Đánh giá về nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở .... Nhằm góp phần giáo dục ý thức công dân ch
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
MA THỊ CHUYÊN
QUẢN LÝ GIÁO DỤC Ý THỨC CÔNG DÂN CHO
HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TRƯỜNG THCS TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
MA THỊ CHUYÊN
QUẢN LÝ GIÁO DỤC Ý THỨC CÔNG DÂN CHO
HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TRƯỜNG THCS TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
Ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 8 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS.Trần Quốc Thành
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường THCS trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn” là công trình nghiên cứu của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên
cứu lý thuyết, khảo sát tình hình thực tiễn dưới sự hướng dẫn khoa học của
GS TS Trần Quốc Thành trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tôi xin cam đoan các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, không sao chép hay trùng lặp với các kết quả nghiên cứu của các công trình khác đã công bố
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Ma Thị Chuyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo khoa Tâm lý - Giáo dục học, các thầy cô phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội và các thầy cô giáo phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ tác giả hoàn thành nhiệm vụ học tập trong hai năm qua Đặc biệt, tác giả xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Trần Quốc Thành đã tận tình hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với Ban giám hiệu, cán
bộ, giáo viên, học sinh các trường THCS trên địa bàn huyện Ba Bể đã giúp đỡ tác giả thực hiện các nội dung nghiên cứu thực tế để hoàn thành luận văn này
Tuy đã cố gắng hết sức, nhưng luận văn cũng sẽ không tránh khỏi các hạn chế, thiếu sót, tác giả mong tiếp tục nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và các bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Ma Thị Chuyên
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết nghiên cứu 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Ý THỨC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Ở nước ngoài 6
1.1.2 Ở trong nước 6
1.2 Các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 8
1.2.1 Công dân và ý thức công dân 8
1.2.2 Giáo dục và giáo dục ý thức công dân cho học sinh 11
1.3 Giáo dục ý thức công dân cho học sinh trung học cơ sở người dân tộc thiểu số 12
1.3.1 Đặc điểm học sinh trung học cơ sở người dân tộc thiểu số 12
Trang 61.3.2 Giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường
trung học cơ sở 16
1.4 Quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường trung học cơ sở 21
1.4.1 Quản lý và quản lý nhà trường 21
1.4.2 Khái niệm quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường trung học cơ sở 25
1.4.3 Nội dung quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường trung học cơ sở 25
1.5 Các yếu tố có ảnh hưởng đến quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường trung học cơ sở 29
1.5.1 Các yếu tố chủ quan 29
1.5.2 Các yếu tố khách quan 30
Kết luận chương 1 31
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC Ý THỨC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN 33
2.1 Khái quát chung về giáo dục THCS huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 33
2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội 33
2.1.2 Giáo dục trung học cơ sở 33
2.2 Tổ chức khảo sát 34
2.2.1 Mục đích khảo sát 34
2.2.2 Nội dung và đối tượng khảo sát 34
2.2.3 Phương pháp khảo sát và cách xử lý số liệu 39
2.2.4 Các lực lượng tham gia giáo dục 41
2.2.5 Cơ sở vật chất phục vụ giáo dục 43
2.3 Kết quả khảo sát 44
Trang 72.3.1 Thực trạng giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở
các trường THCS 44
2.3.2 Thực trạng quản lý giáo dục ý thức công dân 46
2.3.3 Quản lý phương pháp giáo dục 51
2.3.4 Quản lý các lực lượng tham gia giáo dục 53
2.3.5 Quản lý cơ sở vật chất phục vụ giáo dục 56
2.3.6 Đánh giá chung về các kết quả đã đạt được 57
2.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường trung học cơ sở 58
2.4.1 Các yếu tố khách quan 58
2.4.2 Các yếu tố chủ quan 59
2.5 Đánh giá chung về thực trạng 59
2.5.1 Các thành tựu đạt được 59
2.5.2.Những bất cập tồn tại 60
2.5.3.Nguyên nhân của thực trạng 61
Kết luận chương 2 62
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC Ý THỨC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN 63
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 63
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu 63
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ 63
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thiết thực và khả thi 63
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 64
3.2 Các biện pháp quản lý cụ thể 64
3.2.1 Tổ chức giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của công tác giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số 64
Trang 83.2.2 Tăng cường tích hợp giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc
thiểu số vào các môn học 67
3.2.3 Chỉ đạo đổi mới công tác chủ nhiệm lớp về giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số 73
3.2.4 Huy động Đoàn thanh niên tổ chức các hoạt động phù hợp để giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số 75
3.2.5 Phối hợp chặt chẽ các lực lượng giáo dục trong tổ chức các hoạt động giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số 76
3.2.6 Tăng cường cơ sở vật chất thiết bị phục vụ hoạt động giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số 81
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 84
3.4 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và khả thi của biện pháp 86
3.4.1 Đối tượng khảo sát 86
3.4.2 Mục đích khảo sát và cách tiến hành 86
3.4.3 Nội dung khảo sát 86
3.4.4 Kết quả khảo sát 86
Kết luận chương 3 90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Đội ngũ giáo viên các trường năm học 2018 - 2019 33
Bảng 2.2 Đánh giá của học sinh về thực trạng ý thức công dân của học sinh thiểu số hiện nay (ý kiến đánh giá của 300 học sinh mỗi khóa học) 34
Bảng 2.2 Thời gian dành cho tự học của học sinh 35
Bảng 2.3 Kết quả giáo dục học sinh năm học 2018 - 2019 35
Bảng 2.4 Kết quả các hoạt động giáo dục ý thức công dân 36
Bảng 2.5 Đánh giá về nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở 38
Bảng 2.6 Các phương pháp giáo dục ý thức công dân của học sinh 40
Bảng 2.7 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về mục đích, ý nghĩa của tuyên truyền, giáo dục giáo dục ý thức công dân 42
Bảng 2.8 Cơ sở vật chất và các thiết bị dạy học cơ bản các trường trung học cơ sở huyện Ba Bể năm học 2018 - 2019 43
Bảng 2.9 Quản lý mục tiêu công tác giáo dục, tuyên truyền giáo dục YTCD 45
Bảng 2.10 Kết quả đánh giá hiệu quả quản hình thức và nội dung giáo dục 46
Bảng 2.11 Đánh giá của CBQL và giáo viên về các biện pháp chỉ đạo GD ý thức công dân cho HS 51
Bảng 2.12 Thực trạng kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số của giáo viên 52
Bảng 2.13 Kết quả đánh giá hoạt động giáo dục YTCD cho CBQL 55
Bảng 2.14 Đánh giá của CBQL về thành công của quản lý hoạt động giáo dục ý thức công dân cho học sinh trường THCS huyện Ba Bể 57
Bảng 2.15 Đánh giá cơ sở vật chất phục vụ giáo dục 58
Bảng 3.1 Kết quả đánh giá tính cần thiết của các biện pháp 87
Bảng 3.2 Kết quả đánh giá tính khả thi của các biện pháp 89
Trang 11MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Giáo dục ý thức công dân là một trong những mặt giáo dục quan trọng trong mục tiêu giáo dục của nhà trường ở nước ta hiện nay Giáo dục ý thức công dân có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách của con người
là nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển của đất nước Đối với dân tộc Việt Nam: ý thức là vốn quý của con người, ý thức là nền tảng, là căn bản của con người vì vậy cần hướng tới phù hợp với định hướng giá trị của xã hội, cộng đồng và lựa cho mình lối sống, cách sống, hành vi ứng xử phù hợp đó là các giá trị cần thiết của con người bao gồm: kĩ năng giáo tiếp, kĩ năng làm chủ bản thân, kĩ năng ứng phó với xúc cảm, kĩ năng hoạt động xã hội vv Trước yêu cầu phát triển xã hội, giáo dục ý thức công dân cho học sinh là mục tiêu, nhiệm
vụ giáo dục cần thiết và quan trọng trong các nhà trường hiện nay
Việc giáo dục ý thức công dân cho học sinh là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Điều lệ trường Trung học cơ sở và trường trung học phổ
thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành năm 2011 đã chỉ rõ: “Ngành
GD&ĐT phải tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên” [15] Không chỉ có vậy ngày 17 tháng 8 năm 2012 Tổng Bí thư
Trung ương Đảng khóa XI Nguyễn Phú Trọng đã đến thăm và làm việc với Bộ
Giáo dục và Đào tạo và đề nghị: “Trước mắt cần tập trung tạo chuyển biến
mạnh mẽ trong một số lính vực, quan tâm hơn nữa việc đạo đức làm người, bồi dưỡng rèn luyện nhân cách con người, như Bác Hồ từng dạy: học để làm người, rồi làm cán bộ để phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân” [dẫn theo 1]
Nội dung giáo dục ý thức công dân cho học sinh được triển khai thông qua giáo dục tích hợp và liên môn các môn học, nhất là các môn học có tiềm năng như: GDCD, Sinh học, Ngữ văn, Địa lí, và đặc biệt là thông qua các hoạt động trải nghiệm Việc giáo dục ý thức công dân cho học sinh phổ thông còn
Trang 12được thực hiện thông qua các chương trình, dự án, các chuyên đề của Đoàn thanh niên trong thực hiện các nội dung giáo dục
Trong thực tế ngày nay nhiều học sinh không có khả năng đáp ứng kịp thời những đòi hỏi và căng thẳng ngày càng tăng của xã hội vì thiếu sự hỗ trợ cần thiết để tăng cường và xây dựng các giá trị sống cơ bản Điều đó có thể gây
ra những tổn hại về mặt sức khỏe và đạo đức của mỗi người Có thể thấy những
gì học được ở trường, ở gia đình và tác động xã hội rất khác nhau qua bạn bè, truyền thông đại chúng, phim ảnh Sự bùng nổ thông tin khiến học sinh tiếp cận với đủ loại thứ hoạt động tốt xấu Không thể hiện được khả năng của bản thân; khó hòa nhập; có thái độ tiêu cực khi mâu thuẫn với bạn bè, gia đình, lúng túng khi xử lý những tình huống phát sinh trong cuộc sống; cách học, cách sống không khoa học, hiệu quả là những biểu hiện thiếu ý thức công dân của học sinh phổ thông hiện nay
Đối với học sinh dân tộc thiểu số đang học tại các trường THCS trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc hòa nhập cuộc sống sinh hoạt Nhằm góp phần giáo dục ý thức công dân cho học sinh đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số, giúp các em không chỉ có nhận thức đúng mà còn có hành động đúng, đem lại lợi ích về sức khỏe, về giáo dục, về văn hóa xã hội và kinh tế chính trị thì việc tổ chức các hoạt động giáo dục trong nhà trường là yếu tố vô cùng quan trọng Để đảm bảo nhiệm vụ giáo dục ý thức công dân cho học sinh đạt hiệu quả cao, yếu tố then chốt là công tác chỉ đạo tổ chức của nhà quản lý và sự phối kết hợp với các lực lượng giáo dục Thông qua rèn luyện đạo đức sẽ giúp các em vượt qua những rào cản về vị trí địa lý, kinh
tế, xã hội vùng miền để học tập, rèn luyện và phát triển đáp ứng yêu cầu của giáo dục đặt ra, giúp các em đánh giá đúng năng lực của bản thân, lựa chọn những hướng đi đúng, phù hợp với cá nhân, đáp ứng yêu cầu của xã hội
Xuất phát từ những lý do nêu trên chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Quản
lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường THCS trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn”
Trang 133.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở các
trường THCS trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Nếu đề xuất được các biện pháp của lãnh đạo nhà trường tổ chức phối hợp các nguồn lực, phát huy tối
đa các nguồn lực giáo dục để cụ thể hóa và thục hiện hiệu quả nội dung
4 Giả thuyết nghiên cứu
Công tác quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu
số ở các trường THCS trên địa bàn huyện Ba Bể,tỉnh Bắc Kạn Nếu được xây dựng phù hợp với thực tế của nhà trường, đặc điểm của địa phương, tận dụng
và phát huy được sức mạnh của các tổ chức trong nhà trường và ngoài xã hội thì hiệu quả giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường THCS trên địa bàn huyện Ba Bể,tỉnh Bắc Kạn sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở địa phương
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xác lập cơ sở lý luận về quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh THCS là người dân tộc thiểu số
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường THCS huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Trang 145.3 Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường THCS huyện Ba Bể,tỉnh Bắc Kạn
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu trên học sinh dân tộc thiểu số ở các trường THCS trên địa bàn huyện Ba Bể,tỉnh Bắc Kạn Chỉ sử dụng các số liệu của các trường từ năm 2016 đến 2018
Nghiên cứu và khảo sát thực trạng công tác quản lý giáo dục ý thức công
dân cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
- Cán bộ quản lý, tổ trưởng, tổ phó chuyên môn: 30 người
- Giáo viên: 100 người
- Học sinh: 200 người
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến nội dung đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
a) Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi ;
Xây dựng phiếu điều tra đối với cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh trong các nhà trường về tác quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
b) Phương pháp quan sát và tổng kết kinh nghiệm
quan sát các hoạt động giáo dục của học sinh có liên quan đến giáo dục ý thức công dân; Tổng kết kinh nghiệm trong việc tổ chức giáo dục ý thức công dân cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
c)Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến chuyên gia khảo nghiệm mức độ cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất đối với: Cán bộ quản lý, giáo viên, nhà trường về vấn đề giáo dục ý thức công dân cho học sinh
Trang 157.3 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng thống kê toán học để xử lý số liệu thu được
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở
Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Ba Bể,tỉnh Bắc Kạn
Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Ba Bể,tỉnh Bắc Kạn
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Ý THỨC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Ở nước ngoài
Trên thế giới thuật ngữ “Nếp sống”, “Ý thức” đã được nêu ra và nghiên cứu từ cuối thế kỉ 19 Vào những năm 70 - 80 của thế kỉ XX việc nghiên cứu nếp sống, ý thức ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu phát triển khá mạnh mẽ
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau: “Bàn về khái niệm ý thức” [7];
“Ý thức Xô Viết hôm nay và ngày mai” [20]; “Ý thức xã hội chủ nghĩa” [32]; “Ý
đề của sinh viên thế giới: thái độ đối với những sự kiện chính trị, đảng phái, chính sách của Chính phủ: sự tham gia của các sinh viên trong phong trào chính trị - xã hội ở các nước; các tổ chức xã hội và đoàn thể của sinh viên… Nhưng vấn
đề ý thức công dân cũng chỉ được xem xét và mô tả một cách rời rạc, chưa khai thác được khía cạnh văn hóa trong một chỉnh thể nếp sống, ý thức
1.1.2 Ở trong nước
Ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu lối sống, nếp sống, ý thức công dân đã được đề cập đến từ lâu qua nhiều công trình nghiên cứu công phu như công
Trang 17trình “Việt Nam phong tục” của Phan Kế Bính (1875-1921) Trong tác phẩm này hầu hết những phong tục xã hội, phong tục trong gia tộc, thói quen, nếp sống, ý thức của con người Việt Nam kể từ xưa đến đầu thế kỷ XX được tác giả phản ánh một cách khách quan, từ đó ca ngợi những phẩm chất, thói quen tốt của con người Việt Nam, đồng thời mạnh dạn phê phán các yếu tố lạc hậu, trì trệ trong các phong tục, thói quen, nếp sống… không phù hợp với thuần phong
mỹ tục và bản sắc văn hóa dân tộc Tư tưởng tiến bộ của Phan Kế Bính đã được Đảng ta quán triệt trong các nghị quyết nhằm xây dựng ở Việt Nam một nền văn hóa tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn hóa lớn của dân tộc và nhân loại cũng đã nhấn mạnh việc xây dựng “Đời sống mới” (sau này đổi thành nếp sống mới), cách làm việc mới, Người đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục thế hệ trẻ lòng nhân ái, kính già, yêu trẻ, có lối sống thật thà, khiêm tốn, trung thực, yêu lao động, yêu đồng bào và yêu Tổ quốc Trong lúc nước nhà chưa thống nhất, việc
“xóa bỏ, cải tạo nếp sống cũ lạc hậu và xây dựng nếp sống mới là nhiệm vụ to lớn và phức tạp, đòi hỏi phải tiến hành, như Hồ Chủ tịch nói: “Một cách rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài” [28, tr.151]
Trong thời gian gần đây việc nghiên cứu lối sống, nếp sống nói chung và
ý thức công dân cho HS dân tộc thiểu số nói riêng đã được rất nhiều tác giả quan tâm và một số công trình, luận án đã đi sâu vào những vấn đề cụ thể như:
Lê Vân Anh (Chủ biên) - Lưu Thu Thủy - Trịnh Thị Anh Hoa (2013) [1]; Đặng
Quốc Bảo (1997) [4]; Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đắc Hưng (2004) [5]; Nguyễn
Trần Bạt (2005) [6]; Nguyễn Thanh Bình (2007) [9]; Nguyễn Thanh Bình (2011) [10]; Vũ Khắc Bình & Lê Quốc Anh (2009) [11]; Bộ Giáo dục & Đào tạo (2010) [13, 14]; Nguyễn Công Khanh (2012) [22]; Trần Quốc Thành (chủ biên) (2016) [35]; Hà Nhật Thăng - Trần Hữu Hoan (2011) [36]
Như vậy có thể thấy vấn đề nếp sống, quản lý nếp sống học sinh, ý thức công dân của học sinh một đề tài đã có nhiều tác giả nghiên cứu Tuy nhiên
Trang 18trong các công trình của các tác giả mà chúng tôi tìm kiếm được thì chưa có công trình hay bài viết khoa học nào nghiên cứu toàn diện về vấn đề quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số Nếu nghiên cứu về học sinh thì các tác giả mới chỉ đi sâu vào khía cạnh ôn tập và tự học mà chưa đề cập, phân tích đến các mặt khác như ăn ở, sinh hoạt Đã có một số công trình nghiên cứu của một số tác giả đưa ra thực trạng và giải pháp quản lý về các hoạt động ngoài giờ lên lớp và đời sống là những hoạt động song song với hoạt động học tập nhưng không nghiên cứu về vấn đề quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở
Mặt khác, ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Ba Bể cho đến nay, cũng chưa có tác giả nào nghiên cứu về công tác học sinh nói chung
và vấn đề quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số nói riêng Chính vì vậy việc nghiên cứu các biện pháp quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số là vấn đề mới mẻ phù hợp với yêu cầu giáo dục toàn diện cho học sinh và đổi mới giáo dục hiện nay
1.2 Các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Công dân và ý thức công dân
F.W Tay Lor: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm
và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất [dẫn theo 40]
Trang 19Giáo trình - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Quản lý là sự tác
động của cơ quan quản lý vào đối tượng quản lý, tạo ra sự chuyển biến của toàn bộ hệ thống, hướng vào mục tiêu nhất định [dẫn theo 40]
Mai Hữu Khuê - Học viện Hành chính quốc gia: Quản lý là dạng lao
động đặc biệt của người lãnh đạo, mang tính tổng hợp các loại lao động trí óc, liên kết các bộ máy thành chỉnh thể thống nhất, điều hoà, phối hợp các khâu, các cấp quản lý, hoạt động nhịp nhàng để tạo hiệu quả quản lý [dẫn theo 41]
Nguyễn Văn Lê - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: Quản lý là một
hệ thống xã hội mang tính khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của
hệ bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt mục tiêu đã đề ra [dẫn theo 41]
Theo Trần Quốc Thành, quản lý được hiểu một cách rất ngắn gọn:
“Quản lý là quá trình đạt tới mục tiêu của tổ chức, trên cơ sở sử dụng tối ưu
các nguồn lực” [35]
Còn tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: "Quản lý là sự
tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý), trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" Cũng theo đó các tác giả còn phân
định rõ hơn về hoạt động quản lý: là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [19]
Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau, cách diễn đạt khác nhau về quản
lý, song một cách tổng quát nhất có thể khái quát: Quản lý là cách thức tác động (sự tác động có tổ chức, có mục đích ) của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng các chế định xã hội, bằng tổ chức nguồn nhân lực, tài lực và vật lực, phẩm chất, uy tín của cơ quan quản lý hoặc người quản lý nhằm sử dụng
có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục đích trong điều kiện môi trường luôn biến động
Trang 201.2.1.2 Ý thức công dân
Ý thức công dân được hiểu là những phương thức hoạt động, hành vi ứng xử của con người được lặp đi, lặp lại thành nề nếp, thành thói quen, thành phong tục tập quán được xã hội công nhận Nói cách khác đó là hệ thống thái
độ, hành vi của mỗi con người Chừng nào hệ thống thái độ hành vi của con người chứa đựng, phản ánh được các giá trị văn hóa, văn minh của nhân loại, dân tộc và gia đình thì khi đó có ý thức công dân
Như vậy ý thức công dân có thể hiểu là sự phản ánh những chuẩn mực của nền văn hóa mà ở đó mọi người xử sự đều thể hiện theo những giá trị, những quy định của xã hội phù hợp với điều kiện và đối tượng cụ thể
Tóm lại ý thức công dân là những biểu hiện của nếp sống (trong quan hệ
hành vi ứng xử, hành động, hoạt động đối với thiên nhiên, đồ vật, với người khác, với cộng đồng xã hội và bản thân) được xem là phù hợp với những giá trị, chuẩn mực văn hóa của xã hội trong những điều kiện hoàn cảnh sống nhất định
Ý thức công dân là một trong những nội dung của nhân cách đạo đức của con người, là lĩnh vực mà toàn xã hội quan tâm Song để có được ý thức công dân con người phải trải qua một quá trình giáo dục, rèn luyện Cha ông ta
đã giáo dục con trẻ từ những điều cơ bản sâu xa như: Sống có thủy, có chung,
có tình nghĩa, thương người như thể thương thân, ăn quả nhớ kẻ trồng cây… cho đến những điều rất cụ thể, làm cho con biết ăn, biết nói, biết gói biết mở
“ăn trông nồi, ngồi trông hướng”; “Học ăn học nói học gói học mở…” tức là làm cho con có nếp sống văn hóa
Ăn có văn hóa, nói có văn hóa, suy nghĩ và hành động có văn hóa, giao tiếp có văn hóa… Tất cả đều được hình thành từ dạy và học từ trong môi trường gia đình đến nhà trường và ra ngoài xã hội Vì vậy con người sống trong cộng đồng ngay từ nhỏ đã thấm dần ý thức công dân của cộng đồng: Con người tiếp thu, hình thành nên nếp sống văn hóa từ gia đình, họ tộc, gia phong, quy
Trang 21ước của làng xã (hương ước) rồi văn hóa vùng, địa phương (thanh lịch Tràng
An…) đến nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc
- Ý thức công dân được biểu hiện ở các mặt cơ bản sau:
- Ý thức công dân được biểu hiện ở lao động, học tập
- Ý thức công dân được biểu hiện ở quan hệ xã hội và giao tiếp ứng xử
- Ý thức công dân được biểu hiện trong sinh hoạt cá nhân…
- Ý thức công dân được biểu hiện ở hoạt động đoàn thể xã hội
Đối với học sinh, sinh viên ý thức công dân được biểu hiện trong các
hoạt động học tập, sinh hoạt, lao động, trong giao tiếp ứng xử với bạn bè, quan
hệ thầy trò… Vì đây là những hoạt động dễ quan sát trong nhà trường, trong ý
thức công dân và cũng là những hoạt động cơ bản hàng ngày của học sinh
Nói chung ý thức công dân là phương thức xử sự trong một tình thế nhất
định trong cuộc sống, nó còn là một phương thức sử xự được quy định bởi các
giá trị đạo đức Vì vậy ý thức công dân là những quy ước có tính chu kì tạo
thành thói quen cho mỗi người và toàn xã hội Trong cuộc sống hàng ngày,
chúng ta luôn phải chứng kiến những xung đột gay gắt giữa lối sống mới và đủ
loại nếp sống trong các mối quan hệ xã hội, buộc mỗi cá nhân phải tính toán
lựa chọn cho mình một cách sống, nếp sống có văn hóa
1.2.2 Giáo dục và giáo dục ý thức công dân cho học sinh
1.2.2.1 Giáo dục ý thức công dân
Giáo dục ý thức công dân là một quá trình tổ chức tác động có chủ định
của các lực lượng giáo dục, trong đó giáo dục nhà trường giữ vai trò chủ đạo,
để tạo ra sự thống nhất tác động giáo dục, phát huy những yếu tố tích cực, hạn
chế những ảnh hưởng tiêu cực tới học sinh, nhằm phát huy tính tích cực tự giác
rèn luyện, tạo ra động cơ, thái độ đúng đắn trong cuộc sống, học tập và hoạt
động xã hội, để học sinh học tập, làm việc hiệu quả hơn có lối sống, nếp sống
tốt đẹp mang lại lợi ích cho chính học sinh, gia đình, nhà trường và xã hội
Trang 22Giáo dục ý thức công dân cho học sinh là quá trình giúp học sinh tiếp thu, lĩnh hội những giá trị, chuẩn mực văn hóa vào trong hoạt động sống của học sinh nhằm làm cho thái độ hành vi của mỗi học sinh phù hợp với những giá trị
chuẩn mực văn hóa của xã hội
1.2.2.2 Giáo dục ý thức công dân cho học sinh
Ý thức công dân của học sinh được phản ánh thông qua những biểu hiện
có văn hóa trong học tập, quan hệ sinh hoạt của học sinh với tư cách là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt- những đại diện ưu tú của lực lượng thanh niên những tri thức tương lai cuả xã hội
Giáo dục ý thức công dân cho học sinh là một khâu then chốt trong quá trình quản lý giáo dục ý thức công dân nói riêng và quá trình quản lý giáo dục nói chung
Giáo dục ý thức công dân cho học sinh là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt mục tiêu đã đề ra Quản lý hoạt động giáo dục ý thức công dân ở đây được hiểu là các hoạt động giáo dục nếp sống được
tổ chức một cách chặt chẽ, có mục tiêu, nội dung phương pháp, phương tiện và các nguồn lực hỗ trợ để đảm bảo thực hiện các mục tiêu đã xác định
Các hoạt động giáo dục ý thức công dân được điều hành bằng một hệ thống tổ chức chặt chẽ theo kế hoạch đã xây dựng, có bộ máy chỉ đạo được phân công phân nhiệm rõ ràng cho từng bộ phận, từng thành viên trong tổ chức
để từ đó tổ chức triển khai thông qua xây dựng mô hình hoạt động giáo dục ý thức công dân, huy động và phối hợp với các lực lượng tham gia
1.3 Giáo dục ý thức công dân cho học sinh trung học cơ sở người dân tộc thiểu số
1.3.1 Đặc điểm học sinh trung học cơ sở người dân tộc thiểu số
Ở các trường Trung học cơ sở đối tượng đào tạo là con em các dân tộc thiểu số, con em các dân tộc định cư lâu dài ở các vùng có điều kiện kinh tế -
xã hội đặc biệt khó khăn Phần lớn các em đều ngoan, biết nghe lời khuyên bảo
Trang 23dạy dỗ của thầy cô và người lớn tuổi Chăm chỉ cần cù trong lao động sản xuất, ham thích các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao và các hoạt động tập thể khác
Hầu hết học sinh là người dân tộc thiểu số sinh ra và lớn lên ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn giáo dục chưa phát triển Do vậy đa số các em thiếu nề nếp giáo dục từ bé, kể cả trong gia đình và ngoài xã hội
Năng lực nhận thức của học sinh không đồng đều, khả năng tư duy còn hạn chế, nhất là ở các lớp đầu vào Một số ít chưa chăm chỉ học tập
Các phong tục tập quán cũng có ảnh hưởng xấu nhất định đến nề nếp sinh hoạt của học sinh như thiếu tác phong công nghiệp, uống rượu, bia nhiều…
Với đặc điểm đối tượng học sinh như trên đã cho thấy các em học sinh vùng cao khi hòa nhập với cuộc sống tập thể còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng, nhiều mặt chưa có mục tiêu phấn đấu, đó chính là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến động lực học tập, rèn luyện của các em Vì vậy ngoài việc đáp ứng yêu cầu quản lý học sinh nội trú ở một cơ sở đào tạo, Ban Giám hiệu, giáo viên, cán bộ quản lý ở các trường Trung học cơ sở còn phải đáp ứng được các năng lực khác như: có vốn hiểu biết về tâm lí, ngôn ngữ, phong tục, tập quán đặc trưng của mỗi dân tộc, mỗi địa phương các em sinh sống, biết khơi dậy cho các em lòng tự hào dân tộc và hướng phấn đấu đúng đắn Giáo dục cho các em tinh thần tương thân tương ái, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ Có kĩ năng tổ chức đời sống nội trú cho các em Điều đó đặt ra cho công tác quản lý hoạt động giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường trung học cơ sở phải sâu rộng hơn phù hợp với đặc thù của trường, với công tác quản lý và giáo dục của nhà trường
Học sinh dân tộc thiểu số là những học sinh thuộc các dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam Đây là những học sinh đang học tập tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam
Về đời sống xã hội hầu hết cư trú tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn của miền núi chủ yếu là các xã thuộc vùng cao, vùng sâu,
Trang 24vùng xa Địa hình hiểm trở, phân bố dân cư không đều cho nên giao thông đi lại hết sức khó khăn (nhiều hộ gia đình cách trung tâm xã gần 40 km)
Đại đa số nhân dân ở đây đều thuộc dân tộc ít người, phong tục tập quán lạc hậu, tỷ lệ sinh cao, thu nhập bình quân đầu người rất thấp chủ yếu dựa vào chăn nuôi và khai thác lâm sản Tỷ lệ hộ nghèo chiếm đa số, nhiều gia đình còn nằm trong diện thiếu đói nên các điều kiện sống của nhân dân rất khó khăn
Sống xa trung tâm nên học sinh con em dân tộc ở đây chịu nhiều thiệt thòi, không được tiếp cận các nguồn thông tin đại chúng như truyền hình, truyền thanh, sách báo, Internet, thiếu sách vở Thậm chí nhiều học sinh còn
ăn chưa được no, ngủ chưa được ấm nên nhiều học sinh chậm phát triển về thể lực và trí tuệ Môi trường sống gần thiên nhiên nên các em thường trần tính, ít hòa đồng những điều kiện đó ảnh hưởng không nhỏ tới tâm lý và ý thức công dân của học sinh dân tộc thiểu số
Về tâm lý học sinh: Học sinh dân tộc đi học trường Trung học cơ sở, chủ yếu là học sinh nhiều tuổi hơn các học sinh khác, nhà các xã trung tâm xã nên thường nhút nhát và tự ti Đa số các em là con hộ nghèo và sống trong khu vực rừng núi thưa dân nên các em rất thiếu vốn từ tiếng Việt và kỹ năng sống đặc biệt kỹ năng giao tiếp trong môi trường tập thể Nhiều học sinh công tác vệ sinh
cá nhân còn chưa tốt Các em rất hay tự ái nếu không thích học là bỏ trốn về nhà, một số học sinh lớn tuổi yêu đương sớm hơn học sinh phổ thông khác Trong lối sống các em ưa phóng khoáng, tự do, không thích gò bó, nhiều thói quen chưa tốt như tác phong lề mề chậm chạp, thiếu ngăn nắp
Trước khi đến trường, học sinh dân tộc đã được tiếp xúc với cộng đồng dân tộc, tiếp thu truyền thống, phong tục tập quán của dân tộc mình Môi trường giao tiếp hẹp, đối tượng giao tiếp chủ yếu là trong gia đình, làng bản nhưng có sức hấp dẫn lớn với học sinh Thông qua con đường giao tiếp tự nhiên, học sinh dân tộc trao đổi thông tin trao đổi tình cảm trong cuộc sống bằng phương tiện chủ yếu bằng tiếng mẹ đẻ Các phương tiện giao tiếp khác rất
Trang 25hạn chế Do đó lối nói, cách nghĩ, hành vi, ý thức của học sinh dân tộc có những các riêng Trong giao tiếp các em thiếu mềm mỏng biểu lộ cảm xúc rõ rệt nhưng thiếu kỹ năng định vị Khi giao tiếp với người thân, với bạn bè là thẳng thắn bình đẳng, lời nói ít quan tâm đến chủ ngữ, hay nói trống không, với giáo viên ít thưa gửi Gặp người lạ các em khó tiếp xúc, ngại trao đổi, chủ yếu
là tò mò quan sát, kỹ năng định hướng trong giao tiếp chưa được hình thành chắc chắn
Nhận thức của học sinh dân tộc: Do sống từ nhỏ trong không gian rộng, tiếp xúc chủ yếu với thiên nhiên, nên nhận thức tình cảm của học sinh dân tộc phát triển khá tốt Cảm giác, tri giác của các em có những nét độc đáo, tuy nhiên còn thiếu toàn diện, cảm tính mơ hồ, không thấy được bản chất của sự vật hiện tượng Quá trình tri giác thường gắn với hoạt động trực tiếp, sờ mó, gắn với màu sắc hấp dẫn của sự vật đã tạo ra hưng phấn xúc cảm ở học sinh Đối với tri giác của học sinh dân tộc chủ yếu là sự vật gần gũi, cây con, thiên nhiên xung quanh Đặc biệt vốn tiếng việt của các em còn hạn chế nên quá trình nhận thức của các em gặp khó khăn Có những câu các em đọc nhưng không hiểu, hoặc hiểu lơ mơ nên tư duy sai lệch
Trong trường Trung học cơ sở ngoài việc học sinh được đào tạo theo chương trình Trung học cơ sở họ còn được ăn ở tại chỗ trong kí túc xá của trường Do vậy ý thức công dân của học sinh được biểu hiện qua các hoạt động
cơ bản như: hoạt động học tập; sinh hoạt cá nhân (ăn uống; vệ sinh cá nhân; đi lại, ngủ, nghỉ ngơi, ); sinh hoạt tập thể (hoạt động hỗ trợ học tập, hoạt động thông tin, hoạt động thể dục thể thao, du lịch, hoạt động văn hóa văn nghệ, các hoạt động phong trào đoàn thể, ); nếp sống văn hóa ứng xử, ý thức công dân (văn hóa ứng xử với thầy cô giáo, văn hóa ứng xử với bạn bè, văn hóa ứng xử với môi trường xung quanh) Các hoạt động của học sinh gồm nhiều mặt và đa dạng, song chủ yếu biểu hiện qua các mặt, gồm: Hoạt động học tập, hoạt động sinh hoạt cá nhân, hoạt động sinh hoạt tập thể, hoạt động giao tiếp và ứng xử
Trang 261.3.2 Giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường trung học cơ sở
Giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số là một nội dung rất quan trọng Giáo dục thực chất là quá trình truyền lại kinh nghiệm từ thế hệ trước cho thế hệ sau, thế hệ sau lĩnh hội những kinh nghiệm để tham gia vào cuộc sống lao động và các hoạt động xã hội nhằm duy trì và phát triển xã hội loài người Tuy nhiên, thế hệ sau không chỉ lĩnh hội toàn bộ những kinh nghiệm của thế hệ trước để lại mà còn bổ sung, làm phong phú thêm những kinh nghiệm của loài người - đó là quy luật của sự tiến bộ xã hội - là hiện tượng
đặc trưng của xã hội loài người
Giáo dục ý thức công dân cho học sinh là khái niệm giáo dục, giáo dục
dựa vào cộng đồng, có thể hiểu: "Giáo dục ý thức công dân dựa vào cộng đồng
là hình thức thông qua cộng đồng, coi cộng đồng là một môi trường, một nguồn lực để truyền đạt những giá trị văn hóa của một dân tộc cho học sinh để các em duy trì và phát huy được các giá trị văn hóa dân tộc đó” Giáo dục bản sắc văn
hóa dân tộc cho học sinh dựa vào cộng đồng đóng một vai trò quan trọng nên phải được tổ chức, thực hiện một cách bài bản từ xác định rõ mục tiêu, nội dung
và các hình thức, con đường giáo dục hợp lý từ đó giáo dục là một quá trình tác động có kế hoạch, có nội dung và phương pháp phù hợp với đối tượng giáo dục
nhằm thúc đẩy sự thay đổi của đối tượng về kiến thức, kỹ năng và thái độ
1.3.2.1 Mục tiêu giáo dục
Mục tiêu giáo dục ý thức công dân cho học sinh là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động quản lý đạt mục tiêu đã đề ra
Mục tiêu của hoạt động giáo ý thức công dân cho học sinh ở các nhà trường nói chung và ở trường THCS có học sinh dân tộc thiểu số nói riêng về
cơ bản đều có điểm chung là để nhà quản lý thực hiện các chức năng của nhà quản lý Qua đó để nắm bắt, đánh giá tình hình giáo dục nếp sống cho học sinh
và các vấn đề liên quan đến họat động này Từ đó xem xét điều chỉnh và tìm ra
Trang 27các biện pháp, giải pháp tác động trở lại với hiệu quả giáo dục đạo đức, ý thức cho học sinh; khắc phục những hạn chế, thiếu sót nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức công dân nhằm đạt tới mục tiêu, hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục của nhà trường
Quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh trong nhà trường luôn đạt hiệu quả sẽ thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường Điều này càng thể hiện rõ ở các trường THCS ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn bởi vì đối tượng học sinh là người dân tộc thiểu số, mọi sinh hoạt học tập đều diễn ra trong “ nội trú” Về cơ bản học sinh chịu sự tác động giáo dục hoàn toàn của nhà trường do đó vai trò của việc giáo dục ý thức công dân cho học sinh có ý nghĩa rất lớn đối với việc tu dưỡng học tập của học sinh
Nhìn ở một góc độ cụ thể khác thì quản ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường THCS còn giúp cho nhà trường triển khai tốt hơn các mặt công tác khác như: tổ chức các hoạt động quản lý nội trú, tổ chức các hoạt động giáo dục, chăm sóc, bảo vệ học sinh
Đối với trường THCS có học sinh dân tộc thiểu số, công tác quản lý của người lãnh đạo có vai trò quan trọng trong việc đổi mới, nội dung, chương trình giáo dục Công tác của nhà quản lý có những điểm khác biệt so với các trường THCS, tính chất công việc cũng khó khăn phức tạp hơn Ngoài việc truyền tải kiến thức, trường THCS có học sinh dân tộc thiểu số còn phải chăm lo tới các điều kiện khác như : tổ chức các hoạt động nuôi dạy, giáo dục văn hóa dân tộc, tri thức địa phương, lao động sản xuất hướng nghiệp, đời sống nội trú
1.3.2.2 Nội dung và hình thức giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường THCS
Giáo dục được thực hiện chủ yếu qua hoạt động dạy học trên lớp và các hoạt động ngoài giờ lên lớp hai hoạt động này có mối quan hệ biện chứng với nhau
Trang 28Giáo dục thực hiện qua các giờ dạy chính khoá trên lớp: Nội dung các môn học văn hoá (tự nhiên và xã hội) giúp học sinh phát triển cả về đức, trí, thể,
mỹ, đặc biệt môn Văn, Sử, Giáo Dục Công Dân có vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh, giúp học sinh hiểu biết về pháp luật, hình thành ý thức cộng đồng
Mặt khác qua nhân cách của thầy cô, (kiến thức chuyên môn, năng lực sư phạm, tác phong lên lớp ) sẽ để lại trong lòng học sinh những hình ảnh đẹp của người thầy, và điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn trong việc hình thành những tình cảm đạo đức cho học sinh
Giáo dục qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp: Giáo dục qua lao động: Có hai hình thức lao động là lao động tự phục vụ và lao động công ích Qua lao động học sinh có điều kiện vận dụng những điều đã học trên lớp (học đi đôi với hành) phát huy tinh thần làm chủ tập thể, tính tự quản, giáo dục học sinh ý thức tổ chức kỷ luật…
Giáo dục qua các hoạt động ngoại khoá: Như tham quan, du khảo, dự các buổi nói chuyện chuyên đề, cắm trại, văn nghệ, TDTT… giúp học sinh mở mang kiến thức, củng cố cho những điều đã học trong sách vở, tăng cường tình đoàn kết tạo mối quan hệ bạn bè, giao tiếp xã hội Qua tham quan di tích lịch sử, thắng cảnh, học sinh cảm thấy gần gũi với thiên nhiên, càng thêm yêu quê hương đất nước
Vậy hai hình thức trên có quan hệ hỗ trợ với nhau, bổ sung cho nhau Đặc biệt trong giáo dục ý thức công dân cho học sinh trong những giờ học chính khoá học sinh tiếp thu được những tri thức, những chuẩn mực đạo đức xã hội, và từ đó hình thành trong các em tình cảm đạo đức, thì qua những hoạt động ngoại khoá
sẽ tạo điều kiện cho những tình cảm đạo đức được bộc lộ thể hiện qua hành vi đạo
đức và hành vi này được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ thành những thói quen tốt…
Phương pháp giáo dục: Giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số dựa vào cộng đồng cần có những hình thức và phương pháp phù hợp với đặc thù của nội dung giáo dục và đặc điểm của các cộng đồng người dân tộc thiểu số về phong tục tập quán, nếp sống và sinh hoạt
Trang 29Cần dựa vào tình hình thực tế để lựa chọn những hình thức giáo dục phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và đặc điểm sinh hoạt, tập quán của cộng đồng người dân tộc thiểu số
Có thể dựa vào các sinh hoạt cộng đồng để tổ chức các cuộc thi tìm hiểu
về phong tục tập quán và các quy tắc ứng xử của người dân tộc thiểu số Thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao liên quan đến văn hóa của người dân tộc thiểu số
Có thể thành lập các câu lạc bộ giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc dân tộc thiểu số cho học sinh tham gia để qua đó tổ chức các hoạt động tuyên truyền về các giá trị văn hóa dân tộc dân tộc thiểu số cho học sinh Dựa vào Câu lạc bộ,
tổ chức các cuộc nói chuyện chuyên đề về văn hóa, văn nghệ của dân tộc thiểu
số Có thể tổ chức dạy các điệu múa, bài hát của dân tộc thiểu số Hoặc dạy cho học sinh về chữ viết của người dân tộc thiểu số
Có thể dựa vào các già làng, trưởng bản hoặc những người có uy tín trong bản để thực hiện các cuộc trao đổi, tuyên truyền về văn hóa dân tộc thiểu
số cho học sinh trong trường Còn nhà trường đưa các nội dung giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số vào hệ thông nội dung giáo dục trong nhà trường qua các môn học phù hợp hoặc qua các hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Nhà trường có thể cam kết với cộng đồng để đưa các nội dung giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số vào các chương trình hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương để tạo nên một môi trường giáo dục thống nhất Nhà trường thường xuyên tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề về những phong tục tập quán và những giá trị văn hóa tốt đẹp của địa phương để học sinh có cơ hội học hỏi
Nhà trường tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ thể thao mà địa phương tổ chức, giúp học sinh có được những hoạt động trải nghiệm hiệu quả tìm hiểu bản sắc văn hóa của dân tộc thiểu số
Trang 30Huy động tối da nguồn lực cộng đồng để tổ chức các hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số cho học sinh ở trong cũng như ngoài trường để mọi người có điều kiện và cơ hội tham gia giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh
1.3.2.4 Các lực lượng tham gia giáo dục
Mặc dù lực lượng tham gia giáo dục được xác định rõ ràng: nhà trường
là chủ đạo, còn cộng đồng là chỗ dựa cho nhà trường Nhưng thực tế cho thấy nếu nhà trường không có biện pháp huy động hợp lý thì sẽ cộng chỉ có một số
bộ phận thực sự tham gia với lực lượng sẽ rất mỏng, trong đó đa số những người làm công tác giáo dục phải kiêm nhiệm nhiều việc, trình độ còn hạn chế, đặc biệt là ở những thôn bản còn nhiều khó khăn thì hiệu quả giáo dục sẽ rất hạn chế
1.3.2.5 Cơ sở vật chất phục vụ giáo dục
Ngày nay với sự phát triển khoa học công nghệ hiện đại, nền giáo dục cũng có những công cụ hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển của mình Tin học hiện đại cần được sử dụng vào công tác nghiệp vụ điều hành quản lý hoạt động giáo dục học sinh trong các trường học Cụ thể việc sử dụng điện thoại, hay qua internet (trang Web và hệ thống mail nội bộ….) để trao đổi thông báo, triển khai công việc hoặc nắm bắt thông tin về quản lý hoạt động giáo dục học sinh Ngoài các điều kiện về công nghệ thông tin, mạng phục vụ việc điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục thì cơ sở vật chất, chỗ ăn ở và môi trường của nhà trường cũng cần được quan tâm xây dựng Đó chính là cơ sở vật chất tạo nên môi trường giáo dục và cũng là những điều kiện để HS thực hiện nếp sống văn hóa Vì thế, nhà trường phải quan tâm quản lý tốt cơ sở vật chất, đầu tư phát triển cơ sở vật chất để tạo điều kiện giáo dục nếp sống văn hóa cho học sinh Cụ thể là tạo điều kiện ăn, ở tốt, đảm bảo sức khỏe và thể chất của học sinh Quan tâm đến điều kiện sinh hoạt của học sinh phù hợp với những nhu cầu tinh thần của lứa tuổi thanh niên, tránh sự căng thẳng khi chỉ chú trọng vào
tổ chức nề nếp học tập
Trang 31Quan tâm đến các điều kiện cơ sở vật chất và các hoạt động hỗ trợ học tập sẽ tạo nên sự thích thú, yên tâm và sẽ có sự cố gắng nỗ lực trong học tập
Tổ chức những chuyên đề, ngoại khóa để giúp học sinh củng cố kiến thức và ổn định nề nếp học tập
1.4 Quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh người dân tộc thiểu số
ở trường trung học cơ sở
1.4.1 Quản lý và quản lý nhà trường
Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất (William - Tay Lor)
Quản lý là sự tác động của cơ quan quản lý vào đối tượng quản lý, tạo ra
sự chuyển biến của toàn bộ hệ thống, hướng vào mục tiêu nhất định (Giáo trình - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)
Quản lý là dạng lao động đặc biệt của người lãnh đạo, mang tính tổng hợp các loại lao động trí óc, liên kết các bộ máy thành chỉnh thể thống nhất, điều hoà, phối hợp các khâu, các cấp quản lý, hoạt động nhịp nhàng để tạo hiệu quả quản lý (Mai Hữu Khuê - Học viện Hành chính quốc gia)
Quản lý là một hệ thống xã hội mang tính khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt mục tiêu
đã đề ra (Nguyễn Văn Lê - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)
Trang 32Theo Trần Quốc Thành, quản lý được hiểu một cách rất ngắn gọn:
“Quản lý là quá trình đạt tới mục tiêu của tổ chức, trên cơ sở sử dụng tối ưu
các nguồn lực” [35]
Còn tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: "Quản lý là sự
tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý), trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" [19] Cũng theo đó các tác giả còn
phân định rõ hơn về hoạt động quản lý: là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra
Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau, cách diễn đạt khác nhau về quản
lý, song một cách tổng quát nhất có thể khái quát: Quản lý là cách thức tác động (sự tác động có tổ chức, có mục đích ) của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng các chế định xã hội, bằng tổ chức nguồn nhân lực, tài lực và vật lực, phẩm chất, uy tín của cơ quan quản lý hoặc người quản lý nhằm sử dụng
có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục đích trong điều kiện môi trường luôn biến động
Quản lý là một quá trình mà chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản
lý bằng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo kiểm tra đánh giá, dựa trên những nguồn lực
và những điều kiện có thể nhằm đạt được mục đích của tổ chức
1.4.2.1.Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là một phạm vi cụ thể của quản lý hệ thống giáo dục Trường học là tổ chức giáo dục, là một đơn vị cấu trúc cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân Do đó, xét về bản chất, trường học là tổ chức mang tính nhà nước - xã hội - sư phạm thể hiện bản chất giai cấp, bản chất xã hội và bản chất
sư phạm
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà trường vận
Trang 33hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục thế hệ trẻ với từng học sinh” [dẫn theo 10]
Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có hướng đích của hiệu
trưởng đến con người (giáo viên, cán bộ nhân viên và học sinh), đến các nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin,…) hợp quy luật (quy luật quản lý, quy
luật giáo dục, quy luật tâm lý…) nhằm đạt mục tiêu giáo dục
Quản lý nhà trường là quản lý mọi hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục Nhà trường có tổ chức dạy, học và giáo dục tốt mới
cụ thể hoá được đường lối thành hiện thực, đáp ứng được yêu cầu của nhân dân
hệ cộng tác giúp đỡ, học hỏi lẫn nhau giữa giáo viên và học sinh… Mục tiêu cuối cùng của hoạt động này là nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục và đào tạo trong nhà trường
Trang 34Quản lý nhà trường bao gồm:
Quản lý hoạt động dạy học: Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm của nhà trường, nó chi phối mọi hoạt động giáo dục khác trong nhà trường Nó
là con đường trực tiếp và thuận lợi nhất để giáo dục thế hệ trẻ và thực hiện mục đích cao nhất của nhà trường Vì vậy, có thể nói trọng tâm của quản lý nhà trường là quản lý quá trình dạy học, quản lý việc chấp hành các quy định về hoạt động giảng dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh, đảm bảo cho các hoạt động đó được tiến hành tự giác, có nền nếp ổn định, có chất lượng
và hiệu quả cao
Quản lý hoạt động của thầy: Quản lý việc thực hiện chương trình, quản
lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp của giáo viên, quản lý việc dự giờ thao giảng và tự bồi dưỡng của giáo viên, quản lý việc thực hiện công tác nghiên cứu khoa học của giáo viên
Quản lý hoạt động học tập của trò: Quản lý việc thực hiện giờ giấc học tập, tinh thần và ý thức học tập, phương pháp học tập…
Quản lý hoạt động giáo dục: Quản lý mọi hoạt động giáo dục của nhà trường đảm bảo đúng mục tiêu giáo dục của Đảng, Nhà nước đó là đào tạo nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng lực thực hành tương xứng với trình độ đào tạo thích ứng với việc làm trong xã hội
Quản lý hoạt động phối hợp: Trong trường THCS có nhiều bộ phận, mọi hoạt động trong nhà trường nói chung đều là các hoạt động mang tính phối hợp
Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận trong nhà trường góp phần làm cho các hoạt động đạt hiệu quả cao hơn
Quản lý tài chính và cơ sở vật chất: Quản lý cơ sở vật chất, tài sản của nhà trường bao gồm đất đai, nhà cửa, công trình xây dựng, các hoạt động khoa học và công nghệ các trang thiết bị được Nhà nước giao cho trường quản lý và
sử dụng hoặc do đầu tư mua sắm xây dựng và các hoạt động khác Quản lý tài sản nói chung và quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho quá trình đào tạo
Trang 35nói riêng phải đảm bảo được các yêu cầu liên quan mật thiết với nhau là: Đảm bảo đủ cơ sở vật chất - kỹ thuật trong quá trình đào tạo, quản lý tốt cơ sở vật chất - kỹ thuật của nhà trường
Quản lý tài chính: Trong bất kỳ tổ chức đơn vị nào thì nguồn kinh phí đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc duy trì các hoạt động Nếu nhà trường tạo được nguồn kinh phí tốt và sử dụng đúng mục đích tức là đã quản lý tốt nguồn tài chính của đơn vị mình
Quản lý nhà trường chính là sự tác động có ý thức, có kế hoạch và có mục đích của chủ thể quản lý đến tất cả các hoạt động trong nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu, hoạt động của nhà trường
1.4.2 Khái niệm quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường trung học cơ sở
Quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường THCS cho thế hệ sau là một nội dung rất quan trọng Quản lý giáo dục ý thức công dân thực chất là quá trình truyền lại kinh nghiệm từ thế hệ trước cho thế
hệ sau, thế hệ sau lĩnh hội những kinh nghiệm để tham gia vào cuộc sống lao động và các hoạt động xã hội nhằm duy trì và phát triển xã hội loài người Tuy nhiên, thế hệ sau không chỉ lĩnh hội toàn bộ những kinh nghiệm của thế hệ trước để lại mà còn bổ sung, làm phong phú thêm những kinh nghiệm của loài người - đó là quy luật của sự tiến bộ xã hội - là hiện tượng đặc trưng của xã hội
loài người
Khái niệm quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu
số ở các trường THCS đóng một vai trò quan trọng nên phải được tổ chức, thực hiện một cách bài bản từ xác định rõ mục tiêu, nội dung và các hình thức, con đường giáo dục hợp lý
1.4.3 Nội dung quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường trung học cơ sở
1.4.3.1 Quản lý mục tiêu và chương trình giáo dục
Quản lý việc thực hiện mục tiêu, chương trình đổi mới nội dung, phương
pháp, hình thức giáo dục ý thức công dân cho học sinh theo kế hoạch (Ngắn
hạn, dài hạn)
Trang 36Quản lý vịêc chỉ đạo thực hiện nề nếp của học sinh
Quản lý về hình thức tổ chức và huy động các nguồn lực tham gia giáo dục giáo dục ý thức công dân cho học sinh
Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả và mối quan hệ giữa các thành tố nêu trên trong quá trình giáo dục giáo dục ý thức công dân cho học sinh
1.4.3.2 Quản lý hình thức và nội dung giáo dục
Chỉ đạo là hướng dẫn cụ thể theo một đường lối chủ trương nhất định Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục ý thức công dân cho học sinh trong nhà trường phổ thông là chỉ huy, ra lệnh cho các bộ phận trong nhà trường thực hiện những nhiệm vụ để bảo đảm việc giáo dục đạo đức diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch, tập hợp và phối hợp các lực lượng giáo dục sao cho đạt hiệu quả
Trong quá trình chỉ đạo, Hiệu trưởng cần kiểm tra giám sát việc thực hiện
kế hoạch bằng cách thu thập thông tin chính xác, phân tích tổng hợp, xử lý thông tin để đưa ra những quyết định đúng đắn Có thể đó là những quyết định điều chỉnh, sửa sai (nếu thấy kế hoạch có vấn đề chưa phù hợp với thực tiễn) để hoạt động giáo dục đạo đức diễn ra theo đúng kế hoạch
Việc chỉ đạo giáo dục sẽ đạt hiệu quả cao nếu trong quá trình chỉ đạo Hiệu trưởng biết kết hợp giữa sử dụng uy quyền và thuyết phục, động viên kích thích, tôn trọng, tạo điều kiện cho người dưới quyền được phát huy năng lực và tính sáng tạo của họ
Các hình thức thực hiện:
+ Giáo dục ý thức công dân qua các môn học chính khóa
+ Giáo dục ý thức công dân qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp
+ Giáo dục ý thức công dân qua hoạt động xã hội
+ Giáo dục ý thức công dân qua xây dựng môi trường sư phạm và hoạt động tự quản của học sinh trong nhà trường
1.4.3.3 Quản lý phương pháp giáo dục
Chỉ đạo giáo viên lựa chọn và sử dụng các phương pháp tác động phù hợp vào nhận thức tình cảm của học sinh như: đàm thoại, tranh luận, kể chuyện,
Trang 37giảng giải, khuyên răn Thông qua các hoạt động thực tiễn để rèn luyện các phẩm chất, hành vi thể hiện ý thức công dân, tạo thói quen nói và làm đúng pháp luật, nội quy, quy chế cho học sinh
Các phương pháp giáo dục ý thức công dân cho học sinh được hiệu trưởng cho phép sử dụng và thưởng xuyên kiểm tra nắm bắt hiệu quả tác động của phương pháp Hiệu trưởng không trực tiếp giáo dục ý thức công dân cho học sinh nhưng phải quan tâm đúng mức đến việc quản lý các phương pháp giáo dục, đảm bảo tính phù hợp và hiệu quả của phương pháp giáo dục Hiệu trưởng
sẽ kiểm tra thông qua các báo cáo, qua quan sát trực tiếp để có những tác động điều chỉnh kịp thời về phương pháp giáo dục của giáo viên đối với học sinh Vì vậy, hiệu trưởng sẽ luôn quan tâm
Tổ chức chỉ đạo giáo viên, học sinh học tập để nắm vững các văn bản, quy chế, quy định, các Chỉ thị, Nghị quyết của các cấp uỷ Đảng
Thực hiện nội quy, quy chế của nhà trường, thực hiện đúng tiến độ và đầy
đủ nội dung, chương trình cho học sinh
Các phương pháp kinh tế, tâm lý muốn có hiệu lực cần được bàn bạc, thống nhất trong giáo viên, học sinh và “thể chế hóa” bằng các quyết định có hiệu lực pháp lý
Hiệu trưởng với những biện pháp tác động thích hợp, quan tâm nắm được những đặc điểm tâm lý, nhân cách của giáo viên và học sinh sẽ động viên tinh thần chủ động tích cực, tự giác của họ, tạo ra sự thỏa mãn tinh thần trong từng người và bầu không khí tâm lý nhân ái, hợp tác phấn đấu đạt những mục tiêu
chung của tập thể
1.4.3.4 Quản lý các lực lượng tham gia giáo dục
Quản lý các lực lượng tham gia giáo dục là hoạt động trung tâm của nhà trường, nó chi phối mọi hoạt động giáo dục khác trong nhà trường Nó là con đường trực tiếp và thuận lợi nhất để giáo dục thế hệ trẻ và thực hiện mục đích cao nhất của nhà trường Vì vậy, có thể nói trọng tâm của quản lý nhà trường là quản lý quá trình dạy học, quản lý việc chấp hành các quy định về hoạt động
Trang 38giảng dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh, đảm bảo cho các hoạt động đó được tiến hành tự giác, có nền nếp ổn định, có chất lượng và hiệu quả cao
Quản lý hoạt động của thầy: Quản lý việc thực hiện chương trình, quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp của giáo viên, quản lý việc dự giờ thao giảng
và tự bồi dưỡng của giáo viên, quản lý việc thực hiện công tác nghiên cứu khoa học của giáo viên
Quản lý hoạt động học tập của trò: Quản lý việc thực hiện giờ giấc học tập, tinh thần và ý thức học tập, phương pháp học tập…
Quản lý mọi hoạt động giáo dục của nhà trường đảm bảo đúng mục tiêu giáo dục của Đảng, Nhà nước đó là đào tạo nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng lực thực hành tương xứng với trình độ đào tạo thích ứng với việc làm trong xã hội
Trong trường Trung học cơ sở có nhiều bộ phận, mọi hoạt động trong nhà trường nói chung đều là các hoạt động mang tính phối hợp Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận trong nhà trường góp phần làm cho các hoạt động đạt hiệu quả cao hơn
1.4.3.5 Quản lý cơ sở vật chất phục giáo dục
Quản lý cơ sở vật chất: Tài sản của nhà trường bao gồm đất đai, nhà cửa, công trình xây dựng, các hoạt động khoa học và công nghệ các trang thiết bị được Nhà nước giao cho trường quản lý và sử dụng hoặc do đầu tư mua sắm xây dựng và các hoạt động khác Quản lý tài sản nói chung và quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho quá trình đào tạo nói riêng phải đảm bảo được các yêu cầu liên quan mật thiết với nhau là: Đảm bảo đủ cơ sở vật chất - kỹ thuật trong quá trình đào tạo, quản lý tốt cơ sở vật chất - kỹ thuật của nhà trường
Quản lý tài chính: Trong bất kỳ tổ chức đơn vị nào thì nguồn kinh phí đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc duy trì các hoạt động Nếu nhà trường tạo được nguồn kinh phí tốt và sử dụng đúng mục đích tức là đã quản lý tốt nguồn tài chính của đơn vị mình
Trang 39Quản lý nhà trường chính là sự tác động có ý thức, có kế hoạch và có mục đích của chủ thể quản lý đến tất cả các hoạt động trong nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu, hoạt động của nhà trường
1.5 Các yếu tố có ảnh hưởng đến quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường trung học cơ sở
1.5.1 Các yếu tố chủ quan
Đây là yếu tố có ảnh hưởng nhiều đến việc tham gia giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số Khi dân trí cao, họ hiểu rõ trách nhiệm duy trì và giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số Nếu dân trí tấp,
họ không hiểu được trách nhiệm của mìmh tham gia đến đâu và cần giáo dục gì cho học sinh Nhận thức của các nhóm đối tượng thm gia giáo dục giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số, trong đó có nhóm đối tượng là cha
mẹ học sinh, những người có trách nhiệm trong làng bản, các thày cô giáo trong nhà trường về những giá trị văn hóa cần bảo tồn và phát triển cũng nảnh hưởng rất nhiều đến việc giáo dục cho học sinh Trong đó, chính học sinh cũng
là một yếu tố quan trọng Các em có nhận thức được sự cần thiết phải hiểu biết
và nâng cao ý thức công dân cho
Lực lượng tham gia giáo dục: Mặc dù lực lượng tham gia giáo dục được xác định rõ ràng: nhà trường là chủ đạo, còn cộng đồng là chỗ dựa cho nhà trường Nhưng thực tế cho thấy nếu nhà trường không có biện pháp huy động hợp lý thì sẽ cộng chỉ có một số bộ phận thực sự tham gia với lực lượng sẽ rất mỏng, trong đó đa số những người làm công tác giáo dục phải kiêm nhiệm nhiều việc, trình độ còn hạn chế, đặc biệt là ở những thôn bản còn nhiều khó khăn thì hiệu quả giáo dục sẽ rất hạn chế
Điều kiện cụ thể của nhà trường: Điều kiện cụ thể của nhà trường là một yếu tố tác động quan trọng đến việc giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số Trước hết là nhận thức của lãnh đạo nhà trường Sau đó là các biện pháp huy động cộng đồng tham gia vào các hoạt động của nhà trường- xã hội
Trang 40hóa giáo dục - trong đó có tham gia giáo dục giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số Cùng với các biện pháp phù hợp, cơ sở vật chất của nhà trường cũng là điều kiện quan trọng tác động đến hiệu quả giáo dục ý thức công dân cho học sinh Nếu nhà trường có cơ sở vật chất tốt, có đủ điều kiện về thời gian và không gian thì việc tổ chức các hoạt động tuyên truyền về các giá trị trong giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số sẽ thuận lợi, ngược lại sẽ rất khó khăn trong giáo dục học sinh
Trong những năm qua, mặc dù Nhà nước cũng như các cộng đồng đã có những nguồn hỗ trợ tài chính nhất định cho hoạt động động giáo cho học sinh dân tộc thiểu số Song mức đầu tư còn hạn chế, chủ yếu dựa sự nỗ lực của các cộng đồng Vì vậy khi các cộng đồng còn khó khăn về kinh tế thì nguồn lực dành cho các hoạt động giáo dục cũng còn hạn chế
Phong tục tập quán của địa phương: Phong tục, tập quán là yếu tố quan
trọng ảnh hưởng trực tiếp đến ý thức công dân của người dân tộc thiểu số, ăn sâu vào nếp sống của họ lưu truyền từ đời này cho đến đời khác Hiểu rõ và phát huy được ý thức công dân cũng do nếp nghĩ mà trong đó chủ yếu do những phong tục tập quán chi phối Việc phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, loại bỏ các phong tục lạc hâu cũng do nếp nghĩ chi phối Muốn tạo được lối sống có văn hóa, nâng cao ý thức công dân, phải loại bỏ được những hủ tục lạc hậu thì cần có những phong tục, tập quán phù hợp thay thế Ví dụ như việc loại bỏ nạn tảo hôn là một nội dung quan trọng trong giáo dục bản sắc văn hóa, giáo dục ý thức công dân cho học sinh thì phải hình thành các phong tục mới,