Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM LUÂN THỊ NHƯ RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TƯ DUY LOGIC CHO HỌC SINH T
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUÂN THỊ NHƯ
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TƯ DUY LOGIC
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC SINH HỌC
VI SINH VẬT Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG CHỢ ĐỒN - BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUÂN THỊ NHƯ
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TƯ DUY LOGIC
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC SINH HỌC
VI SINH VẬT Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG CHỢ ĐỒN - BẮC KẠN
Ngành: Lý luận và PPDH bộ môn Sinh học
Mã số: 8140111
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN PHÚC CHỈNH
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công tình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả của luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 11 năm 2019
Tác giả Luân Thị Như
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành tại Khoa Sinh học - Đại học sư phạm Thái Nguyên, trong quá trình nghiên cứu, tôi đã nhận được sự giúp đỡ vô cùng quý báu của các tập thể và cá nhân
Lời đầu tiên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn khoa học:
PGS TS Nguyễn Phúc Chỉnh, người đã tận tâm giúp đỡ hướng dẫn tôi trong
suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ Bộ môn Lý luận và Phương pháp dạy học sinh học, Khoa Sinh học, Phòng đào tạo, Ban giám hiệu trường Đại học
sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, ban giám hiệu và học sinh trường THPT Chợ Đồn đã giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình thực nghiệm sư phạm
Tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 11 năm 2019
Tác giả Luân Thị Như
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Những đóng góp của đề tài 4
8 Cấu trúc của đề tài 5
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TƯ DUY LOGIC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu rèn luyện KNTD logic cho học sinh 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.2 Ở Việt Nam 8
1.2 Cơ sở lí luận 9
1.2.1 Các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 9
1.2.2 Các thao tác tư duy logic cần rèn luyện cho HS nói chung và dạy phần Vi sinh vật SH 10 nói riêng 13
1.2.3 Vai trò của việc rèn luyện thao tác tư duy logic cho HS trong dạy học sinh học nói chung và dạy học phần Vi sinh vật SH 10 THPT nói riêng 14
1.2.4 Rèn luyện thao tác tư duy logic cho HS thông qua những phương pháp tích cực 15
1.2.5 Công cụ để rèn luyện KNTD cho HS 18
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.3 Cơ sở thực tiễn 21
1.3.1 Thực trạng rèn luyện KNTD logic cho HS trong dạy học ở trường THPT Chợ Đồn 21
1.3.2 Thực trạng rèn luyện các thao tác tư duy logic cho HS trong dạy học phần vi sinh vật (SH 10-THPT) 21
1.3.3 Thực trạng HS tham gia rèn luyện thao tác tư duy logic trong học phần vi sinh vật (SH 10 -THPT) 22
Kết luận chương 1 24
Chương 2 RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TƯ DUY LOGIC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC SINH HỌC VI SINH VẬT Ở TRƯỜNG THPT CHỢ ĐỒN - BẮC KẠN 25
2.1 Cấu trúc nội dung phần vi sinh vật (SH 10 - THPT) 25
2.2 Các thao tác tư duy logic cần rèn luyện cho HS trong dạy học phần Vi sinh vật (SH 10 - THPT) 26
2.3 Quy trình rèn luyện KNTD logic 29
2.4 Một số câu hỏi, bài tập rèn luyện KNTD logic cho HS trong dạy học phần vi sinh vật (SH 10 - THPT) 34
2.5 Một số giáo án 36
Kết luận chương 2 41
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 42
3.1 Mục đích thực nghiệm 42
3.2 Nội dung thực nghiệm 42
3.3 Phương pháp thực nghiệm 43
3.4 Kết quả và biện luận 44
3.4.1 Kết quả thực nghiệm về mặt định lượng 44
3.4.2 Kết quả thực nghiệm về mặt định tính 48
Kết luận chương 3 50
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50
1 Kết luận 51
2 Kiến nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52 PHỤ LỤC
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Thực trạng rèn luyện KNTD logic cho HS trong dạy học ở
trường THPT Chợ Đồn 21
Bảng 1.2 Thực trạng rèn luyện các thao tác tư duy logic trong dạy học phần vi sinh vật (SH 10 THPT) của GV Sinh học 22
Bảng 1.3 Ý kiến của HS về việc rèn luyện các thao tác tư duy logic mà GV sử dụng trong dạy học 22
Bảng 1.4 Thực trạng rèn luyện các thao tác tư duy logic cho HS khi học phần vi sinh học SH 10 23
Bảng 2.1 Nội dung phần VSV (SH 10 - THPT) 25
Bảng 2.2 Nội dung rèn luyện KNTD logic thông qua các thao tác tư duy trong dạy học phần Vi sinh vật (SH 10 - THPT) 27
Bảng 3.1 Các bài thực nghiệm 42
Bảng 3.2 Nội dung, công cụ và phương pháp đo nghiệm 44
Bảng 3.3 Tần suất (fi%) số HS đạt điểm Xi 44
Bảng 3.4 Tần suất hội tụ tiến điểm kiểm tra 46
Bảng 3.5 Kiểm định 𝑋 điểm kiểm tra 47
Bảng 3.6 Phân tích phương sai điểm kiểm tra 48
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới PPDH
Nghị quyết Số 29-NQ/TWcủa Trung ương 8 khóa XI (2013) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã đề ra mục tiêu cụ thể đối với giáo dục phổ thông: tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời [2]
Luật Giáo dục của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(2005) ở Điều 5, mục 2 ghi rõ "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng
lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên" [19Error! R
eference source not found.]
Ngày 19/1/2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố thông tin về Dự thảo các chương trình môn học, hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông mới để mọi cá nhân, tập thể đóng góp ý kiến Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể hướng đến 10 năng lực cốt lõi gồm: Những năng lực chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học, hoạt động giáo dục nhất định: Năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất, bồi dưỡng năng lực đặc biệt của học sinh
1.2 Xuất phát từ yêu cầu rèn luyện kỹ năng tư duy logic
Dạy học phát triển kỹ năng tư duy logic cho học sinh là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục, người học không chỉ biết học tốt mà còn phải tư duy tốt Khi họ tư duy tốt, họ sẽ biết cách tự điều chỉnh, tự tìm ra cách giải quyết các vấn đề gặp phải một cách linh hoạt và hiệu quả, đáp ứng được sự phát triển mạnh mẽ về tri thức của nhân loại
1.3 Xuất phát từ đặc điểm môn học
Trong chương trình giáo dục cấp trung học phổ thông, Sinh học là môn học được lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của học sinh Sinh học được xây dựng, phát triển trên nền tảng các thành tựu của nhiều khoa học như: Hoá học, Vật lý, Toán học, Y - Dược học, Vì vậy, bản thân nội dung Sinh học đã tích hợp các lĩnh vực khoa học đó; đồng thời sự tiến bộ về các thành tựu đạt được của các khoa học đó thúc đẩy sự phát triển của Sinh học và ngược lại
Sinh học là khoa học thực nghiệm, thực hành trong phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn, ngoài thực địa là phương pháp, hình thức dạy học cơ bản của môn Sinh học Phần sinh học VSV(SH 10) chủ yếu nghiên cứu các đặc điểm cơ bản về hoạt động sống, sinh trưởng, sinh sản, ứng dụng các dạng hoạt sống trong thực tiễn của vi sinh vật, mang lại lợi ích cho con người, tìm hiểu về nhóm vi sinh vật ảnh hưởng xấu đến con người, từ đó giúp học sinh nhận thức được vai trò quan trọng trong sự tồn tại tự nhiên của thế giới sống
Vì vậy, việc dạy học Sinh học nói chung và dạy phần VSV (SH 10 - THPT) nói riêng cần phải tinh giản các nội dung có tính mô tả để tổ chức cho học sinh tìm tòi, rèn luyện kĩ năng tư duy logic để nhận thức các kiến thức sinh học có tính nguyên lý, cơ sở cho quy trình công nghệ ứng dụng sinh học hiện đại
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Xuất phát từ những lí do trên tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu "Rèn
luyện kỹ năng tư duy logic cho học sinh trong dạy học sinh học vi sinh vật ở trường THPT Chợ Đồn - Bắc Kạn"
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được những biểu hiện của kỹ năng tư duy logic cho học sinh trong dạy học phần vi sinh vật ở trường THPT Chợ Đồn - Bắc Kạn để nâng cao chất lượng dạy học phần “Sinh học Vi sinh vật"
- Xây dựng được quy trình rèn luyện kỹ năng tư duy logic cho học sinh
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Rèn luyện các kỹ năng tư duy logic cho học sinh trong dạy học Sinh học Vi sinh vật ở trường THPT Chợ Đồn - Bắc Kạn
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học sinh học 10 THPT
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được quy trình, các biện pháp để rèn luyện KNTD logic cho học sinh trong dạy học phần Vi sinh vật ở trường THPT Chợ Đồn - Bắc Kạn thì
sẽ rèn luyện được KNTD logic, nâng cao được hiệu quả dạy học phần Vi sinh vật ( SH 10) ở trường trung học phổ thông
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những biểu hiện của kỹ năng tư duy logic trong dạy học phần sinh học vi sinh vật
- Xây dựng quy trình rèn luyện các kỹ năng tư duy logic cho học sinh trong dạy học phần Vi sinh vật ở trường THPT Chợ Đồn - Bắc Kạn
- Xây dựng được các tiêu chí đánh giá kỹ năng tư duy logic để đánh giá mức độ đạt được của học sinh trong dạy học phần Vi sinh vật ở trường THPT Chợ Đồn - Bắc Kạn
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm định, đánh giá hiệu quả lĩnh hội kiến thức, các kỹ năng tư duy logic đạt được của học sinh qua quy trình rèn luyện kỹ năng tư duy logic đã xây dựng trong dạy học phần Vi sinh vật (SH 10 - THPT)
6 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Nghiên cứu các văn bản của Đảng, của nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo để đáp ứng sự phát triển của đất nước, chiến lược đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
- Nghiên cứu các tài liệu, công trình khoa học, đề tài đề cập đến hình thành
kĩ năng, kĩ năng tư duy, logic, dạy cách học cho học sinh làm cơ sở đề xuất rèn luyện kĩ năng tư duy logic cho học sinh trong dạy học Sinh học Vi sinh vật ở trường THPT Chợ Đồn - Bắc Kạn
- Nghiên cứu sách giáo khoa sinh học trung học phổ thông, đặc biệt là sinh học 10, từ đó đề xuất các phương pháp dạy học phù hợp theo hướng hình thành và phát triển tư duy logic cho học sinh ở trường THPT Chợ Đồn - Bắc Kạn
* Phương pháp điều tra thực trạng
- Điều tra nhận thức của giáo viên về việc rèn kỹ năng tư duy logic cho học sinh trong dạy học Sinh học Vi sinh vật ở trường THPT Chợ Đồn - Bắc Kạn thông qua phiếu điều tra
- Điều tra về nhận thức và mức độ sử dụng một số kỹ năng tư duy logic của học sinh lớp 10 trong môn Sinh học ở trường THPT Chợ Đồn - Bắc Kạn
* Phương pháp chuyên gia
Trao đổi và xin ý kiến đóng góp của các chuyên gia, các thầy cô giáo trong lĩnh vực Sinh học và khoa học giáo dục liên quan đến đề tài
* Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sư phạm học sinh khối 10 ở trường THPT Chợ Đồn - Bắc Kạn nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài
* Phương pháp thống kê toán học
Các số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel
7 Những đóng góp của đề tài
- Góp phần hoàn thiện cơ sở lí luận và thực tiễn về các vấn đề liên quan đến rèn KNTD logic và các biện pháp tổ chức rèn luyện KNTD cho HS trong dạy học SH nói chung và phần vi sinh vật (SH 10) nói riêng
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Xác định được các thao tác tư duy logic cấu thành KNTD trong dạy phần
vi sinh vật (SH 10)
- Xác định các phương pháp dạy học để rèn luyện KNTD logic cho học
sinh có hiệu quả trong dạy học phần vi sinh vật (SH 10)
8 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2 Rèn luyện KNTD logic cho học sinh trong dạy học phần vi sinh vật (SH 10 - THPT)
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
tư tưởng đầu tiên cho TDLG
- Các nhà tâm lý học đã đưa ra những quan điểm khác nhau về sự phát triển của trí tuệ, khả năng TD, yếu tố di truyền và yếu tố môi trường Francis Galton (1897) đưa ra mối liên hệ giữa phả hệ và các mức độ phát triển của trí tuệ Ông đưa
ra hai nguyên tắc: thiên là do di truyền và phát triển trí tuệ liên quan đến nhiều yếu
tố khá phức tạp [ 27] Với hai nguyên tắc đó thì câu hỏi được đặt ra là nếu trí tuệ là
do di truyền thì việc phát triển trí tuệ có ý nghĩa gì không?
Alfed Brinet (1857- 1911) cho rằng TD của con người bắt nguồn từ một chức năng duy nhất gọi là trí tuệ, có thể phát triển TD của một đứa trẻ ngay cả khi nó không có khả năng bẩm sinh Ông nói rằng tư duy được hình thành từ rất nhiều chức răng nhỏ hơn như chú ý, quan sát, phân biệt, nhớ, đánh giá [28 ] Theo tác giả Hans Eysenck (1916) trí tuệ con người là kết quả của 80% do di truyền, 20% do môi trường và giáo dục Như vậy, các nhà nghiên cứu trên đã nhấn mạnh tính di truyền của biến dị hay khả năng TD mà coi nhẹ sự tác động của môi trường [ 29]
Tuy nhiên, nhiều nhà tâm lí học khác lại đưa ra những quan điểm đối lập, không nhấn mạnh vào yếu tố di truyền mà nhấn mạnh vào yếu tố môi trường L.Vygotsky (1980), nhà tâm lí học người Nga cho rằng tất cả các quá trình tâm
lí đều là kết quả của việc trao đổi văn hóa và xã hội.TD của một đứa trẻ phát triển chủ yếu thông qua các hoạt động trong xã hội, đặc biệt là trong sự giao lưu giữa
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
người lớn và trẻ em [30] Vygotsky lại khẳng định: các chức năng tư duy sơ đẳng như bản chất khéo léo là một phần của di truyền, nó sẽ được nền văn hóa và giáo dục biến thành những chức năng cao hơn, trí tuệ hơn như khả năng viết, thuyết trình Như vậy, khả năng trí tuệ của con người được bắt nguồn từ gen di truyền
và được phát triển thông qua hoạt động xã hội, giáo dục, gia đình và môi trường văn hóa [30]
Vấn đề hình thành ở học sinh kĩ năng tư duy được nhiều tác giả nghiên cứu.Vào khoảng thập niên 60 - 70 của thế kỷ XX khi lý thuyết hoạt động của A.N.Lêônchiev ra đời thì đã có hàng loạt các công trình nghiên cứu về NL và NLTD được công bố ở các mức độ sâu và rộng, đặc biệt nhấn mạnh đến điều kiện hình thành chúng
Việc hình thành các kĩ năng nhận thức như là sở của tính độc lập của HS đã được F.Brunơ (1960) đề cập đến trong tác phẩm "Hình thành các hoạt động trí tuệ của HS" Theo F.Brunơ trong khi xác định những điều kiện để tiến hành có kết quả phương pháp tìm tòi khám khá, điều kiện đầu tiên là GV phải biết vận dụng phương pháp phù hợp với năng lực, hứng thú và nhu cầu của trẻ [9] Theo Kharlamop (1978), GV cần biết logic của hoạt động nhận thức của HS nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh Ông nêu 8 biện pháp tạo tình huống có vấn đề và tổ chức hoạt động nhận thức của HS, tạo sự phát triển tư duy logic của HS, trang bị cho các em những biện pháp và thủ thuật lĩnh hội kiến thức [12]
Trong tác phẩm "Thế giới phẳng" (2006) của tác giả Thomas L.Friedman nhấn mạnh phương pháp học: kĩ năng đầu tiên và quan trọng nhất mà bạn cần có trong thế giới phẳng là kĩ năng "học phương pháp học" [23]
Trong những năm gần đây các nhà giáo dục học mong muốn có chương trình dạy kĩ năng TD cho HS Các nhà khoa học trong các lĩnh vực tâm lý học, triết học, giáo dục học cùng phối hợp nghiên cứu và đề xuất nhiều ý tưởng cho việc dạy kĩ năng tư duy, ứng dụng trong giáo dục ở trường phổ thông
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Về vấn đề hình thành các biện pháp hoạt động TD trong dạy học nói chung, dạy học Sinh học nói riêng, các nghiên cứu đều thống nhất cho rằng: nếu chất lượng bộ môn thấp là do GV không nắm chắc các biện pháp phân tích, so sánh, khái quát hóa Vì vậy, đối với mỗi thao tác logic các tác giả đều vạch ra một hệ thống các biện pháp, phương pháp tạo điều kiện phát triển tư duy HS
Trên đây, chúng tôi đã tổng quan luận điểm của các tác giả trên thế giới nghiên cứu về TD và phát triển KNTD của HS Vấn đề TD đã được các nhà triết học, tâm lý học đề cập, tiếp đến là các nhà giáo dục nghiên cứu tầm quốc gia, hình thành quan điểm dạy học nói chung và dạy học sinh học nói riêng Hầu hết các quan điểm đều nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, rèn luyện kĩ năng tư duy, phương pháp
tự học của học sinh
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiên cứu về TD và TDLG đa phần được thể hiện đồng thời với đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS.Từ năm 1970 đã có những công trình nghiên cứu xem xét hiện trạng, đặc điểm về trí nhớ, chú ý và TD của HS trung học cơ sở
Vào những năm 1990, đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động sáng tạo của học sinh trong dạy học Trong luận văn sau đại học “Hình thành và phát triển các biện pháp hoạt động trí tuệ của học sinh trong dạy học sinh” của tác giả Lâm Hàn Thủy khẳng định: có thể sử dụng
hệ thống các câu hỏi, bài tập để rèn luyện các thao tác tư duy logic, các biện pháp nhận thức học tập và người giáo viên cần phải ra đi từ việc phân tích nội dung tài liệu [25]
Gần đây đã có nhiều nghiên cứu đi sâu về từng mặt các yếu tố trong hệ thống cấu trúc các phương pháp dạy học tích cực, đã bàn về kỹ năng tư duy và hình thành kỹ năng tư duy trong dạy học Nguyễn Bá Kim (2002) nhấn mạnh TD không thể tách rời ngôn ngữ, TD phải diễn ra trong sự trau dồi bằng ngôn ngữ
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
của con người và ngược lại, ngôn ngữ được hình thành nhờ TD [15] Năm 2004, Nguyễn Văn Thuận đã nghiên cứu đề tài “Góp phần phát triển năng lực TDLG
và sử dụng chính xác ngôn ngữ toán học cho HS đầu cấp THPT trong dạy học đại số” đã nghiên cứu và đề xuất các biện pháp dạy học để rèn năng lực TDLG cho HS [24] Theo tác giả Hồ Ngọc Đại (2010) thì khoa học càng hiện đại thì càng gần chân lí, càng đơn giản hơn, nếu HS biết “cách” chiếm lĩnh được khái niêm khoa học hiện đại thì quá trình hình thành và phát triển TD của HS chắc chẵn được đảm bảo tối ưu [8]
Các tác giả đều nêu được sự cần thiết của việc hình thành kĩ năng tư duy cho HS, đó là công việc có ý nghĩa then chốt trong quá trình dạy học, cũng như phân tích được các căn cứ về triết học, tâm lí và giáo dục học để phát huy tính tích cực của HS, rèn luyện KNTD cho HS Nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập về những phương pháp, biện pháp dạy học các kiến thức sinh học như: sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan, xây dựng và sử dụng tình huống hợp lý, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn,… một số ít công trình cũng
đã đề cập đến rèn kĩ năng riêng lẻ như: phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa,…
rõ được bản chất, mối quan hệ có tính quy luật của chúng Quá trình đó gọi là
TD Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam : Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt - bộ não con người Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận,… [20, tập III]
Theo triết học duy tâm khách quan, tư duy là sản phẩm của “ý niệm tuyệt đối” với tư cách là bản năng siêu tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc vào vật chất
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Theo George Wilhemer Fridrick Heghen: “Ý niệm tuyệt đối là bản nguyên của hoạt động và nó chỉ có thể biểu hiện trong tư duy, trong nhận thức tư biện mà thôi (dẫn theo [10]) Đối với Heghen, vận động của tư duy được ông nhân cách hóa dưới tên gọi “ý niệm” là chúa sáng tạo ra hiện thực; hiện thực chỉ là hình thức bề ngoài của ý niệm” [10]
Theo triết học duy vật biện chứng, tư duy là một trong các đặc tính của vật chất phát triển đến trình độ tổ chức cao Về lý thuyết, Karl Marx (1938), cho
rằng: “Vận động kiểu tư duy chỉ là sự vận động của hiện thực khách quan được di chuyển vào và được tái tạo trong đầu óc con người dưới dạng một sự phản ánh”
[14] Về thực nghiệm Ivan Petrovich Pavlov, nhà sinh lý học, nhà tư tưởng người
Nga cho rằng “Hoạt động tâm lý là kết quả của hoạt động sinh lý của một bộ phận nhất định của bộ óc” [16].
Theo phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chọn hướng tiếp cận theo
định nghĩa từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 2000),“TD là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí” [17]
Theo quan điểm tâm lý học, kĩ năng lại được phân chia thành hai mức đó là: kĩ năng nguyên sinh, được hình thành đầu tiên qua các hành động đơn giản
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
và kĩ năng thứ sinh, là những kĩ năng phức hợp dựa trên một số kĩ năng bậc thấp
và một số kĩ xảo có trước
Còn theo quan điểm Giáo dục học, kĩ năng được chia thành hai bậc đó là:
kĩ năng bậc I, là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp, điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dù là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ Và kĩ năng bậc II, là khả năng thực hiện hành động một cách thành thạo, linh động, sáng tạo, phù hợp với mục tiêu trong các điều kiện khác nhau [21]
Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng, nhưng thực chất các quan niệm này không mâu thuẫn nhau, sự khác nhau ở đây là do việc mở rộng hay thu hẹp thành phần cấu trúc của kĩ năng
* Kĩ năng tư duy
Các nhà tâm lí học cho rằng kĩ năng tư duy (KNTD) là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mỗi liên hệ, quan hệ bên trong
có tính quy luật của sự vật Bao gồm các biện pháp tu duy: phân tích, tổng hợp,
so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa
Theo Đinh Quang Báo (1996), KNTD là sự vận dụng linh hoạt thành thạo các thao tác TD [3] bao gồm: Kĩ năng phân tích tổng hợp, kĩ năng so sánh, và kĩ năng trừu tượng hóa, khái quát hóa
Logic biện chứng là khoa học về những quy luật và hình thức phản ánh trong TD, sự phát triển và biến đổi của thế giới khách quan, về những quy luật nhận thức chân lý Logic biện chứng nghiên cứu các quy luật TD, những nguyên
lý phương pháp luận và các yêu cầu được hình thành trên cơ sở các quy luật đó; nghiên cứu sự hình thành, biến đổi và phát triển của các hình thức TD, sự tương quan giữa chúng với nhau [23]
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
* Tư duy logic
Theo quan điểm của A.V Petroxki, tư duy logic (TDLG) là TD thay thế các hành động với các sự vật có thật bằng sự vận dụng khái niệm theo quy tắc của logic học [1]
Theo Vũ Văn Viên (2006), TDLG là giai đoạn nhận thức lý tính, sử dụng các hình thức cơ bản như: Khái niệm, phán đoán, suy luận cùng các thao tác logic xác định của chủ thể nhằm sản xuất các tri thức mới [26]
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về TDLG nhưng trong nghiên cứu đề tài, chúng tôi đưa ra khái niệm về tư duy logic như sau: Tư duy logic là quá trình nhận thức đối tượng, xác định các yếu tố liên quan để hình thành và kết nối các
ý tưởng, nhằm tìm kiếm giải pháp và hành động phù hợp với ngữ cảnh của đối tượng, để làm cơ sở quan trọng xác định các kĩ năng TDLG và quy trình hình thành TDLG cho HS trong dạy học phần Vi sinh vật (SH10 - THPT)
* Kĩ năng tư duy logic
Theo tác giả Trần Bá Hoành (2003), TD là đặc trưng của hoạt động nhận thức TD chủ yếu đề cập đến hai con đường logic là quy nạp và diễn dịch Còn nhóm thao tác TD bao gồm: phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa và trừu tượng hóa Mỗi con đường đều sử dụng cacsthao tác TD đó [11]
Kĩ năng TDLG là khả năng vận dụng linh hoạt thành thạo các thao tác TD
để nhận thức sự vật hiện tượng khách quan được hình thành trong quá trình rèn luyện Việc rèn luyện kĩ năng TDLG cho HS trong dạy học phần sinh học vi sinh vật là PPDH sinh học nhằm hình thành cho HS các kĩ năng TDLG thông qua học tập kiến thức về vi sinh vật
Với định hướng như vậy, chúng tôi đi đến xác định tiêu chí về rèn luyện KNTD logic cho HS trong dạy học phần vi sinh vật (SH 10 - THPT) gồm:
- Có khả năng vận dụng linh hoạt và thành thạo các thao tác tư duy: phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa thông qua nội dung phần
Vi sinh vật (SH10 - THPT)
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Nâng cao hiệu quả việc lĩnh hội kiến thức phần Vi sinh vật (SH10- THPT) thông qua các biện pháp rèn luyện KNTD logic cho HS
1.2.2 Các thao tác tư duy logic cần rèn luyện cho HS nói chung và dạy phần
Vi sinh vật SH 10 nói riêng
- Phân tích - tổng hợp:
Phân tích là việc phân chia đối tượng nhận thức thành nhiều bộ phận, từ
đó xem xét cụ thể theo từng bộ phận để chỉ ra mối quan hệ cấu thành và quan hệ nhân quả giữa chúng, đồng thời đưa ra những đánh giá, nhận xét nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu
Tổng hợp là thao tác trí tuệ kết hợp nhiều yếu tố, nhiều thành phần của sự vật hay hiện tượng trong một chỉnh thể
Phân tích - tổng hợp là hai mặt của một quá trình tư duy thống nhất có sự liên hệ mật thiết với nhau
- So sánh: là thao tác trí tuệ đối chiếu các sự vật hiện tượng để xác định sự giống nhau, khác nhau hay bằng nhau
Có nhiều cách so sánh khác nhau, có thể so sánh toàn phần hay so sánh bộ phận hoặc so sánh các đặc điểm giống nhau khác nhau Tùy mục đích dạy học
mà có các kiểu so sánh cho phù hợp Qua so sánh giúp HS phân biệt, hệ thống hóa, hình thành, củng cố, phát triển các khái niệm
- Khái quát hóa - trừu tượng hóa:
Khái quát hóa là thao tác trí tuệ cần kết hợp nhiều bộ phận, đối tượng khác nhau nhưng có chung những thuộc tính, quan hệ thành một nhóm, một loại Bản chất của khái quát chính là tách ra trong các đối tượng cái chung nhất, bản chất nhất rồi thống nhất chúng thành cấu trúc chung Dựa vào mục đích sử dụng nhiều cách phân loại khái quát khác nhau Dựa vào phạm vi nội dung tài liệu có thể chia thành 3 dạng khái quát hóa: khái quát hóa từng thành phần giúp chủ thể lĩnh hội được các khái niệm, qui luật trong một phạm vi hạn chế của một đối tượng nào đó; khái quát hóa theo đề tài được tiến hành sau từng phần riêng trong
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
chương trình; khái quát hóa nhiều đề tài, nhiều phần để HS lĩnh hội được tri thức tốt hơn Dựa vào đặc điểm kiến thức có thể chia thành 2 dạng khái quát hóa: khái quát hóa kinh nghiệm từ việc so sánh những dấu hiệu bề ngoài trực tiếp để tách làm dấu hiệu chung; khái quát hóa lí thuyết dựa trên cơ sở phân tích tổng hợp hoạt động tư duy trừu tượng đến cụ thể
Trừu tượng hóa là một thao tác trí tuệ tách các thuộc tính, quan hệ bản chất
để tư duy, nghĩa là tách ra bản chất của đối tượng nghiên cứu để giải quyết các nhiệm vụ nhận thức
- Hệ thống hóa: là thao tác trí tuệ sắp xếp các hiện tượng, đối tượng thành một hệ thống dựa trên cơ sở những cái chung Để tiến hành hệ thống hóa cần điều kiện là đối tượng phải có khả năng phân chia, tập hợp các phần tử riêng lẻ cho trước một cách chặt chẽ
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, GV không thể truyền tải hết tri thức cho HS mà phải trang bị cho HS phương pháp tự tìm thêm tri thức qua các biện pháp hoạt động trí tuệ, các thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, so sánh,…
1.2.3 Vai trò của việc rèn luyện thao tác tư duy logic cho HS trong dạy học sinh học nói chung và dạy học phần Vi sinh vật SH 10 THPT nói riêng
Tư duy tốt khi người ta biết vận dụng các dữ liệu một cách khéo léo, công tâm, nhất quán và logic Việc rèn luyện cho HS có tư duy tốt dựa trên các lí do sau: Người học có tư duy tốt sẽ có điều kiện tốt hơn để thành công; tư duy tốt là điều kiện tiên quyết giúp HS trở thành những công dân tốt; người có tư duy tốt sẽ luôn điều chỉnh để có trạng thái tâm lí tốt; chúng ta luôn mong muốn HS trở thành những những người có tư duy tốt vì lí do tồn tại Đây là những lí do chúng vì sao chúng ta cần phải có trách nhiệm dạy kĩ năng tư duy cho người học
Việc rèn luyện kĩ năng tư duy logic cho HS trong dạy học phần Vi sinh vật SH 10 sẽ giúp cho quá trình lĩnh hội kiến thức SH 10 đạt hiệu quả cao hơn Phần Vi sinh vật SH10 được đặt ở cuối chương trình SH 10 Vì kiến thức của nó
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
là sự kế thừa những kiến thức về tế bào trước đó như: cấu tạo tế bào, chuyến hóa vật chất và năng lượng trong tế bào, Các kiến thức đó là nền tảng cho chúng ta nắm bắt kiến thức phần vi sinh vật dễ dàng hơn Để HS lĩnh hội được kiến thức
GV cần vận dụng các biện pháp dạy học phù hợp theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của hS, đặc biệt là việc rèn luyện tư duy logic cho HS có ý nghĩa quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học học phần vi sinh vật SH 10 Qua đó giúp HS phát triển năng lực tư duy, sáng tạo
1.2.4 Rèn luyện thao tác tư duy logic cho HS thông qua những phương pháp tích cực
Theo nhiều nguồn nghiên cứu, có nhiều phương pháp dạy học tích cực như; dạy học đặt và giải quyết vấn đề; dạy học hợp tác; dạy học theo góc; dạy học dự án, dạy học vi mô,…
Trong định hướng nghiên cứu của luận văn, chúng tôi tập trung rèn KNTD logic cho HS thông qua phương pháp vấn đáp; dạy học đặt và giải quyết vấn đề
- Vấn đáp: là phương pháp trong đó GV đặt câu hỏi (CH) để HS trả lời,
hoặc tranh luận với nhau và với cả GV để qua đó HS lĩnh hội được kiến thức.Căn
cứ vào mục đích sư phạm mà có nhiều cách phân biệt: vấn đáp gợi mở, vấn đáp củng cố, vấn đáp tổng kết, vấn đáp kiểm tra
+ Quy trình dạy học vấn đáp:
Đại đa số các tác giả nghiên cứu đều thống nhất có thể có 3 phương án tổ chức hoạt động cho HS:
Phương án 1: GV đặt ra các CH nhỏ riêng rẽ, yêu cầu từng HS trả lời Mỗi
HS trả lời 1 câu Tổ hợp các CH và trả lời là nguồn kiến thức mới cho cả lớp
Phương án 2: GV nêu trước lớp một CH chủ đề và kèm theo đó là các CH nhỏ liên quan đến chủ đề đó GV tổ chức cho HS lần lượt trả lời từng phần của
CH chủ đề CH chủ đề và tổ hợp các câu trả lời nhỏ là nguồn thông tin mới cho
HS
Phương án 3: GV nêu ra một câu hỏi chính kèm theo những gợi ý nhằm
mụ đích cho HS thảo luận, tranh luận, đặt cho nhau những CH phụ để giúp nhau tìm ra lời giải HS sẽ đưa ra nhiều ý kiến khác nhau, hình thành nhiều nhóm bảo
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
vệ ý kiến của mình, GV đưa ra lời tổng kết cuối Nguồn thông tin chính là CH chính kèm theo sự tranh luận và lời giải tổng kết
+ Các mức độ của CH về mặt nhận thức:
CH có yêu cầu thấp: đòi hỏi tái hiện kiến thức, sự kiện, nhớ và trình bày một cách có hệ thống, có chọn lọc Loại CH này được dùng trong trường hợp khi giới thiệu tài liệu mới, thực hành, ôn tập
CH có yêu cầu cao: đòi hỏi sự thông hiểu, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa và vận dụng kiến thức Loại CH này thường được dùng khi:
HS đã có kiến thức cơ bản, HS đang tham gia GQVD, HS đang bị cuốn vào cuộc thảo luận sôi nổi, sáng tạo
Trong 2 cách trên GV nên chú trọng tăng cường loại CH thứ hai, đồng thời nên chú ý CH loại thứ nhất Bởi nếu không có nền tảng kiến thức thì khó mà tư duy sáng tạo
- Dạy học đặt vấn đề và GQVD:
Dạy học đặt vấn đề và GQVD là sự lĩnh hội tri thức diễn ra thông qua việc
tổ chức cho HS hoạt động đặt và GQVD Sau khi GQVD thì HS sẽ thu nhận được kiến thức mới, kĩ năng mới
Giáo dục Việt Nam đã và đang quan tâm nghiên cứu và ứng dụng trong dạy học, trong đó có một số tác giả nghiên cứu vận dụng dạy học GQVD trong sinh học như: Đinh Quang Báo đã phân loại dạy học nêu vấn đề trong nhóm phương pháp dạy học chuyên biệt, Trần bá Hoành đã giới thiệu dạy học đặt và GQVD là một trong những phương pháp tích cực cần được phát triển ở trường phổ thông [11] Các tác giả cùng nhấn mạnh sự cần thiết của dạy học GQVD trong đổi mới phương pháp dạy học hiện nay nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và tư duy của người học
+ Quy trình dạy học GQVD: Thường gồm các bước như sau:
Bước 1: Xác định tình huống có vấn đề hay đặt vấn đề
Bước 2: Giải quyết vấn đề
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Mức 2: GV nêu vấn đề, gợi ý HS tìm ra cách GQVD HS thực hiện cách GQVD theo hướng dẫn của GV GV và HS cùng đánh giá
Mức 3: GV cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề HS phát hiện, xác định đúng vấn đề nảy sinh, tìm, lựa chọn phương pháp GQVD GV và HS cùng đánh giá
- Dạy học hợp tác nhóm nhỏ:
Phương pháp dạy học này còn có nhiều tên gọi khác nhau như: học tập hợp tác, thảo luận nhóm Trong dạy học hợp tác, GV tổ chức cho HS hoạt động trong những nhóm nhỏ để HS cùng thực hiện một nhiệm vụ nhất định trong một thời gian nhất định Trong nhóm, dưới sự chỉ đạo của nhóm trưởng, HS kết hợp giữa làm việc độc lập, làm việc theo cặp, và hợp tác cùng nhau để giải quyết nhiệm vụ được giao
+ Vai trò của dạy học hợp tác nhóm nhỏ trong việc rèn luyện KNTD cho HS Lớp học chia thành từng nhóm nhỏ 4 - 6 người Trong nhóm tự bầu nhóm trưởng, thư kí phân công nhiệm vụ cho mỗi thành viên Mỗi thành viên trong nhóm làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là phức tạp
Cấu tạo của một tiết học theo nhóm như sau:
+ Làm việc chung cả lớp:
Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức;
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ;
Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm;
+ Làm việc theo nhóm:
Phân công trong nhóm;
Cá nhân làm việc độc lập rồi tổ chức thảo luận trong nhóm;
Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm
+ Tổng kết trước lớp:
Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả; thảo luận chung
GV tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo hoặc vấn đề tiếp theo
Mỗi tiết học trong một bài khoảng từ 1 - 2 hoạt động nhóm, mỗi hoạt động
5 - 10 phút Trong hoạt động nhóm tư duy tích cực của HS được phát huy Hoạt động hợp tác nhóm được tổ chức tốt sẽ nâng cao được ý thức trách nhiệm đông thời bồi dưỡng tinh thần tập thể
1.2.5 Công cụ để rèn luyện KNTD cho HS
Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, chúng tôi sử dụng công cụ rèn luyện KNTD cho HS là câu hỏi (CH) và bài tập (BT)
* Câu hỏi, bài tập:
- Khái niệm câu hỏi: Có nhiều cách quan niệm khác nhau về CH: Theo
các nhà triết, CH là một mô hình tư duy bắt buộc phải xảy ra trong quá trình nhận thức quan niệm về mục đích diễn đạt, CH là một mệnh đề nêu lên sự kiện, hiện tượng đòi hỏi cần giải quyết, đòi hỏi người trả lời tìm ra được vấn đề Còn trong dạy học, CH đặt ra phải có quan hệ giữa điều chưa biết và đã biết thì mới kích thích được câu trả lời của HS.Các nhà sư phạm phân chia CH theo khả năng rèn luyện các thao tác tư duy logic cho HS như: CH phân tích tổng hợp, CH phân tích so sánh, CH khái quát hóa, trừu tượng hóa,…
Theo tác giả Trần Bá Hoành [11], CH kích thích tư duy tích cực là CH đặt ra trước HS một nhiệm vụ nhận thức, đòi hỏi họ sử dụng trí tuệ tự tìm ra câu trả lời bằng cách vận dụng các thao tác tư duy so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa
để qua đó lĩnh hội được kiến thức mới, tìm ra phương pháp GQVD
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Trong định hướng nghiên cứu của đề tài chúng tôi chọn hướng nghiên cứu của tác giả Trần Bá Hoành: trong dạy học, CH là những yêu cầu đặt ra để HS phải giải quyết bằng lời giải nhằm hướng dẫn quá trình nhận thức của HS
Khái niệm bài tập:
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang (1975), BT là bài ra cho HS làm để vận dụng kiến thức đã học nhằm củng cố, hoàn thiện, nâng cao kiến thức đã học [18] Còn theo từ điển tiếng việt của tác giả Hoàng Phê (2000), BT là bài ra cho HS làm để vận dụng những điều đã học được [17]
BT có thể là một câu hỏi, một thí nghiệm, một bài toán mà khi hoàn thành chúng HS lĩnh hội được kiến thức hay kĩ năng nhất định
- Ý nghĩa của CH, BT trong việc rèn luyện KNTD:
Dựa trên mục đích yêu cầu khi xây dựng CH, BT theo lí luận dạy học hiện đại cho thấy: CH, BT buộc HS khi giải quyết phải thiết lập được mối quan hệ giữa kiến thức đã biết và cái cần tìm, giữa nguyên nhân và kết quả,… từ đó sử dụng các thao tác tư duy khác nhau như: so sánh, phân tích, tổng hợp, chứng minh, để giải quyết GV sử dụng các phương pháp phù hợp để HS hứng thú, sáng tạo trong nhiệm vụ tìm tòi giải đáp tìm kiến thức mới Vì vậy, việc tổ chức cho HS lĩnh hội kiến thức thông qua hệ thống câu hỏi là một trong những công
cụ để rèn các thao tác tư duy
* Cơ sở phân loại câu hỏi, bài tập:
Có nhiều quan điểm khác nhau khi phân loại CH, BT trong dạy - học Mỗi quan điểm phân loại đều có ưu điểm khác nhau tùy vào mục đích và phương pháp sử dụng trong dạy và học
- Dựa vào yêu cầu năng lực nhận thức: Theo Benjamin Bloom (1956) [5] đã
đề xuất một thang 6 mức câu hỏi tương ứng với 6 mức lĩnh hội kiến thức
Mức 1: Biết: CH yêu cầu HS nhắc lại một số kiến thức đã biết, HS chỉ dựa vào trí nhớ để trả lời
Mức 2: Hiểu: CH yêu cầu HS tổ chức sắp xếp lại các kiến thức đã học và diễn đạt bằng ngôn ngữ của mình chứng tỏ đã thông hiểu
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Mức 3: Vận dụng: CH yêu cầu HS áp dụng kiến thức đã học vào một tình huống mới
Mức 4: Phân tích: CH yêu cầu phân tích,so sánh,… các sự vật hiện tượng hoặc tìm kiếm bằng chứng cho một luận điểm, điều này trước đó chưa cung cấp cho HS
Mức 5: Tổng hợp: CH yêu cầu HS vận dụng phối hợp các kiến thức đã học
để giải đáp một vấn đề khái quát hơn bằng suy nghĩ sáng tạo của bản thân
Mức 6: Đánh giá: CH yêu cầu HS nhận định, phán đoán về ý nghĩa của một kiến thức, giá trị một tư tưởng, vai trò của một học thuyết, giá trị của cách giải quyết vấn đề được đặt ra trong chương trình học tập
Thực tế cho thấy đa số GV THPT sử dụng CH ở mức 1 và 2 Muốn phát huy tính tích cực chủ động học tập của HS, cần sử dụng loại CH từ mức 3 đến 6
- Theo Trần Bá Hoành: có thể sử dụng 5 loại CH chính sau:
+ Loại CH kích thích sự quan sát, chú ý: nhận thức lý tính phải dựa trên nhận thức cảm tính, nên sự quan sát tinh tế,chú ý sâu sắc là điều kiện cần thiết
để suy nghĩ tích cực
+ Loại CH yêu cầu phân tích so sánh: Loại CH này hướng HS vào việc nghiên cứu chi tiết các vấn đề khá phức tạp, nắm vững những sự vật hiện tượng tương tự hoặc những khái niệm có nội dung chồng chéo nhau
+ Loại CH tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa: Loại CH này đặc trưng cho kiến thức sinh học mang tính lí thuyết, dẫn tới hình thành kiến thức đại cương
+ Loại CH liên hệ với thực tế: Đây là loại CH mà HS luôn có nhu cầu áp dụng kiến thức mới học vào thực tiễn để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên
+ Loại CH kích thích tư duy sáng tạo, hướng dẫn HS nêu vấn đề, đề xuất vấn đề: loại CH hỏi này gợi ý HS xem xét một vấn đề dưới nhiều góc độ, có thói quen suy nghĩ sâu sắc, tư duy khoa học
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Với các tiêu chí đánh giá mức độ nhận thức tư duy như trên thì việc xây dựng CH, BT để phát triển tư duy, nâng cao lĩnh hội tri thức rất quan trọng CH
để rèn luyện KNTD logic cho HS phải ở các mức độ phân loại khác nhau
quả như sau:
Tất cả các GV được hỏi đều cho rằng việc rèn luyện kĩ năng tư duy logic cho
HS là cần thiết nhưng mức độ quan tâm của họ chưa đồng đều, thường xuyên
Bảng 1.1 Thực trạng rèn luyện KNTD logic cho HS trong dạy học
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Bảng 1.2 Thực trạng rèn luyện các thao tác tư duy logic trong dạy học
phần vi sinh vật (SH 10 THPT) của GV Sinh học
Mức độ sử dụng
của GV
Sử dụng thường xuyên
Sử dụng không thường xuyên
Từ kết quả thu được ở bảng 1.2 cho thấy: Các GV được hỏi đều cho rằng việc rèn luyện kĩ năng tư duy logic cho HS là cần thiết, quan trọng đã được quan tâm Tuy nhiên,việc sử dụng các kĩ năng tư duy logic trong dạy học chưa được thường xuyên, một số thao tác còn sử dụng ít
1.3.3 Thực trạng HS tham gia rèn luyện thao tác tư duy logic trong học phần vi sinh vật (SH 10 -THPT)
Chúng tôi đã khảo sát trên 320 HS khối 10 trường THPT Chợ Đồn sau khi học xong phần vi sinh vật SH10 Thời gian: tháng 5 năm 2018, bằng phiếu hỏi (phụ lục số 4)
Ý kiến của HS về việc rèn luyện các thao tác tư duy logic mà GV sử dụng trong học phần vi sinh vật được thể hiện ở bảng 1.3
Bảng 1.3 Ý kiến của HS về việc rèn luyện các thao tác tư duy logic
Sử dụng không thường xuyên
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Kết quả thu được ở bảng cho thấy với 320 HS được hỏi cho rằng tỉ lệ GV rèn luyện các thao tác tư duy logic khá cao Trong các thao tác tư duy thì thao tác mà GV ít sử dụng nhất là trừu tượng hóa 14,4% Tỉ lệ không sử dụng từ 5%
- 22,8% Điều này cho thấy sự phù hợp giữa khảo sát của GV và đánh giá khách quan của HS
Thực trạng rèn luyện các thao tác tư duy logic cho HS khi học phần vi sinh học SH 10 - THPT được thể hiện ở bảng 1.4
Bảng 1.4 Thực trạng rèn luyện các thao tác tư duy logic
cho HS khi học phần vi sinh học SH 10 Mức độ tham gia của HS
vào biện pháp dạy học
Biện pháp dạy học
của GV
Thường xuyên
Ít tham gia
Không tham gia
Tái hiện kiến thức đã học để
Đọc tài liệu trong SGK trả lời
Sử dụng nhiệm vụ trong phiếu
học tập để so sánh, khái quát hóa 90 28,1 178 55,6 52 16,3 Kết quả tổng hợp cho thấy HS tham gia vào hoạt động của GV ở mức trung bình, tỉ lệ HS thường xuyên tham gia hoạt động của GV yêu cầu đạt từ 28,1% - 56,8% Trong số HS được khảo sát có nhiều HS không bao giờ tham gia các hoạt động do GV yêu cầu chiếm 3,7% - 16,3%
Từ kết quả khảo sát ở trường THPT Chợ Đồn cho thấy GV đã quan tâm
và sử dụng các biện pháp rèn luyện tư duy logic cho HS trong dạy học phần vi sinh học SH 10, điều này đã phần nào mang lại hiệu quả tích cực trong việc đổi mới phương pháp dạy học tích cực cho bộ môn sinh học
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Kết luận chương 1
Qua phân tích, tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến luận án, chúng tôi nhận thấy vấn đề rèn luyện KNTD logic cho HS đã được nhiều tác giả quan tâm Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về rèn luyện KNTD logic cho HS trong dạy học vi sinh vật (SH 10 - THPT)
Trên cơ sở phân tích thực trạng của dạy học phần vi sinh học SH 10 - THPT theo hướng rèn luyện KNTD logic cho HS Qua kết quả cho thấy đa số
GV nhận thức được ý nghĩa, sự cần thiết phải rèn luyện KNTD logic cho HS, nhưng trên thực tế còn rất hạn chế, do các nguyên nhân chủ quan khách quan từ
GV chưa thực sự chú trọng đến rèn KNTD mà vẫn còn nặng về dạy kiến thức
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 2 RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TƯ DUY LOGIC CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC SINH HỌC VI SINH VẬT
Ở TRƯỜNG THPT CHỢ ĐỒN - BẮC KẠN 2.1 Cấu trúc nội dung phần vi sinh vật (SH 10 - THPT)
Nội dung phần vi sinh vật SH 10 chủ yếu đề cập đến những đặc điểm cấu trúc và hoạt động sống ở VSV như: đặc điểm về cấu trúc tế bào, môi trường dinh dưỡng, chuyển hóa vật chất và năng lượng, sự tổng hợp và phân giải, đặc điểm sinh trưởng trong điều kiện môi trường khác nhau và ứng dụng rộng rãi của VSV đối với đời sống con người như chế biến thức ăn, ứng dụng VSV có ích trong y học, nông nghiệp, Đây là những kiến thức tương đối gần gũi với học sinh nhưng mang tính trừu tượng cao, để học sinh lĩnh hội được kiến thức đòi hỏi người học phải biết xử lý thông tin, nội dung kiến thức theo mạch logic, tức là phải phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát kiến thức
Cấu trúc nội dung phần ba sinh học vi sinh vật
Bảng 2.1 Nội dung phần VSV (SH 10 - THPT) Tên
- Khái niệm vi sinh vật và các đặc điểm chung của vi sinh vật
- Các kiểu chuyển hoá vật chất và năng lượng ở vi sinh vật dựa vào nguồn năng lượng và nguồn cacbon mà vi sinh vật đó sử dụng
- Hô hấp hiếu khí, hô hấp kị khí và lên men
- Đặc điểm chung của các quá trình tổng hợp và phân giải chủ yếu ở vi sinh vật và ứng dụng của các quá trình này trong đời sống và sản xuất
- Ý nghĩa của VSV trong đời sống
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Khái niệm sinh trưởng của quần thể vi sinh vật
- Đặc điểm chung của sự sinh trưởng ở vi sinh vật và giải thích được sự sinh trưởng của chúng trong điều kiện nuôi cấy liên tục
và không liên tục
- Các kiểu sinh sản vi sinh vật
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của vi sinh vật
ứng dụng của vi sinh vật
- Nhuộm đơn, quan sát một số loại vi sinh vật và quan sát một
số tiêu bản bào tử của vi sinh vật
Virut và
bệnh
truyền
nhiễm
- Khái niệm virut
- Cấu tạo của virut
- Chu kì nhân lên của virut trong tế bào chủ
- Tác hại của virut
- Ứng dụng của virut trong thực tiễn y học, nông nghiệp
- Bệnh truyền nhiễm: khái niệm,tác nhân gây bệnh, điều kiện gây bệnh, phương thức lây truyền bệnh truyền nhiễm
- Miễn dịch: Khái niệm, phân loại miễn dịch
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Kiến thức phần VSV 10 gồm hệ thống các khái niệm, đặc điểm cấu tạo,hoạt động sống và ý nghĩa của VSV trong thực tiễn
Bảng 2.2 Nội dung rèn luyện KNTD logic thông qua các thao tác tư duy
trong dạy học phần Vi sinh vật (SH 10 - THPT)
- Các kiểu môi trường
- Các kiểu dinh dưỡng
- Hô hấp và lên men
Phân tích các môi trường sống
- Phân tích, so sánh các kiểu dinh dưỡng ở VSV
- Phân tích, so sánh, tổng hợp chuyển hóa vật chất ở vsv
- Ứng dụng quá trình tổng hợp
và phân giải các chất của VSV
+ Lợi dụng đặc tính tổng hợp protein của VSV con người sản xuất nhiều loại nấm như: nấm hương, nấm rơm, nấm mỡ là những thực phẩm quý
+ Quá trình phân giải ngoại bào
ở VSV được ứng dụng trong quá trình lên men truyền thống, ủ rác làm phân hữu cơ, xử lí nước thải
- Phân tích ứng dụng của quá trình tổng hợp và phân giải các chất của VSV tại địa phương
- Phân tích, so sánh, tổng hợp thực tế ứng dụng quá trình tổng hợp và phân giải các chất của VSV ở địa phương
- Đề xuất quy trình nâng cao chất lượng sản phẩm Thực nghiệm để chứng minh hiệu quả của các biện pháp đề xuất
- Phân tích, tổng hợp điều tra thực trạng bảo quản, chế thực phẩm tại địa phương