Tính cấp thiết của đề tài Cùng với sự phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, các đô thị, các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ được mở rộng và phát triển nhanh chóng, mộ
Trang 1NGHIÊM THỊ THU TRANG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI TẠI TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Thái Nguyên, 2019
Trang 2NGHIÊM THỊ THU TRANG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI TẠI TỈNH PHÚ THỌ
Ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 8 44 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thanh Hải
Thái Nguyên, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu và kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2019
Tác giả luận văn Nghiêm Thị Thu Trang
Trang 4Đồng thời qua đây, tôi cũng xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
đã động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng hoàn thiện luận văn song trong giới hạn thời gian quy định với kiến thức còn nhiều hạn chế, luận văn này chắc chắn còn nhiều thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô, đồng nghiệp và các chuyên gia để nghiên cứu này được toàn diện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2019
Tác giả luận văn Nghiêm Thị Thu Trang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Một số khái niệm 3
1.1.2 Phân loại chất thải nguy hại 4
1.1.3 Ảnh hưởng của chất thải nguy hại 8
1.2 Cơ sở pháp lý 10
1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 12
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 13
1.3.2 Thực trạng công tác quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam 15
1.3.3 Hiện trạng một số công nghệ xử lý CTNH điển hình ở Việt Nam 18
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 28
2.2 Nội dung nghiên cứu 28
2.2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ 28
2.2.2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải nguy hại
Trang 6trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 28
2.2.3 Dự báo khối lượng và loại chất thải nguy hại phát sinh ở
tỉnh Phú Thọ đến năm 2025 29
2.2.4 Đề xuất một số biện pháp quản lý chất thải nguy hại tại tỉnh Phú Thọ 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 29
2.3.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp 29
2.3.3 Phương pháp dự báo và so sánh 30
2.3.4 Phương pháp tổng hợp và kế thừa 31
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ 32
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 32
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 36
3.2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải nguy hại
trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 37
3.2.1 Khối lượng, thành phần chất thải nguy hại 38
3.2.2 Thực trạng công tác quản lý, thu gom, vận chuyển, xử lý
CTNH trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 52
3.2.3 Tình hình chung về công tác quản lý hành chính chất thải nguy hại 58
3.2.4 Đánh giá hiểu biết về công tác quản lý chất thải nguy hại
trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 61
3.3 Dự báo khối lượng và loại chất thải nguy hại phát sinh ở
tỉnh Phú Thọ đến năm 2025 66
3.4 Đề xuất một số giải pháp quản lý chất thải nguy hại tại tỉnh Phú Thọ 69
3.4.1 Công tác quản lý nhà nước 69
3.4.2 Công tác quản lý CTNH tại nguồn phát sinh 70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
1 Kết luận 73
2 Kiến nghị 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVTV : Bảo vệ thực vật
EC : Ủy ban châu Âu
US-EPA : Cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Phân loại theo TCVN 6706:2009 4
Bảng 1.2 Các loại chất thải nguy hại 7
Bảng 1.3 Lượng CTNH và cách thức xử lý của một số nước trên thế giới 13
Bảng 1.4 Thống kê công nghệ xử lý chất thải nguy hại ở Việt Nam 18
Bảng 3.1 Giá trị tăng thêm GRDP năm 2018 tỉnh Phú Thọ 37
Bảng 3.2 Số doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phân theo huyện, thành, thị 38
Bảng 3.3 Hiện trạng các khu, cụm công nghiệp đã đi vào hoạt động 40
Bảng 3.4 Lượng chất thải rắn công nghiệp phát sinh từ các khu, cụm công nghiệp năm 2018 41
Bảng 3.5 Một số mỏ khoáng sản phát sinh chất thải rắn trong quá trình khai thác 42
Bảng 3.6 Sản lượng sản xuất bia, rượu qua các năm 43
Bảng 3.7 Khối lượng chất thải rắn sản xuất và chất thải rắn nguy hại
phát sinh từ ngành công nghiệp sản xuất bia, rượu 44
Bảng 3.8 Lượng CTRYT phát sinh trên địa bàn toàn tỉnh qua các năm 46
Bảng 3.9 Danh sách một số đơn vị được cấp sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại năm 2018 58
Bảng 3.10 Danh sách các đơn vị vi phạm trong việc thực hiện BVMT 60
Bảng 3.11 Nhận thức về việc cách phân biệt các loại chất thải 62
Bảng 3.12 Hình thức đóng gói chất thải nguy hại tại các cơ sở sản xuất 63
Bảng 3.13 Biện pháp xử lý chất thải nguy hại tại các cơ sở 64
Bảng 3.14 Hệ số phát thải của một số ngành nghề công nghiệp 66
Bảng 3.15 Ước tính lượng chất thải của một số ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đến năm 2025 67
Bảng 3.16 Ước tính lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đến năm 2025 68
Bảng 3.17 Tổng lượng CTNH ước tính phát sinh trên địa bàn toàn tỉnh Phú Thọ đến năm 2025 68
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1 Bản đồ địa hình tỉnh Phú Thọ 33 Hình 3.2 Số doanh nghiệp sản xuất trong năm 2018 tại tỉnh Phú Thọ 39 Hình 3.3 Biểu đồ thể hiện sản lượng bia, rượu qua các năm 44 Hình 3.4 Tỷ lệ đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại
trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 65
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, các đô thị, các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ được mở rộng và phát triển nhanh chóng, một phần đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế của đất nước, mặt khác tạo ra một số lượng lớn chất thải rắn bao gồm: chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng trong đó
có một lượng đáng kể chất thải nguy hại không được xử lý đúng cách đã và đang
là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, từ quy mô nhỏ đến ảnh hưởng trên quy
mô rộng lớn và tác động xấu tới sức khoẻ, đời sống con người và chất lượng
môi trường chung Nguy cơ ô nhiễm môi trường do chất thải gây ra đang trở
thành vấn đề cấp bách đối với hầu hết các địa phương trong cả nước, đòi hỏi phải có các biện pháp quản lý khắc phục để đảm bảo môi trường và phát triển
bền vững
Vấn đề quản lý chất thải, đặc biệt là quản lý chất thải nguy hại ở Phú Thọ có những nét chung giống cả nước, song cũng có những nét đặc thù riêng Là một tỉnh miền núi nhưng có điều kiện môi trường tự nhiên khá đa dạng, có đặc điểm của ba vùng sinh thái: đồng bằng - trung du - vùng núi Phần lớn các nhà máy ở đây đều đang sử dụng hệ thống công nghệ sản xuất lạc hậu, thiết bị, máy móc cũ, tiêu tốn nhiều năng lượng, nguyên liệu, thải ra nhiều chất thải vào môi trường đã gây tác hại xấu đến chất lượng môi trường xung quanh Ngoài ra còn có các cơ sở tiểu thủ công nghiệp phát triển theo nhu cầu thị trường bám theo các khu công nghiệp, đô thị, nằm xen kẽ trong các khu vực dân cư Chất thải trong quá trình sản xuất của các cơ sở này khó kiểm soát và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng môi trường sống từ đó dẫn đến vấn đề suy thoái, ô nhiễm môi trường ở Phú Thọ đang trở nên ngày càng bức xúc Những thực tiễn này đã tác động đến môi trường và sức khoẻ con người một cách nghiêm trọng Điều này nếu như không được kịp thời xử lý và
Trang 11quản lý, thực trạng môi trường sẽ trở nên tồi tệ hơn một cách nhanh chóng cùng với sự phát triển công nghiệp
Xuất phát từ vấn đề trên, được sự nhất trí của nhà trường và giáo viên
hướng dẫn, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng công tác quản
lý chất thải nguy hại tại tỉnh Phú Thọ”
2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá được tình hình phát sinh, thu gom, xử lý chất thải nguy hại trên
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
- Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra nhưng kinh nghiệm thực tế phục
vụ công tác chuyên môn
- Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá được lượng chất thải nguy hại phát sinh, tình hình thu gom và
xử lý chất thải nguy hại tại tỉnh Phú Thọ
- Đề xuất những biện pháp khả thi cho công tác thu gom, xử lý chất thải nguy hại phù hợp với đặc thù của tỉnh Phú Thọ
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Một số khái niệm
Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác (Luật Bảo vệ Môi trường, 2014)
Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải
ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác (Nghị định số 38/2015/NĐ-CP, 2015) Chất thải rắn bao gồm chất thải nguy hại và chất thải rắn thông thường (không nguy hại)
Tại Việt Nam, chất thải nguy hại được hiểu là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc
tính nguy hại khác (Luật Bảo vệ Môi trường, 2014)
Trên thế giới, tùy thuộc vào sự phát triển khoa học kỹ thuật và xã hội cũng như quan điểm của mỗi nước mà hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về chất thải nguy hại, cụ thể:
- Philippine: chất thải nguy hại là những chất có độc tính, ăn mòn, gây kích thích, hoạt tính, có thể cháy, nổ mà gây nguy hiểm cho người và động vật (Nguyễn Ngọc Châu, 2008)
- Canada: chất thải nguy hại là những chất mà do bản chất và tính chất của chúng có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người và/hoặc môi trường Và những chất này yêu cầu các kỹ thuật xử lý đặc biệt để loại bỏ hoặc giảm đặc tính nguy hại của nó (Nguyễn Ngọc Châu, 2008)
- Chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc (12/1985): ngoài chất thải phóng xạ và chất thải y tế, chất thải nguy hại là chất thải (dạng rắn, lỏng, bán rắn-semisolid và các bình chứa khí) mà do hoạt tính hóa học, độc tính, nổ, ăn mòn hoặc có đặc tính khác, gây nguy hại hay có khả năng gây nguy hại đến sức
Trang 13khỏe con người hoặc môi trường bởi chính bản thân chúng hay khi được cho tiếp xúc với chất thải khác (Nguyễn Ngọc Châu, 2008)
- Mỹ: có thể được coi là chất thải nguy hại khi:
+ Nằm trong mục chất thải nguy hại do EPA đưa ra (gồm 4 danh sách) + Có một trong bốn đặc tính (khi phân tích) do EPA đưa ra gồm cháy-nổ,
ăn mòn, phản ứng và độc tính
+ Được nhà sản xuất công bố là chất thải nguy hại
Quản lý chất thải chính là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải (Luật Bảo
vệ Môi trường, 2014)
1.1.2 Phân loại chất thải nguy hại
Tại Việt Nam đang áp dụng một số cách phân loại chất thải nguy hại như sau:
* Phân loại theo TCVN 6706:2009:
Cách phân loại này dựa theo tính chất nguy hại đối với sức khỏe con người
và môi trường, theo đó CTNH được chia thành 7 nhóm sau:
Bảng 1.1 Phân loại theo TCVN 6706:2009
cháy
Chất thải có khả năng tự bốc cháy do tự nóng lên trong điều kiện vận chuyển bình thường, hoặc tự nóng lên do tiếp xúc với không khí và có khả năng bốc cháy
Trang 14TT Mã số
hóa học tạo ra nhiều khí, nhiệt độ và áp suất có thể gây nổ
hóa (OH)
Chất thải chứa các tác nhân oxy hóa
vô cơ
Chất thải có chứa clorat, pecmanganat, peoxyt vô cơ, nitrat
và các chất oxy hóa khác khi tiếp xúc với không khí, tích lũy oxy thì kích thích cháy các chất hoặc vật liệu khác
peoxyt hữu cơ
Chất thải hữu cơ có cấu trúc phân tử -O-O không bền với nhiệt nên có thể bị phân hủy và tạo nhiệt nhanh
5
Chất thải gây độc cho người và sinh vật (Đ)
cấp tính
Chất thải có chứa chất độc có thể gây tử vong hoặc tổn thương trầm trọng khi tiếp xúc qua đường tiêu hóa, hô hấp hoặc da với liều nhỏ
Chất thải gây độc chậm, hoặc mãn tính
Chất thải có chứa các chất gây ảnh hưởng độc chậm hoặc mãn tính, hoặc gây ung thư do tiếp xúc qua đường tiêu hóa,
hô hấp hoặc da
khí độc C
Chất thải chứa các thành phần mà khi tiếp xúc với không khí hoặc tiếp xúc với nước thì giải phóng ra khí độc đối với người và sinh vật
Chất thải độc hại cho hệ sinh thái (ĐS)
Chất thải chứa thành phần mà có thể gây ra tác động có hại nhanh hoặc từ từ đối với môi trường thông qua tích lũy sinh học và/hoặc gây ảnh hưởng đến các hệ sinh vật
Trang 15TT Mã số
bệnh (LN)
Chất thải có chứa các vi sinh vật sống hoặc độc tố của chúng, được biết hoặc nghi ngờ là có các mầm bệnh có thể gây bệnh cho người và cho gia súc
Chú thích: *) Mã số chất thải theo Phụ lục III Danh mục các đặc tính nguy hại của Công ước Quốc
tế BASEL về kiểm soát việc vận chuyển xuyên biên giới và tiêu hủy chất thải
(Nguồn: TCVN 6706:2009)
* Phân loại theo các nhóm nguồn hoặc dòng thải chính:
Theo Thông tư số 36/TT/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2019 về quản lý
chất thải nguy hại thì danh mục CTNH được chia thành 19 nhóm chính sau:
- Chất thải từ ngành thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, dầu khí …;
- Chất thải từ quá trình sản xuất, điều chế, cung ứng và sử dụng hóa chất
vô cơ;
- Chất thải từ quá trình sản xuất, điều chế, cung ứng và sử dụng hóa chất
hữu cơ;
- Chất thải từ nhà máy nhiệt điện và các cơ sở đốt khác;
- Chất thải từ ngành luyện kim và đúc kim loại;
- Chất thải từ ngành sản xuất vật liệu xây dựng và thủy tinh;
- Chất thải từ quá trình xử lý, che phủ bề mặt, gia công kim loại và các
vật liệu khác;
- Chất thải từ quá trình sản xuất, điều chế, cung ứng, sử dụng các sản phẩm
che phủ (sơn, véc ni, men thủy tinh), chất kết dính, chất bịt kín và mực in;
- Chất thải từ ngành chế biến gỗ, sản xuất các sản phẩm gỗ, giấy và bột giấy;
- Chất thải từ ngành chế biến da, lông và dệt nhuộm;
- Chất thải xây dựng và phá dỡ (bao gồm cả đất đào từ các khu vực bị ô nhiễm);
- Chất thải từ các cơ sở tái chế, xử lý chất thải, nước thải và xử lý nước cấp;
- Chất thải từ ngành y tế và thú y (trừ chất thải sinh hoạt từ ngành này);
- Chất thải từ ngành nông nghiệp;
Trang 16- Thiết bị, phương tiện giao thông vận tải đã hết hạn sử dụng và chất thải
từ hoạt động phá dỡ, bảo dưỡng thiết bị, phương tiện giao thông vận tải;
- Chất thải hộ gia đình và chất thải sinh hoạt từ các nguồn khác;
- Dầu thải, chất thải từ nhiên liệu lỏng, chất thải dung môi hữu cơ, môi
chất lạnh và chất đẩy (propellant);
- Các loại chất thải bao bì, chất hấp thụ, giẻ lau, vật liệu lọc và vải bảo vệ;
- Các loại chất thải khác
* Phân loại theo Hệ thống phân loại kĩ thuật
Bảng 1.2 Các loại chất thải nguy hại
Nước thải chứa
chất vô cơ
Thành phần chính là nước nhưng có chứa kiềm/axit và các chất vô cơ độc hại
Axit sunphuric thải từ mạ kim loại Dung dịch amoniac trong sản xuất linh kiện điện tử Nước
bể mạ kim loại Nước thải chứa
chất hữu cơ
Nước thải chứa dung dịch
cơ nguy hại
Bùn xử lý nước thải có chứa kim loại nặng Bụi
từ quá trình xử lý khí thải của nhà máy sản xuất sắt thép và nấu chảy kim loại Bùn thải từ lò nung vôi Bụi từ bộ phận đốt trong công nghệ chế tạo kim loại
Chất rắn/bùn
hữu cơ
Bùn, chất rắn và các chất hữu cơ không ở dạng lỏng
Bùn từ khâu sơn Hắc ín từ sản xuất thuốc nhuộm Hắc ín trong tháp hấp thụ phenol Chất rắn trong quá trình hút chất thải nguy hại đổ tràn
Chất thải chứa nhủ tương dạng dầu
(Nguồn: Michael D LaGrega, 2010)
Phân loại theo hệ thống này đơn giản nhưng có hiệu quả đối với các mục đích kĩ thuật và thường được sử dụng trong trường hợp nghiên cứu để xác định các phương tiện xử lý, tiêu huỷ phù hợp
Trang 17* Phân loại theo danh mục CTNH
US-EPA (2015), đã liệt kê theo danh mục hơn 450 chất thải được xem là chất thải nguy hại Trong các danh mục này, mỗi chất thải được ấn định bởi một
kí hiệu nguy hại của US-EPA bao gồm một chữ cái và ba chữ số đi kèm Các chất thải được chia theo bốn danh mục: F, K, P, U
Danh mục được phân chia như sau:
Danh mục F- Chất thải nguy hại thuộc các nguồn không đặc trưng Đó là
các chất được tạo ra từ sản xuất và các qui trình công nghệ Ví dụ halogen từ các quá trình tẩy nhờn và bùn từ quá trình xử lý nước thải của ngành mạ điện
Danh mục K- chất thải từ nguồn đặc trưng Đó là chất thải từ các nghành
công nghiệp tạo ra sản phẩm độc hại như: Sản xuất hoá chất bảo vệ thực vật, chế biến gỗ, sản xuất hoá chất Có hơn 100 chất được liệt kê trong danh sách này
Ví dụ cặn từ đáy tháp chưng cất aniliene, dung dịch ngâm thép từ nhà máy sản xuất thép, bụi lắng trong tháp xử lý khí thải, bùn từ nhà máy xử lý nước thải…
Danh mục P và U: Chất thải và các hoá chất thương phẩm nguy hại Nhóm
này bao gồm các hoá chất như clo, các loại axit, bazơ, các loại hoá chất bảo vệ thực vật
1.1.3 Ảnh hưởng của chất thải nguy hại
- Tác động đối với sức khỏe con người và sinh vật:
Chất thải nguy hại nói chung khi tiếp xúc với cơ thể sống sẽ gây tác động đến cơ quan nhạy cảm của con người hoặc sinh vật ở nồng độ đủ cao và thời gian đủ lâu Sự tổn thương của sinh vật phụ thuộc vào tính chất hóa lý của chất thải và tình trạng sức khỏe cũng như sự phát triển của cơ thể sinh vật Ảnh hưởng của CTNH đối với cơ thể sống thường thông qua một số quá trình động học như: hấp thụ, phân bố, trao đổi chất, tích lũy và bài tiết Những tác nhân độc hại thường không thể hiện độc tính trên bề mặt của cơ thể sống mà thay vào đó chúng sẽ tiếp diễn thông qua một chuỗi các tuyến tiếp xúc và con đường trao đổi chất Bằng con đường này, CTNH và các sản phẩm chuyển hóa của chúng sẽ đi đến các phân tử
Trang 18tiếp nhận hay các cơ quan mục tiêu và tích tụ với nồng độ đủ cao Khi một sinh vật tiếp xúc với CTNH nó sẽ hấp thụ vào cơ thể sinh vật đó bằng ba con đường miệng,
da và hô hấp (Trịnh Thị Thanh, 2008)
Trong tự nhiên, con người đã từng hít thở phải các loại khí độc do núi lửa phun hay bị chết bởi khí CO2 từ dung nhan núi lửa Người nô lệ ở Hy Lạp bị mắc bệnh họ sẽ có những hành động bất thường do tổn thương thần kinh như ưa nhìn các bộ môn thể thao kinh dị, không kiểm soát được chi phí tài chính, có những hành động gây chiến với các nước xung quanh Các nhà kim thuật thời Trung cổ thường xuyên bị bệnh do các chất độc hại từ các hóa chất trong phòng thí nghiệm do họ thực hiện Ở thế kỷ 17, nước thải từ việc khai thác mỏ đã gây
ra các vấn đề ô nhiễm trầm trọng tại các nước châu Âu Năm 1968, Công ty Chisso của Nhật đã thải ra Metyl thủy ngân ra nguồn nước tại vịnh Minamata,
làm cho sinh vật và con người mắc phải căn bệnh Minamata Những bệnh nhân
đầu tiên ở Minamata đã bị điên, bất tỉnh và chết một tháng sau khi bị mắc bệnh Chưa một giải pháp nào có hiệu quả để chữa căn bệnh Minamata, nhưng các bác
sĩ đã cố gắng làm giảm bớt những triệu chứng trên bằng những biện pháp tập luyện, trị liệu Theo Chính phủ Nhật cho đến nay đã có tổng cộng 12.890 người
đã mắc căn bệnh này [25]
- Ảnh hưởng đối với môi trường:
Chất thải nguy hại cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ra những sự cố môi trường nghiêm trọng, điển hình như:
+ Sự cố nhà máy điện hạt nhân Chernobyl: Vụ tai nạn ngày 26/4/1986 tại nhà máy điện Chernobyl đã gây ra thảm hoạ hạt nhân tồi tệ nhất trong lịch sử thế giới Sai lầm trong thiết kế và điều khiển tạo thành vụ nổ mạnh đến mức thổi bay cả phần nóc nặng nghìn tấn của lò phản ứng số 4, phát tán vô số chất phóng
xạ vào môi trường sống Ước tính 4.000 người khác có thể cũng chết sau đó do nhiễm phóng xạ Tuy nhiên, tổ chức Hoà bình Xanh cho rằng, con số này cao hơn nhiều và lên đến 93.000 người Một khối bê tông cốt thép khổng lồ được
Trang 19xây lên để lấp chiếc lò phản ứng bị nổ Nhưng trước khi nó được xây chất phóng
xạ đã kịp lan từ Ukraina sang nước láng giềng Belarus và nhiều nơi khác ở châu
Âu (ICRIN, 2016)
+ Sự cố Bhopal: Thảm họa Bhopal là một thảm họa công nghiệp xảy ra tại nhà máy sản xuất thuốc trừ sâu sở hữu và điều hành bởi Union Carbide (UCIL) ở Bhopal, Madhya Pradesh, Ấn Độ ngày 3/12/1984 Khoảng 12 giờ trưa, nhà máy rò rỉ ra khí Methyl isocyanate (MIC) và các khí độc khác, gây ra phơi nhiễm trên 500.000 người Những đánh giá về số lượng người chết có sự không thống nhất Đánh giá chính thức ban đầu về số người chết là 2.259, phía chính quyền bang Madhya Pradesh đã xác nhận tổng số 3.737 cái chết liên quan đến
vụ rò rỉ khí ga này Các cơ quan chính quyền khác ước tính khoảng 15.000 người chết Một số tổ chức đưa ra con số khoảng 8.000 đến 10.000 người chết trong
72 giờ đầu và 25.000 người chết vì các căn bệnh liên quan đến khí ga rò rỉ (Narayan Lakshman, 2016)
+ Thảm họa dầu mỏ tại Kuwait: Trong chiến tranh vùng vịnh năm 1991, khi quân đội Iraq rút khỏi Kuwait, họ đã mở tất cả các van của giếng dầu và phá
vỡ các đường ống dẫn dầu nhằm ngăn cản bước tiến của quân đội Mỹ Kết quả
là một lượng dầu lớn nhất trong lịch sử đã phủ lên Vịnh Ba tư Ước tính, số dầu loang tương đương 240 - 336 triệu gallon dầu thô Diện tích dầu loang có kích thước tương đương đảo Hawai Tuy nhiên, mọi cố gắng phục hồi đều phải đợi chiến tranh kết thúc Để bảo vệ nước khỏi bị nhiễm bẩn, họ đã phải huy động khoảng 40 km thanh hút dầu nổi trên mặt nước và 21 máy tách dầu khỏi nước
Cùng với hàng loạt xe hút dầu, họ đã thu lại được 58,8 triệu gallon dầu (TED, 2010).
Trang 20chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường
- Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định
về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường
- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về Quản
- Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 07/5/2018 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt điều chỉnh Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050
- Quyết định số 170/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại đến năm 2025
- Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BKHCNMT-BXD ngày 18/01/2001 hướng dẫn các quy định về bảo vệ môi trường đối với việc chọn lựa địa điểm, xây dựng và vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn
- Thông tư số 121/2008/TT-BTC ngày 12/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế ưu đãi và hỗ trợ tài chính đối với hoạt động đầu tư cho quản
lý chất thải rắn
- Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29/5/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về một số điều của nghị định 18/2015/NĐ-CP ngày
Trang 2114/02/2015 Quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường
- Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT, ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về việc Quy định về quản lý chất thải nguy hại
- Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 giữa Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên&Môi trường quy định về quản lý chất thải y tế
- Quyết định 60/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 07/8/2002 của Bộ trưởng Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường về việc ban hành hướng dẫn kỹ thuật chôn lấp chất thải nguy hại
- TCVN 6696-2000: Quy định về bảo vệ môi trường cho các bãi chôn lấp hợp vệ sinh
- TCVN 6706:2009: Quy định về phân loại chất thải nguy hại
- TCVN 6707:2009: Dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa chất thải nguy hại
- TCVN 7380:2004: Lò đốt chất thải rắn y tế - Yêu cầu kỹ thuật
- TCVN 7381:2004: Lò đốt chất thải rắn y tế - Phương pháp đánh giá và thẩm định
- TCXDVN 261:2001: Bãi chôn lấp - Tiêu chuẩn thiết kế
- TCXDVN 320:2004: Bãi chôn lấp chất thải nguy hại - Tiêu chuẩn thiết kế
- QCVN 02:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt chất thải rắn y tế
- QCVN 07:2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại
- QCVN 41:2011/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đồng xử lý CTNH trong lò nung xi măng
- QCVN 50:2013/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng nguy hại đối với bùn thải từ quá trình xử lý nước
1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Trang 221.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Vấn đề quản lý chất thải nguy hại nói chung và xử lý chất thải nguy hại nói riêng hiện đang là vấn đề hết sức bức xúc đối với công tác bảo vệ môi trường
của các nước trên Thế giới cũng như của Việt Nam bởi tất cả đều nhận thức
được rằng: nếu không có các biện pháp để quản lý chất thải nguy hại một cách hiệu quả, đúng đắn thì những hậu quả không thể lượng trước được của nó khiến chúng ta và cả thế hệ mai sau phải gánh chịu Chính vì vậy, các quốc gia đều đưa ra các quy định pháp luật về công tác quản lý chất thải nguy hại để ngăn
ngừa và giảm thiểu tối đa các tác hại của chất thải nguy hại
Bảng 1.3 Lượng CTNH và cách thức xử lý của một số nước trên thế giới
Tổng số CTNH (tấn)
Lượng lưu kho thường xuyên (%)
Đốt (%)
Tái chế (%)
Đốt tại nhà máy
(Nguồn: European Commission, 2011)
* Công tác quản lý chất thải nguy hại ở Thổ Nhĩ Kỳ
Lượng phát sinh chất thải hàng năm của ngành công nghiệp sản xuất ở Thổ Nhĩ kỳ là 11,980 triệu tấn và nó tăng lên 17.497.000 tấn vào năm 2004
Trang 23Trong đó ngành công nghiệp luyện kim chiếm nhiều nhất 44% Ngành Thực phẩm, đồ uống, thuốc lá 25% Ngành hóa chất, than đá, cao su và các sản phẩm nhựa chiếm 12% Còn lại là các ngành khác Từ năm 2000 đến năm 2004 tại Thổ Nhĩ Kỳ có 3.600.000 tấn chất thải nguy hại được tạo ra nhưng chỉ có khoảng 400.000 tấn (chiếm 11%) được tái chế còn lại là xử lý bằng phương pháp khác (lưu kho, thải bừa bãi, chôn lấp, ném xuống biển hoặc sông,…) Theo thông tin của Viện Khảo sát phát triển Công nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ thì tổng lượng chất thải nguy hại phát sinh năm 2004 khoảng 1,2 triệu tấn (370 cơ sở) Tuy nhiên đây chỉ là số liệu không hoàn toàn chính xác bởi vì nó chỉ dựa trên khảo sát của 1 phần các tỉnh và các ngành công nghiệp tạo ra chất thải Thực
tế lượng chất thải nguy hại có thể cao hơn rất nhiều (European Commission,
2011)
Lượng và loại chất thải nguy hại ở Thổ Nhĩ Kỳ nhiều hơn hẳn các nước phát triển do trình độ sản xuất còn lạc hậu, công nghệ sản xuất với hiệu suất kém tạo ra nhiều chất thải Các hình thức xử phạt chưa đủ sức răn đe các cơ sở vi phạm Các cơ sở xử lý và tái chế không đủ công suất để xử lý các chất thải nguy hại tạo ra
* Công tác quản lý chất thải nguy hại ở Pháp
Ở Pháp, văn bản quy định đầu tiên về những cơ sở sản xuất bị đưa vào danh sách xếp hạng gây ô nhiễm môi trường là một sắc lệnh Napoléon ký năm
1810, và từ năm 1917 trở đi văn bản này được liên tục sửa đổi, bổ sung Cũng chính tại Luật này đã đưa ra những công cụ và cơ chế để quản lý những loại hình rác thải đặc biệt (hay còn gọi là chất thải nguy hại) Ngày 02/2/1995, Pháp lại
có thêm một bộ luật mới là Bộ luật về tăng cường bảo vệ môi trường đã thiết lập thêm phụ phí đối với việc xử lý chất thải nguy hại, tương đương 40F (frăng Pháp)/1 tấn chất thải được loại bỏ để lại trong một cơ sở xử lý và sẽ được tăng gấp đôi nếu tấn chất thải đó được tích trong một bãi thải đặc biệt Phụ phí này
do Cục Môi trường và quản lý năng lượng thu lại và trong vài năm tới sẽ tăng
Trang 24gấp đôi Năm 2011, ở Pháp phát thải 446 triệu tấn chất thải Trong đó chất thải
nguy hại chiếm khoảng 13 triệu Tổng lượng CTNH của các ngành công nghiệp, xây dựng và công trình công cộng chiếm 2/3 số lượng chất thải Một nửa số chất
thải này được thu hồi tái chế hoặc đốt thu hồi năng lượng (European Commission, 2011)
* Công tác quản lý chất thải nguy hại ở Đức
Cộng hoà liên bang Đức đã đưa ra các biện pháp chiến lược để quản lý các chất thải nguy hại như: ngăn ngừa ngay từ nguồn thải, giảm thiểu số lượng chất thải nguy hại, xử lý và tái sử dụng chúng Trong vòng 20 năm lại đây, Cộng hoà liên bang Đức đã ban hành nhiều đạo luật về quản lý chất thải Có khoảng 2000 điều luật, quyết định, quy định về hành chính… với nội dung phân loại các chất độc hại trong chất thải khí, rắn, nước… về thu thập, vận chuyển, xác định biện pháp giải quyết chất thải Mỗi lần thay đổi luật, quy định mới lại khắt khe và chặt chẽ hơn Đó là những biện pháp xử lý bằng pháp luật rất nghiêm các trường hợp làm phát sinh các chất thải nguy hại mà chưa xử lý hoặc quá giới hạn cho phép,
có thể áp dụng biện pháp phạt tiền hoặc đình chỉ hoạt động của nhà máy, xí nghiệp hay cơ sở sản xuất đã vi phạm pháp luật, bắt bồi thường thiệt hại gây ra hoặc truy
tố trước pháp luật Bên cạnh đó, pháp luật của Cộng hoà liên bang Đức khuyến khích việc đổi mới công nghệ và thiết bị (bằng cách thay thế từng phần hoặc toàn bộ) nhằm hướng tới một công nghệ không hoặc ít sinh ra chất thải nguy hại Nhà nước cộng hoà Liên bang Đức giảm thuế hoặc cho vay tiền với lãi suất thấp trả dần nếu đầu tư vào công nghệ mới hay thiết bị xử lý chất thải nguy hại Thêm vào
đó, Nhà nước còn tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân nhận thức được tác hại nguy hiểm của loại chất thải này và chính nhân dân sẽ là người giúp cho các cơ quan nhà nước kiểm tra, phát hiện các nguồn phát sinh ra chất thải nguy hại và nhanh chóng tìm ra biện pháp giải quyết (European Commission, 2011)
1.3.2 Thực trạng công tác quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
Mặc dù bắt đầu được quan tâm từ năm 1999 với sự ra đời của Quy chế
Trang 25quản lý CTNH ban hành kèm theo Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Tuy nhiên phải đến năm 2006, công tác quản lý CTNH mới thực sự triển khai có hiệu quả trong thực tế, cùng với sự ra đời của Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) năm 2005 và các văn bản dưới Luật, đặc biệt là Thông tư
số 12/2006/TT-BTNMT (hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề và mã số quản lý CTNH), Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT (ban hành Danh mục CTNH) của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại QCVN 07:2009/BTNMT và mới đây nhất là Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT có hiệu lực thi hành từ 30/6/2015 Tuy nhiên, việc thực hiện các quy định pháp luật này tại các địa phương còn nhiều khi gặp khó khăn, chưa có sự thống nhất và còn có
sự bất cập trong thực tế
- Tình hình phát sinh CTNH:
Tại Việt Nam, chất thải nguy hại có phát sinh từ các hoạt động công nghiệp,
nông nghiệp, sinh hoạt và y tế Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, lượng chất thải nguy hại phát sinh trên toàn quốc khoảng 800 ngàn tấn/năm Số lượng chất thải nguy hại này được thống
kê dựa trên số lượng chất thải nguy hại tối đa dự kiến phát sinh từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (do các chủ cơ sở này đăng ký) và không bao gồm lượng chất thải nguy hại phát sinh từ các cá nhân, hộ gia đình nên có độ chính xác chưa
cao (Nguyễn Thượng Hiền và cs, 2017)
Hiện nay, đa phần các chủ nguồn thải có phát sinh lượng chất thải nguy hại lớn hàng năm đều đã đăng ký và được cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại Lượng chất thải nguy hại phát sinh từ các chủ nguồn thải này đều
đã được thu gom và đưa đến các cơ sở đã cấp phép để xử lý Một phần lượng chất thải nguy hại phát sinh từ các nguồn thải khác được xử lý bởi chính các chủ nguồn thải (bằng các công trình bảo vệ môi trường tại cơ sở), bởi các cơ sở xử
lý do địa phương cấp phép hoặc được xuất khẩu ra nước ngoài để xử lý, tái chế
Trang 26Một số chất thải nguy hại đặc thù (ví dụ như chất thải có chứa PCB) do chưa có công nghệ xử lý phù hợp thì hiện đang được lưu giữ tại nơi phát sinh Với tình hình như vậy, nhìn chung lượng chất thải nguy hại phát sinh tại hầu hết các chủ nguồn thải lớn đều đã được quản lý đúng theo các quy định hiện hành Lượng chất thải nguy hại phát sinh tại các chủ nguồn thải nhỏ hoặc tại các vùng sâu, vùng xa chỉ phần nhỏ được thu gom, xử lý; số còn lại được các làng nghề thu gom, tái chế chưa đảm bảo yêu cầu về môi trường hoặc thậm chí bị đổ lẫn vào chất thải sinh hoạt và chôn lấp chung tại bãi chôn lấp chất thải sinh hoạt, gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và sức khỏe cộng đồng
- Năng lực thu gom, xử lý:
Đến tháng 6 năm 2015, trên toàn quốc có 83 doanh nghiệp với 56 đại lý
có địa bàn hoạt động từ hai tỉnh trở lên đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép và khoảng 130 đơn vị (chủ yếu là đơn vị vận chuyển chất thải nguy hại) do các địa phương cấp phép đang hoạt động Riêng công suất xử lý chất thải nguy hại của các cơ sở được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép là khoảng 1.300 nghìn tấn/năm Với số lượng và công suất xử lý như vậy, các cơ sở này trong thời gian qua đã đóng vai trò chính trong việc thu gom, vận chuyển và
xử lý chất thải nguy hại (bao gồm cả chất thải điện tử) đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành Tổng số lượng chất thải nguy hại mà các đơn
vị này thu gom, xử lý được trong năm 2012 là 165.624 tấn; năm 2013 là 186.657 tấn; năm 2014 là 320.275 tấn Căn cứ vào khối lượng chất thải phát sinh này, tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải nguy hại chiếm khoảng gần 40% tổng lượng chất thải nguy hại phát sinh trên toàn quốc (Nguyễn Thượng Hiền và
Trang 27lý chất thải mang tính cạnh tranh cao, đảm bảo quyền lợi cho các chủ nguồn thải
có chất thải nguy hại cần chuyển giao có thể chọn lựa và tiếp cận với các Doanh nghiệp xử lý chất thải nguy hại với kinh nghiệm và dịch vụ khác nhau, tránh tình trạng độc quyền và ép giá xử lý chất thải nguy hại (Nguyễn Thượng Hiền và cs, 2017)
1.3.3 Hiện trạng một số công nghệ xử lý CTNH điển hình ở Việt Nam
Về công nghệ xử lý chất thải nguy hại đang được sử dụng ở nước ta hiện nay được thống kê tại bảng 1.4:
Bảng 1.4 Thống kê công nghệ xử lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
áp dụng
Số mô đun
hệ thống
Công suất phổ biến
1 Lò đốt tĩnh hai cấp 34 47 50 - 2000 kg/h
3 Đồng xử lý trong lò nung xi măng 2 2 15 - 30 tấn/h
5 Hóa rắn (bê tông hóa) 31 33 1 - 5 m 3 /h
6 Xử lý, tái chế dầu thải 23 24 3-20 tấn/ngày
7 Xử lý bóng đèn thải 23 24 0,2 -10 tấn/ngày
8 Xử lý chất thải điện tử 18 19 0,3 - 5 tấn/ngày
9 Phá dỡ, tái chế ắc quy chì thải 18 22 0,5 - 200 tấn/ngày
Trang 28Các lò đốt này đều sử dụng quy trình công nghệ dạng buồng đốt tĩnh theo
mẻ và thiêu đốt hai cấp Lò thường cấu tạo 2 buồng đốt gồm: buồng đốt sơ cấp
để đốt cháy các chất thải cần tiêu hủy hoặc hóa hơi chất độc ở nhiệt độ
400-8000C; buồng đốt thứ cấp để tiếp tục đốt cháy hơi khí độc phát sinh từ buồng đốt sơ cấp ở nhiệt độ trên 1100oC Một số lò có bổ sung thêm buồng đốt bổ sung sau buồng đốt thứ cấp để tăng cường hiệu quả đốt các khí độc Đa số các lò không có biện pháp lấy tro trong quá trình đốt Các lò đốt đều trang bị hệ thống
xử lý khí thải bao gồm trao đổi nhiệt (hạ nhiệt bằng không khí hoặc nước); hấp thụ (phun sương hoặc sục dung dịch kiềm) và có thể có hấp phụ (than hoạt tính)
Ưu điểm của công nghệ lò đốt tĩnh hai cấp là công nghệ đơn giản, sẵn có (nhập khẩu hoặc chế tạo trong nước), chi phí đầu tư hợp lý, dễ vận hành phù hợp điều kiện Việt Nam Lò đốt cũng là công nghệ chủ lực trong các cơ sở xử lý CTNH do có dải CTNH xử lý rộng (bao gồm cả chất thải y tế) Kể cả các lò đốt nhập từ nước ngoài về cũng phải cải tiến để đáp ứng việc đốt đa dạng CTNH do các lò nước ngoài thường được thiết kế để chuyên đốt một số loại CTNH nhất định
Tuy nhiên, việc đốt theo mẻ dẫn đến công suất không cao do mất thời gian khi khởi động và dừng lò, hoặc khi tro đã đầy phải lấy ra đối với các lò không lấy tro giữa quá trình đốt Quy trình kiểm soát, vận hành còn thủ công hoặc chưa
tự động hoá cao nên khó có thể đốt các CTNH đặc biệt độc hại như các chất có chứa halogen (ví dụ PCB, thuốc bảo vệ thực vật cơ clo) Bên cạnh đó, lò đốt tĩnh thường không đốt được hoặc đốt không hiệu quả đối với các loại chất thải khó cháy và có độ kết dính cao như bùn thải Nhiều lò đốt, đặc biệt các lò giá rẻ thường hay bị trục trặc hệ thống béc đốt hoặc hệ thống xử lý khí thải (như bị thủng ống khói do hơi axit)
Để khắc phục, các lò đốt cần được nghiên cứu nâng cấp một số đặc điểm như bổ sung biện pháp lấy tro trong quá trình đốt để kéo dài thời gian vận hành,
Trang 29lắp hệ thống quan trắc tự động liên tục, tăng cường tự động hoá hệ thống nạp CTNH và điều khiển
1.3.3.2 Đồng xử lý trong lò nung xi măng
Công nghệ này mới được sử dụng bởi hai cơ sở sản xuất xi măng tại Kiên Giang và Hải Dương
Do đặc thù của công nghệ sản xuất xi măng lò quay, có thể sử dụng CTNH làm nguyên liệu, nhiên liệu bổ sung cho quá trình sản xuất xi măng, chất thải được tiêu huỷ đồng thời trong lò nung xi măng ở nhiệt độ cao (trên 13000C) Lò nung clinke có hình trụ quay quanh trục để đảo trộn các vật liệu khi nung Do quá trình nung xi măng thường phát sinh nhiều khí độc và bụi nên các nhà máy sản xuất xi măng thường đầu tư hệ thống xử lý khí thải hiện đại Hệ thống xử lý khí thải nhà máy xi măng bao gồm các công đoạn như: lọc bụi thô bằng xyclon, sau
đó lọc bụi tinh bằng tĩnh điện hoặc túi vải, sau đó sử dụng phương pháp hấp thụ các khí độc bằng dung dịch kiềm dưới dạng phun sương
Đồng xử lý CTNH trong lò nung xi măng có nhiều ưu điểm lớn như môi trường hoạt động ở nhiệt độ cao nên hiệu suất tiêu huỷ cao, xử lý được nhiều loại CTNH với khối lượng lớn, kể cả các chất thải có chứa halogen Đặc biệt
là hiệu quả kinh tế rất lớn do tiết kiệm nguyên, nhiên liệu vì các loại CTNH dễ cháy góp phần cung cấp nhiệt lượng và một số loại CTNH có thành phần phù hợp với nguyên liệu sản xuất xi măng Bên cạnh đó, đồng xử lý tận dụng hệ thống sản xuất xi măng sẵn có nên tiết kiệm được chi phí đầu tư về cơ sở hạ tầng
Tuy nhiên, đồng xử lý CTNH trong lò nung xi măng đòi hỏi công nghệ sản xuất xi măng hiện đại là lò quay khô, có tiền nung, cần nghiên cứu kỹ quá trình nạp chất thải vào lò để không ảnh hưởng đến quá trình sản xuất xi măng cũng như đảm bảo hiệu quả xử lý CTNH Ngoài ra, một lý do mà các nhà máy
xi măng ở Việt Nam chưa mặn mà với việc đồng xử lý là vì nỗi lo ảnh hưởng đến vấn đề thị trường như định kiến của khách hàng về chất lượng sản phẩm xi
Trang 30măng hoặc việc nghiên cứu triển khai đồng xử lý gây xao lãng trong cuộc đua giành thị phần xi măng Bên cạnh đó, việc đồng xử lý còn vướng thủ tục pháp
lý do việc triển khai đồng xử lý chưa rõ có phải làm báo cáo đánh giá tác động môi trường cho dự án xử lý CTNH hay không
1.3.3.3 Chôn lấp CTNH
Bãi chôn lấp CTNH, hay thực chất là các hầm chôn lấp, được thiết kế theo quy định tại Tiêu chuẩn xây dựng TCXDVN 320:2004 về Bãi chôn lấp chất thải nguy hại - Tiêu chuẩn thiết kế Việc vận hành bãi chôn lấp CTNH thực hiện trên
cơ sở Hướng dẫn kỹ thuật chôn lấp chất thải nguy hại ban hành kèm theo Quyết định số 60/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 07 tháng 8 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
Ưu điểm của các hầm chôn lấp CTNH có khả năng cô lập các CTNH chưa
có khả năng xử lý bằng công nghệ khác, công suất lớn và giá thành xử lý khá rẻ
so với nhiều phương pháp tiêu huỷ khác như đốt Hơn nữa, CTNH tương lai có thể đào lên để xử lý nếu có công nghệ phù hợp Các hầm chôn lấp đều có mái che kín trong quá trình vận hành nên biện pháp này có tính chất là đóng kén hơn
là chôn lấp, không có khả năng phát sinh nước rò rỉ nhưng vẫn có hệ thống thu gom nước rò rỉ
Tuy nhiên phương pháp này khá tốn diện tích CTNH không được xử lý triệt để, mối nguy cơ rò rỉ vẫn còn nên cần giám sát lâu dài sau khi đóng hầm
Một lý do chôn lấp CTNH chưa được triển khai rộng do phải đảm bảo các điều kiện ngặt nghèo, hay có thể nói là bất khả thi về khoảng cách với các khu dân cư theo TCXDVN 320:2004 Một điều cần quan tâm là theo TCXDVN 320:2004 thì yêu cầu CTNH phải được hoá rắn, ổn định hoá (chuyển thành dạng rắn và ổn định) thì hiện nay bị hiểu thành phải được bê tông hoá trước khi cho vào chôn lấp Nếu đã bê tông hoá đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng CTNH thì không cần thiết phải đưa vào hầm chôn lấp CTNH
Trang 31Do vậy, cần tiến hành rà soát và chỉnh sửa các tiêu chuẩn kỹ thuật nêu trên để phù hợp với điệu kiện thực tế hơn, đặc biệt là vấn đề khoảng cách ly
1.3.3.4 Hóa rắn (bê tông hóa)
Công nghệ này được sử dụng rất phổ biến tại hầu hết các cơ sở xử lý chất thải nguy hại Đặc điểm của công nghệ là sử dụng CTNH kết hợp với xi măng, cát, sỏi, nước để đóng rắn các CTNH trơ, vô cơ như tro xỉ, tránh phát tán các thành phần nguy hại ra môi trường Hiện nay đang phổ biến hai công nghệ là hoá rắn có nén ép cưỡng bức (sử dụng máy ép thuỷ lực để ép chặt cốt liệu bê tông như sản xuất gạch block) và hoá rắn thông thường (đổ bê tông tự nhiên) Cấu tạo của hệ thống hoá rắn thường rất đơn giản, gồm có máy trộn bê tông và máy ép khuôn hoặc các khuôn đúc
Công nghệ hóa rắn có ưu điểm là thiết bị, công nghệ đơn giản, sẵn có (có thể tự lắp đặt, chế tạo), dễ vận hành, có hiệu quả kinh tế vì có thể tận dụng sản xuất vật liệu xây dựng (gạch block, tấm đan…) Tuy nhiên công nghệ hóa rắn chỉ xử lý an toàn đối với CTNH trơ, có thành phần vô cơ Khả năng ổn định CTNH trong khối rắn thay đổi theo từng loại CTNH nên cần phải nghiên cứu kỹ cấp phối bê tông Cần giám sát sản phẩm đầu ra để đảm bảo không vượt ngưỡng CTNH theo quy định tại QCVN 07: 2009/BTNMT
1.3.3.5 Tái chế dầu thải
Công nghệ tái chế dầu chủ yếu để chưng cất cracking dầu (chưng phân đoạn hay còn gọi chưng nhiều bậc và chưng đơn giản hay chưng một bậc); phân
ly dầu nước bằng phương pháp cơ học (ly tâm) và bằng nhiệt
Trong thực tế, phần lớn các cơ sở sử dụng công nghệ chưng đơn giản để thu hồi các cấu tử dầu (nguyên lý là sử dụng nhiệt để làm bay hơi và cắt mạch, sau đó ngưng tụ để thu hồi các cấu tử dầu, cặn rắn được tách ra và lấy ra ở đáy nồi chưng) Hiện nay có một số cơ sở đang đầu tư công nghệ chưng phân đoạn (chưng nhiều bậc) để tái chế dầu, đây là công nghệ hiện đại sử dụng để sản xuất các sản phẩm xăng dầu từ dầu thải Về cơ bản chưng nhiều bậc giống với chưng
Trang 32đơn giản, khác ở chỗ dựa vào nhiệt độ sôi khác nhau của các hydro cacbon có trong dầu thải, kết hợp tuần hoàn (hồi lưu) dòng sản phẩm lỏng khi đó sẽ tách triệt để các cấu tử hydro cacbon có nhiệt độ sôi khác nhau và thu được các phân đoạn sản phẩm dầu có chất lượng cao như: xăng, dầu diezen
Về cấu tạo của công nghệ chưng đơn giản gồm có lò gia nhiệt (đốt cấp nhiệt trực tiếp cho nồi chưng), nồi chưng (nồi chứa dầu thải), hệ thống ngưng tụ hơi dầu và hệ thống xử lý khí thải Còn cấu tạo của công nghệ chưng nhiều bậc gồm hệ thống cấp nhiệt (lò hơi, sử dụng hơi nước quá nhiệt để cấp nhiệt cho tháp chưng cất), tháp chưng cất dạng đĩa lỗ có ỗng chảy truyền hoặc tháp đĩa chóp, hệ thống hồi lưu dòng sản phẩm lỏng và hệ thống xử lý khí thải lò hơi
Nhìn chung, đối với công nghệ chưng đơn giản có ưu điểm trang thiết bị đơn giản (có thể tự chế tạo, lắp đặt), dễ vận hành, đầu tư thấp, nhưng việc vận hành và kiểm soát khá thủ công, đòi hỏi kinh nghiệm và kỹ năng của người vận hành Công nghệ chưng đơn giản phù hợp với các cơ sở nhỏ có lượng dầu thải đầu vào thấp, biến động
Công nghệ chưng phân đoạn có hệ thống kiểm soát hiện đại, chất lượng sản phẩm đầu ra ổn định nhưng chi phí đầu tư lớn, vận hành phức tạp, đòi hỏi nguyên liệu đầu vào lớn và ổn định trong khi nguồn dầu thải ở Việt Nam thường nhỏ lẻ, biến động Do vậy, cần cần nhắc khi đầu tư công nghệ này
1.3.3.6 Xử lý bóng đèn thải
Trong bóng đèn có chứa nhiều loại chất thải khác nhau như bột huỳnh quang, hơi thủy ngân, thủy tinh, kim loại Cấu tạo của hệ thống xử lý bóng đèn thải gồm có bộ phận nghiền bóng đèn trong môi trường kín, kèm theo thiết bị hấp thụ hơi thuỷ ngân (bằng than hoạt tính hoặc lưu huỳnh), có thể kèm theo biện pháp tách thu hồi thuỷ tinh và bột huỳnh quang
Công nghệ này có ưu điểm là chi phí đầu tư trang thiết bị hợp lý, dễ vận hành, sau khi phân tách riêng bột huỳnh quang, thủy tinh có thể dùng làm nguyên liệu trong sản xuất xi măng hoặc tái sử dụng thủy tinh sạch Tuy nhiên, sau khi
Trang 33xử lý bóng đèn thải, quá trình hấp thụ hơi thuỷ ngân có trong bóng đèn thải sẽ tạo ra chất thải mới cần xử lý là muối thuỷ ngân
Các thiết bị này được đầu tư chủ yếu để đáp ứng yêu cầu có đủ khả năng
để xử lý nhiều loại mã CTNH của các chủ nguồn thải chứ chưa có hiệu quả kinh
tế do thực tế loại CTNH này có số lượng không nhiều Do vậy, giải pháp hoá rắn toàn bộ sản phẩm của quá trình nghiền là một giải pháp hiệu quả
1.3.3.7 Xử lý chất thải điện tử
Các hệ thống này chủ yếu là thực hiện biện pháp phá dỡ, thủ công (như bàn phá dỡ đơn giản) hoặc cơ giới (máy nghiền), để phân tách từng thành phần cho các công đoạn xử lý tiếp theo như thu hồi phế liệu (kim loại, nhựa), đốt, hoá rắn
Đối với các cơ sở có đầu vào nhỏ, thì việc phá dỡ thủ công là phù hợp, chủ yếu để đáp ứng đủ mã CTNH trong dịch vụ Tuy nhiên, công đoạn phá dỡ thủ công có thể ảnh hưởng sức khỏe của công nhân do phải tiếp xúc trực tiếp với chất thải
Công nghệ cơ giới hóa phù hợp với đầu vào lớn, đặc biệt là trong tương lai khi lượng chất thải điện tử phát sinh tăng đột biến Hơn nữa, công nghệ hiện đại có thể tận thu được nhiều sản phẩm, đặc biệt là các kim loại quý
1.3.3.8 Phá dỡ, tái chế ắc quy chì thải
Tái chế ắc quy chì thải là một trong những biện pháp tiết kiệm tài nguyên
và bảo vệ môi trường, cùng với sự phát triển của nền kinh tế lượng ắc quy chì thải ngày một tăng và việc xử lý không an toàn đối với chất thải này đã và đang gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho con người và môi trường
Chính vì vậy, hiện nay trên thực tế đang sử dụng các công nghệ tái chế từ đơn giản (thô sơ) đến hiện đại
Nguyên lý của công nghệ tái chế ắc quy chì thải là đầu tiên trung hòa dung dịch chất điện phân (dung dịch axit), sau đó phá dỡ phân loại riêng bản cực chì
Trang 34và vỏ (nhựa PP) Việc phá dỡ có thể là thủ công hoặc cơ giới hoá Chì và nhựa được nấu tái chế tại chỗ hoặc chuyển cho các đơn vị tái chế
Hiện nay có một số đơn vị đã đầu tư và đưa vào sử dụng công nghệ hiện đại để tái chế ắc quy, toàn bộ quy trình xử lý được cơ giới, tự động hóa với nguyên lý hoạt động như sau: bình ắc quy (có cả dung dịch axit) được đưa vào máy nghiền đồng thời có bổ sung dung dịch kiềm (sô đa) để trung hòa, sau đó hỗn hợp sau nghiền được đưa tới hệ thống phân tách bằng nước, nhựa có tỷ trọng
bé nổi lên trên, còn chì có tỷ trọng lớn chìm xuống dưới và được vớt ra bởi gàu chuyên dụng Hệ thống cơ giới hoá có công suất rất lớn do vậy nếu không có đủ nguyên liệu đầu vào thì sẽ không có hiệu quả kinh tế vì đầu tư rất tốn kém
Nhiều cơ sở áp dụng hệ thống thủ công hoặc bán thủ công dựa trên bàn phá dỡ bằng sức lao động, công suất tuy thấp nhưng giảm chi phí đầu tư và đáp ứng được lượng đầu vào thấp Tuy nhiên phải lưu ý vấn đề bảo hộ lao động để tránh rủi ro phơi nhiễm axit và các hơi độc
1.3.3.9 Các công nghệ khác
Ngoài các công nghệ trên, hiện nay các cơ sở xử lý CTNH tại Việt Nam còn sử dụng các loại công nghệ khác đối với từng loại CTNH đặc thù khác như công nghệ súc rửa và tái chế thùng phuy, công nghệ tái chế dung môi thải, công nghệ rửa sạch phế liệu dính dầu, công nghệ kết tủa thu hồi kim loại
1.3.3.10 Hiệu quả xử lý và môi trường của các công nghệ đã được cấp phép
Theo báo cáo quản lý CTNH định kỳ, báo cáo giám sát môi trường của các cơ sở xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép cũng như kết quả thanh tra, kiểm tra những năm vừa qua, hầu hết các công nghệ xử lý CTNH đã được cấp phép đều đảm bảo tuân thủ các quy định hiện hành, đảm bảo hiệu quả xử lý cam kết khi đăng ký hành nghề, phát thải đạt các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
về môi trường
Tuy nhiên đây là kết quả do các cơ sở tự giám sát hoặc kết quả giám sát khi có các đoàn thanh tra kiểm tra nên cũng chưa phản ánh đầy đủ được mức độ tuân thủ Điều này phụ thuộc vào ý thức tự giác chấp hành của các cơ sở
Trang 35Nhưng ít nhất, điều này cũng khẳng định là các công nghệ đã được cấp phép hiện tại là đảm bảo được hiệu quả xử lý cũng như môi trường nếu được vận hành đúng theo thiết kế và có sự giám sát chặt chẽ
1.3.3.11 Xu thế áp dụng một số công nghệ mới
* Lò đốt quay:
Công nghệ này tương tư như lò đốt tĩnh, chỉ khác là buồng đốt sơ cấp có dạng trụ quay (như lò xi măng) Công nghệ này có ưu điểm có thể đốt các loại chất thải khó cháy như bùn thải do chất thải được khuấy trộn tốt trong lò quay Nhưng nhược điểm của công nghệ này là chi phí đầu tư lớn, đòi hỏi tiêu chuẩn
cơ khí cao Ngoài ra, lò quay phát sinh nhiều bụi nên cần phải đầu tư thêm hệ thống lọc bụi túi vải hoặc lọc bụi tĩnh điện Hiện nay Việt Nam đang có một số
cơ sở nghiên cứu lắp đặt lò đốt quay nhưng đều chưa đến giai đoạn được cấp phép
* Lò đốt tầng sôi:
Đây là công nghệ đốt có hiệu suất tiết kiệm năng lượng cao hoặc tái sử dụng năng lượng do chất thải tạo thành Tuy nhiên, lò đốt tầng sôi có tốc độ mài mòn bề mặt đốt và truyền nhiệt rất cao, do đó tính kinh tế của nó kém hơn so với lò đốt thông thường
* Bể đóng kén:
Bể được thiết kế vách và đáy bằng bê tông chống thấm, kết cấu cốt thép bền vững đặt trên nền đất được gia cố để đảm bảo tránh sụt lún gây nứt gãy, rò
Trang 36rỉ, thẩm thấu theo đúng quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn về xây dựng Sử dụng bể đóng kén có thể xử lý được nhiều loại chất thải khác nhau, dễ sử dụng, chi phí đầu tư thấp và khắc phục được yêu cầu về khoảng cách ly như đối với bãi chôn lấp
Trang 37Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Chất thải nguy hại tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cộng đồng dân cư trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Trên địa bàn toàn tỉnh Phú Thọ
- Phạm vi thời gian:
+ Nguồn cơ sở phục vụ nghiên cứu từ năm 2015 - 2018
+ Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 6/2018 đến tháng 6/2019
- Phạm vi nội dung: Chất thải nguy hại phát sinh tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cộng đồng dân cư
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ
- Điều kiện tự nhiên
- Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
2.2.2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
- Khối lượng, thành phần chất thải nguy hại
- Thực trạng công tác thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ
- Tình hình chung về công tác quản lý hành chính chất thải nguy hại
- Đánh giá hiểu biết về công tác quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Trang 382.2.3 Dự báo khối lượng và loại chất thải nguy hại phát sinh ở tỉnh Phú Thọ đến năm 2025
2.2.4 Đề xuất một số biện pháp quản lý chất thải nguy hại tại tỉnh Phú Thọ
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Điều tra, thu thập số liệu, tài liệu trong và ngoài nước có liên quan đến chất thải nguy hại
- Điều tra, thu thập tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế
- xã hội của khu vực nghiên cứu Các số liệu này thu thập từ Cục thống kê, các
sở, ban, ngành có liên quan
- Các Luật, Nghị định, Thông tư, Quyết định, Công văn hướng dẫn thực hiện công tác quản lý chất thải nguy hại
2.3.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp
Điều tra, phỏng vấn tại các cơ sở hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ bao gồm các nhà máy, cơ sở y tế, làng nghề nhằm đánh giá hiểu biết về tình hình quản lý chất thải nguy hại tại các cơ sở Lập phiếu điều tra phỏng vấn thu thập thông tin về hiểu biết về chất thải nguy hại và pháp luật quản lý chất thải nguy hại; phân loại, thu gom và lưu trữ chất thải nguy hại;
xử lý chất thải nguy hại Nội dung cụ thể được trình bày trong bảng hỏi kèm theo
- Hình thức phỏng vấn: phỏng vấn trực tiếp, phát phiếu điều tra
- Phương pháp chọn mẫu phỏng vấn: Để tiến hành đánh giá hiểu biết về tình hình quản lý chất thải nguy hại tại các cơ sở, số mẫu điều tra được chọn là
Trang 3970 mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng, tức là phỏng vấn 70 cá nhân tại 70 cơ sở, trong đó có 50 doanh nghiệp, 15 cơ sở khám chữa bệnh, 5 làng nghề hoạt động trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Đồng thời có sự cân đối về trình độ học vấn, lứa tuổi của các đối tượng được phỏng vấn, đa dạng về ngành nghề tại các
cơ sở
2.3.3 Phương pháp dự báo và so sánh
So sánh với các khu vực đã nghiên cứu khác có những đặc điểm tương đồng về quy mô, tính chất… dựa vào các kết quả nghiên cứu trước đó giúp cho việc đánh giá, dự báo các tác động môi trường do chất thải nguy hại và xây dựng các giải pháp bảo vệ môi trường
* Phương pháp dự báo lượng và loại chất thải nguy hại phát sinh ở tỉnh Phú Thọ đến năm 2025:
- Lượng CTNH công nghiệp phát sinh trên cơ sở sản lượng công nghiệp:
Khối lượng chất thải nguy hại của một loại hình sản xuất nào đó được ước tính như sau:
Mi = Si x hi
Mi: Khối lượng chất thải rắn công nghiệp - chất thải nguy hại phát sinh của loại hình i trong năm được xét (tấn)
Si: Sản lượng công nghiệp của loại hình i trong năm được xét
hi: Hệ số phát thải của loại hình sản xuất i (kg/đơn vị sản phẩm)
- Lượng chất thải nguy hại phát sinh trong sinh hoạt phát sinh trên cơ sở
gia tăng dân số:
Lượng CTNH trong sinh hoạt phát sinh ước tính như sau:
Trang 40i: năm thứ i
- Ước tính lượng CTNH y tế phát sinh:
Lượng CTNH y tế được tính trên cơ sở: số giường bệnh x lượng CTNH
y tế trung bình/giường/ngày
- Lượng CTNH nông nghiệp phát sinh:
Ước tính lượng CTNH nông nghiệp phát sinh trong hoạt động nông nghiệp theo công thức:
Ni = N (1+ p)i N: Lượng CTNH nông nghiệp
p: Tốc độ tăng trưởng sản xuất nông nghiệp
i: Năm thứ i
2.3.4 Phương pháp tổng hợp và kế thừa
Từ các số liệu, tài liệu và các thông tin có được, tổng hợp và phân tích đưa ra các đánh giá về ảnh hưởng của chất thải nguy hại, trong quá trình nghiên cứu có kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó trong khu vực nghiên cứu