(Luận văn thạc sĩ) Bảo đảm quyền tố cáo của công dân từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng(Luận văn thạc sĩ) Bảo đảm quyền tố cáo của công dân từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng(Luận văn thạc sĩ) Bảo đảm quyền tố cáo của công dân từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng(Luận văn thạc sĩ) Bảo đảm quyền tố cáo của công dân từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng(Luận văn thạc sĩ) Bảo đảm quyền tố cáo của công dân từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng(Luận văn thạc sĩ) Bảo đảm quyền tố cáo của công dân từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng(Luận văn thạc sĩ) Bảo đảm quyền tố cáo của công dân từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng(Luận văn thạc sĩ) Bảo đảm quyền tố cáo của công dân từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng(Luận văn thạc sĩ) Bảo đảm quyền tố cáo của công dân từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng(Luận văn thạc sĩ) Bảo đảm quyền tố cáo của công dân từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng(Luận văn thạc sĩ) Bảo đảm quyền tố cáo của công dân từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng(Luận văn thạc sĩ) Bảo đảm quyền tố cáo của công dân từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng(Luận văn thạc sĩ) Bảo đảm quyền tố cáo của công dân từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ————————
HUỲNH THỊ THÚY TRANG
BẢO ĐẢM QUYỀN TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ————————
HUỲNH THỊ THÚY TRANG
BẢO ĐẢM QUYỀN TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN
PGS.TS Bùi Xuân Đức
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn Thạc sĩ về
“Bảo đảm quyền tố cáo của công dân từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng’’ là
hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các luận văn khác trong cùng lĩnh vực Các thông tin, tài liệu trình bày trong Luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Xuân Đức
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
Huỳnh Thị Thúy Trang
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 7
1.1 Quyền tố cáo của công dân và việc bảo đảm quyền tố cáo 7
1.2 Nội dung bảo đảm quyền tố cáo 11
1.3 Những yếu tố tác động đến việc bảo đảm quyền tố cáo 15
Kết luận Chương 1 17
Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 19
2.1 Xây dựng quy định và cơ chế thực hiện quyền tố cáo của công dân 19
2.2 Tổ chức tiếp nhận và giải quyết tố cáo của công dân 23
2.3 Giám sát việc giải quyết và bảo vệ quyền tố cáo của công dân 32
2.4 Xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật và công khai kết quả giải quyết 39
2.5 Bất cập và hạn chế trong thực hiện bảo đảm quyền tố cáo tại TP Đà Nẵng 44 Kết luận Chương 2 51
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM QUYỀN TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 53
3.1 Quan điểm tăng cường bảo đảm quyền tố cáo ở nước ta hiện nay 53
3.2 Giải pháp tăng cường bảo đảm quyền tố cáo của công dân từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng 56
Kết luận Chương 3 76
KẾT LUẬN 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp Điều 30 của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “1 Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường
về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật 3 Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác” Có thể thấy, việc Hiến pháp ghi nhận quyền tố cáo của công dân cho thấy vị trí, vai trò quan trọng của quyền năng pháp lý này
Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng tố cáo và việc bảo đảm quyền tố cáo của công dân, coi tố cáo là một trong những kênh thông tin giúp Nhà nước phát hiện, phòng ngừa và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân, tập thể và Nhà nước Đồng thời qua việc bảo đảm tố cáo, Nhà nước thể hiện sự thừa nhận và coi trọng quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân trong giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, cán bộ,
công chức
Do vậy, các chính sách pháp luật phải không ngừng được hoàn thiện cho phù hợp với sự thay đổi của đời sống xã hội, cần thiết phải chỉnh sửa, bổ sung, ban hành mới Có thể thấy rằng trong thời gian qua các chính sách pháp luật không ngừng được hoàn thiện, đóng vai trò quan trọng, thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của đời sống, kinh tế xã hội Tuy vậy còn bộc lộ nhiều thiếu sót, hạn chế, bất cập, làm phát sinh tố cáo trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, cũng như tố cáo cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện
Trang 7nhiệm vụ, công vụ “Thời gian qua, để phát huy vai trò của nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, góp ý, phê bình, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên, Ðảng, Nhà nước đã ban hành và triển khai thực hiện một số chủ trương, quy định có liên quan đến bảo vệ người tố cáo và đạt được kết quả bước đầu Tuy nhiên, công tác này vẫn còn những hạn chế, bất cập, như tình trạng để lộ lọt thông tin của người tố cáo; không ít trường hợp người tố cáo không được bảo vệ, bị trả thù, trù dập; các hành vi trả thù, trù dập chưa được phát hiện, xử lý nghiêm Việc biểu dương, khen thưởng người tố cáo đúng
và các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện tốt việc bảo vệ người tố cáo chưa được quan tâm Cán bộ, đảng viên và người dân còn chưa an tâm, ngại đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, góp ý, phê bình cán
bộ, đảng viên vi phạm” [7]
“Những hạn chế, bất cập nêu trên do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, trước hết là người đứng đầu ở không ít nơi chưa quan tâm đến công tác này Quy định của Ðảng, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ người tố cáo, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chưa hoàn thiện, thiếu cụ thể Công tác giải quyết tố cáo trong một số trường hợp còn để kéo dài, có biểu hiện bao che người bị tố cáo Kiểm tra, thanh tra, điều tra phát hiện, xử lý hành vi trả thù, trù dập người tố cáo và những vi phạm quy định về bảo vệ người tố cáo chưa được coi trọng, trong khi những hành vi trả thù, trù dập người tố cáo ngày càng tinh vi, khó phát hiện”[7] Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, quy định, hướng dẫn về công tác này như: Chỉ thị 09-CT/TW ngày 06 tháng 3 năm
2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Thông báo kết luận số 130-TB/TW ngày 10/01/2008 của Bộ Chính trị về tình hình, kết quả giải quyết khiếu nại,
tố cáo từ năm 2006 đến nay và giải pháp trong thời gian tới, Chỉ thị số
Trang 835-CT/TW ngày 26 tháng 5 năm 2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo đến cấp ủy đảng và chính quyền các cấp, Nghị quyết số 39/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội, Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 18/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ; Chỉ thị 27-CT/TW ngày 10/1/2019 về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, Luật Tố cáo năm 2018
Tuy nhiên, việc đảm bảo quyền tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng trong những năm quan chưa cao, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó chủ yếu là do cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, trước hết là người đứng đầu còn chưa quan tâm đến công tác này Công tác giải quyết tố cáo trong một số trường hợp trên địa bàn còn để kéo dài, có biểu hiện bao che người bị tố cáo Kiểm tra, thanh tra, điều tra phát hiện, xử lý hành vi trả thù, trù dập người tố cáo và những vi phạm quy định về bảo vệ người tố cáo chưa được coi trọng, trong khi những hành vi trả thù, trù dập người tố cáo ngày càng tinh vi, khó phát hiện
Vì vậy, để tìm hiểu rõ hơn cơ sở lý luận và thực trạng bảo đảm quyền tố
cáo trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng, học viên chọn đề tài “Bảo đảm quyền tố cáo của công dân từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sỹ
2 Tình hình nghiên cứu
Để có cơ sở lý luận cho việc thực hiện đề tài Luận văn, các công trình khoa học sau đây đã được tham khảo:
- Đề tài cấp nhà nước: “Khiếu nại, tố cáo hành chính – cơ sở lý luận và
thực tiễn”, năm 2011, do Tiến sĩ Lê Tiến Hào – Phó Tổng Thanh tra Chính phủ, Chủ nhiệm đề tài Và Đề tài thành phần “Thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, vị trí vai trò của các cơ quan thanh tra nhà nước trong công tác giải quyết
Trang 9khiếu nại, tố cáo hành chính” của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Thư
- Sách tham khảo: “ Khiếu nại, tố cáo hành chính và giải quyết khiếu nại,
tố cáo hành chính ở Việt Nam hiện nay”, Viện Khoa học Thanh tra, Thanh tra Chính phủ, nhà xuất bản Chính trị - hành chính, 2012, Chủ biên: Tiến sĩ Lê
Tiến Hào và Tiến sĩ Nguyễn Quốc Hưng
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố: “Nâng cao hiệu quả giải
quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai của cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”, năm 2012, do bà Phan Thị Dung – chuyên viên Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố chủ nhiệm đề tài (ghi nhận kết quả nghiên cứu theo Quyết định số 872/QĐ- UBND ngày 15/5/2012 của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng)
- Luận án Tiến sĩ luật học: “Bảo đảm quyền tố cáo của công dân theo pháp luật Việt Nam hiện nay”, năm 2019, do bà Đặng Thị Kim Ngân –chủ
nhiệm đề tài
Trên đây là các đề tài, công trình khoa học đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về tố cáo và giải quyết tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước Tuy nhiên, chưa có đề tài, công trình nào đi sâu nghiên cứu
về việc đảm bảo quyền tố cáo từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ vấn đề lý luận, thực tiễn về bảo đảm quyền tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, luận văn đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tố cáo cho công dân trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, làm rõ cơ sở lý luận về bảo đảm quyền tố cáo cho công dân
trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng
Trang 10- Phân tích, đánh giá thực trạng bảo đảm quyền tố cáo cho công dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, nhằm chỉ ra những vướng mắc, bất cập, hạn chế trong quá trình thực hiện, về thẩm quyền bảm đảm quyền
tố cáo cho công dân trên địa bàn
- Đề xuất giải pháp đảm bảo nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm quyền tố cáo cho công dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là những quy định hiện hành của pháp luật về bảo đảm quyền tố cáo cho công dân và thực tiễn công tác
bảo đảm quyền tố cáo cho công dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành việc nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp hệ thống;
- Phương pháp biện chứng;
- Phương pháp thống kê;
Trang 11- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm;
- Phương pháp lựa chọn điển hình
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Làm rõ các vấn đề lý luận về bảo đảm quyền tố cáo của công dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Qua đó áp dụng vào thực tiễn thành phố Đà Nẵng
để tìm ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tố cáo của công dân; đảm bảo công tác quản lý nhà nước có hiệu lực, hiệu quả, đảm bảo an ninh trật tự xã hội, đồng thời bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của
người tố cáo
Qua việc nghiên cứu trên, luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho công tác thực tiễn, cũng như những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy trên
địa bàn cả nước nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng
7 Cơ cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận luận văn được cơ cấu thành 3 chương như
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TỐ CÁO CỦA
CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Quyền tố cáo của công dân và việc bảo đảm quyền tố cáo
1.1.1 Khái niệm tố cáo
Theo quy định tại Luật Tố cáo 2011, Tố cáo là việc công dân theo thủ tục quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi
vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc
đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
Công dân dù bị ảnh hưởng trực tiếp hay không bị ảnh hưởng bởi hành vi
vi phạm pháp luật đều có quyền thực hiện việc tố cáo khi biết được có hành vi
vi phạm pháp luật xảy ra trong đời sống xã hội Mục đích của hoạt động tố cáo là nhằm vào việc xử lý hành vi vi phạm và người có hành vi vi phạm, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể được cho là bị gây thiệt hại, bảo
vệ trật tự an toàn xã hội
Tố cáo là việc cá nhân báo cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền
về bất kì hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà họ cho rằng hành vi ấy vi phạm pháp luật hoặc vi phạm quy định của tổ chức, cộng đồng đã gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp, uy tín, danh dự của Nhà nước, tổ chức, cá nhân để xử lý, ngăn ngừa hoặc khắc phục hậu quả
do hành vi, việc làm đó gây ra Tố cáo hành chính là một dạng tố cáo có tính pháp lý, để phân biệt với tố cáo hành vi vi phạm pháp luật hình sự (tố giác tội phạm), có thể hiểu: Tố cáo hành chính là việc cá nhân báo cho cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước về bất kì hành vi nào của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà họ cho rằng hành vi ấy vi
Trang 13phạm pháp luật hoặc vi phạm quy định của tổ chức, cộng đồng đã gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp, uy tín, danh dự của Nhà nước, tổ chức, cá nhân để xử lý, ngăn ngừa hoặc khắc phục hậu quả
do hành vi, việc làm đó gây ra
1.1.2 Khái niệm quyền tố cáo của công dân
Điều 30 của bản Hiến pháp năm 2013 đã quy định cụ thể về quyền khiếu nại, tố cáo như sau: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của
cơ quan, tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác” [23] Với
ý nghĩa là bước tiến quy định về quyền con người, quyền công dân nên Hiến pháp 2013 có quy định thành một chương (chương 2), trong đó có nhấn mạnh tại Điều 30 Hiến pháp, mở rộng chủ thể có quyền khiếu nại, quyền tố cáo không chỉ là công dân mà là mọi người sinh sống, làm việc trên đất nước Việt Nam có quyền khiếu nại, tố cáo về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân Đồng thời, Hiến pháp cũng tiếp tục ghi nhận cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác [23]
Theo quy định này, tố cáo không chỉ là quyền Hiến định của công dân Việt Nam mà đã được công nhận là quyền con người.“Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ
Trang 14bản của công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 là một trong những biện pháp phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Trên tinh thần đó, Luật Tố cáo đã quy định mở rộng phạm vi chủ thể thực hiện quyền tố cáo là cá nhân Cá nhân bao gồm công dân Việt Nam, công dân nước ngoài và người không quốc tịch
Quyền tố cáo của công dân được hiểu là khả năng của công dân thực hiện các hành vi dưới nhiều hình thức khác nhau, nhằm thông báo chính thức cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền về hành vi của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp, uy tín
và danh dự của nhà nước, tổ chức, hoặc của cá nhân; với mục đích để cá nhân, cơ quan có thẩm quyền xử lý, ngăn ngừa hoặc khắc phục hậu quả do hành vi, việc làm đó gây ra
1.1.3 Khái niệm, vai trò bảo đảm quyền tố cáo của công dân
Trong tiếng Việt, bảo đảm được hiểu là “làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết” [33, tr.38] Như các quyền công dân khác, quyền tố cáo sẽ chỉ là nhu cầu và khả năng ở dạng tiềm năng và không thể trở thành hiện thực nếu không có các điều kiện để thực hiện Khi nghiên cứu về bảo đảm pháp lý thực hiện quyền con người, quyền công dân nói chung, có quan điểm cho rằng “bảo đảm pháp lý gồm một hệ thống thống nhất về mặt pháp lý các yếu tố sau: cơ chế pháp lý thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý; hệ thống các quyền và nghĩa vụ pháp lý; hành vi hợp pháp và trình độ văn hóa pháp lý của mỗi cá nhân công dân [1, tr.112]
Có quan điểm tiếp cận từ góc độ rộng hơn, coi bảo đảm pháp lý thực hiện quyền bao gồm cả sự tương tác giữa các yếu tố trong hệ thống bảo đảm Hệ thống đó không chỉ bao gồm quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của chủ thể, trình tự, thủ tục thực hiện quyền và nghĩa vụ, việc thực hiện quyền, nghĩa
vụ pháp lý của các chủ thể mà còn có cả hệ tư tưởng chính trị - pháp lý, văn
Trang 15hóa pháp lý của các chủ thể và hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giải thích, giáo dục pháp luật cũng như sự tham gia của xã hội Theo quan niệm này, bảo đảm pháp lý thực hiện quyền công dân là “điều kiện, môi trường pháp lý thuận lợi do pháp luật tạo ra trên cơ sở hệ tư tưởng chính trị - pháp lý tiến bộ,
để công dân vừa thực sự được hưởng quyền vừa sử dụng đúng quyền mà hiến pháp đã quy định” [42, tr.25] Nhìn chung, các quan niệm về bảo đảm pháp lý thực hiện quyền con người, quyền công dân hiện nay đều khẳng định đó là hệ thống gồm nhiều yếu tố, trong đó đặc biệt quan trọng là các yếu tố được nhà nước tạo lập
Trong nhà nước pháp quyền dân chủ, để bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân thì “trách nhiệm trước tiên thuộc về Nhà nước, cụ thể là các cơ quan trong bộ máy nhà nước, của cán bộ, công chức nhà nước
Do nhà nước và pháp luật là hai phạm trù gắn bó chặt chẽ với nhau, vì vậy, bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân phải gắn liền với sự điều chỉnh của pháp luật, trước hết phải được hiến pháp, pháp luật ghi nhận, quy định, bởi lẽ “quyền con người, quyền công dân khi được hiến pháp, luật ghi nhận trở thành độc lập đối với bất kỳ quyền uy nào” Thông qua pháp luật, trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm thực hiện quyền mới được xác lập trên cả ba phương diện là “nghĩa vụ tôn trọng, nghĩa vụ bảo vệ và nghĩa vụ thực hiện” Bằng hệ thống pháp luật, nhà nước quy định
cụ thể các biện pháp bảo đảm thực hiện các quyền của công dân, cấm các hành vi xâm hại và quy định các biện pháp trừng phạt đối với các chủ thể xâm hại tới các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Pháp luật là cơ sở quan trọng nhất tạo ra các điều kiện, môi trường pháp lý để công dân thực hiện QTC và để các chủ thể tham gia vào quá trình này và bảo vệ QTC của công dân trước các nguy cơ bị xâm phạm Tuy nhiên, nếu chỉ có hệ thống pháp luật thì chưa đủ Để QTC của công dân được thực hiện trên thực tế
Trang 16đòi hỏi phải có sự điều chỉnh pháp luật, là các hoạt động cụ thể “có mục đích, có định hướng, có tổ chức và được thực hiện thông qua hệ thống các phương tiện, quy trình pháp lý”
Từ những phân tích trên chúng ta có thể hiểu:
Bảo đảm quyền tố cáo của công dân theo pháp luật là việc Nhà nước ghi nhận quyền tố cáo, các biện pháp, cách thức để công dân thực hiện quyền tố cáo trong hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện trên thực tế các biện pháp, cách thức đó để công dân thực hiện quyền tố cáo một cách
an toàn, thuận tiện và hiệu quả
Vai trò của bảo đảm quyền tố cáo của công dân
Thứ nhất, bảo đảm quyền tố cáo của công dân góp phần bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; giúp mọi cá nhân trong xã hội bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm
Thứ hai, bảo đảm quyền tố cáo của công dân nhằm tăng cường pháp chế
vi phạm pháp luật
1.2 Nội dung bảo đảm quyền tố cáo
Thứ nhất, ghi nhận quyền tố cáo và bảo đảm quyền tố cáo của công dân trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác Một trong những nội dung quan trọng của BĐQTC của công dân là việc ghi nhận quyền tố cáo trong Hiến pháp và ghi nhận trong các văn bản pháp luật khác như luật, nghị định,
thông tư Điều 32 Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015 quy định như sau: “Cá
Trang 17nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khiếu nại, cá nhân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan đó
Cơ quan, người có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời, đúng pháp luật; gửi văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo, cơ quan, tổ chức khiếu nại và có biện pháp khắc phục
Trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo do Bộ Luật này quy định
Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống người khác.”
Quyền tố cáo của công dân là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp Bộ Luật Tố tụng hình sự đã cụ thể hóa quyền đó và coi đó là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Nguyên tắc này là một trong những biểu hiện bản chất dân chủ của tố tụng hình
sự nước ta, là phương tiện bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và cũng là một trong những hình thức phát hiện và khắc phục những sai lầm trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự Chủ thể có quyền tố cáo những việc làm trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của các cơ
quan và những người nói trên là công dân
Thứ hai, thẩm quyền, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân về bảo đảm quyền tố cáo của công dân Để bảo đảm quyền tố cáo của công dân, hệ thống pháp luật cần quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc này, bao gồm: (1) Xác định thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong GQTC và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc quản lý công tác GQTC (2) Quy định về thẩm quyền và trách nhiệm trong việc bảo vệ người tố cáo trong hệ thống pháp luật Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của
Trang 18các cấp, các ngành đối với công tác bảo đảm quyền tố cáo của công dân Xác định việc bảo vệ người tố cáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn
xã hội, là một nhiệm vụ chính trị thường xuyên Tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, đồng bộ có hiệu quả các quy định của pháp luật đến cán
bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; tuyên truyền đến các tầng lớp nhân dân về quyết tâm bảo vệ quyền tố cáo của công dân Thủ trưởng các bộ, sở, ban, ngành từ Trung ương đến địa phương kiên quyết khắc phục những hạn chế, yếu kém trong công tác bảo đảm quyền
tố cáo của công dân và tăng cường sự lãnh đạo, tổ chức thực hiện tốt công tác bảo vệ người phát hiện và tố cáo hành vi vi phạm pháp luật
Thứ ba, thủ tục bảo đảm quyền tố cáo của công dân để người dân thực hiện quyền tố cáo được thuận lợi và để cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền thực hiện nghiêm túc trách nhiệm bảo đảm quyền tố cáo của công dân, cần quy định rõ ràng, cụ thể thủ tục BĐQTC của công dân, bao gồm: quy định thủ tục giải quyết tố cáo và quy định thủ tục bảo vệ người tố cáo Tuy nhiên, các quy định của pháp luật nhìn chung chỉ mang tính nguyên tắc, chưa cụ thể
và nằm phân tán trong nhiều văn bản với hiệu lực pháp lý khác nhau Cơ sở pháp lý là yếu tố tiên quyết hình thành cơ chế bảo vệ người tố cáo và bảo đảm cho việc thực thi cơ chế này trên thực tế
Thứ tư, quy định và thực hiện các quy định về nguồn lực bảo đảm quyền
tố cáo của công dân Nội dung này đòi hỏi hệ thống pháp luật phải có quy định về trình độ, năng lực, đạo đức, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ công chức và quy định về chế độ tài chính, cơ sở vật chất mà Nhà nước xây dựng để tạo điều kiện cho công dân thực hiện có hiệu quả QTC của mình Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán
bộ, công chức, viên chức, đảng viên; tạo chuyển biến trong việc tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên và nhân dân,
Trang 19khuyến khích tự tu dưỡng, rèn luyện, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống Nâng cao hiệu quả hoạt động của các phương tiện truyền thông trong công tác tuyên truyền các quy định của pháp luật và công khai kết quả giải quyết tố cáo rộng rãi đến toàn dân
Thứ năm, giám sát, kiểm tra, thanh tra việc bảo đảm quyền tố cáo của công dân và xử lý vi phạm quyền tố cáo Quyền tố cáo được bảo đảm thực hiện khi có cơ chế để bảo đảm thực thi Quy định pháp luật về cơ chế bảo đảm thực thi QTC bao gồm các cách thức để QTC được bảo đảm thực hiện trên thực tế như giám sát, thanh tra, kiểm tra việc BĐQTC và xử lý hành vi vi phạm quyền tố cáo Ủy ban kiểm tra các cấp, thanh tra đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát để kịp thời phát hiện các cơ quan chức năng, tổ chức, cá nhân không hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao trong việc bảo vệ người tố cáo, người phản ánh, kiến nghị, cung cấp thông tin về những biểu hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của cán bộ, đảng viên, các cơ quan,
tổ chức…; phát hiện, làm rõ, xử lý hoặc đề nghị xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân có hành vi trả thù, trù dập người tố cáo Các cấp ủy đảng tăng cường tập hợp đoàn viên, hội viên và nhân dân tích cực tham gia giám sát, phát hiện và kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi trả thù, trù dập, chưa thực hiện tốt trách nhiệm bảo vệ người tố cáo
Thứ sáu, bảo vệ, khen thưởng người tố cáo Bảo vệ và khen thưởng người tố cáo sẽ tạo động lực khuyến khích cá nhân thực hiện QTC, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, của công dân Việc bảo vệ người tố cáo được các công ước quốc tế và pháp luật các quốc gia đặc biệt quan tâm Chú trọng giới thiệu, biểu dương những mô hình hay, các gương điển hình tiên tiến, người tốt, việc tốt trong công tác phát hiện và tố cáo người có hành vi vi phạm pháp luật; động viên, cổ vũ các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia tố giác tội phạm
Trang 201.3 Những yếu tố tác động đến việc bảo đảm quyền tố cáo
Thứ nhất, sự tác động của yếu tố chính trị: Yếu tố chính trị có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả bảo đảm quyền tố cáo của công dân; bao gồm môi trường chính trị, hệ thống các chuẩn mực chính trị, chủ trương, đường lối, chính sách của đảng cầm quyền và quá trình tổ chức thực hiện chúng; các quan hệ chính trị và ý thức chính trị; hoạt động của hệ thống chính trị; nền dân chủ xã hội và bầu không khí chính trị - xã hội
Thứ hai, sự tác động của yếu tố pháp lý: Pháp luật là yếu tố tiên quyết,
cơ bản cho bảo đảm quyền con người, quyền công dân nói chung, quyền tố cáo nói riêng Cơ sở pháp lý là yếu tố tiên quyết hình thành cơ chế bảo vệ người tố cáo và đảm bảo cho việc thực thi cơ chế này trên thực tế Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành nhiều văn kiện khẳng định vai trò quan trọng của xã hội trong phòng, chống tham nhũng; về bảo vệ người tố cáo, phát hiện tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật Tuy nhiên, cho đến nay, Đảng và Nhà nước chưa ban hành một văn bản, nghị quyết chuyên
đề riêng về cơ chế bảo vệ người tố cáo tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật Các nội dung bảo vệ người tố cáo còn mờ nhạt
Thứ ba, sự tác động của ý thức trách nhiệm của cơ quan nhà nước: Nhà nước tôn trọng, thừa nhận và bảo vệ quyền tự do của công dân được thể hiện qua quy định của luật pháp chứ không chỉ mang tính chính trị hay thể hiện đạo lý Nhà nước có ưu thế và vai trò quyết định, chi phối, định hướng cho hoạt động của mọi chủ thể trong xã hội nên bảo đảm quyền tố cáo là trách nhiệm của nhà nước Hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ người tố cáo được giao cho nhiều cơ quan nhà nước khác nhau và được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật Luật không quy định trách nhiệm bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản và tính mạng của người tố cáo thuộc về
cơ quan nhà nước nào mà chỉ quy định trách nhiệm phối hợp với các cơ
Trang 21quan có thẩm quyền và cơ quan công an Luật phòng chống tham nhũng tuy
là văn bản luật chuyên ngành nhưng chỉ quy định trách nhiệm của các cơ quan, người có thẩm quyền trong việc bảo vệ người tố cáo tham nhũng một cách chung chung Như vậy, có quá nhiều cơ quan bảo vệ người tố cáo nhưng thẩm quyền thì chồng chéo, không có cơ quan chuyên biệt bảo vệ người tố cáo cũng như người thân của người tố cáo
Thứ tư, sự tác động của ý thức pháp luật của người dân: Trong bảo đảm thực hiện QTC, ý thức pháp luật giữ vai trò quan trọng, bảo đảm thúc đẩy và thực hiện Mục đích này muốn đạt được phụ thuộc vào hai chủ thể chính là nhà nước với vai trò chủ thể ban hành pháp luật và chủ thể thứ hai là người dân với tư cách là chủ thể thực hiện, chủ thể thụ hưởng quyền Một bộ phận không nhỏ nhân dân có trình độ dân trí chưa cao, nhận thức pháp luật kém Kiến thức pháp luật của nhân dân, đặc biệt là nhân dân vùng nông thôn và vùng núi còn rất thấp Rất nhiều người tham gia pháp luật mà không biết những quy định của pháp luật mặc dù nó rất gần gũi, phổ biến trong cuộc sống Ngoài ra, ở nước ta còn tồn tại tư tưởng tâm lý người dân ngại va chạm, còn sợ sệt
Thứ năm, sự tác động của yếu tố nguồn nhân lực và cơ sở vật chất: Nguồn nhân lực chính là số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác liên quan đến bảo đảm QTC Yếu tố cơ sở vật chất cũng đóng vai trò quan trọng đến bảo đảm QTC của công dân, bao gồm: cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác tiếp dân tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đến tố cáo, để người giải quyết tố cáo xử lý thông tin, xác minh nội dung tố cáo kịp thời, chính xác, đúng pháp luật; trang thiết bị và nguồn tài chính bảo đảm cho việc bảo vệ, khen thưởng người tố cáo Bên cạnh đó, cần
có cơ chế, chính sách đãi ngộ đặc thù để thu hút cán bộ giỏi, động viên cán bộ
Trang 22yên tâm khi làm công tác liên quan đến bảo đảm QTC từ đó giúp họ nâng cao
ý thức trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ
Kết luận Chương 1
Trong chương này, Luận văn đã làm rõ khái niệm về quyền tố cáo và bảo đảm quyền tố cáo của công dân Bảo đảm quyền tố cáo của công dân theo pháp luật Việt Nam đã và đang được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm Việc ghi nhận, bảo vệ và thúc đẩy quyền tố cáo của công dân đã được Hiến pháp
và các văn bản quy phạm pháp luật quy định rõ Tuy nhiên, những vấn đề bảo đảm quyền tố cáo của công dân chưa được nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện nên việc thể chế hóa các nội dung này trong hệ thống pháp luật của nước ta chưa đầy đủ và còn nhiều hạn chế dẫn đến nhiều khó khăn trong việc thực hiện Chương 1 của luận văn đã chỉ ra những nội dung của việc bảo đảm quyền tố cáo, bao gồm:
- Một là ghi nhận quyền tố cáo và bảo đảm quyền tố cáo của công dân trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác;
- Hai là thẩm quyền, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân về bảo đảm quyền
tố cáo của công dân;
- Ba là thủ tục bảo đảm quyền tố cáo của công dân;
- Bốn là quy định và thực hiện các quy định về nguồn lực bảo đảm quyền
tố cáo của công dân;
- Năm là giám sát, kiểm tra, thanh tra việc bảo đảm quyền tố cáo của công dân và xử lý vi phạm quyền tố cáo;
- Sáu là bảo vệ, khen thưởng người tố cáo;
- Bảy là ý thức pháp luật của công dân và văn hóa pháp lý của cộng đồng trong việc bảo đảm thực hiện quyền tố cáo
Trong bảy nội dung trên thì nội dung thứ hai là thẩm quyền, trách nhiệm
Trang 23của tổ chức, cá nhân về bảo đảm quyền tố cáo của công dân đã và đang ngày càng được Đảng và Nhà nước chú trọng quan tâm Thực hiện nội dung thứ 6
là bảo vệ, khen thưởng người tố cáo một cách có hiệu quả
Chương này cũng nêu rõ bốn vai trò của bảo đảm quyền tố cáo của công dân: Thứ nhất, bảo đảm quyền tố cáo của công dân góp phần bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, giúp mọi cá nhân trong xã hội bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm Thứ hai, bảo đảm quyền
tố cáo của công dân nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Thứ ba, bảo đảm quyền tố cáo của công dân là công cụ hữu hiệu trong cuộc chiến chống tham nhũng và các vi phạm pháp luật khác Thứ tư là bảo đảm quyền tố cáo của công dân góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước theo hướng tăng cường tính công khai, minh bạch, xử lý nghiêm minh, có hiệu quả các hành vi vi phạm pháp luật
Nhận thấy vai trò của bảo đảm quyền tố cáo của công dân là rất lớn, luận văn tiếp tục làm rõ thực trạng bảo đảm quyền tố cáo của công dân ở các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ở chương tiếp theo
Trang 24
Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN Ở
về QTC của công dân và thiết lập cơ chế bảo đảm của Nhà nước đối với việc thực hiện QTC của công dân; Luật Tố cáo năm 2011; Điều 478 và 479 Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 509 và 510 Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Luật Cán bộ, công chức năm 2008; Luật Viên chức năm 2008; Luật Tố cáo năm 2018; Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và các văn bản hướng dẫn thi hành, trong đó các quy định trong Luật Tố cáo năm 2011 và các văn bản hướng dẫn của Luật này và Luật Tố cáo năm 2018 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2019) là hệ thống và đầy đủ nhất về bảo đảm QTC của công dân, là cơ
sở pháp lý để bảo đảm QTC của công dân được thực hiện trên thực tế
Thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 26-5-2014 của Bộ Chính trị về
“Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo”, UBND TP Đà Nẵng đã tổ chức hội nghị triển khai Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Các
Trang 25đại biểu đã được quán triệt nội dung Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 26/5/2014 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo Trên cơ sở đó Thành uỷ và UBND thành phố, tất cả các quận, huyện đã tiếp thu và ban hành các chỉ thị, kế hoạch để triển khai thực hiện đến toàn thể đại biểu là cán bộ chủ chốt, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trên địa bàn Cụ thể như: Quyết định số: 9262/QĐ-UBND của UBND Thành phố Đà Nẵng, ngày 23 tháng 12 năm 2014, quyết định về việc ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của Ban Tiếp công dân Thành phố Đà Nẵng; Quyết định số: 17/2017/QĐ-UBND của UBND TP Đà Nẵng, ngày 24 tháng 5 năm 2017 quy định về tiếp nhận, xử lý, giải quyết đơn kiến nghị phản ánh của tổ chức, cá nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; Công văn số 1666-CV/TU ngày 26-9-2014 của Ban Thường vụ Thành ủy về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW đến các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể chính trị - xã hội nhằm quán triệt, phổ biến, lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện từ thành phố đến cơ sở; Quyết định số 11660-QĐ/TU của Ban Thường vụ Thành ủy ngày 29-9-2014 ban hành Quy chế đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu các cấp ủy đảng, người đứng đầu chính quyền các cấp với nhân dân; Công văn số 2967-CV/TU ngày 26-02-2019 về tiếp tục đẩy mạnh công tác dân vận của chính quyền, trong đó có nội dung chỉ đạo thực hiện nghiêm công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo và công tác hòa giải ở cơ sở; Quy định số 13195-QĐ/TU ngày 18-7-2019 của Ban Thường vụ Thành ủy về thẩm quyền, quy trình tiếp công dân
và xử lý đơn, thư gửi đến Thường trực Thành ủy và Ban Thường vụ Thành ủy; Công văn số 9349/UBND-TCD ngày 16-10-2014 về chấn chỉnh, tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân; Kế hoạch số 10732/KH-UBND ngày 24-11-2014 về triển khai Chỉ thị số 35-CT/TW, trong đó đã chỉ đạo tăng cường rà soát, giải quyết dứt điểm các vụ việc KNTC tồn đọng, phức
Trang 26tạp, kiện toàn đội nghũ làm công tác tiếp công dân, giải quyết KNTC, tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý trách nhiệm trong công tác tiếp công dân, giải quyết KNTC, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nhất là trong những lĩnh vực phát sinh nhiều KNTC; Công văn số 4432/UBND-NCPC ngày 12-6-2015 về chỉ đạo công tác tiếp công dân, giải quyết KNTC;
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố ban hành Hướng dẫn số 04/HD-MTTQ-BTT ngày 17-3-2015 về “Quy định và hướng dẫn việc tổ chức tiếp công dân và xử lý đơn thư KNTC, kiến nghị, phản ánh của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quận”; Ủy ban Kiểm tra Thành ủy ban hành Quy định
số 02-QĐ/UBKTTU ngày 22-02-2017 về tiếp nhận, xử lý đơn thư, tiếp đảng viên và công dân; Ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Quy định số 11-QĐi/TW ngày 18 tháng 02 năm 2019 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của đồng chí Bí thư Thành ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử
lý những phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của dân, Ban Nội chính Thành
ủy đã tham mưu Ban Thường vụ Thành ủy tổ chức Hội nghị để quán triệt Quy định, và phổ biến, chỉ đạo rộng rãi đến các quận, huyện ủy và các đảng ủy trực thuộc Thành ủy Ban Nội chính Thành ủy cũng đã ban hành Quyết định
số 93-QĐ/BNCTU ngày 19 tháng 8 năm 2019 về thành lập Tổ tham mưu Thường trực Thành ủy tiếp công dân và xử lý đơn, thư Tổ tham mưu có nhiệm vụ tham mưu, giúp Thường trực Thành ủy trong công tác tiếp công dân định kỳ, đột xuất, tiếp công dân tạo điều kiện cho người dân được phản ánh, kiến nghị theo Quy định số 13195-QĐ/TU ngày 18 tháng 7 năm 2019 của Ban Thường vụ Thành ủy và nghiên cứu, đề xuất Thường trực Thành ủy tiếp công dân để xử lý, giải quyết những đơn, thư phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo
có nội dung quan trọng, phức tạp khác…
Đồng thời trên địa bàn đã tổ chức quán triệt cho đội ngũ báo cáo viên làm công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khiếu nại, tố cáo cấp quận, huyện
Trang 27với gần 1000 lượt người tham dự; tiếp nhận, biên soạn 350 cuốn sách hỏi đáp
về khiếu nại, tố cáo; các sở, ban, ngành, đoàn thể thành phố tổ chức hội nghị triển khai Luật Tiếp công dân, nghiệp vụ tiếp công dân, nghiệp vụ xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh với hơn 2000 lượt người tham dự; UBND các quận, huyện đã tổ chức các hội nghị triển khai Luật Tiếp công dân
Việc kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tiếp công dân được lãnh đạo thành phố quan tâm thực hiện Thành uỷ thành phố Đà Nẵng đã chỉ đạo UBND thành phố ban hành 9262/QĐ-UBND của UBND Thành phố
Đà Nẵng, ngày 23 tháng 12 năm 2014 về việc thành lập Ban Tiếp công dân thành phố; phân công 01 đồng chí Phó Chánh Văn phòng UBND thành phố làm Trưởng ban
Các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan, địa phương, đơn vị thường xuyên quan tâm, củng cố, kiện toàn, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng, năng lực cho đội ngũ cán bộ công chức phụ trách công tác tiếp công dân, giải quyết KNTC; quan tâm đến chế độ, chính sách đối với cán bộ phụ trách công tác này Đồng thời xử lý nghiêm các cán bộ, công chức phụ trách công tác tiếp công dân, giải quyết KNTC để xảy ra sai phạm
Các ban tiếp công dân tại các quận, huyện được bố trí phòng tiếp công dân, đầu tư cơ sở vật chất, cài đặt phần mềm theo dõi tiếp nhận, xử lý đơn thư
để phục vụ tốt cho hoạt động tiếp công dân Thành uỷ, UBND thành phố Đà Nẵng chỉ đạo các quận, huyện khẩn trương thành lập và bố trí trụ sở, trang thiết bị cho phòng tiếp công dân tại các phường, xã trên địa bàn để hoạt động tiếp công dân thực sự đi vào nề nếp và chặt chẽ hơn
Hàng năm, UBND thành phố, UBND quận, huyện và Giám đốc các sở, ngành thực hiện việc phê duyệt kế hoạch thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo theo đúng quy định
Tại Điều 18 của Luật tố cáo, việc giải quyết tố cáo được thực hiện theo
Trang 28trình tự sau đây:
- Tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo;
- Xác minh nội dung tố cáo;
- Kết luận nội dung tố cáo;
- Xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo;
- Công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo
2.2 Tổ chức tiếp nhận và giải quyết tố cáo của công dân
2.2.1 Hoạt động tiếp nhận và giải quyết tố cáo trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng
- Thực hiện quy định của pháp luật, chính quyền các cấp, các cơ quan có thẩm quyền ở thành phố Đà Nẵng đã tổ chức tiếp nhận và giải quyết tố cáo của công dân theo trình tự thủ tục được quy định trong các văn bản pháp luật Chính quyền thành phố Đà Nẵng luôn xác định phải tuân theo các quy định của pháp luật, đảm bảo phù hợp với các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, đúng theo các quy định của Luật khiếu nại, Luật Tố cáo và pháp luật có liên quan Từ cấp thành phố đến cấp cơ sở đều ban hành các quy định
về thẩm quyền, quy trình xử lý đơn thư của người dân gửi đến Văn phòng của từng cơ quan, đơn vị là đầu mối tiếp nhận đơn thư của các tổ chức, cá nhân gửi đến từ các nguồn như: bưu điện; các cơ quan, tổ chức khác chuyển đến; nhận trực tiếp từ văn phòng cơ quan hoặc từ Ban tiếp công dân ở từng cấp Sau khi tiếp nhận đơn thư thì bộ phận phụ trách tiến hành đóng dấu, vào
sổ tiếp nhận văn bản, trình Lãnh đạo cơ quan để xin ý kiến chỉ đạo việc giải quyết thông tin tố cáo Đối với những đơn có dấu hiệu vi phạm pháp luật và
hồ sơ chưa rõ thì tiến hành xác minh thực tế, tổ chức giám sát và kiến nghị các cơ quan chức năng xem xét, giải quyết Đơn có nội dung không rõ ràng,
đã được cơ quan giải quyết đúng pháp luật thì có văn bản hướng dẫn, trả lời
Trang 29cho công dân rõ Đơn nào có nội dung trùng lặp, không đúng quy định thì lưu, không xử lý
- Không chỉ ở cấp thành phố, công tác xử lý đơn tố cáo được HĐND các cấp quận, huyện, xã, phường trên toàn địa bàn thành phố triển khai đúng quy định, hiệu quả, chất lượng Lãnh đạo các cơ quan các cấp đã chủ động tiếp công dân có đơn tố cáo, lắng nghe thông tin từ nhân dân, nắm bắt vụ việc cụ thể hơn Có sự phân công trách nhiệm cụ thể trong các cơ quan phối hợp nhằm phát huy thế mạnh về chuyên môn của từng cơ quan và sức mạnh tập thể của các cơ quan liên quan
-Thời gian qua, Thành ủy, HĐND, UBND thành phố Đà Nẵng đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, giám sát công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng đã thành lập Tổ công tác kiểm tra, rà soát, giải quyết vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài; đã tập trung tổ chức thực hiện Kết luận của Thanh tra Chính phủ về thanh tra trách nhiệm của Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng trong việc chấp hành pháp luật
về thanh tra, khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng; việc chuyển đổi nhà, đất công có vị trí đắc địa sang mục đích khác và một số dự án đầu tư liên quan đến việc sử dụng đất Ban Tiếp công dân thành phố thì thực hiện tiếp công dân thường xuyên, nhân lực của ban là biên chế của các cơ quan như Văn phòng Thành ủy, Ban Nội chính Thành ủy, Ủy ban Kiểm tra Thành ủy, Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố Ban hoạt động dưới sự điều hành của một đồng chí Phó Văn phòng Ủy ban phụ trách Ở cấp quận, huyện, xã, phường thì phân công các đồng chí Thường trực tiếp dân theo định kỳ phù hợp với quy định của từng cấp Và thực hiện tiếp công dân đột xuất đối với các vụ việc nổi cộm, phức tạp, kéo dài, có nhiều người tham gia, đơn khiếu nại lâu ngày chuyển sang tố cáo Những nội dung tố cáo sau khi được giải quyết đúng trình
tự thủ tục và thời hạn sẽ được các cơ quan đơn vị báo cáo bằng văn bản kết quả
Trang 30giải quyết đơn thư đến cấp có thẩm quyền hoặc công dân
Các cấp chính quyền đã nghiêm túc quán triệt, tổ chức thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về Luật tiếp công dân, Luật khiếu nại, Luật tố cáo; hiệu quả việc tiếp công dân
và giải quyết khiếu nại, tố cáo được nâng cao, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự xã hội tại thành phố Đà Nẵng
Ban Thường vụ Thành ủy yêu cầu các cấp ủy Đảng, chính quyền thành phố tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo công tác tiếp nhận, giải quyết tố cáo trong các
cơ quan hành chính Nhà nước và chính quyền các cấp Các nhiệm vụ cụ thể: chú trọng tuyên truyền, quán triệt nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp chính quyền, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan Nhà nước về vị trí, vai trò công tác tiếp nhận, giải quyết quyền tố cáo trong tình hình mới; phân công lãnh đạo theo dõi công tác tiếp nhận, giải quyết tố cáo; xem công tác tiếp nhận, giải quyết quyền tố cáo là nhiệm vụ thường xuyên gắn với thực hiện chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, của từng cán bộ, công chức, viên chức, là một trong những tiêu chí đánh giá, xếp loại thi đua hằng năm; phát huy vai trò người đứng đầu các cấp chính quyền trong đối thoại, tiếp xúc với nhân dân, lắng nghe, giải quyết kịp thời các kiến nghị, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, thực hiện tốt các chính sách an sinh, xã hội; thực hiện nghiêm túc Luật Tiếp công dân, Luật khiếu nại, Luật Tố cáo và các văn bản pháp luật liên quan
Các cơ quan hành chính, chính quyền các cấp làm tốt công tác hòa giải ở
cơ sở, chủ động nắm bắt thông tin, diễn biến tình hình để giải quyết kịp thời các tình huống khiếu nại tố cáo phức tạp, đông người; hạn chế và tiến tới chấm dứt các đoàn khiếu kiện vượt cấp; nâng cao đạo đức công vụ trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách hành chính; tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực
Trang 31thi công vụ; xử lý nghiêm các hành vi tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, nhũng
nhiễu với nhân dân; tạo điều kiện để Mặt trận và các tổ chức chính trị-xã hội
tham gia giám sát phản biện xã hội và góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính
quyền theo Quyết định số 217, 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI)
2.2.2 Kết quả giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ
quan hành chính trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Bảng 2.1: Tổng hợp số liệu kết quả giải quyết đơn tố cáo
Thi hành quyết định xử lý
Tổng
số
Tỷ lệ đơn giải quyết / đơn thụ lý (%)
Tố cáo đúng
Tố cáo sai
Tố cáo
có đúng,
có sai
Đúng hạn Trễ hạn
Số quyết định
đã thi hành
Tiền, tài sản thu hồi (triệu đồng)
Số đơn
Tỷ lệ (%)
Số đơn
Tỷ lệ (%)
Số đơn
Tỷ lệ (%)
Số đơn
Tỷ lệ (%)
Số đơn
Tỷ lệ (%)
Trang 32Năm
Số đơn đã
giải quyết Kết quả giải quyết
Thời gian giải quyết
Thi hành quyết định xử lý
Tổng
số
Tỷ lệ đơn giải quyết / đơn thụ lý (%)
Tố cáo đúng
Tố cáo sai
Tố cáo
có đúng,
có sai
Đúng hạn Trễ hạn
Số quyết định
đã thi hành
Tiền, tài sản thu hồi (triệu đồng)
Số đơn
Tỷ lệ (%)
Số đơn
Tỷ lệ (%)
Số đơn
Tỷ lệ (%)
Số đơn
Tỷ lệ (%)
Số đơn
Tỷ lệ (%)
Trang 33Năm
Số đơn đã
giải quyết Kết quả giải quyết
Thời gian giải quyết
Thi hành quyết định xử lý
Tổng
số
Tỷ lệ đơn giải quyết / đơn thụ lý (%)
Tố cáo đúng
Tố cáo sai
Tố cáo
có đúng,
có sai
Đúng hạn Trễ hạn
Số quyết định
đã thi hành
Tiền, tài sản thu hồi (triệu đồng)
Số đơn
Tỷ lệ (%)
Số đơn
Tỷ lệ (%)
Số đơn
Tỷ lệ (%)
Số đơn
Tỷ lệ (%)
Số đơn
Tỷ lệ (%)
Qua các báo cáo của Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng và bản thống
kê trên cho thấy kết quả giải quyết đơn tố cáo từ năm 2014 đến năm 2018, của
các cơ quan hành chính trên địa bàn thành phố, như sau:
- Trong năm 2014, trên toàn thành phố Đà Nẵng đã giải quyết được
29/30 đơn tố cáo, trong đó:
+ Ủy ban nhân thành phố Đà Nẵng đã giải quyết 05/05 đơn tố cáo, đạt tỷ
lệ 100%; sở, ngành giải quyết 06/07 đơn tố cáo, đạt tỷ lệ 85,71 %; huyện,
thành phố giải quyết 18/18 đơn tố cáo, đạt tỷ lệ 100%; kết quả giải quyết
chung toàn thành phố đạt tỉ lệ 96,67%
+ Kết quả giải quyết: Tố cáo đúng 01/29 đơn, đạt tỷ lệ 3,45%; tố cáo sai
15/29 đơn, đạt tỷ lệ 51,72%; tố cáo có đúng có sai 13/29 đơn, đạt tỷ lệ
44,83% Tổng số tiền, tài sản xử lý, thu hồi 795 triệu đồng
+ Việc chấp hành thời gian giải quyết: Đúng thời gian 22/29 đơn, đạt tỷ
lệ 75,86%; không đúng thời gian 07/29 đơn, đạt tỷ lệ 24,14%
+ Việc thi hành quyết định xử lý tố cáo: Tổng số quyết định phải tổ chức
Trang 34thực hiện 12 quyết định; đã thi hành 12 quyết định, tỷ lệ 100%
- Trong năm 2015, Trong toàn thành phố Đà Nẵng đã giải quyết được 22/25 đơn tố cáo, trong đó:
+ Ủy ban nhân thành phố Đà Nẵng đã giải quyết 0/0 đơn tố cáo; sở, ngành đã giải quyết được 07/08 đơn tố cáo, đạt tỷ lệ 87,76 %; huyện, thành phố đã giải qauyết được 15/17 đơn tố cáo, đạt tỷ lệ 88,24%; kết quả giải quyết chung toàn thành phố đạt tỷ lệ 88%
+ Kết quả giải quyết: Tố cáo đúng 03/22 đơn tố cáo, đạt tỷ lệ 13,64%; tố cáo sai 13/25 đơn, đạt tỷ lệ 59,09%; tố cáo có đúng có sai 06/25 đơn, đạt tỷ lệ 27,27% Tổng số tiền, tài sản xử lý, thu hồi là 500 triệu đồng Tổng số tiền, tài sản xử lý, thu hồi là 1.467 triệu đồng
+ Việc chấp hành thời gian giải quyết: Đúng thời gian 20/25 đơn tố cáo, đạt tỷ lệ 90,91%; không đúng thời gian 02/25 đơn tố cáo, đạt tỷ lệ 9,09% + Việc thi hành quyết định xử lý đơn tố cáo: Tổng số quyết định phải tổ chức thực hiện là 15 quyết định; đã thi hành được 12 quyết định, đạt tỷ lệ 86,67%
- Trong năm 2016, trên toàn thành phố Đà Nẵng đã giải quyết được 33/41 đơn tố cáo, trong đó:
+ Số liệu không thể hiện đơn tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân thành phố; sở và huyện, thành phố Chỉ xác định kết quả giải quyết chung của toàn thành phố là 33/41 đơn tố cáo, đạt tỷ lệ 80,49%
+ Kết quả giải quyết: Tố cáo đúng 0/33 đơn tố cáo, đạt tỷ lệ 0%; tố cáo sai là 22/33 đơn, đạt tỷ lệ 66,67%; tố cáo có đúng có sai 11/33 đơn, đạt tỷ lệ 33,33% Tổng số tiền, tài sản xử lý, thu hồi không xác định đươc
+ Việc chấp hành thời gian giải quyết: Đúng thời gian 30/33 đơn, đạt tỷ
lệ 90,91%; không đúng thời gian 03/33 đơn, đạt tỷ lệ 9,09%
+ Việc thi hành quyết định xử lý tố cáo: Tổng số quyết định phải tổ chức
Trang 35thực hiện và đã tổ chức thực hiện trong báo cáo không nêu
- Trong năm 2017, trên toàn thành phố Đà Nẵng đã giải quyết được
23/30 đơn tố cáo, trong đó:
+ Ủy ban nhân thành phố Đà Nẵng đã giải quyết được 04/04 đơn, đạt tỷ
lệ 100%; sở, ngành 07/10 đơn, đạt tỷ lệ 70%; huyện, thành phố 12/16 đơn, đạt
tỷ lệ 75%; kết quả giải quyết chung của toàn thành phố đạt 76,67%
+ Kết quả giải quyết: Tố cáo đúng 04/23 đơn, đạt tỷ lệ 17,39%; tố cáo sai 13/23 đơn, đạt tỷ lệ 56,52%; tố cáo có đúng có sai 06/23 đơn, đạt tỷ lệ 26,97% Tổng số tiền, tài sản xử lý, thu hồi là 1.968 triệu đồng
+ Việc chấp hành thời gian giải quyết: Đúng thời gian 20/23 đơn tó cáo, đạt tỷ lệ 86,95%; không đúng thời gian 03/23 đơn, đạt tỷ lệ 13,4%
+ Việc thi hành quyết định xử lý tố cáo: Tổng số quyết định phải tổ chức thực hiện là 11 quyết định; đã thi hành được 10 quyết định, tỷ lệ 90,9%
- Trong năm 2018, trên toàn thành phố Đà Nẵng đã giải quyết được
22/33 đơn tố cáo, trong đó:
+ Ủy ban nhân thành phố đã giải quyết 0/0 đơn tố cáo; sở, ngành 08/14 đơn, đạt tỷ lệ 57,14 %; huyện, thành phố 14/19 đơn, đạt tỷ lệ 73,68%; kết quả giải quyết chung của toàn thành phố đạt tỷ lệ 66,67%
+ Kết quả giải quyết: Tố cáo đúng 03/22 đơn, đạt tỷ lệ 13,64%; tố cáo sai 16/22 đơn, đạt tỷ lệ 72,72%; tố cáo có đúng có sai 03/22 đơn, đạt tỷ lệ 13,64% Tổng số tiền, tài sản xử lý, thu hồi là 1.990 triệu đồng
+ Việc chấp hành thời gian giải quyết: Đúng thời gian 12/22 đơn tố cáo, đạt tỷ lệ 54,55%; không đúng thời gian 10/22 đơn, đạt tỷ lệ 45,45%
+ Việc thi hành quyết định xử lý tố cáo: Tổng số quyết định phải tổ chức thực hiện là 09 quyết định; đã thi hành 09 quyết định, tỷ lệ 100%
Kết quả giải quyết tố cáo bình quân 05 năm gần đây (từ năm 2014 đến năm 2018), của các cơ quan hành chính trên địa thành phố là 129/159 đơn, đạt
Trang 36tỷ lệ 81,13 % Với kết quả cụ thể như sau:
+ Kết quả giải quyết: Tố cáo đúng 11/129 đơn tố cáo, đạt tỷ lệ 8,53%; tố cáo sai là 79/129 đơn, đạt tỷ lệ 61,24%; tố cáo có đúng có sai 39/129 đơn, đạt
tỷ lệ 30,23% Tổng số tiền, tài sản xử lý, thu hồi là 6.423 triệu đồng
+ Việc chấp hành thời gian giải quyết: Đúng thời gian 104/129 đơn tố cáo, đạt tỷ lệ 80,62%; không đúng thời gian 25/129 đơn tố cáo, đạt tỷ lệ 19,37%
+ Việc thi hành quyết định xử lý tố cáo: Tổng số quyết định phải tổ chức thực hiện là 47 quyết định; đã thi hành 45 quyết định, đạt tỷ lệ 95,74%
Nhìn chung, các cơ quan chức năng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã chú trọng hơn, giải quyết có hiệu quả đơn tố cáo của các cá nhân, tổ chức gửi đến, thu hồi được tài sản thất thoát Số lượng đơn tố cáo của các năm tăng giảm không đồng đều nhưng đáng chú ý là đến năm 2018 Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng không còn nhận được đơn tố cáo nào Tuy nhiên, vấn đề luận văn nhận thấy trong kết quả giải quyết đơn tố cáo này thì số lượng đơn tố cáo sai rất cao, trong khi đơn tố cáo đúng chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ, cụ thể là: năm 2014 tố cáo đúng 01/29 đơn, năm 2015 tố cáo đúng 03/22 đơn, năm
2016 tố cáo đúng 0/33 đơn, năm 2017 tố cáo đúng 04/23 đơn và năm 2018 tố cáo đúng 03/22 đơn Nguyên nhân của hiện tượng này là do người dân còn thiếu hiểu biết về pháp luật, đường lối chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật nhà nước; lập trường tư tưởng chưa vững vàng dễ bị người khác xúi dục, kích động dẫn đến việc tố cáo không đúng sự thật hoặc tố cáo sai Bên cạnh đó, trong 5 năm qua, các cấp ủy đã tiến hành 1260 cuộc kiểm tra giám sát đối với 630 tổ chức đảng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác PCTN, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, quản lý sử dụng ngân sách và mua sắm tài sản công…Những kết quả đạt được từ công tác thanh tra, kiểm tra vụ việc, phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế là 11 tập
Trang 37thể/38 cá nhân sai phạm, xử lý về Đảng 06 cá nhân, xử lý về chính quyền 11 tập thể và 33 cá nhân, thu hồi số tiền 3,9 tỷ đồng Tổng số vụ việc, đối tượng
có dấu hiệu tội phạm tham nhũng và tội phạm khác chuyển sang cơ quan điều tra là 13 vụ/07 đối tượng Số vụ án, vụ việc và số người có hành vi tham nhũng, kinh tế được phát hiện qua công tác tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm là 21 tin, kết quả giải quyết từ số tin báo trên là đã khởi tố 08vụ/22 bị can Số vụ án, vụ việc và số người có hành vi tham nhũng được phát hiện qua thanh tra, kiểm tra, giám sát là 11 vụ/32 bị can, đã xử lý thi hành kỷ luật đối với 04 tổ chức đảng, 710 đảng viên vi phạm
2.3 Giám sát việc giải quyết và bảo vệ quyền tố cáo của công dân
Tố cáo là một trong những quyền quan trọng của công dân, đã được Hiến pháp quy định, được thể chế trong Luật Tố cáo Giải quyết và bảo vệ quyền tố
cáo của công dân tốt, kịp thời không những bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp,
chính đáng của công dân mà còn bảo vệ đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tăng cường đoàn kết nhất trí về chính trị trong nhân dân, làm cho nhân dân gắn bó với chính quyền, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý của bộ máy chính quyền các cấp Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức Đảng đối với công tác PCTN, bảo đảm quyền tố cáo của công dân Để giảm thiểu sự chuyên quyền trong công tác bảo đảm quyền tố cáo của công dân cũng như để bảo vệ người tố cáo thì cần có sự giám sát của:
2.3.1 Giám sát của Đảng và Nhà nước
Thực hiện các quy định của pháp luật, trong những năm qua, Thành ủy, HĐND, UBND thành phố Đà Nẵng đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, giám sát công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo Các cấp chính quyền đã nghiêm túc quán triệt, tổ chức thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về Luật tiếp công dân, Luật khiếu nại,
Trang 38Luật tố cáo; hiệu quả việc tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo được nâng cao, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự
xã hội tại thành phố Đà Nẵng
Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng đã tổ chức đoàn giám sát chuyên đề: Thông qua hoạt động này để nắm tình hình chỉ đạo, quán triệt và triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về công tác tổ chức tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan chức năng, chính quyền địa phương Qua
đó, kịp thời phát hiện những tồn tại, hạn chế trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo để kiến nghị, đề xuất các giải pháp khắc phục Các cuộc giám sát đảm bảo thực hiện đúng quy định của pháp luật, lựa chọn các
cơ quan, đơn vị, địa phương có nhiều đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị để giám sát trực tiếp Kết thúc giám sát, đã ban hành Báo cáo kết quả giám sát, nêu rõ những kết quả đã đạt được, những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân cần khắc phục, các kết luận và kiến nghị UBND, các sở, ngành chức năng, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố có liên quan thực hiện các giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân; Thành lập Tổ công tác kiểm tra, rà soát, giải quyết vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài; đã tập trung tổ chức thực hiện Kết luận của Thanh tra Chính phủ về thanh tra trách nhiệm của Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng trong việc chấp hành pháp luật về thanh tra, khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng; việc chuyển đổi nhà, đất công có vị trí đắc địa sang mục đích khác và một số dự án đầu tư liên quan đến việc sử dụng đất Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng còn một số vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài chưa được giải quyết dứt điểm; một số công dân tiếp tục tập trung khiếu kiện gây mất an ninh trật tự; công tác lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch, quản lý thực hiện quy hoạch còn hạn chế; công tác quản lý nhà nước và thực hiện pháp luật của một số cán bộ,
Trang 39công chức còn thiếu sót, vi phạm, nhất là trong công tác quản lý, sử dụng đất đai, tài sản công
Tổ chức đoàn kiểm tra, khảo sát về nội dung đơn khiếu nại, tố cáo của công dân: Đây là một trong những hoạt động nhằm xác định đúng bản chất sự việc và tính khách quan trong các nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị Trên
cơ sở đó, xác định được những cơ sở pháp lý để không chỉ giúp HĐND giám sát quá trình giải quyết mà còn có căn cứ để nêu rõ quan điểm khi được yêu cầu tham gia giải quyết Hình thức này đã có nhiều tác dụng tích cực, nhất là đối với các vụ việc phức tạp hoặc khiếu nại, tố cáo tập thể đông người Trên
cơ sở các nguồn thông tin từ đơn khiếu nại, tố cáo, phản ánh của công dân, Ban Pháp chế HĐND thành phố Đà Nẵng đã tiến hành giám sát các vụ việc phức tạp, công dân kiến nghị nhiều lần Các cuộc giám sát đã được các cấp, các ngành liên quan, dư luận nhân dân đánh giá, đồng tình cao Các kết luận, kiến nghị sau giám sát đã được các cá nhân có thẩm quyền, các cơ quan, tổ chức có liên quan và công dân khiếu nại, tố cáo tiếp thu, chấp hành nghiêm túc; qua đó góp phần quan trọng trong việc giải quyết đúng đắn, dứt điểm các
vụ việc phức tạp
Tham gia tiếp công dân và tiếp nhận, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo của công dân: Thực hiện quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương, Luật tiếp công dân, Thường trực HĐND thành phố và Ban Pháp chế HĐND thành phố đã chú trọng tham gia tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân của thành phố theo định kỳ để nắm bắt thông tin về phản ánh, kiến nghị và tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, tham gia ý kiến, kiến nghị trong việc xử
lý các phản ánh Đồng thời, giám sát việc tiếp nhận, giải quyết của UBND thành phố và các cơ quan, ban, ngành trong thành phố đảm bảo tuân thủ theo quy định của pháp luật Đối với một số vụ việc phức tạp, có nguy cơ trở thành điểm nóng, Thường trực HĐND, Ban Pháp chế HĐND và các ngành tham gia
Trang 40tiếp công dân, trực tiếp đối thoại, giải thích, trả lời, hướng dẫn công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ, vận động thuyết phục tuân thủ pháp luật, giữ vững kỷ cương đi đôi với phát huy dân chủ Bên cạnh đó, Văn phòng HĐND thành phố cũng đã quan tâm công tác tiếp công dân thường xuyên tại trụ sở cơ quan, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, đồng thời hướng dẫn công dân thực hiện theo đúng quy định của pháp luật
Thời gian qua, Thành ủy, HĐND, UBND thành phố Đà Nẵng đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, giám sát công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo Các cấp chính quyền đã nghiêm túc quán triệt, tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về Luật tiếp công dân, Luật khiếu nại, Luật tố cáo; hiệu quả việc tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo được nâng cao, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự xã hội tại thành phố Đà Nẵng
Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng đã thành lập Tổ công tác kiểm tra, rà soát, giải quyết vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài; đã tập trung tổ chức thực hiện Kết luận của Thanh tra Chính phủ về thanh tra trách nhiệm của Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng trong việc chấp hành pháp luật
về thanh tra, khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng; việc chuyển đổi nhà, đất công có vị trí đắc địa sang mục đích khác và một số dự án đầu tư liên quan đến việc sử dụng đất Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng còn một số vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài chưa được giải quyết dứt điểm; một số công dân tiếp tục tập trung khiếu kiện tại Hà Nội gây mất an ninh trật tự; công tác lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch, quản lý thực hiện quy hoạch còn hạn chế; công tác quản lý nhà nước và thực hiện pháp luật của một số cán bộ, công chức còn thiếu sót, vi phạm, nhất
là trong công tác quản lý, sử dụng đất đai, tài sản công
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trách nhiệm trong lĩnh vực quy