Hành vi gây hấn HVGH ở trẻ VTN là một trong những vấn đề nổi cộm hiệnnay, đang rất được xã hội quan tâm chú ý, nó có xu hướng gia tăng cả về mức độ vàtính chất nguy hiểm của hành vi, tro
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
-BÙI VĂN LỢI
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI VIỆC CAN THIỆP TRỢ GIÚP TRẺ VỊ THÀNH NIÊN
CÓ HÀNH VI GÂY HẤN
(Nghiên cứu trường hợp tại Trường Trung học cơ sở
Ngọc Châu, Thành phố Hải Dương)
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số : 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa
Hà Nội – 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện có sự hướng
dẫn khoa học của PGS, TS Nguyễn Thị Kim Hoa Các nội dung và kết quả nghiên
cứu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được ai công bố
Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 01 tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Bùi Văn Lợi
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trường, kết hợpvới kinh nghiệm trong thực tiễn công tác và sự nỗ lực cố gắng của bản thân
Đạt được kết quả này, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Quí các Thầy giáo,
Cô giáo Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Thị Kim Hoa, Chủ
nhiệm Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, làngười trực tiếp hướng dẫn khoa học, người đã dày công giúp đỡ, chỉ bảo để emhoàn thành luận văn thạc sĩ
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở GD&ĐT Hải Dương, Quí các Thầy giáo, Côgiáo và các em học sinh Trường Trung học cơ sở Ngọc Châu, Thành phố Hải Dương
đã hợp tác, giúp đỡ để tôi thực hiện thành công nhiệm vụ nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, tạo điều kiện của Trường Cao đẳngHải Dương Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, động viên về vậtchất và tinh thần để tôi hoàn thành công việc học tập
Mặc dù đã có sự nỗ lực cố gắng của bản thân, song luận văn cũng không thểtránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của các Thầygiáo, Cô giáo, của bạn bè và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 01 tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Bùi Văn Lợi
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu 7
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 7
5 Phạm vi nghiên cứu 7
6 Câu hỏi nghiên cứu 7
7 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
8 Giả thuyết nghiên cứu 8
9 Phương pháp nghiên cứu 8
10 Cấu trúc của luận văn 10
NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HÀNH VI GÂY HẤN CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN VÀ PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM 11
1.1 Một số khái niệm công cụ của đề tài 11
1.1.1 Các khái niệm công cụ liên quan đến lý luận về hành vi gây hấn 11
1.1.2.Các khái niệm công cụ liên quan đến lý luận về Công tác xã hội nhóm và Công tác xã hội trường học 19
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 23
1.2.1 Thuyết bản năng 23
1.2.2 Thuyết tâm động lực 24
1.2.3 Thuyết hành vi về gây hấn 25
Trang 51.2.4 Thuyết gắn kết xã hội 26
1.2.5 Thuyết học tập xã hội 27
1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi vị thành niên liên quan đến hành vi gây hấn29 1.3.1 Khái niệm vị thành niên 29
1.3.2 Đặc điểm sinh lý của trẻ vị thành niên 29
1.3.3 Đặc điểm tâm lý đặc trưng của trẻ vị thành niên 29
Tiểu kết chương 1 35
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI GÂY HẤN CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN 36
2.1 Vài nét khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu 36
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 36
2.1.2 Cơ cấu bộ máy, tổ chức 36
2.1.3 Điều kiện cơ sở vật chất 37
2.1.4 Các yếu tố thuận lợi, khó khăn của nhà trường trong bối cảnh cộng đồng 37
2.2 Thực trạng về hành vi gây hấn của trẻ vị thành niên 39
2.2.1 Nhận thức của trẻ vị thành niên về khái niệm hành vi gây hấn 39
2.2.2 Nhận thức của trẻ vị thành niên về mức độ biểu hiện của các hình thức gây hấn 41
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi gây hấn của trẻ vị thành niên 55
2.3.1 Nhân tố chủ quan 55
2.3.2 Nhân tố khách quan 56
2.4 Biện pháp nhằm giảm thiểu hành vi gây hấn cho trẻ vị thành niên 60
2.4.1 Đánh giá của trẻ vị thành niên về các biện pháp nhà trường đã áp dụng để giảm thiểu hành vi gây hấn 60
2.4.2 Các biện pháp đề xuất thực hiện nhằm giảm thiểu hành vi gây hấn cho trẻ vị thành niên 62
Tiểu kết chương 2 69
CHƯƠNG 3 : BIỆN PHÁP CAN THIỆP CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM NHẰM GIẢM THIỂU HÀNH VI GÂY HẤN CHO TRẺ VỊ THÀNH NIÊN 70
3.1 Cơ sở đề xuất biêṇ pháp can thiêpp̣ của công tác xa ̃hôịnhóm đểgiảm thiểu hành vi gây hấn cho trẻ vị thành niên 70
Trang 63.2 Biện pháp Công tác xã hội nhóm để giảm thiểu hành vi gây hấn của trẻ vị thành
niên 71
3.2.1 Mục đích, loại hình Công tác xã hội nhóm 71
3.2.2 Quy trình vận dụng biện pháp công tác xã hội nhóm 73
3.2.3 Điều kiện thực hiện biện pháp công tác xã hội nhóm để giảm thiểu hành vi gây hấn cho trẻ vị thành niên 80
3.3 Thực nghiệm biện pháp can thiệp công tác xã hội nhóm để giảm thiểu hành vi gây hấn cho trẻ vị thành niên 80
3.3.1 Mục đích của thực nghiệm 80
3.3.2 Giả thuyết thực nghiệm 81
3.3.3 Nhiệm vụ thực nghiệm 81
3.3.4 Thời gian và địa điểm thực nghiệm 81
3.3.5 Nội dung thực nghiệm 81
3.3.6 Lượng giá kết quả thực nghiệm 89
Tiểu kết chương 3 93
KẾT LUẬN VÀ KHUYÊN NGHỊ 94
1 Kết luận 94
2 Khuyến nghị 95
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu, viết tắt Viết đầy đủ
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1: Nhận thức của trẻ VTN về khái niệm HVGH 39
Bảng 2.2: Nhận thức của trẻ VTN về mức độ biểu hiện của các hình thức gây hấn41 Bảng 2.3: Hậu quả của HVGH gây ra với chính trẻ VTN có HVGH 46
Bảng 2.4: Hậu quả của HVGH gây ra đối với trẻ VTN khác 48
Bảng 2.5: Nhận thức của trẻ VTN về nguồn gốc của HVGH 49
Bảng 2.6: Nhận thức của trẻ VTN về cách giảm thiểu HVGH 51
Bảng 2.7: Tính cách của những người có HVGH theo nhận thức của trẻ VTN 55
Bảng 2.8: Cách thức ứng xử của bố (mẹ) khi trẻ VTN có HVGH 57
Bảng 2.9: Đánh giá của trẻ VTN về các biện pháp nhà trường đã áp dụng 61
nhằm ngăn chặn, giảm thiểu HVGH 61
Bảng 2.10: Biện pháp đề xuất nhằm giảm thiểu HVGH từ phía gia đình 63
Bảng 2.11: Biện pháp đề xuất nhằm giảm thiểu HVGH từ phía nhà trường 64
Bảng 2.12: Biện pháp đề xuất nhằm giảm thiểu HVGH từ phía cộng đồng xã hội 65
Bảng 3.1 Thực trạng HVGH của nhóm trẻ VTN trước thực nghiệm 82
Bảng 3.2: Thực trạng HVGH của nhóm trẻ VTN sau thực nghiệm 92
Biểu đồ 3.1 Sự thay đổi HVGH trước và sau thực nghiệm biện pháp CTXH nhóm .92
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trẻ vị thành niên (VTN) thuộc lứa tuổi có vị trí đặc biệt trong thời kỳ phát triểncủa trẻ em, giai đoạn chuyển từ trẻ em sang người lớn Ở lứa tuổi này, các em vừamang những nét trẻ con, vừa người lớn, song các em lại có mong muốn được bình đẳngvới người lớn, muốn khẳng định bản thân mình như người lớn Sự phát triển và mâuthuẫn giữa thể chất, tâm lý, nhận thức còn hạn chế, chưa hoàn thiện với nhu cầu đượcnhư người trưởng thành, cùng các tác động, ảnh hưởng tiêu cực từ môi trường sống dẫnđến các em dễ nảy sinh những suy nghĩ lệch lạc và hành vi tiêu cực ở nhiều mức độkhác nhau, từ vi phạm các nguyên tắc chuẩn mực đạo đức đến vi phạm pháp luật Các
em có xu hướng gây tổn thương cho chính bản thân mình và cho người khác một cách
có chủ ý, xét về mặt bản chất, đây chính là hành vi gây hấn
Hành vi gây hấn (HVGH) ở trẻ VTN là một trong những vấn đề nổi cộm hiệnnay, đang rất được xã hội quan tâm chú ý, nó có xu hướng gia tăng cả về mức độ vàtính chất nguy hiểm của hành vi, trong đó nghiêm trọng nhất là hành vi giết người
và tự sát (trường hợp 05 em nữ sinh trường THCS Phượng Hoàng, huyện Thanh Hà,tỉnh Hải Dương cùng nhau tự sát tập thể vào chiều ngày 24.5.2006, hay vụ ánDương Phương Thuấn, học sinh lớp 8, trường THCS Trung Chính, huyện LươngTài, tỉnh Bắc Ninh giết em học sinh lớp 6 cùng trường ngày 7.2.2012 là những ví dụđiển hình) Gần đây các phương tiện thông tin đại chúng lại liên tục đề cập, đưa tin
về tình trạng gây hấn học đường (GHHĐ) hay sự xuống cấp đạo đức ở học sinh gâyxôn xao dư luận, điều này tạo tâm lý lo ngại cho các nhà quản lí giáo dục, các thầy
cô giáo, các bậc phụ huynh và đặc biệt là cho chính các em học sinh lứa tuổi VTNđang hằng ngày cắp sách đến trường Đã có nhiều cơ quan chức năng vào cuộc,nhiều biện pháp can thiệp được đưa ra nhằm giải quyết vấn nạn GHHĐ của học sinh
và đã đạt được những kết quả bước đầu song hiệu quả chưa cao, mức độ và tính chấtnghiêm trọng của hành vi HVGH học đường vẫn đang cho thấy sự cần thiết phải cónhững biện pháp can thiệp hiệu quả hơn để ngăn chặn, làm giảm thiểu và tiến tớiloại bỏ hành vi tiêu cực này
Trang 10Công tác xã hội (CTXH) với tư cách là một khoa học ứng dụng, một nghềnghiệp chuyên môn, một dịch vụ xã hội Những năm qua, CTXH trên thế giới vàgần đây là ở Việt Nam đã phát huy hiệu quả trong việc tham gia giải quyết các vấn
đề xã hội nảy sinh trong cuộc sống, trong đó, có những vấn đề thuộc về nhóm trẻVTN Vì vậy, với mong muốn đánh giá được thực trạng về nhận thức, nguyên nhân,các yếu tố ảnh hưởng, cũng như hậu quả của HVGH đối với trẻ VTN, từ đó thiết kếquy trình vận dụng phương pháp CTXH nhóm vào việc can thiệp trợ giúp nhằm
giảm thiểu HVGH ở đối tượng này, chúng tôi chọn đề tài: “Công tác xã hội nhóm với việc can thiệp trợ giúp trẻ vị thành niên có hành vi gây hấn”, (Nghiên cứu
trường hợp tại Trường Trung học cơ sở Ngọc Châu, Thành phố Hải Dương).
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Những nghiên cứu về gây hấn học đường trên thế giới
* Nghiên cứu lí thuyết về hành vi gây hấn
Trên phương diện lí thuyết, các nghiên cứu về HVGH chủ yếu tập trung tìmhiểu khái niệm, bản chất, nguồn gốc và cách thức giảm thiểu hành vi này ở conngười Từ những thập niên 60 của thế kỉ XX, các nhà Tâm lí học đều thừa nhận rằnggây hấn là một khái niệm khó nắm bắt và người ta đã tranh cãi gay gắt về cách địnhnghĩa gây hấn một cách chính xác nhất (Baron, 1998; Berkowitz, 1969; Buss, 1961;Zillmann, 1979) [41] Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau song phần lớn các nhà tâm
lí học đều thống nhất một cách hiểu về khái niệm HVGH như là cách cư xử có chủ
ý, gây tổn thương cho người khác, nhờ đó quá trình nghiên cứu phân tích và đưa racác giải pháp được dễ dàng và cụ thể hơn
Thuyết bản năng của S Freud (1920), và Konrad Lorenz (1966) đã xem xét sựgây hấn như là một bản năng bẩm sinh Thuyết này khẳng định HVGH là cần thiếtnhằm đảm bảo cho các cá thể tồn tại Các cá thể phải gây chiến với nhau để giành
cơ hội tiếp cận với những nguồn tài nguyên có giá trị như lương thực, đất đai, địa vị
xã hội… [Dẫn theo 10]
Một đại diện khác của thuyết bẩm sinh là Cesare Lombroso (1835-1909), nhàtội phạm học Italia, coi những dị dạng về sinh lí, giải phẫu cơ thể người là nguồngốc của HVGH Chẳng hạn, những người trán thấp, mũi tẹt, quai hàm và xương gò
Trang 11má lớn, mắt xếch, lông mày đen rậm, bàn chân to bè… là những người có đặc điểmthuận lợi để phát sinh hung tính.
Nhà nhân chủng học người Mỹ W Shendon đã cố gắng tìm mối liên hệ giữahành vi cá nhân với kiểu loại cơ thể Ông khái quát thành ba kiểu cơ thể cơ bản Thứnhất, kiểu Endomorph (tròn, béo, mềm); thứ hai, kiểu Mesomorph (lực lưỡng) vàcuối cùng là kiểu Ectomorph (gầy, yếu ớt) Theo Shendon, kiểu Mesomorph gần vớinhững hành vi hung tính nhất vì dễ bị kích động, nóng nảy, dễ căng thẳng thầnkinh… kiểu Endormorph dễ khoan dung, dễ bằng lòng và thân thiện, còn loạiEctomorph lại quá nhạy cảm, dễ nhụt chí, nản lòng [Dẫn theo 10]
* Nghiên cứu thực tiễn về hành vi gây hấn học đường
Ngoài các nghiên cứu lí thuyết trên, gần đây các nghiên cứu thực tiễn về tìnhtrạng gây hấn trong trường học được các nhà nghiên cứu phương Tây đặc biệt quantâm Năm 2001, một nghiên cứu được thực hiện tại Mỹ bởi Tonja Nansel và đồngnghiệp chỉ ra rằng trong số hơn 15.000 học sinh Mỹ từ lớp 6 đến lớp 10 có khoảng17% học sinh cho biết họ thỉnh thoảng hoặc thường xuyên bị bắt nạt trong cả nămhọc; gần 19% họ thỉnh thoảng hoặc thường xuyên bắt nạt các bạn khác và 6% chorằng họ vừa đi bắt nạt người khác vừa là nạn nhân của bắt nạt [Dẫn theo 13]
Những nghiên cứu gần đây ở Mỹ đã chỉ ra rằng cứ 7 phút lại có một trẻ em bịbắt nạt Cứ 4 trẻ lại có một trẻ thừa nhận từng bắt nạt trẻ khác Một cuộc thăm dòthực hiện ở trẻ có độ tuổi 12- 17 cho kết quả các em đều thừa nhận bạo lực đang giatăng ở trường học của mình Mỗi tháng có 282.000 học sinh ở các trường THCS Mỹ
bị tấn công Cũng tại Mỹ, nghiên cứu của Hội đồng phòng chống tội phạm quốc gia(NCPC) cũng khẳng định 43% học sinh cả nam lẫn nữ thuộc độ tuổi từ 13- 17 tuổitừng bị dọa nạt hoặc chế giễu trên internet
Theo các nghiên cứu thực hiện ở Châu Âu, bạo lực học đường xảy ra thườngxuyên ở trường tiểu học, liên quan tới khoảng 15% số học sinh Ở THCS, tỉ lệ họcsinh bị bắt nạt là từ 3% - 10%, với mức độ cao đột biến ở độ tuổi 13- 14, khi các emhọc sinh bắt đầu tuổi dậy thì, đến cấp trung học phổ thông, nạn bạo lực học đườngbắt đầu có xu hướng giảm đi Còn tại Châu Á, theo một nghiên cứu của Chính phủNhật Bản nạn gây hấn trong các trường học ở Nhật Bản đã tăng hơn 5% trong năm
Trang 122003 so với năm trước đó Sách trắng về thanh thiếu niên thống kê có 23.351 vụ bắtnạt trong các trường tiểu học và trung học công lập cùng với các trường khiếmthính, khiếm thị và khuyết tật khác trong năm 2003.
Tại Hàn Quốc, theo một cuộc khảo sát của Bộ Giáo dục nước này năm 2007khẳng định tình trạng GHHĐ đã gia tăng ở nước này 15,9% học sinh thú nhận từng
bị bạo lực học đường So với năm 2003, tỉ lệ học sinh bị bạn học đe dọa, trấn lộthoặc bắt nạt đều cao gấp 2- 3 lần Để ngăn ngừa tình trạng này, cùng với việc thihành luật, người dân nước này cũng đã tham gia nhiều cuộc vận động nâng caonhận thức về bạo lực học đường, tư vấn cũng như các biện pháp khác nhằm hỗ trợcác nạn nhân là học sinh [Dẫn theo 10]
Tóm lại, các nghiên cứu lí thuyết và thực tiễn về HVGH nói chung, HVGH họcđường nói riêng ở nước ngoài cho thấy: HVGH mang những nội dung về bản chất,nguồn gốc dựa trên cơ sở sinh học, xã hội học và tâm lí học Mỗi lí thuyết khác nhau cónhững cách lí giải khác nhau về nguồn gốc phát sinh cũng như những phương pháp trịliệu riêng đối với HVGH, tuy nhiên chưa đưa ra được một phương pháp trị liệu tổngquát cho việc giảm thiểu, ngăn ngừa hành vi này một cách hiệu quả
2.2 Những nghiên cứu liên quan đến vấn đề gây hấn học đường tại Việt Nam
* Nghiên cứu lý luận về hành vi gây hấn học đường
Ở Việt Nam hiện nay có rất ít nghiên cứu chuyên sâu nào về lí thuyết HVGHnói chung, GHHĐ nói riêng Đến năm 2011 mới có một cuốn sách chuyên khảo
“HVGH phân tích từ góc độ tâm lí học xã hội” của tác giả Trần Thị Minh Đức.Trong cuốn sách này, tác giả đã đề cập tương đối có hệ thống cơ sở lý luận và thựctiễn về HVGH phân tích dưới góc độ Tâm lí học xã hội
Ngoài ra, cuốn giáo trình “Tâm lí học xã hội” (Dùng cho sinh viên ngành Côngtác xã hội) của tác giả Phạm Văn Tư và cộng sự (2012) cũng đề cập đến một số vấn đề
lý luận về gây hấn và HVGH, trong đó các tác giả đã chỉ ra được khái niệm, nguồn gốc,bản chất và nguyên nhân gây hấn, cũng như các cách tiếp cận HVGH… [38]
Nghiên cứu ứng dụng thuyết gắn kết xã hội trong giải thích hành vi bạo lực củaVTN của tác giả Nguyễn Thị Như Trang [37]
Trang 13Như vậy, vấn đề GHHĐ đã có một số tác giả quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên nộidung các nghiên cứu chưa đề cập đến thực trạng HVGH học đường, cũng như biệnpháp nhằm giảm thiểu hành vi này mà nghiên cứu chỉ ở góc độ lý luận về HVGH.
* Nghiên cứu thực tiễn về hành vi gây hấn học đường
Trên thực tế, tình trạng gây hấn trong trường học thời gian gần đây khôngngừng gia tăng cả về số lượng lẫn tính chất nguy hiểm của hành vi Các hành vi gâyhấn, bạo lực chủ yếu xảy ra giữa học sinh với học sinh, học sinh với thầy cô giáothời gian qua đã được báo chí và các phương tiện truyền thông truyền tải khá nhiều.Tuy nhiên, nghiên cứu cụ thể về hành vi này gần như rất ít Tổng hợp các công trìnhnghiên cứu thực tiễn về mảng này có một số hướng sau:
- Thứ nhất, hướng nghiên cứu thực tiễn về hành vi lệch chuẩn.
Hướng nghiên cứu này có một số tác giả tiêu biểu như: Tác giả Lưu Song Hà,
2008, nghiên cứu về cách thức cha mẹ quan hệ với con cái và hành vi lệch chuẩn [17].Nghiên cứu "Bạo hành đối với trẻ em gái trong môi trường học đường
(Nguyễn Phương Thảo và cộng sự, 2005)
Tìm hiểu những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội của học sinh trường Phổ thông trung học dân lập Đinh Tiên Hoàng (Nguyễn Thị Phương, 2006) [27]
Hành vi sai lệch chuẩn mực của học sinh tại một số trường phổ thông ở Hà Nội (Tạp chí phát triển giáo dục- Hoàng Gia Trang, 2005) [35]
Ảnh hưởng của nhóm bạn không chính thức đến hành vi phạm pháp của trẻ VTN (Mã Ngọc Thể), 2004 [33]
Một vài hiện tượng tiêu cực trong thanh niên hiện nay và công tác giáo dục vận động thanh niên (Lê Ngọc Dung, Hồ Bá Thông, 2004) [8]
- Thứ hai, hướng nghiên cứu về hành vi bắt nạt học đường.
Một số công trình tiêu biểu của một số tác giả những năm gần đây quan tâmnghiên cứu dưới góc độ thực tiễn:
Tác giả Trần Văn Công, Bahr Weiss, David Cole, 2009 với bài báo "Bị bắt nạtbởi bạn cùng lứa và mối liên hệ tới nhận thức bản thân và trầm cảm ở học sinh phổthông" đăng trên Tạp chí tâm lý học đã mô tả thực trạng hành vi bị bắt nạt bởi các
Trang 14bạn cùng lứa cũng như chỉ ra mối liên hệ tới nhận thức bản thân và trầm cảm ở họcsinh phổ thông [4].
Theo hướng này còn có tác giả Nguyễn Thị Duyên, 2012 Nghiên cứu mối liên
hệ giữa đặc điểm nhân cách và hiện tượng bắt nạt ở học sinh phổ thông trên địa bàntỉnh Bắc Ninh, tác giả đã chỉ ra thực trạng hiện tượng bắt nạt ở học sinh phổ thôngtrên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và hiện tượng bắtnạt ở học sinh phổ thông, từ đó tác giả đã đề xuất một số biện pháp để giảm thiểutình trạng bị bắt nạt [6]
Lê Thanh Hà và Đào Thị Diệu Linh, 2012 Bắt nạt học đường - một vấn đềđáng quan tâm của các nhà giáo dục Báo cáo Tham luận tại Hội thảo khoa học quốc
tế Tâm lí học đường lần thứ 3 đã cho thấy tình trạng bắt nạt học đường rất đáng longại cần được quan tâm của các nhà giáo dục [16]
Nguyễn Thị Nga, 2012 với đề tài "Bắt nạt ở học sinh phổ thông" Luận văn thạc sĩTrường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả đãchỉ ra thực trạng bắt nạt ở học sinh phổ thông, nguyên nhân của thực trạng từ đó đềxuất một số biện pháp nhằm giảm thiểu thực trạng bắt nạt ở học sinh phổ thông [24]
* Thứ ba, hướng nghiên cứu thực tiễn về hành vi gây hấn học đường
Những năm gần đây, HVGH học đường mới được tập trung nghiên cứu một cáchtrực tiếp Có thể kể đến một số đề tài nghiên cứu, bài báo khoa học có liên quan đếnHVGH trong phạm vi trường học của học sinh như sau: HVGH của học sinh THPT(Trần Thị Minh Đức, Hoàng Xuân Dung, 2008 – 2010) [10]; Hiện tượng gây hấn trongcác trường phổ thông trung học hiện nay (Trần Thị Minh Đức, 2010) [11]; Khác biệtgiới trong HVGH của học sinh THPT (Hoàng Xuân Dung, 2010) [7]
Tóm lại, hiện có rất ít công trình nghiên cứu trong nước về HVGH học đường,
đặc biệt là HVGH của trẻ VTN Đa số các nghiên cứu về HVGH được tiếp cận dướigóc độ của Tâm lý học xã hội Mặc dù đã có những biện pháp được đề xuất để giảmthiểu HVGH, tuy nhiên, chưa có, hoặc rất ít đề tài tiếp cận dưới góc độ CTXH nhằm
đưa ra được biện pháp can thiệp hiệu quả Vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài “Công tác xã hội nhóm với việc can thiệp trợ giúp trẻ vị thành niên có hành vi gây hấn”
là đề tài mới, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Trang 153 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu
Về mặt lý luận:
Đề tài đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về HVGH, CTXH nhóm, CTXHtrường học Góp phần bổ sung và làm hoàn thiện thêm kho tàng lý luận về CTXHtrường học, về hành vi lệch chuẩn của trẻ em nói chung, về HVGH của trẻ VTN
4 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
CTXH nhóm trong việc giảm thiểu HVGH của trẻ VTN
5.2 Giới haṇ vềkhông gian nghiên cứu
Trường THCS Ngọc Châu, thành phố Hải
Dương 5.3 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Thực trạng HVGH của trẻ VTN tại địa bàn nghiên cứu Từ đó đề xuất mô hìnhCTXH nhóm trong việc giảm thiểu HVGH ở các em
6 Câu hỏi nghiên cứu
Nhận thức về HVGH của trẻ VTN như thế nào?
Thực trạng và hậu quả HVGH đối với trẻ VTN?
Những yếu tố ảnh hưởng đến HVGH của trẻ VTN?
Trang 16Các biện pháp đã áp dụng nhằm giảm thiểu HVGH của trẻ VTN?
Những biện pháp nào của CTXH nhóm được đề xuất nhằm giảm thiểu HVGH của trẻ VTN một cách có hiệu quả?
Những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng biện pháp CTXH nhóm vào can thiệp hỗ trợ nhằm giảm thiểu HVGH của trẻ VTN ở địa bàn nghiên cứu?
7 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
7.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu lý luận và thực tiễn về HVGH của trẻ VTN, từ đó thiết kế quy trình vận dụng phương pháp CTXH nhóm vào việc giảm thiểu hành vi tiêu cực này
7.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về HVGH của trẻ VTN và phương phápCTXH nhóm
Đánh giá được thực trạng HVGH của trẻ VTN, các yếu tố ảnh hưởng đến hành
vi này
Đề xuất và thực nghiệm biện pháp CTXH nhóm để giảm thiểu HVGH của trẻ VTN
8 Giả thuyết nghiên cứu
HVGH của trẻ VTN ngày càng gia tăng, gây ra nhiều hậu quả tiêu cực cho giađình, nhà trường và xã hội
Các biện pháp can thiệp nhằm giảm thiểu HVGH chưa được triển khai hiệuquả và chưa phù hợp
Việc vận dụng biện pháp và quy trình can thiệp CTXH nhóm phù hợp có thểđem lại hiệu quả tốt hơn trong việc can thiệp giảm thiểu HVGH của trẻ VTN
9 Phương pháp nghiên cứu
9.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Thu thập thông tin từ các công trình khoa học, sách, báo, các số liệu đã đượcthống kê, các nghiên cứu chính thức về những vấn đề có liên quan đến HVGH Trên
cơ sở đó, chúng tôi tiến hành phân tích, so sánh, tổng hợp các khái niệm về HVGH;cách phân loại HVGH; các yếu tốảnh hưởng đến HVGH; các hình thức giảm thiểuHVGH; lý luận về CTXH; đặc điểm tâm, sinh lý của trẻ VTN… làm cơ sở lý luậncho việc xác định những yếu tố ảnh hưởng đến HVGH ở trẻ VTN, cũng như đề xuấtbiêṇ pháp can thiêpp̣ dưới góc đôCTXḤ
Trang 179.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Sử dụng phiếu điều tra, tiến hành khảo sát 150 học sinh thuộc lứa tuổi VTN
ở 02 khối lớp 8 và 9, nhằm tim̀ hiểu thực trạng về nhận thức , nguyên nhân , hậuquả, các yếu tố ảnh hưởng đến HVGH của trẻ VTN, cũng như các biện pháp canthiệp đã được áp dụng
9.3 Phương pháp phỏng sâu
Được thưcp̣ hiêṇ với học sinh, PHHS, các thầy cô giáo và cán bộ quản lý giáodục nhằm tìm hiểu thực trạng về nhận thức, nguyên nhân, hậu quả, các yếu tố ảnhhưởng… đến HVGH của trẻ VTN Tìm hiểu thái độ và biện pháp can thiệp, xử lícủa gia đình và nhà trường trước các biểu hiện của HVGH
9.4 Phương pháp quan sát
Quan sát những thay đổi về trạng thái tình cảm của trẻ VTN trong quá trìnhtham gia hoạt động thực nghiệm với phương pháp CTXH nhóm (lời nói, hành vi, cửchỉ, những biểu hiện cảm xúc ) Từ những quan sát này, chúng tôi phân tích vàđưa ra đánh giá về những chuyển biến của trẻ VTN (trong nhận thức, thái độ vàhành vi) từ buổi sinh hoạt đầu tiên cho đến khi kết thúc hoạt động nhóm
9.5 Phương pháp CTXH nhóm
Tiến hành thực nghiệm phương pháp CTXH nhóm dựa trên mô hình „„nhóm
xã hội hóa‟‟ đối với nhóm trẻ VTN có HVGH ở mức độ cao
Mục đích: tạo cho các em môi trường sinh hoạt bình đẳng, hòa nhập, thân thiện vàgiúp đỡ Thông qua mối quan hệ tương tác giữa các thành viên, các em được tăngcường sự hiểu biết, chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác Nội dung các kiến thức về kỹ năngsống, kỹ năng ứng phó kiểm soát cảm xúc tiêu cực, đặc biệt kiến thức về HVGH lànhững chủ đề chính được đưa ra trong các buổi sinh hoạt, thảo luận nhóm
Nội dung, mục đích quan trọng nhất của phương pháp CTXH nhóm là giúp cácthành viên trong nhóm thay đổi nhận thức, thái độ, cuối cùng chuyển việc thực hiệnhành vi tiêu cực sang hành vi tích cực, phù hợp chuẩn mực xã hội Qua đó, làmgiảm thiểu các hành vi lệch chuẩn nói chung, trong đó có HVGH nói riêng
9.6 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý kết quả điều tra và thực nghiệm
Trang 1810 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hành vi gây hấn của trẻ vị thành niên
và phương pháp công tác xã hội nhóm
Chương 2: Thực trạng và các yếu ảnh hưởng đến hành vi gây hấn của trẻ vị thành niên
Chương 3: Biện pháp can thiệp của công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu hành vi gây hấn cho trẻ vị thành niên
Trang 19NỘI DUNGCHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HÀNH VI GÂY HẤN
CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN VÀ PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM
1.1 Một số khái niệm công cụ của đề tài
1.1.1 Các khái niệm công cụ liên quan đến lý luận về hành vi gây hấn
1.1.1.1 Khái niệm hành vi gây hấn
Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam có khá nhiều định nghĩa khácnhau về HVGH Các nhà khoa học xã hội đã có những tranh luận gay gắt nhằm xácđịnh nội hàm của khái niệm này
Trong tâm lí học, khoa học hành vi và khoa học xã hội, gây hấn là hành vi giữanhững cá thể trong cùng một loài với mục đích sỉ nhục, gây đau đớn và tổn hại.Ferguson và Beaver (2009) định nghĩa “gây hấn là hành vi với ý định gia tăng sựthống trị xã hội của sinh vật này liên quan tới vị trí thống trị của sinh vật khác”.Trong từ điển Mtd Eva 300 - Lạc Việt, danh từ “aggression” được dịch ra tiếngViệt với các nghĩa là: sự xâm lược, sự công kích, sự gây sự, sự gây hấn, hung tính.Theo từ điển thông dụng tiếng Pháp Larouse giải thích thuật ngữ “aggression”chỉ tính nết một người hung hăng, hung bạo, cố tình làm tổn thương người khác vàchính mình trên phương diện thể chất lẫn tinh thần
Theo từ điển Tâm lí học do Vũ Dũng chủ biên năm 2008 đã dịch từ
“aggression” thành “xâm kích” với cách giải nghĩa như sau: “hành vi của cá nhânhay tập thể gây thiệt hại về tâm lí hoặc thể chất, thậm chí diệt trừ người hay nhómkhác”, (trích theo Vũ Dũng (chủ biên), Từ điển Tâm lí học, NXB Khoa học xã hội,2008) [9, tr.37]
Theo GS.TS Trần Thị Minh Đức: Gây hấn (aggression- còn gọi là xâm kích,xâm lược, bạo lực, hung tính) được hiểu là hành vi làm tổn thương, gây hại đếnngười khác, hay chính mình về tâm lí, thực thể hoặc làm tổn hại đến vật thể xungquanh một cách cố ý dù cho mục tiêu có đạt được hay không [13, tr.18]
Trang 20Từ các quan điểm nêu trên, một khái niệm chung nhất về HVGH có thể được
xác định như sau: “Hành vi gây hấn là hành vi có chủ ý nhằm gây tổn thương cho người và vật chất xung quanh, dù mục đích có đạt được hay chưa”.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm HVGH và các khái niệmcông cụ có liên quan để phục vụ cho mục đích nghiên cứu thực trạng về nhận thức,nguyên nhân, hậu quả, cách thức giảm thiểu HVGH ở trẻ VTN dưới góc độ CTXH
đó Lát cắt của HVGH là khi chủ thể xuất hiện ý đồ tấn công người khác đến khi hànhđộng đó diễn ra cho dù ý đồ có thành công hay không Vô tình làm ai đó bị tổn thươngkhông phải là một hành động gây hấn vì ở đây không có ý định làm hại Tương tự nhưvậy, những hành động gây hại mà không có chủ ý thì không gây hận thù, vì vậy khôngphải là hành động gây hấn Gây hấn chỉ tính chất của hành vi là tính hung hãn, hungtính, tính xâm kích, hành vi cố ý gây tổn hại cho người khác, đối tượng thường có xuhướng dùng sức mạnh cơ học hoặc sử dụng vũ khí làm công cụ tấn công người khác
Gây hấn làm tổn hại đến thể chất và tinh thần
- Gây hấn làm tổn hại về mặt thể chất: biểu hiện ở việc sử dụng cơ bắp như
đám, đá, tát, xô đẩy hay dùng những dụng cụ như gậy, roi, gạch, đá… đánh, némvào người khác; sử dụng bom, súng và các loại vũ khí giết người hàng loạt…
- Gây hấn làm tổn hại về mặt tinh thần: biểu hiện qua việc dùng lời nói miệt
thị, khiêu khích, nhạo báng, đe dọa tấn công, nhắn tin, gọi điện, đe dọa trực tiếphoặc nặc danh, chửi mắng, lăng mạ, nói xấu, la hét, dọa nạt, sỉ nhục, làm cho ngườikhác cảm thấy mất an toàn… Ngoài ra, gây hấn về mặt tinh thần còn biểu hiện ở cáckhía cạnh khác như xúi giục, cưỡng ép người khác thực hiện hành vi không phù hợpkhiến người đó phát triển không bình thường về mặt cảm xúc, gặp khó khăn tronggiao tiếp xã hội, hoặc tạo áp lực buộc người khác phải làm những điều vượt quá khảnăng, sức khỏe, lứa tuổi
Trang 21Gây hấn thể hiện như một xu hướng tính cách của con người.
Ở những người có biểu hiện HVGH, lời nói và hành động của họ luôn có xuhướng tấn công người khác, gọi là nét tính cách “hiếu chiến” Những người cókiểu thần kinh mạnh, không cân bằng thường có kiểu tính cách này
1.1.1.3 Phân loại hành vi gây hấn
Các nhà tâm lý học phân loại gây hấn ở con người thành hai kiểu là: gây hấn thù địch (hostile aggression) và gây hấn phương tiện (Instrunmental aggression)
Ở con người, gây hấn thù địch xuất phát từ sự giận dữ hay căng thẳng nội tại,HVGH được thực hiện nhằm thỏa mãn hay giải tỏa cơn tức giận, sự căng thẳng,mục đích có thể nhắm vào ai đó, vật nào đó hay đôi khi chuyển ngược vào chínhbản thân mình Còn đối với gây hấn phương tiện, HVGH chỉ mang ý nghĩa nhưmột phương tiện, một công cụ nhằm đạt được những mục đích khác mà không phải
là sự giải tỏa trực tiếp những giận dữ hay căng thẳng nội tại như trên
Trong nhiều nền văn hóa, nam giới có nhiều khả năng thể hiện sự gây hấntrực tiếp, đặc biệt là bạo lực thể chất Trong khi đó phụ nữ có nhiều khả năng thểhiện sự gây hấn gián tiếp, hoặc gây hấn phi bạo lực như là qua lời nói, qua kiểubắn tin, nói xấu sau lưng…
Gây hấn không đồng nhất với bạo lực Trong khi bạo lực thường được nhắctới như là những hoạt động thiên về thể chất “thượng cảng chân, hạ cẳng tay”, hay
ám chỉ cách ứng xử, những hành động mang tính phi pháp, thù địch mang sắc tháitiêu cực, thì gây hấn mang trường nghĩa rộng hơn: có thể mang tính bạo lực hoặccũng có thể không mang sắc thái thù địch Hành vi bạo lực thường được xem xét ởmức độ hậu quả đã gây ra, nếu chưa gây hậu quả “đáng tiếc” thì chưa gọi là hành
vi bạo lực, còn HVGH lại được chú ý tới nhiều hơn ở mặt bản chất của hành động,
kể cả khi chưa gây ra hậu quả đáng tiếc hay tổn hại nào thì cũng vẫn được xem là
có biểu hiện của HVGH [13, tr.65]
Trang 22Tóm lại, dù HVGH xuất hiện ở bất cứ dạng nào đi nữa thì nó cũng gây ra
những hậu quả tiêu cực cho con người và vật chất xung quanh, gây tổn hại đến thểchất và tinh thần cho người là nạn nhân của HVGH, người chứng kiến HVGH và
có thể cho chính người đi gây hấn Điều này cho thấy sự cần thiết phải có nhữngbiện pháp can thiệp để ngăn chặn, phòng ngừa và giảm thiểu hành vi tiêu cực này
1.1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gây hấn
Ảnh hưởng của các yếu tố sinh học đến hành vi gây hấn
- Ảnh hưởng của hệ thần kinh: Các nhà khoa học đã tìm thấy vùng thần kinh
điều khiển HVGH của con người Trong một thực nghiệm, người ta gắn một điệncực gây ức chế ở một điểm trên não bộ của con khỉ - vùng amygdala Mỗi khi conkhỉ có biểu hiện hung hãn đáng sợ người ta lại kích hoạt vào điện cực này, kết quả
là ngay lập tức con khỉ trở nên bớt hung hãn Như vậy, amygdala chính là nơi phátsinh những biểu hiện của hành vi hung tính, khi vùng này bị ức chế thì biểu hiệngây hấn giảm xuống
- Ảnh hưởng của gen: Nhiều nghiên cứu trước đây đã chứng minh rằng hành
vi bạo lực của con người chịu sự điều khiển của một gen (hoặc nhóm gen) nào đó.Những người sở hữu gen đó có xu hướng sử dụng bạo lực nhiều hơn khi bị khiêukhích Tuy nhiên, các nhà khoa học chưa tìm ra chính xác đó là gen nào
Những nghiên cứu ở nhiều trẻ em tại Niudilan phát hiện ra cách thức HVGHphối hợp với gen làm biến đổi sự cân bằng của chất dẫn truyền thần kinh ở nhữngđứa trẻ có tuổi thơ bị ngược đãi (Caspi và cộng sự, 2002; Moffitt và cộng sự,2003) Không phải chỉ những “gen xấu” hay những môi trường xấu mới dẫn đếngây hấn hoặc chống đối xã hội Đúng hơn là gen đã làm cho một số đứa trẻ trở nênnhạy cảm hơn và phản ứng lại mạnh hơn với những tác động từ môi trường sốngxung quanh chúng
Năm 2005, hơn 2.500 người trưởng thành tại Mỹ tham gia một cuộc khảo sát
về sức khỏe do nhà tội phạm học Kevin M Beaver của Đại học Florida (Mỹ) cùngcộng sự tiến hành Các nhà khoa học đã sử dụng dữ liệu về AND để phân tích,nghiên cứu xác định nó có mối liên hệ nào tới hành vi hung tính, bạo lực
Trang 23của con người Và kết quả là hầu hết những người người ưa bạo lực đều sở hữu một biến thể gen MAOA.
Gen MAOA làm tăng hoặc giảm nồng độ của nhiều chất dẫn truyền thần kinh,dẫn tới thay đổi tâm trạng và hành vi Những người sở hữu biến thể gen MAOA có xuhướng thích bạo lực và những biến thể này có thể truyền sang thế hệ tiếp theo
- Ảnh hưởng của hormone: Có nhiều nghiên cứu khẳng định ảnh hưởng của
hormon tới HVGH Thông thường lượng testoterone gây nên tính hiếu chiến ở đànông, vì vậy đàn ông thường hiếu chiến hơn phụ nữ Chính lượng testoterone ở đànông cao hơn đã giải thích tại sao số đông người bị bắt vì phạm tội bạo lực thường
là nam giới Mặc dù còn có những yếu tố khác qui định về giới nhưng rõ ràng có
sự khác biệt về mặt hormon giữa nam và nữ có liên quan đến HVGH
Nhận định về đàn ông hiếu chiến cũng tồn tại những kết quả khác biệt trong
đó có nghiên cứu của B.A Betncorut và N Miller (1996), khi phân tích dựa trên
64 cuộc thí nghiệm cho biết dù sự thật là trong một số hoàn cảnh nhất định, đànông thường hiếu chiến hơn phụ nữ nhưng sự khác biệt giữa hai giới sẽ còn rất ítkhi cả hai thực sự bị khiêu khích
Ảnh hưởng của môi trường sống tới hành vi gây hấn
- Ảnh hưởng của sức nóng: Những cụm từ như nóng giận, điên, sôi máu, nóng bừng bừng, “nóng giận mất khôn”… cho thấy có mối liên hệ giữa sức nóng
và HVGH Thực tế cho thấy, có nhiều người cho rằng họ cảm thấy cáu kỉnh, tứcgiận vào những ngày có nhiệt độ cao
Nghiên cứu của Baron và Ranberger (1987) cho thấy, số vụ bạo động vàomùa hè tăng lên cùng với sự tăng của nhiệt độ và đạt tới điểm cao nhất trongnhững ngày nhiệt độ khoảng từ 91- 95o F
Các nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng khi nhiệt độ tăng thì tăng số lần xảy racác HVGH như giết người, cưỡng dâm hay bạo hành phụ nữ (Anderson, 1989).Quan sát dọc vùng Bắc Hemisphere (Mỹ) không chỉ những giờ nóng lêntrong ngày, những ngày nóng hơn trong năm mới có tội phạm bạo lực mà điều nàycòn xảy ra ở những tháng nóng hơn của một năm, mùa hè nóng hơn, năm nónghơn, thành phố nóng hơn và cả ở vùng nóng hơn (Aderson, 1998, 2000)
Trang 24- Ảnh hưởng của các chất kích thích: Quan sát cuộc sống xung quanh cho
thấy: rượu, bia, ma túy và các chất kích thích có ảnh hưởng rất lớn đến HVGH củacon người Rượu có thể làm giảm khả năng kiềm chế của con người Mối liên hệgiữa lượng rượu, bia tiêu thụ và hành vi hiếu chiến đã được nhiều nhà nghiên cứuchỉ rõ có sự tương quan giữa những người không có tính hiếu chiến nhưng khiuống rượu thì cách hành xử của họ khác với khi họ ở trạng thái tỉnh táo Điều nàygiải thích được tại sao sau khi uống rượu người ta thường có những hành vi xungđột, bạo lực Rượu là một tác nhân gây nên tình trạng gây hấn ở người Rượu gâyhưng phấn và làm giảm sự kiềm chế ở con người, biến con người thành bất cần và
vô thức trong hành động Hơn nữa, rượu còn làm hỏng quá trình con người thunạp, phản hồi và xứ lí thông tin Người say thường có phản ứng với tình huốngmột cách vội vàng, mất đi sự khôn ngoan
Ngoài rượu, ma túy cũng là chất có liên quan đến hành vi bạo lực Ở Việt Nam,
có một số loại ma túy mới nhập về, do ở giai đoạn bán “thử nghiệm” để thăm dò nhucầu của đám dân chơi, nên độ “phê” phải nặng hơn các loại ma túy cũ Điều này đồngnghĩa với nguy cơ ảo giác cũng cao hơn Đặc biệt, nếu như trước kia, ảo giác vớingười “phê” ma túy chỉ khiến họ lắc lư, gào thét hoặc phóng xe tốc độ cao thì vớinhiều ma túy mới (ma túy đá) gây ảo giác dẫn đến hành vi tự hủy hoại cơ thể, hoặc tấncông người khác do nghĩ họ là kẻ cướp, hoặc họ chuẩn bị giết mình…
Ảnh hưởng của các yếu tố tâm lí đến hành vi gây hấn
- Ảnh hưởng của kiểu khí chất: Khí chất là một trong những thành phần quan
trọng tạo nên nhân cách con người cùng với xu hướng, tính cách và năng lực Khíchất của con người được hình thành từ thời thơ ấu liên quan đến kiểu thần kinh.Những người có kiểu khí chất nóng tương ứng với kiểu thần kinh mạnh, không cânbằng (hưng phấn lớn hơn ức chế) thì dễ phát triển hành vi hung tính hơn kiểu khíchất còn lại
Theo hiệp hội các nhà tâm lí Mỹ (1993), một đứa trẻ có thiên hướng cónhững hành vi xung đột, không sợ một điều gì thì có nguy cơ phát triển hành vibạo lực ở tuổi thanh thiếu niên Một đứa trẻ không gây hấn khi lên 8 tuổi sẽ vẫn làngười không gây hấn khi ở tuổi 48 (Huesman và cộng sự, 2003)
Trang 25- Ảnh hưởng của nhận thức, cảm xúc và hành động liên quan đến HVGH:
Nghiên cứu của Kernis (1989) chỉ ra rằng những cá nhân có lòng tự trọng cao và lòng
tự trọng của họ thường dễ bị dao động theo sự trải nghiệm xung động hàng ngày thì sẽ
dễ tức giận hơn so với những cá nhân có lòng tự trọng ổn định, vững vàng Nhữngngười có lòng tự trọng cao nhưng không ổn định sẽ dễ bị tổn thương, dễ có cảm giáckhông an toàn khi lòng tự trọng của họ bị đe dọa Việc nổi giận trong những hoàncảnh này giúp họ khôi phục lại lòng tự trọng của mình bằng việc đổ lỗi, trách mócngười khác Cách cư xử gây hấn nhằm mục đích bảo vệ lòng tự trọng khiến cá nhân cóhành động dứt khoát, mạnh mẽ mặc dù trong lòng cảm thấy yếu ớt, sợ sệt
Những hành động được thực hiện trong lúc giận dữ bùng phát với mục đíchduy nhất là làm tổn thương ai đó thì được gọi là “cơn thịnh nộ” Trong cơn thịnh
nộ, mong muốn làm hại đối phương là cơ sở giải thích cho hành động bạo loạn xảy
ra trên sân cỏ hay trên đường phố
Bị tấn công hay bị sỉ nhục bởi người khác là một con đường đặc biệt dẫn tớiHVGH Nghiên cứu của Kennitri Ohbuchi và Tohsihiro Kambara (1985) trườngĐại học Osaka đã chứng minh rằng những tấn công một cách chủ ý sẽ gây ranhững tấn công trả thù
- Ảnh hưởng do giao tiếp gây ra sự khiêu khích trực tiếp: Từ quan sát thực tế
cho thấy, những khiêu khích bằng ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ đều là nguyên nhânchủ yếu dẫn đến gây hấn Khi chúng ta là nạn nhân của sự chỉ trích của ngườikhác, chúng ta thường có xu hướng đáp trả Sự đáp trả này làm tăng tỉ lệ theo mức
độ chúng ta nhận được từ hành vi khiêu khích trực tiếp từ người khác
Nghiên cứu của Harris (1993) và của R Baron (1993) cũng cho thấy, nhữngloại khiêu khích như hợm hĩnh, tính ngạo mạn hoặc tính xem thường người khác…cũng là những kích thích mạnh mẽ nhất dẫn đến gây hấn Lời chỉ trích gay gắtkhông công bằng, đặc biệt là lời chỉ trích có tính công kích cũng là một loại khiêukhích có tác động mạnh Khi nó xảy ra rất khó tránh khỏi sự giận dữ và trả đũangay tức thì hoặc sau đó
- Kiểu nhân cách khác nhau có ảnh hưởng đến hành vi gây hấn: Nhân cách
tuýp A là một nhân cách cho thấy cá nhân có xu hướng hành vi chủ yếu trong tình
Trang 26trạng cạnh tranh rất cao, luôn cảm thấy mình không có đủ thời gian cho mọi việc
và xu thế rất dễ nổi nóng của họ (Glass, 1977, Strube, 1989) Nói cách khác, đây lànhững cá nhân rất thích ganh đua với người khác và kể cả với bản thân, luôn trongtình trạng vội vã và có xu hướng dễ dàng nổi nóng Ngược lại, nhân cách tuýp B,
là những cá nhân không có tính cạnh tranh cao, họ thường bình tĩnh và ít nổi nónghơn trong những tình huống khác nhau của cuộc sống
Có thể thấy, cùng một tình huống tác động lên cá nhân như nhau, tuy nhiênvới mỗi tuýp người khác nhau thì kết quả phản ứng sẽ rất khác nhau Strube vàcộng sự (1984) trong các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những cá nhân thuộc tuýp Akhông chỉ có những HVGH nhằm đạt mục đích của mình mà họ còn có nhữnghành vi cố ý gây hại đến người khác nhiều hơn so với những cá nhân tuýp B
Ảnh hưởng của phương tiện thông tin truyền thông đến gây hấn
Nghiên cứu của Huston và cộng sự (1992) cho thấy kết thúc tiểu học, tínhtrung bình ở Mĩ trẻ em xem khoảng 8.000 chương trình ti vi liên quan đến hành vigiết người và 100.000 chương trình có hành vi bạo lực
Walter và nhóm nghiên cứu (1993) cho biết, chúng ta hàng ngày đối diện vớicác phương tiện truyền thông đại chúng có nội dung bạo lực là rất lớn Còn Aderon
và cộng sự (2004) cũng chỉ rằng, ảnh hưởng từ những kích thích có nội dung bạolực từ phim ảnh, ti vi, các trò chơi điện tử… có liên hệ trực tiếp đến thái độ dễ nổinóng và HVGH của con người Mặt khác, cường độ ảnh hưởng của những kíchthích này rất lớn, giống như một thứ gây nghiện, một khi đã đi vào hệ thống tư duycủa con người thì rất khó từ bỏ được
Các nhà tâm lí học đã thống nhất với nhau rằng tác động của truyền thông đạichúng có nội dung đồi trụy và bạo lực gây ảnh hưởng trực tiếp và rất tiêu cực đếncách cư xử và hình thành nhân cách của con người trong xã hội, đặc biệt là vớinhững người đang ở tuổi VTN Ngoài truyền hình, phim ảnh thì ở trò chơi điện tử,game onlines… cũng là những trò tiêu khiển độc hại, nguy hiểm bởi tính bạo lực,đồi trụy, lệch lạc trong hành vi trong nội dung trò chơi dễ làm cho người chơi tậpnhiễm Điều lo ngại nhất là nó thu hút rất nhiều người ở mọi thành phần, lứa tuổitham gia, trong đó nhiều nhất lại là tầng lớp thanh thiếu niên, học sinh - sinh viên
Trang 27Thời gian gần đây đã xảy ra không ít trường hợp trẻ VTN do nghiện games,muốn thể hiện tính cách, hành vi như nhân vật trong games, hay do không có tiềnchơi games đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật như trộm cắp, cướp giật, giếtngười cướp của… Hậu quả của những hành vi tiêu cực này gây ra với xã hội là rấtnghiêm trọng.
Từ phân tích trên cho thấy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến HVGH của conngười, trên nhiều phương diện khác nhau: về mặt sinh học; về những tác động tiêucực từ điều kiện sống, môi trường sống; những yếu tố thuộc về tâm lý cá nhân (kiểunhân cách, khí chất, nhận thức, cảm xúc, hành động…) đều có liên quan đến HVGHcủa mỗi cá nhân ở những mức độ khác nhau
Việc nhận thức và hiểu biết đầy đủ về những yếu tố ảnh hưởng này, giúpchúng ta có cơ sở cho việc đề xuất những biện pháp can thiệp và tác động phù hợp
để ngăn ngừa nguyên nhân làm nảy sinh HVGH, đồng thời xác định được hướngđiều chỉnh hành vi bản thân cho đúng đắn, phù hợp với chuẩn mực xã hội, cũng nhưtăng cường khả năng kiểm soát, làm chủ cảm xúc một cách hiệu quả trong nhữngtình huống nảy sinh xung đột, mâu thuẫn
1.1.2 Các khái niệm công cụ liên quan đến lý luận về Công tác xã hội nhóm và Công tác xã hội trường học
1.1.2.1 Khái niệm Công tác xã hội nhóm
Theo các tác giả Toseland và Rivas (1998): “CTXH nhóm là hoạt động có mục đích với các nhóm nhiệm vụ và trị liệu nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu tình cảm xã hội
và hoàn thành nhiệm vụ Hoạt động này hướng trực tiếp tới cá nhân các thành viên trong nhóm và tới toàn thể nhóm trong một hệ thống cung cấp dịch vụ”.
Hoạt động có mục đích được Toseland và Rivas nhấn mạnh là hoạt động có kếhoạch, đúng trật tự, hướng tới nhiều mục đích khác nhau Mặt khác, định nghĩa nàycòn nhấn mạnh hoạt động có định hướng không chỉ thực hiện với một cá nhân mà làvới tất cả các thành viên trong nhóm
Từ điển CTXH Barker (1995), định nghĩa: „„CTXH nhóm là một định hướng và phương pháp can thiệp CTXH, trong đó các thành viên chia sẻ những mối quan tâm và những vấn đề chung, họp mặt thường xuyên và tham gia vào các hoạt động được đưa
ra nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể Đối lập với trị liệu tâm lý nhóm,
Trang 28mục tiêu của CTXH nhóm không chỉ là trị liệu những vấn đề về tâm lí, tình cảm mà còn là trao đổi thông tin, phát triển các kĩ năng xã hội và lao động, thay đổi các định hướng giá trị và làm chuyển biến các hành vi chống lại xã hội thành các nguồn lực hiệu quả Các kĩ thuật can thiệp đều được đưa vào quá trình CTXH nhóm nhưng không hạn chế kiểm soát những trao đổi về trị liệu”.
Có nhiều cách hiểu, cách tiếp cận về CTXH nhóm, nhưng dù được định nghĩatrên phương diện nào thì CTXH nhóm trước hết phải được coi là một phương phápcan thiệp của CTXH Đây là một tiến trình can thiệp trợ giúp nhằm tạo dựng và pháthuy sự tương tác, chia sẻ kinh nghiệm, nguồn lực giữa các thành viên trong nhóm,giúp củng cố và tăng cường chức năng xã hội, khả năng giải quyết vấn đề, thỏa mãnnhu cầu của nhóm Thông qua sinh hoạt nhóm, mỗi cá nhân được hòa nhập, pháthuy tiềm năng, thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi cũng như khả năng đương đầuvới những nan đề của cuộc sống [28]
1.1.2.2 Khái niệm Công tác xã hội trường học
Hiện nay, CTXH đã có mặt tại hơn 80 quốc gia trên thế giới CTXH đã thamgia giải quyết nhiều vấn đề xã hội ở nhiều lĩnh vực khác nhau nảy sinh trong cuộcsống Và CTXH trường học thực chất cũng là một lĩnh vực của CTXH nói chung
Hiệp hội CTXH trường học Mỹ định nghĩa:“CTXH trường học là một trong những chuyên ngành quan trọng của CTXH Với kiến thức và kỹ năng chuyên môn, nhân viên CTXH trường học tác động đến nhóm học sinh và cả hệ thống trường học Nhân viên CTXH trường học cũng giúp cho học sinh nâng cao khả năng đáp ứng các nhiệm vụ học tập của mình thông qua sự phối kết hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng”.
Như vậy, CTXH trường học là một trong những nền tảng thiết yếu của việc giảngdạy và học tập trong trường học, là một dịch vụ đặc biệt nhằm hỗ trợ, giúp đỡ tất cảnhững ai tham gia vào mối quan hệ học đường, bao gồm: thầy cô giáo, học sinh
- sinh viên, PHHS, các nhà quản lý giáo dục… CTXH trường học giúp giải quyết ổnthỏa các mối quan hệ trong trường học, tạo ra hiệu quả cao trong giáo dục Tuy nhiên,
nó đặc biệt chú ý đến việc hỗ trợ học sinh giải quyết những khó khăn nảy sinh trongcuộc sống, giúp học sinh phát huy tiềm năng, nội lực, phát triển các kỹ năng sống;
Trang 29xây dựng, củng cố và hình thành nhân cách, lối sống, tạo thuận lợi cho các em thamgia một cách hiệu quả vào quá trình học tập và hòa nhập xã hội.
Nhân viên CTXH trường học còn là cầu nối giữa học sinh với gia đình, nhàtrường và xã hội thông qua việc tổ chức, đánh giá, giới thiệu, điều phối và cung ứngcác dịch vụ liên quan giữa trường học và cộng đồng
1.1.2.3 Vai trò của Công tác xã hội trong trường học
CTXH là hoạt động chuyên nghiệp được thực hiện dựa trên nền tảng khoa họcchuyên ngành nhằm hỗ trợ đối tượng có vấn đề xã hội (cá nhân, nhóm, cộng đồng).Hiện nay, vai trò của CTXH ngày được khẳng định trong hầu hết các lĩnh vựccủa đời sống xã hội: trong bệnh viện, trường học, toà án, hay trong các cơ sở bảo trợ
xã hội CTXH trường học có những vai trò, chức năng, nhiệm vụ của CTXH nóichung, tuy nhiên nó chuyên sâu, nghiêng về phía giải quyết các vấn đề xảy ra trongmôi trường học đường Cụ thể vấn đề này đã được thảo luận trong Đại hội quốc tếlần thứ nhất vào năm 1999 và lần thứ hai vào năm 2003 Qua đó xác định những vaitrò cơ bản mà CTXHTH đảm nhiệm là: Vai trò nghiên cứu; Vai trò phòng ngừa, giáodục; Vai trò tham vấn trị liệu; Vai trò kết nối nguồn lực; Vai trò xúc tác, biện hộ; Vaitrò hoạch định chính sách Bốn đối tượng liên quan trong trường học được CTXHthực hiện vai trò trợ giúp can thiệp là: học sinh; phụ huynh học sinh; giáo viên; cácnhà quản lý giáo dục
Với học sinh: Giúp giải quyết những căng thẳng và khủng hoảng về tâm lí;
Tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tâm thần; Giúp học sinh khai thác và pháthuy những điểm mạnh để thành công trong học tập; Cải thiện năng lực cá nhân và
xã hội, giúp các em giảm những hành vi tiêu cực như: không hoàn thành việc họctập; hung hăng, gây gổ với bạn, không kiểm soát được mình; không có quan hệ vớibạn đồng lứa và người lớn; bị lạm dụng thể chất; chán học; bị trầm cảm; có nhữngdấu hiệu, hành vi tự sát…
Với các bậc phụ huynh: Hỗ trợ tham gia một cách có hiệu quả vào giáo dục
con cái; Hiểu được những nhu cầu phát triển và giáo dục của trẻ ở từng giai đoạnphát triển và có những biện pháp giáo dục, uốn nắn cho phù hợp Tiếp cận cácnguồn lực của trường học và cộng đồng (các nguồn học bổng cho con em, quĩ hỗ trợ
Trang 30các gia đình thuộc diện nghèo, chính sách, dân tộc miền núi…); Hiểu các dịch vụgiáo dục đặc biệt; Tăng cường kỹ năng làm cha mẹ.
Với các thầy cô giáo: Giúp cho quá trình làm việc với phụ huynh, học sinh
diễn ra hiệu quả; Tìm hiểu những nguồn lực mới; Tham gia vào quá trình giáo dục,nhất là với các em cần sự giáo dục đặc biệt; Hiểu hơn về gia đình, những yếu tố vănhoá và cộng đồng ảnh hưởng đến trẻ em
Với các cán bộ quản lý giáo dục: Hỗ trợ và tham gia vào việc xây dựng các
chính sách và chương trình phòng ngừa; Đảm bảo thực hiện đúng một số luật liênquan đến quyền trẻ em, lợi ích và trách nhiệm của người học như: các chính sách hỗtrợ cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, học bổng khuyến khích học sinh
có thành tích tốt trong học tập và rèn luyện, xây dựng cơ chế thưởng - phạt với họcsinh…[37]
Từ lý thuyết đến thực tiễn đều cho thấy vai trò của NVCTXH là rất quan trọngtrong việc thúc đẩy quá trình giáo dục và đào tạo, nhất là trong bối cảnh ở Việt Namhiện nay có sự thay đổi trong định hướng và phương pháp giáo dục đang diễn ranhanh chóng Sự tham gia tích cực của NVCTXH không những hỗ trợ các học sinh,sinh viên vượt qua những cản trở về tâm lí, tình cảm và các rào cản xã hội khác màcòn giúp các em khám phá, phát huy được năng lực bản thân, sử dụng hiệu quả cácnguồn lực bên ngoài, tạo thuận lợi để hoạt động giảng dạy và học tập đạt kết quả tốtnhất
Trong công cuộc đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay, bên cạnhnhững yếu tố trực tiếp, quyết định đến chất lượng giáo dục như đội ngũ những nhàquản lý giáo dục, đội ngũ giáo viên, nội dung chương trình giảng dạy, sách giáokhoa, tài liệu học tập… rất cần phải quan tâm đến các yếu tố có vai trò hỗ trợ, thúcđẩy khác để quá trình giáo dục và đào tạo diễn ra hiệu quả và chất lượng hơn Trong
đó CTXH với tư cách là một khoa học ứng dụng, một nghề nghiệp chuyên môn, mộtdịch vụ xã hội sẽ đáp ứng hiệu quả nhu cầu này Vì vậy, Chính phủ, các cơ quan banngành, các tổ chức, cá nhân cần thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi đưa mô hìnhCTXH vào trường học Phát triển CTXH trong trường học là một định hướng đúng,một việc làm cần thiết trong giai đoạn hiện nay
Trang 311.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Thuyết bản năng
Khi nói đến lí thuyết sinh vật hóa về gây hấn, các nhà Tâm lí học xã hộithường vận dụng thuyết tiến hóa của Charles Darwin trong việc giải thích nguồngốc gây ra HVGH của con người
Thuyết tiến hóa của Darwin khẳng định rằng: khi có nạn đói hoặc chiến tranh,hoặc khi thức ăn trở nên khan hiếm, sự canh tranh sẽ xuất hiện và trong cuộc đấutranh sinh tồn ấy, sự chọn lọc sẽ theo hướng kẻ yếu hơn sẽ bị đào thải khỏi sự sống.Căn cứ vào thuyết chọn lọc tự nhiên, người ta nhận thấy trong suốt quá trình pháttriển của loài người, hung tính đóng vai trò quan trọng trong sự sống còn của cácthành viên Ngay từ thời kỳ nguyên thủy, con người đã hình thành hung tính, gâyhấn để săn bắt, giết chết các con vật, tiêu diệt các bộ lạc, thị tộc khác, giành ngườiđẹp hoặc lãnh thổ của nhau… Như vậy, HVGH trở thành phương tiện để thỏa mãnbản năng sinh tồn của con người
Tác giả S Freud với lý thuyết phân tâm thì khẳng định, gây hấn xuất phát từmột năng lực bẩm sinh đi cùng với tính dục Trong nghiên cứu của mình vào đầuthế kỉ XX, ông đưa ra một khái niệm rất mới mẻ trong Tâm lí học - đó là “bản năngchết” Theo ông, bản năng chết được thể hiện ở sự hằn học với chính mình, gây hấn,xâm kích để đi tới tự hủy diệt bản thân Tuy nhiên, hành vi được xem như mangtính bản năng này trong nhiều trường hợp lại được phóng chiếu sang đối tượngkhác, là người hoặc vật chất xung quanh
Konrad Lorenz (1966), cho rằng HVGH của con người xuất hiện chính là vì bảnnăng chiến đấu Ông dẫn chứng chỉ có những con thú giống đực mạnh nhất và có khảnăng chiến đấu mới có thể chiếm được nhiều bạn tình để đảm bảo duy trì nòi giống.Những năm gần đây, một số nhà Tâm lí học xã hội đã không hoàn toàn nhất trívới những quan điểm của các tác giả trên khi giải thích HVGH Họ lý luận rằng:Thứ nhất, với những đặc tính phong phú thì HVGH có quá nhiều hình thái,biểu hiện, bao gồm những hành vi từ lảng tránh nhu cầu cần thiết của người kháccho đến những hành vi bạo lực, do đó học thuyết tiến hóa mới chỉ giải thích đượcmột phần của toàn thể bức tranh HVGH
Trang 32Thứ hai, HVGH luôn chịu sự tác động, ảnh hưởng của từng nền văn hóa, dovậy ở mỗi nền văn hóa khác nhau HVGH lại có sự thể hiện khác nhau về nội dung,hình thức cũng như mức độ.
Từ những nhận định trên, nhiều nhà Tâm lí học xã hội tin rằng yếu tố sinh họckhông đủ cơ sở để thuyết phục để lý giải về HVGH ở con người Song, càng ngàyvới ảnh hưởng của thuyết tiến hóa lên các ngành Khoa học xã hội và nhân văn nêncác nhà Tâm lí học đã bắt đầu chú ý đến quá trình gây hấn của con người Họ nhận
ra HVGH ở con người đã có những liên hệ với “gen” Cụ thể là, Hilton, Harris vàRice (2000) cho biết, trong nhiều nghiên cứu có thể thấy các con thú giống đực có
xu hướng chiến đấu để giành được cơ hội có bạn tình nên hiện tượng HVGH xảy ranơi các con thú đực là rất cao Ngược lại, các con thú giống cái cũng có HVGH rấtmạnh mẽ với các con đực vì chúng sợ những con đực sẽ có những hành động nguyhiểm với chúng và đàn con Kết quả là các con đực có xu hướng giảm hẳn HVGHvới con cái Từ những khám phá này, các nhà tâm lí học xã hội đã bắt đầu côngnhận ảnh hưởng của tác nhân di truyền Tuy nhiên cách lí giải của họ không đơngiản như quan niệm của Freud và Lorenz [36, tr.42]
1.2.2 Thuyết tâm động lực
Thuyết tâm động lực - lí thuyết động cơ về gây hấn của John Dollard - giảithích về sự thất vọng gây ra giận giữ, thất vọng như một sự cản trở hay ngăn cảnmột số hành vi định hướng đến mục tiêu
Dollard và các đồng nghiệp của ông cho rằng động cơ giành được mục đíchcàng mạnh mẽ thì sự thất vọng càng tăng lên Sự giận dữ và gây hấn càng tăng khichúng ta tưởng tượng về những gì nhận được nhưng lại bị cản trở vào phút chót.Theo Dollard, nếu sự thất vọng lặp đi lặp lại nhiều lần thì một lúc nào đó nó sẽ bùnglên, dẫn đến những HVGH quyết liệt
Thất bại càng in sâu, thì sự ảnh hưởng đến gây hấn càng lớn Khi con ngườitiến đến mục tiêu hoặc mơ ước của mình, cũng là lúc háo hức chờ đợi, hi vọng càngtăng, nhưng nếu như công việc đó bị cản trở mà không đạt được mong muốn nhưban đầu thì thất vọng lại càng nhiều hơn
Trang 33Mô hình John Dollard giải thích về sự thất vọng tạo nên gây hấn:
Tâm trạng Điều kiện khác đẩy vào bên
có thể làm cho một con người từ hiền lành trở thành một kẻ bạo lực với những hành
vi phạm pháp [9, tr.75]
1.2.3 Thuyết hành vi về gây hấn
Thuyết hành vi cổ điển với đại diện tiêu biểu là J Watson (1913) đã lấy hành
vi là đối tượng nghiên cứu của Tâm lí học Họ đưa ra công thức nổi tiếng sau:
Theo lí thuyết này thì hành vi con người bị hoàn cảnh điều khiển giống nhưmột cái máy từ tác nhân kích thích bên ngoài, cũng như vậy HVGH được diễn tảbằng công thức:
SKích thích bạo lực
RPhản ứng bạo lực
Trang 34Con người có xu hướng phản ứng bạo lực với các kích thích bạo lực Song trênthực tế, thì không phải bất cứ kích thích bạo lực nào cũng nhận được phản ứng bạolực, điều này phụ thuộc vào nhận thức, đặc điểm tâm lí và tính cách của cá nhân.Hơn nữa, HVGH là hành vi có chủ ý, vì thế quan điểm của lí thuyết hành vi cổ điểndùng để giải thích gây hấn không thật sự phù hợp.
Trường phái hành vi mới mà đại biểu là Thornkide và S Kinner đã bổ sungthêm yếu tố nhận thức của cá nhân trước phản ứng lại các kích thích của môitrường Trong cách tiếp cận của trường phái hành vi mới bổ sung thêm yếu tố O(phản ứng với sự tham gia của quá trình nhận thức và tư duy) Vì vậy, công thức củachủ nghĩa hành vi mới như sau:
S–O–R(O là dòng suy nghĩ, cảm nhận của chủ thể có tình huống kích thích)
Như vậy, theo cách tiếp cận mới này, HVGH hình thành ở chủ thể không chỉ
có sự tác động của môi trường, mà còn phụ thuộc vào tâm thế đón nhận của chủ thể.Con người không chỉ trả lời các kích thích một cách bản năng vô thức, mà hành vicủa họ có sự tính toán, có ý thức và khâu trung gian chính là tính chất cố ý, có ýthức của HVGH
1.2.4 Thuyết gắn kết xã hội
Thuyết gắn kết xã hội được Travis Hirschi - nhà tội phạm học nổi tiếng người
Mỹ trình bày một cách đầy đủ nhất vào năm 1969, trong tác phẩm “Những nguyênnhân của sự phạm pháp” Thuộc dòng các lý thuyết kiểm soát xã hội, lý thuyết củaHirschi thường được gọi cụ thể là thuyết gắn kết xã hội, bởi Hirschi nhấn mạnh vàoviệc các ràng buộc đối với xã hội chính thống có tác động ngăn chặn các hành viphạm pháp của cá nhân như thế nào?
Cách nhìn nhận của các nhà lý thuyết kiểm soát xã hội như Hirschi một phầnxuất phát từ quan điểm của Emile Durkheim cho rằng, những ham muốn của conngười vốn là vô tận, và „„bản chất con người không có khả năng vạch ra giới hạncần thiết cho nhu cầu của họ Và do đó, nếu chỉ tùy thuộc vào cá nhân, nhu cầu củacon người sẽ là vô tận‟‟ (Durkheim 1966: 247) Đồng thời, cách nhìn của nhữngngười theo thuyết kiểm soát xã hội cũng chịu ảnh hưởng của
Trang 35trường phái Thomas Hobbes, cho rằng mọi hành vi có tính lựa chọn của con ngườiđều bị ràng buộc bởi các khế ước xã hội tiềm ẩn, tức là, các đồng thuận và sắp xếpgiữa các thành viên trong xã hội.
Hirschi cũng cho rằng, chính sự gắn kết với xã hội chính thống là yếu tố ngănchặn con người vi phạm pháp luật Càng gắn bó với xã hội chính thống, con ngườicàng né tránh việc sử dụng các giải pháp có tính vi phạm những quy điều, chuẩnmực của xã hội, bởi sự vi phạm sẽ đe dọa tới vị trí của họ trong xã hội chính thống.Vậy cái gì tạo nên gắn kết xã hội - yếu tố cản trở con người phạm pháp? Hirshicho rằng có bốn thành tố cấu thành nên độ gắn kết xã hội của mỗi người: sự gắn bótình cảm (1), sự tham gia (2), sự cam kết (3), và niềm tin (4) Theo đó, gắn bó làchiều cạnh tình cảm của sự gắn kết xã hội Theo Hirschi, sự gắn bó tình cảm là độnglực cốt lõi thúc đẩy các cá nhân học hỏi chuẩn mực và xây dựng ý thức tập thể (tôiyêu thương bố mẹ tôi, nên tôi sẽ cố gắng ngoan ngoãn để bố mẹ vui lòng) Không
có gắn bó tình cảm với (gia đình, thầy cô, bạn bè và những người xung quanh ), cánhân sẽ được giải phóng khỏi những rào cản đạo đức và do đó, dễ có hành vi lệchchuẩn hay phạm pháp Cam kết là chiều cạnh khác của gắn kết xã hội Theo Hirschi,
cá nhân luôn có ý thức về những „chi phí‟ mà họ phải trả giá nếu họ vi phạm chuẩnmực xã hội, và do đó, nếu cá nhân càng có sự cam kết mạnh mẽ với xã hội chínhthống, họ sẽ không muốn mạo hiểm đánh mất những gì đã xây dựng và tích lũyđược trong xã hội chính thống…
Trong nghiên cứu này, lý thuyết gắn kết xã hội của Hirschi được ứng dụng đểkiểm nghiệm liệu sự gắn kết với xã hội chính thống có tác động như thế nào với trẻVTN Cụ thể, câu hỏi đặt ra là: sự gắn kết với gia đình và sự gắn kết với nhà trường
có liên hệ như thế nào với HVGH, bạo lực của trẻ VTN? [37]
1.2.5 Thuyết học tập xã hội
Thuyết học tập xã hội chỉ ra rằng gây hấn là hành vi xã hội được học hỏi thôngqua sự bắt chước Brandura nhấn mạnh điều kiện môi trường và xã hội là một trongnhững nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến HVGH Ông cho rằng, con người có thểhọc về tính gây hấn không chỉ bằng việc từng trải qua và chịu hậu quả do HVGHgây ra mà còn bằng việc quan sát, bắt trước từ người khác
Trang 36Năm 1961 Bandura và các cộng sự đã làm một cuộc khảo nghiệm để tìm hiểu
về hành vi bắt chước của trẻ VTN Kết quả cho thấy hành vi hiếu chiến của trẻ VTNlàm giảm sự kiềm chế của chúng Trẻ con thường hành động và nói năng theo kiểubắt chước Việc chứng kiến những HVGH vừa làm giảm bớt khả năng kiềm chế,vừa dạy cho chúng cách đi gây sự với người khác Ông còn nhận định một người cóHVGH hay không trong 1 tình huống cụ thể sẽ phụ thuộc vào ba yếu tố: thứ nhất,kinh nghiệm trước đó (kinh nghiệm của cá nhân và kinh nghiệm của người khác);thứ hai, sự phức hợp của các yếu tố về nhận thức, xã hội, môi trường trong tìnhhuống đó; thứ ba, là sự thành công của HVGH trước đó
Gia đình là cái nôi đầu tiên nuôi dưỡng mỗi đứa trẻ Bố mẹ, người chăm sóc lànhững người có ảnh hưởng sâu sắc, lâu dài, để lại những dấu ấn khó phai trong nhâncách của con cái Vì vậy, hành vi học tập xã hội của trẻ đầu tiên bắt nguồn từ tronggia đình Văn hóa gia đình, cách ứng xử và cách giáo giáo dục của người lớn vớicon trẻ sẽ ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành đạo đức, lối sống, cách hành xửcủa trẻ với người xung quanh
Môi trường ngoài gia đình, tức môi trường xã hội cũng đưa ra những mô hìnhcho tính gây hấn Cụ thể, trẻ VTN sẽ bị tập nhiễm HVGH thông qua phim ảnh, tròchơi, ngôn ngữ giao tiếp có tính bạo lực Một cách dễ dàng hơn là từ chính nhữngđám trẻ (những đàn anh) có HVGH, bạo lực, đây sẽ là hình mẫu lý tưởng cho nhữngđứa trẻ nhỏ tuổi hơn bắt chước
Bên cạnh đó, Bandura còn cho rằng hành động gây hấn được thúc đẩy bởi mộtloạt các yếu tố khác nhau: sự thất vọng, những nỗi đau, sự chấn thương Nhữngkinh nghiệm đó ảnh hưởng đến cảm xúc của con người, tính gây hấn xuất hiện, nếugặp động cơ đúng đắn thúc giục ngừng sự gây hấn khi cần thiết sẽ không xảy raHVGH Do đó, Ông cũng đặc biệt chú ý đến việc sử dụng phần thưởng và hình phạtđối với mỗi hành vi tích cực hay tiêu cực của trẻ em
Trang 371.3 Đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi vị thành niên liên quan đến hành vi gây hấn
1.3.1 Khái niệm vị thành niên
Tuổi VTN được định nghĩa là giai đoạn chuyển tiếp của sự tăng trưởng và pháttriển từ cuối tuổi trẻ em đến bắt đầu tuổi trưởng thành Đến nay, VTN là một kháiniệm chưa được thống nhất và có nhiều quan điểm khác nhau:
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) lứa tuổi từ 10 - 19 tuổi là độ tuổi VTN.Thanh niên trẻ là lứa tuổi từ 19 - 24 tuổi Chương trình Sức khỏe sinh sản/Sức khỏetình dục VTN- thanh niên của khối Liên minh châu Âu (EU) và Quỹ Dân số LiênHiệp Quốc (UNFPA) lấy độ tuổi 15 - 24 tuổi
ỞViệt Nam, người chưa thành niên được xác định tương đối thống nhất trongHiến pháp 1992, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật lao động, Bộ luật dân sự
và một số văn bản qui phạm pháp luật khác Các văn bản pháp luật đều qui định tuổicủa người chưa thành niên là dưới 18 và trong từng trường hợp cụ thể có những chếđịnh pháp luật hoặc các qui định riêng cho người chưa thành niên Cụ thể:
Theo Luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, tại điều 1 quiđịnh trẻ em là người dưới 16 tuổi Tuy nhiên, về mặt luật pháp qui định VTN làdưới 18 tuổi
Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam xác định VTN là từ 10 - 19 tuổi, chia làm
2 giai đoạn: Giai đoạn đầu từ 10 - 14 tuổi; Giai đoạn sau từ 15 - 19 tuổi
Trong nghiên cứu này chúng tôi thống nhất với quan niệm trẻ VTN là lứa tuổi
từ 10 đến 19 tuổi, khách thể trong nghiên cứu là trẻ nằm trong giai đoạn đầu của tuổi VTN, từ 10 – 14 tuổi và đang học ở bậc học THCS.
1.3.2 Đặc điểm sinh lý của trẻ vị thành niên
Đặc điểm đặc trưng về sự phát triển sinh lý của trẻ VTN gắn liên với tuổi dậy thì.Tuổi dậy thì trung bình của trẻ em gái là từ 11-14 tuổi; ở trẻ trai là 13-16 tuổi Mỗi cá nhân
có một thời gian biểu riêng xác định thời điểm dậy thì cho cả nam và nữ, thành thử cónhững biến thiên lớn về thời gian, song trình tự chín muồi về giới tính thì như nhau
1.3.3 Đặc điểm tâm lý đặc trưng của trẻ vị thành niên
Trong phạm vi ý thức xã hội, trẻ mong tìm được sự bình đẳng trong cách đối
xử, tuy nhiên trên thực tế, trẻ vẫn phụ thuộc vào bố mẹ, gia đình, người chăm sóc về
Trang 38nhiều mặt, điều này dẫn đến những mâu thuẫn khá phổ biến trong mối quan hệ giaotiếp và ứng xử của trẻ VTN với những người xung quanh, biểu hiện rõ nhất lànhững đụng độ, xung đột trong mối quan hệ với người lớn Hệ quả, trẻ dễ nảy sinhnhững suy nghĩ lệch lạc và hành vi tiêu cực với các biểu hiện như là: bướng bỉnh,không vâng lời, bất cần, bỏ nhà hay là gây hấn.
Tuổi VTN luôn mong muốn có những quyền hạn mới, trước hết là mở rộngphạm vi, mối quan hệ với người lớn Trẻ bắt đầu chống đối những yêu cầu củangười lớn mà trước đây nó vẫn thực hiện một cách tự nguyện, trẻ dễ bị chạm đếnlòng tự ái và chống cự khi người ta hạn chế tính độc lập của trẻ Trẻ VTN rất nhạycảm về giá trị của bản thân, trẻ có ý thức về bản thân như là một người không thểchịu đè nén, hạ thấp và bị mất quyền độc lập Kiểu quan hệ với người lớn đã cótrong thời thơ ấu phản ánh vị trí không bình đẳng, phụ thuộc giữa trẻ với người lớnlúc này là không thể chấp nhận được, không còn phù hợp với biểu tượng về mức độtrưởng thành về bản thân của trẻ
Với trẻ VTN, sự trưởng thành của bản thân và nhu cầu được những ngườixung quanh thừa nhận đã nảy sinh ra một vấn đề hoàn toàn mới như việc cần xáclập lại quyền hạn của người lớn với trẻ em trong mối quan hệ qua lại, điều này đồngnghĩa đang diễn ra việc chuyển tiếp, thiết lập „kiểu quan hệ mới‟ mối quan hệ giữangười lớn và trẻ VTN Sự chuyển tiếp này tồn tại như một quá trình hình thànhnhững phương thức mới có sự tác động qua lại về một xã hội giữa trẻ VTN và ngườilớn Những phương thức cũ dần dần bị những phương thức mới lấn át, nhưng
ở một thời gian dài chúng vẫn tồn tại song song, điều đó gây ra những khó khăn lớn cho cả người lớn lẫn trẻ VTN
Những chuẩn mực mới thể hiện thông qua hành vi, sự tự đánh giá của trẻ VTN
và sự đánh giá về thái độ của người lớn đối với trẻ là cơ sở của phẩm chất đạo đứcđược hình thành Hình thức chuyển sang kiểu quan hệ mới có thể diễn ra thuận lợinếu bản thân người lớn điều chỉnh lại thái độ của mình đối với trẻ, quan tâm và thỏamãn phần nào nhu cầu của trẻ Để làm được điều này, người lớn không giữ thái độcoi thường, thiếu tôn trọng trẻ VTN Song, trên thực tế còn nhiều yếu tố quan trọngkhông dễ cho phép thay đổi mối quan hệ đã hình thành trước đây, lý do:
Trang 39Một là, vị trí xã hội của trẻ VTN vẫn không đổi: Trẻ vẫn là “cậu học trò”, là
ở giai đoạn này, giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành về mặt xãhội Do đó, người lớn phải mở rộng quyền hạn, trách nhiệm và tăng cường tính độclập tự chủ cho trẻ Chỉ trong điều kiện như vậy trẻ VTN mới có thể học được cáchsuy nghĩ, hành động, thực hiện các loại nhiệm vụ khác nhau một cách độc lập vàđúng đắn Về thực chất, đây là biện pháp giúp trẻ VTN vươn tới sự trưởng thành.Cha mẹ, thầy cô giáo và bạn bè… tất cả đều có ảnh hưởng đến trẻ VTN Thực
tế, ngoài cha mẹ ra, thì thầy cô giáo, bạn bè và người thân là những người có ảnhhưởng vô cùng to lớn đối với trẻ VTN về mặt phát triển trí tuệ và nhân cách Ở giaiđoạn này trẻ có nhu cầu mở rộng mối quan hệ với bạn bè, muốn mình được kết thân,muốn thuộc về một nhóm Đặc biệt tâm lý ngưỡng mộ, hay tôn sùng một cá nhânnào đó ngoài gia đình thường xuất hiện, thậm chí các em trở thành các „„fan‟‟cuồng của người đó Thời kỳ này cũng là thời kỳ của những “đam mê”, có thể làmnảy sinh mâu thuẫn với các giá trị của cha mẹ hay của quyền uy Do vậy, các bậccha mẹ nên “nới lỏng” một phần để cho trẻ VTN có được quan hệ với những ngườilớn khác hay thỏa mãn những mong muốn riêng tư
Một phần quan trọng của sự lớn lên về mặt xã hội trong tuổi VTN là phát triểnkhả năng tự quản và một ý thức trách nhiệm Trẻ VTN cần trải qua những cảm nghĩ
về sự thỏa đáng và sự hoàn thành trong công việc trẻ làm ở nhà và ở trường học,
Trang 40cho nên các công việc do cha mẹ và thầy cô giao cho phải được chính trẻ nhìn nhận
là quan trọng, là đáng giá và có hiệu quả Trẻ sẽ xây dựng các chuẩn mực để hoànthành nhiệm vụ cho phù hợp với kỳ vọng, nếu trẻ được đối xử với sự tôn trọng
đề chính ảnh hưởng đến diện mạo, tâm lý, cảm xúc của lứa tuổi VTN, làm ảnhhưởng đến cuộc sống, sinh hoạt, lao động học và tập của các em, trong nhiều trườnghợp, nó trở thành rào cản khiến các em khó khăn hòa nhập vào xã hội
Trong vô số các vấn đề liên quan đến lứa tuổi VTN thì vấn đề về giới tính, tìnhdục lại được các em và cả người lớn đặc biệt quan tâm Khám phá, thỏa mãn nhucầu về tình dục được xem như là nhu cầu bản năng của con người, song ở tuổi VTNđiều này được thể hiện rõ ràng nhất Để thỏa mãn nhu cầu tình dục của mình, conngười tìm đến nhiều cách thức khác nhau, song với người tuổi VTN thì cách phổbiến nhất vẫn là thủ dâm Thủ dâm có nghĩa là sự ban thưởng tình dục thông quahành động tự kích thích Sự trải nghiệm này là một phần nằm trong quá trình pháttriển và tăng trưởng của đứa trẻ, nó mang lại cho lứa tuổi VTN một ý nghĩa rất mớimẻ
Do sự chín muồi tình dục trên phương diện sinh học, song lại chưa sẵn sàng cócác quan hệ tình dục như ở người lớn Lứa tuổi VTN có những dục vọng và xungđộng thể chất, song không có cách nào bộc lộ tình cảm, thỏa mãn nhu cầu của mình
ra ngoài, với người khác do những yếu tố văn hóa, tập quán và phong tục không chophép, vì thế phải hướng chúng vào bên trong, tìm thấy nguồn gốc