24 Chương 4: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CHĂN NUÔI VỊT CHẠY ĐỒNG VÀ TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA NÔNG HỘ Ở TỈNH HẬU GIANG.... Tình hình sản xuất chăn nuôi vịt chạy đồng của nông hộ ở Hậu Giang
Trang 1MỤC LỤC Trang
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1.Đặt vấn đề 1
1.1.1 Sự cần thiết của đề tài 1
1.1.2 Căn cứ khoa học và thực tiễn 2
1.2.Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1.Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Kiểm định giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu 3
1.3.1 Kiểm tra giả thuyết 3
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu 3
1.4.2 Giới hạn vùng nghiên cứu 3
1.4.3 Giới hạn thời gian nghiên cứu 3
1.4.4 Đối tượng nghiên cứu 3
1.5 Lược khảo tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu 4
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
2.1 Phương pháp luận: 5
2.1.1 Một số khái niệm 5
2.1.2 Phương pháp phân tích lợi ích – chi phí 9
2.1.3 Phương pháp hồi quy tuyến tính 10
2.2 Phương pháp nghiên cứu 11
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 11
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 12
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 12
Trang 2Chương 3: TỔNG QUAN TỈNH HẬU GIANG VÀ NGÀNH CHĂN NUÔI GIA
CẦM CỦA TỈNH 13
3.1 Giới thiệu tổng quan về tỉnh Hậu Giang 13
3.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên tỉnh Hậu Giang 13
3.3.2 Khái quát điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Hậu Giang 14
3.2 Thực trạng về hoạt động chăn nuôi vịt thả đồng ở tỉnh Hậu giang 20
3.2.1 Tình hình chung về hoạt động chăn nuôi của tỉnh trong nhưng năm 20
3.2.2 Dịch cúm gia cầm 24
Chương 4: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CHĂN NUÔI VỊT CHẠY ĐỒNG VÀ TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA NÔNG HỘ Ở TỈNH HẬU GIANG 29
4.1 Thông tin chung về hộ chăn nuôi 29
4.2 Tình hình sản xuất chăn nuôi vịt chạy đồng của nông hộ ở Hậu Giang 31
4.2.1 Tình hình chung 31
4.2.2 Giống vịt 33
4.2.3 Thức ăn 33
4.3 Phân tích tình hình tiêu thụ 34
4.3.1 Kênh phân phối 34
4.3.2.Thông tin thị trường 35
4.4 Phân tích hiệu quả chăn nuôi vịt thả đồng lứa đẻ vừa qua năm 2006 36
4.4.1 Phân tích chi phí chăn nuôi 36
4.4.2 Phân tích một số tỷ số tài chính thể hiện hiệu quả chăn nuôi 44
Chương 5: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHĂN NUÔI VỊT THẢ ĐỒNG Ở TỈNH HẬU GIANG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP 5.1 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi 45
5.2 Một số giải pháp 47
Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
6.1 Kết luận 49
6.2 Kiến Nghị 49
Trang 3DANH MỤC BIỂU BẢNG Trang
Bảng 1 Số lượng gia súc gia cầm năm 2003 -2005 tỉnh Hậu Giang 16
Bảng 2 Số lượng gia cầm năm 2004-2006 ở tỉnh Hậu Giang 20
Bảng 3: Bảng phân bố sản lượng vịt năm 2004-2006 ở tỉnh Hậu Giang 22
Bảng 4 Số lượng trứng gia cầm tiêu thụ năm 2004 – 2006 ở tỉnh Hậu Giang 23
Bảng 5: Bảng mô tả tình tình hình chung hộ chăn nuôi 29
Bảng 6: Bảng mô tả tình hình lao động của hộ chăn nuôi 20
Bảng 7: Bảng mô tả hình thức chăn nuôi 31
Bảng 8: Bảng mô tả số lượng và đặc điểm nuôi 32
Bảng 9: Mô tả về tiêu thụ trứng và vịt sau khai thác năm 2006 35
Bảng10: Tính giá thành vịt con 36
Bảng11: Bảng tổng hợp chi phí chăn nuôi vịt con và vịt hậu bị (chưa có lao động nhà quy đổi ra tiền) 37
Bảng 12 Bảng tổng hợp chi phí chăn nuôi vịt hậu bị và vịt con bao gồm lao động nhà 39
Bảng13: Bảng tổng hợp chi phí chăn nuôi vịt của hộ chăn nuôi vịt gần nhà và hộ chạy đồng (chưa có lao động nhà quy đổi ra tiền) 40
Bảng14: Bảng tổng hợp chi phí chăn nuôi vịt của hộ chăn nuôi vịt gần nhà và hộ chạy đồng sang địa phương khác có lao động nhà quy đổi ra tiền 42
Bảng 15: Bảng tính tổng thu nhập của nông hộ năm 2006 43
Bảng16: Bảng kết quả chăn nuôi của nông hộ năm 2006 43
Bảng 17: Một số tỉ số tài chính 44
Trang 4DANH MỤC HÌNH Trang
HÌNH 1: BẢNG ĐỒ TỈNH HẬU GIANG 13HÌNH 2: SỐ LƯỢNG GIA CẦM NĂM 2004-2006 Ở TỈNH HẬU GIANG 21 HÌNH 3: BIỀU ĐỒ THỂ HIỆN CƠ CẤU SẢN LƯỢNG GIA CẦM
NĂM 2006 Ở TỈNH HẬU GIANG 22 HÌNH 4: HÌNH THỂ HIỆN SẢN LƯỢNG TRỨNG GIA CẦM
TIÊU THỤ NĂM 2004-2006 Ở TỈNH HẬU GIANG 23
HÌNH 5: SƠ ĐỒ BIỂU DIỄN KÊNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM 34
Trang 5CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1.1 Sự cần thiết của đề tài
Chăn nuôi vịt rất phổ biến ở miền Nam nước ta, nhiều nhất là ở đồng bằng Sông Cửu Long nghề chăn nuôi này đã tận dụng nhiều thức ăn thiên nhiên (tép, cua, ốc, côn trùng, bọ rầy,…) để sản xuất ra thịt, trứng, lông cung cấp cho tiêu dùng và cho xuất khẩu Đồng thời đó là một ngành chăn nuôi đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật ít mà vẫn thu lãi nhanh và có năng xuất lao động cao
Hơn nữa, có thể nói nước ta là một nước có một tiềm năng thiên nhiên phong phú như: điều kiện sinh thái của nước ta thuận lợi, diện tích mặt nước lớn, hệ thống sông ngòi, đầm, ao, hồ,…tương đối dày đặt mà điều đó chỉ có đồng bằng Sông Cửu Long là chiếm ưu thế hơn hết trong cả nước, đó chính là điều kiện thiết yếu và thuận lợi nhất của viêc nuôi vịt chạy đồng Hiện nay nhiều tiến bộ kỹ thuật đã được áp dụng vào việc chăn nuôi vịt như có nhiều giống mới ngoại nhập và nó thích nghi rất tốt, có điều kiện tạo con lai năng xuất cao, có chính sách khuyến khích chăn nuôi phát triển, sản lượng lúa, hoa màu lương thực tăng là yếu tố cơ bản thúc đẩy chăn nuôi vịt phát triển
Nước ta có điều kiện rất tốt để phát triển nghành chăn nuôi vịt nhất là vịt chạy đồng Thế nhưng trong những năm gần đây dịch cúm gia cầm xảy ra đã làm chết hàng loạt và thiêu hủy số lượng vịt lớn, sản phẩm không tiêu thụ được Nông dân khắp nơi nói chung và nông dân tỉnh Hậu Giang nói riêng đang gặp rất nhiều khó khăn, nhiều nông dân đã mất trắng và lâm vào cùng cực Mặt dù chính quyền địa phương và các nhà hoạch định chính sách đã có những giải pháp khắc phục nhưng vẫn chưa đáng kể
vì thiếu luận cư khoa học Cho nên, những nghiên cứu về ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm và giải pháp khắc phục là cần thiết Đồng thời phải làm gì để đạt được hiệu quả trong chăn nuôi Do đó em chọ đề tài “Hiệu quả sản xuất và tình hình tiêu thụ của nông hộ chăn nuôi vịt chạy đồng ở tỉnh Hậu Giang” Nhằm đánh giá xem nghề chăn
Trang 6nuôi vịt thả đồng có đạt hiệu quả không? Và tìm ra giải pháp khắc phục cũng như việc phòng chống dịch cúm hữu hiệu
1.1.2 Căn cứ khoa học và thực tiễn
Dịch cúm gia cầm là đại dịch lây lan rất nhanh đáng lo ngại là có thể lây lan sang người Từ khi xảy dịch cúm đến nay đã làm thiệt hại không nhỏ đối với nền kinh tế Tỉnh Hậu Giang là một trong những nơi bùng phát dịch bệnh Đại dịch này không những ảnh hưởng đến những hộ chăn nuôi, mà còn ảnh hưởng cả người phân phối và người tiêu dùng Đối với người phân phối và người tiêu dùng, nếu họ phân phối và tiêu dùng phải những gia cầm bị nhiễm bệnh thì sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của mọi người cũng như với chính bản thân họ Còn đối với người sản xuất hay nói cách khác chính người chăn nuôi, từ khi xảy ra dịch cúm gia cầm đến nay họ bị thiệt hại rất lớn: gia cầm bị chết hàng loạt và bị thiêu hủy, nhưng họ vẫn tiếp tục sản xuất vì đó là ngành chính của họ vì thế mà sản phẩm vẫn tiếp tục làm ra mà người tiêu dùng ngại
sử dụng do vậy dẫn đến sự thất thu ở người sản xuất,… Từ đó mà đời sống của người chăn nuôi đã khó khăn lại càng khó khăn hơn Hiện nay có một số nghiên cứu về vắc xin phòng ngừa cúm gia cầm như ở các nước Trung Quôc, Mỹ,…Nhưng cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về “Hiệu quả sản xuất và tình hình tiêu thụ của nông hộ chăn nuôi vịt chạy đồng” từ đó đề xuất hướng đi cho nghành chăn nuôi vịt Vì vậy, nay em chọn đề tài này nhằm tìm ra giải pháp hiệu quả để giúp các nông hộ chăn nuôi gia cầm cải thiện thu nhập, nâng cao mức sống đồng thời củng cố và phát triển ngành chăn nuôi vịt nhất là chăn nuôi vịt chạy đồng
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích hiệu quả chăn nuôi vịt chạy đồng, tình hình tiêu thụ và giải pháp phát triển ngành chăn nuôi vịt thả đồng của các nông hộ ở Hậu Giang nhằm xác định cơ sở khoa học để đưa ra định hướng và các giải pháp khả thi để nâng cao hiệu quả chăn nuôi
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Đánh giá thực trang hoạt động chăn nuôi của nông hộ tại địa bàn nghiên cứu
Trang 7 Phân tích hiệu quả tài chính của hoạt động chăn nuôi vịt thả đồng tại địa ban nghiên cứu
Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm của nông hộ
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi
Đề xuất giải pháp để giúp nông hộ nâng cao hiệu quả chăn nuôi vịt
1.3 KIỂM ĐỊNH GIẢ THUYẾT VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Kiểm tra giả thuyết
¾ Giả thuyết 1: Lợi nhuận của nông hộ chăn nuôi vịt con và vịt hậu bị; thả gần nhà và vừa thả gần nhà vừa chạy đồng sang địa phương khác là như nhau Kiểm định thực tế lợi nhuận của họ có bằng nhau không
¾ Giả thuyết 2: Các nhân tố khác không ảnh hưởng đến lợi nhuận
Kiểm định có nhân tố nào ảnh hưởng đến lợi nhuận
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu:
Tình hình chăn nuôi của nông hộ như thế nào?
Nông hộ chăn nuôi có đạt hiệu quả không?
Tình hình tiêu thụ sản phẩm ra sao?
Các nhân tố nào ảnh hưởng đến chăn nuôi vịt chạy đồng?
Cần có giải pháp gì để chăn nuôi đạt hiệu quả?
1.4 PHAM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Hiệu quả chăn nuôi và tình hình tiêu thụ của nông hộ chăn nuôi vịt lấy trứng
dưới hình thức chạy đồng ở tỉnh Hậu Giang
1.4.2 Giới hạn vùng nghiên cứu
Thị xã Vị Thanh, huyện Vị Thủy tỉnh Hậu Giang
1.4.3 Giới hạn thời gian nghiên cứu
Thời gian bắt đầu từ tháng 2/2007 Thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp Số liệu thứ cấp thu thập từ năm 2004 đến 2006
1.4.4 Đối tượng nghiên cứu
Nông hộ chăn nuôi vịt chạy đồng ở thị xã Vị Thanh, huyện Vị Thủy tỉnh Hậu Giang
Trang 81.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Mai Văn Nam, 2003; “Economic inefficency and its determinants in the pig
industry in south Vietnam”, UPLB, the Philipines; phương pháp hàm lợi nhuận chuẩn hóa (normalized profit function), và hàm profit được sử dụng trong nghiên cứu; kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố thể chế và chính sách có tác động đến hiệu quả sản xuất và tiêu thụ ngành hàng heo thịt ở Việt Nam (Đông và Tây Nam Bộ)
Mai Văn Nam, 2004; “Thị trường nông sản và các giải pháp phát triển sản xuất
và tiêu thụ nông sản hàng hóa ở đồng bằng Sông Cửu Long: Trường hợp sản phẩm heo ở Cần Thơ”, VNRP, chương trình nghiên cứu Việt Nam-Hà Lan; phương pháp phân tích SCP và mô hình Profit được sử dụng trong nghiên cứu; kết quả nghiên cứu cho thấy chăn nuôi heo ở qui mô nhỏ hộ gia đình có hiệu quả thấp hơn qui mô lớn tập trung và các yếu tố đầu vào như con giống, thức ăn chế biến sản phẩm và các thể chế chính sách có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, tiêu thụ sản phẩm
Nguyễn Thanh Phương, Lê Xuân Sinh, Nguyễn Thanh Toàn, 2004; “Nghiên
cứu luận cứ khoa học phục vụ chuyển đổi cơ cấu sản xuất ở vùng nông thôn sâu-ngập
lũ đồng bằng Sông Cửu Long nhằm cải thiện đời sống của nông hộ và tăng cường sự hợp tác của nông dân”, phương pháp phân tích chi phí-lợi ích (CBA) và so sánh mô hình sản xuất được sử dụng trong nghiên cứu; kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình lúa-cá có hiệu quả và phù hợp trong điều kiện ngập lũ ở đồng bằng Sông Cửu Long
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 92.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm chung về hộ
- Là gia đình coi như một đơn vị chính quyền
- Là đơn vị những người cùng ăn ở với nhau
- Là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công
Theo Liên hiệp quốc: hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung ngân quỹ
Tại cuộc Hội thảo quốc tế lần thứ tư về quản lý nông hộ tại Hà Lan năm 1980, các đại biểu nhất trí rằng: hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác
Giáo sư Mc.Gee, Giám đốc Viện Nghiên cứu châu A thuộc Đại học tổng hợp British Columbia nêu quan niệm: hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc hay không cùng chung huyết tộc ở chung trong một mái nhà, ăn chung một măm cơm và
có chung một ngân quỹ
Như vậy, hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc sống chung hay không sống chung với những người khác huyết tộc trong cùng một mái nhà, ăn chung và có chung một ngân quỹ
2.1.1.2 Khái niệm nông hộ
Hộ nông dân là hình thức tổ chức sản kinh doanh nông, lâm, ngư nghiệp, bao gồm một nhóm người có cùng huyết tộc hoặc quan hệ huyết tộc sống chung trong một mái nhà, có chung một nguồn thu nhập tiến hành các hoạt động sản xuất nông nghiệp với mục đích chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của thành viên trong hộ [trích giáo trình quản trị doanh nghiệp nông nghiệp, PGS.TS.Trần Quốc Khánh, Tr64]
2.1.1.3 Khái niệm kinh tế nông hộ
a) Kinh tế hộ gia đình là một kiểu tổ chức kinh tế đặc thù của nông dân nông nghiệp
Trang 10b) Trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất của nó luôn bị hạn chế ở lao động thủ công hay cơ bắp là chính, các công cụ sản xuất, chủ yếu được sử dụng một cách cá nhân
c) Đặc trưng kinh tế cơ bản của nó là tự cung tự cấp, hay chỉ dựa vào sức lao động gia đình và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của cả hộ gia đình như một tổng thể, không hạch toán khả năng sản xuất hay nhu cầu tiêu dùng của từng cá nhân
d) Do tính chất và trình độ phát triển sản xuất còn tự cung tự cấp, mục tiêu kinh tế chủ yếu của kinh tế hộ gia đình là tái sản xuất của cá nhân cả về mặt thể chất (chỉ đề cao giá trị sử dụng) lẫn mặt xã hội (xã hội hóa cá nhân trong các quan hệ bị quyết định bởi cộng đồng)
e) Do sự đồng nhất giữa đơn vị sản xuất và đơn vị tiêu dùng, tổ chức kinh
tế hộ gia đình cũng đồng nhất với tổ chức hộ gia đình như một kiểu tổ chức xã hội đặc thù, bị chi phối đồng thời bởi các quan hệ sản xuất và các quan hệ chính trị (tổ chức đời sống cộng đồng)
[Trích “Kinh tế hộ gia đình và các quan hệ xã hội ở nông thôn đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đổi mới, Nguyễn Đức Truyền, tr26]
2.1.1.4 Hiệu quả sản xuất
Trong sản xuất kinh doanh thường phải đối mặt với các giới hạn trong việc sử dụng nguồn lực sản xuất Do đó họ cần phải xem xét và lựa chọn thứ tự ưu tiên các hoạt động cần thực hiện dựa vào các nguồn lực đó sao cho đạt kết quả cao nhất Thuật ngữ mà chúng ta thường dùng để chỉ kết quả đạt được đó là hiệu quả Hiệu quả là một thuật ngữ tương đối và luôn liên qua đến một vài chỉ tiêu cụ thể Trong bất kỳ quá trình sản xuất nào khi tính đến hiệu quả sản xuất thì người ta thường đề cập đến ba nội dung cơ bản đó là: hiệu quả kinh tế, hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối
Hiệu quả kinh tế: Tiêu trí về hiệu quả kinh tế thực ra là giá tri Có nghĩa là, khi
sự thay đổi làm tăng giá trị thì sự thay đổi đó có hiệu quả và ngược lại thì sẽ không hiệu quả Trong một số trường hợp, hiệu quả kinh tế sẽ trở thành không hiệu quả khi đánh giá theo những tiêu chí khác nhau
Hiệu quả kỹ thuật: Hiệu quả kỹ thuật đòi hỏi nhà sản xuất tạo ra một số lượng
sản phẩm nhất định xuất phát từ việc sử dụng các nguồn lực đầu vào ít nhất
Trang 11Hiệu quả phân phối: thể hiện mối quan hệ giữa nhà sản xuất và người tiêu
dùng Có nghĩa là, nhà sản xuất phải cung cấp những sản phẩm và dịch vụ mà người tiêu dùng cần nhất hay nói các khác nguồn lực được phân phối sao cho lợi ích của người sử dụng nó đạt được cao nhất
2.1.1.6 Khái niệm về biến phí (variable cost)
Một khoản mục được xem là chi phí khả biến khi căn cứ ứng xử của nó biến động thì tính theo tổng số tiền nó thay đổi theo, còn tính theo một đơn vị căn cứ ứng
xử của nó lại không thay đổi Nói cách khác biến phí là những mục chi phí thay đổi tỉ
lệ với mức độ hoạt động của đơn vị
Đối với chăn nuôi vịt chạy đồng thì biến phí bao gồm: chi phí thuê lao động (lao động thuê và lao động gia đình), chi phí con giống, chi phí thức ăn, thuốc thú y, chi phí chuyển đồng, chi phí thuê đồng…
2.1.1.7 Khái niệm về định phí (fixed cost)
Định phí là những mục chi phí ít thay đổi hoặc không thay đổi theo mức độ hoạt động của đơn vị Nếu xét trên tổng chi phí, định phí không thay đổi, ngược lại nếu quan sát chúng trên một đơn vị mức độ hoạt động, định phí tỉ lệ nghịch với mức độ hoạt động Như vậy dù doanh nghiệp có hoạt động hay không hoạt động thì vẫn tồn tại định phí; ngược lại khi doanh nghiệp gia tăng mức động hoạt động thì định phí trên một mức độ hoạt động sẽ giảm dần
Theo định nghĩa này thì định phí trong chăn nuôi vịt thả đồng gồm: chi phí công
cụ dụng cụ dùng làm chồng và dụng cụ thu hoạch, chi phí lãi vay, chi phí vận chuyển con giống
2.1.1.8 Chi phí hỗn hợp (mixed cost)
Chi phí là những mục chi phí bao gồm các yếu tố biến phí và định phí pha trộn lẫn nhau
2.1.1.9 Chi phí cơ hội (opportunity cost)
Chi phí cơ hội có thể định nghĩa là một nguồn thu tiềm tàng bị mất đi hay phải
hy sinh để lựa chọn, thực hiện một hành động này để thay thế một hành động khác
Trang 12Chi phí cơ hội của lao động: trong sản xuất nông nhiệp nói chung và trong chăn
nuôi nói riêng, lao động được chia làm lao động thuê và lao động gia đình Đánh giá chi phí cơ hội của lao động có thể dựa vào năng suất biên của lao động Một số nghiên cứu đề nghị sử dụng giá lao động trên thị trường cũng là chi phí cơ hội của lao động (Thái Anh Hòa, 1993) Theo Nguyễn Thị Cành (2002) sử dụng mức lương của lao động không có tay nghề ở các khu công nghiệp như là chi phí cơ hội trong sản xuất nông nghiêp Trong luận văn này chi phí cơ hội của lao động (lao động thuê và lao động gia đình) được tính bằng giá thuê lao động trong chăn nuôi
Chi phí cơ hội của vốn: Theo Nguyễn Thị Cành (2002) thì chi phí cơ hội của
vốn bằng lãi suất cho vay trên thị trường Thái Anh Hòa (1993) sử dụng lãi suất chính thức được điều chỉnh lạm phát như là chi phí cơ hội của vốn Trong nghiên cứu này, chi phí cơ hội của vốn được tính bằng lãi suất cho vay của ngân hang ở vùng nông thôn
2.1.1.10 Các chỉ tiêu tài chính
Doanh thu (P): Tổng số trứng x Giá bán + Số con x Tỉ lệ hao hụt x Giá bán
Doanh thu bao gồm doanh thu từ bán trứng và bán vịt sau khai thác
Doanh thu một trứng: Doanh thu/Tổng số trứng
Biến phí một trứng: Tổng biến phí/Tổng số trứng
Định phí một trứng: Tổng định phí/Tổng số trứng
Trong đó: Tổng số trứng: Tổng số con x Tỉ lệ đẻ x Số ngày đẻ
Lợi nhuận tài chính: Doanh thu một trứng – Định phí một trứng – Biến phí một
Trang 13+ Tỷ số thu nhập ròng trên tổng doanh thu sẽ cho chúng ta biết trong 100 đồng
doanh thu thu được thì hộ sẽ nhận được bao nhiêu đồng thu nhập
B = TNR/Tổng doanh thu
+ Tỷ số thu nhập ròng trên chi phí lao động nhà quy đổi thành tiền sẽ cho
chúng ta biết thu nhập ròng thu được có bù đắp chi phí công lao động nhà hay không
C = TNR/Chi phí lao động nhà quy đổi thành tiền
+ Doanh thu/chi phí đo lường tổng số tiền thu được khi bỏ ra 1 đồng chi phí
đầu tư
D = Doanh thu/Tổng chi phí
+ Lợi nhuận/chi phí đo lường lợi nhuận của hộ thu được khi bỏ ra 1 đồng chi
phí đầu tư
E = Lợi nhuận/Tổng chi phí
2.1.2 Phương pháp phân tích lợi ích – chi phí
Phân tích lợi ích - chi phí là một phương pháp đánh giá sự mong muốn tương đối
giữa các phương án cạnh tranh nhau khi sự lựa chọn được đo lường bằng giá trị kinh
tế tạo ra cho toàn xã hội
Phương pháp này tìm ra sự đánh đổi giữa các lợi ích thực sự mà xã hội có được
từ một phương án cụ thể với các nguồn tài nguyên thực mà xã hội phải từ bỏ để đạt
được lợi ích đó
Phương pháp lợi ích – chi phí được sử dụng trong luận văn chính là so sánh giữa
các chi phí mà hộ chăn nuôi sử dụng trong chăn nuôi với lợi nhuận (hay lợi ích) mà
hộ chăn nuôi nhận được trong một lứa nuôi, để từ đó tìm ra được sự lựa chọn tối ưu
cho việc chăn nuôi (nếu lợi ích thu được lớn hơn chi phí bỏ ra thì khuyến khích các hộ
chăn nuôi tiếp tục chăn nuôi, ngược lại thì đề ra các giải pháp khắc phục để nâng cao
lợi ích)
2.1.3 Phương pháp hồi quy tuyến tính
Mục đích của việc thiết lập phương trình hồi quy là tìm ra các nhân tố ảnh hưởng
đến một chỉ tiêu quan trọng nào đó (chẳng hạn như lợi nhuận/con), chọn những nhân
Trang 14tố ảnh hưởng có ý nghĩa, từ đó phát huy các nhân tố có ảnh hưởng tốt, khắc phục nhân
Trong đề tài này:
Y là lợi nhuận trên một trứng vịt
X1 là chi phí thức ăn tạo ra một trứng
X2 là chi phí lao động gia đình trên một trứng
X3 là chi phí thuê đồng trên một trứng
X4 là chi phí bán vịt sau khai thác
X5 là tỉ lệ đẻ trứng
Các tham số β0, β1…, βk được tính toán bằng phần mềm Excel
Kết quả in ra từ phần mền Excel có các thông số sau:
- Multiple R: hệ số tương quan bội (Multiple correlation corfficient), nói lên mối liên hệ chặt chẽ giữa biến phụ thuộc Y và biến độc lập X, R càng lớn, mối liên
- Standar error: sai số chuẩn cả phương trình
- Opservations (n): số mẫu quan xát
- Regression: hồi quy
- df: độ tự do
k: số biến
Trang 15n-k-1
n-1
- SS (sum of squares): Tổng bình phương
- SSR (regresstion sum of squares): Tổng bình phương hồi quy, là đại lượng biến động của Y được giải thích bởi đường hồi quy
- SSE (errer sum of squares): Phần biến động còn lại (còn gọi là dư số): là đại lượng biến động tổng gộp của các nguồn biến động do các nhân tố khác gây ra
mà không hiện diện trong quy mô hồi quy và phần biến động ngẫu nhiên
- SST (total sum of squares): Tổng biến động của Y
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Chọn vùng bị ảnh hưởng dịch cúm gia cầm, Từ năm 2004 đến nay Hậu Giang xảy ra bốn đợt cúm với tổng số thiệt hại là 274.884con
Hậu Giang có số lượng nông hộ chăn nuôi vịt thả đồng lớn.Tổng số vịt năm
2006 là 1.742.308 con trong đó Vị Thanh 84.060 con, Vịt Thủy 397.227con
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Trang 16 Số liệu thứ cấp: thu thập trong 3 năm từ năm 2004 đến năm 2006 tại các
cơ quan có liên quan
Số liệu sơ cấp: thiết lập bảng câu hỏi phỏng vấn các hộ chăn nuôi vịt thả đồng, số mẫu thực tế điều tra là 40 mẫu
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
Mục tiêu 1: Sử dụng số liệu thứ cấp, thống kê mô tả để mô tả thực trạng nghề chăn nuôi vịt thả đồng tại địa bàn nghiên cứu
Mục tiêu 2: phân tích lợi ích chi phí, phân tích Externality
Mục tiêu 3: sử dụng kênh phân phối
Mục tiêu 4: Dùng phương pháp phân tích hồi qui nhiều chiều
Mục tiêu 5: Sử dụng phương pháp phân tích ma trận SWOT
Trang 17CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN TỈNH HẬU GIANG VÀ NGÀNH CHĂN NUÔI GIA CẦM
CỦA TỈNH
3.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ TỈNH HẬU GIANG
3.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên tỉnh Hậu Giang
Hậu Giang là tỉnh được tách ra từ tỉnh Cần Thơ cũ (nay là TP Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang) đến nay đã được trên 3 năm, là một địa phương có nhiều tiềm năng về nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản
Tính đến năm 2007, Hậu Giang có 7 đơn vị hành chính cấp huyện, có 67 xã phường và thị trấn bao gồm: TX Vị Thanh, TX Ngã Bảy; huyện Châu Thành; huyện
Trang 18Châu Thành A; huyện Phụng Hiệp; huyện Vị Thủy và huyện Long Mỹ, với tọa độ địa
3.3.1.3 Địa hình
Hậu Giang thuộc đồng bằng sông Cửu Long, độ cao thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây
3.3.1.4 Thời tiết
Hậu Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm có hai mùa rõ rệt Mùa mưa
có gió Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô có gió Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 hàng năm
3.3.1.5 Thủy văn, sinh vật
Tỉnh Hậu Giang có sông ngòi chằng chịt với tổng chiều dài khoảng 2.300 km Hậu Giang có 3.604,62 ha rừng tràm, hơn 71 loài động vật cạn và 135 loài chim
Hệ thực vật của vùng đất ngập nước ở Hậu Giang rất đa dạng, nhưng chủ yếu được trồng cây lúa và cây ăn trái
3.3.2 Khái quát điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Hậu Giang
3.3.2.1 Dân số
Dân số: tổng số dân toàn tỉnh là 781.005 người, trong đó: Nam: 383.395 người; nữ: 397.610 người; Người kinh: chiếm 96,44%; Người Hoa: chiếm 1,14%; Người Khơ-me: 2,38%; Các dân tộc khác chiếm 0,04% Khu vực thành thị: 119.013 người; nông thôn: 661.992 người
Trang 19Lao động: tỉnh Hậu Giang có tổng số 516.771 người Trong đó, lao động đang làm việc trong các thành phần kinh tế: 415.048 người; lao động dự trữ: 101.723 người
Mức tăng từ 1,07 – 1,11%/năm Sự gia tăng dân chủ yếu là tăng cơ học dân thành thị là 181.749 người, chiếm 23% Số dân sống dựa vào nông nghiệp chiếm 41,4%
3.3.2.2 Thành tựu kinh tế xã hội
Mức tăng trưởng kinh tế bình quân thời kỳ 2004 - 2006 khoảng 11%/năm (mức tăng bình quân của tỉnh thời kỳ 2001 - 2003 là 9,55%, ĐBSCL 9%, cả nước 8%), đạt
và vượt kế hoạch đề ra Đây là mức tăng thuộc loại khá cao so các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long và cả nước Cụ thể: năm 2004 tăng 10,8%, năm 2005 tăng 11,1% và năm 2006 mức tăng trưởng tiếp tục ở mức cao trên 11%
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, dịch vụ trong cơ cấu GDP Tỷ trọng khu vực I chiếm 41,2% (2000: 51,3%); khu vực II chiếm 29,2% (2000: 26,2%); khu vực III chiếm 29,6% (2000: 22,5%) Thu nhập bình quân đầu người 7,4 triệu đồng/người (2003: 3,5 triệu), quy tương đương
b) Hệ thống điện, nước, bưu điện
Tỉnh đang triển khai xây dựng hệ thống điện, nước, bưu chính, viễn thông cho trung tâm tỉnh lỵ và các cụm thị trấn, thị tứ huyện xã Đồng thời gắn với quy hoạch
đô thị và xây dựng nông thôn mới: Thị xã Vị Thanh quy hoạch theo hướng đô thị loại
Trang 20III, phát triển dọc theo Kinh Xáng Xà No (2 hướng Đông Bắc và Tây Nam) và phát triển các đô thị vệ tinh xung quanh tỉnh lỵ Vị Thanh
3.3.2.3 Nông nghiệp
Tổng diện tích lúa năm 2005 là: 228.440 ha, với năng suất bình quân 5,1 tấn/ha, sản lượng ước đạt 1.169.234 tấn
Tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu GDP chiếm rất cao, trên 50% (trên 85% dân
số lao động trong nông nghiệp)
BẢNG 1 SỐ LƯỢNG GIA SÚC GIA CẦM NĂM 2003-2005 TỈNH HẬU
(Niên giám thống kê)
Năm 2004, toàn tỉnh có 181.030 con heo, 951 con trâu, có 8.223 ha diện tích nuôi trồng thủy sản trong đó có 169 ha nuôi tôm Sản lượng đạt 19.983 tấn, đạt 130%
kế hoạch
Trong năm 2005, tỉnh có số lượng heo giảm 6.030 con so với năm 2004 do ảnh hưởng của bệnh long mồm lở mống, do dịch cúm gia cầm bùng phát nên số lượng gia cầm giảm 553 con so với năm 2004
Năm 2005 số lượng trâu tăng 249 con, bò tăng 900 con
3.3.2.4 Công nghiệp
Hậu Giang có 2.208 cơ sở sản xuất kinh doanh, tổng số lao động 15.062 người
Có năm doanh nghiệp quy mô sản xuất lớn: Cty mía đường, Cafatex, Cty TNHH chế biến thủy sản Việt Hải, Cty TNHH chế biến thủy sản Phú Thạnh với doanh thu của năm doanh nghiệp này đạt 2.330.910 triệu đồng
Trang 213.3.2.5 Khu công nghiêp:
Hậu Giang có khu công nghiệp Vị Thanh, diện tích 150 ha được quy hoạch xây dựng bên Quốc lộ 61, kênh Xáng Hậu và sông Cái Tư - Rạch Nhút thuộc địa bàn huyện Châu Thành và Thị xã Vị Thanh Đây là khu công nghiệp nằm trên vùng tập trung nguyên liệu cung cấp cho ngành chế biến lương thực, thực phẩm như: khóm, mía, đậu, mè, các loại rau củ, gạo chất lượng cao thúc đẩy vùng này sớm phát triển hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
3.3.2.6 Hệ thống hạ tầng văn hóa – giáo dục – xã hội
Tỉnh Hậu Giang có 15 trường THPT; 6 bệnh viện với 490 giường bệnh, 9 phòng khám khu vực, 2 nhà bảo sanh và 52 trạm y tế xã phường
Hiện đã thực hiện xong các quy hoạch: quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế xã hội, quy hoạch sử dụng đât tỉnh đến 2020, xây dựng kế hoạch phá triển kinh tế-xã hội 5 năm (2006-2010), các quy hoạch ngành: giao thông vận tải, công nghiệp, điện, nông nghiệp, du lịch, quy hoạch tổng thể thị xã Vị Thanh, thị xã Ngã Bảy… nhằm làm cơ sở lập các quy hoạch chi tiết, dự án đầu tư phục vụ cho phát triển kinh tế và phục vụ dân sinh, đến nay một số tuyến đường chính và các công trình xây dựng đã và đang được khẩn trương hoàn thành để đưa vào sử dụng như: Quốc lộ 61 (nối Cần Thơ - Hậu Giang - Kiên Giang), tỉnh lộ 925 931,
927, các tuyến lộ liên xã, lộ giao thông nông thôn, các cụm dân cư vượt lũ và các công trình khác trên địa bàn Hiện tại cũng đang đầu tư các dự án lớn của tỉnh như: Bệnh viện Đa khoa Hậu Giang, quy mô 500 giường; Trường Cao đẳng cộng đồng, Trường Dân tộc nội trú, đường nối TX Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang – TP Cần Thơ, đường Tây Sông Hậu, đường Hậu Giang, bờ kè chống sạt lở kênh xáng
Xà No; đồng thời, gắn với tập trung công tác xóa đói giảm nghèo, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, kiên cố hoá trường lớp, xây dựng các tuyến điện trung hạ thế và các công trình thiết yếu cho xã nghèo, người nghèo, tập trung xây dựng khu dân cư vượt lũ…
Đẩy mạnh công tác quản lý đầu tư xây dựng cũng như thực hiện tốt công tác phân cấp thẩm quyền quản lý đầu tư và xây dựng, quản lý đô thị cho các huyện và thị
Trang 22xã; tăng cường kiểm tra công tác thanh quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản; tổ chức mời thầu, đấu thầu thi công đúng quy định, chỉ đạo mạnh dạng điều chỉnh vốn đầu tư xây dựng cơ bản để tập trung vốn cho những công trình hoàn thành và sớm phát huy hiệu quả Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn 3 năm trên 6.400 tỷ đồng (năm 2006 là 2.490 tỷ), trong đó vốn đầu tư phát triển từ các nguồn ngân sách do địa phương quản lý 1.900 tỷ đồng (năm 2006 trên 700 tỷ), chiếm 30% tổng vốn đầu tư Tăng cường huy động mọi nguồn lực trong nhân dân, doanh nghiệp và các tổ chức khác… để đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh cho các hộ nông dân
và các doanh nghiệp trong tỉnh, góp phần trong việc ổn định và tăng trưởng nền kinh
tế Tổng vốn huy động 3 năm được 1.790 tỷ đồng (năm 2006 là 820 tỷ); tổng dư nợ cho vay nền kinh tế 6.500 tỷ đồng (năm 2006 là 2.550 tỷ đồng), đặc biệt tỷ lệ nợ xấu chỉ chiếm 2,6% và giảm 3,5% so cuối năm 2005 Ngoài ra, Kho Bạc Nhà nước tỉnh đã
tổ chức tốt 02 đợt phát hành trái phiếu theo chủ trương của Chính phủ, đạt yêu cầu về thời gian, hoàn thành vượt kế hoạch được giao (thu được trên 20 tỷ), góp phần tăng nguồn vốn huy động chung của tỉnh
3.3.2.7 Đầu tư
Hậu Giang đã ban hành nhiều cơ chế chính sách khuyến khích và ưu đãi đầu tư, đặc biệt là đã tổ chức thành công hội nghị xúc tiến đầu tư vào Hậu Giang tại TP HCM, để kêu gọi các nhà đầu tư, các tổ chức hữu quan khác đầu tư vào tỉnh (kể cả nhà đầu tư nước ngoài), kết quả đến năm 2006, toàn tỉnh đã có 885 doanh nghiệp tư nhân hoạt động sản xuất kinh doanh với tổng vốn là 1.071 tỷ đồng (số doanh nghiệp tăng gấp 2 lần, vốn đăng ký tăng gấp 4 lần so với cuối năm 2003) Ngoài ra, một số nhà đầu tư lớn và tổ chức nước ngoài đã đầu tư các dự án vào khu công nghiệp Sông Hậu, cụm công nghiệp Phú Hữu A, Tân Phú Thạnh như: Dự án đóng tàu của Tổng Công ty Tàu thủy (Vinashin) tại khu công nghiệp Sông Hậu 1.700 tỷ đồng; nhà máy giấy của Tập đoàn sản xuất giấy Lee & Man - Hồng Kông 1,2 tỷ USD, Công ty Cổ phần Thủy sản Minh Phú 200 triệu USD, Công ty Cổ phần Thủy sản CAFATEX, Công ty Cổ phần Phú Thạnh, dự án Hỗ trợ cải cách hành chính giai đoạn II của Vương quốc Bỉ, dự án “Sản suất nông thủy sản bền vững và năng lượng tái tạo từ bèo lục bình và chất thải tại tỉnh Hậu Giang” Hiện tại tỉnh cũng đã ký kết hợp tác về
Trang 23phát triển kinh tế - xã hội với các tỉnh, thành như: TP.HCM, TP.Cần Thơ, Kiên Giang
và hợp tác với các viện nghiên cứu, các trường đại học nhằm đẩy mạnh áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống nhân dân
3.3.2.7 Mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Hậu Giang luôn chú trọng tạo mọi điều kiện để phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khai thác tiềm năng, lợi thế theo hướng phát triển công nghiệp, dịch vụ và du lịch Tập trung ưu tiên khuyến khích đầu tư xây dựng các khu, cụm công nghiệp tập trung, các trung tâm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, hạ tầng du lịch, hoàn thiện mạng lưới giao thông thuỷ bộ, cấp điện, cấp thoát nước… nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế Các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010
và định hướng đến năm 2015 được xác định:
1 Tập trung đầu tư để đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong thời kỳ 2006 – 2010 là 10 – 11%, 2011 – 2015 là 11 – 12% Phấn đấu đến năm 2010 tổng sản phẩm GDP bằng 1,5 – 2 lần và đến năm 2015 bằng 2,5 – 3,5 lần so với năm 2005
2 Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng công nghiệp và các ngành dịch vụ trong cơ cấu GDP Đến năm 2010 tỷ trọng công nghiệp – xây dựng chiếm 45 – 46 %; các ngành dịch vụ 29 – 30%; nông, lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm 24 – 25% Phấn đấu đến năm 2015 cơ cấu kinh tế là: Công nghiệp – xây dựng chiếm 49 – 50%; các ngành dịch vụ 33 – 34%; nông – lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm 16 – 17%
3 GDP bình quân đầu người 12 triệu đồng vào năm 2010, gấp 1,9 lần; 25 triệu đồng vào năm 2015, gấp 4 lần năm 2005
4 Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ thu ngoại tệ năm 2010: 300 triệu USD, năm 2015: 500 triệu USD Kim ngạch nhập khẩu 100 triệu USD
5 Tổng vốn đầu tư toàn xã hội huy động trên địa bàn thời kỳ 2006 – 2015 là 30.000 tỷ đồng (giai đoạn 2006 – 2010: 14.000 tỷ, giai đoạn 2011 – 2015: 16.000 tỷ), chiếm 35 – 40% GDP
6 Thu ngân sách phấn đấu đạt từ 15% GDP trở lên vào năm 2015
7 Giải quyết việc làm hàng năm 18.000 – 20.000 lao động Tỷ lệ lao động qua đào tạo 25%, tỷ lệ lao động được đào tạo nghề 20% Cơ cấu lao động: Khu vực I
Trang 24chiếm 50%, khu vực II chiếm 20%, khu vực III chiếm 30% tổng số lao động tham gia các ngành kinh tế quốc dân vào năm 2015
8 Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo giảm còn dưới 10% theo tiêu chí hiện tại vào năm
2015
9 Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn dưới 20% vào năm 2015
10 Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện 95% số hộ, trong đó hộ nông thôn đạt 90% vào năm 2015
11 Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch 85% tổng số hộ, trong đó khu vực nông thôn 75% vào năm 2015
3.2 THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHĂN NUÔI VỊT THẢ ĐỒNG Ở TỈNH HẬU GIANG
3.2.1 Tình hình chung về hoạt động chăn nuôi của tỉnh trong nhưng năm qua
BẢNG 2: SỐ LƯỢNG GIA CẦM NĂM 2004-2006 Ở TỈNH HẬU GIANG
Trang 250 500,000
HÌNH 2: SỐ LƯỢNG GIA CẦM NĂM 2004-2006 Ở TỈNH HẬU GIANG
Sản lượng gia cầm (gà, vịt, vịt xiêm, ngỗng) từ năm 2004 đến năm 2006 thay
đổi không ổn định nhưng có xu hướng tăng dần (năm 2006)
Từ năm 2004-2005 số gia cầm giảm xuống 52.890 con, do số lượng gà, vịt, vịt xiêm, ngỗng đều giảm (gà giảm 301.120 con, vịt giảm 185.030 con, vịt xiêm, ngỗng giảm 66.740 con) bởi vì từ năm 2004- 2006 ở Hậu Giang điều bị ảnh hưởng bởi dịch cúm gia cầm Cục thú y đã chỉ đạo thiêu hủy một số lượng lớn gia cầm 41.696 con năm 2005 Mặc khác, chính quyền tỉnh cấm các lò ấp vịt ấp trứng, không cho vận chuyển gia cầm từ nơi khác đến, chính quyền địa phương cấm nuôi gia cầm ở những nơi đông dân để ngăn ngừ cúm bảo vệ sức khỏe cho con người vì thế mà số lượng gia cầm giảm xuống đột ngột
Từ năm 2005-2006, số lượng gia cầm bắt đầu tăng lên Năm 2006 tăng 1.116.363 con so với năm 2005 (trong đó: gà tăng 486.352 con, vịt tăng 552.298 con, vịt xiêm, ngỗng tăng 77.713 con) do các đợt cúm vừa qua đã làm cho số thịt, trứng gia cầm giảm xuống rất lớn và giá cả tăng các hộ thấy nuôi vịt có lời nên họ lén lút mua con giống từ địa phương khác về nuôi Đồng thời do tăng cường công tác chỉ đaọ
Trang 26phòng chống cúm nên trong năm 2006 hầu như không xảy ra ổ dịch nào lớn Số lượng gia cầm bị thiêu hủy không đáng kể Vì vậy mà
HÌNH 3: BIỀU ĐỒ THỂ HIỆN CƠ CẤU SẢN LƯỢ
sản lượng gia cầm bắt đầu tăng lên từ năm 2006
TỈNH HẬU GIANG
ng gia cầm 2.866.493 con chi
g cao nhất 1.742.308 con chiếm 60,8% và được nuôi chủ yếu dưới hình thức vịt đàn, số lượng gà 1.000.152 con chiếm 35%, vịt xiêm, ngỗng 124.033 con chiếm 4%
Tình hình phân bố đàn vịt trong tỉnh không điều, ta có bảng phân bố số gia cầmsau:
Trang 27hòng nông ậu Giang
ấy số lượng vịt phân bố không đều, nhiều nh
n Long Mỹ, huyện nuôi vịt ít nhất ở huyện Châu Thành Đến năm 2006 có thêm thị xã Tân Hiệp và có số lượng vịt thấp nhất 37.929 con
Trang 280 20000 40000 60000 80000 100000
Giai đoạn năm 2004-2005 số lượng trứng gia cấm giảm xuống 15.955 (1.000 quả), trong đó:
- Trứng già giảm 2,429 (1.000 quả) do số lượng gà giảm 301.120 con
- Trứng vịt giảm 12.755 (1.000 quả) do số lượng vịt giảm 185.030 con
- Trứng vịt xiêm, ngỗng giảm 765 (1.000 quả) do số lượng vịt xiêm, ngỗng giảm 66.740 con
Do số lượng đàn vịt giảm nên sản lượng trứng cũng giảm theo
Giai đoại năm 2005-2006 số lượng con gia cầm tăng lên nên sản lượng trứng gia cầm cũng tăng theo Tổng số trứng gia cầm tăng 33.432 (1.000 quả), trong đó:
- Trứng gà tăng 4.011 (1.000 quả) do số lượng gà tăng 486.352 con
- Trứng vịt tăng 28.717 (1.000 quả) do số lượng vịt tăng 552.298 con
Trang 29- Trứng vịt xiêm, ngỗng tăng 698 (1.000 quả) do số vịt xiêm, ngỗng tăng 77.713 con
3.2.2 Dịch cúm gia cầm
Dịch cúm gia cầm ở ĐBSCL đang diễn biến hết sức phức tạp Điều đáng lo ngại
là gần đây gia cầm dù đã tiêm phòng vẫn chết hàng loạt Nhiều người đặt vấn đề: liệu gia cầm có bị lờn thuốc?
Hậu Giang, một trong những “điểm nóng” nguy cơ bùng phát gia cầm Ông Nguyễn Văn Đâu, ở ấp 5, xã Thuận Hòa, huyện Long Mỹ bần thần: “Nghe nói tiêm phòng là an toàn, vậy mà đàn vịt 1.500 con của tôi đã phát bệnh
chết sau khi tiêm vaccine chưa được 1 tuần”
Còn đàn vịt 708 con đã 5 tháng tuổi của ông Hồ Văn Lác, ở xã Lương Tâm, huyện Long Mỹ cũng chết hàng loạt sau khi tiêm phòng 4 ngày, với các triệu chứng cúm gia cầm Theo thống kê Chi cục Thú y Hậu Giang, đến ngày 16-1, toàn tỉnh có 9 đàn gia cầm (chủ yếu là vịt) tổng số gần 4.000 con phát bệnh chết hàng loạt sau khi tiêm phòng
Gia cầm tiêu hủy gây ô nhiễm
Tại vùng dịch bùng phát dữ dội ở xã Thuận Hòa (Long Mỹ - Hậu Giang) gia cầm vẫn đang chết hàng loạt tại ấp 4, ấp 5 Việc tiêu hủy, tiêu độc sát trùng đang
được tiến hành nhưng còn nhiều bất cập
Cụ thể, đàn vịt 1.080 con của anh Nguyễn Vũ Phương bị cúm gia cầm được tiêu hủy ngày 11-1, hố chôn cách nhà chưa đầy 20m Sáng 16-1, hố chôn này đã bốc mùi hôi nồng nặc Người dân không chịu nổi phải báo với chính quyền địa phương và ngành thú y đem vôi bột rải thêm Còn hố chôn hơn 1.000 con vịt của anh Nguyễn Văn Đâu, ở ấp 5, xã Thuận Hòa chỉ được phun xịt thuốc sát trùng xung quanh 1 lần, không tiêu độc sát trùng trong bán kính 500m… Trước tình hình trên, Ban chỉ đạo phòng chống dịch cúm gia cầm tỉnh Hậu Giang, yêu cầu sát trùng đối với các ổ dịch trong vòng bán kính 500m mỗi ngày 1 lần
Và tiêu độc mỗi tuần 2 lần đối với nơi cách bán kính 1km
Trang 30Từ khi tái xuất hiện ổ dịch cúm gia cầm đầu tiên vào ngày 26/12/2006 ở huyện Long Mỹ, Ban chỉ đạo phòng chống dịch cúm gia cầm tỉnh Hậu Giang đã chỉ đạo ngành thú y và các địa phương khẩn trương triển khai các biện pháp phòng chống và ngăn ngừa dịch cúm gia cầm lây lan trên địa bàn
Biện pháp trước tiên là sau khi phát hiện có gia cầm bị nhiễm bệnh và chết, ngành thú y đã khẩn trương tiêu huỷ toàn bộ đàn gia cầm và gửi mẫu đi xét nghiệm, sau đó tiến hành tiêu độc khử trùng toàn bộ khu vực có gia cầm mắc bệnh, khẩn trương triển khai tiêm ngừa ở các khu vực có xuất hiện ổ dịch mới và cũ, những điểm mua bán gia cầm và sản phẩm gia cầm, những đàn gia cầm mới tái đàn chưa được tiêm phòng trong năm 2006 được hơn 15.000 liều vác- xin Ban chỉ đạo cũng đã giao cho các địa phương tăng cường công tác quản lý đàn gia cầm vận chuyển ra vào địa bàn, tuyệt đối không cho gia cầm ngoài tỉnh nhập vào Giao cho địa phương rà soát, nắm bắt lại lượng gia cầm chưa được tiêm phòng, kiểm soát đến đâu triển khai tiêm phòng đến đó bằng nguồn vác xin dự phòng, tăng cường công tác tuyên truyền vận động người dân khi phát hiện có gia cầm chết nhanh đột ngột phải báo cho lực lượng thú y để được xử lý nhanh chóng Tỉnh Hậu Giang cũng đã triển khai tháng hành động tiêu độc sát trùng , bắt đầu từ ngày 3/1/2007 trên phạm vi toàn tỉnh Đối tượng phun xịt là những ổ dịch cũ và mới Đối với chuồng trại chăn nuôi của dân thì khuyến khích người dân tự mua vôi bột để rải
Trước diễn biến phức tạp của dịch cúm gia cầm, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã tập trung chỉ đạo quyết liệt phòng, chống dịch cúm gia cầm
Theo đó, Ngành Nông nghiệp cần huy động các lực lượng nhằm tăng cường giám sát dịch bệnh đến từng cơ sở, hộ gia đình chăn nuôi để phát hiện sớm các ổ dịch,
áp dụng đồng bộ các biện pháp phòng, chống, bao vây dập tắt dịch ngay từ đầu, không
để dịch bệnh lây lan (có biện pháp xử lý nghiêm khắc nếu phát hiện dịch bệnh chậm hoặc có dịch không khai báo)
Tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ về các điều kiện thú y trong vận chuyển, buôn bán, giết mổ gia cầm nhất là tại các chợ, nơi đông dân cư, nơi có nguy cơ cao về
Trang 31dịch; chỉ buôn bán, sử dụng gia cầm, sản phẩm gia cầm có nguồn gốc xuất xứ và được kiểm soát của ngành thú y; đồng thời, triển khai công tác vệ sinh tiêu độc khử trùng Chủ tịch UBND huyện, thị xã chấn chỉnh ngay công tác tổ chức chỉ đạo phòng, chống dịch cúm gia cầm ở địa phương và hoạt động của Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh ở gia súc, gia cầm các cấp; đồng thời, phải chịu trách nhiệm trước Chủ tịch
Ủy ban nhân dân tỉnh nếu để dịch xảy ra do chủ quan, lơ là, chỉ đạo không quyết liệt các biện pháp phòng chống dịch cúm gia cầm Các cấp ủy Đảng và chính quyền phải chỉ đạo quyết liệt, xác định phòng, chống dịch cúm gia cầm và cúm A (H5N1) ở người là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và luôn đặt trong tư thế sẵn sàng tập trung sức triển khai thực hiện đồng bộ, có hiệu quả về công tác phòng, chống dịch bệnh
Hiện tại, nhiều hộ dân có gia cầm mắc bệnh cúm bị tiêu hủy rất bức xúc vì không được cán bộ ấp, xã và ngành thú y thông tin mức giá hỗ trợ, cũng như thời gian được hỗ trợ Ông Nguyễn Hiền Trung, Chi cục trưởng Chi cục Thú y Hậu Giang thừa nhận: “Thủ tục hỗ trợ tiêu hủy gia cầm còn qua nhiều khâu, quá rườm rà” Vấn đề này, chi cục đã đề nghị lên Sở Tài chính tỉnh sớm xem xét giải quyết
Trước diễn biến phức tạp của dịch cúm gia cầm, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã tập trung chỉ đạo quyết liệt phòng, chống dịch cúm gia cầm
Theo đó, Ngành Nông nghiệp cần huy động các lực lượng nhằm tăng cường giám sát dịch bệnh đến từng cơ sở, hộ gia đình chăn nuôi để phát hiện sớm các ổ dịch,
áp dụng đồng bộ các biện pháp phòng, chống, bao vây dập tắt dịch ngay từ đầu, không
để dịch bệnh lây lan (có biện pháp xử lý nghiêm khắc nếu phát hiện dịch bệnh chậm hoặc có dịch không khai báo)
Tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ về các điều kiện thú y trong vận chuyển, buôn bán, giết mổ gia cầm nhất là tại các chợ, nơi đông dân cư, nơi có nguy cơ cao về dịch; chỉ buôn bán, sử dụng gia cầm, sản phẩm gia cầm có nguồn gốc xuất xứ và được kiểm soát của ngành thú y; đồng thời, triển khai công tác vệ sinh tiêu độc khử trùng
Trang 32Chủ tịch UBND huyện, thị xã chấn chỉnh ngay công tác tổ chức chỉ đạo phòng, chống dịch cúm gia cầm ở địa phương và hoạt động của Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh ở gia súc, gia cầm các cấp; đồng thời, phải chịu trách nhiệm trước Chủ tịch
Ủy ban nhân dân tỉnh nếu để dịch xảy ra do chủ quan, lơ là, chỉ đạo không quyết liệt các biện pháp phòng chống dịch cúm gia cầm Các cấp ủy Đảng và chính quyền phải chỉ đạo quyết liệt, xác định phòng, chống dịch cúm gia cầm và cúm A (H5N1) ở người là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và luôn đặt trong tư thế sẵn sàng tập trung sức triển khai thực hiện đồng bộ, có hiệu quả về công tác phòng, chống dịch bệnh
Từ năm 2004 đến nay Hậu Giang xảy ra bốn đợt cúm Đã thiêu hủy một số lượng lớn gia cầm làm thiệt hại rất lớn về tài sản đối với người chăn nuôi cụ thể như sau:
Đợt 1: Từ ngày 21/01/2004 đến 03/03/2004 đã xảy ra dịch cúm trên 9/60 xã, phường, thị trấn thuộc 4/6 đơn vị huyện, thị xã (Châu Thành, Châu Thành A, Phụng Hiệp, thị xã Vị Thanh) Số điểm phát dịch: 17 điểm, làm thiệt hại: 175.243 con gia cầm Trong đó:
• Trong ổ dịch: 25.634 con
• Hủy trong bán kính 3 km: 81.544 con
• Dân tự tiêu hủy: 68.065 con
Đợn 2: Từ ngày 09/07/2004 đến 13/09/2004 đã có 7/60 xã, phường, thị trấn thuộc 3/6 đơn vị huyện (Châu Thành A, Phụng Hiệp, Long Mỹ) Số điểm phát dịch:14 điểm, làm thiệt hại: 50.029 con
• Trong ổ dịch: 17.698 con
• Công ty cổ phần tự tiêu hủy: 31.700 con
• Dân nuôi lẻ tự tiêu hủy: 631 con
Đợt 3: Từ 10/12/2004 đến 05/04/2005 đã có 21/60 đơn vị xã, phường, thị trấn thuộc 6/6 đơn vị huyện thị phát dịch Số điểm phát dịch: 41 điểm, thiệt hại: 41.696 con Trong đó:
• Trong ổ dịch: 34.152 con
• Hủy do nghi ngờ bị cúm: 3.206 con
Trang 33• Hủy do huyết thanh đơn tính: 4.338 con
HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA NÔNG HỘ Ở TỈNH HẬU GIANG
4.1 THÔNG TIN CHUNG VỀ HỘ CHĂN NUÔI
BẢNG 5: BẢNG MÔ TẢ TÌNH TÌNH HÌNH CHUNG HỘ CHĂN NUÔI
+ Tuổi chủ hộ
Trang 34(Số liệu điều tra năm 2007)
Qua số liệu điều tra ta thấy người chủ trong gia đình chủ yếu là nam, họ cũng là người trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất trong gia đình Nhất là việc chăn vịt chủ hộ là người nắm rất rõ
Độ tuổi không quá cao là đặc điểm chung của những người nuôi vịt, cao nhất là
72 tuổi, thấp nhất là 34 tuổi, còn lại đa phần nằm trong độ tuổi lao động từ 30 tuổi đến
50 tuổi Đối với những người có độ tuổi cao thì do thành viên trong gia đình trực tiếp chăn Với độ tuổi như trên thì chăn nuôi vịt chạy đồng là một công việc tương đối phù hợp Vì vậy đa phần, trình độ văn hóa của chủ hộ thấp cao nhất là trung học phổ thông, đa số là ở bậc tiểu học và trung học cơ sở nhưng cũng có một số người mù chữ Kinh nghiệm chăn nuôi vịt họ có được do sự tích lỹ từ bản thân Bên cạnh đó họ còn học hỏi từ bạn bè, những người chăn nuôi lâu năm Một số người khác còn học hỏi từ
Trang 35các chương trình hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi trên đài, ti vi chiếm 25% tổng số mẫu
Giá trị nhỏ nhất
Giá trị trung bình
(Số liệu điều tra năm 2007)
Trong gia đình bình quân mỗi hộ có 5 người, nữ là 2, nam là 2 người cho thấy
lực lượng lao động tương đối nhiều Các hộ có số người đông nhất là 11 người, nhiều
nhất 5 lao động nữ và 5 lao động nam Hộ có số người ít nhất 2 người trong đó có 1
lao động nam và 1 lao động nữ Đây là nguồn lực lao động dòi dào đảm bảo cung cấp
cho hoạt động chăn nuôi đồng thời còn tham gia các hoạt động lao động khác
Nhìn chung các hộ chăn nuôi vịt chạy đồng có nhiều năm kinh nghiệm trung
bình 14,8 năm, người có mức độ thâm niên nhất là 57 năm, người có số năm trong
nghề thấp nhất cũng được 2 năm Ngoài ra cũng còn có một số hộ mới tham gia chăn
nuôi nhưng trước khi họ quyết định làm thì họ cũng đã nắm bắt kinh nghiêm chăn
nuôi do được sự hướng dẫn của người thân, bạn bè
4.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CHĂN NUÔI VỊT CHẠY ĐỒNG CỦA NÔNG HỘ