữa hai lứa đẻ bằng cách cai sữa sớm lợn con và làm giảm số ngày động dục lại sau cai sữa của lợn mẹ ở những lứa sau

Ian Gordon (2004) [24] cho rằng trong các trang trại chăn nuôi hiện đại, số lợn con cai sữa do một lợn nái sản xuất trong một năm là chỉ tiêu đánh giá đúng đắn nhất năng suất sinh sản của lợn nái Tác giả cũng cho biết tầm quan trọng của các thành phần cấu thành ảnh hưởng đến chỉ tiêu số lợn con cai sữa do một nái sản xuất trong một năm lần lượt là: số con đẻ ra trong ổ, tỷ

lệ chết của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu và thời gian từ cai sữa đế khi thụ thai lứa sau

2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái

Năng suất sinh sản của lợn nái được thể hiện qua các chỉ tiêu như số con sinh ra/ổ, số con còn sống/ổ, khối lượng sơ sinh/ổ, số con cai sữa/ổ, khoảng cách lứa đẻ, các chỉ tiêu này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc xác định hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản Yếu tố quyết định cho số con cai sữa gồm số trứng rụng, tỷ lệ lợn con sống lúc sơ sinh, và tỷ lệ lợn con sống đến cai sữa Do đó việc nâng cao số con đẻ ra còn sống và số

Trang 23

con cai sữa là hết sức quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của người chăn nuôi, như vậy năng suất sinh sản phụ thuộc chặt chẽ vào sự tác động của tính di truyền và các yếu tố ngoại cảnh

- Yếu tố di truyền: giữa các dòng, giống lợn có sự khác nhau về tuổi

thành thục, sức sản xuất Nhiều nghiên cứu cho thấy năng suất sinh sản của lợn nái có hệ số di truyền thấp, theo Perrocheau (1994) [14], hệ số di truyền

Số con cai sữa/ổ: h2 = 0,12

Khối lượng lúc cai sữa: h2 = 0,17

Qua đó thấy rằng năng suất sinh sản phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện ngoại cảnh và những tác động của con người trong quá trình nhân giống, nuôi dưỡng chăm sóc Phương pháp nhân giống khác nhau sẽ cho năng suất khác nhau, việc chọn lọc, nhân và phát triển đàn hạt nhân để làm cơ sở tạo ra lợn lai 3 - 4 máu ở con lai thương phẩm đã mang lại hiệu quả kinh tế cho chăn nuôi lợn sinh sản Đánh giá ảnh hưởng của lai giống đối với năng suất sinh sản, nhiều tác giả cho biết nhờ có ưu thế lai đã cải thiện được năng suất sinh sản của cả đàn Nái lai có các tính trạng về năng suất sinh sản cao hơn nái thuần: tuổi thành thục về tính sớm hơn (11,3 - 14,3 ngày), tỷ lệ thụ thai cao hơn (2 - 4%), số trứng rụng nhiều hơn (0,5 trứng), số con đẻ ra/ổ cao hơn (0,6

- 0,7 con), số con cai sữa/ổ cao hơn (0,8 con) Tỷ lệ nuôi sống ở lợn nái lai cao hơn lợn nái thuần (5 - 10%), khối lượng sơ sinh/ổ cao hơn (1 - 4,2kg), khối lượng 21 ngày tuổi/ổ cao hơn (4,2 - 6,4)kg Tuổi trưởng thành về thành thục sinh dục phụ thuộc vào đặc điểm giống và điều kiện nuôi dưỡng chăm

Trang 24

sóc Giữa cường độ sinh trưởng của lợn nái và khả năng sinh sản, nhiều tác giả cho thấy tương quan thuận Hutchens và cs (1981) [22] cho biết tuổi động dục lần đầu, khối lượng cơ thể lúc động dục lần đầu có tương quan di truyền; khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa, mức tăng khối lượng trung bình/ngày,

hệ số di truyền trong khoảng (0,19 - 0,40) Phương thức chăn nuôi cũng có ảnh hưởng tới tuổi động dục lần đầu Lợn hậu bị nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu lớn hơn nuôi chăn thả, nếu cho đực tiếp xúc với lợn cái hậu

bị 5 - 6 tháng tuổi mỗi ngày 15 phút sẽ làm cho lợn hậu bị động dục sớm Tuy nhiên, ở lần động dục đầu tiên nếu cho phối giống ngay, tỉ lệ thụ thai thấp và

số con đẻ ra ít, do vậy chỉ nên phối giống từ lần động dục thứ 2

- Chế độ dinh dưỡng: là một trong những nhân tố ngoại cảnh quan

trọng tác động đến năng suất sinh sản, làm thế nào để có chế độ ăn phù hợp đối với lợn nái, đảm bảo làm tăng tính dục, tăng số lượng trứng rụng và sự phát triển của phôi thai để có số con đẻ ra cao và khối lượng sơ sinh cao Tinh bột cao trong khẩu phần ăn đối với lợn nái chửa sẽ làm tăng tích luỹ các mô

mỡ dẫn đến làm giảm tính thèm ăn của lợn nái khi tiết sữa nuôi con Mặt khác, nhiều nghiên cứu cho thấy sự tích luỹ mỡ của lợn mẹ trong giai đoạn tiết sữa có quan hệ tới khoảng cách từ cai sữa đến động dục trở lại Protein là thành phần hết sức quan trọng cho sự duy trì, phát triển của cơ thể con mẹ Đặc biệt đối với lợn hậu bị, protein có vai trò quan trọng trong việc phát triển bào thai, khi khẩu phần ăn của lợn nái không đáp ứng nhu cầu protein cần thiết, nhất là các axit amin không thay thế, con mẹ phải huy động protein dự trữ, do vậy sẽ ảnh hưởng tới năng suất sinh sản Nhiều nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của tiêu thụ protein trong giai đoạn chửa đến sinh trưởng của mẹ và thành tích sinh sản

Theo Nguyễn Tấn Anh và cs (1998) [1] trước phối giống 14 ngày cho ăn chế độ kích dục, tăng lượng thức ăn 1,0 - 1,5kg thức ăn có bổ sung khoáng, sinh

tố sẽ làm tăng số trứng rụng từ 2,0 - 2,1 trứng Những lợn nái này đã được điều

Trang 25

chỉnh mức ăn để khối lượng đạt 120 - 140 kg ở chu kỳ động dục lần thứ ba và được phối giống

- Tuổi và lứa đẻ: tuổi và lứa đẻ đều là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến

số con đẻ ra/ổ Lợn nái kiểm định có tỷ lệ đẻ thấp hơn lợn nái cơ bản Số lượng trứng rụng cao nhất ở chu kỳ động dục thứ nhất, tăng đến 3 tế bào trứng ở chu kỳ động dục thứ hai và đạt tương đối cao ở chu kỳ động dục thứ 3,

số con đẻ ra tương quan thuận với số trứng rụng Lứa đẻ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái, ở lứa thứ nhất số lượng con/ổ thấp, từ lứa thứ hai trở đi số lượng con tăng dần đến lứa thứ tư, lứa 6 - 7 bắt đầu giảm dần Sự thay đổi này liên quan đến số lượng trứng rụng trong một chu kỳ Bằng kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng có thể kéo dài thành tích sinh sản từ lứa thứ 6 - 10, sẽ có lợi hơn là thay thế lợn cái hậu bị, bởi vì nếu tăng cái hậu bị vào đàn nái sinh sản sẽ làm tăng giá thành của 1kg lợn con cai sữa, dẫn đến giảm hiệu quả chăn nuôi

- Tỷ lệ thụ tinh: ảnh hưởng của con đực và phương thức phối giống, kỹ

thuật phối giống đến tỷ lệ thụ tinh, chọn thời điểm phối giống thích hợp sẽ làm tăng số con/lứa Cho phối giống quá sớm hay quá muộn tỷ lệ thụ thai và số con/lứa giảm sút, nếu tiến hành phối giống kép sẽ làm tăng tỷ lệ thụ tinh Thụ tinh nhân tạo có thể làm giảm tỷ lệ thụ thai từ 10 - 20% so với phối giống trực tiếp do phát hiện thời điểm rụng trứng không chính xác

- Yếu tố mùa vụ: mùa vụ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng

sinh sản của lợn nái Nhiệt độ cao là nguyên nhân làm kết quả sinh sản ở lợn nái nuôi chăn thả thấp, tỷ lệ chết con cao, làm lợn nái thu nhận thức ăn thấp,

tỷ lệ hao hụt lợn nái tăng và tỷ lệ động dục trở lại sau cai sữa giảm Tỷ lệ thụ thai bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ và mùa vụ Lợn nái phối giống vào các tháng nóng có tỷ lệ thụ thai thấp, làm tăng số lần phối giống, giảm khả năng sinh sản từ 5 - 10% Bên cạnh đó nhiệt độ cao cũng làm cho tỷ lệ loại thái nái cao

Trang 26

(30 - 50% nên gây thiệt hại về kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản trong một năm, tháng 6-7- 8 tỷ lệ thụ thai giảm 10% so với phối giống vào tháng 11

- 12, lợn hậu bị sinh ra trong mùa đông và mùa xuân thì tuổi động dục lần đầu chậm hơn so với lợn hậu bị được sinh ra trong các mùa khác

- Tỷ lệ chết phôi: phụ thuộc rất nhiều vào khẩu phần ăn của lợn mẹ, nếu

như trong khẩu phần thiếu vitamin và các chất khoáng trong thời gian dài có thể gây chết toàn bộ phôi thai Một số nghiên cứu cho biết, số phôi chết có liên quan tới số trứng rụng Số phôi chết tăng 1,24% theo số trứng rụng tăng lên và sau 30 ngày có chửa thì tỷ lệ chết thai sẽ giảm đi và ước tính cho đến khi đẻ có khoảng 10% thai chết Sau khi phối giống có kết quả, giai đoạn 9 -

13 ngày phôi làm tổ ở sừng tử cung, đây là giai đoạn phôi chết nhiều nhất (30

- 40%) Đây còn được gọi là pha khủng hoảng về sự phát triển của phôi

Năng suất sinh sản của lợn nái được đánh giá bằng số son cai sữa/ổ và

số con cai sữa/nái/năm, đây là chỉ tiêu hết sức quan trọng, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi thành thục về tính, tỷ lệ thụ thai, số lợn con đẻ ra còn sống, số lứa đẻ của 1 nái/năm, tỷ lệ nuôi sống, các yếu tố này là kết quả của

sự tác động con người và môi trường trong quá trình chăn nuôi kết hợp đặc tính di truyền của giống Nâng cao năng suất sinh sản bằng kỹ thuật chọn giống, nhân giống cải tiến kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, sử dụng có hiệu quả công nghệ sinh sản trong chăn nuôi lợn là vấn đề hết sức cần thiết để nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi lợn sinh sản

2.2.5 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con

2.2.5.1 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ

- Quy trình nuôi dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [13], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn

Trang 27

nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt

Trước khi sinh 3 ngày phải giảm thức ăn xuống từ 3 - 1kg/ngày Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, đẻ trước 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa

Lợn nái sắp đẻ có những biểu hiện: ỉa đái vặt, bầu vú căng mọng, bóp đầu vú sữa chảy ra, khi thấy có nước ối và phân xu, lợn nái rặn từng cơn là lợn con sắp ra Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn

đủ tiêu chuẩn

- Quy trình chăm sóc

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [13] vận động tắm nắng là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh phục hồi sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi

có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các cũi đẻ, không được vận động, vì vậy cần phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin

Ngoài ra, yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phải đảm bảo luôn khô ráo, sach sẽ, không ẩm ướt Vì vậy, hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [13] chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 200C, độ ẩm 70 - 75%

Trang 28

Cần giữ không khí yên tĩnh, thoáng mát vì khi nhiệt độ cao, không khí nóng, không thông thoáng sẽ làm nái thở mệt, lười rặn, đẻ chậm gây ngạt thở nhiều lợn con Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy

đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Chuồng đẻ cần phải trải đệm lót, có che chắn và thiết bị sưởi ấm trong những ngày mùa đông giá rét Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ những đất hoặc phân bám dính trên người, tắm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh

Ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó cũng là một quá trình quan trọng trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ Ô úm có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện

để khống chế nhiệt độ thích hợp, giúp giữ ấm nhiệt độ cho heo con đặc biệt vào mùa đông

Theo dõi thường xuyên sức khỏe của lợn mẹ, quan sát bầu vú ,thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện sót nhau, sốt sữa hoặc nhiễm trùng để có biện pháp xử lý kịp thời

2.2.5.2 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái nuôi con

- Quy trình nuôi dưỡng

Lợn nái đẻ xong nên cho ăn tăng dần, từ ngày thứ 3 hoặc thứ 4 trở đi cho ăn tự do (4 - 6kg/ngày/nái) Đảm bảo đủ nước uống cho nái vì lợn tiết sữa

sẽ uống rất nhiều nước, từ 30 - 50 lít nước mát, sạch/ngày/nái

Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải đủ và cân bằng dưỡng chất, phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Máng ăn

Trang 29

phải sạch sẽ, không để thức ăn mốc, thừa, không nên thay đổi thức ăn của lợn nái Vì trong thời gian nuôi con, lớp mỡ bọc thân của nái bị mất đi do phải rút lượng canxi, phospho, chất béo dự trữ trong cơ thể để hỗ trợ cho sự tiết sữa,

do đó sau khi đẻ nái nhanh gầy, xương trở nên xốp, chân dễ bại liệt Nếu cung cấp dư thừa sắt trong khẩu phần ăn của nái nuôi con cũng không đảm bảo đủ lượng sắt mà lợn con nhận được, mà còn dẫn đến tình trạng lợn con thiếu sắt

ở tuần tuổi thứ 2, thứ 3 trở đi Vì vậy cần bổ sung đầy đủ sắt trong khẩu phần

ăn của heo nái từ giai đoạn mang thai để đảm bảo cung cấp đủ sắt cho lợn con sau khi sinh Việc bổ sung chế phẩm iod cho nái để tăng hoạt động của tuyến giáp cũng giúp cho nái tiết sữa nhiều, nhưng cần phải thận trọng vì nếu dùng quá liều sẽ dẫn đến các triệu chứng viêm vú, sốt sữa, tuyến sữa bị teo, tắc sữa

Có thể tiêm thêm các vitamin ADE, cho nái sau khi đẻ, thức ăn nái nuôi con cần có crom hữu cơ giúp nái hấp thu tốt tối đa lượng đường, bảo toàn thể trạng khi nuôi con Cần bổ sung các loại thức ăn là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, các loại thức ăn bổ sung đạm thực vật, khoáng, vitamin Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn

Trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:

- Đối với lợn nái ngoại

+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn

từ 1 - 2 - 3kg tương ứng

+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho ăn 4kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày

Trang 30

+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức:

Lượng thức ăn/nái/ngày = 2kg + (số con x 0,40kg/con)

+ Số bữa ăn trên ngày: 3 (sáng, chiều và đêm)

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày

+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30% + Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn

- Đối với lợn nái nội

+ Công thức tính nhu cầu thức ăn cho lợn nái nội nuôi con/1 ngày đêm Lợn nái nội có khối lượng cơ thể dưới 100kg, mức ăn trong 1 ngày đêm được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,2 kg + ( số lợn con theo mẹ x 0,18 kg )

Thức ăn thô xanh: 0,3 đơn vị

Lợn nái nội có khối lượng cơ thể từ 100 kg trở lên, mức ăn cho 1 ngày đêm giai đoạn nuôi con được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,4 kg + ( số con theo mẹ x 0,18 kg )

Thức ăn thô xanh: 0,4 đơn vị

Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Do vậy hàng ngày phải vệ sinh

Trang 31

chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô

úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp

là 18 - 200C, độ ẩm 70 - 75% và ánh sáng phải chiếu 24/24 giờ

2.2.6 Những đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ

2.2.6.1 Đặc điểm về sinh trưởng và phát dục

Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kì gia súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh con khoẻ mạnh

Theo Trần Văn Tường và cs (2000) [15] so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp

4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần

Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần Có sự giảm này

là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm Do lợn con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích luỹ các chất dinh dưỡng mạnh

Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích luỹ được 9 - 14 gam protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích luỹ được 0,3

- 0,4 gam protein/1kg khối lượng cơ thể theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [13]

Hơn nữa để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần rất ít năng lượng, nghĩa là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành Vì vậy, cơ thể lợn con chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc thì cần ít năng lượng hơn để sản xuất ra 1kg mỡ

2.2.6.2 Đặc điểm về cơ quan tiêu hoá

Đặc điểm chung về giải phẫu cơ quan tiêu hoá của lợn: Miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn

Trang 32

Cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh, các tuyến tiêu hoá phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hoá còn nhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần

Dung tích bộ máy tiêu hoá tăng nhanh trong 60 ngày đầu: Dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc

60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít) Còn dung tích ruột già lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 2,5 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít) theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [13] Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hoá giúp lợn con tích luỹ được nhiều thức ăn và tăng khả năng tiêu hoá các chất

Mặc dù vậy, ở lợn con các cơ quan chưa thành thục về chức năng , đặc biệt là hệ thần kinh Do đó, lợn con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tố tác động lên chúng Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hoá của lợn con cũng rất dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hoá

Khả năng tiêu hoá của lợn con rất hạn chế Theo Trần Văn Tường và cs (2000) [15] cho rằng: Lợn con dưới 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng đó gọi là hypohydric Do dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hoá protein của thức ăn Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hoá protein

Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hoá thực tế của dịch vị có enzym, sự tiêu hao của dịch vi tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh Hơn nữa

Trang 33

dịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hoá nhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa Đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con

Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh

ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, khi lợn con sinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh đường tiêu hoá

2.2.6.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con

Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não của lợn con chưa phát triển hoàn thiện Do đó việc điều tiết thân nhiệt và năng lực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường (nhiệt độ, đổ ẩm)

Ở lợn con, khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh, yêu cầu về dinh dưỡng ngày càng tăng cao Trong khi đó sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần cả về chất và lượng Đây là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ Nếu không kịp thời bổ sung thức ăn cho lợn con thì lợn thiếu dinh dưỡng dẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầy còm, nhiều lợn con mắc bệnh Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc phúc tình trạng khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau cai sữa

Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưa cân bằng

Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhau thai, điều kiện sống tương đối ổn định Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sống hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh còi cọc và chết

Ngoài ra lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dự trữ trong cơ thể lợn con còn thấp, trên cơ thể lợn lông còn thưa, mặt khác diện

Trang 34

tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi

Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng toả nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ Vì thế ở nước ta vào cuối mùa đông đầu mùa xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phương thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh Đây là điều kiện thuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hoá

Cần phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin

Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Do vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ, phun sát trùng, rắc vôi theo định kỳ Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và lắp máng tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 200C, độ ẩm 70 - 75% và ánh sáng phải chiếu 24/24 giờ

2.2.7 Những hiểu biết về phòng và trị bệnh cho vật nuôi

2.2.7.1 Phòng bệnh

Như ta đã biết “Phòng bệnh hơn chữa bệnh’’, nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh được tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy,việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau:

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:

Bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kếp hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra áp dụng

Ngày đăng: 04/03/2020, 20:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm