1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tiên mao trùng trên đàn trâu, bò của tỉnh bắc ninh, xây dựng bản đồ dịch tễ và đề xuất biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả

114 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 3,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi trâu, bò bị bệnh ký sinh trùng đường máu ở thể mãn tính, mặc dù bệnh không thể hiện rõ nhưng ký sinh trùng làm sức đề kháng của trâu, bò giảm sút, từ đó trâu, bò dễ mắc các bệnh kế p

Trang 1

MAI HẢI HÀ THU

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ

BỆNH TIÊN MAO TRÙNG TRÊN ĐÀN TRÂU, BÒ CỦA TỈNH BẮC NINH, XÂY DỰNG BẢN ĐỒ DỊCH TỄ VÀ

ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG BỆNH HIỆU QUẢ

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 2

CỦA TỈNH BẮC NINH, XÂY DỰNG BẢN ĐỒ DỊCH TỄ VÀ

ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG BỆNH HIỆU QUẢ

Ngành: Thú y

Mã số: 8.64.01.01

LUẬN VĂN NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH

TỄ BỆNH TIÊN MAO TRÙNG TRÊN ĐÀN TRÂU, BÒ CỦA TỈNH BẮC NINH, XÂY DỰNG BẢN ĐỒ DỊCH TỄ VÀ

ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG BỆNH HIỆU QUẢ

Ngành: Thú y

Mã số: 8.64.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ YSĨ THÚ Y

MAI HẢI HÀ THU

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ

BỆNH TIÊN MAO TRÙNG TRÊN ĐÀN TRÂU, BÒ CỦA TỈNH BẮC NINH, XÂY DỰNG BẢN ĐỒ DỊCH TỄ VÀ

ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG BỆNH HIỆU QUẢ

Ngành: Thú y

Mã số: 8.64.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Quang

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS

Nguyễn Văn Quang đã hướng dẫn, chỉ bảo tôi tận tình trong suốt quá trình nghiên

cứu và hoàn thành Luận văn.

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi thú y, Bộ môn Dược Thú y - Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện

về cả thời gian và vật chất giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chúng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo quy định

Thái nguyên, ngày tháng năm 2019

HỌC VIÊN Mai Hải Hà Thu

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC KÝ TỰ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

4 Những đóng góp mới của đề tài 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

1.1.1 Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại Tiên mao trùng 3

1.1.2 Dịch tễ học bệnh Tiên mao trùng 6

1.1.3 Đặc điểm lâm sàng và bệnh lý của bệnh 11

1.1.4 Chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng 13

1.1.5 Phòng, trị bệnh Tiên mao trùng cho trâu bò 18

1.2 Tình hình nghiên cứu về bệnh Tiên mao trùng 20

1.2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh Tiên mao trùng trên thế giới 20

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 23

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 25

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.1.2 Thời gian thực hiện đề tài 25

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 25

Trang 5

2.2 Vật liệu nghiên cứu 25

2.3 Nội dung nghiên cứu 26

2.3.1 Nghiên cứu sự lưu hành bệnh Tiên mao trùng, đặc điểm gây bệnh của Tiên mao trùng trên đàn trâu, bò của tỉnh Bắc Ninh 26

2.3.2 Xác định loài đơn bào đường máu gây bệnh Tiên mao trùng trên đàn trâu, bò tại tỉnh Bắc Ninh 26

2.3.5 Ứng dụng kỹ thuật GPS, GIS xây dựng bản đồ dịch tễ sự lưu hành bệnh Tiên mao trùng trên đàn trâu, bò của tỉnh Bắc Ninh 27

2.4 Phương pháp nghiên cứu 27

2.4.1 Phương pháp thu thập mẫu 27

2.4.2 Phương pháp phát hiện Tiên mao trùng trong mẫu máu 28

2.4.3 Phương pháp định danh Tiên mao trùng 29

2.4.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự lưu hành bệnh Tiên mao trùng 30

2.4.5 Phương pháp nghiên cứu sự phân bố và thời gian hoạt động của vật môi giới trung gian truyền bệnh (ruồi, mòng hút máu) ở các địa phương 31

2.4.6 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm gây bệnh của Tiên mao trùng trên trâu, bò ở Bắc Ninh 31

2.4.7 Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng chống bệnh Tiên mao trùng 32

2.4.8 Phương pháp xây dựng bản đồ dịch tễ 33

2.4.9 Phương pháp xử lý số liệu 33

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

3.1 Nghiên cứu sự lưu hành bệnh Tiên mao trùng, đặc điểm gây bệnh của Tiên mao trùng trên đàn trâu, bò của tỉnh Bắc Ninh 34

3.1.2 Nghiên cứu đặc điểm gây bệnh của Tiên mao trùng trên đàn trâu, bò tại tỉnh Bắc Ninh 42

3.2 Xác định loài đơn bào đường máu gây bệnh Tiên mao trùng trên đàn trâu, bò tại tỉnh Bắc Ninh 45

3.3 Nghiên cứu về vật môi giới trung gian truyền bệnh Tiên mao trùng cho đàn trâu, bò của tỉnh Bắc Ninh để có biện pháp phòng bệnh chủ động 47

Trang 6

3.3.1 Định danh các loài ruồi, mòng hút máu ở các địa phương nghiên cứu 47

3.3.2 Tỷ lệ các loài ruồi, mòng hút máu trong số mẫu thu thập 50

3.3.3 Quy luật hoạt động trong năm và trong ngày của các loài ruồi, mòng hút máu ở các địa phương nghiên cứu 51

3.4.1 Nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh Tiên mao trùng cho trâu, bò 54

3.4.2 Nghiên cứu biện pháp phòng bệnh có hiệu quả cao 61

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70

1 Kết luận 70

2 Kiến nghị 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC 89

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 89 PHỤ LỤC I

PHỤ LỤC II

PHỤ LỤC III

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ TỰ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT

ELISA: Enzym Linked Immunosorbent Asay

Kg TT: Kilogam thể trọng

LATEX: Latex Agglutination Test

S calcitrans: Stomoxys calcitrans

T evansi: Trypanosoma evansi

T rubidus: Tabanus rubidus

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng ở trâu, bò tại tỉnh Bắc Ninh 34

Bảng 3.2 Tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng ở trâu, bò tại các vùng sinh thái của tỉnh 36

Bảng 3.3 Tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng theo lứa tuổi trâu, bò 37

Bảng 3.4 Tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng ở hai mùa trong năm 39

Bảng 3.5 Tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng ở trâu, bò đực và trâu, bò cái 40

Bảng 3.6 Tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng ở trâu, bò có thể trạng khác nhau 41

Bảng 3.8 Bệnh tích đại thể chủ yếu của bò bị bệnh Tiên mao trùng 43

Bảng 3.9 Kết quả định danh loài Tiên mao trùng ở trâu, bò tại tỉnh Bắc Ninh 45

Bảng 3.10 Kết quả định danh, sự phân bố và tần suất xuất hiện các loài ruồi, mòng hút máu 48

Bảng 3.11 Tỷ lệ loài ruồi, mòng trong số mẫu ở các địa phương nghiên cứu 50

Bảng 3.12 Quy luật hoạt động trong năm của các loài ruồi, mòng hút máu 52

Bảng 3.13 Quy luật hoạt động trong ngày của các loài ruồi, mòng hút máu 53

Bảng 3.14 Thời gian sạch T evansi trên chuột khi sử dụng thuốc Azidin 54

Bảng 3.15 Thời gian sạch T evansi trên chuột khi sử dụng thuốc Trypamidium samorin 55

Bảng 3.16 Thời gian sạch T evansi trên chuột khi sử dụng thuốc Diminaveto 56

Bảng 3.17 Xây dựng hai phác đồ điều trị bệnh Tiên mao trùng cho trâu, bò tại tỉnh Bắc Ninh 58

Bảng 3.18 Kết quả điều trị bệnh Tiên mao trùng cho trâu, bò bằng phác đồ 1 và 2 59

Bảng 3.19 Kết quả điều trị bệnh Tiên mao trùng cho trâu, bò bằng phác đồ 1 60

Bảng 3.20 Kết quả tiêm phòng bệnh Tiên mao trùng cho bò tại 3 huyện trên địa bàn tỉnh 61

Bảng 3.21 Kết quả sử dụng bẫy Malaise bắt ruồi, mòng tại huyện Gia Bình và Quế Võ 62

Bảng 3.22 Tỷ lệ mắc bệnh tiên mao trùng ở các địa phương nghiên cứu 67

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1 Cấu trúc của Tiên mao trùng T evansi 5

Hình 2: Cơ chế lây truyền bệnh Tiên mao trùng 9

Hình 3: Chu kỳ phát triển của ruồi, mòng 10

Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng ở trâu, bò tại các địa phương 35

Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng ở trâu, bò tại các vùng sinh thái của tỉnh 36

Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng theo tuổi trâu, bò 38

Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng ở trâu, bò theo mùa 39

Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng ở trâu, bò đực và cái 40

Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng ở trâu, bò có thể trạng cơ thể khác nhau 41

Hình 3.7 Biểu đồ tỷ lệ và các biểu hiện lâm sàng 43

của trâu, bò nhiễm Tiên mao trùng 43

Hình 3.8 Hình ảnh điện di sản phẩm PCR gen 18S của một số mẫu 47

Hình 3.9 Biểu đồ kết quả định danh, sự phân bố và tần suất xuất hiện các loài ruồi, mòng hút máu ở các địa phương nghiên cứu 53

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bệnh Tiên mao trùng (Trypanosomosis) là một bệnh ký sinh trùng đường máu gây thiệt hại rất lớn cho trâu, bò ở các nước nhiệt đới Trâu bị bệnh cấp tính có triệu chứng sốt cao, bỏ ăn, điên loạn, chết nhanh Trâu bị bệnh thể mãn tính thường sốt gián đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm giác mạc, phù thũng ở bụng, liệt chân sau, dần dần bị chết do kiệt sức Bò bị bệnh Tiên mao trùng thường ở thể mãn tính, có các biểu hiện lâm sàng như: sốt gián đoạn, chậm chạp, hạch lâm ba trước đùi sưng, một số con thủy thũng ở vùng hàm, vùng cổ nhưng không đau, gần chết thì bại liệt

Theo Phan Văn Chinh (2006), Phan Địch Lân (2004), Phạm Sỹ Lăng (1982): bệnh Tiên mao trùng xuất hiện ở nhiều tỉnh thành trên cả nước, với tỷ lệ mắc khá cao: trên trâu là 23 - 30%, trên bò là 16 - 21%, trong đó tỷ lệ gia súc chết/gia súc mắc bệnh lên tới 15 - 20% Tỷ lệ mắc bệnh và chết do bệnh Tiên mao trùng ở đàn gia súc nhập ngoại như bò sữa, bò hướng thịt cao hơn so với gia súc bản địa là 10%, bởi các loài này chưa thích nghi với điều kiện thời tiết khí hậu và điều kiện chăn nuôi ở Việt Nam, đây là một trong những nguyên nhân gây tổn thất lớn trong chăn nuôi trâu bò theo hướng tập trung Bệnh phát sinh và phát triển phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết khí hậu, tập quán chăn nuôi và các điều kiện kinh tế - xã hội Sự thay đổi các điều kiện trên sẽ ảnh hưởng đến khả năng gây bệnh cũng như đặc điểm dịch tễ của bệnh

Theo báo cáo của chi cục thú y Tỉnh Bắc Ninh, trong những năm của thập niên

80 - 90, bệnh ký sinh trùng đường máu ở trâu bò đã xảy ra phổ biến và gây thiệt hại nhiều về kinh tế cho người chăn nuôi trâu, bò trong Tỉnh Sau đó, Chi cục Thú y đã thực hiện tốt công tác phòng chống bệnh ký sinh trùng đường máu nên bệnh cơ bản được khống chế

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do bệnh ký sinh trùng đường máu ở trâu, bò không còn là vấn đề nóng, không được tập trung giải quyết nên bệnh vẫn lưu hành trên đàn trâu, bò của Tỉnh và lưu hành chủ yếu ở thể mãn tính Tình trạng này làm cho một số trâu, bò phát bệnh, thậm chí có trâu, bò chết trong điều kiện chăn nuôi kém, trong mùa đông giá rét và thiếu thức ăn xanh Khi trâu, bò bị bệnh

ký sinh trùng đường máu ở thể mãn tính, mặc dù bệnh không thể hiện rõ nhưng ký sinh trùng làm sức đề kháng của trâu, bò giảm sút, từ đó trâu, bò dễ mắc các bệnh

kế phát, trong đó có các bệnh truyền nhiễm, hậu quả là làm cho trâu, bò chết nhiều

do các bệnh này

Trang 11

Qua những phân tích ở trên về mức độ phổ biến cũng như những tác hại về kinh tế do bệnh Tiên mao trùng gây ra trên gia súc (trâu, bò) ở Việt Nam, đặc biệt là các tỉnh trung du miền núi phía Bắc trong đó có tỉnh Bắc Ninh, cùng với những khó khăn trong công tác chủ động phòng và trị bệnh Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề

tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tiên mao trên đàn trâu, bò của

tỉnh Bắc Ninh, xây dựng bản đồ dịch tễ và đề xuất biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả”

2 Mục tiêu đề tài

- Xác định đặc điểm dịch tễ bệnh do Trypanosoma evansi gây ra ở đàn trâu,

bò tại các địa phương của tỉnh Bắc Ninh

- Xác định đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh Tiên mao trùng trong điều kiện chăn nuôi tại tỉnh Bắc Ninh

- Ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ sự lưu hành bệnh Tiên mao trùng trên đàn trâu, bò của tỉnh Bắc Ninh

- Đề xuất và áp dụng các biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả, góp phần khống chế bệnh Tiên mao trùng cho trâu, bò trên địa bàn tỉnh

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học có giá trị về đặc điểm dịch tễ

và biện pháp phòng trị bệnh Tiên mao trùng trên đàn trâu, bò tại tỉnh Bắc Ninh

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng các biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do

T evansi gây ra, góp phần khống chế bệnh Tiên mao trùng, nâng cao năng suất chăn

nuôi trâu, bò trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

4 Những đóng góp mới của đề tài

- Là công trình nghiên cứu có tính hệ thống về bệnh Tiên mao trùng do

T evansi gây ra, xây dựng được các biện pháp phòng trị bệnh cho đàn trâu bò

tại tỉnh Bắc Ninh

- Xây dựng được quy trình phòng, trị bệnh Tiên mao trùng trên đàn trâu bò tại tỉnh Bắc Ninh có hiệu quả, khuyến cáo và áp dụng rộng rãi tới các nông hộ chăn nuôi trâu, bò tại các huyện trên địa bàn tỉnh

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Trypanosoma evansi là ký sinh trùng đơn bào đường máu (Protozoa) thuộc

lớp trùng roi (Flagellata) có tầm quan trọng lớn đối với ngành Thú y Bệnh do

Trypanosoma evansi gây nên, có thể gây nhiễm đối với các loại gia súc lớn như:

trâu, bò, ngựa, hươu, lạc đà… Bệnh gây ra thiệt hại to lớn về kinh tế ở các nước ở Châu Phi, Nam Mỹ và Châu Á do những vùng này có số lượng gia súc chết hàng

năm khá lớn và đều là do Trypanosoma evansi gây nên Khả năng phát sinh và phát

triển của bệnh phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết, khí hậu, tập quán chăn nuôi của người dân và chế độ làm việc của gia súc Sự thay đổi về các yếu tố trên có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng gây bệnh cũng như dịch tễ bệnh

Theo số liệu của Phạm Sỹ Lăng (1982), Phan Địch Lân (2004), Phan Văn Chinh (2006), bệnh Tiên mao trùng thấy ở các tỉnh, thành trong cả nước, với tỷ lệ mắc khá cao: trên trâu là 23 - 30%, trên bò là 16 - 21%, trong đó tỷ lệ gia súc chết/ gia súc mắc bệnh lên tới 15 - 20%

Theo đánh giá của các nhà chuyên môn, bệnh Tiên mao trùng do đơn bào

Trypanosoma evansi (T evansi) gây ra là bệnh nguy hiểm đối với trâu, bò Với tổng

đàn trâu, bò của tỉnh gồm 32.408 con (theo số liệu của Chi cục Thú y tỉnh Bắc Ninh năm 2018), chăn nuôi trâu, bò có vai trò quan trọng trong cơ cấu phát triển chung của ngành nông nghiệp của tỉnh

Tiên mao trùng là loại ký sinh trùng tồn tại trong máu của gia súc mắc bệnh (trâu, bò, ngựa), và trong vật môi giới truyền bệnh (các loài ruồi, mòng hút máu) Thực tế cho thấy, ở địa phương nào có gia súc mắc bệnh Tiên mao trùng thì bệnh thường lưu hành trong nhiều năm và khó thanh toán được bệnh Vì vậy, nếu xác định được bệnh lưu hành ở địa phương nào để xây dựng bản đồ dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh hiệu quả thì sẽ giúp cơ quan thú y, các cán bộ thú y và người nông dân có cơ sở khoa học tập trung vào công tác phòng chống bệnh ở những địa phương đó, từ đó ngăn chặn được các bệnh truyền nhiễm kế phát, có như vậy mới giảm thiểu được thiệt hại do bệnh gây ra

1.1.1 Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại Tiên mao trùng

1.1.1.1 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của Tiên mao trùng Trypanosoma evansi

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012): đặc điểm hình thái, cấu tạo của Tiên mao

Trang 13

có một roi, roi này chạy dọc theo thân và tạo thành nhiều màng rung động, cuối cùng roi lơ lửng ở phần đầu và thành roi tự do Tiên mao trùng di chuyển được là nhờ roi và màng rung động Trên tiêu bản máu tươi, Tiên mao trùng di chuyển nhanh trong huyết tương Khi phết kính, nhuộm Giemsa thấy nguyên sinh chất của Tiên mao trùng bắt màu xanh nhạt, nhân bắt màu hồng

Phạm Sỹ Lăng và Lê Văn Tạo (2002) cho biết: Tiên mao trùng có kích thước:

18 - 34 x 2,5 μm, có hình mũi khoan, di động được trong máu nhờ một roi tự do xuất phát từ phía sau thân, chạy vòng quanh thân tạo thành một màng rung

Khi rung động, roi tự do vung ra phía trước và màng rung chuyển động giúp cho Tiên mao trùng di chuyển nhanh trong máu vật chủ (Phạm Sỹ Lăng, 1982)

Tejero F và cs (2008) đã nghiên cứu về hình thái học của các loài Tiên mao trùng khác nhau và thấy không có bất kỳ sự khác biệt đáng kể nào Các nghiên cứu

trước và gần đây đều kết luận rằng kích thước và hình dạng của T evansi không liên

quan với các đặc tính di truyền, nhưng có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn tùy thuộc vào các điều kiện phát triển của ký sinh trùng và các phản ứng miễn dịch của vật chủ

Tamarit A và cs (2010) đã quan sát thấy một số trường hợp Tiên mao trùng có kích thước ngắn hơn bình thường có thể gây nhầm lẫn, khó phân biệt khi nhận dạng các loài khác nhau

Nhìn chung, cấu trúc cơ bản của T evansi cũng giống như cấu trúc của các loài Tiên mao trùng khác thuộc họ Trypanosomatidae Cấu trúc từ ngoài vào trong

được chia thành 3 phần chính:

Vỏ: Ngoài cùng là lớp vỏ hay còn gọi là màng bao (periplast) dày 8-10 nm,

vỏ được chia làm 3 lớp (lớp ngoài, lớp giữa và lớp trong; lớp ngoài và lớp trong tiếp giáp với nguyên sinh chất dày hơn lớp giữa) Lớp vỏ ngoài cùng được cấu tạo từ các phân tử glycoprotein, lớp vỏ này hoạt động như một kháng nguyên bề mặt của loài Tiên mao trùng trong máu động vật Lớp vỏ này có khả năng biến đổi (Variant Glycoprotein Surface -VGS), nhờ vậy mà kí sinh trùng có thể trốn tránh hoạt động của các kháng thể được tạo ra bởi vật chủ Tiếp giáp với lớp trong cùng là 9 cặp vi ống xếp song song dọc theo chiều dài thân Tiên mao trùng Chính nhờ sự sắp xếp của các cặp vi ống nên Tiên mao trùng có dạng hình suốt chỉ mảnh (Juste M C., 2000)

Nguyên sinh chất: Gồm lớp trong và lớp ngoài Trong nguyên sinh chất có

chứa các nội quan: Ribosome (có màu thẫm xen kẽ vùng không bào màu sáng), kinetoplast (thể cơ động), mitochrondno, reticulum (lưới nội bào) và mạng lưới golgi (De Souza và Da Cunha-e-Silva, 2003)

Trang 14

Nhân: Nhân Tiên mao trùng có thể ở các vị trí khác nhau trong cơ thể Tiên

mao trùng, tuy nhiên khi xuất hiện trong máu thì thường thấy ở giữa hoặc phía bên trên của Tiên mao trùng Chứa ADN, hình bầu dục hoặc hình trứng Nhân thường nằm ở vị trí trung tâm hoặc gần vị trí trung tâm cơ thể Ngoài nhân, về phía cuối thân còn có thể kinetoplast chứa ADN (kADN), có đường kính vào khoảng 0,7 micromet Từ kinetoplast có một roi chạy vòng quanh thân lên đầu và ra phía ngoài

cơ thể thành một roi tự do

Roi của Tiên mao trùng có lớp vỏ ngoài cùng giống lớp vỏ của thân Trong roi có 9 cặp vi ống ở xung quanh và một cặp ở trung tâm, xếp song song dọc chiều dài roi (Quiroz H., 1986)

Kinetoplast Màng rung

Nhân

Roi tự do

Hình 1.1 Cấu trúc của Tiên mao trùng T evansi

1.1.1.2 Phân loại Tiên mao trùng ký sinh ở gia súc

Theo Levine N D và cs (1980) (dẫn theo Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1997), vị trí của Tiên mao trùng trong hệ thống phân loại nguyên bào

(Protozoa) như sau:

Ngành Sarcomastigophora

Phân ngành Mastigophora

Lớp Zoomastigophorasida

Bộ Kinetoplastorida Phân bộ Trypanosomatorida

Họ Trypanosomatidae Donein, 1901

Giống Trypanosoma Gruby, 1843 Giống phụ Trypanosoma Gruby, 1843

Trang 15

Phân giống Megatrypanum Hoare, 1964 Loài Trypanosoma (M) theileria Phân giống Herpetosoma Doflein, 1901 Loài Trypanosoma (H) lewisi Phân giống Schizotrypanum Chagas, 1909 Loài Trypanosoma (S) cruzi

Phân giống Duttonella Chalmers, 1918 Loài Trypanosoma (D) vivax Loài Trypanosoma (D) uniform Phân giống Nannomonas Hoare, 1964 Loài Trypanosoma (N) congolense Loài Trypanosoma (N) siminae Loài Trypanosoma (N) vanhogi Phân giống Trypanozoon Liihe, 1906 Loài Trypanosoma (T) brucei Loài Trypanosoma (T) gambience Loài Trypanosoma (T) rhodesiense Loài Trypanosoma (T) equiperdum Phân giống Pycnomonas Hoare, 1964 Loài Trypanosoma (P) suis Phân giống Trypanosoma Gruby, 1843 Loài Trypanosoma evansi (Steel, 1885)

Trong các loài Tiên mao trùng trên, có 7 loài được tổ chức dịch tễ thế giới (OIE)

thông báo là có khả năng gây bệnh cho người và động vật có vú, đó là: T brucei, T

congolense, T cruzi, T evansi, T gambiense, T siminae và T vivax Trong đó T evansi là loài phổ biến nhất, phân bố ở khắp nơi trên thế giới (OIE, 2010)

1.1.2 Dịch tễ học bệnh Tiên mao trùng

1.1.2.1 Phân bố địa lý của bệnh

Kết quả nghiên cứu của các tác giả Hasan M U và cs (2006), Rodgers J (2009), Pourjafar M và cs (2012) cho thấy bệnh Tiên mao trùng phân bố rất rộng,

từ phía Tây sang phía Đông bán cầu Tại châu Phi, T evansi hiện diện ở tất cả các

Trang 16

quốc gia có nuôi lạc đà, từ Senegal (15° Bắc) đến Kenya (xích đạo), trên vành đai

Glossina; T evansi được tìm thấy khôngchỉ ở Mauritania, Morocco, Algeria,

Tunisia, Libya, Ai Cập, Sudan, Eritrea và Ethiopia, mà còn thấy ở Mali, Burkina

Faso, Niger, Nigeria, Chad, Somalia, Kenya Ngày nay, phân bố địa lý của T evansi

trải rộng liên tục từ phần phía bắc của châu Phi qua Trung Đông đến Đông Nam Á

Tamarit A và cs (2010) đều cho biết gần đây T evansi đã được phát hiện

trên đất liền Tây Ban Nha, ở tỉnh Alicante, nơi xảy ra bệnh tại một trang trại lạc đà

và trang trại ngựa Nguyên nhân bệnh lây lan được cho là do một chuyến nhập khẩu bất hợp pháp lạc đà từ các quốc gia đang có dịch bệnh như Mauritania hoặc Ma-rốc Bệnh cũng đã lan sang Pháp vào năm 2006, do nhập khẩu lạc đà từ quần đảo Canary

Goossens B và cs (2006) nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng ở bò thuộc khu vực Mafia Island (Tanzania) cho biết: nghiên cứu 970 mẫu, phát hiện 0,8%

có Tiên mao trùng trong máu Simukoko H và cs (2007) nghiên cứu tình hình nhiễm Tiên mao trùng ở khu vực Đông Zambia, cho biết: trong tổng số 1526 mẫu huyết thanh nghiên cứu, phát hiện 14,4% mẫu có kháng thể kháng Tiên mao trùng Trong đó,

nhiễm Trypanosoma congolense chiếm tới 96%, còn lại nhiễm Trypanosoma vivax là 2% và Trypanosoma brucei là 2%

Sinshaw A và cs (2006) đã nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm Trypanosoma vivax

ở 3 khu vực thuộc Ethiopia cho thấy: bò nhiễm 6,1%, trong đó mùa mưa nhiễm 9,6%, mùa khô nhiễm 3,6% Tác giả phát hiện 1/122 mẫu máu cừu có Tiên mao trùng, chiếm 0,81%; còn đối với dê, tác giả thông báo có 1/676 mẫu nhiễm, chiếm

Ở châu Phi, bệnh trải dài từ Tây sang Đông, phía Bắc qua vùng sa mạc Sahara, dọc theo bờ biển Atlantique - Địa Trung Hải

Bệnh Tiên mao trùng xảy ra với tên gọi "bệnh Surra" ở Ả rập Saudi, Yêmen, Sultanate, À Rập thống nhất, Thổ Nhĩ Kỳ, Israel, Syrie, Afganistan, Pakistan

Trang 17

Ở châu Á, bệnh xuất hiện ở Trung Á (thuộc Liên Xô cũ), Ấn Độ, Malaysia, bán đảo Đông Dương, Trung Quốc, Indonesia, Philippine

Ở châu Âu, bệnh xuất hiện ở Bungaria (nay đã được thanh toán), hiện chi còn ở vùng Volga và Nam Capcase (Liên Xô cũ)

Ở châu Mỹ, bệnh xuất hiện ở Trung Mỹ, Nam Mỹ, đặc biệt phổ biến ở Brazil, Mexico, Venezuela, Colombia

Losos G J và Ikede B O (1972) cho rằng, bệnh Tiên mao trùng phổ biến nhất ờ châu Á và châu Phi, từ Ấn Độ đến Srilanca, Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, Lào, Camphuchia, Iran, Philippine

Ở Việt Nam, bệnh Tiên mao trùng thấy ở hầu hết các vùng sinh thái khác nhau: Miền núi, trung du, đồng bằng và ven biển Theo Phạm Sỹ Lăng (1982), bệnh Tiên mao trùng có ở tất cà các tỉnh miền Bắc (Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Ninh Bình, Hà Tây (cũ) Trâu, bò nhiễm bệnh với tỷ lệ cao và thay đổi giữa các vùng khác nhau (trâu, bò ở đồng bằng nhiễm Tiên mao trùng cao hơn vùng trung du và miền núi, đặc biệt ở trâu, bò có nguồn gốc từ miền núi chuyển xuống vùng đồng bằng)

1.1.2.2 Vật chủ và côn trùng môi giới truyền bệnh Tiên mao trùng (Vector truyền bệnh)

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2008), trong tự nhiên, Tiên mao trùng ký sinh ở hầu hết các loài thú nuôi và thú hoang, thấy nhiều hơn ở trâu, bò, ngựa, trâu bò rừng, hươu, nai, hổ, báo, sư tử, chó, mèo, lạc đà, voi, thỏ, chuột cống, chuột lang, chuột bạch , nhưng không ký sinh ở người Sonika S và cs (2007) nghiên cứu

và cũng cho biết chó có thể bị mắc bệnh và là vật chủ của Tiên mao trùng

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012), sự lây truyền Tiên mao trùng từ trâu bò

ốm sang trâu bò khoẻ là do các loài ruồi hút máu (thuộc họ phụ Stomoxydinae) và các loài mòng hút máu (thuộc họ Tabanidae) Ruồi và mòng hút máu gia súc bị bệnh (có

chứa Tiên mao trùng ở vòi hút), sau đó lại hút máu gia súc khoẻ, trong khi hút máu sẽ truyền Tiên mao trùng từ vòi hút vào máu con vật khoẻ Sự lây truyền này mang tính chất cơ học

Phan Địch Lân (2004) cho biết phần lớn các loài mòng tập trung ở khu vực miền núi và trung du Trong 53 loài mòng thì có tới 44 loài phân bố ở vùng rừng núi

có độ cao dưới 1.000 mét so với mặt nước biển, càng lên cao số loài càng ít dần (độ cao trên 1.000 mét chỉ có 26 loài) Ở vùng trung du (rừng thưa, độ cao không quá

500 mét so với mặt nước biển có 27 loài; vùng đồi trọc chỉ có 9 - 11 loài; vùng rừng

Trang 18

núi ven biển phát hiện chỉ có 8 loài Những loài mòng phổ biến ở tất cả các vùng là:

Tabanus rubidus, Tabanus striatus, Chrysops dispar, Chrysozoma assamensis

Trong chu kỳ phát triển của T evansi không có giai đoạn phát triển trong vật chủ

trung gian Điều này có nghĩa là ruồi, mòng chỉ có vai trò mang và truyền Tiên mao trùng từ động vật này sang động vật khác

Hasan M U và cs (2006) đã chứng minh khả năng gây bệnh của Tiên mao

trùng sau khi xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus như sau: thời gian từ giờ thứ 1

đến thứ 5, Tiên mao trùng có khả năng gây bệnh và làm chết chuột bạch tương tự như khi truyền thẳng máu có Tiên mao trùng cho chuột; từ giờ thứ 6 đến thứ 7 chỉ còn 30% số chuột thí nghiệm phát bệnh, thời gian gây bệnh kéo dài và thời gian chết của chuột cũng dài Điều này có thể giải thích là do độc lực của Tiên mao trùng giảm dần và số lượng Tiên mao trùng còn hoạt lực gây bệnh cũng giảm dần sau khi

chúng xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus

Desquesnes M (2004), Wolkmer P và cs (2013) đã nghiên cứu và cho

rằng ngoài những động vật nhiễm T evansi tự nhiên, trong phòng thí nghiệm có thể

truyền bệnh Tiên mao trùng cho các loài động vật nhỏ như: chuột nhắt trắng, chuột cống trắng, chuột lang, thỏ, chồn, chó, mèo trong đó chuột nhắt trắng và chuột

cống trắng rất mẫn cảm với T evansi Dưới đây là đặc điểm sinh học của 2 loài

động vật thường được sử dụng trong các thí nghiệm nghiên cứu về bệnh nói chung

và bệnh Tiên mao trùng nói riêng:

Hình 1.2: Cơ chế lây truyền bệnh Tiên mao trùng

Trang 19

* Chu kỳ phát triển sinh học của ruồi, mòng:

Theo Luckins A và Dwinger H (2004): ruồi, mòng nói chung và ruồi, mòng hút máu nói riêng đều có chu kỳ phát triển trải qua 4 giai đoạn là trứng, ấu trùng (dòi), nhộng và trưởng thành Ruồi cái trưởng thành có thể sống từ 1 - 2 tháng và cần hút máu vật chủ để nuôi trứng

Wall R và Shearer D (2010) miêu tả: họ Stomoxys có 18 loài trong đó thì loài phổ biến và quan trọng nhất đối với ngành Thú y là loài Stomoxys calcitrans

Hình 1.3: Chu kỳ phát triển của ruồi, mòng

Khác với loài Tabanus, loài Stomoxys calcitrans cả hai giống đều hút máu,

thời gian hoàn thành vòng đời của là 21 ngày, tuổi thọ khoảng 20 - 30 ngày

* Thành phần loài ruồi, mòng hút máu ở nước ta:

Theo Phan Địch Lân (2004) phần lớn các loài mòng tập trung ở khu vực miền núi và trung du Trong 53 loài mòng thì có tới 44 loài phân bố ở vùng rừng núi

có độ cao dưới 1.000 m so với mặt nước biển, càng lên cao số loài càng ít dần (độ cao trên 1.000 m chỉ có 26 loài) ở vùng trung du (rừng thưa, độ cao không quá 500 mét so với mặt nước biển có 27 loài; vùng đồi trọc chỉ có 9 - 11 loài; vùng rừng núi ven biển phát hiện chỉ có 8 loài

Miền Bắc nước ta có 4 loài ruồi hút máu, 2 loài phổ biến ở tất cả các vùng là

Stomoxys calcitrans và Liperosis exigua; 2 loài chỉ thấy ở những vùng sinh cảnh đặc

biệt: loài Bdellolarynx sanguinolentus (chỉ xuất hiện ở vùng có độ cao dưới 1.000 mét), loài Stomoxys indica (chỉ thấy ở vùng núi Cẩm Thuỷ - Thanh Hoá)

Trang 20

* Vai trò truyền bệnh Tiên mao trùng của ruồi, mòng:

Bùi Quý Huy (2006) cho rằng: thời gian xâm nhập của Tiên mao trùng càng lâu thì tỷ lệ gây bệnh càng giảm, điều này có thể do thời gian càng lâu thì số lượng và

độc lực của Trypanosoma evansi trong ruồi, mòng càng giảm dần

Thực nghiệm đã chứng minh khả năng gây bệnh của Tiên mao trùng sau khi

xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus như sau: Thời gian từ giờ thứ 1 đến thứ 5,

Tiên mao trùng có khả năng gây bệnh và làm chết chuột nhắt trắng tương tự như khi truyền thẳng máu có Tiên mao trùng cho chuột; từ giờ thứ 6 đến thứ 7 chỉ còn 30%

số chuột thí nghiệm phát bệnh, thời gian gây bệnh kéo dài và thời gian chết của chuột cũng dài Điều này có thể giải thích là, do độc lực của Tiên mao trùng giảm dần và số lượng Tiên mao trùng còn hoạt lực gây bệnh cũng giảm dần sau khi chúng

xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus

* Thời gian hoạt động của ruồi, mòng hút máu:

Sau khi theo máu vào vòi hút ruồi và mòng, Tiên mao trùng vẫn sống đến giờ thứ 53, thời gian hoạt động mạnh nhất là từ giờ thứ nhất đến giờ thứ 34, trung bình là 24 giờ Sự hoạt động của Tiên mao trùng yếu dần từ giờ thứ 35 - 42 Từ 46 -

53 giờ thì Tiên mao trùng ngừng hoạt động

1.1.3 Đặc điểm lâm sàng và bệnh lý của bệnh

1.1.3.1 Triệu chứng lâm sàng của trâu, bò bị bệnh Tiên mao trùng

Theo Taylor K và Authié E M L (2004) thì bệnh Tiên mao trùng do T

evansi gây nên hay còn gọi là bệnh ngã nước (Surra), trâu bò mắc bệnh thường có

yếu, thủy thũng ở các phần dưới của cơ thể, nước mắt chảy ra nhiều, các hạch bạch huyết sưng, có các triệu chứng thần kinh như ngã quỵ, kêu rống, đi vòng tròn và một số trường hợp có thể dẫn tới sảy thai

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) cho biết trâu, bò bị bệnh thể hiện các triệu chứng lâm sàng chủ yếu như sau:

- Sốt cao và gián đoạn: sau 14 - 30 ngày bị ruồi, mòng hút máu truyền Tiên mao

thời gian sau nhiệt độ lại tăng lên Thời gian gián đoạn giữa hai cơn sốt dài hay ngắn tuỳ theo thể trọng con vật Khi sốt, kiểm tra máu thường thấy Tiên mao trùng

- Hội chứng thần kinh: ở một số trâu, bò khi lên cơn sốt còn thể hiện hội chứng thần kinh như điên loạn, mắt đỏ ngầu, húc đầu vào tường, chạy vòng quanh kêu rống

Trang 21

lên Trường hợp nhẹ thấy run rẩy từng cơn, mắt trợn ngược rồi đổ ngã vật xuống, sùi bọt mép giống như trâu bị cảm nắng Sau 20 - 30 phút con vật lại đứng dậy đi lại được Những trâu bò mắc bệnh có triệu chứng lâm sàng như trên thường là mắc bệnh

ở thể cấp tính

Trâu, bò bị bệnh mạn tính thường kéo dài, cơ thể suy yếu, liệt hai chân sau, nằm

tư thế quỳ và không đi lại được Mặc dù nằm liệt nhưng vẫn ăn và nhai lại cho đến khi sắp chết

- Phù thũng dưới da: phù thũng thường thấy ở vùng thấp của cơ thể như ở bốn chân (từ khớp khuỷu trở xuống), phần yếm, ngực, bộ phận sinh dục

- Viêm giác mạc và kết mạc mắt: triệu chứng này thấy ở hầu hết trâu, bò bệnh Mắt có dử trắng hay vàng, chảy liên tục, nếu nặng thì mắt sưng đỏ ngầu Khi khỏi bệnh, mắt có màng trắng (cùi nhãn) kéo che kín giác mạc

- Hội chứng tiêu hoá: một số trâu, bò bệnh bị ỉa chảy nặng, phân lỏng, màu vàng, sau chuyển màu xám, có lẫn bọt và chất nhầy Các đợt ỉa chảy tiếp theo những cơn sốt cách quãng, ỉa chảy trong bệnh Tiên mao trùng thường dai dẳng và con vật vẫn ăn được

- Gầy yếu, suy nhược: ở thể bệnh cấp tính trâu, bò gầy sút nhanh, chỉ sau 7 -

14 ngày từ khi phát bệnh con vật đã gầy rộc, mắt trũng sâu Nếu bệnh kéo dài thì con vật gầy xơ xác, lông dựng ngược, da khô nhăn nheo, niêm mạc mắt nhợt nhạt, lông dễ rụng, dần dần suy nhược cơ thể nặng, mất khả năng cày kéo và sinh sản Nếu gặp điều kiện bất lợi như thiếu ăn, rét mướt thì trâu, bò dễ chết

Trang 22

Tiên mao trùng phát triển nhanh trong máu, tiêu thụ glucose và các chất đạm, chất béo và khoáng chất trong máu ký chủ bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt

cơ thể để duy trì hoạt động và sinh sản Ở súc vật bị bệnh, trong l m máu có thể có 10.000 - 30.000 Tiên mao trùng Với số lượng nhiều như vậy, Tiên mao trùng chiếm đoạt dinh dưỡng nhiều, làm cho súc vật bệnh gầy còm, thiếu máu và mất dần khả năng sản xuất sữa, thịt, mất dần khả năng sinh sản và giảm sức đề kháng với các bệnh khác

Sống trong máu vật chủ, Tiên mao trùng còn sản sinh ra độc tố Trypanotoxin,

độc tố này gồm: độc tố do Tiên mao trùng tiết ra qua màng thân trong quá trình sống

và độc tố do xác chết của Tiên mao trùng phân hủy trong máu sau 15 - 30 ngày Độc

tố của Tiên mao trùng tác động lên hệ thần kinh trung ương làm rối loạn trung khu điều hoà thân nhiệt, gây sốt cao và gián đoạn (lúc sốt, lúc hết sốt xen kẽ nhau) Khi sốt cao thường có rối loạn về thần kinh (run rẩy, bại chân…) Độc tố phá huỷ hồng cầu, ức chế cơ quan tạo máu làm cho vật chủ thiếu máu và suy nhược dần Độc tố còn tác động tới bộ máy tiêu hoá, gây rối loạn tiêu hoá, làm con vật ỉa chảy Hội chứng tiêu chảy thường xảy ra khi xuất hiện Tiên mao trùng trong máu con vật bệnh

Khi tăng lên với số lượng lớn trong máu, Tiên mao trùng còn làm tắc các mao mạch, làm tăng tính thấm thành mạch, dần dần tạo ra các ổ thuỷ thũng chất keo vàng dưới da

1.1.3.3 Bệnh tích của trâu, bò bị bệnh Tiên mao trùng

Youssif F và cs (2008) cho biết trâu, bò bị bệnh Tiên mao trùng khi chết gầy

xơ xác, mổ khám thấy có những biến đổi bệnh tích đại thể rõ rệt ở hệ tuần hoàn và

hô hấp: tim nhão, xoang bao tim tích nước vàng; phổi sung huyết và tụ máu từng đám nhỏ; gan sưng to, nhạt màu; lách sưng, mềm nhũn và nhạt màu; hạch lâm ba sưng và tụ máu trong hạch; cơ nhão, màu nhợt nhạt, nhát cắt rỉ nước; xoang ngực và xoang bụng tích dịch màu vàng nhạt; có những đám keo nhầy màu vàng dưới vùng

da thuỷ thũng

1.1.4 Chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng

1.1.4.1 Phương pháp chẩn đoán lâm sàng

Các biểu hiện lâm sàng đặc trưng của bệnh Tiên mao trùng ở trâu, bò, ngựa không phải lúc nào cũng phát hiện được Rất nhiều gia súc mang bệnh nhưng khó phát hiện các triệu chứng đặc trưng, nhất là đối với những gia súc mắc bệnh Tiên mao trùng mãn tính

Trang 23

Đối với gia súc mắc bệnh ở thể cấp tính, các biểu hiện bệnh đặc trưng là sốt cao, bỏ ăn, có triệu chứng thần kinh (điên loạn) và chết nhanh Trâu bị bệnh mãn tính có thể thấy triệu chứng: Sốt gián đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm giác mạc, phù thũng ở bụng và chân sau, chết do kiệt sức (Phạm Sỹ Lăng, 1982) Triệu chứng sảy thai có thể thấy ở trâu, bò bị bệnh Tiên mao trùng

Việc chẩn đoán lâm sàng bệnh Tiên mao trùng rất là khó khăn trên vật súc bởi do các triệu chứng lâm sàng có thể trùng với các bệnh truyền nhiễm hoặc bệnh

do ký sinh trùng đường máu khác gây nên cho gia súc Ngoài ra cần phải nhấn

mạnh rằng T evansi không chỉ nhiễm trên một loài gia súc Vì vậy, cần phải tiến

hành các phương pháp phòng thí nghiệm để khẳng định bệnh (Desquesnes M., 2004)

1.1.4.2 Các phương pháp chẩn đoán thí nghiệm

Có nhiều phương pháp chẩn đoán Tiên mao trùng trong phòng thí nghiệm, mục đích là phát hiện Tiên mao trùng trong máu gia súc Tùy từng trường hợp bệnh, tuỳ điều kiện mà có thể làm cùng lúc một số phuơng pháp hoặc lựa chọn một phương pháp phù hợp và có độ chính xác cao

* Phương pháp phát hiện Tiên mao trùng trực tiếp

Muốn phát hiện Tiên mao trùng trực tiếp, có thể áp dụng những phương pháp sau:

- Phương pháp xem tươi (Direct smear)

Khi sốt, trong mao quản ngoại vi của gia súc mắc bệnh Tiên mao trùng thường

có T evansi Vì vậy, trường hợp này nên lấy máu vùng ngoại vi để xem tươi

Cho 1 giọt máu nhỏ lên phiến kính, đậy lamen lên giọt máu để giọt máu dàn theo lamen thành một lớp mỏng Soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 20) để phát hiện Tiên mao trùng sống

- Phương pháp nhuộm Giemsa tiêu bản máu khô (Romanovsky)

+ Phương pháp giọt dầy:

Đặt 1 giọt máu to vào giữa phiến kính, dùng một góc của đầu một phiến kính khác ria tròn giọt máu với đường kính khoảng 1 - l,25 cm Để khô tự nhiên trong khoảng 1 giờ, rồi cố định bàng cồn Methanol, nhuộm Giemsa [1 giọt Giemsa + lml dung dịch PBS (Phosphat Buffered Saline) pH = 7,2] trong 25 phút Rửa tiêu bản dưới vòi nước chảy nhẹ, để khô rồi soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 100 hoặc 10 x 90)

Trang 24

- Phương pháp tập trung Tiên mao trùng

Trong phần lớn vật chủ T evansi có thể gây nên biểu hiện lâm sàng nhẹ hay

chỉ là nhiễm bệnh thứ cấp với một lượng nhỏ Tiên mao trùng trong máu nên rất khó phát hiện ra Tiên mao trùng Để giải quyết vấn đề này phương pháp tập trung Tiên mao trùng (concentration method) là cần thiết (OIE, 2010)

Người ta đã sử dụng phương pháp ly tâm tập trung Tiên mao trùng bằng ống Haematocrit hoặc tách Tiên mao trùng bằng gen DEAE - cellulose

+ Phương pháp ly tâm tập trung bằng ống Haematocrit

Cho máu động vật nghi mắc bệnh vào ống Haematocrit, một đầu ống được bịt kín bằng chất dẻo matit, một đầu ống để hở Ly tâm với tốc độ 12.000 vòng/phút trong 5 phút Sau đó kiểm tra sự tập trung của Tiên mao trùng tại vị trí tiếp giáp giữa huyết tương và hồng cầu (độ phóng đại 10 x 10)

+ Phương pháp tách Tiên mao trùng bằng gen DEAE - cellulose (Diethyl - Ar.omino - Ethyl - cellulose)

Các thành phần của huyễn dịch gen DEAE - cellulose - PSG (PSG: Phosphat Saline Glucose) mang điện tích dương đã liên kết và giữ lại các thành phàn mang điện tích âm có trong máu là hồng cầu và tiểu cầu Còn lại, Tiên mao trùng được tách ra cùng với dung dịch PSG và huyết tương Bằng phương pháp này, có thể tách được trên 96% Tiên mao trùng

- Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm

Đây là phương pháp phổ biến, hiệu quả, chính xác và thường được ứng dụng

để chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng ở Việt Nam Phương pháp này có ưu điểm là chính xác, do trực tiếp phát hiện thấy Tiên mao trùng sau khi nhân chúng lên trong động vật thí nghiệm mẫn cảm Song, nhược điểm của phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm là khi cần chẩn đoán nhanh, với số lượng nhiều và thời gian ngắn thì phương pháp này không thể đáp ứng được

Trang 25

* Phương pháp chẩn đoán huyết thanh học

Bằng phương pháp huyết thanh học, có thể phát hiện kháng thể hoặc kháng nguyên Tiên mao trùng Đây là các phương pháp huyết thanh học đặc hiệu

- Các phương pháp phát hiện kháng thể kháng Tiên mao trùng

Khi Tiên mao trùng ký sinh, cơ thể vật chủ sinh ra kháng thể đặc hiệu chống lại Tiên mao trùng Những phương pháp sau cho phép phát hiện kháng thể kháng Tiên mao trùng trong máu vật chủ:

+ Phương pháp ngưng kết trên phiến kính (SAT: Slice Agglutination Test):

Hoà tan 1 giọt huyết thanh gia súc nghi mắc bệnh vào 1 giọt nước muối sinh

lý trên phiến kính, sau đó cho 1 giọt máu chuột nhắt trắng có nhiều Tiên mao trùng vào, trộn đền, đậy lamen và soi duới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 20 hoặc 10 x 40) Nếu thấy ngưng kết hình hoa cúc là (+) và ngược lại là (-) Phương pháp này đơn giản, dễ làm và có thể áp dụng trên diện rộng

+ Phương pháp LATEX (Latex Agglutination Test)

Phương pháp LATEX được dùng để phát hiện kháng thể có trong huyết thanh của gia súc mắc bệnh Tiên mao trùng

Nguyên lý: Đây là phản ứng dùng kháng nguyên gắn hạt latex, khi gặp kháng thể đặc hiệu, kháng nguyên và kháng thể sẽ kết hợp với nhau thành đám lớn mà mắt thường có thể quan sát được Khi cho kháng nguyên trộn với kháng thể đặc hiệu tương ứng, phản ứng ngưng kết sẽ xảy ra Kháng nguyên và kháng thể kết hợp với nhau qua cầu nối kháng thể đặc hiệu Do mỗi cầu nối với kháng nguyên dưới hình thức mạng lưới nhiều chiều, tạo nên những đám ngưng kết biểu hiện bằng những đám lấm tấm hoặc lổn nhổn như những hạt cát hoặc những cụm bông lơ lửng Nhờ

có hạt latex gắn vào kháng nguyên, hiện tượng ngưng kết này trở nên dễ dàng quan sát hơn

+ Phương pháp kháng thể huỳnh quang gián tiếp IFAT (Indirect Fluorescent Antibody Test):

Đây là phản ứng huyết thanh học đặc hiệu có độ nhạy cao, được ứng dụng rộng rãi trong phòng thí nghiệm và trên thực địa Ngoài mục đích dùng làm phản ứng chuẩn để so sánh với các phương pháp huyết thanh học khác, phương pháp IFAT còn được dùng trong nghiên cứu các dòng kháng nguyên và phát hiện kháng thể (Vương Thị Lan Phương, 2004)

Trang 26

Cách tiến hành: Sử dụng huyết thanh dương chuẩn đã gắn với thuốc nhuộm huỳnh quang trộn với huyết thanh của động vật nghi mắc bệnh, rồi cố định trên slide Sau đó, rửa sạch slide để loại bỏ kháng thể huỳnh quang không gắn với kháng nguyên rồi đem soi dưới kính hiển vi huỳnh quang Nếu thấy kháng nguyên phát sáng dưới kính hiển vi huỳnh quang là phản ứng dương tính, nếu không phát sáng là

âm tính

+ Phương pháp ELISA (Enzyme Linked Immunoabsorbent Assay)

Phương pháp ELISA là một trong những phương pháp hiện đại nhất được ứng dụng để chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng

Nguyên lý: dùng kháng thể hoặc kháng thể kháng Globulin (kháng kháng thể) có mang một enzym (Phosphatase hoặc Peroxydase) được gắn trên mành Fc, cho kết hợp trực tiếp hoặc gián tiếp vói kháng nguyên Sau đó, cho cơ chất sinh màu vào, cơ chất sẽ kết hợp với enzym và bị enzym phân huỷ tạo nên màu So sánh với màu cùa quang phổ kế sẽ định lượng được mức độ cùa phản ứng

* Các phương pháp phát hiện kháng nguyên Tiên mao trùng

- Phương pháp ELISA kháng nguyên (Ag - ELISA)

Đây là phương pháp sử dụng phản ứng ELISA kháng nguyên để phát hiện kháng nguyên lưu động trong máu của gia súc nhiễm bệnh Phản ứng dựa trên kháng thể đơn dòng đặc hiệu với Tiên mao trùng

Phương pháp ELISA là một trong những phương pháp hiện đại nhất được ứng dụng để chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng Phương pháp ELISA hiện đang được

sử dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới Theo Haridy F M và cs (2011), Kundu

K và cs (2013), phương pháp này có độ nhạy là 100% và độ đặc hiệu đạt 89,15%

Nguyên lý: dùng kháng thể hoặc kháng thể kháng Gamma Immuno Globulin (kháng kháng thể) có mang một enzym (phosphatase hoặc Peroxydase) được gắn trên mảnh Fc, cho kết hợp trực tiếp hoặc gián tiếp với kháng nguyên Sau đó, cho cơ chất sinh màu vào, cơ chất sẽ kết hợp với enzym và bị enzym phân huỷ tạo nên màu So sánh với màu của quang phổ kế sẽ định lượng được mức độ của phản ứng (Desquesnes M., 1997)

- Phương pháp phát hiện ADN của Tiên mao trùng bằng phản ứng PCR (Polymerase Chain Reaction)

PCR là phương pháp hiện đại nhất được đưa vào ứng dụng để chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng trong những năm gần đây

Trang 27

Nguyên lý: dựa vào phản ứng chuỗi polymerase để xác định sự có mặt gen ADN của Tiên mao trùng trong máu động vật nhiễm bệnh

Phương pháp PCR có độ nhạy và độ đặc hiệu rất cao Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi phải có trình độ kỹ thuật cao, trang thiết bị hiện đại nên hiện nay mới đang được thử nghiệm tại một số phòng thí nghiệm hiện đại

1.1.5 Phòng, trị bệnh Tiên mao trùng cho trâu bò

1.1.5.1 Phòng bệnh

* Diệt Tiên mao trùng trên cơ thể vật chủ:

Diệt Tiên mao trùng ký sinh ở vật chủ không những ngăn chặn được tác hại gây bệnh của chúng mà còn làm cho bệnh mất khả năng lây lan Các biện pháp cụ thể là:

- Phát hiện gia súc nhiễm Tiên mao trùng ở vùng có bệnh và những vùng lân cận, nhốt riêng trong chuồng có lưới để ngăn côn trùng và điều trị triệt để cho gia súc bệnh

- Ở những vùng không có bệnh thì không nhập gia súc từ vùng có bệnh về Nếu thật cần thiết thì chỉ nhập những gia súc khoẻ (có kết quả kiểm tra âm tính với Tiên mao trùng), song vẫn cần nhốt riêng để theo dõi Nếu không bị bệnh mới cho nhập đàn

- Phát hiện và diệt những loài thú hoang nghi là nguồn tàng trữ mầm bệnh, hoặc không chăn thả gia súc trong những khu vực có những loài đó sinh sống

* Diệt ruồi, mòng môi giới truyền bệnh:

- Diệt ruồi, mòng hút máu bằng thay đổi sinh thái:

Thay đổi sinh thái là thay đổi điều kiện sống, làm cho côn trùng không sinh sản, không thực hiện được chu kỳ phát triển

Phát quang cây cối ở từng khu vực, không để nước tù đọng, ủ phân để diệt trứng

và ấu trùng ruồi, mòng, làm chuồng gia súc có lưới ngăn côn trùng là các biện pháp hữu hiệu, tạo ra những điều kiện bất lợi cho đời sống của côn trùng

Tuy nhiên, do côn trùng có khả năng di chuyển khá mạnh nên các biện pháp trên phải thực hiện đồng thời trên phạm vi rộng mới có hiệu quả

- Diệt ruồi, mòng bằng thuốc hoá dược:

Có thể dùng các hoá dược tiêu diệt ruồi, mòng môi giới của Tiên mao trùng trên da hoặc tắm (phun) cho con vật ở các vùng của cơ thể như là chân trước, chân sau, đầu và bụng; là những nơi ruồi, mòng tấn công gia súc nhiều nhất Các hoá

Trang 28

dược đã được dùng là: Endosulfan, Brophos, Dieldrine, Tetracloreinphos Tuy nhiên, những thuốc hóa học này không nên áp dụng thường xuyên lên gia súc vào

mùa mưa ở những vùng có nhiều ổ dịch T evansi, vì có khả năng các thuốc này có

thể bị rửa trôi

+ Diệt côn trùng bàng phương pháp sinh học:

Các nhà khoa học đã phát hiện được 25 loài ong và côn trùng ký sinh gây hại cho các loài ruồi, mòng môi giới truyền bệnh Tiên mao trùng và một số loài vi khuẩn có thể xâm nhập vào cơ thể ruồi hút máu làm chúng mắc bệnh vật chết như:

Bacillus thuringiensis, Bacillus mathisi

Nhìn chung, các biện pháp tiêu diệt côn trùng môi giới có hiệu quả nhất định nhưng cũng còn nhiều hạn chế

* Phòng bệnh cho gia súc bằng hoá dược:

Hiện nay, có thể dùng thuốc điều trị bệnh Tiên mao trùng để phòng bệnh cho

trâu, bò Thời gian bảo hộ trung bình là 4 tháng sau khi tiêm thuốc

1.1.5.2 Điều trị bệnh

Một số loại hoá dược đã được dùng để điều trị bệnh Tiên mao trùng cho trâu,

bò, ngựa ở nước ta từ những năm 60 đến nay gồm:

- Naganin, liều 10 mg/kg TT Pha thuốc với dung dịch nước muối sinh lý hoặc nước cất thành dung dịch 10%, tiêm tĩnh mạch Phạm Sỹ Lăng và cs (2008) cho biết sử dụng Naganin điều trị bệnh Tiên mao trùng cho trâu, bò có hiệu quả cao

- Novarsenobenzol, liều 10 mg/kg TT Sử dụng Novarsenobenzol 2 lần cách nhau 2 ngày, hiệu lực thuốc đạt 80%, tỷ lệ an toàn 80 - 82% Phan Địch Lân và cs (2004) đã sử dụng Novarsenobenzol 2 lần cách nhau 2 ngày, thấy hiệu lực thuốc đạt 80%, tỷ lệ an toàn 80 - 82%

- Trypamidium, liều 1 mg/kg TT, tiêm sâu vào bắp thịt thành 2 - 3 điểm, có

tỷ lệ an toàn và khỏi bệnh đều đạt 100%

- Berenil, liều 3 mg/kg TT Pha thuốc với nước cất theo tỷ lệ cứ 0,8 gam thuốc trong 5 ml nước cất Tiêm sâu bắp thịt (không dùng quá 9 gam cho một gia súc)

Nguyen Q D và cs (2013) đã sử dụng Trypamidium và Berenil điều trị bệnh cho trâu của tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Cao Bằng Kết quả cho thấy cả hai loại thuốc đều có tác dụng điều trị tốt, trong đó Berenil đạt hiệu quả điều trị cao (100%)

- Trypazen liều 3,5 mg/kg TT Điều trị bệnh Tiên mao trùng cho trâu, bò bằng Trypazen với liều trên, thuốc rất an toàn, tỷ lệ khỏi bệnh là 100%

Trang 29

Qua kết quả thử nghiệm khả năng mẫn cảm của Tiên mao trùng với 4 loại

thuốc trypanosoma, azidin, trypamidium samorin, diminavet trong điều kiện in vivo

và in vitro, Nguyễn Thị Kim Lan (2015) cho biết, Tiên mao trùng mẫn cảm nhất với

trypamidium samorin, sau đó là diminavet, rồi đến azidin và ít mẫn cảm nhất với trypanosoma

1.2 Tình hình nghiên cứu về bệnh Tiên mao trùng

1.2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh Tiên mao trùng trên thế giới

Desquesnes M và cs (2013) cho biết, hình thái Tiên mao trùng khi ở trong vòi ruồi, mòng biến đổi theo thời gian: từ 1 - 34 giờ, Tiên mao trùng có hình thái, kích thước bình thường; 35 - 45 giờ: Tiên mao trùng có hình dạng thay đổi, tăng kích thước chiều rộng và thô dần; 46 - 53 giờ, Tiên mao trùng trương to, duỗi thẳng, mất khả năng di động và ngừng hẳn hoạt động Như vậy, khoảng thời gian từ khi Tiên mao trùng vào vòi hút của ruồi, mòng đến 45 giờ là thời gian Tiên mao trùng còn khả năng gây bệnh cho động vật nhiều nhất

Trypanosoma evansi có ảnh hưởng tới mô não trong các giai đoạn mãn tính

và cấp tính của bệnh Các triệu chứng phổ biến nhất của tác động này là rối loạn vận

động, viêm màng não, suy giáp và thiếu máu Những dữ liệu này cho thấy nhiễm T

evansi bẩm sinh có thể ảnh hưởng đến sự phát triển não phôi thai (Sumbria D và cs,

trâu dương tính với T evansi Bằng phương pháp PCR, phát hiện 12,5 % số bò và 13,79 % số trâu nhiễm T evansi

Kocher A và cs (2015) đã dùng phương pháp ELISA gián tiếp để kiểm tra

892 mẫu máu trâu tại 8 tỉnh tại miền Bắc, Đông Bắc và miền Nam Thái Lan, kết quả cho thấy trâu tại 8 tỉnh này đều nhiễm bệnh Tiên mao trùng với tỷ lệ 12,2%

Fereig R M và cs (2017) đã áp dụng phản ứng ELISA để xác định sự lưu

hành của Babesia bovis, Babesia bigemina, T evansi và Anaplasma marginale ở

miền nam Ai Cập Kết quả cho thấy, trong tổng số 301 mẫu huyết thanh gia súc, có

Trang 30

27 mẫu dương tính với Babesia bovis, 100 mẫu dương tính với Babesia bigemina,

127 mẫu dương tính với T evansi và 25 mẫu dương tính với Anaplasma marginale

Campigotto G và cs (2017) đã tiến hành 2 thử nghiệm nhằm nghiên cứu sự lây

truyền T evansi qua đường sinh dục và truyền từ mẹ sang con Kết quả cho thấy, T

evansi không lây truyền qua đường sinh dục mà chỉ lây truyền từ mẹ sang con

Một cuộc khảo sát trên trâu, bò ở Colombia về tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng, kết quả thấy tỷ lệ nhiễm là 28,2%, với giá trị cao hơn trong mùa khô Ngoài ra, các yếu tố như sự hoạt động của ruồi Tabanidae, hệ thống chăn nuôi, tuổi và dấu hiệu thiếu máu của trâu, bò có liên quan đáng kể đến tỷ lệ hiện mắc bệnh (P <0,05)

Ngoài ra, các tác động lâm sàng và tỷ lệ nhiễm T evansi ở trâu và bò có liên quan

đến mùa, vật chủ và đặc điểm ký sinh trùng Các yếu tố trên phải được kiểm soát để kiểm soát bệnh ở khu vực này (Jaimes-Dueñez J và cs, 2018)

Ghaemi M và cs (2019) cho biết: các phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy, trong số các yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh Tiên mao trùng trong quần thể lạc

đà thì vùng địa lý là yếu tố nguy cơ đáng chú ý nhất Các vùng địa lý khác nhau, biến đổi khí hậu và lượng mưa khác nhau có thể được coi là các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ruồi, mòng hút máu ở các địa phương

Theo Yadav S C và cs (2019), bệnh Tiên mao trùng thấy ở ngựa, trâu, bò,

dê, cừu, lạc đà và một số động vật hoang dã Có 6455 mẫu huyết thanh ngựa ở Ấn

Độ đã được xét nghiệm, trong đó có 339 (5,24%) được phát hiện dương tính với

kháng thể T evansi trong giai đoạn 2011 - 2012 đến 2014 - 2015 Nghiên cứu này

cho thấy ngựa nhiễm với tỷ lệ thấp Bệnh được phát hiện phổ biến trong suốt cả năm ở các mùa khác nhau với sự bùng phát lẻ tẻ Tuy nhiên, tỷ lệ lưu hành cao hơn được ghi nhận trong các tháng có gió mùa (tháng 9 đến tháng 11) và thấp nhất trong mùa Đông tháng 12 đến tháng 2) Hơn nữa, không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ mắc bệnh ở con đực và con cái

Boushaki D và cs (2019) đã nghiên cứu dịch tễ học bệnh Tiên mao trùng T

evansi ở lạc đà tại bốn địa phương của Nam Algeria trong năm 2014 - 2016, trên

1056 con lạc đà ở các độ tuổi khác nhau và ở cả hai tính biệt Tỷ lệ lưu hành được xác định thông qua nhuộm Giemsa và xét nghiệm huyết thanh học Kết quả: tỷ lệ nhiễm chung 32,4% với Kit CATT và 23,1% với Kit ELISA

Pandey V và cs (2015) đã xét nghiệm mẫu máu của 5 trâu cái khỏe và 10

trâu cái bị nhiễm T evansi Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở trâu nhiễm bệnh có sự

Trang 31

giảm đáng kể hemoglobin, đại thực bào và tăng enzyme superoxide dismutase (SOD), catalase (CAT), aspartate transaminase (AST) so với trâu khỏe mạnh

Misra K K và cs (2016) cho biết, T evansi thường gây ra các triệu chứng

thần kinh Động vật nhiễm bệnh thường có một số triệu chứng tương tự như bệnh sốt rét ở người

Singh S K và cs (2016) cho biết, ở trâu nhiễm T evansi, hoạt tính của

cholinesterase thấp hơn đáng kể so với trâu khỏe mạnh Điều này có liên quan đến

sự rối loạn thần kinh ở trâu khi bị nhiễm bệnh này

Wada Y A và cs (2016) đã nghiên cứu và thấy, bệnh do T brucei và T

evansi có thể gây ra những tổn thương ở tinh hoàn, giảm tinh trùng và là nguyên

nhân quan trọng gây vô sinh ở những gia súc đực

Theo kết quả nghiên cứu của Ogundele F A và cs (2016), T evansi ký sinh

gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả sinh sản của các gia súc đực

Shaapan R M (2016) đã nghiên cứu một số bệnh phổ biến gây sảy thai và

cho biết, một số trường hợp sảy thai đã được ghi nhận ở trâu bị nhiễm T evansi Đặc biệt, tại Ấn Độ đã phát hiện một trường hợp người nhiễm T evansi bị sảy thai

Sharma A và cs (2015) đã kiểm tra 219 mẫu huyết thanh trâu, bò và cho biết, phương pháp duplex PCR có độ nhạy 100% và độ đặc hiệu là 92,66%

Bằng phản ứng ELISA gián tiếp, Sivajothi S và cs (2016) đã phát hiện

thấy tỷ lệ nhiễm T evansi ở 320 bò và 382 trâu tại Andhra Pradesh lần lượt là

Rudramurthy G R và cs (2017) đã sử dụng phương pháp ELISA để xét

nghiệm tỷ lệ nhiễm loài T evansi của 1.192 mẫu huyết thanh trâu, bò, lừa, ngựa và

lạc đà Tác giả đã xác định được, phương pháp này có độ nhạy là 98,8%, độ đặc hiệu là 99,2%

Gaur R S và cs (2017) đã áp dụng kỹ thuật sinh học phân tử xác định và khuếch đại các gen bề mặt biến thể (VSG), oligopeptidase B, cysteine protease

Trang 32

của T evansi, kết quả này là cơ sở cho việc nghiên cứu các phương pháp chẩn

Theo Baldissera M D và cs (2016), điều trị bệnh do T evansi gây ra bằng

diminazene aceturate (DA) kết hợp với α-Bisabolol chứa trong các hạt nano lipid (SLN-B) có hiệu quả tốt hơn khi sử dụng riêng DA và SLN-B

Manuja A và cs (2016) đã nghiên cứu sử dụng quinapyramine sulfate (QS) và hợp chất QS - loaded sodium alginate nanoparticles (QS - NPs) trong

điều trị T evansi cho động vật có vú Kết quả cho thấy, QS - NPs an toàn, ít độc

và có hiệu quả cao hơn so với QS

Rathore N S và cs (2016) đã nghiên cứu và cho biết: Tiên mao trùng đã

có khả năng kháng lại một số thuốc, điều này gây khó khăn cho công tác phòng chống bệnh

Tchamdja E và cs (2017) đã sử dụng diminazene diaceturat (DA) liều 3,5 mg/kg và isometamidium chloride (ISM) liều 0,5 mg/kg cho những bò bị nhiễm bệnh Tiên mao trùng ở miền Bắc Togo Kết quả cho thấy, cả hai loại thuốc đều đã

bị kháng và có hiệu quả điều trị thấp (DA đạt 70% và ISM đạt 50%)

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, bệnh Tiên mao trùng thấy ở hầu hết các vùng sinh thái khác nhau: miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển Theo Phạm Sỹ Lăng (1982), bệnh Tiên mao trùng có ở tất cả các tỉnh miền Bắc (Bắc Kạn, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Ninh Bình, Hà Tây) Trâu, bò nhiễm bệnh với tỷ lệ cao và thay đổi giữa các vùng khác nhau (trâu, bò ở đồng bằng nhiễm Tiên mao trùng cao hơn vùng trung du và miền núi, đặc biệt ở trâu, bò có nguồn gốc từ miền núi chuyển xuống vùng đồng bằng)

Trong tự nhiên, Tiên mao trùng ký sinh ở hầu hết các loài thú nuôi và thú hoang, thấy nhiều hơn ở trâu, bò, ngựa, trâu bò rừng, hươu, nai, hổ, báo, sư tử, chó, mèo, lạc đà, voi, thỏ, chuột cống, chuột lang, chuột nhắt trắng nhưng không ký sinh ở người

Trang 33

Sự lây truyền Tiên mao trùng từ trâu, bò ốm sang trâu, bò khoẻ là nhờ các

loài ruồi hút máu (thuộc họ phụ Stomoxydinae) và các loài mòng hút máu (thuộc họ

Tabanidae) Ruồi và mòng hút máu của gia súc bị bệnh, hút luôn cả Tiên mao trùng

vào vòi hút, sau đó lại hút máu gia súc khoẻ, trong khi hút máu sẽ truyền Tiên mao trùng từ vòi hút vào máu con vật khoẻ Sự lây truyền này mang tính chất cơ học Như vậy, ruồi và mòng hút máu là những vật môi giới truyền bệnh Tiên mao trùng quan trọng

Kiểm tra mẫu máu một số loài gia súc của các tỉnh Thái Nguyên, Hòa Bình, Lạng Sơn, Lai Châu, Khánh Hòa và Tây Ninh, Nguyễn Thị Kim Lan (2015) cho

biết, tỷ lệ nhiễm T evansi của các loại gia súc ở các tỉnh không giống nhau Tỷ lệ nhiễm T evansi cao nhất ở trâu (15,58%), sau đó đến bò (12,94%), ngựa (10,26%),

dê (9,52%) và thấp nhất là ở lợn (0,99%)

Một nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Kim Lan (2015) cho thấy, các chủng

T evansi phân lập từ các loài gia súc khác nhau (trâu, bò, dê, ngựa, lợn) đều có

khả năng gây nhiễm chéo cho nhau Tuy nhiên, thời gian xuất hiện T evansi trong máu, tỷ lệ gia súc xuất hiện T evansi và các triệu chứng lâm sàng của từng loại gia súc khác nhau, phụ thuộc vào nguồn gốc phân lập T evansi và loại gia súc

được gây nhiễm

Van Vinh Chau N và cs (2016) cho biết, đã phát hiện một phụ nữ 38 tuổi ở miền Nam, Việt Nam có các triệu chứng sốt, nhức đầu và đau khớp Kiểm tra huyết

thanh học cho thấy, người này đã nhiễm T evansi Theo kết quả điều tra, các tác giả

dự đoán khả năng bệnh nhân đã bị nhiễm qua vết thương khi tiếp xúc với thịt bò bị

nhiễm T evansi

Nguyễn Thị Kim Lan (2015) đã xác định được trong tổng số 1.801 cá thể ruồi, mòng thu thập tại Thái Nguyên, Lạng Sơn, Lai Châu và Hòa Bình có 815 cá

thể là loài ruồi Stomoxys calcitrans, chiếm 45,25%; 399 cá thể là loài mòng

Tabanus kiangsuensis, chiếm 22,15% và 587 cá thể là loài mòng Tabanus rubidus,

chiếm 32,59%

Đỗ Thị Vân Giang (2014) cho biết, trâu mắc bệnh Tiên mao trùng thường có các triệu chứng: sốt lên xuống, trung bình từ 3 đến 8 ngày xuất hiện một đợt sốt; mắt sưng, chảy nước mắt, mắt có dử đặc; gầy yếu, lông khô xù; thủy thũng dưới hàm, ngực và bụng Ở trâu gây nhiễm: số lượng hồng cầu giảm; số lượng bạch cầu

và tiểu cầu tăng

Trang 34

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đàn trâu, bò nuôi tại 8 huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn tỉnh: huyện Quế

Võ, Lương Tài, Thuận Thành, Gia Bình, Tiên Du, Yên Phong, TX Từ Sơn và TP Bắc Ninh

- Bệnh Tiên mao trùng do đơn bào Trypanosoma evansi gây ra

2.1.2 Thời gian thực hiện đề tài

Thời gian: Từ tháng 6/2018 - 8/2019, tuy nhiên thời gian thực hiện theo đề tài cấp Tỉnh của TS Nguyễn Văn Quang là từ tháng 5/2017 - 8/2019

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm lấy mẫu: 31 thôn thuộc 17 xã, phường trên địa bàn 8 huyện, thành phố, thị xã của tỉnh Bắc Ninh

- Địa điểm phân tích mẫu: Phòng thí nghiệm Thú y và Phòng thí nghiệm Công nghệ sinh học - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

2.2 Vật liệu nghiên cứu

* Gia súc lấy mẫu: trâu, bò các lứa tuổi ở các địa phương trên địa bàn tỉnh

(800 con)

* Động vật thí nghiệm: chuột nhắt trắng khỏe mạnh, khối lượng 25 - 30

gam/con (800 con)

* Các loại mẫu thu thập và phân tích:

- Mẫu máu trâu, bò; mẫu máu chuột nhắt trắng

- Mẫu bệnh phẩm (gan, lách, tim, phổi…) của bò mắc bệnh Tiên mao trùng

* Dụng cụ và thiết bị dùng trong nghiên cứu:

Kính hiển vi quang học, kính lúp, máy cắt tế bào Microtom

Tube chứa máu, xilanh nhựa 5ml, kim lấy máu

Vợt bắt ruồi, mòng hút máu

* Thuốc điều trị bệnh Tiên mao trùng cho trâu, bò gồm 3 loại thuốc trị Tiên

mao trùng: Azidin (hoạt chất: Diminazen aceturat), Trypamidium samorin (hoạt

Trang 35

chất: Isometamidium chloride hydrochloride) và Diminaveto (hoạt chất: Diminazen

aceturat và antipyrine); 1 loại thuốc trợ tim: cafein natribenzoat 20%; 1 loại trợ sức:

dung dịch nước muối sinh lý 0,9%

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu sự lưu hành bệnh Tiên mao trùng, đặc điểm gây bệnh của Tiên mao trùng trên đàn trâu, bò của tỉnh Bắc Ninh

Xác định sự lưu hành bệnh thông qua các chỉ tiêu sau:

2.3.1.1 Thực trạng nhiễm Tiên mao trùng ở trâu, bò

- Tỷ lệ trâu, bò nhiễm Tiên mao trùng ở các địa phương

- Tỷ lệ trâu, bò nhiễm Tiên mao trùng theo vùng sinh thái

- Tỷ lệ trâu, bò nhiễm Tiên mao trùng ở các lứa tuổi khác nhau

- Tỷ lệ trâu, bò nhiễm Tiên mao trùng ở các mùa vụ trong năm

- Tỷ lệ trâu, bò nhiễm Tiên mao trùng theo tính biệt (đực, cái)

- Tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng ở trâu, bò có thể trạng khác nhau

2.3.1.2 Nghiên cứu đặc điểm gây bệnh của Tiên mao trùng trên đàn trâu, bò tại tỉnh Bắc Ninh

- Triệu chứng lâm sàng của trâu (bò) mắc bệnh Tiên mao trùng

- Bệnh tích đại thể chủ yếu ở trâu (bò) bị bệnh Tiên mao trùng

- Biến đổi vi thể ở một số nội quan của trâu (bò) bị bệnh Tiên mao trùng

2.3.2 Xác định loài đơn bào đường máu gây bệnh Tiên mao trùng trên đàn trâu,

bò tại tỉnh Bắc Ninh

Phân lập Tiên mao trùng ký sinh ở trâu, bò tại các địa phương của tỉnh Bắc Ninh; Xác định loài và thẩm định loài bằng phương pháp thường quy kết hợp kỹ thuật sinh học phân tử

2.3.3 Nghiên cứu về vật môi giới trung gian truyền bệnh Tiên mao trùng cho đàn trâu, bò của tỉnh Bắc Ninh để có biện pháp phòng bệnh chủ động

- Điều tra vật môi giới trung gian truyền bệnh (ruồi, mòng hút máu) ở các địa phương

- Xác định thời gian hoạt động của vật môi giới trong năm

- Xác định thời gian hoạt động của vật môi giới trong ngày

Trang 36

2.3.4 Nghiên cứu biện pháp phòng chống bệnh Tiên mao trùng cho đàn trâu, bò của tỉnh Bắc Ninh

2.3.4.1 Nghiên cứu lựa chọn phác đồ điều trị có hiệu quả cao

- Thử nghiệm 3 phác đồ điều trị bệnh Tiên mao trùng trên động vật thí nghiệm (chuột nhắt trắng) trong phòng thí nghiệm

- Thử nghiệm 2 phác đồ điều trị bệnh Tiên mao trùng cho trâu, bò trên diện hẹp ngoài thực địa

- Lựa chọn phác đồ điều trị an toàn và hiệu quả để ứng dụng điều trị rộng rãi cho trâu, bò ở các địa phương của tỉnh Bắc Ninh

2.3.4.2 Nghiên cứu biện pháp phòng bệnh có hiệu quả cao

- Sử dụng thuốc phòng bệnh Tiên mao trùng cho trâu, bò

- Sử dụng bẫy diệt ruồi, mòng hút máu

2.3.4.3 Đề xuất biện pháp phòng chống hiệu quả bệnh Tiên mao trùng cho trâu, bò

ở tỉnh Bắc Ninh

2.3.5 Ứng dụng kỹ thuật GPS, GIS xây dựng bản đồ dịch tễ sự lưu hành bệnh Tiên mao trùng trên đàn trâu, bò của tỉnh Bắc Ninh

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập mẫu

Thu thập mẫu theo phương pháp lấy mẫu phân tầng và ngẫu nhiên tại các nông hộ chăn nuôi trâu, bò ở các địa điểm nghiên cứu

2.4.1.1 Phương pháp lấy mẫu máu

* Phương pháp lấy mẫu máu trâu, bò:

ở mỗi trâu, bò khoảng 2 - 3 ml máu để kiểm tra tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng bằng các phương pháp sau:

+ Nhuộm giemsa tiêu bản máu (05 tiêu bản/con)

+ Tiêm truyền 0,3 ml máu tươi vào xoang phúc mạc chuột nhắt trắng

* Phương pháp lấy mẫu máu chuột nhắt trắng đã tiêm truyền:

Lấy máu đuôi chuột để tìm Tiên mao trùng bằng phương pháp soi tươi: Sát

chuột, vuốt nhẹ từ gốc đuôi xuống để máu chảy ra 1 giọt nhỏ Đặt giọt máu lên lam kính, đậy lamen lên để dàn máu thành một lớp mỏng; soi trực tiếp dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 20 hoặc 10 x 40) để phát hiện Tiên mao trùng trên lam kính

Trang 37

2.4.1.2 Phương pháp lấy mẫu làm tiêu bản vi thể

Mổ khám bò mắc bệnh Tiên mao trùng (qua kết quả xét nghiệm máu thấy bò

có nhiều Tiên mao trùng trong máu, đồng thời có triệu chứng lâm sàng rõ rệt) Quan sát những tổn thương đại thể ở các nội quan, sau đó thu thập bệnh phẩm là những vùng gan, lách, tim, phổi có bệnh tích đại thể rõ rệt, cố định bệnh phẩm trong dung dịch formaldehyde 10% để làm tiêu bản vi thể

2.4.1.3 Phương pháp thu thập và định danh mẫu ruồi, mòng hút máu

Dùng vợt làm bằng vải thưa, miệng vợt bằng sắt có đường kính 30 cm để bắt ruồi, mòng đang đậu và hút máu trâu, bò tại chuồng, tại bãi chăn thả

Phương pháp làm tiêu bản ruồi, mòng: Sau khi bắt được ruồi, mòng, cho chúng vào bình có chứa kalicianua khoảng 10 - 20 phút Khi ruồi, mòng đã chết đổ

ra hộp giấy, dùng kim nhỏ cỡ 1 - 2 cắm qua thân từ trên xuống (1/3 phía trước, 2/3 phía sau); cắm kim vào miếng xốp, sau đó chỉnh lại tư thế chân, cánh của ruồi, mòng rồi phơi ra nắng (tránh gió)

Các mẫu ruồi, mòng đã thu thập và làm tiêu bản được định danh theo cách định loại của Stekhoven Ricardo (1959) (dẫn theo tài liệu của Phan Địch Lân, 1983)

2.4.2 Phương pháp phát hiện Tiên mao trùng trong mẫu máu

phương pháp sau:

2.4.2.1 Phương pháp soi tươi (Direct smear)

Cho 1 giọt máu tươi lên phiến kính; đậy lamen lên để dàn máu thành một lớp mỏng; soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 20 hoặc 10 x 40) để phát hiện Tiên

mao trùng trong máu

2.4.2.2 Phương pháp nhuộm giemsa tiêu bản máu khô (Romanovsky)

Đặt một giọt máu tươi cách 1 đầu phiến kính khoảng 2 cm, đặt cạnh của một

đẩy nhẹ lamen trên phiến kính để dàn máu thành một lớp mỏng Để khô, cố định bằng cồn methanol trong 2 phút Nhuộm giemsa trong 25 phút (dung dịch giemsa gốc pha trong nước cất theo tỷ lệ 1: 9) Để nghiêng tiêu bản dưới vòi nước chảy nhẹ cho trôi hết giemsa thừa, để khô tiêu bản, soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 40) tìm Tiên mao trùng

Trang 38

2.4.2.3 Phương pháp tiêm truyền chuột nhắt trắng (Animal Inoculation)

Ngay sau khi lấy máu, tiêm 0,3 ml máu của mỗi trâu, bò vào xoang phúc mạc của một chuột nhắt trắng Theo dõi biểu hiện của chuột thí nghiệm sau tiêm truyền Hàng ngày kiểm tra máu chuột thí nghiệm để phát hiện Tiên mao trùng Nếu trong máu chuột nhắt trắng xuất hiện Tiên mao trùng thì kết luận trâu, bò đã bị bệnh Tiên mao trùng

2.4.3 Phương pháp định danh Tiên mao trùng

Định danh Tiên mao trùng bằng phương pháp PCR (Polymerase Chain Reaction), giải trình tự gen Rotat 1.2 của Tiên mao trùng Từ đó có hình ảnh bản blast về mức độ tương đồng gen với các mẫu trong ngân hàng gen Quốc tế (genbank), từ đó xác định được đó là loài Tiên mao trùng nào

Các bước tiến hành bao gồm:

- Tách ADN tổng số của Tiên mao trùng, sử dụng QIAamp ADN extraction kit (Qiagen, cộng hòa Liên bang Đức)

- Nhân bản gen đích (COI và Cytb) bằng kỹ thuật PCR và sử dụng Taq Mastermix 2X (Qiagen, Đức) trên máy Eppendorf Mastercycler với các cặp mồi đặc hiệu gồm:

Mồi xuôi F2 (5’-CGTGTCAGTCATGTGTCGCT-3’)

Mồi ngược R3 (3’-AGAAGTGGGCACAACTGAGC-5’)

- Sản phẩm PCR được điện di trên gel agarose 1,5% trong đệm TBE, nhuộm Ethidium Bromide và hiển thị kết quả dưới ánh sáng tử ngoại (302 nm) Vạch sản phẩm đặc hiệu có kích thước đúng như thiết kế khi so sánh với thang chuẩn kích thước phân tử (ADN ladder 1 Kb - Invitrogen, Mỹ) được cắt và tinh sạch bằng Qiaquick gel extraction kit (Qiagen, Đức)

- Phản ứng giải trình tự trực tiếp sử dụng BigDye terminator cycler v3.1 (Applied Biosystem, Mỹ) sử dụng cặp mồi như trên

- Tinh sạch sản phẩm trình tự bằng sắc ký lọc gel (Sephadex G50 - Sigma, Mỹ) và đọc kết quả trên máy ABI 3100 Avant Genetic Analyzer (Applied Biosystem, Hoa Kỳ)

- Các trình tự ADN sẽ được so sánh từ cơ sở dữ liệu, sử dụng các phần mềm ClustalW, xây dựng cây phát sinh chủng loại bằng các phương pháp Maximum Parsimony, Maximum Likelihood bằng các phần mềm PAUP v4.0 và MrBayes v3.1.2

Trang 39

2.4.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự lưu hành bệnh Tiên mao trùng

* Sự lưu hành bệnh Tiên mao trùng được nghiên cứu theo phương pháp dịch

tễ học phân tích và dịch tễ học mô tả (Nguyễn Như Thanh và cs, 2011)

* Tuổi trâu/bò: trâu/bò được phân thành 4 nhóm tuổi:

Bình, thuộc huyện Thuận Thành, TX Từ Sơn và TP Bắc Ninh

iii) Vùng sinh thái đất ngập nước có độ cao dưới 5m so với mực nước biển, bao gồm một số khu vực thấp trũng ven đê thuộc các huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ và Yên Phong

Tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng theo vùng sinh thái được thực hiện tại các địa phương thuộc 3 vùng nói trên

Trang 40

2.4.5 Phương pháp nghiên cứu sự phân bố và thời gian hoạt động của vật môi giới trung gian truyền bệnh (ruồi, mòng hút máu) ở các địa phương

Theo dõi các loài ruồi, mòng hút máu trâu, bò ở khu vực chuồng nuôi, ở khu vực bãi chăn thả; quan sát để đánh giá quy luật hoạt động theo tháng trong năm, quy luật hoạt động theo giờ trong ngày của các loài ruồi, mòng ở các địa phương Từ đó

có biện pháp phòng chống sự lây lan bệnh qua vật môi giới truyền bệnh

2.4.6 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm gây bệnh của Tiên mao trùng trên trâu,

- Một là, theo dõi những biểu hiện lâm sàng của trâu, bò mắc bệnh: quan sát những biểu hiện của trâu, bò mắc bệnh như thể trạng, mắt, phân, ăn uống, vận động

- Hai là, mua 1 con bò mắc bệnh nặng để nghiên cứu về các tổn thương đại thể

và vi thể do Tiên mao trùng gây ra

Diễn giải: Sau khi đã thực hiện xong nội dung “Thu thập và xét nghiệm mẫu máu

trâu, bò” Kết quả xét nghiệm máu và quan sát lâm sàng 800 trâu, bò cho thấy, 195 trâu,

bò có kết quả dương tính đều có triệu chứng nhưng chưa thể hiện đã mắc bệnh nặng Trong khi nội dung nghiên cứu về các tổn thương đại thể và vi thể do Tiên mao trùng gây ra cần 1 con trâu (hoặc bò) mắc bệnh nặng để mổ khám Để đảm bảo yêu cầu của nội dung này, chúng tôi đã đi khảo sát ở các địa phương của tỉnh Bắc Ninh và đã tìm được 1 con bò đực, giống bò Lai sind, khối lượng 339 kg, bị mắc bệnh Tiên mao trùng rất nặng Đây là con bò của hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Viết ở thôn Chính Thượng, xã Vạn Ninh, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh Theo kết quả chẩn đoán lâm sàng và xét nghiệm máu thì đây là con bò mắc bệnh Tiên mao trùng nặng nhất so với những trâu, bò nhiễm bệnh mà chúng tôi đã xác định được ở các địa phương Vì vậy, con bò này đáp ứng được yêu cầu của việc mổ khám kiểm tra bệnh tích của bệnh, đồng thời không nằm trong số 195 con nhiễm Tiên mao trùng sẽ được đưa vào điều trị thử nghiệm

Ngày đăng: 04/03/2020, 15:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w