2.2 Phương pháp nghiên cứu 2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu Vùng nghiên cứu được chọn theo cách là: liên hệ phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tam Bình để biết được
Trang 1MỤC LỤC
Chương 1: GIỚI THIỆU……….……….1
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu……….……….1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu………….………2
1.2.1 Mục tiêu chung……….……… 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể……….……… 2
1.3 Các giả thiết cần kiểm định và câu hỏi nghiên cứu……….………….3
1.3.1 Các giả thiết cần kiểm định……… ……… 3
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu……….………3
1.4 Phạm vi nghiên cứu……….……….3
1.4.1 Không gian……….……….……3
1.4.2 Thời gian……….………3
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu……….………3
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 4
2.1 Phương pháp luận……….……… 4
2.1.1 Khái quát thống kê và dự báo……….………4
2.1.2 Khái quát về chi phí và lợi nhuận……….………… 4
2.1.3 Khái quát về phân tích hồi quy……….………… 5
2.1.4 Khái quát về chăn nuôi gà công nghiệp……….…….6
2.1.5 Vai trò của kinh tế hộ trong nền kinh tế - xã hội nước ta……….……… 9
2.2 Phương pháp nghiên cứu ……….10
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu……….…………10
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu……….……… ………10
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu……… 10
Chương 3: THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI GÀ CÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN TAM BÌNH………….……….11
3.1 Giới thiệu tổng quan về địa bàn nghiên cứu……….………… 11
3.1.1 Khái quát toàn cảnh Vĩnh Long……….……… 11
3.1.2 Vị trí địa lí của huyện Tam Bình……….……….11
Trang 23.1.4 Đặc điểm kinh tế huyện……….……… 14
3.1.5 Cơ sở hạ tầng……….……… 14
3.2 Những thuận lợi và khó khăn của ngành chăn nuôi gia cầm sau khi nước ta gia nhập WTO……… 15
3.2.1 Thuận lợi……….……… 15
3.2.2 Khó khăn……….……… 15
3.3 Mục tiêu và phương hướng phát triển gia cầm trong thời gian tới…………16
3.3.1 Mục tiêu ……….………16
3.3.2 Phương hướng phát triển trong thời gian tới………16
3.4 Thực trạng chăn nuôi gà công nghiệp của huyện……….……… 17
3.4.1 Các giống gà đang được nuôi ở huyện Tam Bình……….……… 17
3.4.2 Tình hình chăn nuôi gà ở huyện Tam Bình qua các năm 2004-2006… 18
3.4.3 Đặc điểm cơ bản về hộ chăn nuôi gà công nghiệp ở huyện Tam Bình……… …20
3.4.4 Đặc điểm chuồng trại của các hộ chăn nuôi gà công nghiệp ở huyện… 21
3.4.5 Đặc điểm chăn nuôi của các hộ chăn nuôi gà công nghiệp ở huyện Tam Bình………….……… ……… …24
3.4.6 Kĩ thuật chăn nuôi của các hộ chăn nuôi gà công nghiệp ở huyện Tam Bình……….……….………….25
3.4.7 Hiệu quả chăn nuôi của các hộ chăn nuôi gà công nghiệp ở huyện Tam Bình……….……….27
3.4.8 Tình hình tiêu thụ của các hộ chăn nuôi gà công nghiệp ở huyện Tam Bình……….……… ……30
Chương 4: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHĂN NUÔI GÀ CÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN TAM BÌNH……….…………32
4.1 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tổng chi phí của hộ chăn nuôi gà công nghiệp……….……….………32
4.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của hộ chăn nuôi gà công nghiệp……….………34
4.3 Dịch bệnh ……… 38
4.4Con giống 40
Trang 34.5 Môi trường 40
4.6 Giá cả thức ăn 41
4.7 Trình độ kĩ thuật của người chăn nuôi 41
4.8 Nguồn vốn đầu tư 42
4.9 Thị trường tiêu thụ 42
4.10 Nguyên nhân tồn tại 42
Chương 5: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI GÀ CÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN TAM BÌNH……….43
5.1 Giải pháp nâng cao thu nhập cho người chăn nuôi……….43
5.2 Giải pháp giảm giá thành thức ăn trong chăn nuôi gà công nghiệp 43
5.3 Giải pháp phòng chống dịch bệnh trong chăn nuôi gà công nghiệp……… 43
5.4 Giải pháp chuyển đổi sản xuất và quản lí đàn giống 44
5.5 Giải pháp nâng cao trình độ kĩ thuật của người chăn nuôi……….45
5.6 Giải pháp tạo nguồn vốn……….………45
5.7 Giải pháp về thị trường tiêu thụ……… 46
Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ………47
6.1 Kết luận……… ………47
6.2 Kiến nghị………47
Trang 4DANH MỤC BIỂU BẢNG
Trang
Bảng 1: Nhu cầu dinh dưỡng của gà đẻ trứng thương phẩm 7
Bảng 2: Nhu cầu dinh dưỡng của gà thịt 8
Bảng 3: Mật độ dân số của huyện theo thành thị và nông thôn 14
Bảng 4: Tình hình chăn nuôi gà ở huyện Tam Bình qua các năm vừa qua 19
Bảng 5: Trình độ văn hóa của hộ chăn nuôi gà công nghiệp 20
Bảng 6: Lí do chọn nuôi gà công nghiệp 21
Bảng 7: Cách bố trí máng ăn máng uống 22
Bảng 8: Các dụng cụ mà trại sử dụng 22
Bảng 9: Giống gà công nghiệp thường được nuôi 24
Bảng 10: Số lượng nuôi, số lượng chết và trọng lượng bình quân của một lứa gà 25
Bảng 11: Sự tham gia lớp học kĩ thuật chăn nuôi của chủ trại 25
Bảng 12: Các loại nước mà trại thường cho gà uống 26
Bảng 13: Các loại chi phí trong chăn nuôi gà công nghiệp cho một lứa gà 27
Bảng 14: Các loại chi phí trong chăn nuôi gà công nghiệp/100 con 29
Bảng 15: Hiệu quả chăn nuôi gà công nghiệpcho một lứa nuôi 30
Bảng 16: Những người thu mua gà 31
Bảng 17: Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tổng chi phí 33
Bảng 18: Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập 36
Trang 5Ở phía Bắc, ngay trong những năm còn chiến tranh, được sự giúp đỡ của các nước Hungari, Bulgari ta đã xây dựng được một số cơ sở nuôi gà công nghiệp hiện đại Đặc biệt, để chuẩn bị cho kế hoạch phát triển ngành trong tương lai, Cuba đã giúp ta xây dựng một loạt các trung tâm giống quốc gia và đào tạo một đội ngũ đông đảo cán bộ và công nhân kĩ thuật chuyên ngành có trình độ quốc tế Mãi cho đến nay, chúng ta tự hào ngành gà Việt Nam tuy sinh sau đẻ muộn, còn nhiều khó khăn, nhưng là một trong các quốc gia có những trung tâm giống gà dòng thuần, đủ điều kiện tự túc con giống gà công nghiệp trong kế hoạch phát triển kinh tế vĩ mô
Sau ngày đất nước thống nhất, trong hoàn cảnh chưa thuận lợi, nhưng ngành gà cũng đã có dịp phát huy được tiềm năng của mình Hàng chục cơ sở nuôi gà qui mô lớn của Trung ương và địa phương, hàng trăm trại gà qui mô vừa và nhỏ của hợp tác
xã, tư nhân được phục hồi, mở rộng hoặc xây dựng mới Ngoài ra mạng lưới nuôi gà công nghiệp ở hộ dân được phát triển rộng khắp
Tuy nhiên, quá trình đi lên của ngành gà của ta đã trải qua những bước thăng trầm như các ngành chăn nuôi khác, bị chi phối bởi nhiều trình độ phát triển kinh tế,
xã hội chưa cao Đặc biệt ngành chưa được quản lí phát triển vĩ mô, nên tất yếu còn
bị ảnh hưởng trực tiếp của tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu, cũng như mọi biến động bất lợi của thị trường
Triển vọng phát triển ngành gà công nghiệp của ta trong tương lai rất lạc quan, mặc dù trước mắt đang còn nhiều khó khăn phải khắc phục Những trở ngại đối với
sự đi lên của ngành thể hiện trên nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực, trong đó có yếu tố kĩ
Trang 6gà thế giới vào thực tế sản xuất trong nước còn khó khăn do điều kiện vật chất và nhận thức
Trong những năm qua ngành chăn nuôi gà công nghiệp nước ta đang gặp nhiều khó khăn thử thách do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm Ở huyện Tam Bình-Vĩnh long ngành chăn nuôi gà công nghiệp đang suy thoái do ảnh hưởng của dịch cúm Vì vậy, để phát triển lại ngành chăn nuôi gà công nghiệp của huyện thì phải tìm những nguyên nhân làm cho chăn nuôi gà công nghiệp suy thoái, phân tích xem chăn nuôi
gà công nghiệp có đem lại hiệu quả cao không rồi từ đó đưa ra những giải pháp thích hợp để chăn nuôi gà công nghiệp phát triển Với lí do trên em đã chọn đề tài
“phân tích hiệu quả chăn nuôi gà công nghiệp ở huyện Tam Bình - Vĩnh Long” để nghiên cứu
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung là xem xét tình hình hiện tại chăn nuôi gà công nghiệp ở huyện Tam Bình để có phương hướng và giải pháp phát triển chăn nuôi gà công nghiệp làm cho huyện Tam Bình ngày càng phát triển, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, từng bước nâng cao mức thu nhập của người dân trong huyện
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu cụ thể là đánh giá hiệu quả của những hộ chăn nuôi gà công nghiệp, từ
đó mà xem xét coi có mang lại lợi nhuận không, những khó khăn nào mà người chăn nuôi gặp phải như: con giống, thức ăn, tiêu thụ ,dịch bệnh để mà từ đó tìm ra các giải pháp để hỗ trợ cho những hộ chăn nuôi có hiệu quả hơn, đem lại thu nhập cao cho họ bao gồm:
- Phân tích hiệu quả chăn nuôi gà công nghiệp ở huyện Tam Bình - tỉnh Vĩnh Long thông qua chỉ tiêu thu nhập của hộ
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của hộ chăn nuôi gà công nghiệp
- Đưa ra những giải pháp khắc phục khó khăn góp phần làm tăng lợi nhuận cho người chăn nuôi gà công nghiệp ở huyện
Trang 71.3 Các giả thuyết cần kiểm định và câu hỏi nghiên cứu
1.3.1 Các giả thiết cần kiểm định
Các yếu tố đầu vào không tác động đến chăn nuôi gà công nghiệp
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu là những câu hỏi giải đáp về:
- Chăn nuôi gà công nghiệp có đem lại thu nhập cao cho các hộ chăn nuôi ở huyện Tam Bình
- Các yếu tố đầu vào có tác động đến chăn nuôi gà công nghiệp không
Các số liệu được thu thập là các vụ chăn nuôi gà trong năm 2006
Thời gian điều tra phỏng vấn thu số liệu là từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2007
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu
Những hộ chăn nuôi gà công nghiệp tại huyện Tam Bình - Tỉnh Vĩnh Long
Trang 8CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp luận
2.1.1 Khái quát thống kê và dự báo
Một cách khái quát, thống kê được định nghĩa như là tổng hợp các phương pháp
lí thuyết và ứng dụng vào lĩnh vực kinh tế và kinh doanh bằng cách rút ra các kết luận dựa trên số liệu và thông tin được thu thập trong điều kiện không chắc chắn
Dự báo là một trong những công việc không thể thiếu được trong các lĩnh vực khác nhau, thông qua dự báo người ta có thể đoán trước được xu hướng biến động hay có một kế hoạch cho một vấn đề nào đó Nhu cầu dự báo trong kinh doanh rất cần thiết và quan trọng, chẳng hạn như những quyết định đầu tư phải được đưa ra trước khi sản phẩm mới tung ra thị trường Vì vậy, dự báo thị trường trong điều kiện không chắc chắn trong tương lai là một điều hiển nhiên
2.1.2 Khái quát về chi phí và lợi nhuận
Tổng chi phí (TC) được hiểu là tổng chi phí tài nguyên tính theo giá thị trường
sử dụng cho quá trình sản xuất kinh doanh
Trang 9+ Điện nước, xăng dầu, vận chuyển
+ Sữa chữa thường xuyên
+ Sữa chữa lớn
+ Lãi suất ngân hàng
+ Chi phí khác
2.1.2.2 Lí thuyết về lợi nhuận
- Doanh thu: doanh thu được hiểu là số tiền thu được do tiêu thụ sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ
TR = P.Q hay TR = f(Q)
Trong đó:
P là giá cả (giá bán) hàng hóa hay dịch vụ
Q là khối lượng sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ
Doanh thu trong chăn nuôi gà công nghiệp là:
Trang 102.1.3 Khái quát về phân tích hồi quy
Phân tích hồi quy là nghiên cứu mối quan hệ phụ thuộc của một biến (gọi là biến phụ thuộc hay biến giải thích) với một hay nhiều biến khác (được gọi là (các) biến độc lập hay giải thích) nhằm ước lượng hoặc dự báo giá trị trung bình của biến phụ thuộc với các giá trị đã biết của (các) biến độc lập
Các kí hiệu: Y - biến phụ thuộc hay biến được giải thích
X - biến độc lập hay biến giải thích
Phân tích hồi quy giải quyết các vấn đề sau đây:
- Ước lượng giá trị trung bình của biến phụ thuộc với giá trị đã cho của biến độc lập
- Kiểm định giả thiết về bản chất của sự phụ thuộc
- Dự đoán giá trị trung bình của biến phụ thuộc khi biết giá trị trung bình của biến độc lập
- Kết hợp các vấn đề trên
Phương trình hàm hồi quy tuyến tính nhiều chiều có dạng:
y = a + b x + b1 1 2x + b x + … + b x + u 2 3 3 n k t Trong đó y: Biến phụ thuộc
2.1.4 Khái quát về kĩ thuật chăn nuôi gà công nghiệp
2.1.4.1 Chăn nuôi gà đẻ thương phẩm
- Chuồng trại:
+ Nếu áp dụng phương pháp nuôi nền, nên chọn địa điểm xây dựng chuồng ở nơi cao ráo, dễ thoát nước Xung quanh chuồng có rèm che tránh mưa tạt, gió lùa và giúp điều chỉnh nhiệt độ khi cần thiết Trước cửa mỗi chuồng và khu nuôi cần xây
Trang 11hố sát trùng, chất sát trùng thường dùng là formol 2%, Cresyl 3% Trong chuồng rải chất độn khô sạch
+ Nuôi chuồng lồng thường sử dụng các loại lồng kẽm 40x40x120cm, có 3 ngăn nhốt, với mật độ từ 6-9 gà tuỳ giống Sàn lồng nghiên và trải rộng về phía trước lồng 25cm để hứng trứng khi đẻ, trứng sẽ lăn ra ngoài sàn trống trước lồng
- Máng ăn uống: Nếu nuôi nền, phổ biến dùng máng ăn tròn tự động, sử dụng bình quân cho 17 con/máng Máng được treo cao ngang tầm lưng gà Khi đổ thức ăn không nên quá 2/3 chiều cao máng Đổ và lắc thức ăn trong máng ngày 3-4 lần Chuồng lồng, sử dụng máng dài cao 8cm, bình quân 10cm/gà Máng uống nuôi nền thường dung máng dài dọc chuồng có nước chảy liên tục bình quân 5cm/gà Nuôi lồng sử dụng máng dài có miệng rộng 5-7cm, cao 5cm được đặt phía trên và cách máng ăn 15cm
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trong chuồng nuôi thích hợp để gà đẻ tốt, ở vùng nhiệt đới thường sử dụng ở mức 20-25 độ Chuồng có thông thoáng tốt, độ ẩm tương đối thường đặt ở mức 70%
- Chiếu sáng: Trong thời gian gà đẻ, chiếu sáng thích hợp cho các giống là 16 giờ/ngày đêm, với công suất 4W/m và cường độ chiếu sáng từ 20-30 lux 2
- Nuôi dưỡng: Trong giai đoạn đầu đẻ trứng, tỉ lệ đẻ đạt đến đỉnh cao nhất lúc gà đạt 35 tuần tuổi (hoặc có thể lâu hơn tuỳ giống gà) Giai đoạn đầu này gà được cho
ăn khẩu phần gần như cho ăn tự do để gà đạt được năng suất cao nhất Ở giai đoạn
đẻ tiếp theo, thì phải dựa trên tỉ lệ đẻ của gà mà điều chỉnh khẩu phần cho thích hợp
để tránh lãng phí thức ăn
Bảng 1: NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA GÀ ĐẺ TRỨNG THƯƠNG PHẨM
Chất dinh dưỡng Đơn vị Giai doạn từ
Trang 122.1.4.2 Nuôi gà thịt
- Chuồng trại: Chuồng nuôi gà thịt thường được xây dựng ở nơi cao ráo, có nền
dễ thoát nước Tường và nền chuồng dễ vệ sinh Xung quanh chuồng có rèm che và cũng được vệ sinh sạch sẽ Chất độn chuồng phải thật khô sạch và có khả năng hút
ẩm tốt
- Úm gà con: trong chụp úm có thể dùng bóng đèn điện, đèn hồng ngoại, bếp điện, than, dầu Đèn úm thường treo cao 30-40cm Khoảng cách đèn treo có thể thay đổi tuỳ thuộc phản ứng của gà với nguồn nhiệt
- Máng ăn uống: ở tuần tuổi đầu dùng khai ăn 70x70cm cho 100 gà 1 ngày tuổi, sang tuần tuổi thứ 2 dùng máng ăn dài 5cm/gà hay máng tròng 50 gà/máng Nhu cầu máng uống ở tuần tuổi đầu dùng máng 4 lít/50gà, ngày thay nước 2-3 lần, những ngày sau đó có thể dùng máng dài 4cm/gà hoặc máng tự động 1,3cm/gà
- Chiếu sáng: trong vòng 1-3 tuần lễ đầu, thời gian chiếu sáng gần như liên tục 24/24, với công suất đèn 3-4W/m Sang tuần 4 trở đi chiếu sáng 18giờ/ngày và giữ nguyên công suất 3-4W/m
2 2
- Chế độ nuôi dưỡng: trong chăn nuôi gà thịt công nghiệp, thức ăn thường được phân làm 3 loại, là thức ăn khởi động cho gà từ 0-2 hoặc 3 tuần tuổi; thức ăn cho gà sinh trưởng từ 4-5 tuần tuổi và thức ăn kết thúc (vỗ béo) 6-7 tuần tuổi Nhìn chung các loại thức ăn này đều có mức năng lượng và protein cao
Trang 13Bảng 2: NHU CẦU DINH DƯỠNG CƠ BẢN CỦA GÀ THỊT
Chất dinh dưỡng Đơn vị 0-3 tuần
tuổi
4-5 tuần tuổi
6-7 tuần tuổiNăng lượng trao
2.1.5 Vai trò của kinh tế nông hộ trong nền kinh tế - xã hội nước ta
Sự khôi phục và phát triển của kinh tế hộ gia đình không chỉ có hiệu quả với sản xuất
nông nghiệp và kinh tế nông thôn mà còn tác động mạnh mẽ đến các quan hệ xã hội,
gắn liền với tổ chức kinh tế hộ gia đình cũng như với toàn bộ đời sống xã hội của các
nhóm nông dân Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của
nông nghiệp và nông thôn Các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau chặt chẽ trước
tiên bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, dựa trên cơ sở huyết thống, ngoài ra còn do
truyền thống qua nhiều đời, do phong tục tập quán, tâm lí đạo đức gia đình, dòng họ Về
kinh tế, các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau trên các mặt quan hệ sở hữu,
quan hệ quản lí và quan hệ phân phối, mà cốt lõi của nó là quan hệ lợi ích kinh tế Các
thành viên trong nông hộ có cùng mục đích và cùng lợi ích chung là làm cho hộ mình
ngày càng phát triển, ngày càng giàu có Trong mỗi nông hộ thường bố mẹ vừa là chủ
hộ, vừa là người tổ chức việc hiệp tác và phân công lao động trong gia đình, vừa là
người lao động trực tiếp Các thành viên trong hộ cùng lao động, gần gũi nhau về khả
năng, trình độ, tình hình và hoàn cảnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân công và
hiệp tác lao động một cách hợp lí
Trang 14Ở Việt Nam, kể từ khi công cuộc đổi mới được tiến hành một cách toàn diện vào năm 1988, ruộng đất được giao cho các hộ nông dân canh tác, công việc sản xuất kinh doanh hoàn toàn do các hộ tự chịu trách nhiệm, kinh tế hộ trở thành đơn vị kinh tế độc lập và các hợp tác xã chỉ còn chức năng cung cấp các dịch vụ nông nghiệp Kinh tế hộ gia đình thường là đa ngành nghề nhưng cho đến nay nông nghiệp vẫn còn là cơ sở và là chỗ dựa cho mọi hoạt động kinh tế khác của nó Kinh
tế nông hộ mặc dù còn ở quy mô sản xuất nhỏ và phân tán, nhưng có vai trò hết sức quan trọng để phát triển nông nghiệp Kinh tế nông hộ góp phần tăng nhanh sản lượng lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp và xuất khẩu, góp phần sử dụng tốt hơn đất đai, lao động, tiền vốn, tăng thêm việc làm ở nông thôn và tăng thêm thu
nhập cho nhân dân
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Vùng nghiên cứu được chọn theo cách là: liên hệ phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tam Bình để biết được những xã nào có chăn nuôi gà công nghiệp nhiều thì ta chọn những xã đó để đi điều tra
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách tiến hành phỏng vấn trực tiếp (nhờ phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tam Bình cho địa chỉ các hộ chăn nuôi gà công nghiệp rồi đi phỏng vấn một cách ngẫu nhiên theo từng hộ)
Số liệu thứ cấp được thu thập bằng cách tham khảo những bài báo cáo về chăn nuôi gà công nghiệp của phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tam Bình, tham khảo số liệu từ niên giám thống kê huyện Tam Bình năm 2006, tham khảo số liệu từ sách, báo, Internet
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu được xử lý trên các phần mềm Excel, SPSS
Trong quá trình xử lý và phân tích có sử dụng các phương pháp:
Trang 15+ Phương pháp thống kê mô tả
+ Phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính
Trang 16CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI GÀ CÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN
TAM BÌNH
3.1 Giới thiệu tổng quan về địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Khái quát toàn cảnh Vĩnh Long
Vĩnh Long nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, diện tích 1.487 km2, gồm thị xã Vĩnh Long và 6 huyện: Long Hồ, Mang Thích, Bình Minh, Tam Bình, Trà Ôn và Vũng Liêm Sông rạch chằn chịt, phù sa màu mỡ Tỉnh Vĩnh Long nằm ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long Vĩnh Long ngày nay là tỉnh bản lề nối miền tây với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông nam bộ Vĩnh Long cách thành phố
Hồ Chí Minh 136 km, bắc giáp với Tiền Giang, Tây giáp với Đồng Tháp, phía đông giáp với Bến Tre, đông nam giáp với Trà Vinh, phía nam giáp với Hậu Giang, tây nam giáp với Cần Thơ Quốc lộ 1A về miền tây đã nâng cấp xong, cầu Mỹ Thuận đã
đi vào sử dụng và cầu Cần Thơ đang được xây dựng Vì thế giao thông thủy bộ của tỉnh Vĩnh Long rất thuận lợi, đáp ứng nhu cầu vận chuyển, trao đổi nguyên liệu và hàng hóa khắp cả nước Do tiếp giáp với tỉnh bạn nên Vĩnh Long trở thành trung tâm của vùng nông sản và thủy sản dồi dào nhất khu vực miền tây nam bộ
Hầu hết diện tích của tỉnh có nước ngọt quanh năm và hàng năm được bồi đắp một lượng phù sa của sông tiền và sông hậu, đất dai rất màu mỡ, khí hậu nhiệt đới hai mùa Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
10, nhiệt độ trung bình là 270c, lượng mưa trung bình hàng năm là 1300 - 1500mm
do đó thích hợp cho việc trồng lúa, màu và các cây trồng đặc sản như: bưởi năm roi, cam, quýt, nhãn, xoài, chôm chôm cùng các loại thủy sản nước ngọt: tôm càng xanh, cá ba sa và chăn nuôi như: heo, bò gà Với dân số trên 1.110.000 người, gồm các dân tộc chính Kinh, Khmer và hoa cùng làm ăn và sinh sống trên một diện tích Nguồn lao động dồi dào, trình độ dân trí và tiếp thu nhanh những kiến thức khoa học công nghệ tiên tiến
3.1.2 Vị trí địa lí của huyện Tam Bình
Huyện Tam Bình thuộc địa phận tỉnh Vĩnh Long, phía Đông-Nam giáp với quốc
lộ 1A, phía Nam giáp với huyện Bình Minh, phía Bắc giáp với huyện Vũng Liêm, phía Tây giáp với huyện Trà Ôn, phía Đông giáp với huyện Long Hồ
Trang 173.1.3.1 Đặc điểm tự nhiên
- Khí hậu, thời tiết, lượng mưa
Huyện Tam Bình cũng như bao huyện khác thuộc địa phận tỉnh Vĩnh Long cho nên cũng chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhiệt đới cận xích đạo Các yếu
tố khí hậu được phân bố theo hai mùa: mưa trong năm khá rõ rệt mùa mưa bắt đầu
từ tháng 5 và chấm dứt vào tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến cuối tháng 4 năm sau
Huyện có 3 hướng gió chủ yếu trong năm: từ tháng 1-6 gió Đông - Nam gây khô
và nóng, từ tháng 6-11 gió Tây - Nam thổi từ biển vào nên mang nhiều hơi nước do
đó có mưa nhiều trong những tháng này và thường xảy ra lốc xoáy làm thiệt hại nhiều nơi trong huyện, từ tháng 11-12 thì gió Đông - Bắc gây khô và lạnh
- Thuỷ văn nguồn nước
Huyện là vùng có nước ngọt quanh năm nhờ những nhánh sông Tiền và sông Hậu, lượng nước đủ cho người dân sinh hoạt và tưới tiêu trong suốt cả năm, và tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thông đường thủy Nhưng huyện có hệ thống sông rạch khá lớn cho nên việc lũ về không tránh khỏi việc ngập ở một số nơi đất trũng
và những vùng chưa có đê bao hay đê bao bị xuống cấp như các xã Ngãi Tứ, Song Phú, Mỹ Lộc
- Địa hình:
Tương đối bằng phẳng, bên cạnh đó cũng có một số vùng trũng và gò như ở xã Ngãi Tứ nhưng bị chia cắt bởi hệ thống sông rạch
Trang 18Đất phù sa có diện tích 139,86 ha chiếm 17% diện tích tự nhiên của huyện, phân
bố đều khắp các xã trong huyện, nhìn chung loại đất này là loại đất tốt, hầu hết là diện tích đất phát triển và được bồi phù sa hàng năm, do đó đất thích hợp cho các cây trồng nhiệt đới như lúa, hoa màu
Nhóm đất phèn diện tích 46,62 ha phân bố chủ yếu ở xã Loan Mỹ, Ngãi Tứ và một số xã khác lân cận hướng sử dụng thích hợp loại đất này là canh tác nông nghiệp, trồng lúa và trồng lúa màu: 1 vụ lúa 2 vụ màu hoặc 2 vụ lúa 1 vụ màu với các giống chịu phèn hoặc trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày chịu phèn để cải tạo đất
Nhóm đất liếp diện tích 932,4 ha phân bố tập trung theo các kênh rạch, khu dân
cư Đất liếp là đất đã chịu sự tác động của con người, tất cả các loại đất thổ cư, đã xây dựng, và chuyên dùng khác có thể xếp vào nhóm đất này Đất không bị ngập lũ, thành phần lí hoá đã bị thay đổi do quá trình sử dụng và có thể thay đổi dạng liếp để phục vụ cho việc canh tác và các cây trồng khác nhau
Tam Bình có 3 dân tộc chính đó là dân tộc kinh chiếm 90%, Khmer chiếm 8,7%
và phần còn lại là dân tộc Hoa Trong tổng dân số có khoảng 10.593 theo tôn giáo bao gồm Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài nhìn chung niềm tin tôn giáo không ảnh hưởng đến tập quán sản xuất của người dân
Trang 19Bảng 3: MẬT ĐỘ DÂN SỐ CỦA HUYỆN THEO THÀNH THỊ VÀ
NÔNG THÔN
Chỉ tiêu Diện
tích (km
Số ấp (khóm)
Số hộ Dân số
( người)
Mật độ (người/km
Nguồn: Phòng thống kê huyên Tam Bình
3.1.4 Đặc điểm kinh tế huyện
- Giá trị sản xuất nông - lâm - thuỷ sản: nhìn chung giá trị sản xuất nông lâm
thuỷ sản của huyện luôn tăng qua các năm theo giá cố định năm 1994, năm sau cao hơn năm trước Nhưng đi vào chi tiết thì giá trị của ngành nông nghiệp thì giá trị của ngành nông nghiệp như trồng trọt thì mới tăng liên tục qua các năm, còn ngành chăn nuôi thì giảm vào năm 2006 giảm hơn so với năm 2005 là 5.806 triệu đồng Còn ngành thuỷ sản tăng qua các năm, năm 2006 tăng hơn so với 2005 là 7.323 triệu đồng Ngành chăn nuôi giảm là do sự ảnh hưởng của dịch cúmm gia cầm tác động đến
- Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá hiện hành: Giá trị ngành nông nghiệp
luôn tăng theo giá hiện hành Tổng giá trị nông nghiệp vào năm 2006 là 1.082.387 triệu đồng
3.1.5 Cơ sở hạ tầng
- Về thủy lợi: Toàn huyện đều có đê bao để ngăn nước, để chủ động trong việc sử dụng nước tưới tiêu, nhưng đê bao chưa khép kín toàn huyện cũng như ở một số xã nên còn bị ngập nước lớn về vào tháng chín
- Về hệ thống điện: toàn huyện đều sử dụng điện lưới quốc gia, các xã trong huyện đều có điện đến tận nhà người nông dân
Trang 20- Về giao thông: huyện có nhiều thuận lợi trong việc giao thông kể cả đường bộ
và đường thủy Về đường bộ thì có lộ xuyên qua các xã và xe bốn bánh có thể luân chuyển cả hai mùa mưa nắng, hệ thống đường trải nhựa cũng khá dày đặc dọc theo các tuyến đê bao Về đường thủy thì có hệ thống sông khá nhiều có thể lưu thông những tàu, ghe có trọng tải lớn để vào mùa thu mua những sản phẩm nông nghiệp của nông hộ
3.2 Những thuận lợi và khó khăn của ngành chăn nuôi gia cầm sau khi nước ta gia nhập WTO
3.2.1 Thuận lợi
- Mở cửa thị trường, cả thị trường trong nước và xuất nhập khẩu, do đó có điều kiện để học tập các nước trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh gia cầm
- Liên kết liên doanh được mở rộng
- Xuất nhập khẩu được đẩy mạnh
3.2.2 Khó khăn
- Trình độ, quản lý, khoa học kỹ thuật của những người sản xuất kinh doanh gia cầm nói chung còn thấp (trừ một cơ sở sản xuất kinh doanh lớn, doanh nghiệp nhà nước) nên sản xuất kinh doanh thường theo phong trào, chưa khoa học, dự báo mọi mặt chưa chuẩn xác do đó nhiều cơ sở hiệu quả kinh doanh thấp
- Sản xuất chăn nuôi gia cầm qui mô nhỏ, chất lượng sản phẩm chưa cao, chưa được giết mổ chế biến tập trung, giá thành cao hiệu quả kinh tế thấp, nên khó cạnh tranh
- Chưa hình thành hệ thống giống gia cầm theo hình tháp cho nên chưa chủ động cung ứng giống tốt cho các cơ sở chăn nuôi Nhiều giống gia cầm ngoại nhập nội, nhưng mới chỉ cấp giống ông bà và bố mẹ, nên phải nhập tiếp chưa chủ động được giống tốt trong quá trình sản xuất kinh doanh chăn nuôi
- Thức ăn chăn nuôi giá thành cao do nguyên liệu phải nhập như ngô, đỗ tương, bột cá, Premix, các chất bổ sung khác
- Cơ sở giết mổ gia cầm tập trung còn ít, nhiều cơ sở chưa chủ động được nguyên liệu hầu hết giết mổ phân tán, tự do
- Phòng chống dịch bệnh khó khăn, nhiều vùng xảy ra dịch bệnh gây thiệt hại không nhỏ, dịch cúm đang tái phát là mối họa lớn đối với ngành chăn nuôi gia cầm
Trang 21- Thị trường gia cầm mới ở trong nước
- Xuất khẩu sản phẩm gia cầm chưa có nguồn, chất lượng chưa đảm bảo, giá thành cao
- Vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều tồn tại, chưa kiểm soát được hết, kiểm dịch sản phẩm khó khăn nhất là các chợ gia cầm sống
- Các cơ sở sản xuất giống, thức ăn, thuốc thú y chưa quan tâm đúng mức đến khách hàng của mình, chưa xác định được đây là mối quan hệ hiện có rất quan trọng (cùng tồn tại và phát triển)
3.3 Mục tiêu phương hướng phát triển gia cầm trong thời gian tới
3.3.1 Mục tiêu
- Khống chế được dịch cúm gia cầm
- Khôi phục và đẩy mạnh phát triển chăn nuôi gia cầm phấn đấu đến năm 2010 đạt: Tổng đàn gia cầm cả nước 275-280 triệu con, khối lượng thịt 420-430 ngàn tấn, 5,5-6,0 tỷ quả trứng Đến 2015 theo số liệu kiểm kê: tổng đàn gia cầm đạt 405-410 triệu con, khối lượng thịt 640-650 nghìn tấn, 7,50-8,00 tỷ quả trứng (số liệu sản xuất
ra bằng 2,5 lần số liệu liệt kê)
- Hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm, cạnh tranh được với thị trường nhập nội
- Hiện nay, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Long đã và đang triển khai các biện pháp để khôi phục đàn gia cầm trên địa bàn tỉnh Theo
đó, mục tiêu đến năm 2008, tỉnh Vĩnh Long phấn đấu phát triển đàn gia cầm trên
6 triệu con Trong đó, tập trung chủ yếu là đàn gà với trên 3 triệu 600 ngàn con, đàn vịt trên 2 triệu 500 ngàn con
3.3.2 Phương hướng phát triển trong thời gian tới
- Phát triển chăn nuôi gia cầm toàn diện ở mọi vùng sinh thái
- Khuyến khích phát triển chăn nuôi gia cầm tập trung, nhất là chăn nuôi gia cầm tập trung qui mô vừa và quy mô lớn, nuôi theo phương thức tự động hoá và bán tự động hoá, giảm dần qui mô chăn nuôi nhỏ lẻ thả rộng, từng bước đưa gia cầm phát triển bền vững
Trang 22- Chọn lọc, nhân thuần các giống gia cầm nội, nhập nội những dòng giống gia cầm thuần chủng và ông bà chất lượng cao nuôi thích nghi, chọn lọc lai tạo các dòng giống gia cầm phù hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam tiến tới chủ động được con giống, coi trọng công tác phòng chống dịch bệnh, đồng thời ứng dụng nhanh và đồng bộ những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, gắn sản xuất với giết mổ, chế biến và tạo được thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu
3.4 Thực trạng chăn nuôi gà công nghiệp của huyện
3.4.1 Các giống gà đang được nuôi ở huyện Tam Bình
- Gà Tam Hoàng: giống gà này có nguồn gốc từ Quảng Tây ( Trung Quốc) đây là
giống gà kiêm dụng và được gọi là gà Tam Hoàng vì chúng có 3 đặc trưng là lông vàng, da vàng và chân vàng
Gà Tam Hoàng thường được giết thịt lúc 12 tuần tuổi, với khối lượng của gà trống trung bình 1500 gam,của gà mái trung bình 1200 gam và tỉ lệ thân thịt là 66% Thịt gà Tam Hoàng ngon, mềm, ngọt và thơm Gà Tam Hoàng có thể nuôi theo phương tức bán thâm canh hoặc thâm canh
- Gà Tàu Vàng: giống này được nuôi phổ biến nhất ở Nam Bộ Gà Tàu vàng có đặc điểm: Tầm vóc lớn, lông có nhiều màu sắc khác nhau, tuy nhiên nhất là màu vàng rơm và màu vàng đậm, có đốm đen ở cổ, cánh và đuôi
Gà Tàu vàng thường được giết thịt lúc 16 tuần tuổi với khối lượng của gà trống trung bình 2000 gam, của gà mái trung bình 1500 gam và tỉ lệ thân thịt là 67% Thịt và trứng gà Tàu vàng có đặc điểm là thơm, ngon Gà Tàu vàng dễ nuôi, có khả năng tự kiếm thức ăn
- Gà chọi: đây là giống gà nuôi phổ biến và người nuôi chọn theo hướng chơi chọi Gà chọi có tầm vóc cao, to, khỏe, chắc, màu lông thường gặp nhất là màu chuối lửa, xám, hoa mơ, đen xen lẫn các vệt xanh biết, da đỏ, thịt chắc, tính tình hiếu chiến
Gà chọi được chọn để nuôi ngoài mục đích chơi chọi, gà trống còn được sử dụng
để phối giống gà mái khác để sản xuất con lai nuôi thịt, con lai có đặc điểm là thích hợp với điều kiện địa phương, kháng bệnh tốt, thịt ngon và được thị trường ưa chuộng
Trang 23- Lương Phượng: xuất xứ từ Trung Quốc, được Bộ NN& PTNT nhập về năm
1966 Gà Lương Phượng có màu vàng rơm, vàng sậm Mục đích sử dụng (theo thứ
tự ưu tiên) thịt, trứng 3-3,5 tháng đạt trọng lượng khoảng 2 kg, tiêu tốn thức ăn 2,5 kg/1kg tăng trọng, tỉ lệ nuôi sống 95%, khả năng kháng bệnh tốt
2,2-3.4.2 Tình hình chăn nuôi gà ở huyện Tam Bình qua các năm 2004 - 2006
Theo số liệu từ phòng thống kê huyện Tam Bình thì ta thấy ngành chăn nuôi của huyện đang có những thăng trầm không ổn định Năm 2004 tổng số đàn gà ở huyện
là 589.996 con, sang năm 2005 là 608.508 con, tăng 18.512 con (3,14%) Nhưng năm 2006 thì số lượng đàn gà giảm một cách đáng kể còn 443.298 con giảm 165.210 con (giảm 27,15%) so với 2005 Số lượng đàn gà giảm như thế là do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm làm cho người dân không nuôi nữa hay bị tiêu hủy do nhiễm cúm, xã có số lượng gà giảm nhiều nhất là xã Ngãi Tứ ( giảm 14.489 con so với 2005), kế đến là xã Mỹ Thạnh Trung Địa phương có số lượng gà giảm ít nhất là thị trấn Tam Bình, do ở thị trấn có số lượng gà nuôi ít nhất
Theo nguồn từ phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tam Bình thì đợt dịch cúm vừa qua đã làm thiệt hại cho huyện 145.206 con gia cầm trên 0,5 kg (với số tiền tương đương là 726.030.000đ), con đối với những con gia cầm dưới 0,5
kg thì bị thiệt hại 5.718 con (với số tiền tương đương là 17.154.000đ) Và dịch cúm
đã xảy ra ở hầu hết các xã trong huyện nhưng nặng nề nhất là xã Song Phú với 40.778 con gia cầm trên 0,5 kg, chỉ có thị trấn Tam Bình là bị ảnh hưởng ít nhất do
số lượng nuôi ở đây ít
Trang 24Nguồn : Phòng thống kê huyện Tam Bình
Bảng 4 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI GÀ Ở HUYỆN TAM BÌNH QUA CÁC NĂM VỪA QUA ĐVT: con
Chênh lệch Chênh lệch Chênh lệch 2005/2004 2006/2004 2006/2005
2004 2005 2006
SL TL (%) SL TL (%) SL TL (%) Tổng số 589.996 608.508 443.298 18.512 3,14 -146.698 -24,86 -165.210 -27,15
-24,90 -12.866
3,14 1.623
38.80753.296
51.673
Xã Ngãi Tứ
Trang 253.4.3 Đặc điểm cơ bản về hộ chăn nuôi gà công nghiệp ở huyện Tam Bình
Bảng 5: TRÌNH ĐỘ VĂN HOÁ CỦA HỘ CHĂN NUÔI GÀ CÔNG NGHIỆP
Trung học phổ thông
Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007
- Theo kết quả điều tra thực tế thì trình độ học vấn của đa số chủ trại là tiểu học hay lớp
nhất trường làng (có 11 hộ chiếm 55%), kế đến là trung học cơ sở (có 7 hộ chiếm 35%), và
sau đó là trung học phổ thông (có 2 hộ chiếm 10%) Trình độ của chủ trại đa số là tiểu học
bởi vì độ tuổi bình quân của chủ trại cao, khoảng 44,5 tuổi mà những người có độ tuổi cao có
trình độ học vấn thấp vì thời đó nhà nước chưa có quan tâm đến giáo dục nhiều.Còn những
người có trình độ cao đẳng, đại học, sau đại học thì họ sẽ không chọn nuôi gà công nghiệp vì
số người có trình độ cao đẳng, đại học, sau đại học ở huyện rất ít nên sau khi tốt nghiệp họ
đều chọn cho mình những công việc làm cho xứng với công học hành của họ nên họ không
chọn chăn nuôi gà
- Đối với vấn đề lí do chọn nuôi gà thì có nhiều lí do để nuôi gà như là: bán được giá,
không cần vốn, không cần nhiều lao động, không cần kĩ thuật chăn nuôi, nuôi theo xu hướng
thị trường, dễ chăm sóc, được công ty bao tiêu, không mất nhiều thời gian, không cần kĩ
thuật chăn nuôi
Trang 26Bảng 6: LÍ DO CHỌN NUÔI GÀ CÔNG NGHIệP
Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007
Qua kết quả điều tra thực tế cho ta thấy tuy có nhiều lí do để chọn nuôi gà nhưng đa số họ
điều chọn lí do bán được giá làm cơ sở để họ chăn nuôi (có 10 hộ chiếm 50%), thực tế thì
trước khi dịch cúm xảy ra thì gà bán rất có giá, và sau khi dịch cúm được dập tắc thì nhu cầu
gà sạch rất cao nên gà cũng rất có giá Có 7 hộ (chiếm 35%) chọn lí do nuôi theo xu hướng
thị trường, bởi vì họ thấy những hộ khác nuôi gà công nghiệp có hiệu quả nên họ nuôi theo
Có 3 hộ (chiếm 15%) chọn nuôi gà là dễ nuôi, dễ chăm sóc vì họ cho rằng nuôi gà công
nghiệp thì không có gì mà khó cả chỉ cần để tâm chăm sóc là ổn cả thôi Còn đối với các lí do
khác thì họ không chọn như là tốn ít vốn ( thực tế thì nuôi gà công nghiệp cũng phải cần một
số vốn tương đối khoảng trên 10 triệu đồng để đầu tư cho chuồng trại, thức ăn, nước uống,
thuốc thú y ), còn được công ty bao tiêu thì những hộ chăn nuôi ở đây không được bao tiêu
họ tự nuôi tự tìm đầu ra cho sản phẩm của họ
3.4.4 Đặc điểm chuồng trại của các hộ chăn nuôi gà công nghiệp ở huyện
- Hầu hết các hộ chăn nuôi gà công nghiệp ở huyện đều chọn nuôi theo hình thức chuồng
trại kín (cả 20 hộ đều chăn nuôi theo kiểu này) Sở dĩ họ chọn hình thức chuồng kín vì nó
chống được mưa tạc, gió lùa mà những tác nhân này có thể làm cho gà của họ bị nhiều bệnh
do môi trường tác động, ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi của họ
Trang 27- Đối với kiểu chuồng thì họ chọn xây dựng theo kiểu một tầng vì nó đem lại nhiều lợi ích cho họ như là ở dưới tầng nuôi gà thì họ đào ao để nuôi cá, khi mà gà thải phân xuống thì nguồn phân đó được tận dụng làm thức ăn cho cá và đó cũng là cách đem lại nguồn thu nhập không nhỏ cho bà con chăn nuôi
- Đối với cách bố trí máng ăn máng uống thì đa số họ đều bố trí máng ăn máng uống xen
kẻ (12 hộ chiếm 60%), kế đến là họ sử dụng cách bố trí là máng ăn dọc theo chiều dài máng uống dọc theo chiều ngang (7 hộ chiếm 35%), có một hộ bố trí máng uống ở trên máng ăn ở dưới Họ ưa chuộng cách bố trí máng ăn máng uống xen kẻ vì nó có nhiều thuận lợi là gà ăn xong có thể uống ngay
Bảng 7: CÁCH CHỌN BỐ TRÍ MÁNG ĂN MÁNG UỐNG
Cách bố trí máng ăn mang uống Số mẫu Tỉ lệ (%)
Máng ăn dọc theo chiều dài máng
uống dọc theo chiều ngang
Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007
- Đối với loại máng ăn, máng uống mà trại sử dụng để cho gà ăn uống thì đa số đều sử dụng loại máng tròn, vì nó phù hợp với cách bố trí xen kẻ với nhau làm cho gà thuận tiện trong việc ăn uống Ngoài ra một số trại thì sử dụng loại máng ăn dài và máng uống dài, máng ăn máng uống dạng hình núm
- Các dụng cụ mà trại sử dụng để trang bị cho trại thì chủ trại thường sử dụng các dụng cụ
để đối phó với những thay đổi của môi trường, có nhiều loại dụng cụ như: chụp sưởi ấm; vỉ hứng trứng; cân; bình dong; hệ thống phun nước; đồ bảo hộ lao động; hệ thống đèn sưởi, chiếu sáng; hệ thống làm mát bằng quạt; hệ thống làm mát bằng hơi nước Nhưng trại chỉ sử dụng một số dụng cụ theo bảng sau:
Bảng 8: CÁC DỤNG CỤ MÀ TRẠI SỬ DỤNG
Các dụng cụ mà trại sử dụng Số mẫu Tỉ lệ (%)
Trang 28Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007
Qua kết quả điều tra thực tế thì hầu như trại nào cũng sử dụng các dụng cụ để trang bị cho trại của mình Có 7 trại sử dụng hệ thống đèn sưởi, chiếu sáng (chiếm 35%), 4 trại sử dụng chụp sưởi ấm (20%), 4 trại sử dụng hệ thống làm mát bằng quạt (20%), 3 trại sử dụng hệ thống phun nước (15%), 2 trại sử dụng hệ thống làm mát bằng hơi nước Không có trại nào
sử dụng vỉ hứng trứng bởi vì đa số trại đều chăn nuôi gà thịt, không có trại nào sử dụng cân, bình dong, đồ bảo hộ lao động bởi vì trại cho rằng nó chưa cần thiết lắm Những trại sử dụng chụp sưởi ấm, hệ thống đèn sưởi, chiếu sáng là để tránh cho gà khỏi bị lạnh Những trại sử dụng hệ thống phun nước, hệ thống làm mát bằng quạt, hệ thống làm mát bằng hơi nước là
để tránh cho gà khỏi bị nóng vào những buổi trưa có ánh nắng gai gắt có thể làm cho gà bị say nắng, bỏ ăn Có trại vừa sử dụng hệ thống làm ấm và hệ thống làm mát để đối phó với những sự thay đổi bất thường của thời tiết
- Đối với việc sử dụng nguyên liệu làm chất độn chuồng thì hầu hết trại đều không sử dụng chất độn chuồng, vì họ sử dụng chuồng sàn để cho phân gà dễ lọt qua và rớt xuống sàn cho cá ăn Khi gà còn nhỏ thì trại sử dụng lưới để lót chuồng nhằm mục đích cho gà khỏi bị lọt chân qua kẻ chuồng Nhiệt độ duy trì trong chuồng dao động ở khoảng 27 – 300, nếu thấp quá thì trại dùng chụp sưởi ấm, hệ thống đèn sưởi, chiếu sáng để tăng nhiệt độ lên không cho
gà bị lạnh, nếu nhiệt độ cao quá thì trại sử dụng hệ thống làm mát bằng hơi nước hay hệ thống phun nước, hệ thống làm mát bằng quạt để làm dịu mát không khí trong chuồng giúp cho gà khỏe mạnh Độ ẩm trong chuồng được duy trì ở khoảng 70%, ở nước ta thường có độ
ẩm không khí cao trên 75%, vì vậy khi ẩm độ cao thì trại thường sử dụng hệ thống thông gió, phát quang bụi rậm để hạn chế phát sinh ẩm độ trong trại tránh được tình trạng gà khó thở làm ảnh hưởng đến sức khỏe của gà
Trang 293.4.5 Đặc điểm chăn nuôi của các hộ chăn nuôi gà công nghiệp ở huyện Tam Bình
Bảng 9: GIỐNG GÀ CÔNG NGHIỆP THƯỜNG ĐƯỢC CHỌN NUÔI
Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007
Theo kết quả điều tra thực tế thì các trại thường nuôi giống gà Lương Phượng có 12 trại
nuôi chiếm 60%, gà Tam Hoàng có 6 trại nuôi chiếm 30%, và có 2 trại sử dụng giống gà nòi
lai với Lương Phượng ra để nuôi chiếm 10% Các trại thường nuôi giống gà Lương Phượng
bởi vì nó cho năng suất cao mà thời gian chăn nuôi lại ngắn hơn các giống gà khác, còn trại
sử dụng giống gà Tam Hoàng thì họ cho rằng giống gà này phù hợp với điều kiện địa
phương, dễ nuôi và có nguồn cung cấp giống ở gần hơn các giống gà khác, còn trại dùng
giống gà Nòi lai với Lương Phượng thì là do tự ấp lấy và giống gà này có ưu điểm là phù hợp
với điều kiện địa phương, tránh được dịch bệnh, và bán được giá cao do được thị trường ưa
chuộng hơn các giống gà khác nhưng thời gian nuôi lại dài hơn
Đối với nguồn cung cấp con giống thì có nhiều nguồn cung cấp con giống như: đối với
Trang 30con giống ở tỉnh khác đó là họ phải lên đến tận Bình Dương để mua giống chứ ở trong tỉnh không có nguồn cung cấp con giống đây cũng là một khó khăn đối với người chăn nuôi ở huyện Đối với trại nuôi giống gà Tam Hoàng thì có thể mua giống ở trong tỉnh nhưng chất lượng con giống không được cao lắm Còn đối với trại chăn nuôi giống gà Nòi lai với Lương Phượng thì họ tự cho lai với nhau rồi ấp tại trại chứ không có nguồn cung ứng giống này trên thị trường, khó khăn của giống này là tỉ lệ hao hụt cao
Tuy là mua giống trên thị trường hay tự ấp đi nữa thì các trại đều cũng quan tâm tới vấn
đề sạch bệnh, bởi vì dịch cúm gia cầm đang có nguy cơ bùng phát trở lại, nếu bị nhiễm bệnh thì gà của họ sẽ bị tiêu hủy và họ sẽ bị lỗ vốn
Bảng 10: SỐ LƯỢNG NUÔI, SỐ LƯỢNG CHẾT VÀ TRỌNG LƯỢNG BÌNH
QUÂN CỦA MỘT LỨA GÀ
nhất
Cao nhất
Trung bình
Trọng lượng bình
quân
Nguồn: Số liệu điều tra 2007
Qua kết quả điều tra thực tế ta thấy được số lượng nuôi một lứa gà thấp nhất là 250 con, cao nhất là 800 con, trung bình là 475con Số lượng nuôi/lứa của các trại có số lượng ít là do trại nuôi nhiều lứa trong năm (khoảng 10 ngày là trại ra một lứa gà), số lượng nuôi/lứa của trại có số lượng nhiều là do trại nuôi ít lứa hơn khoảng 3-4 lứa/năm họ phải đợi kết thúc lứa này rồi mới nuôi tiếp cho nên một lần nuôi thì nhiều con Số lượng chết trung bình/lứa là 27 con, cao nhất là 55 con, thấp nhất là 10 con, số lượng chết ít là do trại nuôi một lứa ít hay trại
có kinh nghiệm trong công tác tiêm phòng bệnh nên số lượng chết ít, số lượng chết/lứa nhiều
là do trại nuôi một lứa với số lượng nhiều hay do chủ trại chưa có kinh nghiệm trong việc sử dụng thuốc thú y trong phòng và chữa bệnh Trọng lượng bình quân của một lứa gà trung bình là 1,505 kg/con/lứa, thấp nhất là 1,4 kg/con/lứa, cao nhất là 1,8 kg/con/lứa Trọng lượng
Trang 31bình quân khác nhau là do thời gian nuôi khác nhau, tùy thuộc chủ trại muốn xuất chuồng lúc
nào thì xuất
3.4.6 Kĩ thuật chăn nuôi của các hộ chăn nuôi gà công nghiệp ở huyện Tam Bình
Bảng 11: SỰ THAM GIA LỚP HỌC KĨ THUẬT CHĂN NUÔI CỦA CHỦ TRẠI
Nguồn: Số liệu điều tra thực tế 2007
Theo kết quả điều tra thực tế thì có 12 chủ trại không tham gia lớp học kĩ thuật chăn nuôi
(60%), có 8 chủ trại tham gia lớp học chăn nuôi (40%) Những chủ trại không tham gia lớp
học kĩ thuật chăn nuôi là do họ nói rằng lớp học khó hiểu hơn học thực tế ở ngoài cho nên
những chủ trại này không tham gia và họ học kĩ thuật chăn nuôi từ bạn bè người thân Còn
những hộ có tham gia lớp học kĩ thuật chăn nuôi thì họ học ở các lớp dạy tập trung do trạm
thú y thuộc phòng nông nghiệp tổ chức để tập huấn cho họ
Tuy có tham gia hay không có tham gia lớp học kĩ thuật chăn nuôi hay không thì họ cũng
đều sử dụng dịch vụ kiểm dich thú y vì hộ lo sợ rằng dịch cúm sẽ ảnh hưởng tới họ Trước
khi đưa gà vào nuôi thì chủ trại đều vệ sinh, tẩy uế chuồng trại và thiết bị chăn nuôi, sữa chữa
tu bổ chuồng trại và thiết bị để diệt hết những mầm móng gây bệnh có ảnh hưởng đến gà của
họ
- Hầu hết các chủ trại đều cho gà ăn 3 lần/ngày, và họ cho ăn thì không cân trước và
không cho ăn theo chỉ định của từng loại thức mà họ cho ăn theo thói quen của họ Loại thức
ăn mà họ cho ăn là thức ăn tổng hợp vì nó thuân tiện ở chỗ là không cần phải pha chế như
thức ăn chứa các chất cần thiết Nguồn cung cấp thức ăn do họ tự ra các đại lí thức ăn gia súc
họ mua chứ không có ai bao tiêu cho họ và thức ăn có sẵn ở trại họ cũng không có Nguồn
thức ăn này thì chỉ cần ra đại lí là mua được không phải đợi chờ tốn kém thời gian, chất
lượng thức ăn này thì cũng rất tốt, nhưng có một vấn đề là giá cả thức ăn này không ổn định,
khoảng một thời gian là lại tăng giá làm ảnh hưởng không nhỏ đến người chăn nuôi gà công
nghiệp
Trang 32- Đối với loại nước dùng cho gà uống:
Bảng 12: CÁC LOẠI NƯỚC MÀ TRẠI THƯỜNG CHO GÀ UỐNG
Nguồn: Số liệu điều tra 2007
Qua kết quả điều tra thực tế ta thấy đa số trại đều sử dụng nước đã xử lí để cho gà uống
(14 trại chiếm 70%), có 6 trại sử dụng nước không tên chiếm 30%, không có trại nào sử dụng
nước sông hay nước giếng để cho gà uống vì trại cho rằng nguồn nước đó không đảm bảo và
sẽ làm cho gà bị một số bệnh về đường ruột Trại sử dụng nước đã xử lí cho gà uống vì ở trại
họ không có nước không tên nên phải lấy nước sông lên xử lí, dù sao cũng tốt hơn nước sông
hay nước giếng mà không xử lí
Đa số các trại chăn nuôi gà công nghiệp đều bị mắc phải một số bệnh nhỏ như là
Newcastle, tụ huyết trùng, phó thương hàn hay sưng phù đầu nhưng không ảnh hưởng mấy
đến hiệu quả chăn nuôi của trại Đáng lo ngại nhất là dịch cúm nếu bị nhiễm bệnh là bị tiêu
hủy hết cả đàn gà Đối với những con gà chết thì đa số là trại đem chôn ở hố tự hoại, một số
trại khác thì họ nướng bỏ xuống ao cho cá ăn Đối với những trại nào mà bị nhiễm cúm thì
xử lí bằng cách chôn và rãi vôi
Theo kết quả điều tra thực tế 20 trại thì có 6 trại đã bị nhiễm cúm hay bị tiêu hủy do
khoanh vùng, những trại bị nhiễm cúm hay bị tiêu hủy thì gặp rất nhiều khó khăn như là
không cho phép nuôi lại trong một khoảng thời gian và khi muốn nuôi lại thì không có con
giống để trại tiếp tục nuôi
3.4.7 Hiệu quả chăn nuôi của các hộ chăn nuôi gà công nghiệp ở huyện Tam Bình
Bảng 13: CÁC LOẠI CHI PHÍ TRONG CHĂN NUÔI GÀ CÔNG NGHIỆP CHO
MỘT LỨA GÀ
ĐVT: 1000đ
Trang 33Nguồn: Số liệu điều tra 2007
Theo kết quả điều tra thực tế thì tổng chi phí cho một lứa gà có sự chênh lệch rất lớn, tổng chi phí lớn nhất là 23.661.000đ, nhỏ nhất là 6.745.000đ Sự chênh lệch lớn này là do quy mô chăn nuôi một lứa của chủ trại, có trại chăn nuôi một lứa gà có 250 con, có trại chăn nuôi một lứa gà đến 800 con
+ Đối với chi phí chuồng trại: lớn nhất là 2.500.000đ/lứa, nhỏ nhất là 700.000đ/lứa Ở đây chi phí chuồng trại có sự chênh lệch trước hết là do số lượng nuôi khác nhau, khi mà nuôi nhiều thì cần trang bị nhiều, diện tích nhiều nên chi phí lớn, còn ngược lại nuôi ít thì trang bị ít nên chi phí ít Ngoài ra nó còn phụ thuộc vào chất liệu để làm chuồng, trại có sử dụng các công cụ như là hệ thống làm mát, hệ thống sưởi ấm cho gà, nếu có sử dụng đầy đủ hết thì chi phí cao, ngược lại thì thấp
+ Đối với chi phí giống: lớn nhất là 5.200.000đ/lứa, thấp nhất là 1.125.000đ/lứa Chi phí này nó phụ thuộc vào số lượng nuôi và giá mua con giống Khi mà trại nuôi nhiều thì chi phí mua con giống nhiều, nuôi ít thì chi phí mua con giống ít Ngoài ra nếu ở địa phương có con giống thì không phải tốn chi phí vận chuyển, chi phí đi lại nên tiêu tốn ít, còn mà khi ở địa phương không có con giống thì phải tốn chi phí đi lại ở những nơi xa để mua con giống nên chi phí cao
+ Đối với chi phí thức ăn: nhiều nhất 12.091.000đ/lứa, nhỏ nhất là 4.000.000đ/lứa Chi phí này phụ thuộc vào số lượng nuôi, nếu nuôi nhiều thì phải cho gà ăn nhiều nên chi phí cao, ngược lại thì thấp Ngoài ra nó còn phụ thuộc vào giá cả thị trường của thức ăn, nếu mà giá cả thấp thì chi phí này thấp đi một phần nào đó, nếu cao thì chi phí cao
Trang 34+ Chi phí lao động ở đây thì rất ít: cao nhất cũng chỉ có 170.000đ/lứa, những chủ trại này thường rất ít thuê lao động họ đa số là sử dụng lao động nhà, họ chỉ thuê lao động khi mà gà
họ xuất chuồng cân bán cho thương lái
+ Đối với chi phí khác thì chi phí khác bao gồm: chi phí cho công cụ chăn nuôi, thuốc thú
y, điện, nước Những chi phí này phụ thuộc vào mức độ trang bị của trại, nếu trang bị đầy đủ như là đèn, công tơ điện thì sẽ tiêu hao điện nhiều, trại tiêm phòng nhiều thì chi phí nhiều Theo số liệu điều tra năm 2007 thì tổng chi phí trung bình cho một lứa gà công nghiệp là 12.057.000đ/lứa (trung bình mỗi lứa khoảng 475 con) Chi phí chuồng trại trung bình 1.348.000đ/lứa, chi phí giống trung bình là 2.590.000đ/lứa, chi phí thức ăn trung bình là 6.536.000đ/lứa, chi phí lao động trung bình là 128.000đ/lứa, chi phí khác trung bình là 1.455.000đ/lứa
Bảng 14: CÁC LOẠI CHI PHÍ TRONG CHĂN NUÔI GÀ CÔNG NGHIỆP/100
Trang 35Theo số liệu điều tra 2007 thì tổng chi phí/100 con gà lớn nhất là 3.234.166 đồng, thấp nhất là 2.042.629 đồng, trung bình là 2.550.136 đồng Sự khác biệt này là do trại sử dụng nhiều nguồn đầu vào khác nhau và trang bị cho trại khác nhau Chi phí chuồng trại có sự chênh lệch là do trại trang bị cho mình đầy đủ thì tốn chi phí nhiều ngược lại thì ít, chi phí giống có sự chênh lệch là do nếu chủ trại tự ấp giống thì chi phí thấp còn phải đi mua giống ở
xa thì chi phí nhiều, chi phí thức ăn lớn nhất là 1.666.667 đồng nhỏ nhất là 1.185.714 đồng, chi phí khác lớn nhất là 462.500đ ít nhất là 227.272 đồng sự chênh lệch này là do khi chủ trại trang bị dụng cụ đầy đủ thì tốn chi phí nhiều như điện, nước còn không đầy đủ thì tốn ít
- Đối với phần hiệu quả chăn nuôi thì theo số liệu điều tra thực tế thì giá bán gà thịt thấp nhất là 22.000đ/kg, cao nhất là 28.000đ/kg, trung bình là 24.325đ/kg Giá bán này phụ thuộc vào thị trường, nếu mà bán gà ngay thời điểm hút hàng thì giá bán được cao, ngược lại thì giá bán thấp
Còn về vấn đề doanh thu thì: Doanh thu = số lượng bán x giá bán x trọng lượng bình quân Vì vậy nếu bán với số lượng nhiều, giá cao, trọng lượng bình quân gà lớn thì doanh thu cao, ngược lại thì doanh thu thấp Lợi nhuận thì ta lấy doanh thu trừ cho tất cả chi phí Lợi nhuận thì phụ thuộc vào nhiều yếu tố
Bảng 15: HIỆU QUẢ CHĂN NUÔI GÀ CÔNG NGHIỆP CHO MỘT LỨA NUÔI
Nguồn: Số liệu điều tra thực tế năm 2007
- Các tỉ số tài chính phân tích hiệu quả chăn nuôi gà:
Trang 36Lợi nhuận/Doanh thu = LN/TR = 0,2520
Lợi nhuận/CP lao động nhà = 1,5688
Qua các tỉ số tài chính trên cho ta thấy chăn nuôi gà có hiệu quả tương đối cao như là
người chăn nuôi bỏ chi phí ra 100 đồng/lứa thì sau khi bán lứa gà đó trừ đi chi phí thì họ còn
lời khoảng 35,69 đồng một khoảng lợi nhuận/chi phí tương đối cao Tỉ suất lợi nhuận trên
doanh thu cho ta thấy khi mà chủ trại thu được 100 đồng thì trông đó có 25,20 đồng tiền lời
3.4.8 Tình hình tiêu thụ của các hộ chăn nuôi gà
công nghiệp ở huyện Tam Bình
- Hình thức tiêu thụ: đa số các trại đều bán cho thương lái, và họ không có bán lẻ từng con Ở
đây chủ trại thường tự nuôi nên không có công ty nào bao tiêu sản phẩm cho họ
- Cách thức liên hệ với người mua thì các trại thường tự liên hệ với thương lái khi mà có
gà xuất chuồng, và những người thương lái này đi đến tận trại để xem gà và mua
- Cách thức thanh toán khi mua gà xong là người mua trả tiền ngay bằng tiền mặt để cho chủ
trại có thể đem số tiền đó trả tiền thức ăn do chủ trại mua gối đầu Khi bán thì chủ trại cũng nắm
bắt được một phần thông tin thông qua những bạn bè người thân hay qua báo, ti vi
Bảng16: NHỮNG NGƯỜI THU MUA GÀ
Nguồn: Số liệu điều tra thực tế 2007
Qua kết quả điều tra thực tế ta thấy có 6 hộ bán gà cho những người thu mua trong tỉnh, 14 hộ
bán gà cho những người thu mua ở tỉnh khác Họ bán cho những người thu mua ở tỉnh khác
nhiều vì ở trong tỉnh không có lò giết mổ gia cầm lớn