Từ sau năm 1975, cũng là lúc các nhà văn viết về chiến tranh và người lính với cái nhìn đa chiều hơn và đề cập được những mặt còn khuất lấp của hiện thực, tính cách và tâm hồn con người
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGÔ THANH HẰNG
TIỂU THUYẾT TƯ LIỆU TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI:
TRƯỜNG HỢP “HỒI ỨC LÍNH” CỦA VŨ CÔNG CHIẾN
VÀ “RỪNG ĐÓI” CỦA NGUYỄN TRỌNG LUÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Thái Nguyên – 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGÔ THANH HẰNG
TIỂU THUYẾT TƯ LIỆU TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI:
TRƯỜNG HỢP “HỒI ỨC LÍNH” CỦA VŨ CÔNG CHIẾN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS.LÊ THỊ NGÂN
Thái Nguyên – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên,30 tháng 11 năm 2019
Tác giả luận văn
Ngô Thanh Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm
ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí – Truyền thông và Văn học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo
đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn Lê Thị Ngân đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn
Thái Nguyên,30 tháng 11 năm 2019
Tác giả luận văn
Ngô Thanh Hằng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC……… ………… iii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 8
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 9
5 Phạm vi nghiên cứu 10
6 Cấu trúc của luận văn 10
7 Đóng góp của luận văn 10
NỘI DUNG 11
Chương 1: TIỂU THUYẾT TƯ LIỆU TRONG NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 11
1.1 Khái niệm tiểu thuyết tư liệu 11
1.2 Tiểu thuyết tư liệu trong dòng chảy văn học Việt Nam sau 1986 12
TIỂU KẾT CHƯƠNG I 18
Chương 2: KÝ ỨC LÍNH TRONG “HỒI ỨC LÍNH” VÀ “RỪNG ĐÓI” 19
2.1 Những hăm hở của ngày ra trận 19
2.2 Chiến tranh với ký ức về những trận đói và sốt rét rừng 29
2.3 Những ước mơ và khát vọng ngang chừng 37
TIỂU KẾT CHƯƠNG II 45
Chương 3: NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN CỦA TÁC GIẢ 47
3.1 Nghệ thuật kể theo dòng thời gian 47
3.2 Nghệ thuật kể theo thể loại hồi ký 54
3.3 Những sự kiện được kể trong tác phẩm 62
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 70
PHẦN KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Trong suốt những năm tháng hào hùng của hai cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, hình tượng người lính đã trở thành chủ thể và đối tượng sáng tạo chủ yếu của văn học Việt Nam Đã có rất nhiều áng văn, thơ viết về người lính - những con người quả cảm, dám hy sinh thân mình
để giành độc lập, tự do cho dân tộc, làm nên những trang vàng trong lịch sử nước nhà Chiến tranh đã lùi xa hơn 40 năm, nhưng đề tài người lính vẫn là mạch nguồn cảm hứng được nhiều nhà văn, nhà thơ tiếp nối Những năm tháng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cả dân tộc tưng bừng khí thế “đường ra trận mùa này đẹp lắm” Lý tưởng, hành động của lớp lớp thanh niên ngày ấy là
“Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù” Vì độc lập tự do của Tổ
quốc, tất cả đều hướng ra tiền tuyến, quên đi tất cả những toan tính riêng tư, những suy nghĩ cá nhân vì chiến thắng cuối cùng, không sợ hy sinh, gian khổ
và bom đạn của kẻ thù Tập trung khai thác vẻ đẹp anh hùng của người lính thông qua những trang viết của mình, các nhà văn đã làm sống dậy âm hưởng
sử thi hào hùng của cả một thời đại “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước Mà lòng phơi phới dậy tương lai” Họ đã xây dựng các nhân vật điển hình của mình với
những hình ảnh trong bối cảnh chiến đấu chống lại bom đạn ác liệt của kẻ thù, thể hiện những xúc cảm, tình yêu và tình đồng đội gắn bó Các nhà văn đã sống,
đã viết về đề tài chiến tranh với cái “ nhìn nghiêng” về cuộc chiến với những ánh hào quang chiến thắng vì thế nhân vật trung tâm cũng mang những âm hưởng sử thi anh hùng ca rất rõ nét Từ sau năm 1975, cũng là lúc các nhà văn viết về chiến tranh và người lính với cái nhìn đa chiều hơn và đề cập được những mặt còn khuất lấp của hiện thực, tính cách và tâm hồn con người mà trước đó, vì những lí do khác nhau họ chưa có dịp khai thác triệt để, thấu đáo Viết về chiến tranh của văn học Việt Nam đương đại là mảng đề tài được nhiều
nhà văn khai thác: Nguyễn Minh Châu với tác phẩm Cỏ lau cũng đã đưa ngòi
Trang 7bút lách sâu vào những nỗi niềm không dễ nói bằng lời; Chu Lai với Ăn mày
dĩ vãng, “Khúc bi tráng cuối cùng” dựng lại chân thực nhận thức con người thời chiến; Bảo Ninh qua Nỗi buồn chiến tranh xoay quanh hồi ức đứt đoạn
của một người lính về chiến tranh với những dằn vặt không dễ nguôi ngoai Những nhà văn đương đại đang nhìn lại chiến tranh dưới góc nhìn đa chiều hơn thấy được tính nhân bản, vì con người nhiều hơn so với văn học thời kỳ trước Viết về chiến tranh bằng nhiều góc nhìn đa diện, các nhà văn có thể sử dụng nhiều thể loại văn hoặc bút pháp khác nhau Nổi lên đó là thể loại tiểu thuyết
tư liệu viết về đề tài chiến tranh cách mạng từ chính những trải nghiệm của người trong cuộc Chúng tôi đặc biệt xét đến hai trường hợp tiểu thuyết tư liệu:
Hồi ức lính của Vũ Công Chiến và Rừng đói của Nguyễn Trọng Luân
1.2 Tác giả Vũ Công Chiến, nhập ngũ tháng 9 – 1971, Bộ đội Trường Sơn tại
chiến trường Nam Lào Thuộc mặt trận B3 Tây Nguyên, Đăklăk Ông là kỹ sư điện tử - Đại học Bách khoa Hà Nội Nay là Cán bộ Viện Khoa học Việt Nam; Viện nghiên cứu Điện tử, Tin học, Tự động hóa, Bộ Công thương
Hồi ức lính ra mắt ngày 30/4/2016, được Hội nhà văn Hà Nội trao giải "Tiểu thuyết đầu tay xuất sắc" Tác phẩm dài hơn 700 trang, hoàn toàn viết bằng ký
ức và trải nghiệm trong sáu năm ở chiến trường của Vũ Công Chiến
Tác phẩm kể lại cuộc đời lính theo thời gian tuyến tính, từ khi quyết định rời nhà trường đến những ngày hành quân ở Trường Sơn, từ trận chiến đầu tiên
ở chiến trường Nam Lào tới nhiều trận đánh ác liệt khác, những lần bổ sung quân, chuyển hậu cứ mới Vũ Công Chiến có viết trên bìa sách “Với tư cách cá nhân, với con mắt nhìn của một người lính bình thường, tôi kể lại những điều mình đã thấy, đã nghe, đã làm, cùng những suy nghĩ và cảm nhận khi đó” [4]
1.3 Nguyễn Trọng Luân – nhà văn, người lính nguyên là Tiểu đội trưởng trinh
sát, thuộc Đại đội 2, Tiểu đoàn 76, Sư đoàn 304 Trước khi xung phong lên đường nhập ngũ, tác giả Nguyễn Trọng Luân nguyên là sinh viên Khoa Cơ khí, Đại học Cơ điện Sau kháng chiến, Nguyễn Trọng Luân công tác trong ngành
Trang 8Thép Ông viết như để ghi lại kỉ niệm đời lính của mình và đồng đội Viết như một sự tri ân cho những đồng đội ngã xuống Trong suốt quãng thời gian viết văn của mình tuy xuất bản thành sách không nhiều nhưng từng cuốn sách Nguyễn Trọng Luân viết về quan điểm, góc nhìn của mình và được bạn bè trong giới văn học công nhận Nổi bật nhất trong số tác phẩm của Nguyễn Trọng
Luân phải kể đến Rừng đói, một cuốn tiểu thuyết phi hư cấu Không phải là
những trang giấy tràn đầy đau thương, mất mát, nhuốm đầy những máu, mà ở
Rừng đói, hiện thực chiến tranh tàn khốc được nhìn dưới một góc nhìn khác
Góc nhìn của chính người lính còn sống và trở về viết lại Ở góc nhìn này, ta thấy được những người lính rất lạc quan, dí dỏm và hài hước trong những câu
chuyện ở Rừng đói mang đậm dấu ấn của những người lính sinh viên
1.4 Tính đến thời điểm hiện tại có khá nhiều bài báo viết về hai tác phẩm Hồi
ức lính và Rừng đói Nhưng vẫn chưa có bài nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu
về hai tác phẩm từ đặc trưng của thể loại tiểu thuyết tư liệu Đặc biệt trong đề tài chiến tranh vẫn còn nhiều góc nhìn mới mẻ để khai thác dựa trên thể loại tiểu thuyết này Vì lý do đó, chúng tôi chọn đề tài: Tiểu thuyết tư liệu trong
văn học Việt Nam đương đại: Trường hợp “Hồi ức lính” của Vũ Công Chiến
và “Rừng đói” của Nguyễn Trọng Luân để đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Một số tác phẩm cùng thể loại
- "Quảng Trị 1972 – Hồi ức của một người lính" [39],của tác giả Nguyễn
Quang Vinh Ở đó bộ mặt thật của chiến tranh được phơi bày một cách trần trụi Cả vinh quang lẫn nước mắt, cả dũng cảm và hèn nhát Trong hoàn cảnh
cụ thể của mình, tác giả đã có những trang viết xúc động, đầy tự hào về tuổi trẻ
Hà Nội trong những ngày kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong đó có chính ông
- “Chuyện lính Tây Nam” [33] của tác giả Trung Sỹ tạo nên sự hoàn
chỉnh cần có của một tác phẩm kí, vừa có tính sử liệu vừa có tính sử thi Từ một
Trang 9anh lính Hà Nội hào hoa ra đi vào năm 18 tuổi Cái tuổi “vừa biết yêu” ấy đã được trận mạc dạy cho nhiều thứ từ phục kích, bắn lén, càn quét… cho đến đói khổ, buồn đau, trưởng thành
- “Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75” [10] của tác giả Trần Mai Hạnh cuốn
tiểu thuyết là những trang phác họa sinh động hầu hết chân dung tướng lĩnh quân đội và số phận những người cầm đầu chính quyền Sài Gòn trong 4 tháng cuối cùng của cuộc chiến, với những tư liệu được xem là tuyệt mật của phía bên kia Tác giả Trần Mai Hạnh có mặt trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử với tư cách là phóng viên đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam
2.2 Các bài viết về tác phẩm và sách cùng thể loại
- Hay như “Hồi ức lính” [38] tác giả Dương Phương Vinh có viết “Chưa
đầy 18 tuổi, vừa tốt nghiệp phổ thông, anh thanh niên Hà Nội Vũ Công Chiến vào
bộ đội Huấn luyện ở miền Bắc rồi vào Trường Sơn, chiến đấu ở chiến trường Nam Lào, ở mặt trận B3 Tây Nguyên, Daklak, đánh đến tận cuối tháng 4/1975 giải phóng Tuy Hòa Anh đã không bỏ phí một ngày nào trong 6 năm quân ngũ, bằng cách kể lại tất cả những gì mình và đồng đội đã trải một cách chân thực nhất
có thể, sinh động lạ lùng Hạnh phúc cho anh, và may mắn cho người đọc Là hồi
ức nhưng có rất ít trữ tình ngoại đề, ít khoảng lặng trong sách Các nhân vật cứ ào
ào cuốn đi trong những cuộc tác chiến, lập chốt giữ chốt, trinh sát, tiềm nhập, diệt thám báo, đoạt chiến lợi phẩm, ca cóng Luôn chân luôn tay làm cái gì đó, nói điều gì đó, bộc lộ tính cách, số phận, phơi trần những mảng hiện thực sáng tối của chiến tranh Cả phía mình lẫn đối phương “Biết có sống đến mai mà để củ khoai đến sáng”, nên không thể phí hoài…Hồi ức lính không phải tiểu thuyết mà hoàn toàn phi hư cấu 700 trang nếu chẻ nhỏ ra, sẽ được vô số truyện ngắn không đụng hàng bất cứ ai Cả cuốn sách là nguồn tư liệu, là gợi ý cho bất cứ bộ phim dài tập
về chiến tranh nào
- Hồi ức lính – Chiến tranh không phải trò đùa của Anh Sa [29] có đoạn:
“Tác giả viết với giọng văn chân thật, giản dị nhưng đầy sống động Qua đó,
Trang 10cuộc sống chiến trường, hình ảnh người lính hiện lên một cách chân thực, đời thường và con người nhất Nhà văn Bảo Ninh chia sẻ trong một bài viết rằng ai muốn viết sách, làm phim về chiến tranh thì phải đọc Hồi ức lính, để hiểu từ cách ăn, cách mặc, cách nói chuyện, cầm súng cho đến tinh thần của họ Tác phẩm được đánh giá như kho tư liệu đầy giá trị cho lịch sử, văn học, điện ảnh
Ở đó, không có sự màu mè, ở đó đúng là cuộc sống người lính như vốn dĩ Tác giả bảo ông viết để nhiều người thấy rằng không phải cứ lính chiến trở về là
"lính bàn giấy" mà họ đã sống thật, chiến đấu thật và để một phần tuổi trẻ có thật của họ lại chiến trường.”
- Trương Cộng Hòa tác giả bài báo Muộn còn hơn không – nhân đọc tiểu thuyết “Rừng đói” [11] có đoạn viết “Nói theo kiểu phê bình thì tiểu thuyết
“Rừng đói” đã có những nhân vật điển hình trong những hoàn cảnh điển hình
Trong lời cuối truyện, Nguyễn Trọng Luân nói rất khiêm tốn: "Trong bao nhiêu
sự dũng cảm của người lính, bao nhiêu trận đánh hào hùng ngày ấy chúng tôi từng trải qua, chúng tôi thấy mọi sự trở nên bình thường vì chúng tôi là lính” Chuyện về một tiểu đoàn chưa giáp trận chỉ đi đào sắn cho đơn vị ăn mà đánh nhau… không có gì li kì cao siêu cả Ấy vậy mà những người lính sinh viên thì nhớ mãi Nó còn nhớ rõ rệt hơn những trận đánh sau này của đời lính trận chúng tôi Trong cái tiểu đoàn mót sắn này có hai người trở thành Anh hùng lực lượng
vũ trang và hàng chục dũng sĩ ưu tú”
- Trong Rừng đói – Truyện hay độc đáo không cần bịa,Sương Nguyệt Minh có nhận xét “Nhà văn Nguyễn Trọng Luân vốn là sinh viên cơ điện, nhập vai trần thuật, cũng là người trong cuộc, can dự vào những năm tháng “Rừng đói” Câu chuyện ông Luân kể là các sự kiện, tình huống, không gian, nhân vật
có thật, thời gian trôi như bóng câu qua cửa sổ người đã chết song cũng nhiều
người đang còn sống hôm nay Có thể nói quyền lực của Rừng đói là sức mạnh
của sự thật hấp dẫn…Một tiểu đoàn gồm 4 đại đội sinh viên Sinh viên Bách khoa, Mỏ Địa chất, Y khoa, Nông nghiệp, điện, hành quân 3 tháng vượt
Trang 11Trường Sơn vào tận chiến trường Điều đặc biệt là không phải đánh nhau, tiểu đoàn sinh viên lãng mạn, mơ mộng này sang đất Căm Pu Chia, chỉ làm một việc là mót sắn, gùi về nước tăng khẩu phần lương thực cho sư đoàn hàng ngàn quân ăn như tằm ăn dỗi, và đánh giặc Định mức 25kg sắn một ngày, thái lát, phơi khô Những chuyện đói khát, ăn mặc rách rưới, lính trẻ tếu táo, tâm trạng buồn vui, ước mơ, khát khao một mùi hương con gái, sốt rét ác tính, chết chóc, thương vong đều diễn ra tại đây Chiến trường không có tiếng súng, đạn nổ, bom rơi, chiến hào lở loét, vết thương bầm rập , nhưng nhà văn Nguyễn Trọng
Luân đã làm được một việc kỳ tài là chỉ bằng Rừng đói ông cũng dựng lên cuộc
chiến tranh khốc liệt của riêng ông, của những người lính như ông, và cả những bạn đọc như tôi” [23]
- Khúc vĩ thanh của một cuốn tiểu thuyết có đoạn “Là một cuốn tiểu
thuyết viết về chiến tranh không có tiếng súng đạn, không có những trận chiến đấu khốc liệt với kẻ thù, nhưng những người lính trong “Rừng đói” lại phải đối mặt với một thứ thậm chí kinh khủng, đáng sợ hơn cái chết, đó là đói và sốt rét trên đường hành quân Những câu chuyện trong “Rừng đói” hết sức giản dị, và chân thực về những người lính sinh viên Cơ điện, Y Khoa - "mặc
áo học trò đi đánh giặc/ cắt tóc thư sinh lội chiến trường", họ vượt rừng, băng suối hành quân vào chiến trường B3 Tây Nguyên đánh Mĩ với cái bụng rỗng không Họ phải dùng những tấm ảnh kỉ niệm của mình, quần áo lót, quân tư trang… đổi lấy lương thực của đồng bào hòng sống sót hành quân đến nơi chiến sự ác liệt” [14]
- Những bài học về chiến tranh của John Merson: là cuốn hồi ký của
một cựu lính thủy đánh bộ tham chiến tại Việt Nam, một tài liệu sống động tường thuật lại cuộc chiến dưới con mắt của người thanh niên (những người lính già chắc cũng không quên được cuộc chiến ấy) Nó phản ánh chân thực về trách nhiệm của người lính trong chiến tranh cũng như trách nhiệm của các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ trong việc cam kết đưa quân tham gia vào những cuộc xung
Trang 12đột vũ trang Đây là một cuốn sách hay và cảm động, cho thấy chính xác những quyết định tệ hại ở Washington đã dẫn tới những quyết định sai lầm trên chiến trường - tấn thảm kịch đối với những người lính trên mặt trận “Liệu chiến tranh
đã kết thúc khi những đứa trẻ lớn lên không có cha mẹ? Tôi đã từng gặp những thanh niên Việt Nam và Mỹ lớn lên với một khoảng trống mênh mang bởi họ chưa từng được biết cha mẹ mình Nỗi đau và sự xáo trộn trong họ là hết sức
rõ nét dù hàng thập kỷ đã trôi qua” [15]
- Mùa chinh chiến ấy là những mảng hồi ức của nhà văn – chiến binh
Đoàn Tuấn về anh và đồng đội trong cuộc chiến biên giới Tây Nam – một cuộc chiến tranh bắt buộc ngay sau ngày thống nhất nước nhà Chiến trường
K giai đoạn cuối năm 1978 đến giữa những năm 1980 là nơi bộ đội Việt Nam phải đối mặt với một kẻ địch nguy hiểm, liều lĩnh và môi trường xa lạ, khắc nghiệt hơn cả hai cuộc kháng chiến trước đó Trong bối cảnh âm thầm mà khốc liệt của gần 40 năm về trước ấy, truyện đưa người đọc theo dấu chân tuổi 18 của nhân vật “tôi” – người lính sư đoàn 307, đi tới tận những miền rừng núi heo hút xứ người Đó là cuộc hành quân dài hàng ngàn cây số: từ Pleiku, theo đường 19 tiến về hướng Tây, để đẩy lùi và tiêu diệt tàn quân Khmer Đỏ ở vùng Đông - Bắc Campuchia Đoàn Tuấn viết trong sáng, tự nhiên, nhưng khi cần cũng không hề né tránh những mảng gai góc của hiện thực [35]
2.3 Nghiên cứu tổng quát tác phẩm của Vũ Công Chiến và Nguyễn Trọng Luân
Đã có khá nhiều bài phê bình, đánh giá về các tác phẩm của Vũ Công Chiến và Nguyễn Trọng Luân Điều đó chứng tỏ sáng tác của họ đã chiếm được
sự quan tâm của giới phê bình văn học và công chúng yêu nghệ thuật
Với Vũ Công Chiến, ông bắt đầu viết văn từ khoảng 2008 đến giờ Đầu
tháng 11/2013 ông bắt tay vào viết Hồi ức lính và bắt đầu nổi tiếng sau khi cuốn Hồi ức lính được xuất bản năm 2016 đạt được giải thưởng “Tiểu thuyết đầu tay xuất sắc” của Hội Nhà văn Hà Nội Vẫn lối viết giản dị, mộc mạc Vũ Công
Trang 13Chiến đưa người đọc vào sâu những ký ức về thời chiến tranh của mình Từ những ngày đầu chỉ là cậu học sinh học hết cấp ba đăng ký khám tuyển nghĩa
vụ Cho đến những ngày bắt đầu bước vào đời lính, chuyện huấn luyện, chuyện
ăn ở, tác phong của lính mở ra trước mắt anh lính trẻ Đến lúc hành quân ra chiến trường phải đối mặt với địch, có máu, có nước mắt, mùi súng đạn nơi trận mạc ra sao Cho đến cuối cùng ngày trên đất nước không còn tiếng súng đạn nữa cũng được Vũ Công Chiến kể lại đầy đủ, tỉ mỉ Khoảng thời gian oanh liệt nhất trong cuộc đời của ông – 6 năm làm lính, chính 6 năm này đã cho bạn đọc
có được một tác phẩm viết về chiến tranh chân thực, sâu sắc và sinh động như
vậy đó là Hồi ức lính
Với tác giả Vũ Trọng Luân, trước và sau Rừng đói ông đã từng viết rất
nhiều truyện ngắn, chủ yếu về đề tài chiến tranh và những chiêm nghiệm trong
cuộc sống Tuy nhiên chúng tôi chọn Rừng đói để đặt vào nghiên cứu chung với Hồi ức lính bởi vì Rừng đói cũng là tác phẩm kể về anh sinh viên bắt đầu
bước vào đời lính Cùng hoàn cảnh là những người sinh viên nhập ngũ theo lệnh Tổng động viên Cuộc đời quân ngũ của họ có điểm gì giống nhau, điểm
gì khác nhau Khám phá những nét đặc sắc trong Hồi ức lính và Rừng đói,
những câu chuyện chân thực, không tô hồng, từng trang viết chính là nguồn tư liệu lớn giúp chúng tôi thực hiện luận văn này
3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Cái nhìn về chiến tranh, về người lính của tác giả Vũ Công Chiến và
Nguyễn Trọng Luân qua Hồi ức lính và Rừng đói dưới góc nhìn của tiểu thuyết
tư liệu
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Chọn đề tài “Tiểu thuyết tư liệu trong văn học Việt Nam đương đại: Trường hợp “Hồi ức lính” của Vũ Công Chiến và “Rừng đói” của Nguyễn Trọng Luân”, chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nào đó vào việc tìm
Trang 14hiểu về quan điểm sáng tác, nhìn nhận về chiến tranh từ góc nhìn của người trong cuộc Qua đó, thấy được những đóng góp của thể loại tiểu thuyết tư liệu
mà tác giả Vũ Công Chiến và Nguyễn Trọng Luân đã mang lại cho văn học Việt Nam đương đại
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Từ đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết tư liệu, tìm hiểu về hình ảnh người lính trong chiến tranh qua điểm nhìn của người trong cuộc với hai tác phẩm
Hồi ức lính và Rừng đói
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nêu trên, trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã
sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp hệ thống: Đặt Hồi ức lính và Rừng đói trong bức tranh
tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh của văn học Việt Nam đương đại, để thấy những điểm chung của thể loại văn học đề tài chiến tranh Phát hiện điểm nhìn mới mẻ của Vũ Công Chiến và Nguyễn Trọng Luân trên các bình diện: tình huống, nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này nhằm làm nổi bật những đặc
trưng riêng trong hình ảnh người lính từ truyện Hồi ức lính với hình ảnh người lính của Rừng đói
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích các vấn đề, các tình huống truyện, từ đó khái quát nên những đặc điểm chung và riêng của trong truyện
Hồi ức lính và Rừng đói
- Phương pháp lịch sử: Phương pháp này để thấy ở những thời điểm khác nhau, sẽ có quan điểm, cách nhìn khác nhau về lịch sử, xã hội, từ đó, chỉ ra những nét riêng có sự kế thừa và những cái nhìn mới của nhà văn
Trang 155 Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu đề tài này, ngoài hai tác phẩm Hồi ức lính của
Vũ Công Chiến và Rừng đói của Nguyễn Trọng Luân Chúng tôi đi vào khảo
sát những tập truyện viết về chiến tranh là tiểu thuyết tư liệu của những nhà
văn khác như: Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 tác giả Trần Mai Hạnh Quảng Trị 1972 – Hồi ức của một người lính tác giả Nguyễn Quang Vinh Chuyện lính Tây Nam tác giả Trung Sỹ và một số tác phẩm tiểu thuyết tư liệu về chiến
tranh khác
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn của tôi được triển khai thành ba chương:
Chương 1: Tiểu thuyết tư liệu trong nền văn học Việt Nam hiện đại
Chương 2: Ký ức lính trong “Hồi ức lính” và “Rừng đói”
Chương 3: Nghệ thuật kể chuyện của tác giả
7 Đóng góp của luận văn
- Điểm lại một số vấn đề cơ bản về tiểu thuyết tư liệu trong đề tài chiến
tranh ở Việt Nam
- Thêm một góc nhìn về chiến tranh và người lính từ những người trong
cuộc qua thể loại tiểu thuyết tư liệu (tiểu thuyết phi hư cấu)
- Qua đó đánh giá được những đóng góp của tác giả Vũ Công Chiến và tác giả Nguyễn Trọng Luân với văn học Việt Nam đương đại nói chung và với
đề tài chiến tranh nói riêng
Trang 16NỘI DUNG Chương 1 TIỂU THUYẾT TƯ LIỆU TRONG NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Khái niệm tiểu thuyết tư liệu
Tiểu thuyết tư liệu, còn gọi là tiểu thuyết không hư cấu, dựa vào những chứng cứ lịch sử kết hợp với sáng tác văn học Tác phẩm dựa trên nền tảng là một cuốn hồi ký, chỉ thay thế lời kể bằng cách hành văn của tiểu thuyết, một số
tư liệu lịch sử đã công bố Toàn bộ nhân vật, sự kiện, chi tiết… đều là sự thật được lấy từ các tài liệu do chính các nhân vật thực hiện (bản tường trình, hồi
ký, tờ khai…), tác giả chỉ bổ sung vào đó những đoạn đối thoại, diễn biến tâm lý… mà ngay cả những điều đó cũng là dựa vào tư liệu lịch sử Có thể coi đây
là thể loại tiêu biểu cho sự kết hợp giữa văn chương và lịch sử, là một tài liệu nghiên cứu lịch sử khá nghiêm túc
Tiểu thuyết tư liệu được cho là hình thành sau chiến tranh thế giới thứ hai Từ những bí mật trong chiến tranh, đến diễn biến của các chiến dịch Lý
do nào quyết định thắng bại của các trận đánh và số phận của những điệp viên thời đó như thế nào…Những gì được coi là bí mật lúc bấy giờ sớm muộn cũng
sẽ được giải mã, nếu các nhà văn, nhà báo cứ giữ nguyên như vậy mà bày ra trang giấy thì sẽ dẫn đến khô khan Đại chiến thế giới qua đi, có những sự việc
đã qua nhưng lịch sử chưa kịp ghi chép lại Bởi vậy nên cần có những nhân chứng, những người đã từng sống, từng trải qua thời gian đó, sự kiện đó lên tiếng kể lại, viết lại, tường thuật lại mang tính phiêu lưu, trinh thám Nên ban đầu tiểu thuyết tư liệu được coi như tiểu thuyết phiêu lưu, tiểu thuyết trinh thám
Nói đến tiểu thuyết là nói đến hư cấu tưởng tượng Làm sao để kết nối giữa thể loại hư cấu và cái thực trong đầu tác giả, bằng cách nào trần thuật sự việc hiện hữu, những sự kiện làm rung động toàn cầu qua nỗi đau chẳng ai biết được ngoài người trong cuộc Chính vì nhu cầu đó đã mở ra thêm một miền đất
Trang 17hứa cho báo chí, văn học giao thoa Tiểu thuyết tư liệu ngày càng tự khẳng định
vị thế của mình chỉ sau một thời gian ngắn Nhiều cuốn truyện hút khách, mang lại lợi nhuận cao cho nhà xuất bản và sự nổi tiếng cho tác giả Nửa thế kỷ qua, không ít tác phẩm thuộc thể loại này nếu chưa hẳn là tuyệt tác, là phi thời gian thì ít nhất cũng đã để lại dấu ấn trong văn học – báo chí đương đại
Trong nước ta thể loại này có Ông cố vấn của Hữu Mai là bộ tiểu thuyết
không hư cấu sáng giá đầu tiên trong văn học Việt Nam Đã hội tụ đủ mọi yêu cầu, đặc điểm của tiểu thuyết tư liệu.Tác giả khẳng định: “Bạn đọc có thể gặp nhiều nhân vật của cuốn sách này đang tiếp tục cuộc sống bình dị của họ sau những biến cố lịch sử tại nước ta cũng như ở đâu đó một số nước ngoài Nếu có những sai sót về họ, tác giả rất mong sẽ được chính họ góp ý kiến để bổ cứu cho lần in sau nếu cuốn sách có được may mắn đó” Qua đó càng chắc chắn rằng muốn viết được tiểu thuyết tư liệu, trước hết phải có tư liệu
1.2 Tiểu thuyết tư liệu trong dòng chảy văn học Việt Nam sau 1986
Tiểu thuyết là "tác phẩm tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó; sự trần thuật
ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt "cơ cấu" của nhân cách" [1, tr.131]
Từ sau năm 1986, nền văn học Việt Nam nói chung và tiểu thuyết viết
về lịch sử nói riêng đã có sự vận động, đổi mới và phát triển trong điều kiện hoàn toàn khác biệt so với những năm tháng đất nước còn chiến tranh Dưới tác động của các yếu tố mang tính thời đại như: nền kinh tế thị trường, sự bùng nổ của các phương tiện thông tin, nhu cầu trong thị hiếu tiếp nhận, giao lưu tương tác giữa các nền văn hóa cũng như văn học trong kỷ nguyên toàn cầu hóa Sự đổi mới trong tư duy tiểu thuyết còn thể hiện ở việc các sáng tác đã khắc họa con người là một bản thể tự nhiên, khác biệt so với tiểu thuyết giai đoạn trước luôn đề cao phần ý thức xã hội mà quên đi phần tự nhiên Đặt trong tương quan với các nhà tiểu thuyết thời kỳ trước thì các nhà văn viết tiểu thuyết ngày nay
Trang 18đã từ bỏ được lối nhìn một cách phiến diện, chủ quan về đời sống và con người
Bùi Việt Thắng viết trong Tiểu thuyết đương đại “vì con người, vì tất cả những
gì con người trải nghiệm và mong muốn” [34, tr.8] Chính việc đổi mới và sáng tạo trong không gian văn hóa mới đã tạo nên những tiền đề quan trọng để mỗi tác giả giải phóng lối mòn về tư duy viết xưa cũ Mà ngày nay họ có cách viết phiêu lưu trong bút pháp, thể nghiệm trong nghệ thuật tự sự tạo nên bức tranh
đa chiều, sinh động của tiểu thuyết tư liệu lịch sử Việt Nam sau 1986 Với việc đổi mới được lối mòn trong tư duy, dám nhìn thẳng vào và đối diện với sự thật,
đề cao tinh thần sáng tạo, các nhà văn, các nhà lý luận - phê bình nhận ra:
“Không thể khuôn tiểu thuyết vào một số nguyên tắc nghệ thuật cứng nhắc, bất biến, mà chính là phải mở ra những khả năng tiềm tàng vốn có của thể loại này” [25, tr.32]
Sau các tác phẩm được coi như “bộ ba nổi loạn” - Kiếm sắc, Phẩm tiết, Vàng lửa của Nguyễn Huy Thiệp, các nhà văn giai đoạn này đã thay đổi cách
thức tiếp cận và cái nhìn về lịch sử: Viết - đọc văn phải khác viết - đọc sử Trong đó, các tiểu thuyết gia viết thiên về luận giải lịch sử hơn là minh họa lịch sử Sự diễn giải ấy bao gồm quan niệm mới về lịch sử và diễn ngôn về lịch sử Từ đây mở ra chân trời mới cho những tưởng tượng và diễn giải lịch
sử, làm xuất hiện nhiều khuynh hướng, cảm thức, cùng những lối viết rất khác biệt
Các sáng tác của nhà văn không chỉ mở rộng đề tài, chủ đề theo hướng tiếp cận gần gũi hơn với hiện thực đời sống sinh hoạt, chuyện đời tư thế sự, những sự kiện của đời sống văn hóa tâm linh dân tộc, mà quan niệm của các nhà văn cũng thay đổi trong một số vấn đề về thể loại và về lịch sử Hiện thực lịch sử không chỉ gói gọn trong những biến cố, sự kiện và đời sống cộng đồng
mà được nhìn dưới cái nhìn sâu hơn, “đời hơn” Văn học sáng tạo kết hợp với lịch sử đã đi đúng vào bản chất, khám phá lịch sử, văn hóa và con người ở những nơi trước đây bị che khuất Trong khi miêu tả lịch sử, nhà văn đã mang
Trang 19lại cho lịch sử những “gương mặt người” Việc lồng ghép được giữa đời tư - thế sự - nhân văn đã giúp giữ vững vai trò cốt yếu trong cảm quan nghệ thuật của các nhà văn sáng tạo về đề tài lịch sử Nhiều nhà văn đề xuất những cách nhìn mới về lịch sử, mở ra cái nhìn đa chiều đối với nhiều thời đại trong quá khứ Từ đó suy ngẫm và giải mã những vấn đề trước đây còn bỏ ngỏ, đi tìm lời giải đáp cho các câu hỏi của hiện tại Trong tiểu thuyết lúc này lịch sử trở thành cảm nhận, diễn ngôn cá nhân, được nhà văn nhìn nhận dưới cái nhìn triết học
và tiếp nhận trên tinh thần nhân văn hiện đại
Đóng góp cho nền văn học nước nhà hiện nay, nhiều tác phẩm không chỉ mang lại những giải thưởng cao quý cho nhà văn mà còn trở thành món ăn tinh thần thú vị thu hút sự quan tâm, bàn luận của giới phê bình văn học cả nước cũng như sự tò mò khám phá của độc giả Đến nay thể loại tiểu thuyết này vẫn đang không ngừng vận động và phát triển, mang lại những đổi mới, cách tân về lối viết và những hình thức diễn ngôn mới về lịch sử
Tuy chiến tranh đã lùi xa, đất nước hoàn toàn giải phóng và dân tộc ta được sống trong hòa bình Nhưng hơn ba thập kỷ trôi qua dư âm của hai cuộc chiến tranh vẫn còn đó, cháy âm ỉ trong tiềm thức Đặc biệt với những người từng trực tiếp đi qua chiến tranh hay những người lớn lên cùng tiếng bom đạn
Vì lẽ đó chiến tranh từ trước đến nay vẫn được coi là “siêu đề tài”, là mảnh đất màu mỡ với các tác giả
Nguyễn Minh Châu viết "rất nhiều cuộc đời của những con người bình thường nhưng chứa đựng số phận của cả đất nước, chứa đựng cả một bài học lớn về đường đời, đang cần ngòi bút của nhà văn soi rọi trên trang giấy" [3]
Nhà văn Xô Viết Bôn-da-rep đã viết: “Chiến tranh là một chấn động lớn nhất trong đời sống xã hội của loài người, là một thử thách lớn khôn lường đối với nhân dân, và do đó các nhà văn sẽ luôn tìm đến đề tài chiến tranh Đặc biệt
là những nhà văn đã từng nghe tiếng súng máy rít trên đầu và đã không phải một lần đau nỗi đau mất mát” [2]
Trang 20Chu Lai đưa ra nhận định về chiến tranh trong đoạn kết Ăn mày dĩ vãng:
“Cuộc chiến tranh vừa qua có thể là trò đùa, nhưng sự mất mát lại là có thật Cuộc đời hôm nay có thể chỉ là tấn tuồng, nhưng nỗi buồn không bao giờ là một màn kịch cả” [17]
Từ sau năm 1986 văn chương viết về chiến tranh đã có nhiều khởi sắc
và được thử sức ở nhiều thể loại khác nhau Bên cạnh những thể loại văn xuôi như ký, hồi ký, nhật ký, truyện ngắn thì tiểu thuyết đạt được những thành tựu nổi bật, góp phần không nhỏ vào việc thay đổi diện mạo văn học Việt Nam đương đại Trong những năm gần đây trên văn đàn văn học Việt Nam chứng kiến sự trở lại ấn tượng của thể loại tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh Những câu chuyện về chiến tranh là máu lửa, bom đạn, là ly biệt, nước mắt có thể thấm đẫm từng trang giấy Tuy nhiên, vẫn còn đó những ấm áp, những ngọn lửa ấm nóng của tinh thần dân tộc, dòng máu tự tôn dân tộc chảy trong huyết mạch mỗi người Bởi vậy, chiến tranh là mảnh đất màu mỡ cho các nhà văn làm nghệ thuật Mỗi tác giả là một góc nhìn khác về chiến tranh, nhà văn Bảo Ninh từng nói: “Ngay cả nếu như vốn cùng là lính, có thể là cả cùng đơn vị, thì mỗi nhà văn cũng vẫn có suy nghĩ riêng, tâm trạng riêng, cách nhìn riêng về chiến tranh không giống nhau, thậm chí trái ngược nhau Bởi vì thế mới là văn chương Mới là nhà văn Mới là con người” [16]
Sương Nguyệt Minh lại bày tỏ quan điểm khi viết về chiến tranh trong
Tiểu thuyết Miền hoang ông đã gửi vào lời anh Du khi nói với Tùng về quan
niệm viết văn: “Có lẽ anh mày sẽ viết những gì đã chứng kiến Viết bằng tâm thế người can dự trong cuộc đi suốt cuộc chiến tranh với nỗi phấp phỏng băn khoăn giày vò, chứ không viết bằng thứ tình cảm đi xem người ta đánh nhau rồi sáng tác…” [22, tr.232-233]
Những tiểu thuyết về chiến tranh sau 1986, người đọc cảm nhận được nhiều vấn đề sâu sắc về chiến tranh liên quan đến số phận từng con người Hậu quả ghê gớm của chiến tranh để lại, hủy diệt sự sống, tình yêu và nhân cách
Trang 21con người và những di chứng của nó trong Nỗi buồn chiến tranh – Bảo Ninh Đến bi kịch ngày trở về với xóm làng quê hương của người lính trong Bến không chồng – Dương Hướng Đọc Ăn mày dĩ vãng – Chu Lai lại là nỗi ám ảnh
với chiến tranh, người lính sau cuộc chiến cố gắng quên đi quá khứ và chối bỏ chính mình, chối bỏ cả những đồng đội đã từng sống chết bên nhau Hay như
Tàn đen đốm đỏ - Phạm Ngọc Tiến là tình đồng chí, đồng đội, những cái chết
rùng rợn, tội ác của kẻ thù, sự cao thượng của người lính cách mạng Những nhân vật thuộc phe ta không còn hiện lên như những con người được lý tưởng hóa, không còn là sự kết hợp cả nét đẹp về ngoại hình, về tính cách, tâm hồn,
về thành phần xuất thân, mà họ là những con người bình thường, họ cũng có những khuyết điểm, những sai lầm Bên cạnh đó, nhân vật thuộc phe địch cũng không phải những con người xấu toàn diện, mà họ cũng là những con người bình thường, trong chiến trận biết xông pha, trong đời thường cũng có tình cảm đôi lứa, tình cảm gia đình hay cũng có tâm hồn lãng mạn Bằng góc nhìn đa chiều hơn một số nhà văn đương đại cho rằng kẻ thù của chúng ta ở bên kia chiến tuyến cũng có một số nét tính cách tích cực, có những người cũng suy tư,
có khát vọng hòa bình và có lý tưởng khi cầm súng Họ không phải là những
kẻ khát máu, điên cuồng trong cuộc chiến, nhưng họ thất bại vì thiếu chính nghĩa Tiểu thuyết tư liệu về đề tài chiến tranh nổi lên như một khuynh hướng
có triển vọng Một loại tiểu thuyết nhưng không phải hư cấu, bởi vì sử dụng những tư liệu của lịch sử hoặc của cá nhân.Sáng tác mang tính chủ quan nhưng
tư liệu mang tính khách quan Nhưng cũng có trường hợp đôi khi người viết áp đặt cái nhìn chủ quan vào tác phẩm Ranh giới giữa hư cấu và bịa đặt rất mong manh Một số tác phẩm viết về chiến tranh khiến độc giả chỉ còn thấy sự bấn loạn của con người Sự rùng rợn của chiến tranh nhan nhản máu và xương Nhưng có những tác phẩm giọng văn không cần phải đanh thép, không đầy ắp mùi súng đạn cũng đủ sức in đậm trong tâm trí người đọc bởi tính chân thực
của chiến tranh Hồi ức lính của tác giả Vũ Công Chiến, được xây dựng trên
Trang 22hình thức tiểu thuyết nhưng thực tế là những kỷ niệm của chính mình và đồng đội được tác giải viết thành văn Thậm chí là cả những đồng đội không cùng đơn vị, đóng góp thông tin qua trang mạng xã hội khi nghe tin tác giả đang thu
thập tư liệu viết sách Tác phẩm Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 của nhà văn,
nhà báo Trần Mai Hạnh cũng có thể coi là cuốn tiểu thuyết tư liệu để lại nhiều
ấn tượng Trong đó, toàn bộ nhân vật, sự kiện, chi tiết… đều lấy từ bản tường trình, tờ khai, hoặc hồi ký lấy từ các tài liệu của chính các nhân vật có thực, tác giả bổ sung vào đó những đoạn đối thoại, diễn biến tâm lý cũng dựa trên lịch
sử Có thể coi đây là tác phẩm tiêu biểu cho sự kết hợp giữa tiểu thuyết và tư liệu lịch sử, là một tài liệu nghiên cứu lịch sử khá nghiêm túc Mỗi tác phẩm
kể trên có một sức lôi cuốn riêng, chinh phục độc giả bằng sức mạnh của sự chân thực, bằng những trải nghiệm cá nhân, rất riêng tư nhưng lại gắn liền với
cả một thời kỳ lịch sử, nó được sáng tác không chỉ bằng khả năng ghi nhớ mà bằng sự cảm nhận của tất cả các giác quan, và điều quan trọng hơn là bằng sự từng trải, giúp người đọc tiếp cận gần hơn với quá khứ
Dưới sự tác động của tư duy đổi mới, đi cùng sự thay đổi về quan niệm hiện thực chiến tranh, quan niệm nghệ thuật về con người của tiểu thuyết viết
về chiến tranh kết hợp yếu tố tư liệu Tiểu thuyết tư liệu đã đào sâu hơn nữa những yếu tố đời sống cá nhân thuộc về đời tư, bản ngã tự nhiên của con người như góc khuyết của văn học giai đoạn trước nay đã được lấp đầy
Trang 23TIỂU KẾT CHƯƠNG I
Tiểu thuyết tư liệu viết về chiến tranh đã thể hiện một quan niệm không đơn giản xuôi chiều về con người, từ khát vọng khám phá con người ở nhiều thang bậc giá trị, đến những tọa độ ứng xử khác nhau, ở nhiều chiều hướng khác nhau
Con người cá nhân của người lính trong thời khắc chiến tranh vẫn luôn
ẩn chứa những điều tốt đẹp làm cho họ muốn được sống, được hưởng thụ Nhưng không phải họ để những nhu cầu bản năng đó làm họ chùn bước trước
kẻ thù Nói như Chu Lai: “Chiến tranh chính là điều kiện, là tình huống để đẩy mạnh cái suy nghĩ đời thường lên một đỉnh điểm” [17, tr.179] Và văn học qua
thể loại tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh đã hé mở để khai thác cái mạch ngầm bên trong ấy một cách đầy đủ hơn Bộ mặt trần trụi của chiến tranh và số phận khốc liệt của con người trong hiện thực đã đi đến cùng cái bi kịch của nó Cách lý giải về con người cá nhân ở những góc độ xã hội và tự nhiên ẩn sâu trong cả những góc khuất tâm linh đã đưa đến cái nhìn về chiến tranh thời hậu chiến đầy chân thực Tiểu thuyết chiến tranh thời hậu chiến suy cho cùng không còn là khúc ca ngân dài của bản anh hùng ca chiến trận, thay vào đó các nhà văn đang cố “bóc gỡ” một mặt trái về chiến tranh sâu sắc hơn, phơi bày lên trên trang giấy những góc cạnh khác nhau của chiến tranh qua những số phận cá nhân cụ thể, sinh động
Nhìn chung, tiểu thuyết về chiến tranh sau 1986 thể hiện cái nhìn đầy suy ngẫm trên tầm triết mỹ của nhà văn sự sống – cái chết, chiến tranh – hòa bình, quá khứ – hiện tại trong một tư duy gợi mở, đầy tính đối thoại
Trang 24Chương 2
KÝ ỨC LÍNH TRONG “HỒI ỨC LÍNH” VÀ “RỪNG ĐÓI”
2.1 Những hăm hở của ngày ra trận
Từ năm 1970 đến 1972 theo lệnh tổng động viên, hàng nghìn sinh viên các trường đại học lên đường nhập ngũ, bổ sung lực lượng chiến đấu cho chiến trường Thế hệ "xếp bút nghiên lên đường chiến đấu" khi ấy gồm các sinh viên, cán bộ giảng dạy của hơn 30 trường đại học, trung học miền Bắc, chủ yếu là thủ đô Hà Nội, từ Bách khoa, Tổng hợp, Sư phạm, Kinh tế Kế hoạch (ĐH Kinh
tế quốc dân), Mỏ - địa chất, Y dược, Mỹ thuật, Thể dục thể thao Ra đi từ giảng đường, họ được huấn luyện một thời gian rồi được bổ sung vào các đơn
vị vào thẳng chiến trường Những người lính ra đi từ giảng đường đại học năm
ấy đã để lại một phần tuổi trẻ ở chiến trường, chỉ một phần thôi, nhưng đó là phần tinh hoa nhất cuộc đời Vũ Công Chiến và Nguyễn Trọng Luân, hai tác giả đều là những người sinh viên đi lính thời đó Họ đã trải qua những thăng trầm những khắc nghiệt của chiến tranh, để ngày nay viết lại mảng kí ức đầy màu sắc đời lính sinh viên như thay lời tri ân cho những đồng đội của mình
Vũ Công Chiến – nhà văn của những miền ký ức Là một người sinh viên
đi lính, ông trải qua 6 năm đời lính Trong 6 năm đó ông chiến đấu tại chiến trường Nam Lào và mặt trận B3 Tây Nguyên là khoảng thời gian tuy không dài nhưng: “Đó là phần đời dữ dội, có sức ám ảnh rất lớn Đó là “món nợ” tinh thần của anh đối với đồng đội Nó buộc anh phải ghi lại và chia sẻ Để những người lính thế hệ anh nhớ lại và tự hào về những năm tháng mình đã sống, đã hy sinh, chiến đấu vì đất nước Để thế hệ sau có được một hình dung đầy đủ hơn chiến tích của một thời và cái giá của những ngày đang sống hôm nay” [4, tr.7] - như
lời PGS.TS Lưu Khánh Thơ viết tựa cho cuốn Hồi ức lính Có lẽ vì thế mà khi
chiến tranh đã lùi xa, gần 60 tuổi, ông mới bắt đầu đặt bút cẩn thận ghi chép lại những câu chuyện về khoảng thời gian hào hùng mà bi tráng ấy
Trang 25Đọc Hồi ức lính của Vũ Công Chiến ngay từ đầu người lính sinh viên
vẫn mang nét hồn nhiên, tinh nghịch ấy đã lên đường hành quân với tâm thế
“nhất xanh cỏ, nhì đỏ ngực” Họ - thế hệ đông đảo những người sinh viên đã
cầm súng lên đường chiến đấu mang theo lý tưởng chung của cả dân tộc
Tác giả Nguyễn Trọng Luân lên đường nhập ngũ khi đang là sinh viên năm thứ ba khoa Cơ khí, trường Đại học Cơ điện Trong bốn năm từ 1972 đến
1975 tham gia chiến đấu, với vai trò lính trinh sát bộ binh, ông đã cùng đồng đội tham chiến “từ rừng tới biển” Tiểu đoàn của tác giả gồm 4 đại đội sinh viên
từ các trường Đại học như Bách khoa, Mỏ - Địa chất, Y khoa, Nông nghiệp
Họ hành quân ròng rã vượt Trường Sơn vào tận chiến trường nhưng không được cầm súng trực tiếp chiến đấu mà trước hết phải làm nhiệm vụ đi mót sắn bên đất Campuchia tiếp tế cho những đơn vị trực tiếp chiến đấu Những chàng lính sinh viên lãng mạn đã trải qua những cơn đói, quần áo bị rách, những cơn sốt rét rừng, thương vong vì đói vì sốt trên một chiến trường không có tiếng súng, không bom rơi đạn nổ Bên cạnh những câu chuyện xót xa đó còn có cả những câu chuyện hài hước đậm chất lính: Bởi vì đói quá hai anh lính trẻ chưa
có người yêu đã nghĩ ra cách cắt chóp của hai chiếc mũ tai bèo để khâu thành chiếc áo lót phụ nữ (cooc xê) mang vào bản của người dân tộc đổi được một con gà to bằng con quạ Đổi xong, hai chàng lại tiếc hùi hụi vì nghĩ giá như khâu thêm mấy cái tua rua màu xanh đỏ nữa chắc phải đổi được con gà to bằng chõ xôi
Nguyễn Trọng Luân viết : “Chiến tranh có nhiều điều lạ Chả thể lý giải cho ra ngô ra khoai theo kiểu chính trị viên…Tất cả chúng tôi trong đội hình này đều thích đi bộ đội và cũng lại vô cùng tiếc nuối viễn cảnh ra trường làm
kỹ sư của mình Khi khám sức khỏe khối thằng bị cho quay về thì lại khóc, xin
đi chiến trường bằng được Đằng sau chúng tôi là một thứ kỉ cương dòng họ ra đình, là nụ cười ánh mắt bạn bè cùng trường Là nỗi kinh sợ bị xã hội dè bỉu khi mình không tham gia vào công cuộc kháng chiến của dân tộc Là cái vẫy
Trang 26tay bạn gái ngày lên đường, là sự khát khao ngày trở về huy hoàng tươi sáng, khiến chiến tranh dù không phải trò đùa thì nó cũng vẫn đang đùa với đời người trai” [21, tr.28]
Rồi có những lúc những người lính mà đều là sinh viên ra trận ấy cũng mang những tâm tư hết sức bình thường Như một đứa con nhỏ bé xa nhà nhớ
về mẹ, nhớ quê hương, nhớ ngôi làng mình đã chào tạm biệt lên đường ra chiến
trận Nguyễn Trọng Luân viết trong Rừng đói: “chả biết người đi ngoại quốc
có cảm giác giống chúng tôi không? Chỉ ở sâu trong đất người có vài ba chục cây số mà một chiều ra bờ sông biên giới nhìn sang bên Gia Lai đã thấy nao lòng Thấy như sắp về làng mình đến nơi…nhìn khói đốt nương bên kia biên giới mà cứ ngỡ mẹ đốt rạ ngoài đồng sau vụ gặt” [21, tr.70]
Cả những khi người lính đó vẫn mang tâm hồn của một cậu thanh niên
18, đôi mươi, có những hành động hết sức tinh nghịch: Muốn đứng bên sông
mà nhìn về đất Việt Nam để hú lên một tiếng và nghe đồng bào dân tộc bên kia
hú lại Chỉ đơn giản vậy thôi nhưng với những người lính xa quê, đóng quân nơi biên giới nước bạn thế là đủ ấm lòng
Trong Rừng đói Nguyễn Trọng Luân lại đúc rút ra kinh nghiệm về tính
cách của đồng đội: “thằng ở biển thì cứ thích hát những bài về rừng Thằng ở rừng thì hát về biển Có anh lính sinh viên Y khoa giải thích đó là cơ thể người thiếu cái gì thì não bộ đánh thức người ta nghĩ về cái đó Thảo nào khối thằng chưa hề có người yêu mà kể chuyện hôn con gái như thật” [21, tr.57] Rồi họ
rủ nhau nghĩ về một cô người yêu nào đó trong tưởng tượng để chứng tỏ là có người yêu Đám lính sinh viên khi đó bảo nhau Nghĩ về bạn gái là thấy mình cần phải sáng láng lên, cần làm những điều tốt đẹp Cứ như vậy họ tự làm nhau vui, đời lính bỗng vui vẻ lạ
Họ - cả vài trăm người lính sinh viên ra trận chưa có ai biết ra nước ngoài Chưa có ai tận hưởng cái gọi là thiêng liêng đất mẹ Nhưng dòng máu nóng chảy trong huyết mạnh vẫn luôn hừng hực nỗi lòng hướng về quê hương
Trang 27Nguyễn Trọng Luân đã nhận ra được tình cảm thiêng liêng đối với đất nước khi viết: “Nỗi lòng yêu Tổ quốc thật không giống trong tiểu thuyết, không giống chính trị viên quán triệt, nó tự nhiên ở trong lòng người lính, nó rưng rưng như mình không hề nghĩ đến nó mà nó lại ở trong lòng mình từ lâu lắm rồi Nó chỉ
là mảnh đất, mảnh rừng đụn khói và mùi đốt nương miễn là nó ở trên đất tổ
đi chân đất Hỏi – Dép đồng chí đâu? – Tôi tặng nó cho bố tôi rồi Trung đội lôi anh lính ra phê bình anh đáp tỉnh bơ – Bố tôi cho hẳn một đứa con trai theo quân đội đánh giặc còn chả tiếc mà quân đội lại tiếc bố tôi đôi dép! Nghe vậy chính trị viên cũng đành im lặng rồi ngày hôm ấy anh lính kia được bổ sung đôi dép mới
Chẳng thiếu những lúc họ vui đùa, cùng nhau ca hát Nhớ về quãng thời gian đó với đồng đội mình, Nguyễn Trọng Luân xúc động viết trong cuốn
Những xúc động vụn vặt “Chúng tôi tựa vào nhau, nắm chặt lấy nhau mà hát,
mà soi vào mắt nhau, mà cười Bao nhiêu cung bậc cảm xúc Nhưng cuối cùng thì mấy thằng lính đồng bằng ở bên kia Cổng trời với mấy thằng lính dưới xuôi
nắm chặt tay nhau mà hát…Lời bài hát thế này: ta vượt trên miền núi cao Trường Sơn, đá mòn mà đôi gót không mòn…” [20, tr.259]
Ở từng trang viết gương mặt người lính hiện lên rất đời, rất người Đa phần họ là những người trẻ, thế hệ thứ ba cầm súng ra chiến trường, vừa quen thuộc vừa tươi mới so với thế hệ cha anh Chân dung tinh thần lính chiến được các tác giả khắc họa sinh động, nhiều chiều: Vẻ hào sảng, bi tráng; nét trữ tình, lãng mạn; chất hồn hậu, bình dị; sự trẻ trung, vui tươi, hóm hỉnh Bước chân
Trang 28đầu tiên vào đời là cuộc sống quân ngũ, những chiến binh cảm nhận được sứ mệnh thiêng liêng mà Tổ quốc và nhân dân đã giao phó
Những hăm hở ngày nhập ngũ của Vũ Công Chiến được ông kể lại với giọng điệu hóm hỉnh pha lẫn chút tự hào Vì đối với những chàng thanh niên khi đó, đi lính là đi thực hiện nghĩa vụ với đất nước, là niềm tự hào của gia đình, thậm chí là để hãnh diện với bạn bè cùng trang lứa Bởi thế mới có chuyện:
“Lớp tôi có thằng Tuyên, cán sự môn thể dục, dáng người cứng cáp, mới 18 mà trông đã như gã 20, được đặc cách công nhận tốt nghiệp sớm để nhập ngũ Cả trường tiễn chúng nó đi như những người anh hùng Thằng Tuyên chưa hy sinh
mà chỗ ngồi cũ của nó trong lớp được khoanh thành chỗ ngồi danh dự Nhìn cái chỗ trống trong lớp ấy mà nghĩ đến người anh hùng tương lai…Một tháng sau nó về thăm trường, mặc bộ quân phục còn mới mặt cứ vênh vênh giữa đám bạn bè và thầy cô Học sinh lớp tôi cũng hãnh diện ra mặt Lũ con gái mặt mày rạng rỡ, xúm xít vây quanh” [4, tr.13] Cứ như vậy trong mắt những cậu thanh niên mới lớn khi đó vào lính vừa để hãnh diện, vừa để chứng tỏ mình Nghĩ đơn giản nếu hy sinh thì sẽ thành anh hùng, nên lớp thanh niên được giáo dục
tử tế qua 10 năm ngồi trên ghế nhà trường xã hội chủ nghĩa, mang danh thanh niên thời đại Hồ Chí Minh ấy háo hức đăng ký khám sức khỏe nghĩa vụ quân
sự, rộn ràng như ngày hội lớn Cũng chính Vũ Công Chiến đã có một kỉ niệm hài hước khi đi khám nghĩa vụ: “Lúc đi khám sức khỏe nhập ngũ, mọi tiêu chuẩn của tôi đều đạt, chỉ mỗi trọng lượng là thiếu một chút Chuẩn mực là 44kg trở lên, trong khi tôi mới được có 43,5kg Nhưng không hề gì Ông bác sĩ bậc tuổi cha chú có vẻ mặt nhân hậu, tươi cười vỗ vai tôi: - Tất cả vì miền Nam ruột thịt, vì đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, xin “biếu” đồng chí nửa cân thịt Rồi ghi vào phiếu của tôi con số 44kg” [4, tr.15] Có thể thấy được, tâm thế của không chỉ lớp thanh niên thời đó háo hức, mà cả những người làm công tác hậu phương cũng một lòng hướng về tiền tuyến Gia đình có con đi lính chính là niềm tự hào với làng xóm Dẫu vẫn có những lo toan của người bà thương cháu
Trang 29dặn dò “ở bộ đội, người ta có yêu cầu lấp lỗ châu mai, thì đừng có mà xung phong cháu nhé” Hay như người chú đã từng đi lính trong cuộc kháng chiến trước nay đã chuyển ngành cũng cố gắng căn dặn: “Cháu đi bộ đội, dù có gian khổ, hy sinh đến mấy cũng nhất quyết không được đảo ngũ, làm mất danh dự gia đình” Như vậy, con đường vào quân ngũ của những cậu thanh niên khi đó
đã xác định rõ phương hướng “bộ đội chỉ có tiến, không có lùi”
Cho đến ngày chuẩn bị lên đường “đi B” (vào Nam chiến đấu) Đi B là những ngày tháng hừng hực khí thế của những dòng người ở miền Bắc dù quê hương ở miền Bắc hay cán bộ miền Nam tập kết lên đường vượt Trường Sơn vào Nam đánh Mỹ Hào khí của một thời cả nước lên đường “xẻ dọc Trường
Sơn đi cứu nước” hiện lên trong từng trang viết Có rất nhiều người đã viết tâm
thư xung phong lên đường vào Nam chiến đấu dù biết là hy sinh, gian khổ nhưng vẫn quyết tâm đi Thậm chí có cả anh chàng là con liệt sĩ (thời đó, con liệt sĩ và con một được miễn đi lính) viết cả tâm thư bằng máu xin được đi đánh giặc Khí thế bừng bừng bao trùm lên miền Bắc với lệnh tổng động viên Nhà nhà chuẩn bị tiễn con em mình lên đường ra trận Những đôi lứa yêu nhau thời chinh chiến đó cũng kịp nói lời hứa hẹn “hẹn ngày chiến thắng”, hoặc “hết chiến tranh anh sẽ về” Lãng mạn và thơ mộng là thế
Về lý tưởng của thanh niên thời đó, Vũ Công Chiến có chia sẻ rằng có một bài về chính trị vô cùng ấn tượng, đã theo ông suốt những ngày quân ngũ cho đến nay ông vẫn còn nhớ, cứ như mới vừa được nghe: “Các đồng chí là lớp thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh Các đồng chí đang được hưởng một niềm vinh
dự lớn lao mà không một thế hệ nào có được Đó là được đánh Mỹ và sẽ đánh thắng Mỹ Niềm vinh dự và tự hào này sẽ không bao giờ còn có nữa Đến đời con, đời cháu các đồng chí, dù có muốn cũng không còn Mỹ mà đánh Các đồng chí hãy vững bước lên đường Quê hương luôn chờ tin chiến thắng của các đồng chí ” [4, tr.52] Ấn tượng để lại trong tác giả đó là điều chính trị viên đã khẳng
định rằng chính thế hệ thanh niên đó sẽ đánh thắng xong Mỹ Trong Lời kêu
Trang 30gọi Toàn quốc chống Mỹ cứu nước của Bác Hồ tháng 7 năm 1967, Bác có nói
rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ của chúng ta nhất định thắng lợi, nhưng có thể phải kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa Và điều đó đã xảy
ra Thế mới thấy dân tộc ta có một niềm tin mãnh liệt, một quyết tâm không nao núng trước kẻ thù dù cuộc chiến tranh có kéo dài bao lâu đi nữa Bởi vậy nên khi nghe bài chính trị ấy, những anh lính sinh viên mới tràn đầy háo hức
Là háo hức ra trận thật chứ không miễn cưỡng hay bắt buộc Vũ Công Chiến viết rằng trong những tháng ngày hành quân trên Trường Sơn, mỗi khi nghe tin chiến thắng trong chiến trường là lính tráng sốt ruột ghê lắm Bởi kèm tin chiến thắng bao giờ chính trị viên cũng thêm một câu: “Nhanh chân lên, khẩn trương lên các đồng chí, không có vào trong đó muộn, các đơn vị bạn họ đánh hết Mỹ rồi thì còn gì mà đánh nữa” Khi nghe câu đó là những anh lính sinh viên mới đang hành quân vào chiến trường lại đùa nhau: “Các đồng chí ơi, đánh nhè nhẹ thôi, còn dành Mỹ cho chúng tôi đánh với Đừng lấy mất niềm tự hào được đánh Mỹ của chúng tôi” Thật mà như đùa, bởi khi đó tuổi trẻ và sức trai, lòng háo hức được cống hiến một phần sức lực của mình vì đất nước, vì Tổ quốc thân yêu không ai nghĩ đến hoặc sợ sệt về những hy sinh nơi trận mạc Họ - những người lính sinh viên ấy vẫn giữ nguyên sự vô tư, tinh nghịch của lứa tuổi mang theo làm hành trang nơi chiến trường Coi việc đánh giặc Mỹ giống như
là niềm tự hào, còn nhắn bảo nhau “dành Mỹ cho chúng tôi đánh với”
Ngay cả những buổi tối trong rừng Trường Sơn, với lính cũ thì không rõ nhưng với lớp thanh niên là sinh viên đi lính ấy họ có cách để làm cho buổi tối trong rừng bớt buồn tẻ và suy nghĩ nhớ nhà Có buổi tối, các anh lính đem
chuyện Thủy Hử ra tranh luận xem cuộc sống của các hảo hán Lương Sơn Bạc
có gần giống như lính ở Trường Sơn không Buổi tối, trở thành buổi kể chuyện
đêm khuya Hết Thủy Hử lại đến Tam Quốc , hết chuyện sử xa xưa lại đến chuyện cận đại, như Hầm bí mật bên sông En-bơ hay Nam tước Phon-go-rinh
Đường hành quân dài, có lúc các cuốn truyện cũng được kể gần hết, họ quay
Trang 31sang nói cho nhau nghe về gia đình của mình Kể về gia đình cho đồng đội nghe cũng chính là tự trầm ngâm nhắc về người thân để vơi đi nỗi nhớ nhà Tuy
nhiên, họ không buồn lâu, không có thời gian để trầm ngâm Nếu có câu “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò” thì ở lính câu đó được nói lại “nhất lính, nhì ma, thứ ba tới quỷ” Sở dĩ như vậy, vì lính tráng các anh không chỉ lúc nào cũng
oai phong, là hình tượng hoàn mỹ như trong văn chương xưa Vũ Công Chiến
có kể lại rằng, một lần hành quân gặp một bản đã bị dân bỏ hoang họ chỉ mang theo các vật dụng cần thiết còn vật nuôi đều để lại Bộ đội đi đến đâu cũng phải chấp hành chính sách dân vận nên có lệnh không được bắt gia súc của dân Tuy nhiên, mệnh lệnh vẫn là mệnh lệnh Lính tráng thì nghĩ đơn giản dân vận là khi
ở cùng dân, tiếp xúc với dân, đằng này dân rời đi hết rồi, thì cũng nên coi như chỗ bỏ hoang Ta không ăn thì địch nó cũng ăn hoặc nếu không ai ăn thì lũ gia cầm, gia súc cũng chạy hết vào rừng, lâu ngày rồi cũng thành thú hoang cả Tác giả kể ngoài mặt, trong đơn vị ai cũng tỏ ra chấp hành hết Nhưng về thực chất, lính đã láu cá vượt quá cả ma, quỷ rồi Thế là “bài ca ống cóng” (thành ngữ
“bài ca ống cóng” nói về việc nấu ăn tự phát bằng ống bơ, ám chỉ việc tự cải
thiện, kiếm ăn lẻ của lính) được thực hiện Ông viết bằng một giọng văn hóm
hỉnh: “Khi đêm đến, các đệ tử của “Thời Thiên” trong Thủy Hử liền ra tay
Bắt gà và giết gà nhẹ nhàng mà chúng không hề ọ ẹ lấy một tiếng Chỉ dám luộc thôi vì món này ít bốc mùi thơm đi xa Từ cán bộ trung đội trưởng trở xuống thông đồng với lính rồi Các liên lạc đại đội cũng láu cá, thừa dịp được giao đi truyền mệnh lệnh để xuống các B cải thiện Đại đội trưởng chúng tôi cũng chả kém ai Ông ấy đi kiểm tra các B một cách thầm lặng và tất nhiên cũng được chén no Cuối cùng chỉ có chính trị viên ở hầm chỉ huy – người ra lệnh cấm là chẳng đi đến đâu, chẳng hay biết gì Tất cả đơn vị từ quan đến lính
ăn xong sạch sẽ Những thứ bỏ đi như xương và lông thì được đào hố mèo chôn sâu Đến sáng thì tất cả lại thản nhiên nhận và làm tròn các nhiệm vụ được phận công” [4, tr.119] Giọng văn hóm hỉnh với lời kể hài hước của tác giả làm người
Trang 32đọc phần nào liên tưởng đến cảnh sinh hoạt của lính Hiểu thêm một mặt khác của họ Họ không phải hình tượng hoàn mỹ nào cả Không đánh giặc, gác cây súng lại thì họ cũng giống như những người bình thường, với những nhu cầu hết sức bình thường của con người như đói thì phải kiếm ăn, và lính ai cũng có một mặt láu cá như thế Tác giả cũng bày tỏ “chỉ thương cho thủ trưởng chính trị Trong khi tất cả đều được bồi dưỡng hàng đêm, thì anh ấy vẫn chỉ ngày ba bữa cơm muối rang Thương mà cũng chẳng biết làm thế nào, vì chính sách dân vận nó thế, lộ ra với chính trị viên thì chết cả nút”
Dù trong gian khổ thế nào, thì cuộc sống của người lính nhiều khi cũng
có hương vị riêng mang tính cách của từng người xen vào, nghịch ngợm, tếu táo, hay láu cá đi nữa đều mang đậm bản sắc lính Trong kỉ niệm về những người đồng đội của mình, Vũ Công Chiến có kể lại bằng giọng điệu hóm hỉnh:
“Chính trị viên C (gọi tắt của đại đội) tôi vốn hiền lành, nhưng khá nguyên tắc Chỉ có cùng cấp mới trêu được anh ấy thôi Một lần đại đội hành quân chui vào một đám rừng non trú quân qua đêm Hành quân dã ngoại đương nhiên là vệ
sinh kiểu “hố mèo”, chính trị viên cẩn thận phổ biến nguyên tắc ấy cho đại đội,
còn dặn là phải đi xa chỗ võng của mình cho khỏi mất vệ sinh Gần đến giờ gác, chính trị viên khoan thai trên võng ngủ, thì phát hiện ngay cách võng mình chỉ 2 mét có một bóng đen lúi cúi, rồi nghe tiếng động phát ra có mùi khó chịu – Thằng nào làm gì đấy? – Chính trị viên quát – Hùng đây –Đại đội phó trả lời – Ỉ* chứ còn gì nữa – Ơ kìa, sao ông lại đến đầu võng của tôi mà ỉ* hả? – Thì hồi chiều ông chả bảo phải đi xa võng của mình còn gì Chỗ này cách xa võng tôi hơn chục mét rồi ấy chứ” [4, tr.253] Những câu chuyện có phần thô nhưng thật, tinh nghịch mang đậm màu sắc lính như vậy lính tráng cứ truyền tai nhau Thế là thành niềm vui, mang lại tiếng cười cho những ngày hành quân ròng rã
Có thể thấy được nét tinh nghịch thậm chí là những trò trêu chọc tai quái như thế làm người lính trở nên gần gũi lạ thường
Trang 33Vũ Công Chiến kể về chuyện khi đóng quân ở các bản của người Lào Lính ta cũng tếu táo trêu con gái Lào: Vui nhất là màn chào hỏi tên nhau Các
cô gái thì tên sao nọ sao kia, lính ta thì toàn phá quấy không nói tên thật Vùng
Nam Lào đàn ông Lào thường có những tên họ như :Khăm, Bun, Thao,…Thế
là khi được các sao hỏi tên, người lính tình nguyện Việt Lào thứ nhất khai tên
là “Khăm Đớp” Người thứ hai khai là “Bun Khợp”, người thứ ba cũng lúng túng tìm cho mình một cái tên “Thao Bụp” Lúc đầu, các sao tin lắm Tuy có
thắc mắc tên bộ đội Việt khó gọi Sau đó lính tráng đồn nhau, tốp lính nào đi nhà nào cũng lòe mấy cái tên trên Các cô gái Lào nhanh chóng nhận ra sự đùa bỡn đó Nên khi gặp chưa kịp hỏi tên các cô đã nói luôn – Bộ đội Việt đừng có nói tên là Khăm Đớp với Bun Khợp nữa đấy nhớ Thế là tất cả lại cùng cười Lính và dân trở nên thân thiết, vui vẻ cởi mở hơn Nơi chiến trường vẫn có những chuyện ấm tình quân dân như thế
Hay ngay cả đến những chuyện tế nhị, những tò mò của tuổi trai mới lớn cũng được Vũ Công Chiến kể lại một cách chân thực, hài hước: số là những thằng lính trẻ thì cứ hay tọc mạch, tò mò Cái tò mò ly kỳ nhất là về cái của chị
em – Chúng mày chưa biết hả? để tao tả cho mà biết - anh Thanh hạ giọng – Thế chúng mày đã nhìn thấy của trẻ con hai ba tuổi chưa? Nhiều thằng gật đầu,
vì có thằng ở quê có cháu gái, hoặc giả chúng nó nhìn trộm ở đâu đó nơi đóng quân Thấy gương mặt háo hức của đám lính trẻ chưa vợ, anh Thanh chậm rãi – đấy nó cứ từa tựa như thế, nhưng về sau khi lớn lên nó quay ngang, nên chúng mày về sau lấy vợ phải cẩn thận kẻo nhầm Bài lên lớp thế thôi, anh Thanh không tiếp nữa để mặc cho chúng tôi thả sức tưởng tượng” Đọc những dòng
ký ức tinh nghịch đó, mới biết cuộc đời quân ngũ tuy vất vả nhưng người lính vẫn có những kỉ niệm vui vẻ cùng động đội Họ có tất cả những hỉ, nộ, ái, ố như người bình thường, đúng với lứa tuổi của họ Không che giấu, không chỉ
kể một mặt lúc họ trên chiến trường, hay lúc chắc tay súng Mà nhìn họ - những
Trang 34người lính ở những khía cạnh bình thường nhất, con người nhất và cả đôi lúc bản năng con người Để thấu hiểu hơn, sâu sắc hơn khi đánh giá về chiến tranh
Hai tác phẩm kể về kỉ niệm của một người lính bình thường, đúng nghĩa bình thường, không phải danh hiệu anh hùng, liệt sĩ mà là cái nhìn đa chiều hơn, gần gũi, dung dị hơn về lính bộ đội cụ Hồ Với suy nghĩ đơn giản, nếu như những người trong cuộc không viết ra thì làm sao để mọi người biết, trong chiến tranh những người lính đã sống và chiến đấu thực sự như thế nào Bởi vậy, dưới mắt nhìn của một người lính bình thường Tác giả Vũ Công Chiến và Nguyễn Trọng Luân đã viết lại chính những điều mình đã thấy, đã nghe, đã làm cùng những suy nghĩ cảm nhận khi đó Mong truyền tải đến người đọc cái nhìn đa diện hơn về người lính không chỉ có oai phong, lẫm liệt như các tác phẩm trước
1975 mà có nhiều anh lính rất tinh nghịch Suốt ngày lính toàn lo chuyện ăn Chuyện cải thiện hoặc rủ nhau đi “ca cóng” Dưới góc nhìn nhẹ nhàng, bình thản hơn từ thời bình nhìn về quá khứ thì chuyện ở chiến trường cũng trở nên mới hơn, khác lạ hơn về một mặt khác của người lính, đặc biệt là đối với những người lính - sinh viên
2.2 Chiến tranh với kí ức về những trận đói và sốt rét rừng
Nhắc đến chiến tranh không thể không kể đến khốc liệt của nó đến những cái rất đời thường của lính Ban đầu nhập ngũ, mỗi người còn được tiêu chuẩn
7 lạng gạo một ngày Dần hành quân xa hậu phương là những năm tháng thực
sự thiếu thốn chỉ còn 2 lạng gạo một ngày Không người lính nào trở về mà không kể về cái đói ngày đó Với trí nhớ tuyệt vời của “dân kỹ thuật” cả hai nhà văn đều đã khắc họa rõ nét đến từng chi tiết về cái đói hoành hành khi đó "Có thực mới vực được đạo" Đó chính là những tổng kết rất thực tế về công tác bảo đảm hậu cần cho quân đội mà trước hết là bảo đảm cái ăn
Có ăn no, ăn đủ mới có đủ sức khỏe để hoàn thành những công việc khác Thế nhưng, việc tưởng như đơn giản, tự nhiên đó lại không hề đơn giản trong chiến trường
Trang 35Lý do cũng rất đơn giản do con đường tiếp vận từ hậu phương ra tiền tuyến thì dài, lại thường xuyên bị đối phương ngăn trở Cùng với những khó khăn về thời tiết, khí hậu, phương tiện nên việc vận chuyển lương thực, thực phẩm ra tiền tuyến không hề dễ dàng và sự thiếu đói của những người lính trực tiếp cầm súng ở tuyến đầu trở thành chuyện thường ngày
Thời kháng chiến chống Mỹ, nơi thiếu đói nổi tiếng nhất là chiến trường B3 - Tây Nguyên Cũng ở xa miền Bắc, nhưng B2, B1 còn dựa vào nguồn tiếp
tế từ đồng bằng Còn B3 cheo veo trên cao nguyên chẳng biết trông chờ vào đâu ngoài sự chi viện của con đường tiếp vận không mấy khi thông suốt
Có những lúc mà tiêu chuẩn của lính trực tiếp chiến đấu tụt xuống chỉ còn 2-3 lạng gạo mỗi ngày, còn ở hậu cứ thì không có gạo Vì vậy, không còn cách nào khác, cán bộ chiến sĩ B3 chỉ còn biết trông chờ vào sức lực của chính mình
Ở Hồi ức lính Vũ Công Chiến có nhắc về một lần hành quân cùng cái đói,
trong một lần thèm ăn như thế, một lần chúng tôi gặp dân ven đường hành quân
Họ có sắn nhưng chúng tôi chẳng còn gì mà đổi cả Một anh lấy trong ví ra cả cái huy hiệu Đoàn cũng chỉ đổi được một củ sắn dài bằng gang tay Loay hoay thế nào mà đánh rơi cuốn lịch túi có ảnh một chị diễn viên rất xinh có in màu Mấy người dân tộc sáng mắt kêu “A” rồi gạ đổi bằng hai củ sắn Thế là lính tráng rào rào mang lịch ra đổi Thế nhưng đó lại chưa phải điều nghẹn ngào nhất Vũ Công Chiến có kể lại rằng dần thì lính hết cả lịch để đổi có nhiều anh mang cả ảnh người yêu ra đổi “lúc mới đầu đổi ảnh của người yêu lấy sắn, lính
ta cũng thấy hơi áy náy, nhưng cái dạ dày đã chiến thắng Thôi, các bạn gái ơi, hãy vui lòng cho lính tráng chúng mình có thêm sức mà chân cứng đá mềm leo vượt Trường Sơn nhé Gửi các em ở lại trong dân cũng là nhờ hậu phương che chở vậy mà Theo bọn anh ra nơi hòn tên mũi đạn, nhỡ lọt vào tay quân thù thì lại đau lòng lính tráng bọn anh hơn” [4, tr.67] Giọng kể vui vẻ đúng chất lính nhưng sâu trong đó lại là niềm day dứt gửi về hậu phương Suy cho cùng tất cả
Trang 36cũng vì chiến tranh Ông cha ta vẫn có câu “có thực mới vực được đạo” ,nếu không no thì lấy đâu sức đánh giặc
Tác giả viết với giọng văn chân thật, giản dị nhưng đầy sống động Qua
đó, cuộc sống chiến trường, hình ảnh người lính hiện lên một cách chân thực, đời thường và con người nhất Lính tráng thì không thể không kể đến những lần được đi “cải thiện” Một lần gặp nương ngô của người dân Lào, nhà văn và một người đồng đội đã xin một ít để ăn Một người dân Lào bảo cứ lấy tùy thích, còn chỉ cho nồi để luộc ngô Đến muộn người đó quay lại nương ngô tròn mắt nhìn hỏi có nhiều bộ đội à? chúng tôi đưa mắt đếm lược vội đống lõi ngô, phải đến sáu chục chiếc chứ không kém Chết cha, hai thằng xin mấy bắp mà
ăn như thuồng luồng thế này thì còn gì là nương ngô của dân nữa Nhà văn kể lại bằng giọng hài hước, chân chất, không hề nhắc đến cái đói nhưng chỉ bằng hành động người đọc cũng hiểu rõ ràng sự đói của người lính bấy giờ Vũ Công Chiến viết “đói nên đường hành quân chẳng còn hàng lối nghiêm chỉnh gì cả
Cả đội hình hành quân cả trăm con người cứ tụt tạt, lõng thõng từng tốp Thằng khỏe mạnh hơn đi đầu đã tới được trạm khách, lăn ra ngủ đến hơn tiếng sau thì thằng đi cuối cùng đội hình mới lò mò tới Nhe răng ra mà nhìn nhau cười, đói
cả sư đoàn ăn mà đánh giặc Những rừng sắn mà đơn vị bộ đội nào hành quân
qua cũng phải trồng Trồng cho người sau ăn Rừng đói kể về cuộc sống của
500 chàng binh nhất trong 100 ngày chịu đói đi “mót sắn” nuôi quân [11] Tác giả viết “thời gian đi mót sắn là hai tháng rưỡi rồi sau đấy mới được ra phía
Trang 37trước Chao ôi, ăn sắn mà đi đánh nhau Tôi cố hình dung ra sự gian nan chết chóc ấy mà không thể hiểu nổi Chỉ biết là sẽ đói lắm Đói mê mẩn đói bền bỉ Đến rừng cũng đói” [21, tr.15]
Rừng đói của Nguyễn Trọng Luân, không có những cái chết tức tưởi,
không có mùi của máu tươi hay mùi thuốc súng Nhưng lại có những cái chết hết sức ám ảnh, xót xa Như chuyện của Khoái – người lính bị sốt rét rừng ác tính Trước khi chết chỉ có ước nguyện duy nhất : “Đói quá, giá được bát cơm
có thịt thì chết cũng đã” Đói, cả đơn vị đều chung cảnh đói và đã rất lâu không
có miếng thịt nào Những người đồng đội thương bạn mình, mong muốn thực hiên ước mong cuối cùng đó cho Khoái Tiểu đội quyết định hôm đó nấu 3 bát gạo thay vì hai bát như mọi hôm Sỹ và Dương nhất định vác súng đi vào rừng
dù lệnh trên cấm không cho săn bắn Nhưng mong muốn hoàn thành ước mong cuối cùng cho Khoái thôi thúc hơn bao giờ hết Nước mắt Sỹ ròng ròng : “Ông giời ơi thương thằng Khoái với ông ơi, cho chúng con bắn được con gì cho nó miếng thịt để nó đi ”
Cuối cùng, trời cũng thương thật cho Sỹ bắn được một con mang (loài nai rừng) Nhưng tối hôm đó, cả tiểu đội xúm vào mổ con mang Khoái nằm võng hỏi “Anh Sỹ bắn à?” rồi mỉm cười Đến khi cháo chín, Khoái chỉ kịp rướn người lên, mắt lờ đờ rồi lịm hẳn…Khoái chết, cả tiểu đội òa khóc, đêm đó rừng cũng lặng im Sỹ gọi toáng lên “Khoái ơi, tao bắn con mang tưởng là mày được miếng thịt rồi hãy chết, thế mà giời chả thương mày ”
Câu chuyện xót xa, hiện lên trong đó những gian khổ người lính gặp phải Không chỉ ra chiến trường, phải giết chóc, bắn nhau bằng súng đạn thì mới là nguy hiểm Mà ngay cả những lúc đời thường, người lính cũng phải đối mặt với muôn vàn gian khổ, giặc đói, giặc sốt rét ác tính luôn rình rập trên bước đường hành quân Người lính có thể đối diện cái chết bất cứ lúc nào Nhưng trong cảnh rừng đói lạnh lẽo ấy, người đọc vẫn thấy hiện lên sự ấm áp của tình đồng chí, đồng đội Thương đồng đội mình với ước mong nhỏ nhoi là được ăn
Trang 38một miếng thịt rồi chết Các anh đã bất chấp lệnh cấm của đơn vị để đi săn Ai cũng đói, ai cũng lâu lắm rồi chưa được ăn thịt, nhưng khi đồng đội mất Cả trung đội không ai còn cảm thấy đói nữa Nồi cháo nấu với thịt mang rừng còn
ê hề Chỉ rừng đói
Cái đói như ám ảnh cho cả người sống: “Mươi ngày sau quân lính không còn ra hồn người nữa Thằng nào cũng đi gù gù Mắt lấm lét tìm thứ ăn được trong rừng Mắt thằng nào cũng trắng rã hoa kè Lưỡi cứ chờ liếm liếm ra môi, khô khấc Có lúc gọt củ sắn đưa lên môi liếm liếm lấy nước ngọt” [21, tr.34]
Rừng đói người ta chỉ thấy đói, đói, và đói Đói queo, đói quắt Chiến
tranh là gian khổ Để làm ra một hạt lúa đã khổ Đến lúc thu, hái vận chuyển vào chiến trường cho chiến sĩ càng khổ Một bát cơm gánh ba phần là ngô, khoai, sắn Ăn được một bát cơm trắng đã là một hạnh phúc
Có thể thấy trong các tác phẩm viết về đề tài chiến tranh thì đây là một tác phẩm kỳ lạ Chủ đề người lính nhưng lại không hề có tiếng súng giết giặc nào, có chăng chỉ là tiếng súng bắn thú lúc đi cải thiện, chiến tranh nhưng cũng không hề có một tên giặc Giặc ở đây làm cho người lính cảm thấy kiệt quệ hơn
- giặc đói
Nếu một người bình thường trong thời bình phải giáp mặt tên giặc đói một ngày ít nhất 3 lần Thì ở đây, những người lính thời chiến phải giáp mặt nó mọi lúc, mọi nơi Cứ rảnh ra là lại phải nghĩ đến nó vì nó đã bắt đầu tấn công rồi Đói Vì đói nên người lính phải tìm mọi cách để chống lại cơn đói Họ thay thế nó bằng củ sắn, củ mài, đổi mọi thứ đang có để có thể kiếm ít rau, gà, vịt nhưng không ăn thua Vẫn đói Đói kinh hoàng
Đọc tác phẩm mới thấy thương những người lính làm nhiệm vụ vận tải, những người lính nơi hậu phương Ngoài trách nhiệm phải lo, đảm bảo phần lương thực, thực phẩm cho chính mình họ còn phải lo thêm cho cả những người đồng đội đang ở trận truyến đánh giặc Có ăn no thì mới có sức khoẻ mới đánh được giặc Điều tưởng như đơn giản, đương nhiên phải làm, phải thực hiện vậy
Trang 39mà hoàn thành nó lại là điều khó khăn, khó thực hiện hay muốn nói là không tưởng Chuyện trung đội nữ vận tải, chuyện miếng ăn đến miệng nhưng không
cố được Tuổi mười bảy bẻ gẫy sừng trâu, nhưng mỗi ngày chỉ có một lon gạo
Khó khăn, gian khổ, và nhất là thiếu đói như vậy nhưng những người lính, họ không lúc nào thiếu tiếng cười Những tiếng hi hi, he he, ha ha làm người đọc thấy phần nào ở họ tuổi trẻ Cái chết, tử thần có mặt ở khắp nơi mà
họ vẫn không nao núng, vẫn tươi cười, trêu đùa nhau, thương yêu nhau Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ Khoái mất, "cả trung đội không đói nữa, chỉ rừng đói thôi " Tác phẩm là một góc nhìn khác trong chiến tranh Và chiến tranh
có nhiều điều kỳ lạ, nhiều góc khuất khiến cho người đọc phải suy ngẫm Đến
tận bây giờ, khi nhìn lại Nguyễn Trọng Luân viết trong cuốn Ký ức về một mái trường từ lửa đạn: “Tôi đã ngấm cái sự cay nghiệt của thương trường để tự
nhận ra trên đời chả có gì hơn cái tình, nhất là tình lính chiến” [19, tr.104]
Đọc những dòng Nguyễn Trọng Luân miêu tả về hình dáng người lính khi phải ăn sắn và đánh địch vài năm trời, người đọc không khỏi thấy chua xót Chỉ mấy tháng trước khi nhập ngũ họ - những người sinh viên ấy không thể nghĩ được mình sẽ vào một chiến trường như thế “Một chiến trường nhìn thấy các người đi đánh trận chỉ mặc quần đùi và áo rách Những người lính gầy sắt đến nỗi cái bao se đeo lựu đạn trễ xuống mông Cái bụng bé thóp y hệt bụng con chẫu chuộc.” [21, tr.73]
Và ám ảnh cả những người đã hy sinh Nguyễn Trọng Luân có kể về một lần đi đào sắn gặp gốc sắn cổ thụ có dòng chữ rất sắc nét đổ vết đen như chì
“Kim Động Hải Hưng – Nhớ Mẹ”, người lính đã ôm cây sắn nói với dòng chữ… “chả biết mày còn sống hay đã chết Hôm nay tao gặp cây sắn mày đã viết lên thân nó, thôi cho tao đào lấy củ cây sắn này nhé Chúng tao cũng đói lắm rồi Nếu mày còn sống thì cố mà sống cho khỏe Còn nếu mày chết rồi thì cũng phù hộ cho bọn tao Lính tráng với nhau cả mà…” [21, tr.124]
Trang 40Vì cuộc sống sinh hoạt thường ngày của người lính đều ở trong rừng nên rừng như là một nhân chứng có hồn đã chứng kiến, trải qua toàn bộ khó khăn gian khổ với người lính Bởi thế nên từng dòng hồi tưởng của tác giả Nguyễn Trọng Luân đều gắn với rừng Cũng chính những cánh rừng thời chiến dang tay ôm trọn bộ đội ta che chở hàng loạt đợt bom đạn dội xuống để còn lại những người lính sống sót trở về Lính đói – rừng cũng đói Khó khăn là thế, gian khổ
là thế nhưng ở Rừng đói của Nguyễn Trọng Luân người lính vui vẻ hơn, lạc
quan hơn trước nghiệt ngã của số phận, trước khó khăn gian khổ nơi chiến trường, ông viết trong cánh rừng này những người lính vẫn gọi nhau mày tao hệt như chúng tôi đang sống ở quê Trong cánh rừng này chưa bao giờ chúng tôi rên rỉ vì đói vì buồn Đói lính ta vẫn hát buồn lính ta cũng hát mà vui lính ta lại càng hát
Đọc hết câu chuyện mới thấy “rừng” cũng là một nhân vật quan trọng Rừng chứng kiến đủ cảnh lính tráng Từ “có chú nai vàng nghiêng đôi tai ngơ ngác” nhìn những chàng lính trẻ “ngắt một đoá hoa rừng cài lên mũ ta đi” đến những cánh rừng lạnh sâu thăm thẳm, nơi cả một đội hình lính cời truồng vượt suối Và rừng chứng kiến nhũng cơn đói của lính và chứng kiến họ vươn lên
“không kêu đói nữa” Chỉ còn rừng đói
Thế nhưng, đói chưa phải đã hết Vừa đói vừa sốt rét mới là ám ảnh của tất cả những người lính Trong các thứ bệnh tật kinh niên đeo bám người chiến
sĩ trên các chiến trường thì sốt rét là căn bệnh phổ biến và đáng sợ nhất Đó là căn bệnh do ký sinh trùng sốt rét gây ra Ký sinh trùng sốt rét lây truyền qua vết cắn của muỗi a-nô-phen
Sau khi cư ngụ và phát triển trong người, đến một lúc nào đó sẽ bùng phát tiêu diệt hồng cầu của con người, rút mất hết sức lực và dẫu có cắt cơn nhưng vẫn để lại di chứng lâu dài về sau Còn những trường hợp sốt rét ác tính thì hầu như không cứu được Người bệnh lên cơn co giật dữ dội rồi nhanh chóng
bị tử vong