Vai trò của hệ thần kinh. Các quy luật hoạt động thần kinh và mối liên hệ thần kinh với các hệ cơ quan khác. sinh lý người và động vật.Vai trò của hệ thần kinh. Các quy luật hoạt động thần kinh và mối liên hệ thần kinh với các hệ cơ quan khác. sinh lý người và động vật.Vai trò của hệ thần kinh. Các quy luật hoạt động thần kinh và mối liên hệ thần kinh với các hệ cơ quan khác. sinh lý người và động vật
Trang 1Chào mừng thầy cô và các bạn đến với bài thuyết trình
Trang 3Chủ đề : Vai trò của hệ thần kinh Các quy luật hoạt
động thần kinh và mối liên hệ thần kinh với các hệ cơ quan khác
các luận điểm chính
1 Vai trò của hệ thần kinh
2 Các quy luật vận động thần kinh
3 mối liên hệ thần kinh với các hệ cơ quan khác
Trang 41 Vai trò của hệ thần kinh
Hệ thần kinh là một hệ cơ quan phân hóa cao nhất trong cơ thể người, ở dưới dạng ống và mạng lưới đi khắp cơ thể, được cấu tạo bởi một loại
mô chuyên biệt là mô thần kinh, gồm các tế bào thần kinh — nơ-ron và các tế bào thần kinh đệm (thần kinh giao)
Trang 6CHỨC NĂNG CỦA HỆ THẦN KINH
Hệ thần kinh đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều hòa mọi hoạt động của cơ thể, đồng thời bảo đảm cho cơ thể thích nghi hoàn
toàn với ngoại cảnh
Hệ thần kinh là cơ quan duy nhất có khả năng thực hiện các hoạt động kiểm soát hết sức phức tạp Hằng ngày, nó nhận hàng triệu mã thông tin
từ các cơ quan cảm giác truyền về rồi tích hợp chúng lại để định ra các đáp ứng thích hợp
Trang 7Để hoàn thành chức năng đó, hệ thần kinh phải thực hiện các chức năng
cơ bản sau:
+ Chức năng cảm giác
+ Chức năng vận động
+ Chức năng thực vật
+ Chức năng hoạt động thần kinh cao cấp
Trong đó, chức năng hoạt động thần kinh cao cấp là chức năng đặc
trưng của vỏ não (sẽ được trình bày trong phần riêng), còn ba chức năng cảm giác, vận động và thực vật là chức năng chung ở tất cả các phần của
hệ thần kinh, ba chức năng này có mối liên hệ mật thiết với nhau
Trang 82 Các quy luật vận động thần kinh cấp cao
2.1 quy luật chuyển từ hung phấn sang ức chế
Quy luật này cho thấy mối liên hệ giữa hưng phấn và ức chế Quá
trìnhchuyển từ hưng phấn sang ức chế có thể diễn ra một cách nhanh chóng, đột ngột
Ví dụ : 1 số cháu bé vừa mới còn cười đùa đã lăn ra ngủ
Trang 9Quá trình chuyển từ hưng phấn sang ức chế trải qua 4 pha khác nhau:
+ Pha san bằng: bắt đầu ngay khi quá trình hưng phấn chuyển sang
ứcchế với đặc điểm là các kích thích có cường độ khác nhau đều cho
phản ứng giống nhau bằng cách tạo các ổ hưng phấn khác nhau trên vỏ não Kết quả xảy ra cạnh tranh giữa các ổ hưng phấn và ức chế trên vỏ não
+ Pha trái ngược: là giai đoạn tiếp theo của quá trình chuyển từ hưng
phấn sang ức chế, có đặc điểm là các kích thích có cường độ mạnh
không gây ra phản ứng, nhưng các kích thích có cường độ yếu hay trung bình lại gây ra phản ứng Kết quả não gần như không có phản ứng gì rõ rệt đối với môitrường xung quanh
Trang 10+ Pha cực kỳ trái ngược: có đặc điểm là các kích thích dương tính sẽ
tạora ức chế, còn kích thích âm tính lại cho phản ứng dương tính Người
ta mớithấy hiện tượng này xảy ra trên vỏ não
+ Pha ức chế hoàn toàn : có đặc điểm là não không có phản ứng đối với bất kỳ một loại kích thích nào
Trang 112.2 Quy luật lan tỏa tập chung
Hưng phấn và ức chế sau khi xuất hiện trên vỏ não có thể lan tỏa ra các phần khác nhau, khi đủ mức sẽ thu hẹp về vị trí ban đầu
+ Quy luật tập trung Một kích thích hay một nhóm kích thích được
truyền về não lúc đầu gây hưng phấn hay ức chế một cách lan tràn, có thể là trên toàn bộ não, nhất là các kích thích mạnh Tuy nhiên, sau một thời gian, các trung tâm hưng phấn hay ức chế trên não sẽ giảm bớt dần, cuối cùng tập trung ở một số trung khu tiêu biểu nhất, nhờ đó mà các
phản ứng chỉ xảy ra ở những cơ quan đặc trưng nhất Quá trình tập trung
có tính chất bảo vệ mô não khỏi làm việc quá căng hoặc quá lâu Đồng thời còn làm chính xác hóa và tăng hiệu quả của phản ứng trả lời
Trang 12+ Quy luật lan tỏa: Một kích thích lúc đầu có thể chỉ gây hưng phấn hay
ức chế cục bộ trên một vài vùng não xác định Nhưng nếu kích thích đủ mạnh, thì quá trình ức chế, hưng phấn có thể lan tỏa dần sang các trung khu khác của não Lan tỏa có tác dụng huy động các bộ phận trong cơ thể tham gia mỗi lúc mỗi nhiều vào một hành động chung, nhằm tăng
hiệu quả phản ứng
Quy luật lan toả có tác dụng huy động các bộ phận trong cơ thể tham
gia mỗi lúc một nhiều vào một hành động chung nhằm tăng hiệu quả
phản ứng Lan tỏa ức chế trên não còn mang tính chất bảo vệ
Trang 132.3 quy luật cảm ứng qua lại
Cảm ứng là khả năng gây ra quá trình đối lập ở xung quanh mình (cảm ứng không gian) hoặc tiếp sau mình (cảm ứng thời gian) của các quá trình thần kinh cơ bản (hưng phấn và ức chế)
Trang 14Người ta phân biệt một số hiện tượng cảm ứng sau:
+ Cảm ứng dương tính (hay cảm ứng hỗ trợ, cùng hướng): là hiện tượng tăng cường độ hoạt động của các nơron sau tác động của các kích thích âm tính.
Ví dụ, khi gây phản xạ nhảy, hai trung khu trên vỏ não gây sự co các cơ tham gia động tác nhảy ở cả hai chân
+ Cảm ứng âm tính (hay cảm ứng đối lập, ngược chiều): là hiện tượng ức chế xuất hiện trong các tế bào thần kinh bao quanh ổ hưng phấn Nhờ có cảm ứng âm tính mà hưng phấn không lan tỏa đựợc ra các phần khác nhau trên vỏ não
Ví dụ, cơ co ở tay hưng phấn thì cơ duỗi ở tay ức chế, và ngược lại Có
như vậy mới không ảnh hưởng nhau
+ Cảm ứng đồng thời Ví dụ, động tác hít vào, thở ra thì hai trung khu điều
Trang 152.4 Quy luật tính hệ thống
Hoạt động tổng hợp của vỏ não cho phép hợp nhất các kích thích riêng
lẻ thành một tổ hợp hoàn chỉnh, hay thành những hệ thống gọi là tính hệ thống trong hoạt động của vỏ não Một trong những biểu hiện quan
trọng nhất của hệ thống hoạt động vỏ não là hình thành “định hình động lực” (mà ta quen gọi là “động hình”) Vậy động hình là gì?
Trang 16Động hình là một hệ thống phản xạ có điều kiện được lặp đi lặp lại theo một trình tự nhất định và theo một khoảng thời gian nhất định, trong
một thời gian dài Sau đó chỉ cần một phản xạ đầu xảy ra, là toàn bộ
những phản xạ tiếp theo sẽ xảy ra theo lối “dây chuyền”, nghĩa là một kích thích có thể đại diện cho toàn bộ các kích thích khác để gây phản
xạ
Định hình động lực làm cho hoạt động của con người thuận lợi và dễ dàng hơn Nó là cơ sở của những thói quen tốt, của kỹ năng, kỹ xảo, là một hệ thống phối hợp chức năng tinh xảo của toàn bộ cơ thể
Trang 172.5 Quy luật về mối tương quan giữa cường độ kích thích và cường độ phản xạ có điều kiện.
-Trong thực tế, cường độ của ổ hưng phấn thường phụ thuộc vào ý
nghĩa sinh học, điều kiện tác động của kích thích và tình trạng sức khỏe của con vật Chính vì vậy, phản xạ có điều kiện chỉ hình thành được khi kích thích có điều kiện yếu hơn so với tác nhân cũng cố không điều
kiện
-Cường độ của các kích thích có điều kiện thay đổi cũng ảnh hưởng đến quá trình hình thành phản xạ có điều kiện Quá trình hình thành phản xạ
có điều kiện đối với các kích thích yếu thường khó khăn và kéo dài hơn
so với các kích thích mạnh, nhưng cường độ kích thích không được
vượt quá ngưỡng
Trang 183 mối liên hệ thần kinh với các hệ cơ quan khác
3.1 hệ giao cảm
a Cung phản xạ
Trang 19b hệ thần kinh vận động
• Ngược với hệ thần kinh dinh dưỡng, các con đường thần kinh tự động thường không chịu sự kiểm soát tự ý Chúng phân bố đến tim, cơ trơn trong thành ống tiêu hóa, hệ hô hấp, hệ bài tiết, hệ sinh dục, các mạch máu và một số tuyến
• Khác với hệ thần kinh dinh dưỡng chỉ dẫn truyền thông tin dọc theo một tế bào thần kinh vận động từ tủy đến cơ, các con đường của hệ
thần kinh tự động luôn luôn có hai tế bào thần kinh vận động Sợi trục của tế bào thứ nhất phát xuất từ não hoặc tủy và chạy đến các hạch
nằm bên ngoài hệ TKTU Tại đây, chúng tiếp hợp với tế bào thứ hai phân bố vào các cơ quan đích
Trang 20Hệ thần kinh phó giao cảm
Trang 23- Các thụ quan nội quan.
Khác với các thụ quan ở da nhận thông tin từ môi trường ngoài, một số thụ quan khác phân tán rộng rãi trong cơ thể, có vai trò chính trong việc thu thập những dữ kiện về các trạng thái của cơ thể Trong số này, đặc biệt quan trọng là thụ quan về sức căng ở cơ và gân Chúng nhận ra sự biến đổi về sức căng của cơ, truyền các xung về hệ TKTU để thông báo
vị trí và các cử động của những phần khác nhau trong cơ thể Một số thụ quan khác được phân bố rộng rãi trong các nội quan
Trang 24b Vị giác và khứu giác.
Các tế bào tiếp nhận cảm giác về vị (nếm) là dạng biến đổi của các tế bào biểu mô, được tổ chức thành các chồi vị giác (taste buds) phân bố trong nhiều vùng của lưỡi và miệng
Trang 25c thị giác
Trang 26d Thính giác
Cơ quan nhận cảm của ốc tai gọi là cơ quan Corti, đi vào trong ống ốc tai từ màng cơ sở (basilar membrane) Cơ quan Corti bao gồm một lớp biểu mô, trên đó có các tế bào thụ quan đặc biệt (trên đầu của chúng có các bó lông cảm giác) Ðầu của các sợi nhánh của tế bào thần kinh cảm giác nằm trên bề mặt của các tế bào lông nầy Ở phía bên trên của các tế bào lông là màng nóc (tectorial membrane) Sự rung động của màng cơ
sở làm cho các lông cảm giác di chuyển lên xuống, chạm vào màng nóc Chuyển động này làm mở kênh K+ trong màng tế bào lông và tạo ra sự khử phân cực