1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu sinh trưởng và kỹ thuật nhân giống cây hồi (illicium verum hook f ) tại huyện mường khương, tỉnh lào cai

69 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 2,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cây Hồi được người Nhật gọi là quả “Shikimmi” hoặc “Skimmi”, gần đây phát hiện loài Hồi Illicium religiosum Sieb.et Zucc được trồng nhiều ở trước các cổng đền thờ phật giáo ở Nhật Bản,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LỤC THƯỢNG ĐẠI

NGHIÊN CỨU SINH TRƯỞNG VÀ KỸ THUẬT

NHÂN GIỐNG CÂY HỒI (ILLICIUM VERUM HOOK F.)

TẠI HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG, TỈNH LÀO CAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

THÁI NGUYÊN, NĂM 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LỤC THƯỢNG ĐẠI

NGHIÊN CỨU SINH TRƯỞNG VÀ KỸ THUẬT

NHÂN GIỐNG CÂY HỒI (ILLICIUM VERUM HOOK F.)

TẠI HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG, TỈNH LÀO CAI

Ngành: LÂM HỌC

Mã ngành: 8 62 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

Giảng viên hướng dẫn: TS NGUYỄN CÔNG HOAN

THÁI NGUYÊN, NĂM 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng cá nhân tôi Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, kết quả trong luận văn là trung thực và kết luận khoa học của luận văn chưa từng công bố bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây

Thái Nguyên, tháng 09 năm 2019

Tác giả

Lục Thượng Đại

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu, các giảng viên Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức trong quá trình tác giả theo học tại Trường Cảm ơn toàn thể cán

bộ, nhân viên Trường đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong thời gian học tập và nghiên cứu nhằm hoàn thành chương trình Cao học

Tác giả Luận văn xin bày tỏ tình cảm trân trọng, sự cảm ơn chân thành,

sâu sắc tới TS Nguyễn Công Hoan vì sự tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả

trong quá trình thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn Thường trực UBND huyện, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, đồng nghiệp của cơ quan công tác đã tạo điều kiện để tác giả theo học chương trình đào tạo thạc sĩ

và hoàn thành bản luận văn được thuận lợi

Cảm ơn gia đình, những người bạn đã cùng đồng hành, hỗ trợ, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện bản luận văn này

Sau cùng, xin được cảm ơn các Thầy, Cô trong Hội đồng bảo vệ và kính mong nhận được sự quan tâm, nhận xét của các Thầy, Cô để tác giả có điều kiện hoàn thiện tốt hơn những nội dung của luận văn nhằm đạt được tính hiệu quả, hữu ích khi áp dụng vào trong thực tiễn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Lục Thượng Đại

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4

1.1 Trên Thế Giới 4

1.1.1 Phân loại và phân bố của các loài Hồi 4

1.1.2 Một số thành tựu nghiên cứu và sản xuất về cây Hồi 6

1.2 Ở Việt Nam 7

1.2.1 Phân loại và phân bố các loài Hồi 7

1.2.2 Đặc điểm hình thái 10

1.2.3 Đặc điểm sinh thái 10

1.2.4 Đặc điểm vật hậu cây Hồi 11

1.2.5 Đặc điểm tái sinh của cây Hồi 12

1.2.6 Các nghiên cứu về chọn giống và nhân giống 13

1.2.7 Các nghiên cứu đánh giá về kỹ thuật gây trồng và sản xuất Hồi 15

1.3 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 20

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 20

1.3.2 Tình hình kinh tế - xã hội 23

1.3.3 Thực trạng cơ sở hạ tầng 23

1.4 Thảo luận 24

Trang 6

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.2 Giới hạn đề tài 25

2.3 Nội dung nghiên cứu 25

2.3.1 Đánh giá sinh trưởng rừng trồng Hồi tại khu vực nghiên cứu 25

2.3.2 Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây Hồi bằng hạt 25

2.3.3 Đề xuất một số giải pháp phát triển cây Hồi tại khu vực nghiên cứu 25

2.4 Phương pháp nghiên cứu 25

2.4.1 Cách tiếp cận 25

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu chung 26

2.4.3 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 26

2.4.4 Xử lý số liệu 30

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

3.1 Đánh giá sinh trưởng rừng trồng Hồi tại khu vực nghiên cứu 31

3.1.1 Nguồn gốc rừng trồng Hồi tại khu vực nghiên cứu 31

3.1.2 Đặc điểm sinh trưởng rừng trồng Hồi tại khu vực nghiên cứu 35

3.2 Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây Hồi bằng hạt 37

3.2.1 Xác định thời kỳ thu hái 37

3.2.2 Phương pháp bảo quản hạt giống 37

3.2.3 Ảnh hưởng của thành phần hỗn hợp ruột bầu đến cây Hồi 41

3.2.4 Ảnh hưởng của che sáng đến cây Hồi ở vườn ươm 47

3.3 Đề xuất một số giải pháp phát triển cây Hồi tại khu vực nghiên cứu 53

3.3.1 Giải pháp về kỹ thuật 53

3.3.2 Giải pháp về chính sách 54

3.3.3 Giải pháp về tổ chức 55

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm hỗn hợp ruột bầu 29

Bảng 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm che sáng 29

Bảng 3.1 Hiện trạng rừng Hồi tại Mường Khương trồng năm 2006-2007 32

Bảng 3.2 Diện tích rừng Hồi tại Mường Khương trồng năm 2017 35

Bảng 3.3 Tỷ lệ nảy mầm của hạt Hồi ở các công thức thí nghiệm 39

Bảng 3.4 Tốc độ nảy mầm của hạt Hồi ở các công thức thí nghiệm 40

Bảng 3.5 Số cây và tỷ lệ (%) cây sống ở các công thức hỗn hợp ruột bầu 42

Bảng 3.6 Ảnh hưởng của ruột bầu đến chỉ tiêu sinh trưởng cây Hồi trong giai đoạn vườn ươm 45

Bảng 3.7 Số cây và tỷ lệ (%) sống ở các công thức che sáng 48

Bảng 3.8 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng cây Hồi trong giai đoạn vườn ươm 51

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

Hình 3.1 Rừng trồng Hồi tuổi 13 tại huyện Mường Khương 33

Hình 3.2 Màu sắc và hình thái hoa Hồi tại khu vực nghiên cứu 33

Hình 3.3 Quả Hồi tại khu vực nghiên cứu 33

Hình 3.4 Thu hái quả chín 33

Hình 3.5 Quả và hạt Hồi sau khi thu hoạch 34

Hình 3.6 Rừng trồng Hồi tuổi 2 tại huyện Mường Khương 37

Hình 3.7 Thí nghiệm về bảo quản hạt Hồi 38

Hình 3.8 Thí nghiệm về tỷ lệ nẩy mầm của hạt giống 40

Hình 3.9 Thí nghiệm về tốc độ nẩy mầm của hạt giống 41

Hình 3.10 Tỷ lệ % cây sống ở các công thức hỗn hợp ruột bầu 3 tháng tuổi 43

Hình 3.11 Tỷ lệ % cây sống ở các công thức hỗn hợp ruột bầu 6 tháng tuổi 43

Hình 3.12 Tỷ lệ % cây sống ở các công thức hỗn hợp ruột bầu 9 tháng tuổi 44

Hình 3.13 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng D00 46

Hình 3.14 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng Hvn 47

Hình 3.15 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến động thái lá 47

Hình 3.16 Tỷ lệ % cây sống ở các công che sáng giai đoạn 3 tháng tuổi 49

Hình 3.17 Tỷ lệ % cây sống ở các công che sáng giai đoạn 6 tháng tuổi 49

Hình 3.18 Tỷ lệ % cây sống ở các công che sáng giai đoạn 9 tháng tuổi 50

Hình 3.19 Ảnh hưởng của che sáng bầu đến đến sinh trưởng D00 52

Hình 3.20 Ảnh hưởng của che sáng đến sinh trưởng Hvn 52

Hình 3.21 Ảnh hưởng của che sáng đến động thái lá 53

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam nước ta nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa ẩm, có điều kiện

tự nhiên được thiên nhiên ưu đãi Việt Nam được xếp thứ 16 của thế giới là nước có tính đa dạng sinh học cao, có nhiều kiểu rừng khác nhau Trong đó, không thể không kể đến sự có mặt của các loài cây lâm sản ngoài gỗ Những loài LSNG đã và đang sử dụng với số lượng lớn, được khai thác từ rừng tự nhiên để làm thực phẩm, dược liệu, vật liệu xây dựng… là một bộ phận quan trọng của hệ sinh thái rừng nói chung và hệ sinh thái rừng nhiệt đới nói riêng,

là nguồn thu nhập đáng kể của người dân, đặc biệt là người dân sống ở gần rừng Nguồn thu từ LSNG chiếm từ 10 - 20% tổng thu nhập kinh tế hộ gia đình, chủ yếu là nguồn lương thực, thực phẩm, làm thuốc chữa bệnh đáp ứng nhu cầu cần thiết hàng ngày (Bộ NN&PTNT, 2006) [3],[4]

Cây Hồi là một trong những loài LSNG, là loài cây lâm sản đặc biệt cho sản phẩm quả khô có giá trị kinh tế cao trên thị trường trong và ngoài nước Quả Hồi đã có mặt trên thị trường từ rất lâu đời và thường được gọi là

“Hoa Hồi” Tinh dầu Hồi là sản phẩm được chưng cất từ lá, quả và hạt, là nguyên liệu quý trong công nghiệp dược phẩm và thực phẩm (dẫn theo Ninh Khắc Bản, 2008) [1]

Trong công nghiệp dược phẩm, tinh dầu Hồi được sử dụng để sản xuất các loại thuốc xoa bóp, nội tiết, tiêu hoá và chất chống nôn mửa Trong công nghiệp thực phẩm quả Hồi được dùng làm gia vị chế biến thức ăn Ngoài ra, tinh dầu Hồi còn được dùng làm hương liệu để chế biến các loại mỹ phẩm cao cấp Sau khi ép lấy tinh dầu, bã còn lại dùng để chế biến thuốc trừ sâu, làm men, than hoạt tính, phân bón, thức ăn gia súc… Thị trường Hồi hằng năm tiêu thụ khoảng 25.000 tấn tinh dầu, trong đó Châu Á 28%, các nước Bắc Mỹ 26%, các nước Nam Mỹ 14%, các nước Châu Âu 20%, còn lại là các nước khác (dẫn theo Nguyễn Huy Sơn, 2004) [20]

Trang 11

Trong những năm gần đây, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích việc gây trồng và phát triển LSNG, cụ thể như: Đề án bảo tồn

và phát triển LSNG giai đoạn 2006-2020; Kế hoạch hành động bảo tồn và phát triển LSNG 2007-2010; Chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020 Đặc biệt, ngày 06/7/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 100/2007/QĐTTg về việc sửa đổi bổ sung một số mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng Trong quyết định này, có đề cập tới cây Hồi được lựa chọn là một trong những loài cây trồng lâm nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao, có ý nghĩa quan trọng trong việc xoá đói giảm nghèo ở một số tỉnh miền núi phía Bắc như: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Lào Cai [5], [8]

Cây Hồi tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai đã được bà con trồng tự phát giai đoạn 2006-2007, đến nay cây đã cho thu hoạch và bước đầu đã đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân nơi đây Do vậy, theo quyết định số 4261a /QĐ-UBND ngày 13/11/2015 của UBND huyện Mường Khương năm 2015, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Mường Khương đã tiến hành khảo sát thiết kế lập

hồ sơ 20 ha rừng trồng Hồi cho 25 hộ gia đình thuộc các thôn: Tả Lủ, Sín Chải

A, Sín Chải B trồng rừng sản xuất nhằm xóa đói giảm nghèo cho bà con có cuộc sống gắn liền với rừng [2]

Tuy nhiên, để cây Hồi trở thành cây kinh tế mũi nhọn và chiến lược lâu dài của huyện cần phải có chất lượng cây giống tốt cung cấp cho người dân

nhằm phát triển cây Hồi một cách bền vững Vì vậy, đề tài: “Nghiên cứu sinh

trưởng và kỹ thuật nhân giống cây Hồi (Illicium verum Hook f.) tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai” là thực sự cần thiết nhằm bổ sung cơ sở khoa

học và thực tiễn trong việc phát triển cây Hồi bền vững góp phần xoá đói giảm nghèo cho người dân tại địa phương

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Trên Thế Giới

1.1.1 Phân loại và phân bố của các loài Hồi

Cây Hồi (Illicium verum Hook f.) còn được gọi là Hồi hương, Đại Hồi

hương, Đại liệu v.v cây Hồi nguyên sản có ở Quảng Tây và khu vực Tây Nam Trung Quốc Từ xưa trong tác phẩm nổi tiếng của Tôn Tư Mạo đời nhà Đường đã chép: "Cho một ít hoa Hồi vào thịt lợn sẽ hết mùi hôi, ngào ngạt mùi thơm của hoa Hồi" Điều đó chứng tỏ cây Hồi ở Trung Quốc đã có lịch

sử hàng ngàn năm (Lục Thuận Trung và cộng sự, 2008) [25]

Trong "Quế Hải Du hằng chí" của Phạm Thành Đại đời Nam Tống (1172), "Bản thảo cương mục" của Lý Thời Trân đời nhà Minh, "Thượng lâm huyện chí" năm Quang Tự thứ 10 đời nhà Thanh (1884), "Thiên đẳng huyện chí" năm Quang Tự thứ 24 đời nhà Thanh (1898) v.v cũng đã có ghi chép

về cây Hồi và việc dùng quả Hồi trong chế biến thực phẩm (Mã Cẩm Lâm, 2009) [11]

Đầu năm 80 của thế kỷ XX, Viện khoa học kỹ thuật Lâm Nghiệp của Quảng Tây (Trung Quốc) đã đi sâu điều tra nguồn tài nguyên Hồi và lấy kết quả điều tra tài nguyên này làm căn cứ phân loại chủ yếu kết hợp với đặc trưng hình thái của hoa, quả, cành và dáng cây, chia Hồi thành 4 nhóm, 17 loài (Mã Cẩm Lâm, 2009) [11] bao gồm:

(1) Nhóm Hồi hoa đỏ (hồng hoa) có 9 loài gồm: Hồi đỏ cành mềm, Hồi hoa đỏ phổ thông, Hồi hoa đỏ nhiều cánh, Hồi hoa đỏ quả to, Hồi hoa đỏ mỏ chim ưng, Hồi hoa đỏ lá dầy, Hồi hoa đỏ quả nhỏ, Hồi hoa đỏ nhụy đỏ, Hồi hoa đỏ cây lùn

(2) Nhóm Hồi hoa phớt hồng có 4 loài, gồm: Hồi hoa phớt hồng cành mềm, Hồi hoa phớt hồng phổ thông, Hồi hoa phớt hồng nhiều cánh và Hồi hoa phớt hồng lá dầy

Trang 14

(3) Nhóm Hồi hoa trắng có 3 loài, gồm: Hồi hoa trắng cành mềm, Hồi hoa trắng phổ thông và Hồi hoa trắng nhiều cánh

(4) Nhóm Hồi hoa vàng có 1 loài Ngay từ năm 1980, người Mỹ đã phát hiện ra 7 loài Hồi, trong đó 2 loài được tìm thấy trên bờ biển Bắc Mỹ thuộc Đại Tây Dương, 2 loài ở Hindostan và 3 loài còn lại được tìm thấy ở Trung Quốc và Nhật Bản Hầu hết các loài này đều có mùi thơm và hương vị đặc trưng

Ngày nay, người ta đã phát hiện trong chi Hồi (Illicium) có khoảng trên

40 loài, phân bố chủ yếu ở các nước Đông Nam Á, Đông Á và Bắc Mỹ Riêng các tỉnh phía Nam và Tây Nam Trung Quốc đã xác định được 21 loài Cây Hồi được người Nhật gọi là quả “Shikimmi” hoặc “Skimmi”, gần đây phát

hiện loài Hồi Illicium religiosum Sieb.et Zucc được trồng nhiều ở trước các

cổng đền thờ phật giáo ở Nhật Bản, chúng là loài Hồi độc, có các đại nhỏ, không có mùi thơm của transanethole nhưng lại có mùi Sassafras (Ninh Khắc Bản, 2008) [1] bao gồm:

* Hồi Illicium floridanum Ell được trồng rất nhiều ở phía Tây dọc theo

bờ biển từ Floria đến vịnh Mêhicô

* Hồi Illcium parvflorum Vent (I.aniastum Bartr) là loài cây bụi thấp

được tìm thấy ở trên những vùng đất dốc ở Georgia và Carolia, tinh dầu có mùi gần giống mùi cây Long não

* Hồi Illicum griffithii var Hook.f.et.Thoms (hay thường gọi là Hồi

núi, đại Hồi núi) là loài cây thuộc vùng Viễn Đông phân bố ở vùng Đông Dương, Mã Lai Quả Hồi núi chứa độc tố nhiều, tinh dầu có vị chát, thơm

và có pha mùi của ớt và hồ tiêu

* Hồi Illicium henryi Diel chỉ phân bố ở Quý Châu, Tứ Xuyên, Giang

Tây, Hồ Bắc, Hồ Nam, Thiểm Tây (Trung Quốc), đây là loài cây gỗ nhỏ, quả

thường có 8 đại, nhưng nhỏ hơn so với cây Đại Hồi (Illicium verum)

Trang 15

1.1.2 Một số thành tựu nghiên cứu và sản xuất về cây Hồi

Hàng nghìn năm về trước, cây Hồi được con người biết đến và khai thác, sử dụng phổ biến trong các thang thuốc Đông y, hoặc làm gia vị, thậm chí chúng còn là thành phần trong mỹ phẩm Đặc biệt ngày nay, các nhà khoa học đã phát hiện chất acid Shikhmic có trong quả Hồi, là thành phần quan trọng bào chế thuốc Tamiflu để phòng chống đại dịch cúm gia cầm nguy hiểm trên toàn cầu do virus H5N1 gây ra Do đặc thù vùng sinh thái của cây Hồi phân bố hẹp, nên những kết quả nghiên cứu khoa học về cây Hồi trên thế giới không nhiều, tập trung chủ yếu ở Trung Quốc Bắt đầu từ năm 1990, ngành Lâm nghiệp Quảng Tây đầu tư trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc, thúc đẩy mạnh mẽ việc trồng rừng Hồi có hiệu quả kinh tế cao Mã Cẩm Lâm,

Lý Khai Tường (2006) [10]

Đến cuối năm 2006, diện tích trồng Hồi ở Quảng Tây chiếm 365.000

ha, năm thu hoạch cao nhất (2003) sản lượng quả Hồi khô đạt 87.000 tấn, giá trị kinh tế đạt 900 triệu Nhân dân tệ Ở khu vực nông thôn, cây Hồi đã trở thành nguồn thu nhập chính của nhân dân Quảng Tây là nơi sản xuất ra Hồi, không những kế thừa được sự phát triển cây Hồi, mà qua quá trình phát triển của lịch sử và dựa vào khoa học kỹ thuật, việc trồng Hồi ở các khu vực của toàn khu tự trị đã được phát triển thêm một bước, làm cho diện tích trồng Hồi không ngừng được mở rộng, sản lượng không ngừng được nâng cao Mã Cẩm Lâm, Lý Khai Tường (2009) [11]

Mã Cẩm Lâm, Lý Khai Tường (2006) [10] thuộc Viện Lâm nghiệp Quảng Tây (Trung Quốc) đã nghiên cứu về kỹ thuật ghép cây Hồi, kết quả cho thấy thời gian ghép thích hợp vào trung tuần tháng giêng đến thượng tuần tháng 3 Lựa chọn cây Hồi trưởng thành, quả to, cánh đều hoàn chỉnh, sản lượng cao và ổn định (15 năm trở lên) để lấy vật liệu ghép, cắt cành ngoài phạm vi lão hoá phần giữa trở lên của cây làm cành ghép, cành to khoẻ, mắt mầm bao tròn, không có sâu bệnh hại, sinh trưởng đều từ 1-3 năm Kỹ thuật ghép chủ yếu bằng phương pháp mổ và ghép áp Một cây chính ghép 2 nhánh

là vừa, nhiều nhất không vượt quá 3 nhánh

Trang 16

Tăng Tường Diễm và Lý Kiến Lâm (2007) [8] đã nghiên cứu kỹ thuật chuẩn đoán dinh dưỡng hình thái cây Hồi, tác giả đã phán đoán tình trạng dinh dưỡng của cây thông qua miêu tả về chuẩn đoán tình trạng bệnh mất 11 nguyên

tố dinh dưỡng của cây Hồi Đồng thời tiến hành giải thích và phân tích các loại bệnh đã từng xuất hiện, để những người kinh doanh trồng Hồi có thể hiểu sơ bộ

và nắm vững tình hình thiếu hay thừa dinh dưỡng ở bộ phận nào đó của cây làm

cơ sở điều chỉnh loại phân, phương pháp bón phân, lượng phân phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cây Hồi, để hàm lượng dinh dưỡng của cây được duy trì một cách tốt nhất, nâng cao khả năng quản lý dinh dưỡng, thúc đẩy Hồi phát triển nhanh, sản lượng nhiều

Lục Thuận Trung và cộng sự (2008) [25] đã nghiên cứu thành công và hiện đang ứng dụng công nghệ tách anethole có độ thuần khiết cao từ quả Hồi Điều kiện công nghệ tốt nhất của việc tách anethole từ dầu Hồi bằng phương pháp kết tinh đông lạnh và tách ly tâm với điều kiện là nhiệt độ kết tinh ở 50C, thời gian kết tinh là 20 giờ, độ vỡ nát tinh thể là 20, kết quả cho độ thuần khiết của anethole đạt 96,4%; Công nghệ tốt nhất để tiến hành tinh chất anethole dạng sơ chế là phương pháp kết tinh đông lạnh trong điều kiện: Tỷ lệ hồi lưu là 10:7, nhiệt độ của nồi tinh cất là 1400C, độ chân không là 5 mmHg Cuối cùng, kết quả thu được có độ thuần khiết của anethole đạt 99,8% Anethole được dùng rộng rãi trong chế biến thực phẩm, dược liệu, đồ dùng hàng ngày, thuốc thú y, thức ăn gia súc

1.2 Ở Việt Nam

1.2.1 Phân loại và phân bố các loài Hồi

Ở Việt Nam đã phát hiện được 16 loài Hồi, trừ loài I verum chỉ gặp trong rừng trồng nhân tạo, các loài còn lại ở dạng hoang dại và thường sinh trưởng tự nhiên trong rừng nguyên sinh, đôi khi cả rừng thứ sinh ở khắp các

tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây nguyên Loài Hồi (Illicium verum)

từ lâu đã được trồng thành những quần thể lớn hoặc bán hoang dại ở các tỉnh

Trang 17

miền núi Đông Bắc nước ta chủ yếu là ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Quảng Ninh, thậm chí Hồi còn có mặt ở Lâm Đồng [16], [25], [26] Tất cả các loài Hồi ở Việt Nam đều thuộc dạng cây gỗ nhỏ hoặc trung bình Tại Việt Nam, hiện đã ghi nhận có các loài Hồi hoang dại dưới đây:

1 I Cambodianum Hance, tên địa phương gọi là Hồi Cambốt, phân bố tại các tỉnh Lâm Đồng, Khánh Hoà;

2 I Difengpi A N Chang (syn.I Grifithii) thường gọi là Hồi núi đá vôi, phân

bố ở các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hoà Bình, Ninh Bình;

3 I henryi Diels, thường gọi là Hồi Henry, phân bố ở Phanxipan của tỉnh Lào Cai;

4 I Kinabaluese A C Smith, địa phương còn gọi là Hồi Hương sơn, phân bố ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh;

5 I Leiophyllum A C Smith thường gọi là Hồi lá nhẵn, phân bố ở các tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên;

6 I Macranthum A C Smith có tên khác là Hồi hoa to, phân bố ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai;

7 I Fargersii Franch, địa phương thường gọi là Hồi Phác, phân bố ở Phanxipan, Sa Pa tỉnh Lào Cai;

8 I Majus Hook.f.et Thoms, thường gọi là Đại hồi, phân bố ở Phanxipan thuộc tỉnh Lào Cai;

9 I Pachyphyllum A C Smith, địa phương thường gọi là Hồi lá dầy, phân bố ở 2 huyện Đồng Văn và Phó Bảng thuộc tỉnh Hà Giang;

10 I Parviflorum Merr thường gọi là Hồi lá nhỏ, phân bố chỉ gặp tại Bạch Mã tỉnh Thừa Thiên - Huế và Bà Nà tỉnh Đà Nẵng;

11 I peninsulare A C Smith còn có tên là Hồi bán đảo phân bố các tỉnh Yên Bái, Kom Tum;

Trang 18

12 I Petelotii A C Smith có tên gọi khác là Hồi Petelot, phân bố ở các tỉnh Lai Châu, Lào Cai;

13 I Simonsii Maxim hay còn gọi là Hồi Simons, phân bố ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai;

14 I Tenuifolum (Ridl) A C Smith thường gọi là Hồi lá mỏng, phân

bố ở các tỉnh Nghệ An, Gia Lai, Lâm Đồng, Khánh Hoà;

15 I Ternstoeminoides A C Smith hay còn gọi là Hồi chè, phân bố ở huyện Sông Mã, Sốp Cộp tỉnh Sơn La;

16 I Tsaii A C Smith tên địa phương gọi là Hồi Tsai, phân bố ở Lào Cai (Phanxipan)

Cây Hồi được trồng tại Mường Khương có tên khoa học là (Illicium verum Hook.f.) thuộc họ Hồi (Illiciaceae), còn được gọi bằng các tên khác

như: Hồi sao, Đại hồi hương, Bát giác hương, Mắc hồi (tiếng Tày), Mắc chác; tên thương phẩm: Chinese star anise, Star anise, Anise oil

Loài Hồi (Ilicum verum Hook f.) là một taxon tương đối nguyên thuỷ

thuộc họ Hồi (Iliiciaceae) với đặc điểm điển hình là cây gỗ lớn hoặc trung bình, bao hoa chưa phân hoá thành đài và tràng, tồn tại dưới dạng các mảnh bao hoa Quả nhiều lá noãn, rời, chỉ hợp ở phần gốc tạo thành quả có nhiều đại (cánh quả) Số lượng thành phần của hoa (mảnh bao hoa, nhị, noãn) nhiều Trong nhiều trường hợp vẫn còn quan sát thấy các dạng tiến hoá trung gian của mảnh bao hoa và nhị Đặc điểm cơ bản nêu trên đã được ghi nhận từ lâu Tuy nhiên, trong bản mô tả đầu tiên để đặt tên cho loài này, quả Hồi được ghi nhận chỉ có 8 đại Sau này nhiều nhà nghiên cứu đã ghi nhận số đại nhiều hơn (13 đại) khi nghiên cứu hình thái học cây Hồi

Bùi Ngạnh (1977) [16] đã mô tả chi tiết các dạng biến dị của Hồi tại Lạng Sơn và chia Hồi thành 6 dạng hình thái Theo kết quả nghiên cứu này, Hồi tại Việt Nam (nghiên cứu tại Lạng Sơn) có 3 thứ chính với 7 dạng: Thứ quả có 8 cánh gồm 3 dạng: lá rộng, lá hẹp và lá vừa; Thứ quả trung gian: có ở 2 dạng lá rộng và lá vừa; Thứ quả nhiều cánh (8-13 cánh) có ở 2 dạng lá rộng và lá vừa

Trang 19

1.2.2 Đặc điểm hình thái

Cây Hồi (Ilicum verum Hook f.) là cây gỗ nhỏ đến trung bình,

thường xanh, cao 6-8 m, có khi cao tới 15 m, đường kính thân 15-30 cm Thân mọc thẳng, tròn, dạng cột; vỏ ngoài màu nâu xám Cành non hơi mập, nhẵn màu lục nhạt, nhẵn, sau chuyển màu nâu xám, cành rất giòn và tương đối thẳng Tán cây hình tháp, tròn đều; lá mọc cách, thường tập trung ở đầu cành trong như mọc vòng, mỗi vòng thường 3-5 lá Phiến lá nguyên, dày, cứng, giòn hình trứng thuôn hay trái xoan; dài 6-12 cm, rộng 2,5-2 cm, gốc

lá hình nêm, chóp lá nhọn hoặc tù, mặt trên màu xanh sẫm, nhẵn bóng, mặt dưới xanh nhạt, gân lá dạng lông chim gồm 9-12 đôi không nổi rõ; cuống lá dài 7-10 mm và nhẵn

Hoa lưỡng tính, to, mọc đơn độc hoặc từ 2-3 cái ở kẽ lá; cuống hoa to

và ngắn; đài 5-6 phiến màu lục, mép màu hồng, rụng ngay sau khi hoa nở; cánh hoa 16-20, hình bầu dục, thường nhỏ hơn các lá đài mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu hồng thẫm, càng vào giữa càng thẫm; nhị 10-20, chỉ nhị ngắn; lá noãn thường từ 6 đến 8, đôi khi còn có tới 13 lá noãn, họp thành khối hình nón [19], [24]

Quả Hồi lúc tươi màu xanh nhạt, khi chín thì khô cứng màu nâu, quả hình ngôi sao 6-10 cánh, thường 8 cánh (các cánh thường gọi là các đại) Mỗi cánh là một tâm bì, trong mỗi tâm bì có 1 hạt Hạt màu đỏ hoặc nâu sẫm, trong hạt có dầu nhờn Rễ Hồi ăn nông [4], [12]

1.2.3 Đặc điểm sinh thái

Hồi sinh trưởng và phát triển tốt ở vùng có nhiệt độ trung bình hằng năm từ 20-250C, lượng mưa hàng năm từ 1200-1500mm Cây Hồi non dưới

3 tuổi là loại cây ưa ẩm, không chịu được khô hạn Cây Hồi con có thể sống được trong điều kiện độ ẩm của đất bằng 100% độ ẩm bão hoà, nhưng sẽ sinh trưởng kém, nếu độ ẩm đất giảm xuống 40-50% cây Hồi con sẽ chết Trong giai đoạn trưởng thành 40-50 tuổi, cây Hồi có khả năng chịu hạn trung bình, ở giai đoạn còn nhỏ dưới 3 năm tuổi, cây Hồi rất mẫn cảm với cường độ ánh sáng [23]

Trang 20

Theo dõi những cây Hồi 3 năm tuổi trồng trên các đồi trơ trụi, không có cây che bóng, bị phơi nắng hoàn toàn đều bị vàng lá và một số cây bị chết, chứng tỏ ở giai đoạn này cây Hồi cần được che bóng ở mức độ nhất định Những cây Hồi 20-30 tuổi có nhu cầu ánh sáng cao hơn cây non rõ rệt Tuy nhiên, ở các vùng bị chiếu sáng mạnh vẫn có hiện tượng diệp lục của lá bị phân giải vào thời gian các tháng nóng từ tháng 6 đến tháng 8, điều này thể hiện Hồi là cây trung tính thiên về ưa sáng Giai đoạn 40-50 năm tuổi, cây Hồi thể thiện là cây ưa sáng nhưng cũng không thuộc vào loại cây ưa sáng mạnh Trồng Hồi trong các thung lũng bị che khuất, thiếu ánh sáng, cây Hồi cũng ít quả Hồi sinh trưởng và phát triển tốt cả trên đất có độ dốc 20-250 Độ cao phân bố Hồi chủ yếu từ 200-800m so với mực nước biển Hồi là cây sinh trưởng trong môi trường đất có phản ứng chua, các loại đất có phản ứng gần trung tính (đất phù sa) và trung tính (các loại đất phát triển trên đá vôi) đều tỏ

ra không thích hợp [22], [24], [25]

Loại đất phát triển trên đá mẹ macma axit Hồi sinh trưởng tốt nhất sau đó đến đất phát triển trên phiến thạch sét, cả hai loại đất này đều có độ sâu tầng đất trên 70cm, pHKCl từ 3,5-6 Hàm lượng hữu cơ tốt nhất > 2%, đất còn thực bì che phủ có độ cao từ 1,5m trở lên Không trồng Hồi ở trên nền đá vôi, các khe sâu không đủ ánh sáng và độ ẩm quá cao, những khu vực có cỏ tranh và các cây bụi chỉ thị đất thoái hoá như: Thanh hao, Sim, Mua chiếm ưu thế [1], [7]

1.2.4 Đặc điểm vật hậu cây Hồi

Cây Hồi được trồng từ hạt có thể ra hoa, bói quả ở giai đoạn 7-8 tuổi Thông thường, một năm có 2 vụ quả: vụ Hồi mùa nở hoa vào tháng 7-10 năm trước, quả chín và thu hoạch tháng 9-10 năm sau Đây là vụ chính (hoa nhiều năng suất cao và chất lượng tinh dầu tốt); vụ Hồi chiêm nở hoa vào các tháng 6-7 năm trước và cho thu hoạch quả vào các tháng 1-2 năm sau [12]

Năng suất, chất lượng quả của vụ Hồi chiêm thường thấp, thời gian ra hoa cho đến khi quả chín kéo dài khoảng 6-7 tháng Chu kỳ sai quả của Hồi thường 2-3 năm một lần Hồi nảy chồi và ra cành 2 lần trong năm Đợt một vào vụ xuân (khoảng tháng 2, tháng 3) gọi là đợt cành xuân và tồn tại trên cây

Trang 21

trong 20-22 tháng Đợt thứ hai nảy chồi vào mùa hè - thu, thường không tập trung và kéo dài từ tháng 6-7 đến tháng 9-10 Đợt nảy chồi này chỉ hình thành

ở cành trên 1 năm tuổi (cành già) Mùa Xuân chủ yếu là ra lá, có tới 90% lá ra vào mùa Xuân

Vụ Hè - Thu ra ít chồi, chiếm khoảng 5% tổng số chồi ra trong năm Ngay sau khi nở hoa, vụ hoa đầu tiên tiếp tục phát triển và hình thành lứa quả thu vào tháng 12 hoặc tháng 01 năm sau, gọi là vụ Hồi Tứ quý Lứa hoa thứ hai mặc dù hình thành ngay sau lứa hoa thứ nhất, nhưng sau khi hoa nở các bao hoa khô đen và bọc lấy quả non Các quả này hầu như ngừng sinh trưởng cho tới tháng 3 hoặc tháng 4 năm sau Lứa quả này thực sự chỉ lớn nhanh vào cuối tháng 3 hoặc đầu tháng 4 khi nhiệt độ không khí cao và hình thành vụ quả thu hoạch vào tháng 8 - 9 là vụ Hồi mùa Hoa Hồi ra nhiều, khoảng 80% số hoa phát triển trên các chồi mới hình thành vụ xuân Tỷ lệ đậu quả của Hồi chỉ khoảng 14-15% tổng số hoa Quả Hồi vụ mùa thường nặng hơn quả Hồi vụ chiêm (hay còn gọi là Hồi Tứ quý) khoảng 30% Hồi rụng lá mỗi năm một lần vào cuối tháng 9 và có thể kéo dài tới tháng 4-5 năm sau Trong những năm thời tiết không thuận lợi Hồi rụng hết lá và đồng loạt ra lá mới vào đầu mùa Xuân làm cho cả rừng Hồi có màu đỏ nhạt của chồi non Trường hợp này gọi là

"Hồi đỏ ngọn" và năm đó hồi thường không có quả [28], [29]

1.2.5 Đặc điểm tái sinh của cây Hồi

Kết quả điều tra khảo sát cho thấy cây Hồi có khả năng tái sinh tự nhiên rất mạnh kể cả tái sinh chồi và tái sinh hạt Tái sinh chồi trong tự nhiên thường thấy ở những nơi có độ tàn che dưới 50%, trên những gốc cây bị chặt hoặc bị chết phần thân, phần gốc còn lại trên mặt đất từ 5-20 cm, ở vị trí này, chồi tái sinh khá mập và rất có triển vọng phát triển thành cây trưởng thành bình thường Ngoài ra, khả năng tái sinh chồi khoẻ thường thấy ở những gốc cây mẹ nhỏ hơn 20 cm, ở những gốc lớn từ 40 cm trở lên thường khả năng tái sinh chồi kém hơn nhiều [26]

Trang 22

1.2.6 Các nghiên cứu về chọn giống và nhân giống

Chọn giống và nhân giống là các nội dung rất quan trọng, gắn liền trong công tác cải thiện giống cây rừng nói chung và cải thiện giống Hồi nói riêng, nhưng các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này ở trong nước hiện nay rất ít Có lẽ do cây Hồi không những lâu ra quả mà chu kỳ sai quả còn khá dài Mặt khác, Hồi là cây có dầu rất khó nhân giống bằng phương pháp

vô tính, phạm vi phân bố lại rất hẹp nên ít được quan tâm

1.2.6.1 Nghiên cứu về chọn giống

Theo kết quả nghiên cứu chọn giống của Nguyễn Huy Sơn (2004) [20], hàm lượng tinh dầu trong quả Hồi dao động trong khoảng 5,12-9,72%, độ đông

là 15-190C và hàm lượng anethol trong tinh dầu là 89,1-98,57% Từ các giá trị

đó, tác giả đã chọn được 18 cây trội về sản lượng quả và hàm lượng, chất lượng tinh dầu để lấy vật liệu phục vụ nghiên cứu nhân giống vô tính 18 cây trội này

có cả sản lượng quả cao vượt trội > 20%, hàm lượng tinh dầu ≥ 7%, độ đông ≥

170C và hàm lượng anethol ≥ 95%

Trung tâm nghiên cứu phát triển nông thôn và miền núi (2006) [26] đã nghiên cứu chọn cây trội để làm giống theo sản lượng quả cụ thể như: Cây phải có lượng quả cao gấp 2-3 lần so với lượng quả trung bình trong lâm phần, cây trội thường có biểu hiện về hình thái là cây sinh trưởng tốt, có tán lá xum xuê, có nhiều chùm quả, quả to, sai, quả có nhiều cánh từ 8-11 cánh Kết quả đã lựa chọn ra được 40 cây trội tại 2 xã Tân Đoàn và Đại An, huyện Văn Quan, Lạng Sơn đã đáp ứng được yêu cầu các tiêu chí lựa chọn cây giống theo sản lượng quả [20]

Hoàng Thanh Lộc (2009) [12] đã nghiên cứu tuyển chọn cây trội theo mục tiêu chọn giống, cây trội đảm bảo các tiêu chí như sản lượng >39,02kg, hàm lượng tinh dầu >1,27%, hàm lượng transanethol > 92,76%, độ đông

>17,480C và hàm lượng axit shikimic > 9,58% Kết quả đã chọn được 25 cây trội được chọn đáp ứng với tiêu chí sản lượng quả, hàm lượng và chất lượng

Trang 23

tinh dầu; có 13 cây trội được chọn đáp ứng tiêu chí hàm lượng axit shikimic;

có 05 cây trội được chọn thoả mãn tiêu chí hàm lượng và chất lượng tinh dầu và hàm lượng axit shikimic (dẫn theo Nguyễn Huy Sơn và cộng tác viên (2010) [21]

Nguyễn Mạnh Tường (2010) [28] tiếp tục nghiên cứu tuyển chọn cây trội dựa trên 3 tiêu chí như hàm lượng tinh dầu ≥ 11,551%; Hàm lượng trananethole ≥ 92,72%; Độ đông ≥ 17,4630C Kết quả lựa chọn được 20 cây trội thuộc lâm phần 45 năm tuổi của xã Tân Đoàn, huyện Văn Quan đảm bảo các tiêu chí trên

1.2.6.2 Nghiên cứu về nhân giống

Nghiên cứu về nhân giống Hồi bằng hom cành đã được Nguyễn Ngọc Tân (1987) [23] thực hiện, nhưng kết quả mới chỉ đạt được ở việc nhân giống bằng hom thân của cây con 2 năm tuổi trong giai đoạn vườn ươm, nên ít có ý nghĩa trong công tác cải thiện giống

Nguyễn Huy Sơn (2004) [20] khi nghiên cứu về các phương pháp ghép cho thấy ghép áp có tỷ lệ sống cao hơn ghép nêm và tỷ lệ sống của cây ghép sau hơn 3 tháng đạt tới 79%, sau 5 tháng tỷ lệ sống của các cây ghép tuy có giảm nhưng vẫn đạt gần 74% Qua kết quả này cho thấy ghép là phương pháp rất có triển vọng để nhân giống cho cây Hồi, đây là cơ sở rất quan trọng góp phần để cải thiện giống Hồi có năng suất, chất lượng cao trên cơ sở giống đã được chọn lọc

Nghiên cứu chọn lọc và nhân giống sinh dưỡng cây Hồi (Illicium verum Hook.f) của Hoàng Thanh Lộc đã được Nguyễn Mạnh Tường (2010)

[28] kế thừa cho thấy nhân giống bằng phương pháp ghép nêm nối ngọn vào tháng 2 với đường kính gốc ghép 0,66-0,75cm cho tỷ lệ sống đạt đến 73,3% Cây Hồi ghép ở giai đoạn 1 năm tuổi sinh trưởng chậm cả về đường kính và chiều cao

Trang 24

Những kết quả nghiên cứu về chọn giống và nhân giống Hồi bước đầu đã thành công, tuy nhiên khu vực nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở hai trong số 10 huyện của tỉnh Lạng Sơn Do vậy, cần có nhiều đề tài nghiên cứu lựa chọn ra các loại giống và nhân giống Hồi đáp ứng mục đích lấy dầu, lấy axit shikimic trong tương lai [27], [28]

1.2.7 Các nghiên cứu đánh giá về kỹ thuật gây trồng và sản xuất Hồi

1.2.7.1 Tình hình gây trồng Hồi

Năm 1906, Eberhardt đã phát hiện ra cây Hồi Đông Dương, đặc biệt Hồi ở Việt Nam có chất lượng tinh dầu khá cao Do vậy, năm 1907, ông đã gây trồng mở rộng loài cây này ra nhiều vùng của Việt Nam như: Phú Thọ, Hoà Bình, Điện Biên, Lào Cai, Bảo Lộc (Lâm Đồng) Có lẽ do không chú ý tới đặc điểm sinh thái của cây con và kỹ thuật trồng nên tác giả đã không thu được kết quả như mong đợi Mặc dù trồng rừng không thành công nhưng tác giả đã rút ra nhận xét rằng cây Hồi con rất yếu và không chịu được ánh sáng mạnh, ở những nơi được che sáng thì tỷ lệ sống cao hơn ở những nơi không được che sáng (dẫn theo Nguyễn Huy Sơn, 2004) [20]

1.2.7.2 Nghiên cứu về kỹ thuật trồng Hồi

Nguyễn Ngọc Tân (1987) [23] khi nghiên cứu về chế độ ánh sáng cho cây con trong giai đoạn vườn ươm cũng có nhận xét tương tự, cây Hồi con 1 năm tuổi ở vườn ươm cần được che sáng từ 60-80% là thích hợp nhất, cây trồng ở trên rừng từ 2-3 năm tuổi vẫn cần phải che bóng, cây Hồi lớn có đường kính từ 18-50cm chịu được ánh sáng mạnh hơn nhưng diệp lục ở lá vẫn bị phân giải mạnh Ở giai đoạn vườn ươm cây Hồi con thường ưa ẩm nhưng khả năng hút nước kém, không chịu được hạn, chết ở độ ẩm < 51%, sinh trưởng kém ở độ ẩm bão hoà và sinh trưởng tốt nhất ở độ ẩm 80% so với độ ẩm bão hoà Trong giai đoạn vườn ươm cây con cần đạm, kali hơn lân, có thể bón phối hợp kaliclorua với đạm urê hoặc đạm sunfat theo tỷ lệ N1K1

Trang 25

Dự án phát triển cây Hồi ở 9 xã thuộc huyện Văn Quan (Lạng Sơn) cũng đã nêu rõ về kỹ thuật trồng và khai thác rừng Hồi, mật độ trồng là 400 cây/ha (5x5m), tiêu chuẩn cây con đem trồng phải đạt trên 40cm về chiều cao,

và trên 0,5cm về đường kính cổ rễ, nếu trồng vụ Xuân - Hè thì cây con phải

đủ 24 tháng tuổi, nếu trồng vụ Đông - Xuân phải trên 20 tháng tuổi Thực bì cao thấp hơn 1m phải phát băng rộng 1 m, chừa 4m, thực bì thưa cao hơn 1m thì phải phát băng rộng 2m, sau đó gieo 3 hàng Cốt khí để che bóng Làm đất cục bộ bằng cách cuốc hố 40x40x40cm, bón lót 1kg/hố, trong đó có 50% phân chuồng hoai và 50% phân xanh ủ hoai Trường hợp nông lâm kết hợp không nên trồng Sắn vào đất trồng Hồi [28]

1.2.7.3 Nghiên cứu về sinh trưởng cây Hồi

Trong công trình nghiên cứu hệ thống kỹ thuật kinh doanh rừng Hồi trên quy mô lớn, Bùi Ngạnh (1977) [16] đã đưa ra kết luận ban đầu là Hồi cần phải được trồng dưới tán, nên việc tạo lớp tàn che cho cây Hồi là biện pháp tiên quyết Nếu trồng rừng bằng cây con 1 năm tuổi thì cần có lớp tàn che trên 70% Cũng theo tác giả thì có thể phục tráng Hồi già bằng con đường bổ sung dinh dưỡng như bón đạm, phân chuồng hoặc trồng các loài cây họ đậu dưới tán rừng Hồi để “đổi lân lấy đạm”

Phí Quang Điện và Lê Văn Hán (1983) [9] khi nghiên cứu phục tráng rừng Hồi già ở Lạng Sơn cũng đưa ra các kết luận tương tự Ngoài ra, các tác giả còn cho thấy biện pháp cuốc xới lớp đất mặt có hiệu quả khá rõ rệt đến sinh trưởng và sản lượng quả

1.2.7.4 Nghiên cứu về năng suất và sản lượng

Theo số liệu của Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam (2005), ở nước ta trong giai đoạn 1960-1975, sản lượng quả Hồi khô ở Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng hằng năm biến động 3.500-5.000 tấn Lượng quả Hồi khô xuất khẩu sang Trung Quốc, Nga, Cu Ba, các nước Đông Âu thường trong khoảng 1.500-3.000 tấn/năm Mặt hàng tinh dầu Hồi hàng năm chưng cất được từ

Trang 26

150-200 tấn Riêng năm 1987, lượng tinh dầu Hồi đã xuất khẩu được khoảng trên 120 tấn, chủ yếu là thị trường Pháp (80 tấn), còn lại là Đức, Nga, Bungari, Tiệp, Ba Lan… Ngoài ra, khối lượng đáng kể quả Hồi và tinh dầu Hồi đã được bán trực tiếp sang Trung Quốc từ những người sản xuất (dẫn theo Sở khoa học và Công nghệ tỉnh Lạng Sơn) [19]

Lưu Đàm Cư, Ninh Khắc Bản (2006) [7], những năm trước đó sản lượng tinh dầu Hồi từ Lạng Sơn và Quảng Ninh giảm rõ rệt do diện tích trồng Hồi đã bị thu hẹp Sản lượng quả Hồi hiện nay hầu hết được xuất khẩu sang Trung Quốc qua con đường buôn bán lẻ tiểu ngạch của tư nhân Do Trung Quốc đã đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho sản phẩm hoa Hồi, nên họ nhập sản phẩm hoa Hồi từ Việt Nam để chế biến rồi tái xuất khẩu sang các nước khác Vì vậy, ngoài bị mất thương hiệu, giá cả thị trường quả Hồi Việt Nam do người Trung Quốc quyết định, như vậy ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của các chủ rừng Hồi, đặc biệt là người dân Lạng Sơn, nơi được coi

là “rốn Hồi” của Việt Nam Đây là thách thức không nhỏ đặt ra đối với người dân kinh doanh rừng Hồi

1.2.7.5 Nghiên cứu về thu hái, bảo quản, chế biến sản phẩm Hồi

Thu hái, bảo quản sản phẩm Hồi là vấn đề ít được quan tâm, trước đây chủ yếu bảo quản theo kinh nghiệm của nhân dân địa phương, nhưng gần đây

đã có một số công trình nghiên cứu có liên quan, nổi bật như: Công trình nghiên cứu của Bùi Ngạnh và Trần Quang Việt (1981) [17], bước đầu các tác giả đã tổng kết được các kinh nghiệm và tiến hành một số thí nghiệm về thời điểm thu hái, phương pháp chế biến và bảo quản hạt giống, kỹ thuật làm đất

và nuôi cấy cây con trong vườn ươm

Lê Đình Khả và các cộng sự (2002) đã nghiên cứu về đặc điểm sinh lý và bảo quản hạt Hồi và đã xác định được điều kiện bảo quản thích hợp để kéo dài sức sống của hạt gấp 4 lần về thời gian so với phương pháp bảo quản truyền thống mà tỷ lệ nảy mầm của Hạt vẫn đạt tới 42,5% (dẫn theo Nguyễn Mạnh Tường, 2010) [28]

Trang 27

Nguyễn Mạnh Tường (2010) [28] đã nghiên cứu và đề xuất việc thu hái, bảo quản hạt giống phải đảm bảo khi quả chín, lúc vỏ màu vàng nhạt, hạt bên trong màu nâu đậm, bóng nội nhũ màu trắng và cứng Thời gian thu hái

vụ đông tốt nhất là sau tiết sương giáng 5-7 ngày Nếu nhân giống hữu tính cần lựa chọn các cây trội đã được tuyển chọn Quả sau khi mang về phải phân loại, những quả chưa chín được ủ lại thành đống trong 2-3 ngày cho quả chín đều, đống ủ không cao quá 50 cm và phải thông gió, mỗi ngày đảo lại 1 lần Khi quả chín, chọn những quả 8-11 cánh rải đều dưới nắng nhẹ để tách hạt ra, những hạt chưa tách ra được có thể dùng que tre để tách lấy hạt Hạt sau khi được tách ra cho vào nước sạch và chỉ thu những hạt chìm xuống dưới để làm giống, hạt được vớt ra hong khô ở nơi thoáng gió 4-5 ngày, khi hạt đã ráo nước cho vào bảo quản

Trước đây nghiên cứu về chế biến sản phẩm Hồi ở nước ta chưa được quan tâm trú trọng, hầu hết quả Hồi chỉ được sơ chế bằng cách phơi khô rồi bán sản phẩm Hồi thô sang Trung Quốc Do vậy, những nghiên cứu về chế biến sản phẩm Hồi mới chỉ dừng lại ở phòng thí nghiệm để xem xét về chất lượng tinh dầu, cụ thể như: Theo Eruest Guenther (1948), tinh dầu Hồi có 21 thành phần khác nhau, trong đó có anethole là thành phần chính (dẫn theo tài liệu [7])

So sánh về chất lượng, tác giả đã khẳng định tinh dầu Hồi của Việt Nam tốt hơn tinh dầu Hồi của Trung Quốc Đặc biệt là độ đông, tinh dầu Hồi của Việt Nam có độ đông khá cao từ 17-190C, trong khi đó tinh dầu Hồi của Trung Quốc chỉ đông ở 130C Theo tiêu chuẩn trên thị trường Quốc tế, độ đông của tinh dầu Hồi ≥ 170C là loại rất tốt, 160C là loại tốt, 150C là loại đạt yêu cầu và dưới 150C là chưa đạt yêu cầu (dẫn theo Hà Chu Chử, 1996) [6]

Hoàng Văn Phiệt và cộng sự (1975) thì Hồi ở Lạng Sơn có hàm lượng tinh dầu khá cao, chiếm từ 10-13% trọng lượng quả khô Diễn biến hàm lượng tinh dầu trong lá lại lệch pha với quả, thời kỳ tích luỹ tinh dầu cao nhất

là cuối tháng 4, đầu tháng 5 (3,66%), sau đó giảm dần từ tháng 9 đến tháng 11 (tương đương là 1,45 và 1,29%) Ngoài ra, hàm lượng tinh dầu cũng còn chịu

Trang 28

ảnh hưởng của các yếu tố bảo quản như nấm mốc và mục làm giảm hàm lượng và chất lượng tinh dầu, các chất gây độc như cis-anethol lại tăng lên (dẫn theo Nguyễn Huy Sơn, 2004) [20]

Lưu Đàm Cư và các cộng sự (2006) [7] đã khẳng định hàm lượng tinh dầu trong quả Hồi biến đổi theo vụ thu hoạch Hàm lượng tinh dầu trong quả tươi vào vụ mùa dao động trong khoảng 1,45-3,87%, trong vụ tứ quý là 1,9-4,98% Tương ứng với hàm lượng transanethol trong vụ mùa là 95,96% và hàm lượng cisanethol nhỏ hơn 0,1%

Đến nay, các nhà khoa học Việt Nam đã nghiên cứu thành công quy trình chiết xuất axit shikimic từ quả Hồi để tổng hợp hoạt chất Oseltamivir Viện Hoá học thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam là nơi đầu tiên chiết xuất thành công axit shikimic Theo quy trình cứ 100kg quả hồi khô sẽ chiết xuất được 6,5-7kg axit shikimic tinh khiết Qua kiểm tra trên máy phổ quang cộng hưởng từ cho thấy, độ tinh khiết của sản phẩm đạt 95%, có chất lượng tương đương với mẫu của thế giới

Bộ Y tế (2008) [5] cũng công bố là đơn vị thứ hai đã chiết xuất thành công axit shikimic trong quy mô phòng thí nghiệm Với trang thiết

bị hiện tại Viện có khả năng chiết xuất và cung cấp khoảng 200-400kg axit shikimic/năm Như vậy, kết quả nghiên cứu về chế biến sản phẩm Hồi gần đây của Viện Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế đã mở ra một hướng đi mới trong tương lai về chế biến sản phẩm Hồi trong công nghệ dược liệu, dược phẩm

1.2.7.6 Nghiên cứu về thị trường và giá cả

Lã Đình Mỡi (2001) [15] khi nghiên cứu về thị trường xuất khẩu quả Hồi cho thấy quả Hồi khô thường được gọi là “Hoa Hồi” là sản phẩm tiêu thụ chủ yếu trên thị trường Phần lớn quả Hồi và tinh dầu Hồi được xuất khẩu sang Pháp,

Hà Lan, Singapore, Anh, Đức, Ấn Độ, Nhật Bản… Giá xuất khẩu khoảng 1.000 USD/tấn quả và 3,5 USD/kg tinh dầu Người ta ước tính, năm 1993 khối lượng tinh dầu Hồi mua bán trên thế giới đạt khoảng 4,5 triệu USD

Trang 29

1.3 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

- Phía Nam giáp huyện Bảo Thắng

- Phía Bắc và Tây giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc)

Là huyện có vị trí đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng, có tổng chiều dài biên giới tiếp giáp với nước bạn Trung Quốc 76,13km, với 2 cửa khẩu Quốc gia và cửa khẩu tiểu ngạch là Mường Khương và cửa khẩu Pha Long, đây là điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, văn hoá giữa 2 nước Việt Nam - Trung Quốc

1.3.1.2 Địa hình, địa thế

Mường khương có địa hình được kiến tạo bởi cao nguyên cổ Bắc Hà, thuộc dãy núi Tây Côn Lĩnh Địa hình bị chia cắt, có nhiều núi cao vực sâu chia cắt xen kẽ các dải thung lũng hẹp, độ dốc lớn Độ cao bình quân so với mặt nước biển là 950m, đỉnh núi cao nhất có độ cao 1.1591m thuộc xã Pha Long, độ dốc trung bình 25o đến 30o Địa hình được chia thành 3 vùng:

- Vùng thấp, bao gồm các xã: Lùng Vai, Bản Lầu, Bản Xen

- Vùng trung bình, bao gồm các xã: Tung Chung Phố, Thanh Bình, Nậm Lư, Nậm Chảy và thị Trấn Mường Khương

- Vùng cao, gồm các xã: Cao Sơn, La Pán Tẩn, Tả Thàng, Lùng Khẩu Nhin, Pha Long, Dìn Chin, Tả Gia Khâu, Tả Ngải Chồ

Trang 30

- Đất đai, thổ nhưỡng: Thuộc loại đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá

mẹ phiến thạch, núi đá vôi

1.3.1.3 Khí hậu, thủy văn

Mường Khương là huyện nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Một năm có hai mùa nhưng không có ranh giới rõ rệt Mùa đông lạnh nhiệt độ kéo dài bình quân 15-16oC (tháng 1 là tháng lạnh nhất, nhiệt độ có thể xuống đến 6oC) Mùa hè mát mẻ, nhiệt độ trung bình 32-33oC cao nhất là 35oC Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.991mm Cao nhất là 2.402mm, thấp nhất là 1.358mm Lượng mưa phân bố không đều, địa hình dốc, độ che phủ của rừng thấp nên mùa mưa nước tập trung nhanh gây ra lũ ống và lũ quét làm sạt lở khó khăn cho sản xuất và giao thông, mùa khô thì cạn kiệt gây khó khăn cho sản xuất nông lâm nghiệp

Do ảnh hưởng của địa hình nên diễn biến của khí hậu khá phức tạp, hình thành 2 vùng tiểu khí hậu khác biệt:

- Vùng thấp: Gồm các xã (Lùng Vai, Bản Lầu, Bản Xen) đây là vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa không điển hình, nhiệt độ trung bình năm khoảng

21oC; chia thành 2 mùa tương đối rõ rệt; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, có nền nhiệt độ cao, có khi lên đến 35oC, kèm theo mưa nhiều, cường độ mưa cao, bức xạ năng lượng mặt trời mạnh; mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng

4 năm sau; nhiệt độ xuống thấp, có khi đến 10oC; độ ẩm không khí trung bình 85%, thỉnh thoảng có sương mù và mưa đá Tiểu vùng khí hậu này phù hợp với sinh trưởng và phát triển của các loài cây lâm nghiệp nhiệt đới

- Vùng núi cao: Gồm các xã còn lại, nằm ở đai cao trên 800m Đặc trưng của vùng khí hậu này là cận nhiệt đới không điển hình Một năm có hai mùa, ranh giới không rõ rệt, mùa Đông thường lạnh và khô kéo dài, nhiệt độ trung bình từ 15-17oC, tháng lạnh nhất nhiệt độ có thể xuống đến 4-5oC Mùa

hè mát mẻ nhiệt độ cao nhất không đến 32oC Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng

Trang 31

10 hàng năm, thường có giông, mưa đá và sương mù Tiểu vùng khí hậu này rất thích nghi với sự sinh trưởng, phát triển của cây lâm nghiệp lá kim

Hệ thống sông, suối của huyện nằm ở đầu nguồn của hai hệ thống sông lớn là sông Chảy và sông Nậm Thi Địa hình chia cắt phức tạp, có độ dốc lớn nên hệ thống thuỷ văn của huyện Mường Khương là khá dày với mật độ từ 0,7-1km/km2 và phân bố phức tạp do hiện tượng Kasster hoạt động mạnh tạo nên các dòng chảy ngầm Vì vậy phần lớn các vùng núi cao của huyện, nhất là vùng núi đá vôi dòng chảy lớp mặt bị hạn chế, mật độ suối giảm mạnh có nơi chỉ còn 0,5km/km2

- Dòng chảy chủ yếu của các con suối theo hai hướng chính là Tây Đông Nam và Đông Bắc-Tây Nam

Bắc Phía Đông huyện có Sông Chảy bắt nguồn từ Trung Quốc, đoạn sông này là ranh giới giữa huyện Mường Khương và 02 huyện Si Ma Cai, Bắc Hà

- Phía Tây huyện có sông Nậm Thi là một nhánh hợp lưu của Sông Hồng

là ranh giới giữa huyện Mường Khương và huyện Hà Khẩu-Tỉnh Vân Trung Quốc, các con suối chính là suối Bản Phiệt, suối Nậm Chảy, suối Pạc Trà có lưu vực lớn hơn 50km2, các suối còn lại có lưu vực khoảng 10-20km2

Nam-1.3.1.4 Đặc điểm tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp

Căn cứ Quyết định số 723/QĐ-UBND ngày 25 tháng 3 năm 2015 của UBND tỉnh Lào Cai về việc phê duyệt cơ sở dữ liệu theo dõi diễn biến rừng

và đất lâm nghiệp với diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Mường Khương, như sau:

a) Diện tích quy hoạch cho lâm nghiệp toàn huyện là: 31.075,0 ha chiếm 56,05% diện tích tự nhiên toàn huyện, trong đó:

- Đất có rừng: 23.378,45 ha (Rừng tự nhiên 17.335,68 ha; rừng trồng 6.042,77 ha) Tỷ lệ che phủ rừng đạt 42,2%

- Đất trống: 7.696,55 ha, chiếm 13,88%

Trang 32

1.3.2 Tình hình kinh tế - xã hội

1.3.2.1 Tình hình dân số, lao động, thành phần dân tộc và phân bố dân cư

Mường Khương là huyện miền núi với nhiều dân tộc anh em sinh sống Toàn huyện có 15 xã và 01 thị trấn, với 231 tổ dân phố, thôn bản Dân số toàn huyện 56.577 người, mật độ dân số bình quân 101 người/km2, nơi có mật độ dân số thấp nhất là xã Nậm Chảy với 59 người/km2 nơi có mật độ dân số cao nhất là thị trấn Mường Khương với 230 người/km2

Trên địa bàn huyện có 14 dân tộc anh em sinh sống trong đó dân tộc H’Mông chiếm 41,78%, dân tộc Nùng chiếm 26,28%; dân tộc Kinh chiếm 11,98%; Dao 5,75%; Dáy 3,66%; Pa Dí 3,54%; Tu Dí 2,58%; Phù Lá 2,21%; Thu Lao 1,1% các dân tộc còn lại chiếm 0,76% Phần lớn các dân tộc ít người có trình độ dân trí thấp, sống rải rác và có tỷ lệ gia tăng dân

số tự nhiên cao

1.3.2.2 Thực trạng nguồn thu nhập chủ yếu trên địa bàn

Mường Khương là huyện vùng cao biên giới nhiều dân tộc có diện tích

tự nhiên lớn, có 88% dân số sống bằng nghề nông Trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước về kinh tế-xã hội đã có nhiều khởi sắc, phát triển tích cực, công tác chuyển dịch cơ cấu kinh tế được phát triển mạnh, tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp 52%; Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản 14%; Dịch vụ, thương mại du lịch 34,0% Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 13,08%, tổng sản lượng lương thực đạt 30.456 tấn; thu nhập bình quân đầu người 12 triệu đồng/năm; lương thực bình quân đầu người 538 kg/người/năm (quy thóc) Tỷ lệ hộ đói nghèo 31%

1.3.3 Thực trạng cơ sở hạ tầng

Mường Khường có tuyến Quốc lộ 4D chạy qua, có chiều dài 120 Km nối Lào Cai - Mường Khương - huyện Xí Mần của tỉnh Hà Giang Hiện nay

Trang 33

có 16/16 xã, thị trấn có đường ô tô đến trung tâm xã, trong đó có 13/16 xã, thị trấn có đường nhựa đi qua, 206/231 thôn, bản có đường ô tô, xe máy đi lại thuận tiện Hiện đang thực hiện sửa chữa nâng cấp một số tuyến đường như Mường Khương - Lào Cai, Tiến hành thực hiện tốt chương trình xây dựng đường liên thôn

Về điện lưới: Hệ thống điện được quan tâm, đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, cơ bản đảm bảo cung cấp điện phục vụ cho sản xuất, dân sinh nông thôn Đến nay 16/16 xã, thị trấn của huyện đã có điện, với gần 96,6% số hộ được sử dụng điện lưới Quốc gia

1.4 Thảo luận

Cây Hồi là loài cây thân đa tác dụng, có giá trị kinh tế cao, được gây trồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam nói chung và huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai nói riêng Mặc dù bước đầu là loài cây đem lại lợi ích kinh tế cho người dân sống ở khu vực trồng Hồi, nhưng đến nay cây Hồi chưa được đánh giá đúng mức Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về cây Hồi như: đặc tính sinh lý; biện pháp kỹ thuật gieo ươm; kỹ thuật trồng Hồi; chọn và sử dụng đất trồng Hồi; nhu cầu ánh sáng, nước và dinh dưỡng khoáng của cây Hồi… Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá cây Hồi tại huyện Mường Khương, tỉnh

Lào Cai Vì vậy, việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sinh trưởng và kỹ

thuật nhân giống cây Hồi (Illicium verum Hook f.) tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai” là thực sự cần thiết làm cơ sở khoa học để phát triển

bền vững cây Hồi tại khu vực nghiên cứu trong tương lai

Trang 34

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Là Cây Hồi có tên khoa học là (Illicium verum

Hook.f.)

- Phạm vi nghiên cứu: Tại xã Tả Ngài Chồ và Thị trấn Mường Khương,

huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai

2.2 Giới hạn đề tài

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 8 năm 2019

- Giới hạn nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu sinh trưởng rừng trồng Hồi ở tuổi 13 và tuổi 2 tại khu vực nghiên cứu (như: diện tích, phân bố, sinh trưởng) và nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật đến nhân giống cây Hồi bằng hạt

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Đánh giá sinh trưởng rừng trồng Hồi tại khu vực nghiên cứu

- Nguồn gốc rừng trồng Hồi tại khu vực nghiên cứu

- Đặc điểm sinh trưởng rừng trồng Hồi tại khu vực nghiên cứu

2.3.2 Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây Hồi bằng hạt

Ngày đăng: 03/03/2020, 10:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w