Tuy nhiên, do chưa có cơ sở hạ tầng thu gom xử lý, chưa có biện pháp quản lý, nhận thức của nông dân còn khá hạn chế trong việc bảo vệ môi trường trong canh tác nông nghiệp, ở một số vùn
Trang 1LÊ XUÂN PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI BỎ CHỨA HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT MỘT SỐ VÙNG CHUYÊN CANH CHÈ, LÚA, RAU TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Thái Nguyên - 2019
Trang 2LÊ XUÂN PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI BỎ CHỨA HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT MỘT SỐ VÙNG CHUYÊN CANH CHÈ, LÚA, RAU TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Ngành: Khoa học môi trường
Mã số ngành: 8 44 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Sỹ Trung
Thái Nguyên - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam kết rằng nội dung đề tài Luận văn “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất
giải pháp quản lý chất thải bỏ chứa hóa chất bảo vệ thực vật một số vùng chuyên canh chè, lúa, rau trên địa bàn thành phố Thái Nguyên” là công trình nghiên cứu
của bản thân Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng các nguyên tắc có liên quan
Kết quả trình bày trong Luận văn có được trong quá trình nghiên cứu là trung thực, chưa từng được ai công bố trước đây
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019
Học viên thực hiện
Lê Xuân Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu, thu thập tài liệu, tôi đã hoàn thành luận văn Thạc sĩ
với đề tài “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải bỏ chứa hóa
chất bảo vệ thực vật một số vùng chuyên canh chè, lúa, rau trên địa bàn thành phố Thái Nguyên” với sự nỗ lực của bản thân, sự hướng dẫn chu đáo của thầy, cô cùng bạn bè,
đồng nghiệp trong đơn vị đang công tác và một số đơn vị liên quan khác
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS.TS Lê Sỹ Trung và các thầy cô trong khoa đã tạo điều kiện cho tôi chọn đề tài có tính thực tiễn cao và hướng dẫn tận tình, đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, thành phố Thái Nguyên và cấp ủy, chính quyền xã Tân Cương, xã Cao Ngạn, phường Túc Duyên, thành phố Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, thu thập tài liệu thực hiện đề tài này
Luận văn này là thành quả được đúc kết trong quá trình học tập tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, là những kinh nghiệm đúc kết từ thực tế trong quá trình công tác, làm việc của tôi Trong quá trình thực hiện Luận văn, mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, rất mong nhận được sự góp ý bổ sung và chỉ bảo từ các thầy, các cô để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019
Học viên thực hiện
Lê Xuân Phương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
3.1 Về mặt lý luận 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Định nghĩa và phân loại thuốc bảo vệ thực vật 3
1.1.2 Ảnh hưởng của HCBVTV đến môi trường 10
1.2 Cơ sở pháp lý 22
1.3 Cơ sở thực tiễn 23
1.3.1 Các kết quả nghiên cứu thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực
vật ở Việt Nam 23
1.3.2 Các kết quả nghiên cứu thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực
vật trên thế giới 32
1.4 Đánh giá chung 36
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Đối tượng nghiên cứu 37
2.2 Phạm vi nghiên cứu 37
2.3 Nội dung nghiên cứu 37
2.3.1 Nghiên cứu hiện trạng sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật tại
khu vực nghiên cứu 37
Trang 62.3.2 Đánh giá tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật tại môi trường đất,
nước mặt tại khu vực nghiên cứu 37
2.3.3 Đề xuất các giải pháp quản lý và thu gom, chuyển giao chất thải
chứa HCBVTV 37
2.4 Phương pháp nghiên cứu 38
2.4.1 Phương pháp điều tra khảo sát và thu thập số liệu 38
2.4.2 Phương pháp thực nghiệm (lấy mẫu phân tích) 38
2.4.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu 40
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41
3.1 Thực trạng quản lý và sử dụng HCBVTV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 41
3.1.1 Thực trạng sử dụng HCBVTV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 41
3.1.2 Thực trạng quản lý chất thải chứa HCBVTV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 42
3.2 Hiện trạng sử dụng HCBVTV tại khu vực nghiên cứu 48
3.2.1 Hiện trạng sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật 48
3.2.2 Hiện trạng môi trường tại vùng chuyên canh chè, lúa, rau trên
địa bàn thành phố Thái Nguyên 49
3.2.3 Hiện trạng thu gom chất thải chứa hóa chất bảo vệ thực vật 55
3.3 Một số giải pháp quản lý và thu gom, xử lý chất thải chứa HCBVTV 62
3.3.1 Xây dựng mô hình thu gom chất thải chứa HCBVTV 62
3.3.2 Xây dựng mạng lưới thu gom chất thải chứa HCBVTV 66
3.3.3 Giáo dục, tuyên truyền, tập huấn nâng cao nhận thức về quản lý và thu gom chất thải chứa HCBVTV 67
3.3.4 Đề xuất ban hành hướng dẫn về thu gom, vận chuyển và xử lý
chất thải chứa HCBVTV 68
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
1 Kết luận 70
2 Kiến nghị 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHIẾU ĐIỀU TRA 54
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TN&MT Tài nguyên và Môi trường
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại thuốc BVTV theo công dụng 7
Bảng 1.2 Phân loại nhóm độc theo Tổ chức Y tế thế giới (LD50mg/kg chuột) 8
Bảng 1.3 Phân loại độ độc thuộc BVTV ở Việt Nam và các biểu tượng về độ độc ghi trên nhãn 9
Bảng 1.4 Phân loại thuốc BVTV theo thời gian phân hủy 9
Bảng 1.5 Thời gian tồn lưu của HCBVTV trong đất 12
Bảng 1.6 Thời gian bán phân hủy của các loại thuốc trừ sâu nhóm POP 12
Bảng 1.7 Các triệu chứng khi nhiễm HCBVTV ở con người 16
Bảng 2.1 Danh sách các xã, phường lựa chọn nghiên cứu 37
Bảng 2.2 Vị trí lấy mẫu đất và các chỉ tiêu phân tích 39
Bảng 3.1: Kết quả phân tích mẫu nước mặt tại các vùng nghiên cứu 51
Bảng 3.2: Kết quả phân tích mẫu đất tại các vùng nghiên cứu 53
Bảng 2.3 Vị trí lấy mẫu nước mặt và các chỉ tiêu phân tích 40
Bảng 3.3 Hiện trạng khối lượng chất thải chứa HCBVTV phát sinh trên địa bàn các xã, phường trong khu vực nghiên cứu 56
Bảng 3.4 Tổng hợp tình hình phát sinh chất thải bỏ chứa HCBVTV theo báo cáo của các xã/phường vùng nghiên cứu 56
Bảng 3.5 Tổng hợp phương tiện thu gom, vận chuyển tại các khu vực nghiên cứu 57
Bảng 3.6 Khối lượng chất thải chứa HCBVTV được thu gom ở các xã, phường nghiên cứu 59
Bảng 3.7 Đánh giá khả năng đáp ứng các phương tiện thu gom, vận chuyển chất thải chứa HCBVTV tại các khu vực nghiên cứu 59
Trang 9
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Chu trình phát tán HCBVTV trong hệ sinh thái nông nghiệp 10
Hình 1.2 Tác hại của HCBVTV đối với con người 15
Hình 1.3 Sơ đồ đường truyền thuốc BVTV vào môi trường và con người 21
Hình 1.4: Cơ cấu nhập khẩu thuốc BVTV hàng năm tại Việt Nam 24
Hình 3.1 Hình ảnh chất thải chứa HCBVTV 43
Hình 3.2 Hiện trạng thu gom, xử lý chất thải chứa HCBVTV 44
Hình 3.3 Một số loại thuốc trừ sâu thường được dùng cho canh tác chè,
lúa, rau tại thành phố Thái Nguyên 49
Hinh 3.4 Canh tác rau tại 54
Hình 3.5 Canh tác lúa tại xã Cao Ngạn phường Túc Duyên 54
Hình 3.6 Canh tác chè tại xã Tân Cương 55
Hình 3.7 Lấy mẫu phân tích 55
Hình 3.8 Hình ảnh đốt chất thải chứa HCBVTV tại bể thu gom 60
Hình 3.9 Sơ đồ thu gom chất thải chứa HCBVTV 66
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Thái Nguyên là tỉnh có sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Đất nông nghiệp chiếm đến 86,07% diện tích tự nhiên và dân số nông thôn chiếm 64,9% tổng dân số toàn tỉnh Giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên năm 2018 đạt trên 17.759,6 tỷ đồng, trong đó ngành trồng trọt chiếm tỷ trọng lớn nhất 46,89% (Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2019)
Có thế mạnh, tiềm năng để phát triển, nhưng thực tế cho thấy khu vực nông thôn có nhiều vấn đề bất cập về môi trường Trong đó có vấn đề ô nhiễm tiềm tàng do chất thải rắn từ việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) trong canh tác nông nghiệp Theo danh mục chất thải nguy hại ban hành kèm theo thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các vỏ chai, lọ, bao bì chứa HCBVTV là chất thải nguy hại, yêu cầu có biện pháp quản lý chặt chẽ do loại chất thải này có khả năng gây ô nhiễm môi trường gây độc hại đến các hệ sinh thái Theo thống kê của Cục BVTV, trong 10 năm qua loại chất thải độc hại này đã tăng gấp hơn 10 lần Tính toán cho thấy, cứ mỗi bao bì thuốc lại có 1,8% lượng hóa chất dính vào, khi bị thải bỏ, lượng hóa chất này sẽ lan truyền ra môi trường và xâm nhập trở lại cơ thể sinh vật thông qua chuỗi thức ăn (UBND tỉnh Thái Nguyên, 2016) Tuy nhiên, do chưa có cơ sở hạ tầng thu gom xử lý, chưa có biện pháp quản lý, nhận thức của nông dân còn khá hạn chế trong việc bảo vệ môi trường trong canh tác nông nghiệp, ở một số vùng chuyên canh vỏ chai lọ, bao bì hóa chất sau khi sử dụng xong không được thu gom, bị thải bỏ ngay ra ruộng hoặc sông, suối gần khu vực
Từ những phân tích nêu trên, để giải quyết tận gốc vấn đề chất thải vỏ chai lọ bao bì HCBVTV góp phần quản lý chất thải bỏ chứa HCBVTV là hết
Trang 11sức cần thiết Chính vì vậy em chọn đề tài “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất
giải pháp quản lý chất thải bỏ chứa hóa chất bảo vệ thực vật một số vùng chuyên canh chè, lúa, rau trên địa bàn thành phố Thái Nguyên”
2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá được thực trạng phát sinh và quản lý chất thải bỏ HCBVTV tại một số vùng chuyên canh chè, lúa, rau tại thành phố Thái Nguyên
- Đánh giá được tồn dư HCBVTV trong môi trường đất, nước mặt khu vực nghiên cứu
- Đề xuất được một số giải pháp trong quản lý, thu gom, lưu giữ, trung
chuyển và xử lý tiêu hủy chất thải bỏ chứa HCBVTV
3 Ý nghĩa của đề tài
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Định nghĩa và phân loại thuốc bảo vệ thực vật
1.1.1.1 Định nghĩa
Tổ chức Nông lương thế giới (FAO, 1986) định nghĩa HCBVTV là bất
kỳ một chất nào hay hỗn hợp các chất nào được dùng để phòng, phá huỷ hay diệt bật kỳ một vật hại nào, kể cả các sinh vật truyền bệnh của người hay súc vật, những loại cây cỏ dại hoặc các động vật gây hại trong hoặc can thiệp trong quá trình sản xuất, lưu kho, vận chuyển hoặc tiếp thị thực phẩm, lương thực,
gỗ và sản phẩm thức ăn gia súc
Theo Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật số 41/2013/QH13: Thuốc bảo
vệ thực vật (BVTV) là chất hoặc hỗn hợp các chất hoặc chế phẩm vi sinh vật
có tác dụng phòng ngừa, ngăn chặn, xua đuổi, dẫn dụ, tiêu diệt hoặc kiểm soát sinh vật gây hại thực vật; điều hòa sinh trưởng thực vật hoặc côn trùng; bảo quản thực vật; làm tăng độ an toàn, hiệu quả khi sử dụng thuốc
HCBVTV hay còn gọi là thuốc BVTV là những loại hóa chất bảo vệ cây trồng hoặc những sản phẩm bảo vệ mùa màng, là những chất được tạo ra để chống lại và tiêu diệt loài gây hại hoặc các vật mang mầm bệnh Chúng cũng gồm các chất để đấu tranh với các loại sống cạnh tranh với cây trồng cũng như nấm bệnh cây Ngoài ra, các loại thuốc kích thích sinh trưởng, giúp cây trồng đạt năng suất cao cũng là một dạng của HCBVTV HCBVTV là những hóa chất độc, có khả năng phá hủy tế bào, tác động đến cơ chế sinh trưởng, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại và cả cây trồng, vì thế khi các hợp chất này đi vào môi trường, chúng cũng có những tác động nguy hiểm đến môi trường, đến những đối tượng tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp Và đây cũng là lý do mà thuốc BVTV nằm trong số những hóa chất đầu tiên được kiểm tra triệt để về bản chất, về tác dụng cũng như tác hại
Trang 13Về cơ bản thuốc BVTV được sản xuất dưới các dạng sau:
- Thuốc sữa: viết tắt là EC hay ND: gồm các hoạt chất, dung môi, chất hóa sữa và một số chất phù trị khác Thuốc ở thể lỏng, trong suốt, tan trong nước thành dung dịch nhũ tương tương đối đồng đều, không lắng cặn hay phân lớp
- Thuốc bột thấm nước: còn gọi là bột hòa nước, viết tắt là WP, BTN: gồm hoạt chất, chất độn, chất thấm ướt và một số chất phù trợ khác Thuốc ở dạng bột mịn, phân tán trong nước thành dung dịch huyền phù, pha với nước
để sử dụng
- Thuốc phun bột: viết tắt là DP, chứa các thành phần hoạt chất thấp (dưới 10%), nhưng chứa tỉ lệ chất độn cao, thường là đất sét hoặc bột cao lanh Ngoài ra, thuốc còn chứa các chất chống ẩm, chống dính Ở dạng bột mịn, thuốc không tan trong nước
- Thuốc dạng hạt: viết tắt là G hoặc H, gồm hoạt chất, chất độn, chất bao viên, và một số chất phù trợ khác
Ngoài ra còn một số dạng tồn tại khác:
- Thuốc dung dịch;
- Thuốc bột tan trong nước;
1.1.1.2 Phân loại hóa chất bảo vệ thực vật
a) Phân loại theo các gốc hóa học
Căn cứ vào bản chất hóa học của các loại HCBVTV, chúng được phân chia thành các nhóm khác nhau Dưới đây mô tả sơ bộ HCBVTV thuộc các nhóm clo hữu cơ, lân hữu và carbamat:
* HCBVTV thuộc nhóm hợp chất Clo hữu cơ:
HCBVTV thuộc nhóm hợp chất Clo hữu cơ thuộc nhóm HCBVTV tổng hợp, điển hình của nhóm này là DDT, Lindan, Endosulfan Hầu hết các loại HCBVTV thuộc nhóm này đã bị cấm sử dụng vì chúng là các chất hữu cơ khó phân huỷ, tồn lưu lâu trong môi trường Công ước Stockholm về các chất ô
Trang 14nhiễm hữu cơ khó phân hủy cũng quy định về việc giảm thiểu và loại bỏ các loại hóa chất bảo vệ thực vật, đa phần thuộc nhóm clo hữu cơ này
HCBVTV nhóm cơ clo thường có độ độc ở mức độ I hoặc II Các hợp chất trong nhóm này gồm: Aldrin, BHC, Chlordan, DDE, DDT, Dieldrin, Endrin, Endosulphan, Heptachlor, Keltan, Lindane, Methoxyclor, Rothan, Perthan, TDE, Toxaphen v.v là những hợp chất mà trong cấu trúc phân tử của chúng có chứa một hoặc nhiều nguyên tử Clo liên kết trực tiếp với nguyên tử Cacbon Trong các hợp chất trên DDT và Lindane là những loại HCBVTV được
sử dụng nhiều nhất ở Việt Nam từ trước những năm 1960 - 1993 (Tổng cục Môi trường, 2015)
DDT (Dicloro diphenyltricloetan): có tác dụng diệt trừ sâu bệnh, duy trì hoạt tính trong vài tháng, nó rất bền vững trong môi trường, tích lũy khá lâu ở các mô mỡ và gan Thuộc nhóm độc nhóm II, LD50 qua miệng: 113-118mg/kg LD50 qua da: 2.510mg/kg Sự hòa tan trong mỡ nhờ nhóm Triclometyl, còn độc tính của nó do nhóm p-clophenyl quyết định Lượng DDT hấp thụ hàng ngày tối đa cho phép không quá 5µg/kg trọng lượng cơ thể Mức dư lượng tối đa cho phép đối với tổng DDT trong đất là 0,1mg/kg và trong nước là 1µg/l
DDT có khả năng hoà tan trong mỡ cao Đặc tính ưa mỡ kết hợp với thời gian bán phân huỷ rất dài làm cho các hợp chất có khả năng tích luỹ sinh học cao trong sinh vật sống dưới nước Điều đó dẫn tới sự khuếch đại sinh học của DDT ở sinh vật trong cùng một chuỗi thức ăn Do rất bền trong cơ thể sống, trong môi trường và các sản phẩm động vật nên hiện nay hợp chất này đã bị cấm sử dụng Trong số các hóa chất trừ sâu cơ clo, tác dụng sinh học của DDT đối với môi trường đã được nghiên cứu rất nhiều DDT có tác dụng lên hệ thần kinh trung ương, làm tê liệt hệ thần kinh và dẫn tới tử vong (Tổng cục Môi trường, 2009)
Lindane, với công thức hoá học là C6H6Cl6 được biết đến là hexacloroxyclohexane Lindan có tác dụng trừ được nhiều loại nhóm sâu hại
Trang 15gamma-thực vật, vị độc, xông hơi, tiếp xúc, nhóm độc II Giá trị LD50 qua miệng: 125mg/kg, qua da: 1.000mg/kg
88-Lindane được sử dụng trong nông và lâm nghiệp và y tế trong giai đoạn
từ những năm 1950 đến năm 2000 Ước tính hơn 600.000 tấn Lindane được
sản xuất trên toàn thế giới và đa phần chúng được sử dụng trong nông nghiệp
(Tổng cục Môi trường, 2015)
* HCBVTV thuộc nhóm Lân hữu cơ:
Là các este của axit phosphoric Đây là nhóm hóa chất rất độc với người
và động vật máu nóng, điển hình của nhóm này là Methyl Parathion, Ethyl Parathion, Mehtamidophos, Malathion Hầu hết các loại HCBVTV trong nhóm này cũng đã bị cấm do độc tính của chúng cao Theo y văn dấu hiệu và triệu chứng nhiễm độc thuốc bảo vệ thực vật gốc photpho hữu cơ và cacbamat bao gồm: nhức đầu, choáng váng, cảm giác nặng đầu, nhức thái dương, giảm trí nhớ, dễ mệt mỏi, ngủ không ngon giấc, ăn kém ngon, chóng mặt Ở một số trường hợp, có rối loạn tinh thần và trí tuệ, giật nhãn cầu, run tay và một số triệu chứng rối loạn thần kinh khác
* HCBVTV thuộc nhóm Carbamat:
Là các este của axit Carbamic có phổ phòng trừ rộng, thời gian cách ly ngắn, điển hình của nhóm này là Bassa, Carbosulfan, Lannate Cũng như nhóm lân hữu cơ, các triệu chứng nhiễm độc thuốc BVTV nhóm này là rất khó khăn, phần lớn các dấu hiệu lâm sàng mang tính chủ quan Các triệu chứng nhiễm độc gồm nhức đầu, choáng váng, dễ mệt mỏi, ngủ không ngon giấc, ăn kém ngon, chóng mặt (Trần Văn Hải, 2009)
b) Phân loại theo công dụng
Trên thị trường đã có hàng trăm hoạt chất với hàng nghìn tên thương mại khác nhau về HCBVTV Tuy nhiên, ta có thể phân thành 5 loại chính dựa vào công dụng của thuốc như sau:
Trang 16Bảng 1.1 Phân loại thuốc BVTV theo công dụng
- Hợp chất hữu cơ clo (hydrocloruacacbon);
- Hợp chất hữu cơ phospho (este axit phosphoric);
- Thuốc diệt nấm hữu cơ (dithiocarbamat);
- Thuốc diệt nấm qua rễ (benzimidazoles);
- Kháng sinh (sản phẩm từ vi sinh vật)
- Các loại khác (Arsennicals, thioureas)
- Ức chế sinh trưởng (hợp chất quatermary);
- Kích thích đâm chồi (Carbamates);
- Kích thích rụng quả (cyclohexmide)
(Nguồn: Lê Huy Bá, Lâm Minh Triết, 2000) c) Phân loại theo nhóm độc
Qua nghiên cứu ảnh hưởng của chất độc lên cơ thể chuột, các chuyên gia
về độc học đã đưa ra 5 nhóm độc theo tác động của độc tố qua đường miệng và qua da Tất cả các loại HCBVTV đều độc với người và động vật máu nóng, tuy nhiên mức độ gây độc đối với mỗi loại khác nhau và tùy theo cách xâm nhập vào cơ thể
Các loại HCBVTV thường bền vững ở nhiệt độ thường nhưng dễ bị kiềm thủy phân Chúng không bị phân hủy sinh học, tích tụ trong các mô mỡ
Trang 17và khuếch đại sinh học trong chuỗi thức ăn sinh học từ phiêu sinh vật đến các loài chim nồng độ tăng lên trên hàng triệu lần (Tổng cục Môi trường, 2015)
* Độc tính cấp tính
Độc tính của thuốc BVTV được thể hiện bằng LD50 (Lethal dose 50) là liều lượng cần thiết gây chết 50% cá thể thí nghiệm và tính bằng đơn vị mg/kg trọng thể Độ độc cấp tính của thuốc BVTV dạng hơi được biểu thị bằng nồng
độ gây chết trung bình LC50 (Lethal concentration 50), tính theo mg hoạt chất/m3 không khí LD50 hay LC50 càng nhỏ thì độ độc càng cao (Tổng cục Môi trường, 2015)
* Độc tính mãn tính
Mỗi loại hóa chất trước khi được công nhận là thuốc BVTV phải được kiểm tra về độ độc mãn tính, bao gồm: khả năng gây tích lũy trong cơ thể người và động vật máu nóng, khả năng kích thích tế bào khối u ác tính, ảnh hưởng của hóa chất đến bào thai và khả năng gây dị dạng đối với thế hệ sau Thường xuyên làm việc và tiếp xúc với thuốc BVTV cũng có thể nhiễm độc mãn tính Biểu hiện nhiễm độc mãn tính cũng có thể giống với các bệnh lý thường khác như: da xanh, mất ngủ, nhức đầu, mỏi cơ, suy gan, rối loạn tuần hoàn,… (Tổng cục Môi trường, 2015)
Bảng 1.2 Phân loại nhóm độc theo Tổ chức Y tế thế giới
(LD50mg/kg chuột)
nhóm độc
Màu sắc quy ước
Trang 18Bảng 1.3 Phân loại độ độc thuộc BVTV ở Việt Nam
và các biểu tượng về độ độc ghi trên nhãn
Nhóm
độc
Chữ đen
Hình tượng (đen)
Vạch Màu
LD50 đối với chuột (mg/kg) Qua miệng Qua da Thể
rắn
Thể lỏng
Thể rắn
Thể lỏng
Nhóm
độc I
Rất độc
Đầu lâu xương chéo
>100 – 1000
> 400 – 4
000
Nhóm
độc III
Nguy hiểm
Đường chéo không liền nét trong hình thoi vuông trắng
Xanh nước biển
500 –
2000
> 2000 – 3000 >1000 >4000 Cẩn
Bảng 1.4 Phân loại thuốc BVTV theo thời gian phân hủy
Các hợp chất hữu cơ chứa kim loại: Thủy ngân, Asen … Loại này đã bị cấm sử dụng
(Nguồn: Tổng cục Môi trường, 2015)
Trang 191.1.2 Ảnh hưởng của HCBVTV đến môi trường
Tác động của HCBVTV lên môi trường là do những tính chất chủ yếu sau: dễ bay hơi, dễ hoà tan trong nước và dung môi, bền với quá trình biến đổi sinh học
HCBVTV khi được phun hay rải trên đối tượng một phần sẽ được đưa vào cơ thể động, thực vật Qua quá trình hấp thu, sinh trưởng, phát triển hay qua chuỗi thức ăn, HCBVTV sẽ được tích tụ trong nông phẩm hay tích lũy, khuếch đại sinh học Một phần khác sẽ rơi vãi ngoài đối tượng, sẽ bay hơi vào môi trường hay bị cuốn trôi theo nước mưa, đi vào môi trường đất, nước, không khí gây ô nhiễm môi trường
Môi trường thành phần như đất, nước, không khí là một hệ thống hoàn chỉnh có sự tương tác và tương hỗ lẫn nhau Sự ô nhiễm của môi trường này sẽ tác động đến môi trường xung quanh và ngược lại
Hình 1.1 Chu trình phát tán HCBVTV trong hệ sinh thái nông nghiệp
(Nguồn Tổng cục môi trường, 2015)
Trang 201.1.2.1 Tác động đến môi trường đất
Đất canh tác là nơi tập trung nhiều dư lượng HCBVTV HCBVTV đi vào trong đất do các nguồn: phun xử lý đất, các hạt thuốc BVTV rơi vào đất, theo mưa lũ, theo xác sinh vật vào đất Theo kết quả nghiên cứu thì phun thuốc cho cây trồng có tới 50% số thuốc rơi xuống đất, ngoài ra còn có một số thuốc rải trực tiếp vào đất Khi vào trong đất một phần thuốc trong đất được cây hấp thụ, phần còn lại thuốc được keo đất giữ lại Thuốc tồn tại trong đất dần dần được phân giải qua hoạt động sinh học của đất và qua các tác động của các yếu
tố lý, hóa Tuy nhiên tốc độ phân giải chậm nếu thuốc tồn tại trong môi trường đất với lượng lớn, nhất là trong đất có hoạt tính sinh học kém Những khu vực chôn lấp HCBVTV thì tốc độ phân giải còn chậm hơn nhiều Thời gian tồn tại của thuốc trong đất dài hay ngắn tùy thuộc vào nhiều yếu tố môi trường Tuy nhiên, một chỉ tiêu thường dùng để đánh giá khả năng tồn tại trong đất của thuốc là “thời gian bán phân hủy”, tính từ khi thuốc được đưa vào đất cho tới khi một nửa lượng thuốc bị phân và được biều thị bằng DT50, người ta còn dùng các trị số DT75, DT90 là thời gian để 75% và 90% lượng thuốc bị phân hủy trong đất Lượng thuốc BVTV, đặc biệt là nhóm Clo tồn tại quá lớn trong đất mà lại khó phân hủy nên chúng có thể tồn tại trong đất gây hại cho thực vật trong nhiều năm Sau một khoảng thời gian nó sinh ra một hợp chất mới, thường có tính độc cao hơn bản thân nó Ví dụ: sản phẩm tồn lưu của DDT trong đất là DDE cũng có tác dụng như thuốc trừ sâu nhưng tác hại đối với sự phát triển của phôi bào trứng chim độc hơn DDT từ 2-3 lần Loại thuốc Aldrin cũng đồng thời với DDT, có khả năng tồn lưu trong môi trường sinh thái đất và cũng tạo thành sản phẩm “Dieldrin” mà độc tính của nó cao hơn Aldrin nhiều lần Thuốc diệt cỏ 2.4-D tồn lưu trong môi trường sinh thái đất và cũng có khả năng tích lũy trong quả hạt cây trồng Các thuốc trừ sâu dẫn xuất từ EDBC (acid etylen bisdithoacarbamic) như maned, propioned không có tính độc cao đối với động vật máu nóng và không tồn tại lâu trong môi trường nhưng dư
Trang 21lượng của chúng trên nông sản như khoai tây, cà rốt,… dưới tác dụng của nhiệt
độ có thể tạo thành ETV (etylenthioure), mà ETV, qua ngiên cứu cho chuột ăn gây ung thư và đẻ ra chuột con quái thai
Bảng 1.5 Thời gian tồn lưu của HCBVTV trong đất
Trang 22Nhiều thuốc bảo vệ thực vật có thể tồn lưu lâu dài trong đất, ví dụ DDT
và các chất clo hữu cơ sau khi đi vào môi trường sẽ tồn tại ở các dạng hợp chất liên kết trong môi trường, mà những chất mới thường có độc tính hơn hẳn, xâm nhập vào cây trồng và tích luỹ ở quả, hạt, củ sau đó di truyền theo thực phẩm đi vào gây hại cho người, vật như ung thư, quái thai, đột biến gen
Khi thuốc bảo vệ thực vật (chủ yếu là nhóm lân hữu cơ) xâm nhập vào môi trường đất làm cho tính chất cơ lý của đất giảm sút (đất cứng), cũng giống như tác hại của phân bón hoá học dư thừa trong đất Do khả năng diệt khuẩn cao nên thuốc bảo vệ thực vật đồng thời cũng diệt nhiều vi sinh vật có lợi trong đất, làm hoạt tính sinh học trong đất giảm Ở trong đất HCBVTV tác động vào khu hệ VSV đất, giun đất và những động vật khác làm hoạt động của chúng giảm, chất hữu cơ không được phân huỷ, đất nghèo dinh dưỡng
1.1.2.2 Tác động đến môi trường nước
HCBVTV có thể trực tiếp đi vào nước do phun hoặc xử lý nước bề mặt với HCBVTV để tiêu diệt một số sinh vật truyền bệnh cho người; thải bỏ HCBVTV thừa sau khi phun; nước dùng để cọ rửa thiết bị phun được đổ vào sông, hồ, ao, ngòi; cây trồng được phun ngay ở bờ nước; rò rỉ hoặc đất được
xử lý bị xói mòn
Theo chu trình tuần hoàn của HCBVTV, thuốc tồn tại trong môi trường đất sẽ rò rỉ ra sông ngồi theo các mạch nước ngầm hay do quá trình rửa trôi, xói mòn khiến đất bị nhiễm thuốc trừ sâu Mặt khác, khi sử dụng thuốc BVTV, nước có thể bị nhiễm thuốc trừ sâu nặng nề do nông dân đổ háo chất dư thừa, chai lọ chứa hóa chất, nước súc rửa, điều này có ý nghĩa đặc biệt nghiêm trọng khi các nông trường vườn tược lớn nằm kề sông bị xịt thuốc xuống ao hồ
Trong nước, thuốc BVTV có thể tồn tại ở các dạng khác nhau và đều có thể ảnh hưởng đến môi trường Tác động của nó đối với sinh vật là: hòa tan, bị hấp thụ bởi các thành phần vô sinh hoặc hữu sinh và lơ lửng trong nguồn nước
Trang 23hoặc lắng xuống đáy và tích tụ trong cơ thể sinh vật các chất hòa tan trong nước dễ bị sinh vật hấp thụ Các chất kỵ nước có thể lắng xuống bùn, đáy ở dạng keo, khó bị sinh vật hấp thụ Tuy nhiên, có một số sinh vật đáy có thể sử dụng chúng qua đường tiêu hóa hay hô hấp có chất có thể trở thành trầm tích đáy để rồi có thể tái hoạt động khi lớp trầm tích bị xáo trộn có chất có thể tích
tụ trong cơ thể sinh vật tại các mô khác nhau, qua quá trình trao đổi chất và thải trở lại môi trường nước qua con đường bài tiết
Thuốc bảo vệ thực vật tan trong nước có thể tồn tại bền vững và duy trì được đặc tính lý hóa của chúng trong kì di chuyển và phân bố trong môi trường nước các chất bền vững có thể tích tụ trong môi trường nước đến mức gây độc
Thuốc BVTV khi xâm nhập vào môi trường nước chúng phân bố rất nhanh theo nước Ngoài nguyên nhân kể trên do thiên nhiên và ý thức cũng như hiểu biết của người dân, một trong các nguyên nhân mà thuốc BVTV có thể xâm nhập thẳng vào môi trường nước đó là do việc kiểm soát cỏ dại dưới nước, tảo, đánh bắt cá và các động vật không xương sống và côn trùng độc mà con người không mong muốn Ngoài ra, lộ trình chính mà thuốc BVTV có thể xâm nhập vào môi trường nước đó là sự rửa trôi các cánh đồng do hoạt động nông nghiệp và các đồng cỏ (Tổng cục Môi trường, 2015)
1.1.2.3 Tác động đến môi trường không khí
Khi phun thuốc BVTV, không khí bị ô nhiễm dưới dạng bụi, hơi Dưới tác động của ánh sáng, nhiệt, gió… và tính chất hóa học, thuốc BVTV có thể lan truyền trong không khí Lượng tồn trong không khí sẽ khuếch tán, có thể dichuyển xa và lắng đọng vào nguồn nước mặt ở nơi khác gây ô nhiễm môi trường Rất nhiều loại hoá chất BVTV có khả năng bay hơi và thăng hoa, ngay
cả hóa chất có khả năng bay hơi ít như DDT cũng có thể bay hơi vào không khí, đặc biệt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm nó có thể vận chuyển đến những khoảng cách xa, đóng góp vào việc ô nhiễm môi trường không khí
Trang 241.1.2.4 Ảnh hưởng của HCBVTV lên con người và động vật
Ngoài tác dụng diệt dịch bệnh, các loại cỏ và sâu bệnh phá hoại mùa màng, dư lượng HCBVTV cũng đã gây nên các vụ ngộ độc cấp tính và mãn tính cho người tiếp xúc và sử dụng chúng, và cũng là nguyên nhân sâu xa dấn đến những căn bệnh hiểm nghèo Các độc tố trong HCBVTV xâm nhập vào rau quả, cây lương thực, thức ăn gia súc và động vật sống trong nước rồi xâm nhập vào các loại thực phẩm, thức uống như: thịt cá, sữa, trứng,… Một số loại HCBVTV và hợp chất của chúng qua xét nghiệm cho thấy có thể gây quái thai và bệnh ung thư cho con người và gia súc Con đường lây nhiễm độc chủ yếu là qua ăn, uống (tiêu hóa) 97,3%, qua da và hô hấp chỉ chiếm 1,9%
và 1,8% Thuốc gây độc chủ yếu là Wolfatox (77,3%), sau đó là 666 (14,7%) và DDT (8%)
Biểu hiện tác động gây bệnh của TBVTV trên người và động vật
Hình 1.2 Tác hại của HCBVTV đối với con người
(Nguồn: Tổng cục Môi trường, 2009)
Thông thường, các loại HCBVTV xâm nhập vào cơ thể con người và động vật chủ yếu từ 3 con đường sau:
- Hấp thụ xuyên qua các lỗ chân lông ngoài da;
Nhiễm
ứng
Sinh bào non
Mãn
tính
Bán cấp tính
Cấp tính
Độc bào thai
Độc sinh học
Độc đột biến
U
ác
U lành
Trang 25- Đi vào thực quản theo thức ăn hoặc nước uống;
- Đi vào khí quản qua đường hô hấp
Bảng 1.7 Các triệu chứng khi nhiễm HCBVTV ở con người
1 Hội chứng
về thần kinh
Rối loạn thần kinh trung ương, nhức đầu, mất ngủ, giảm trí nhớ Rối loạn thần kinh thực vật như ra mồ hôi Ở mức độ nặng hơn có thể gây tổn thương thần kinh ngoại biên dẫn đến tê liệt, nặng hơn nữa có thể gây tổn thương não bộ, hội chứng nhiễm độc não thường gặp nhất là do
thủy ngân hữu cơ sau đó là đến lân hữu cơ và Clo hữu cơ
2 Hội chứng
về tim mạch
Co thắt ngoại vi, nhiễm độc cơ tim, rối loạn nhịp tim, nặng là suy tim, thường là do nhiễm độc lân hữu cơ, clo hữu cơ và Nicotin
3 Hội chứng
hô hấp
Viêm đường hô hấp, thở khò khè, viêm phổi, nặng hơn
có thể suy hô hấp cấp, ngừng thở, thường là do nhiễm độc lân hữu cơ, clo hữu cơ
4
Hội chứng
tiêu hóa – gan
mật
Viêm dạ dày, viêm gan, mật, co thắt đường mật, thường
là do nhiễm độc clo hữu cơ, carbamat, thuốc vô cơ chứa
(Nguồn Tổng cục Môi trường, 2015)
Ngoài 5 hội chứng kể trên, nhiễm độc do thuốc BVTV còn có thể gây ra tổn thương đến hệ tiết niệu, nội tiết và tuyến giáp
Trang 26HCBVTV thường là các chất hóa học có độc tính cao, nên mặt trái của HCBVTV là rất độc hại đối với sức khỏe của con người, sức khỏe cộng đồng
và là đối tượng có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nếu không được quản lý chặt chẽ Dư lượng HCBVTV quá giới hạn cho phép trong nông sản, thực phẩm là mối đe dọa đối với sức khỏe con người Đây là vấn đề nhức nhối hiện nay của xã hội về an toàn vệ sinh thực phẩm, đặc biệt là trong quản lý sử dụng HCBVTV đối với rau, củ quả
HCBVTV cơ clo hữu cơ thường có khả năng chống lại sự thoái hoá, do
đó chúng có thể tồn tại lâu dài trong môi trường Chúng có thể tích tụ trong mô
mỡ của động vật và tích tụ dần qua chuỗi thức ăn Vì thế, có thể thấy những tác động nguy hại của chúng ở những mắt xích cao nhất của chuỗi thức ăn, như các loài chim săn mồi hay con người Đây là lý do chủ yếu tại sao việc sử dụng loại HCBVTV này càng ngày càng bị ngăn cấm, đặc biệt là ở các nước công nghiệp hoá Hầu hết các quốc gia đều cấm việc sản xuất và sử dụng các loại hóa chất này, tuy nhiên một số quốc gia khác vẫn tiếp tục sản xuất ở mức độ hạn chế với mục đích y tế, tuy nhiên việc kiểm soát chặt chẽ được hay không vẫn là dấu hỏi lớn
Quá trình nhiễm độc rất khó tránh vì điều kiện ở một số nước khiến cho việc mặc quần áo bảo hộ hay đeo mặt nạ là không thể thực hiện được Trong những tình huống như vậy, việc thay quần áo sau khi phun HCBVTV có thể giảm thiểu các rủi ro do HCBVTV gây ra
* Nguy cơ liên quan đến chế độ ăn uống
Khi HCBVTV được sử dụng với nồng độ lớn và với mức độ thường xuyên hay vào thời điểm gần thu hoạch, lượng hóa chất tồn dư rất cao trong các sản phẩm thu được Người tiêu dùng do đó cũng có nguy cơ bị nhiễm độc cao Nước uống cũng có thể bị ô nhiễm, dù đó là ô nhiễm trực tiếp từ hệ thốngđường cấp nước hay do sử dụng chung thùng chứa và vận chuyển nước uống với HCBVTV Một nguy cơ lớn, đặc biệt ở các nước đang phát triển, là
Trang 27các bữa ăn kiêng với lượng protein thấp có thể làm tăng độ mẫn cảm của con người với những tác động của một loại HCBVTV nào đó
* Nhiễm độc hóa chất trừ sâu do nghề nghiệp
Công nhân làm việc tại nông trại và các nhà máy sản xuất HCBVTV đặc biệt chịu rủi ro nhiễm độc do tiếp xúc với các loại hóa chất này Những rủi ro như vậy thường xảy ra ở các nước đang phát triển, nơi mà những nguy cơ ít được hiểu rõ và các quy định về an toàn và sức khoẻ không nghiêm ngặt hoặc
là ít có hiệu lực
Việc nhiễm độc HCBVTV qua đường tiêu hoá có thể xảy ra ngẫu nhiên khi người nông dân ăn, uống hay hít thở phải hóa chất khi đang phun HCBVTV hoặc sau khi phun hóa chất một thời gian ngắn mà không rửa tay Nhiễm độc HCBVTV qua đường hô hấp dễ xảy ra khi phun hóa chất không có mặt nạ bảo vệ Đồng thời, HCBVTV có thể hấp thụ qua da nếu người phun để da và quần áo ẩm ướt trong khi phun hóa chất, trộn các loại hóa chất BVTV bằng tay không hay đi chân trần trên những cánh đồng khi đang phun hóa chất Mặc dù nhiễm độc HCBVTV qua đường tiêu hoá là nguy hiểm nhất nhưng hai hình thức nhiễm độc còn lại phổ biến hơn đối với những trường hợp nhiễm độc do nghề nghiệp của người nông dân ở các nước đang phát triển bởi họ không nhận thức được những rủi ro đặc biệt này
* Nhiễm độc cấp tính và mãn tính
Các loại HCBVTV có thể gây ảnh hưởng cấp tính và mãn tính đến sức khoẻ con người, tuỳ thuộc vào phạm vi ảnh hưởng của hóa chất Nhiễm độc cấp tính là do nhiễm một lượng hoá chất cao trong thời gian ngắn Những triệu chứng nhiễm độc tăng tỉ lệ với việc tiếp xúc và trong một số trường hợp nặng
có thể dẫn tới tử vong Ngược lại, nhiễm độc mãn tính xảy ra khi một người nhiễm nhiều lần độc tố trong thời gian dài nhưng chỉ nhiễm liều lượng nhỏ vào
cơ thể mỗi lần Thông thường, không có triệu chứng nào xuất hiện ngay trong mỗi lần nhiễm (mặc dù điều đó có thể xảy ra) Thay vào đó, bệnh nhân sẽ mệt mỏi từ từ một thời gian trong nhiều tháng hay nhiều năm Điều này xảy ra khi
Trang 28độc tố tích tụ trong tế bào cơ thể và gây ra những tổn hại nhỏ vĩnh viễn qua mỗi lần nhiễm Sau một thời gian dài, một lượng chất độc lớn tích tụ trong cơ thể (hoặc các tổn hại trở nên đáng kể) sẽ gây ra các triệu chứng lâm sàng
Các triệu chứng nhiễm độc cấp tính phụ thuộc vào cả độc tính của sản phẩm và lượng độc hấp thụ Ví dụ, ảnh hưởng của HCBVTV bị cấm cholinesterase nhiễm qua đường hô hấp gồm: tê liệt, ngứa, thiếu khả năng điều phối cáccơ quan trong cơ thể, đau đầu, chóng mặt, rùng mình, buồn nôn, chuột rút ở vùng bụng, đổ mồ hôi, giảm khả năng thị lực, khó thở hay suy hô hấp và tim đập chậm Lượng hóa chất cao có thể gây ra bất tỉnh, co giật và chết Nhiễm độc cấp tính có thể kéo dài trong vòng 4 tuần và gồm các triệu chứng chuột rút ở 2 chi dưới, dẫn đến thiếu khả năng điều phối và chứng liệt Tình trạng sức khoẻ có thể được cải thiện sau vài tháng hay vài năm nhưng một số
di chứng có thể kéo dài
* Hỗn hợp các hoá chất
Khi các hoá chất được trộn lẫn một cách thiếu kiểm soát, tác động sẽ rất khó lường Các hoá chất có cùng hoạt tính (ví dụ các loại HCBVTV cholinesterase bị cấm) sẽ làm tăng độc tính do được cộng dồn lại, mặc dù nếu tách riêng từng loại, chúng chưa bị coi là nguy hiểm Tệ hại hơn là trường hợp hai hay nhiều hoá chất cộng hưởng độc tính, khi đó tác động sẽ lớn gấp nhiều lần so với những độc tính do cộng dồn đơn thuần Một ví dụ kinh điển là sự kết hợp giữa khói thuốc lá và amiăng Những người hút thuốc lá có nguy cơ chết
do bệnh ung thư phổi cao gấp 10 lần những người không hút thuốc lá Tương
tự những người nhiễm amiăng có nguy cơ chết do ung thư phổi cao gấp 5 lần
so với người không nhiễm Tuy nhiên, người mắc cả hai loại khói thuốc lá và amiăng sẽ có rủi ro gấp 80 lần so với người không nhiễm, chứ không phải là
15 lần Kiểu tác động này có thể xảy ra trong trường hợp một hoá chất làm giảm sức đề kháng của cơ thể con người đối với một loại hoá chất khác, chẳng hạn như cho phép các chất này xâm nhập vào máu não, hoặc ngăn cản các cơ chế giải độc của cơ thể Những nghiên cứu trên động vật đã chỉ ra rằng khi 2 hay
Trang 29nhiều loại HCBVTV nhóm lân hữu cơ được hấp thụ đồng thời, các enzyme thúc đẩy quá trình phân rã một loại HCBVTV này có thể bị ngăn cản hoạt động bởi loại HCBVTV khác Chẳng hạn, HCBVTV malathion ít độc hại bởi chúng nhanh chóng bị phân rã bởi emzyme carboxylesterase Tuy nhiên, EPN (ethyl p-nitrophenolbenzenethiophosphonate), một hợp chất lân hữu cơ khác, có thể làm tăng độc tính của malathion do ngăn cản loại enzyme này hoạt động
* Nguy cơ đối với trẻ em
Trong giai đoạn phát triển, cơ thể nhạy cảm hơn đối với các phản ứng do hoá chất phá vỡ tuyến nội tiết bởi vì một loạt các mô tách biệt dễ tổn thương trước sự thay đổi mức độ hoóc môn Do đó, trẻ em có nguy cơ mắc bệnh do nhiễm độc cao hơn so với người lớn
Trẻ em cũng có những nguy cơ bị nhiễm HCBVTV Chẳng hạn, trứng hoặc tinh trùng của thế hệ bố, mẹ bị nhiễm HCBVTV có thể truyền sang con Cũng như vậy, những bào thai đang phát triển có thể bị nhiễm HCBVTV từ máu mẹ do truyền qua nhau thai và trẻ em có thể bị nhiễm qua sữa mẹ khi sữa
mẹ chứa lượng HCBVTV vượt mức cho phép Mặc dù nhiễm độc qua sữa mẹ nhiều hơn so với thời kỳ phát triển trong tử cung song nhiễm độc trước khi sinh gây ra tổn hại cao hơn đến não và hệ thần kinh trung ương của bào thai vào giai đoạn đầu phát triển
Trẻ em có tỉ lệ bề mặt tiếp xúc với môi trường cao hơn ở người lớn Tính trung bình trên mỗi kg cơ thể, trẻ em uống nhiều nước hơn, ăn nhiều hơn và thở nhiều hơn Khi trẻ chơi gần mặt đất, chúng có thể bị nhiễm độc HCBVTV
từ đất Đồng thời, một số HCBVTV dạng hơi tạo thành một lớp khí tồn tại gần mặt đất Trẻ em thích tò mò khám phá và thường cho tay vào miệng nên duờng như dễ tiếp xúc trực tiếp và hấp thụ dư lượng HCBVTV vào cơ thể và đối tượng này cũng dễ bị tổn thương trước các tai nạn do HCBVTV không được cất giữ cẩn thận (chẳng hạn để vương vãi ở nơi chứa đồ ăn)
Trang 301.1.2.5 Ảnh hưởng của thuốc BVTV lên hệ sinh thái, quần xã sinh vật và con người
Thuốc bảo vệ thực vật ảnh hưởng đến quần thể sinh vật, các côn trùng
có ích giúp tiêu diệt các loài dịch hại (thiên địch) cũng bị tiêu diệt, hoặc yếu đi
do thuốc bảo vệ thực vật, hoặc di cư đi nơi khác do môi trường bị ô nhiễm do thiếu thức ăn do ta xử lý thuốc bảo vệ thực vật để trừ dịch hại Hậu quả là mất cân bằng hệ sinh thái Nếu côn trùng đối tượng quay trở lại thì dịch rất dễ xãy
ra do không còn thiên địch thống chế
Một số côn trùng có khả năng kháng thuốc sẽ duy truyền tính này cho thế hệ sau và như vậy hiệu lực của thuốc BVTV giảm muốn diệt sâu, lại phải gia tăng liều lượng thuốc sử dụng, điều này làm gia tăng dư lượng thuốc BVTV trên nông sản và môi trường ngày càng bị ô nhiểm hơn Mặt khác nông dân sẽ sử dụng các loại thuốc cấm sử dụng do có độ độc cao và tính tồn lưu lâu dài hoặc phối trộn nhiều thuốc BVTV làm tăng độ độc Thuốc BVTV làm tăng loài này và giảm loài kia, song nhìn chung làm giảm đa dạng sinh học (loài gia tăng đa số là loài gây hại)
Hình 1.3 Sơ đồ đường truyền thuốc BVTV vào môi trường và con người
(Nguồn https://hoc24.vn)
Trang 31- Luật Đa dạng sinh học, do Quốc hội thông qua ngày 16/11/2008;
- Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường Quy định về quản lý chất thải nguy hại;
- Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 5/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030;
- Quyết định số 2149/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chiến lược quốc gia quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm
2025 và tầm nhìn đến năm 2050;
- Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020;
- Thông tư liên tịch số 05/2016/TT-BNNPTNT-BTNMT ngày 16/5/2016 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc thu gom, vận chuyển và xử lý bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng
- Quyết định số 1282/QĐ-UBND, ngày 25/5/2011 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt Chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015, định hướng 2020;
- Quyết định số 635/QĐ-UBND ngày 03/4/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt Đề án bảo vệ và cải thiện môi trường nông nghiệp nông thôn đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 32Phần lớn các loại HCBVTV được sử dụng ở nước ta hiện nay có nguồn gốc từ nhập khẩu Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2014 về thực trạng và giải pháp quản lý thuốc BVTV nhập lậu cho thấy hàng năm Việt Nam nhập khẩu từ 70.000 đến 100.000 tấn thuốc BVTV, trong đó thuốc trừ sâu chiếm 20,4%, thuốc trừ bệnh chiếm 23,2%, thuốc trừ cỏ chiếm 44,4%, các loại thuốc BVTV khác như thuốc xông hơi, khử trùng, bảo quản lâm sản, điều hòa sinh trưởng cây trồng chiếm 12% (Cục Bảo vệ thực vật, 2015)
Chỉ tính riêng quý I năm 2018, Việt Nam đã nhập khẩu 41.060 tấn thuốc bảo vệ thực vật, trong đó thuốc trừ sâu 8.798 tấn, thuốc trừ bệnh 17.447 tấn, thuốc trừ cỏ 14.010 tấn, thuốc điều hòa sinh trưởng 805 tấn (Vibiz.vn, 2018)
Trang 33Hình 1.4: Cơ cấu nhập khẩu thuốc BVTV hàng năm tại Việt Nam (Tổng cục
Môi trường, 2015)
* Việc sử dụng thuốc BVTV ở nước ta tăng nhanh
Theo số liệu của cục BVTV trong giai đoạn 1981 - 1986 số lượng thuốc
sử dụng là 6,5 - 9,0 ngàn tấn thương phẩm, tăng lên 20 - 30 ngàn tấn trong giai đoạn 1991 - 2000 và từ 36 - 75,8 ngàn tấn trong giai đoạn 2001 - 2010 Lượng hoạt chất tính theo đầu diện tích canh tác (kg/ha) cũng tăng từ 0,3kg (1981 - 1986) lên 1,24 - 2,54kg (2001 - 2010) Giá trị nhập khẩu thuốc BVTV cũng tăng nhanh, năm 2008 là 472 triệu USD, năm 2010 là 537 triệu USD Số loại thuốc đăng ký sử dụng cũng tăng nhanh, trước năm 2000 số hoạt chất là 77, tên thương phẩm là 96, năm 2000 là 197, và 722, đến năm 2011 lên 1202 và 3108 Như vậy trong vòng 10 năm gần đây (2000 - 2011) số lượng thuốc BVTV sử dụng tăng 2,5 lần, số loại thuốc nhập khẩu tăng khoảng 3,5 lần Trong năm
2010 lượng thuốc Việt Nam sử dụng bằng 40% mức sử dụng TB của 4 nước lớn dùng nhiều thuốc BVTV trên thế giới (Mỹ, Pháp, Nhật, Brazin) trong khi GDP của nước ta chỉ bằng 3,3%GDP trung bình của họ! Số lượng hoạt chất đăng ký sử dụng ở Việt Nam hiện nay xấp xỉ 1000 loại trong khi của các nước trong khu vực từ 400 - 600 loại, như Trung Quốc 630 loại, Thái Lan, Malasia
Trang 34400 - 600 loại Sử dụng thuốc BVTV bình quân đầu người ở Trung Quốc là 1,2
kg, ở Việt Nam năm 2010 là 0.95 kg (Tổng cục Môi trường, 2015)
* Mạng lưới sản xuất kinh doanh thuốc BVTV tăng nhanh và khó kiểm soát Theo số liệu của cục BVTV, đến năm 2010 cả nước có trên 200 công ty SXKD thuốc BVTV, 93 nhà máy, cơ sở sản xuất thuốc và 28.750 cửa hàng, đại
lý buôn bán thuốc BVTV Trong khi hệ thống thanh tra BVTV rất mỏng, yếu,
cơ chế hoạt động rất khó khăn, 1 thanh tra viên năm 2010 phụ trách 290 đơn vị sản xuất buôn bán thuốc BVTV, 100.000ha trồng trọt sử dụng thuốc BVTV và
10 vạn hộ nông dân sử dụng thuốc BVTV Như vậy rõ ràng mạng lưới này là quá tải, rất khó kiểm soát
* Những tác động tiêu cực của thuốc BVTV
- Dư lượng thuốc BVTV trên nông sản là phổ biến và còn cao, đặc biệt trên rau, quả, chè…
Kết quả kiểm tra, năm 2000 - 2002 của cục BVTV cho thấy ở vùng Hà Nội số mẫu có dư lượng quá mức cho phép khá cao, trên rau, nho, chè từ 10%
- 26%, ở TPHCM từ 10 - 30% Mười năm sau, trên rau con số đó vẫn còn 10,2% - Thuốc BVTV làm tăng tính kháng thuốc của sâu bệnh, tiêu diệt ký sinh thiên địch, có thể gây bộc phát các dịch hại cây trồng Theo Phạm Bình Quyến - 2002, khi phu thuốc Padan trên lúa, nhóm thiên địch nhện lớn bắt mồi giảm mật độ 13 lần trong khi không phun tăng 25 lần Điều tra tổng số loài thiên địch ở vùng chè Thái Nguyên nơi không sử dụng thuốc trừ sâu nhiều gấp 1,5 - 2 lần so với nơi có sử dụng thuốc Sâu tơ hại rau kháng 24 loại thuốc - Sử dụng nhiều thuốc tác động xấu đến môi trường, gây ô nhiễm đất và nước không khí ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Theo thống kê cả nước hiện còn tồn đọng trên 706 tấn thuốc cần tiêu hủy và 19.600 tấn rác bao bì thuốc bảo vệ thực vật chưa được thu gom và xử lý, hàng năm phát sinh mới khoảng 9.000 tấn
* Những tồn tại, hạn chế, thiếu sót trong việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Trang 35- Sử dụng thuốc quá nhiều, quá mức cần thiết Theo Phạm Văn Lầm -
2000, số lần phun thuốc bảo vệ thực vật cho chè ở Thái Nguyên từ 6,2 đến 29,7 lần/ năm, cho lúa ở đồng bằng sông Hồng từ 1 - 5 lần/ vụ, ở đồng bằng sông Cửu Long từ 2 - 6 lần/ vụ, trên 6 lần có 35,6% hộ Số lần phun cho rau từ 7 - 10 lần/ vụ
ở đồng bằng sông Hồng, ở Thành phố Hồ Chí Minh 10 - 30 lần Một kết quả điều tra năm 2010 (Bùi Phương Loan - 2010) ở vùng rau đồng bằng sông Hồng cho thấy số lần phun thuốc bảo vệ thực vật từ 26 - 32 lần (11,1 - 25,6 kg ai/ha) trong 1 năm Số lần phun như trên là quá nhiều, có thể giảm 45 - 50% (Ngô Tiến Dũng, Nguyễn Huân, Trương Quốc Tùng 2002, 2010)
- Sử dụng thuốc khi thiếu hiểu biết về kỹ thuật Theo Đào Trọng Ánh -
2002, chỉ có 52,2% cán bộ kỹ thuật nông nghiệp - khuyến nông cơ sở hiểu đúng kỹ thuật sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, tỷ lệ này ở người bán thuốc là 33% ở nông dân 49,6%
- Sử dụng thuốc quá liều lượng khuyến cáo, tùy tiện hỗn hợp khi sử dụng
Kết quả điều tra năm 2002 (Đào Trọng Ánh) chỉ có 22,1 - 48% nông dân
sử dụng đúng nồng độ liều lượng thuốc trên lúa, 0 - 26,7% trên rau và 34,1% trên chè, trong khi đó có nhiều nông dân tăng liều lượng lên gấp 3 - 5 lần Ở các tỉnh phía Nam, có tới 38,6% dùng liều lượng cao hơn khuyến cáo, 29,7% tự ý hỗn hợp nhiều loại thuốc khi phun Năm 2010, 19,59% nông dân cả nước vi phạm sử dụng thuốc, trong đó không đúng nồng độ là 73,2% (Cục Bảo
23,5-vệ thực vật)
- Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không tuân thủ thời gian cách ly
Đây là một tồn tại nguy hiểm, tác động trực tiếp đến vệ sinh an toàn thực phẩm song đáng tiếc là rất phổ biến, đặc biệt là ở các vùng rau quả, chè… có tới 35 - 60% nông dân chỉ thực hiện thời gian cách ly từ 1 - 3 ngày, 25 - 43,3% thực hiện cách ly 4 - 6 ngày trong khi phần lớn các loại thuốc có yêu cầu cách
ly từ 7 - 14 ngày hoặc hơn (Đinh Ngọc Ánh, 2002), năm 2010 trên diện rộng
Trang 36còn tới 10,22% nông dân không đảm bảo thời gian cách ly (Cục Bảo vệ thực vật, 2010)
- Coi trọng lợi ích lợi nhuận hơn tác động xấu đến môi trường, sức khỏe cộng đồng
Có một thực tế rất đáng lên án là một bộ phận nông dân cố tình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sai quy định pháp lý và kỹ thuật vì mục đích lợi nhuận của bản thân, xem nhẹ luật pháp và lợi ích cộng đồng Đặc biệt ở các vùng rau, quả, chè, hoa, nông sản có giá trị cao… Điều tra năm 2003 - 2005 tại Vĩnh Phúc, Hà Nội, có tới 20 - 88,8% số nông dân vẫn dùng thuốc cấm, thuốc ngoài danh mục Năm 2010, Cục BVTV cho biết còn 5,19% số hộ dùng thuốc cấm, ngoài danh mục, 10,22% không đúng thời gian cách ly, 51% không thực hiện theo khuyến cáo của nhãn
Như vậy có thể thấy, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở nước ta trong vòng 10 năm lại đây, bên cạnh những thành tựu và ưu điểm cũng còn nhiều tồn tại, thiếu sót, tác hại có nguyên nhân khách quan và chủ quan Trong đó có nguyên nhân chủ quan từ phía xây dựng, ban hành, thực hiện các chính sách quản lý và kỹ thuật và chủ quan từ phía thực hiện của người sản xuất nông nghiệp trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Theo nghiên cứu của Viện Môi trường Nông nghiệp Việt Nam, mỗi năm
có hàng nghìn tấn vỏ thuốc bảo vệ thực vật thải ra môi trường đồng ruộng do người dân sau khi sử dụng vứt bỏ bừa bãi Đây là loại chất thải rắn độc hại, gây ra những tác động xấu đối với môi trường đất, nước, không khí và sức khỏe cộng đồng
Một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng gia tăng ô nhiễm môi trường nông thôn là do chất thải rắn phát sinh từ việc lạm dụng thuốc bảo
vệ thực vật trong hoạt động trồng trọt Theo thống kê của ngành chức năng, từ năm 2000 đến nay, mỗi năm Việt Nam sử dụng khoảng từ 35 nghìn tấn đến hơn 100 nghìn tấn hóa chất bảo vệ thực vật
Trang 37Thông thường lượng bao bì chiếm khoảng 10% tổng số thuốc tiêu thụ, những năm gần đây, số lượng bao bì, vỏ đựng thuốc bảo vệ thực vật lên tới hơn chục nghìn tấn mỗi năm Chỉ tính riêng lượng phân bón hóa học sử dụng bình quân 80 kg đến 90 kg/ha, riêng cho lúa là từ 150 kg đến 180 kg/ha, đã làm phát sinh bao bì, túi đựng Bình quân tổng lượng phân bón vô cơ các loại sử dụng là vào khoảng 2,4 triệu tấn/năm, mỗi năm thải ra môi trường khoảng 240 tấn rác thải rắn nguy hại là bao bì, vỏ hộp thuốc các loại
Tại Việt Nam, tuy trình độ khoa học kỹ thuật cũng như điều kiện nghiên cứu về rủi ro chưa được đáp ứng đầy đủ nhưng cũng đã có một số nghiên cứu, đánh giá về ảnh hưởng TBVTV đến môi trường và sức khỏe con người và xây dựng các biện pháp để hạn chế ảnh hưởng TBVTV đến môi trường và con người
Một nghiên cứu rất đáng chú ý vào năm 1998 của K.L.Heong, M.M.Escalada, N.H.Huan, V Mai là sử dụng các phương tiện thông tin truyền thông để nâng cao nhận thức của người dân trong việc sử dụng TBVTV và dùng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp để bảo vệ cây trồng, hạn chế ô nhiễm môi trường cũng như giảm rủi ro đến sức khỏe người dân Tuy nhiên,
do vấn đề môi trường ở Việt Nam lúc bấy giờ chưa được quan tâm nên mô hình này chưa được áp dụng rộng rãi
Theo như nghiên cứu của Nguyễn Ngài Huân và Đào Trọng Anh năm
2001, người sử dụng TBVTV thường bỏ qua những rủi ro, hướng dẫn an toàn
và các biện pháp bảo vệ cần thiết, do đó thường dẫn đến những tác động xấu đến sức khỏe Theo như tài liệu thu thập được, 11% của tất cả các ca ngộ độc ở trong nước là do TBVTV (khoảng 840 ca ngộ độc tại 53 tỉnh, thành phố trong năm 1999) TBVTV sử dụng trong sản xuất nông nghiệp đã dẫn đến sự cắt giảm mạnh mẽ số lượng các sinh vật thủy sinh Sự gia tăng đáng báo động TBVTV phun trên cây ăn quả cũng đã có tác động đáng kể đến quần thể các sinh vật đất
Năm 2004, Trần Thị Ba, Nguyễn Bảo Vệ và Võ Thị Bích Thủy đã thực hiện nghiên cứu hiện trạng canh tác dưa hấu trong mùa mưa ở đồng bằng sông
Trang 38Cửu Long Nghiên cứu được thực hiện bằng phiếu điều tra với 61, 114 và 72 nông hộ tương ứng ở các tỉnh Cần Thơ, Tiền Giang và Trà Vinh Kết quả cho thấy có hàng trăm loại thuốc trừ sâu sử dụng trong sản xuất dưa hấu, trung bình phun 8-9 lần/vụ, chỉ có 14,2% nông hộ áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp
Nghiên cứu ảnh hưởng của TBVTV đối với sức khỏe con người là rất cần thiết Năm 2006, một nghiên cứu về khả năng, mức độ tích tụ TBVTV trong cơ thể con người khi tiếp xúc với thuốc đã được Phạm Bích Ngân và Đinh Xuân Thắng tiến hành Phương pháp y – sinh học đã được sử dụng trong nghiên cứu này Máu được lấy ở tĩnh mạch để tiến hành phân tích men Cholinesterase trong huyết tương (chỉ tiêu để xem xét khả năng nhiễm thuốc BVTV gốc lân hữu cơ) đối với người phun thuốc Trên cơ sở đó đánh giá khả năng nhiễm độc thuốc BVTV khi tiếp xúc, hít thở và các triệu chứng bệnh tật đối với con người
Năm 2008, Hệ thống hành động chống thuốc trừ sâu khu vực châu Á Thái Bình Dương PAN đã tiến hành phỏng vấn hơn 1.000 nông dân ở 8 quốc gia châu Á (trong đó có Việt Nam) và kết quả này được thể hiện trong báo cáo dài 156 trang với tựa đề Các cộng đồng lâm nguy: báo cáo khu vực châu Á về việc dùng thuốc trừ sâu đặc biệt nguy hiểm, trong đó nêu đến 66% thành phần chính của các loại này đang dùng ở châu Á nằm trong danh mục “rất nguy hiểm” Nghiên cứu của PAN tại Việt Nam được thực hiện ở xã Vĩnh Hanh, huyện Châu Thành (tỉnh An Giang) với sự hỗ trợ của Đại học An Giang và tại
xã Hải Vân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định với sự hỗ trợ của Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển (CGFED) Nhóm nông dân được hỏi là những người đang trồng lúa và rau củ Nghiên cứu cho thấy 28% số nông dân tại An Giang và 60% số nông dân tại Nam Định được hỏi cho biết đã gặp những vấn đề về sức khỏe liên quan đến thuốc trừ sâu sau khi phun xịt hoặc sống gần nơi có thuốc trừ sâu Những dấu hiệu sức khỏe nông dân thường gặp là nhức đầu, choáng, nổi mẩn ngứa, mệt, đau nhức
Trang 39người Nghiên cứu của PAN tại Việt Nam cũng cho thấy phần lớn nông dân biết thuốc trừ sâu độc hại cho sức khỏe, nhưng nhìn chung họ vẫn chưa được hướng dẫn bảo hộ hoặc không có điều kiện trang bị công cụ bảo hộ để phòng
vệ cho sức khỏe của mình
Do việc sử dụng TBVTV tràn lan, không đúng cách nên dẫn đến việc gây ô nhiễm môi trường đất, nước, Năm 2006, trong một nghiên cứu Ja Ming đã cho thấy dư lượng TBVTV DDT trong đất tại huyện Cẩm Khê, Phú Thọ bằng 1,56 mg/kg, ở Thanh Sơn, Phú Thọ là 30 mg/kg, huyện Diễn Châu, Nghệ An vượt ngưỡng tới mức từ 15 đến 2.800 mg/kg Sự tích tụ hóa chất này trong đất thấm vào nguồn nước ngầm làm cho nước giếng nhiễm TBVTV, ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt và đây cũng là một trong những nguyên nhân gây bệnh ung thư tại các làng xã tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Phú Thọ, Tuyên Quang
Nước thải thuốc trừ sâu là một trong số các nguồn thải độc hại, khó xử
lý bởi thành phần nước thải chứa các hợp chất hữu cơ mạch vòng nhóm clo, nhóm P khó phân hủy sinh học Năm 2008, PGS.TS Nguyễn Văn Phước cùng nhóm nghiên cứu Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh đã nghiên cứu và đưa
ra một mô hình xử lý mới bằng cách đưa nước thải qua bể lọc sinh học kị khí với vật liệu đệm là sơ dừa Chỉ tiêu cần chú ý của nước thải khi qua bể lọc này
là chỉ tiêu về COD, pH Sau đó nước thải được tiếp tục đưa qua bể bùn hoạt tính rồi bùn sinh học hiếu khí và cuối cùng là bể oxy hóa Tại đây tiếp tục dùng
hệ chất fenton để oxy hóa mẫu nước thải sau keo tụ, xác định lượng FeSO4 và H2O2 thích hợp Kết quả cho thấy nước thải qua bể lọc kỵ khí độ pH biến động, COD giảm dần Điều này chứng tỏ sinh vật đã thích nghi dần và có hiệu quả Đặc biệt quá trình kiềm hóa giảm 30-50% COD, quá trình sinh học xử lý 94,8% COD còn lại Tiếp đến quá trình hóa học xử lý triệt để các chất ô nhiễm, nước sau xử lý đạt tiêu chuẩn nước thải
Để hạn chế TBVTV gây độc cho môi trường và sức khỏe con người, nhiều TBVTV có nguồn gốc sinh học đã được Viện Bảo vệ thực vật cùng một
số cơ quan phối hợp đã tiến hành nghiên cứu và đã đưa đưa xuống một số địa
Trang 40phương ứng dụng: Công nghệ sản xuất và sử dụng một số loài ong ký sinh mắt
đỏ Trichogramma để trừ sâu cuốn lá loại nhỏ, sâu đục thân ngô, mía, lúa, sâu
đo hại đay, sâu bông, sâu đậu đỗ Công nghệ sản xuất bọ mắt vàng (Chrysopa),
bọ rùa (Cocinellidae) ăn rệp, nhện ăn thịt Công nghệ sản xuất và sử dụng thuốc trừ sâu vi sinh vật trên cơ sở tạo bào tử mang tinh thể độc tố Endotoxin của vi khuẩn Bacillus thuringiensis trừ sâu tơ, sâu xanh, sâu đo, sâu khoang ở một số rau chuyên canh của Hà Nội, Ðà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh Công nghệ sản xuất và sử dụng các chế phẩm nấm gây hại côn trùng như nấm trắng Beauveria bassiana, nấm xanh Metathizium anisopliae, Metathizium flavoviridae trừ sâu róm thông, rầy nâu hại lúa, sâu đo xanh hại đay, châu chấu hại ngô, mía, kiến vương hại dừa, đặc biệt là nấm Metathizium trừ châu chấu hại ngô mía ở miền Ðông Nam bộ Nấm Trichoderma và một số xạ khuẩn trừ bệnh hại cây trồng như bệnh héo rũ lạc, bệnh ngô vằn ngô, lúa
Về vấn đề nghiên cứu tại tỉnh Thái Nguyên
Theo Nguyễn Quang Mạnh, Trần Thế Hoàng (2011), khi nghiên cứu về
“Hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật ở người canh tác chè xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” cho thấy 55,0% người dân sau khi sử
dụng hóa chất bảo vệ thực vật đã rửa bình thuốc tại ao, hồ, sông, suối; 32,3% vứt vỏ bao bì, dụng cụ đựng hóa chất bảo vệ thực vật bừa bãi Tiềm ẩn nguy cơ hóa chất bảo vệ thực vật ảnh hưởng đến sức khỏe người dân trong quá trình canh tác chè Nhóm tác giả Nguyễn Thị Huyền Thu, Nguyễn Thị Hòa, Trần
Ngọc Ngoạn (2017) đã thực hiện nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp quản lý
bao bì chứa hóa chất bảo vệ thực vật tại tỉnh Thái Nguyên” Qua nghiên cứu,
nhóm tác giả đã kết luận rằng, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, thuốc BVTV được sử dụng khá đa dạng, khối lượng bao bì chứa HCBVTV phát sinh tương đối lớn, khoảng 300 tấn/năm Tuy nhiên, công tác quản lý bao bì chứa HCBVTV trên địa bàn tỉnh chưa thật sự được quan tâm, việc thu gom các loại bao bì chứa HCBVTV của các địa phương chưa đảm bảo và chưa đúng quy định Theo Nhóm phóng viên kinh tế của Báo Thái Nguyên (2017), khi điều